Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 137, Bộ Kinh Sớ XXIII, Số 1777 (Quyển 1-6)

Đại Tập 137, Bộ Kinh Sớ XXIII, Số 1777 (Quyển 1-6)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 875.

Chương 12: Duy - Ma Kinh Lược Sớ - Quyển 6 (Trang 405 - 462)

DUY-MA KINH LƯỢC SỚ
 
QUYỂN 6
 
PHẨM: BỒ-TÁT
(Phần 2)
 
Căn cứ  hạnh vô sinh mà phá thọ ký một đời: Từ “vi tùng…”.
Sở dĩ căn cứ hạnh mà phá, chính do Di-lặc đã dùng hữu để hỏi rằng: lý không thọ ký đã thế thì đâu có trở ngại duyên với hạnh vô sinh. Hạnh thành trí đoạn được thọ ký quả Bồ-đề. Văn có bốn:
1) Song định.
2) Song phá.
3) Song cùng.
4) Song kết.
- Song định (Quyết định song song), từ đâu sinh ra thì từ đó diệt mất. Vì sao? Vì ngài Di-lặc tình chưa đạt đến, nếu vô sinh là lý, mà lý là như, thì không ký nào không ký. Chỉ vì chúng sinh từ vô thỉ mê lý liền có sinh tử. Chư Phật, Bồ-tát quán vô sinh, chân trí sáng thì sinh ra, mê hoặc tối thì tạm mất. Nếu trí sinh ra chiếu cùng cực thì vọng hoặc này dứt mất, trí đoạn đầy đủ gọi là quả Bồ-đề, há sự như lý mà chê trách có thọ ký, cho nên trước song định là Như sinh, Như diệt, trí đoạn quả mãn mà được thọ ký chăng. Về Thông và Biệt giáo mới xem qua thì sự đồng mà lý có khác. Về Thông và Viên hai giáo thì sự và lý đều khác, cùng với Biệt giáo thì lý đồng mà sự khác.
Hỏi: Biệt và Viên giáo sao được lý đồng mà sự khác?
Đáp: Đồng là Trung đạo nên đồng, còn tu có hai cách riêng nên khác.
- Song nạn “nhược dĩ… hữu diệt”. Đã im lặng chịu quyết định tức
căn cứ ở hạnh mà vấn nạn song song cũng là ngầm căn cứ ba giáo về trí đoạn mà thọ ký một đời được quả Bồ-đề tức là dựa theo Thiên, Viên hai chân để vấn nạn song song. Một là dựa theo Thông giáo, Thiên chân của Thông giáo tức là lý chân như. Lý không phải trí đoạn, nếu quán
chân như tức là trí sinh và hoặc diệt. Như dù là vô sinh nhưng thường phát trí. Trí từ Như sinh, sinh không lìa như, tức là trí đức của Như sinh. Như tuy không phải diệt mà thấy như thì hoặc diệt. Diệt không lìa như, tức là đoạn đức của Như diệt. Nay ngài Tịnh Danh gạn hỏi nếu vì Như sinh Như diệt mà được thọ ký thì từ Như có sinh, mà như không có sinh, từ Như có diệt mà Như không có diệt. Ý vấn nạn chính nói rằng: Thể của Như không phải sinh không phải diệt, ước như nói sinh nói diệt là có đức của trí đoạn. Nếu Như có sinh diệt thì không gọi là như, tức là Thế đế, nếu không phải sinh không phải diệt không phải Thế đế, tức là Chân không sinh diệt, tức là như không phải sinh diệt, không được nói từ như mà có trí đoạn sinh diệt. Do đó, ngài Tịnh Danh nói: Từ Như có sinh mà như không có sinh, từ Như có diệt mà như không có diệt. Nếu như không sinh diệt không thành trí đoạn, thì đâu được lìa như mà riêng có trí đoạn sinh diệt. Tức là Không có căn cứ ở hạnh vô sinh có thể nhận được thọ ký trí đoạn của một đời . Lại nữa, do tâm năng duyên vô sinh thành trí đoạn, ấy tức là tự sinh. Nếu do lý sở duyên tức là tha sinh, nếu năng sở hợp lại tức là cộng sinh. Nếu lìa năng sở tức là vô nhân sinh trí đoạn. Nên ngài Long Thọ có kệ rằng: “Các pháp Không tự sinh” cho nên, đâu thể được tâm năng duyên Chân như.
Sinh trí đoạn mà được thọ ký? Cho đến tất cả không thể vô nhân sinh và như ở câu đầu, đều là dẫn kệ ở Trung luận để thành bốn câu, chính là phá tha sinh. Vì sao? Vì ngài Di-lặc cho rằng nhân như phát trí thành trí đoạn mà hành giả được thọ ký.
Hai là song nạn về Biệt, Viên hai giáo, mỗi mỗi đều suy Thông giáo hạch sách không mất một câu. Nhưng Thông, Biệt hai giáo thì Thông giáo duyên với thiên chân, còn Biệt giáo duyên với tu. Lại Biệt giáo duyên tu là tự, còn Viên giáo chân tu cũng là tự, cẩn thận chớ lộn.
Hỏi: Vì sao Thông và Biệt dùng duyên tu làm tự, còn Viên giáo dùng chân tu làm tự?
Đáp: Thông và Biệt dùng trí để thành Phật, như chỉ là cảnh, nên duyên là tự. Còn Viên giáo dùng chân để thành Phật, duyên tu chỉ là phước tuệ trang nghiêm, nên chân như là tự.
Hỏi: Thông giáo chỉ là cái chân đoạn không phát trí mà thôi, trí là người tu nói là tự, lý chỉ là cảnh có thể được là tha. Biệt giáo nói lý trung sao không đồng với Viên mà lại đồng với Thông giáo?
Đáp: Lý tuy đồng Viên cơ, nhưng giáo không đồng. Biệt giáo nói duyên chân, chân tuy thường nhưng lý không phải trí. Dùng trí quán lý
mà chưa phát chân trí. Trí duyên tu thì không gọi là thường, nên không đồng với Viên.
Hỏi: Biệt đồng với Thông giáo cùng duyên làm tự, mạch suy chung bốn trường hợp có thể biết, còn Viên dùng chân làm tự thì bốn trường hợp là thế nào?
Đáp: Trí đoạn không phải tự sinh, không phải chân tu mà thành, cũng không phải tha sinh, không phải duyên tu mà thành, cũng không phải cộng sinh, không phải chân duyên hợp thành, cũng không phải Không nhân sinh, không phải lìa chân và duyên mà thành, mà có trí đoạn của Viên giáo. Nếu bốn trường hợp kiểm tra trí đoạn không được thì không nhận thọ ký một đời của Viên giáo. Chỉ ý vấn nạn của ngài Tịnh Danh là vấn nạn về tự sinh chân tu trí đoạn của Viên giáo, trong đó sát hạch tột cùng không phải là sở năng của hai lần mười phen. Hễ không thấy sâu ý này thì nghĩa Viên giáo chân tu cũng khó tồn tại. Viên chân còn thế, thì Biệt Thông duyên tu đâu dễ còn. Nhân ngài Tịnh Danh gạn hỏi một mà thành ba, ý rất rõ ràng không quá mức.
Hỏi: Chỉ dùng một lần đâu khiến đóng kín cả ba giáo, mỗi người nghe tất bỏ chấp riêng của mình?
Đáp: Như xưa ta về Thiểm tây thấy ở chùa đạo nhân, Trương Công vì Lương Tuyên đế vẽ trên vách Bắc đại điện hình Phật Lô-xá-na và một con rùa. Tượng có hai mắt, tùy người động tĩnh đều thấy mắt nhìn mình, mắt rùa cũng thế. đó là Sắc pháp ở đời mà còn tuyệt diệu như thế, huống ngài Tịnh Danh đã trụ vào diệu trí Bất tư nghị. Một phen vấn nạn khiến cả ba cùng phá cái bệnh chấp tâm tự bỏ thay.
- Song cùng “nhất thiết chúng sinh…”. Văn có hai phần:
1/ Do bốn Như là nguyên do “cùng”.
2/ Chánh kết nghĩa cung”
Phần một gồm có bốn: căn cứ tất cả chúng sinh như, căn cứ tất cả pháp như. Căn cứ chúng Hiền Thánh Như. Căn cứ Di-lặc như. Cả bốn thứ này cùng tìm xét kỹ ý ấy cũng ngầm dựa theo nghĩa của ba giáo:
Căn cứ Thông giáo làm bốn cùng có ba là cùng thuận. Từ đầu đến một câu cuối là cùng nghịch, từ cuối đến một câu đầu là căn cứ chúng sinh Như.
Căn cứ chúng sinh Như mà cùng thuận tức là giả nhân (người giả). Giả nhân như và Di-lặc như là một như không phải hai như. Nếu chúng sinh như không sinh không diệt, thì không được thọ ký. Di-lặc cũng thế, sao được thọ ký riêng. Di-lặc như không sinh không diệt được thọ ký, thì hai Như là khác, mà khác là Không phải Như. Nếu là Như mà không
thọ ký riêng ký thì phải đồng mà không thọ ký cũng đồng. Hoặc chung hoặc cùng không phải là số của ba phen.
- Căn cứ tất cả pháp Như cùng thuận, tất cả pháp như chung cả tình và vô tình. Tình tức là năm ấm thật pháp, vô tình tức là ở ngoài cõi nước, tất cả đều là Như. Cùng Di-lặc Như là một Như không hai. Đây chỉ lấy vô tình thế cho chúng sinh, câu câu đều đồng, cần suy ra mà nói. Vì sao? Bởi pháp vô tình Phật không thọ ký. Nên Đại kinh nói: Nếu cây Ni-câu-đà hay tu giới định và trí tuệ thì ta cũng thọ ký cho quả Bồ-đề, vì nó vô tâm nên không thọ ký. Nên cho đó là cùng, vì khác loài hữu tình vậy.
- Căn cứ chúng Thánh hiền như, cùng thuận, tức ba thừa Thánh hiền của Tạng Thông tất cả đều như, cùng Di-lặc như thì nhất như không hai. Đây cũng theo như trước. “Nếu chúng sinh trở xuống câu câu đều đồng thì chuẩn theo trước mà nói. Từ Pháp Hoa trở về trước thì Hiền Thánh Nhị thừa đều không có thọ ký, nên cho đó là cùng.
- Căn cứ Di-lặc như ba ngược lại ba thứ cùng ở trước nên gọi là phản. Đây có ba lớp, tức là cùng ba phen trước. Mỗi mỗi đều nói rằng một Như không hai, ký và không ký đều như nhau, ý rất rõ ràng.
Căn cứ Biệt giáo, Viên giáo đều làm bốn cùng, thì suy theo Thông giáo sẽ biết.
Phần hai, chánh kết nghĩa cùng Từ “Nhược Di-lặc… bất nhị bất dị” cũng có bốn ý: căn cứ theo chúng sinh, căn cứ theo tất cả pháp, căn cứ theo các Thánh hiền, căn cứ  theo Di-lặc.
Cả bốn ý này cũng ngầm dựa theo ba giáo
Căn cứ đều cùng của Thông giáo, cũng có ba thuận một nghịch.
- Căn cứ chúng sinh mà kết luận đều cùng thuận. Nói rằng nếu ngài Di-lặc được thọ ký thì tất cả chúng sinh cũng phải được thọ ký, vì hai Như đã đồng nhất tất phải đều được thọ ký. Ngài Tịnh Danh tự giải thích rằng phàm là Như thì không hai không khác, nếu có hai có khác thì mới được một bên thọ ký, một bên không thọ ký. Đã là Không hai không khác thì cả hai đều phải được thọ ký.
Hỏi: Hai và khác có gì khác nhau?
Đáp: Hai là chỉ luận thể nó riêng biệt, còn khác là nói tướng nó không đồng.
Căn cứ theo tất cả pháp mà kết đều cùng và Căn cứ chúng Thánh hiền mà kết đều cùng. Văn lược bỏ không nói ra, nên suy từ phần chúng sinh trên mà biết.
Căn cứ Di-lặc đều cùng nghịch, thì văn cũng lược bỏ không nêu
ra, cần chuẩn theo trước. Về cùng nghịch là nếu các Hiền Thánh không được thọ ký thì Di-lặc cũng không được thọ ký. Vì sao? Vì phàm là Như thì không hai không khác. Nếu tất cả chúng sinh không được thọ ký thì tất cả các pháp cũng đều như thế.
Căn cứ Biệt và Viên giáo cũng làm bốn thứ kết luận nghĩa đều cùng, y theo phần Thông giáo trên mà biết. Nếu Di-lặc không thể thông thì nghĩa thọ ký của ba giáo đều hỏng nên bị chê bỏ.
Song kết giải thích “Nhược Di-lặc trở xuống. Văn có hai:
1/ Căn cứ phá Trí đức mà giải thích.
2/ Căn cứ  phá Đoạn đức mà giải thích.
- Căn cứ ở phá Trí đức, cũng ngầm dựa theo trí đức của ba giáo mà giải thích.
Giải thích theo Thông giáo : Bồ-đề đối với chúng sinh phiền não. Chúng sinh phiền não như thì Bồ-đề như, không hai không khác. Nếu Di-lặc được quả Bồ-đề thì tất cả chúng sinh cũng đều phải được. Trong đây ngài Tịnh Danh giải thích rằng tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề. Chúng sinh đã là tướng Bồ-đề mà như không tự sinh, lại không được có quả thượng trí đầy đủ Bồ-đề có thể thọ ký cho.
Giải thích theo Biệt giáo , cũng đồng với Thông giáo, chỉ thấy Trung đạo là khác.
Giải thích theo Viên giáo , chúng sinh phiền não có tướng trí tuệ như mặt người có tướng phước đức. Tướng Bồ-đề này tức Tướng Như như, tức tướng trí tuệ. Chúng sinh và Di-lặc đều có tướng này. Phật quán thấy hai như đều được thọ ký. Tuy gồm cả hai giáo trước, nhưng ý kinh là ở Viên giáo.
Hỏi: Vì sao dùng ba giáo để phá, mà giải thích chỉ dùng Viên?
Đáp: Phá là phá chấp, giải thích là thành cái thật nghĩa. Ở giáo trước không người không hạnh, giáo phá đều không. Viên giáo chấp phá tức giáo, chân, hạnh đều rõ ràng, nên chánh ước ở Viên. Đây kết giải thích chân tu như không sinh, tức không có trí đức nên không được thọ ký.
- Căn cứ ở phá Đoạn đức mà giải thích “Nhược Di-lặc đến bất phục cánh diệt”. Cũng ngầm dựa theo ba giáo.
Phá Thông giáo: Niết-bàn và chúng sinh đã Như nên không khác, cả hai đều diệt độ, nên ngài Tịnh Danh tự giải thích rằng: Chư Phật biết tất cả chúng sinh tức tướng Niết-bàn không còn diệt nữa. Chúng sinh là tướng Niết-bàn sẵn có Như đã không diệt mất thì không có Đoạn đức diệt trên quả có thể thọ ký.
Ước phá Biệt giáo, nếu chúng sinh Như, tức tướng Niết-bàn không thể diệt, là Không có Thập địa hậu tâm không nói diệt rốt ráo đoạn đức Niết-bàn . Phá Viên giáo suy theo Thông giáo mà biết. Trên đây là phá giáo, còn nhân, hành cũng suy theo trên mà biết. Đây là giải thích chân như bất diệt tức không có đoạn đức nên không được thọ ký Đại Niết-bàn.
Chánh kết lỗi mà khuyên bỏ: “Thị cố Di-lặc trở xuống có ba phần: Kết lỗi. Khuyên bỏ kiến chấp và giải thích.
- Kết lỗi: Nếu không phương tiện dạy quả Bồ-đề nói quả Bồ-đề này khuyến dụ tâm người khởi sinh kiến Bồ-đề, tức có lỗi dối lừa người, nên ngài Tịnh Danh tự nói: Thật không có phát tâm Bồ-đề cũng không có ngôi vị bất thoái, như Bồ-đề tâm Viên giáo còn không thể được, tức không có người thoái chuyển há lại có phương tiện dạy phát tâm và vị bất thoái. Đã không có nhân tức là Không có quả có thể được. Không có quả kiến cầu mà thọ ký cho tức là dối khuyến dụ tâm người.
Hỏi: Quả là Phật nói và thọ ký cho Di-lặc, vậy Phật khuyến dụ lừa dối nào có liên hệ gì đến Di-lặc?
Đáp: Đại Luận có nói: Khi Phật ngồi đạo tràng thật không được một pháp nào, tay không mà dối dụ trẻ con để độ tất cả. Lúc đầu Phật tuy có khuyến dụ nhưng đến Thật thì cần phải bỏ nên dùng kết lỗi để chê trách Di-lặc.
- Khuyên bỏ kiến chấp “Di-lặc đến chi kiến”, phương tiện Bồ-đề không người có giáo, nếu chấp Không bỏ thì chướng nhập vào nhất thật. Nên trong Đại kinh nói: Từ đây trở về trước đều gọi là tà kiến, nên cần phải bỏ.
Hỏi: Do đâu Di-lặc khuyên Thiên tử bỏ kiến chấp?
Đáp: Ngài Di-lặc dạy ông ta phát tâm tu vị bất thoái, không tin vào lời người khác, nên lại khiến Di-lặc khuyên bỏ.
- Giải thích ý khuyên bỏ “sở dĩ đến tâm đắc”. Phá về thân tâm được thì bốn giáo không đồng.
Phá Tam tạng giáo kinh Thanh Văn nói ví như người nghèo muốn cưới con gái nhà giàu. Gia đình cô gái nói: Muốn được con ta thì phải làm sạch nhà ngươi. Quả Bồ-đề cũng nói với Hậu Tâm Bồ-tát rằng: Muốn được Bồ-đề phải tu tướng hảo, nếu các tướng đầy đủ mới được Bồ-đề. Đây tức là Thân được. Điều phục kiết thuần thục, ở đạo tràng hàng ma, tại gốc Bồ-đề mà được diệt cam lộ tức là Tâm được. Đại luận nói hủy phá tức là Không thể dùng thân tâm mà được.
Phá Thông giáo, nếu dùng “không” tâm mà tu các tướng hảo, cõi
Phật thanh tịnh, trang nghiêm y chánh báo, gọi là thân được. Khi ngồi đạo tràng, một niệm tương ưng với tuệ, đoạn dứt chánh tập tức là tâm được. Phá như Kim Cang Bát-nhã nói: Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy làm tà đạo, không thấy được Như Lai. Đây tức là Không thể dùng thân tâm mà được.
Phá Biệt giáo. Nếu nói nhân diệt là sắc nhận được thường sắc, tức là thân được, thọ, tưởng, hành, thức cũng thế, tức là tâm được. Nay kiểm lại lời này là vô thường sắc ấy diệt thì nhận được thường sắc. Vô thường sắc không diệt thì nhận được thường sắc. Như thế bốn trường hợp kiểm không thể được, tức là Không thể dùng thân tâm mà được.
Phá Viên giáo, chân tu diệu sắc tâm hiển sáng, không cần duyên tu công đức trí tuệ mà hiển sáng, tức là Không thể dùng thân tâm mà được. Lại nữa, nếu chân tu thì thể sắc tâm hiển sáng đầy đủ được Bồ- đề, cũng là nghĩa thân Tâm được. Nên trước phá Như sinh Như không có sinh tức là sắc pháp tánh, pháp, tánh, thọ, tưởng, hành, thức không sinh. Không sinh tức là vô lậu đầy đủ, nên không thể dùng thân tâm mà được.
Nói rộng về chân Bồ-đề “Tịch diệt…”: Sở dĩ nói rộng , là trên đã vấn nạn để phá, lại khuyên bỏ kiến chấp. Ấy là tin giáo thiên lệch nên quy tâm chớ theo. Nhận Viên giáo mà chưa nhập, thì cũng không biết chánh nghĩa, nên cần phải rộng bày hai mươi lăm phen Chánh nghĩa Bồ-đề. Văn có ba phần
1) Một phen nói tóm lược thật tướng của biểu tượng Bồ-đề.
2) Hai mươi hai phen căn cứ chân trí đoạn, mà nói Bồ-đề.
3) Hai phen lại căn cứ thật tướng diệu lý mà kết thành chân trí đoạn Bồ-đề.
Một phen nói tóm lược: Vì sao? Vì trên đã phá không có trí đoạn, không được thọ ký. Học theo bốn giáo, là bệnh chấp đã bỏ, nay lại nói cho họ nghĩa chân trí đoạn đều là Bồ-đề. Đó là ba đức Bồ-đề như chữ y ở đời, tức là chân Bồ-đề của Viên giáo. Giải thích hai mươi lăm trường hợp hoàn toàn dùng Viên. Tịch diệt là Bồ-đề, tức tất cả pháp đến tâm, tâm tức Trung đạo. Lý chân như xưa không sinh thì nay không diệt. Không sinh tức không phải trí, không diệt tức không phải đoạn, tức là nghĩa chân tịch diệt, cũng là Đại Niết-bàn bất sinh, bất sinh bất khả thuyết. Nói Bồ-đề tức là thật tướng Bồ-đề của Viên giáo. Nói diệt các tướng, nếu không biết thật tướng Bồ-đề thì không thể nói chấp tướng bốn giáo mà khởi phiền não sinh tử. Bốn thứ tướng này có mười sáu tướng sinh ra tất cả tướng, cho nên có tất cả phiền não sinh tử rối rấm.
Nếu thật tướng Bồ-đề tức là bất sinh, bất sinh không thể nói, tức là bốn môn đều diệt huống là sinh hay bất sinh... Ba tướng bốn môn và tất cả tướng hoặc mà không diệt mất ư? Ý ngài Tịnh Danh nói là thật tướng không có tướng, hay diệt các tướng nên nói là diệt.
Chính thức căn cứ   Trí Đoạn chân thật tức Bồ-đề “Bất    quán…”. Lại có hai, là nói lược và nói rộng . Về lược nói có hai:
a) Hai phen chính nói trí đức chân thật tức là chân Bồ-đề, tức là Ma-ha Bát-nhã.
b) Bốn phen nói đoạn đức chân thật.
Chẳng quán là Bồ-đề, tức là dứt phương tiện quán, tức là chẳng quán.
Lìa các duyên, tức lìa các duyên tu và tất cả duyên cớ.
Không làm là Bồ-đề, nếu biết Chân không thì không làm lụng tạo tác, vì tất cả muôn hạnh tức là Bồ-đề. Nên Đại Phẩm nói: Nếu tâm và tâm số pháp Không làm là làm Bát-nhã.
Không nghĩ nhớ, là Không nghĩ nhớ bốn thứ thọ ký Bồ-đề và tất cả pháp. Đây là chân quán hạnh tức là Bồ-đề trí đức chân thật.
Bốn phen nói đoạn đức chân thật tức Bồ-đề “Đoạn thị Bồ-đề… Vô tham trước cố”, tức là đức giải thoát.
Đoạn là Bồ-đề, tức là chân như hiển hiện, kiến tư hoặc đều dứt, tức là đoạn đức Bồ-đề. Bỏ chấp bốn giáo, khởi kiến Bồ-đề và tất cả kiến, tức là bỏ các kiến.
Lìa là Bồ-đề, là lìa bốn giáo nói về quán hạnh và tất cả pháp, tức là Bồ-đề đoạn đức chân thật.
Lìa các vọng tưởng, là lìa duyên tu của bốn môn và tất cả vọng tưởng.
Chướng là Bồ-đề, là nếu biết bình đẳng chân pháp giới Phật không độ chúng sinh, tức là Phật không hay làm, tức là ngăn chướng các phương tiện giáo môn thệ nguyện, đây là đoạn đức chân thật.
Không nhập là Bồ-đề, nếu biết chân như rốt ráo không hình tướng, tức là Không nhập vào quyền giáo Niết-bàn và tất cả pháp, vì không nhập nên không tham trước, tức là Bồ-đề Đoạn đức chân thật .
Về nói rộng “Thuận là Bồ-đề…”. Chân trí đoạn tức là Bồ-đề. Trong đây phần nhiều nói rộng về trí đức, ít nói về Đoạn đức. Vì sao? Vì Bồ-đề là trí, còn đoạn là thuộc Niết-bàn nên là phụ. Có hai phần:
c) Chín phen nói theo trí đức.
b) Bảy phen nói không thể dùng thân tâm mà được.
Thuận là Bồ-đề, chín phen nói theo trí đức là nếu : quá vượt chẳng
 
 
thấy Bồ-đề của bốn giáo tức là thuận Trung đạo chân như của Viên giáo.
Trụ là Bồ-đề, là trí chẳng trụ ở bốn giáo và tất cả pháp, tức là trụ ở pháp tánh của Viên giáo.
Đến là Bồ-đề. Nếu quán các pháp và Bồ-đề của bốn giáo thì rốt ráo không thể được, tức là thường đến thật tế chân như.
Không hai là Bồ-đề, nếu có phương tiện Bồ-đề Thiên giáo và tất cả pháp, thì tức là pháp trần đối với nội ý căn tức là hai. Quán hai pháp này đều không thể được mà nhập vào môn không hai (Bất nhị) mà thấy Trung đạo liền lìa bỏ hai chết, đây là một phen nói thuộc đoạn đức.
Bình đẳng là Bồ-đề. Nếu quán Niết-bàn cùng sinh tử bình đẳng, tức là bình đẳng đối với Phật tánh hư không, là Bồ-đề trí đức chân thật.
Vô vi là Bồ-đề, nếu quán pháp tánh rỗng sáng Thường tịch tức là chân vô vi, không bị sinh tử bệnh tử biến dời.
Trí là Bồ-đề, là các phương tiện giáo duyên tu mà vào chân chẳng thấy có tâm hành chúng sinh, chân trí của Viên giáo tịch mà thường chiếu. Tâm hành chúng sinh tự quán trí Trung đạo sáng rỡ rõ ràng.
Bất hội là Bồ-đề, các phương tiện giáo nói trí duyên tu hội nhập ở lý mới gọi là trí. Chân tu trí thể của Viên giáo tức là lý tịch diệt không phải là trí đến hội.
Bất họp là Bồ-đề, là phương tiện chân trí về lý mà nói cùng vô minh hợp nhau, chưa thể lìa các tập. Chân tu trí thể mà không cùng họp, tức là thường lìa ở nguyên phẩm tập. Đây nói thuộc đoạn đức, bỏ lấy rất khó, cần suy nghĩ chín chắn.
Bảy phen không thể dùng thân tâm mà được “Vô xứ thị Bồ-đề trở xuống. Vô xứ là Bồ-đề, đây à không thể dùng thân tâm mà được. Bồ-đề Thiên giáo trí nương vào sắc thân, sắc thân là xứ, đây không thể dùng thân mà được. Bồ-đề của Viên giáo thì sắc tâm không hai, đã không có năng sở tức là vô xứ. Đây tức là Không thể dùng thân mà được.
Từ”giả danh” đến “đẳng cố” đây là sáu phen nói nghĩa chân trí, Bồ-đề không thể dùng tâm mà được.
Giả danh là Bồ-đề, tâm là giả danh, bốn thứ Bồ-đề chỉ có danh tự, nếu quán tức không mà thấy ở Phật tánh tức chân trí Bồ-đề không thể dùng tâm mà được.
Như Hóa là Bồ-đề: các pháp như hóa, bốn thứ Bồ-đề đều như hóa. Nếu biết như hóa đều không thể được, tức là Không chấp tướng Bồ-đề, không bỏ phiền não tức là chân trí Bồ-đề.
Không loạn động là Bồ-đề: phiền não vọng tưởng và duyên tu động niệm đều là loạn tưởng. Biết các loạn tưởng này đều không thể được, thì dứt tâm thấu suốt cội nguồn, nội tâm thường tịch, lặng lẽ, thì không có cảnh trí loạn động.
Thiện tịch là Bồ-đề, phương tiện duyên tu chưa thể thuận lý, không gọi là chân thiện. Có duyên có niệm tức là loạn tưởng, không gọi là tịch. Sơ tâm của Viên giáo, trí tức chân như, gọi là thiện. Chiếu mà không động niệm, gọi đó là tịch. Trí tức pháp tánh, pháp tánh không nhiễm tức là tánh tịnh.
Không chấp lấy là Bồ-đề, nếu biết Bồ-đề của bốn giáo và tất cả pháp đều không có, tâm không đắm trước, tức là Bồ-đề của Viên giáo, lìa bỏ tâm phan duyên Bồ-đề và tất cả các pháp.
Không khác là Bồ-đề: các giáo phương tiện nói Bồ-đề khác phiền não. Nếu biết Bồ-đề không khác phiền não tức là bình đẳng trí đức Bồ- đề của Viên giáo.
Hai phen căn cứ diệu lý thật tướng mà kết luận: Nói ba đức Bồ-đề bất tư nghị kết thành Từ “vô tỉ đến nan tri cố”.
Không sánh được là Bồ-đề bất tư nghị, chân như Trí, Đoạn tức là tất cả pháp, không thể dùng pháp lại sánh với pháp, nên không thể dụ.
Vi diệu là Bồ-đề, lý quyền không phải là diệu. Các pháp của Viên giáo tức là chân như, chân như tức là Trí, Đoạn. Các pháp đều là ba đức Bồ-đề bất tư nghị mới là cực diệu, không phải các phàm tiểu và phương tiện Bồ-đề biết được.
Chư Thiên được lợi ích “Thế Tôn… pháp nhẫn”, mong cầu đã dứt, nước trong châu hiện, được bậc Sơ trụ Vô sinh pháp nhẫn của Viên giáo. Hoặc một thứ tiếng mà hiểu khác, thì được vô sinh của Thông và Biệt giáo. Đã chưa bằng Pháp Hoa đâu thể phán định.
* Kết lời không kham “nên con không kham đến thăm bệnh ông ấy”. Ngài Di-lặc tự nghĩ lúc xưa vì trời Đâu-suất nói bất thoái chuyển không lợi ích cho họ mà bị chê trách, không trả lời được. Nay đâu dám lãnh ý Phật đến thăm bệnh nên từ chối không kham.
Chánh văn: Đức Phật bảo Quang Nghiêm Đồng tử: Ông đến thăm bệnh ông Duy-ma-cật.
Hai là: Sai Quang Nghiêm Đồng tử. Văn có hai phần: Sai thăm bệnh, từ chối không kham.
- Sai thăm bệnh. Kế tiếp sai ngài Quang Nghiêm, ngài là Bồ-tát tại gia, pháp hữu của ngài Tịnh Danh và Bảo Tích. Cũng là pháp thân Đại sĩ ngôi vị ở bậc Bổ xứ. Sở dĩ gọi Quang Nghiêm Đồng tử, vì Quang
có ba ý nghĩa:
a) Sắc.
b) Tâm.
c) Phi sắc phi tâm.
Sắc quang như bối xả, quán xương, phát ra tám thứ ánh sáng chuyển làm Thắng xứ và tất cả chỗ phóng ra các thứ ánh sáng.
Tâm quang, tức là ánh sáng trí tuệ thường chiếu soi các Hoặc mờ tối.
Phi sắc phi tâm quang tức ánh sáng Đệ nhất nghĩa, như kinh Phạm
Võng phóng ra ánh sáng, Đệ nhất nghĩa. Đại kinh nói: Lưu Ly Quang Bồ-tát phóng ra ánh sáng tức là việc này. Kinh ấy nói: Ánh sáng, tức là Đệ nhất nghĩa đế, không phải sắc không phải tâm mà hiện ra sắc tâm. Vì sao? Vì kinh nói: Ánh sáng không phải sắc xanh mà thấy xanh..., tức là sắc không phải sắc. Ánh sáng đó là trí tuệ, tức không phải tâm mà nói tâm. Tam tạng giáo, Thông, Biệt giáo chỉ có hai thứ ánh sáng sắc và tâm. Chỉ có Viên giáo mới có ánh sáng Đệ nhất nghĩa, đó là ánh sáng bất tư nghị.
Nghiêm, tức là phước, trí hai nghiêm, đầy đủ như trong Đại kinh nói. Cũng là sức định tuệ trang nghiêm đầy đủ như trong kinh Pháp Hoa. Sắc quang tức là phước nghiêm, tâm quang tức là trí nghiêm, Đệ nhất nghĩa quang tức là pháp thân. Hai thứ ánh sáng trang nghiêm hiển phát pháp thân, nên gọi là Quang nghiêm.
Hỏi: Nếu Đệ nhất nghĩa là ánh sáng thì đâu cần ánh sáng sắc và tâm?
Đáp: Như mặt trời và gương làm hiển lộ mắt. Mắt được mặt trời thì thấy, tức mặt trời trí và Gương phước cùng làm hiển lộ mắt Đệ nhất nghĩa. Tức được khai Phật tri kiến mà thấy mình và người.
Đồng tử, là Bồ-tát trụ ở địa Cưu-ma-la-ca gọi là Đồng chân. Như trẻ thơ ở đời, tâm không ái nhiễm, nghĩa là Không yêu đắm vợ mình vợ người. Không yêu vợ mình là như ngài Kim Sắc Ca-diếp. Không yêu vợ người, tức là Không yêu tất cả phụ nữ và vợ người. Bồ-tát cũng thế. Tuy quán ba đế chứng các pháp hỷ, nhưng ở hai đế pháp hỷ không yêu thích, tức là Không yêu tất cả phụ nữ và vợ người. Không yêu thích Trung đạo pháp hỷ, tức là Không yêu vợ mình. Đầy đủ hai nghĩa này như trẻ con ở đời, nên gọi là Quang Nghiêm Đồng tử.
Trước sai ngài Di-lặc để hiển bày Bồ-đề của Viên giáo, khai Phật tri kiến không nhằm ở thân sau. Nay sai ngài Quang Nghiêm là muốn nói về đạo tràng Viên giáo, bày Phật tri kiến, cũng không ở tại gốc Bồ-
đề ở vị lai. Khai kiến là tướng chung, như lúc đầu thấy châu Như ý chỉ là một tướng tròn. Hiện bày là tướng riêng. Như thấy châu Như ý mưa ra các ngọc báu, rồi dựa vào tâm đầu tiên mà không cầu xa xôi. Nên trong Đại Phẩm có nói: Mỗi mỗi pháp môn đều là Ma-ha Diễn. Kinh này nói đó là đạo tràng. Ngài Tịnh Danh thuở xưa phá ngài Quang Nghiêm là mượn ngài để phá Bồ-đề của ba giáo không phải là chân đạo tràng. Quang Nghiêm hiện bày việc bị chiết phục chính là hiển bày chân thật đạo tràng của Viên giáo. Nay Phật sai tiếp ngài, là nếu ngài kể việc bị chê trách xưa thì cả đại chúng cùng nghe được nghĩa chân đạo tràng của Viên giáo, thành tựu được năm ích lợi trước.
- Từ chối không kham “Quang Nghiêm…”. Văn có bốn:
1) Đáp lời không kham.
2) Nói lý do không kham.
3) Chính kể việc bị chê trách.
4) Kết thành không kham.
* Đáp lời không kham: Vì thuở xưa hỏi nghĩa đạo tràng mà không đáp được, nên không kham truyền ý Phật đến thăm bệnh.
* Nói lý do không kham: Do không biết nghĩa chân đạo tràng. Văn có năm:
a. Ra vào gặp nhau.
b. Quang Nghiêm chí kính.
c. Hỏi từ đâu đến.
d. Đáp ở đạo tràng đến.
e. Quang Nghiêm lại hỏi.
Ra vào gặp nhau, mà có sự chê trách là lý do không kham. Hoặc trên biểu: Thành là gốc vắng lặng. Ra là trái lý, vào là thuận chân. Quang Nghiêm là biểu thị: Học phương tiện vốn yên lặng chưa sáng, tâm mê lý xa, nên gọi là ra. Ngài Tịnh Danh nương vào Viên từ lâu ngộ một thật vào dòng nước pháp, gọi đó là vào. Do Quang Nghiêm trái lý nên mê đạo tràng, cơ cảm gặp nhau mà có bị gạn hỏi chê trách.
Hỏi: Từ trước các đệ tử Bồ-tát đều bị chê trách, nay Quang Ng- hiêm được nói thẳng nghĩa đạo tràng chưa thấy bị khuất phục, sao lại từ chối không kham?
Đáp: Nghe đạo tràng của Viên giáo mịt mờ không hiểu, tức là khuất phục. Tâm đã chịu phục bèn thỉnh hỏi đạo tràng và liền nói mà không đợi hỏi, nên không kham thăm bệnh.
- Quang Nghiêm chí kính. Sở dĩ lạy, là Quang Nghiêm cúi đầu mọp dưới chân vì biết rõ Đại sĩ cao đức lợi vật vô cùng nên rất chí
kính.
- Hỏi từ đâu đến “mà hỏi rằng Cư sĩ từ đâu đến” vì không biết từ đâu nên hỏi.
- Đại sĩ đáp: Ta nói ta từ đạo tràng đến. Thật không phải từ chỗ Phật thành Đạo đến, vì muốn nói nghĩa sơ tâm chân đạo tràng của Viên giáo để phá các giáo thiên lệch về sự tích Viên giáo để nói về đạo tràng. Nên đáp rằng từ đạo tràng đến.
- Quang nghiêm lại hỏi “con hỏi đạo tràng là gì”. Sở dĩ Quang Nghiêm mê lời đáp này vì đạo tràng vốn là nơi Phật thành đạo. Như ở đời, sân lúa là nơi loại bỏ trấu cám để được gạo. Bồ-tát cũng thế, loại bỏ tâm mê hoặc để hiển bày thật tướng, nên nơi thành đạo gọi là đạo tràng.
Nói theo Tam tạng giáo, thì dưới cội Bồ-đề dùng cỏ làm tòa chánh tập đều dứt, nơi thành Phật gọi là đạo tràng. Theo Thông giáo thì dưới cội Bồ-đề, dùng Thiên y làm tòa, chánh tập đều hết, nơi ấy thành Phật gọi là đạo tràng. Theo Biệt giáo thì dưới cội Bồ-đề bảy báu làm tòa, Phật Lô-xá-na hoặc ngoại giới đều hết, nơi đầu tiên thành chánh giác tức là tịch diệt đạo tràng. Theo Viên giáo thì ở trên hư không hoa sen làm tòa vô minh pháp giới dứt hẳn, nơi đầu tiên thành Phật cũng là tịch diệt đạo tràng. Ngồi tòa cỏ thành Phật, nói kinh Thanh Văn và thiên y, bảy báu, hư không hoa sen hơn cả vua trời... đều là tùy cơ cảm mà thấy bốn thứ đạo tràng này, tiểu cơ thì thấy nhỏ, Đại thừa thì thấy Bồ-tát của ba giáo, nên có ba tướng đạo tràng thành Phật khác nhau. Ngài Quang Nghiêm không thấy Đại sĩ từ các nơi này đến, sao bỗng đáp từ đạo tràng đến, cho nên hỏi lại.
Chính kể việc bị chê trách: “Đáp rằng…”. Quang Nghiêm chỉ biết nghĩa quả đạo tràng đầu tiên của phương tiện giáo mà chưa biết phát tâm cũng là đạo tràng của Viên giáo. Giống như ngài Di-lặc nói pháp đều trông vào quả quyềnmà dẫn thành hạnh bất thoái. Nay ngài Tịnh Danh nói Viên để phá ngài Quang Nghiêm chấp có đạo tràng trên quả phương tiện giống như Đại phẩm nói đốt cháy không phải trước không phải sau mà không lìa trước sau. Nếu không lìa trước sau, lấy sau làm đạo tràng, thì sao không lấy trước làm đạo tràng. Nếu trước không thể, thì sau cũng không thể. Do đó ngài Tịnh Danh căn cứ sơ tâm của Viên giáo mà nói rộng nghĩa đạo tràng chân thật.
Hỏi: Ba giáo đã có hậu tâm là đạo tràng, thì sơ tâm cũng được là đạo tràng chăng?
Đáp: Các giáo phương tiện hoàn toàn dựa theo quán sao lại không
được nhưng xét về đạo lý thì nghĩa không thành. Vì sao? bởi phương tiện hậu tâm mới đủ Phật pháp, còn sơ tâm thì không thể, đâu được liệt vào. Nhưng ngài Tịnh Danh đáp chung mà chưa nói rõ hình tướng, do đó ngài Quang Nghiêm lại hỏi. Nay chấp quyền là biết một trong vô lượng bất tư nghị. Như ngọc báu trong túi mà không chỉ cho người thì người không thấy. Do đó ngài Tịnh Danh khắp trải các hạnh nói nghĩa đạo tràng, ấy là hiện bày Phật tri kiến ý ở đây vậy. Nhưng hiện bày có hai là dọc và ngang, dọc ngang chính là đó. Xe ấy cao rộng. Cao thì suốt đến đời sau, rộng thì pháp giới không bờ bến. Tướng cao rộng đầy đủ như nghĩa Tịnh độ ngang dọc ở trước nói phân tán ở các hạnh. Nếu theo văn mà bỏ biệt thì chỉ thành Thông giáo mất đi ý chánh của Biệt giáo. Nay đều ước vào sơ tâm của Viên giáo để nói về đạo tràng. Nên ở đoạn văn sau có nói: Nếu Bồ-tát hành trì Ba-la-mật thì đi đứng đều là đạo tràng, đầy đủ Phật pháp vậy.
Văn đây có bốn phần:
1. Bốn phen một lượt nói theo chiều dọc.
2. Hai mươi lăm phen một lượt nói theo ngang.
3. Một phen tóm kết giải thích.
4. Nói thời chúng được lợi.
Căn cứ bốn tâm: nếu y vào Biệt giáo đối bốn mươi tâm mà giải thích thì trực tâm tức là Thập trụ, phát hành tức là Thập hạnh, thâm tâm tức là Thập hướng, Bồ-đề tâm tức là Thập địa cũng không hoàn toàn như thế. Vì sao? Vì ngài Tịnh Danh nói sơ tâm đạo tràng của Viên giáo đâu có thể dọc đối với ngôi vị bốn mươi tâm. Nay nói sơ trụ tức có bốn tâm cho đến Phật quả. Trực tâm tức là nhập vào Nhất thật đế, phát hành tức là thật đế của muôn hạnh, thâm tâm tức là tiến sâu niệm niệm lưu nhập, Bồ-đề tâm tức có đủ ba tâm ấy, như nam châm hút sắt. Các câu sau đây nếu bậc Sơ tu đều căn cứ ở năm phẩm, mà nhập vào vị tương tợ, đến phát tâm trụ thì đều đủ tất cả hạnh, là chân đạo tràng. Trực tâm đạo tràng vốn không hư dối, là như kinh Hoa Nghiêm nói: Khi mới phát tâm liền thành chánh giác, thấu suốt tánh chân thật của các pháp. Lại nói: Rốt ráo lìa bỏ hư vọng không nhiễm như hư không, thanh tịnh diệu pháp thân, rỗng sáng ứng với tất cả, tức là nghĩa đạo tràng. Được tám trực vô tác, không có khổ tập hư giả nội ngoại giới. Nếu có hóa vật thì đủ bốn dụng như đã giải thích trong phần Tịnh độ. Nên Pháp Hoa khen năm phẩm rằng: “Phải biết người ấy đã đến đạo tràng gần với quả Bồ- đề ngồi dưới đạo thọ.” Kinh Hoa Nghiêm nói: “Trụ ở sơ phát tâm có thể ngồi đạo tràng mới thành chánh giác.” Cũng như Đại Phẩm nói: “Có
Bồ-tát từ sơ phát tâm liền ngồi đạo tràng chuyển pháp luân”.
Phát hành là đạo tràng: Là thập hạnh của Biệt giáo được mười Ba- la-mật. Nay sơ trụ của Viên giáo thấy Nhất thật đế phát đủ muôn hạnh, phá các ác nghiệp, hiển bày các pháp môn, tức là đạo tràng. Tự lợi lợi tha gọi là hay làm xong mọi việc.
Thâm tâm là đạo tràng, là thập hướng của Biệt giáo, giải hạnh đều thâm nhập. Nay sơ tâm của Viên giáo thấy Đệ nhất nghĩa hay thấy không cùng chẳng không. Vì chẳng không tức là thâm nhập, không phải là hàng Nhị thừa và Bồ-tát của Thông giáo riêng có ba mươi tâm. Lại nữa, hàng sơ trụ được vào Trung đạo, song chiếu hai đế, tự nhiên lưu nhập vào biển Tát-bà-nhã tức là sâu dần. Vì thâm tâm nên võ vô minh bị tróc rồi, thì chân pháp hiển bày tức nghĩa đạo tràng. Dọc tiến thâm nhập rộng khắp, các công đức cũng tùy theo đó mà tăng trưởng.
Bồ-đề tâm là đạo tràng, là Sơ địa của Biệt giáo gọi là chân phát tâm. Nay sơ tâm của Viên giáo thấy chân gọi là chân phát hành là rộng lưu nhập, là rộng mà sâu nên gọi là thâm quảng tâm. Bồ-tát được tâm này nên Vô duyên từ bi và vô tác hoằng thệ như nam châm hút sắt, tức là tâm chân Bồ-đề, hay tự dẹp bỏ pháp giới phiền não, hiển bày pháp thân, tức là đạo tràng. Thấy Nhất thật đế không phải nhân không phải quả, phân biệt pháp giới Tứ đế vô tác, nhân quả không rối loạn, tức là Không nhầm lẫn. Lại còn, chung cả ba tâm trước tức ba đức Bồ-đề, nên gọi tâm Bồ-đề là đạo tràng.
Từ “bố thí…” là hai mươi lăm phen nói các hành xét theo chiều ngang mà nói nghĩa đạo tràng. Về Biệt giáo, lục độ đối dọc các pháp môn là từ địa thứ sáu trở xuống, và địa thứ bảy đến địa thứ mười là sơ tâm của Viên giáo tức là ngang nói, lấy ngang đối dọc, tức là nói sự cao rộng của xe ấy. Văn có năm:
a) Xét theo lục độ tự hành.
b) Xét theo bốn đẳng hóa tha.
c) Xét theo đa văn tiến tu quán đế.
d) Xét theo hàng ma nói pháp.
e) Xét theo quả đức lục vô úy.
Xét theo lục độ: tức là hạnh gốc. Lục độ đều đủ năm thứ bốn quyền một thật, đầy đủ như giải thích trước.
Bố thí là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ Đàn Ba-la-mật bỏ tâm san tham tất cả hiển bày pháp thân bố thí, tức là đạo tràng không trông mong quả báo là trụ vào chân tu mà bố thí không mong cầu báo thế gian và duyên tu.
Trì giới là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ vào Thi Ba-la-mật này mà phá tất cả ác nghiệp, hiển bày pháp thân chân giới, tức là đạo tràng. Trong giới có đầy đủ tất cả Phật pháp, tức là được nguyện đầy đủ.
Nhẫn nhục là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ vào Sằn-đề Ba-la-mật này, luôn dẹp trừ được sân khuể pháp giới, hiển bày pháp thân chân nhẫn nhục, tức là đạo tràng. Đã đầy đủ sức Từ nhẫn quyền thật đối với chúng sinh pháp giới, tâm không trở ngại.
Tinh tấn là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ vào tinh tấn này, luôn lìa bỏ sự lý giải đãi pháp giới mà được pháp thân chân tinh tấn tức ở đạo tràng này, tự nhiên lưu nhập, tức là Không giải đãi.
Thiền định là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ vào thiền định này, luôn dẹp trừ tất cả tán loạn pháp giới, hiển bày pháp thân chân thiền định, tức là đạo tràng. Đối với sự lý các thiền định mà xuất nhập tự tại, tức là tâm điều nhu vậy.
Trí tuệ là đạo tràng, là sơ phát tâm trụ vào trí tuệ này mà đoạn trừ tất cả vô minh pháp giới, hiển bày pháp thân chân trí tuệ, tức là đạo tràng. Thấy lý bốn bất khả thuyết niệm niệm hiện tiền, tức là hiện thấy các pháp.
Xét theo bốn vô lượng tâm: Từ… là đến với chúng sanh bình đẳng. Bốn đẳng tức là tâm lợi vật đứng đầu các hạnh.
Từ là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát được Vô duyên từ chân thật , lìa bỏ các hoặc pháp giới hiển bày pháp thân từ chân thật, tức là đạo tràng. Khắp che pháp giới tức đẳng chúng sinh.
Bi là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát trụ vào vô duyên Bi tùy phá khổ lười mỏi, chân pháp thân hiển bày tức là đạo tràng. Tuy ở ba cõi mà cứu giúp chúng sinh tâm không lười chán.
Hỷ là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát được vô lượng tâm chân vô duyên, phá tâm không vui hoạn nạn khắp pháp giới, hiển bày pháp thân chân hoan hỷ vẻ.
Xả là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát trụ vào địa không bình đẳng tức phá yêu ghét, hiển bày pháp thân chân hư không tức là đạo tràng. Tuy lợi ích chúng sinh nhưng tâm không lấy bỏ, tức là dứt hẳn yêu ghét.
Thần thông là đạo tràng, là pháp thường biến hóa. Sơ tâm liền được sáu căn thanh tịnh và chân Như ý thông, phá các căn chướng, làm thông suốt vô minh cấu, hiển bày sáu căn pháp tánh chân tịnh, tức là đạo tràng. Đây tức thành tựu sáu thông như ứng hóa vật.
Giải thoát là đạo tràng, do giải thoát mà thành thông, nên nay tiếp nói về minh. Kinh Địa Trì nói Bồ-tát được tất cả thiền, bèn ra khỏi
biên hạn giải thoát của hàng Nhị thừa. Nếu sơ tâm nhập vào ba đế Tam- muội, tức là hai mươi lăm Tam-muội, dẹp trừ tội cấu phiền não của hai mươi lăm hữu, hiển bày ngã chân tánh của hai mươi lăm hữu, tức là đạo tràng. Vì từ nhân ấy mà bội xã được ba cõi, nên được thành tựu tám giải thoát và hai mươi lăm Tam-muội.
Phương tiện là đạo tràng tức là khéo léo hóa tha. sơ tâm trong hữu, tức có phương tiện song chiếu hai đế, phá hằng sa vô minh, hiển bày các pháp môn phương tiện, tức là đạo tràng. Thường dùng ba luân hóa tam vật bất tư nghị, thị hiện quyền xảo giáo hóa tất cả chúng sinh.
Tứ nhiếp là đạo tràng, bốn nhiếp là pháp phương tiện hóa vật, như phẩm Phương Tiện đã giải thích là bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự để nhiếp giữ chúng sinh khiến họ giải thoát.
Xét theo đa văn tiến hành “Đa văn… không cố”, tuy là đầy đủ trí tự tha, nhưng Sự cần phải tiến tu, khiến thành Viên rốt ráo.
Đa văn là đạo tràng: sơ tâm Bồ-tát được nghe chân thật, giữ gìn các điều nghe biết Phật pháp mười phương, phá các vọng ám, đa văn hiển phát, tánh lìa văn tự, tức là đạo tràng. Vì hay tùy thuận làm đúng như nghe thấy.
Điều phục tâm là đạo tràng, kinh Anh Lạc nói: Từ sơ phát tâm đến kim cang đảnh đều gọi là phục nhẫn. Hàng sơ tâm viên phục vô minh, tiến đến hiển bày chân thật tức là đạo tràng. Một tâm ba quán tức là chánh quán các pháp.
Ba mươi bảy phẩm là đạo tràng, Bồ-tát sơ tâm được vô tác đạo phẩm, luôn dẹp trừ tám thứ điên đảo tất cả vọng hoặc, hiển bày pháp thân năm ấm pháp tánh, tiến tu giải thoát cho đến được Đại Niết-bàn tức là đạo tràng. Tứ đế nội giới, ba đế ngoại giới đều gọi là hữu vi mà bội xả vậy. Vô lượng diệt đế, vô tác đạo diệt tức là chân vô vi.
Đế là đạo tràng. Từ đây trở đi năm phen là cảnh sở quán của đạo phẩm. sơ tâm Bồ-tát luôn dùng đạo phẩm để thấy bốn thứ Tứ đế, đoạn dứt mê lý phiền não nội ngoại giới, hiển bày lý quyền thật tức là đạo tràng. Nói bốn thứ Tứ đế tức là Không lừa dối thế gian.
Duyên khởi là đạo tràng, quán mười hai nhân duyên có bốn thứ tướng. sơ tâm Bồ-tát luôn dùng vô tác đạo phẩm mà quán nhân duyên ở ba đạo, được ba thứ Bồ-đề, tức là đạo tràng. Nếu quán nhân duyên thấy ba Phật tánh tức vô tận.
Các phiền não là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát luôn dùng đạo phẩm quán ba cõi, không nhiễm hư ngụy, hiển bày Phật chân thật pháp, tức là đạo tràng. Cũng nên biết phiền não cho đến Phật pháp đều rốt ráo
không.
Chúng sinh là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát luôn dùng đạo phẩm quán chín đạo chúng sinh đều không, không thấy có tướng chúng sinh thì vọng hoặc không khởi. Thấy chân tánh chúng sinh tức là Phật tánh, tức là đạo tràng. Nếu không thấy chúng sinh có tánh nhất định thì đối với ngã và vô ngã là Không hai, đó là nghĩa chân vô ngã.
Tất cả pháp là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát luôn dùng đạo phẩm quán tất cả ấm nhập... đều không, phá các điên đảo vọng hoặc trong các pháp, hiển bày năm ấm Phật tánh, được năm thứ Niết-bàn, tức là đạo tràng. Cũng nên biết các pháp và Niết-bàn đều không.
Xét theo hàng ma thuyết pháp mà nói nghĩa đạo tràng “Hàng ma… úy cố)
Bồ-tát quán hạnh thành tựu, nên thường chế phục các ma oán.
Hàng ma là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát hay hàng phục bốn ma cho đến tám ma, thấy ma giới như, tức Phật giới như, tức là đạo tràng. Luôn ở ma giới mà tâm không lay động.
Tam giới là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát không lìa tam giới, không đắm trước tam giới. Thấy ba đế ở tam giới thành Vương Tam-muội và hai mươi lăm Tam-muội, hiển bày tất cả Phật pháp, tức là đạo tràng. Biết tam giới là Không, vốn không chỗ đến.
Sư tử hống là đạo tràng, sư tử hống gọi là nói quyết định
sơ tâm Bồ-tát luôn phá nghi hoặc, thấy các chúng sinh đều có Phật tánh, tức là đạo tràng. Bốn thứ bất khả thuyết, nói bốn thứ nhân quả, phó cơ lợi vật quyết định không sợ sệt.
Xét theo quả đức mà nói đạo tràng “lực Vô úy… trí cố”.
Lực vô úy Bất cộng pháp là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát thành tựu mười thứ trí lực như kinh Hoa Nghiêm nói, tức là quán Nhất thật đế, thường phá vô minh được lực vô úy bất cộng chân pháp tức là đạo tràng. Lực vô úy bất cộng tự hành không lầm lỗi, hóa tha được thích hợp tức không có các lỗi.
Tam minh là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát liền được ba minh thấu suốt sự lý ba đời không trở ngại.
Một niệm biết tất cả pháp là đạo tràng, sơ tâm Bồ-tát thấy lý Trung đạo tức luôn song chiếu hai đế, phá vô minh pháp giới, chân trí hiển bày, tức là đạo tràng. Tướng chung của sơ tâm khi tất cả trí thành thì cũng là Phật.
Một phen tóm kết nghĩa đạo tràng “Như thị … Phật pháp hỷ”. Nếu căn cứ theo ngài Tịnh Danh, như trên đã thành tựu các Ba-la-mật, giáo
hóa chúng sinh, tùy việc đi đứng đều là trừ ngụy hiển chân, tức là từ đạo tràng mà đến, đâu có thể từ nơi Phật đắc đạo mà đến. Nếu theo sơ phát tâm trụ mà giải thích thì sơ tâm Bồ-tát dùng các Ba-la-mật để giáo hóa chúng sinh, trừ ngụy hiển chân, khi đi đứng đều quán thường ở hiện tiền, tức là từ trong đạo tràng đến. Cho đến Thập địa cũng như thế. Nếu căn cứ theo thập tín năm phẩm đệ tử mà giải thích thì: Nếu thường tu quán này, giáo hóa chúng sinh không mất chánh niệm, thì đi đứng đều là từ đạo tràng đến, đầy đủ tất cả Phật pháp. Như kinh Pháp Hoa nói: Nên biết người ấy đã đến đạo tràng.
Thời chúng được lợi ích “thuyết thị… Bồ-đề tâm”. Cả năm trăm Trời, người đều phát tâm Vô thượng đạo tức là trụ phát tâm.
* Kết lời không kham: Cho nên con không kham đến thăm bệnh ông ấy. Ngài Quang Nghiêm tự nghĩ lúc xưa đã mê chân đạo tràng, nhân ngài Tịnh Danh giải thích mà thần trí yếu kém đâu dám lãnh chỉ Phật đến thăm bệnh.
 
------------------------------------
PHẨM: BỒ-TÁT
(Phần 3)
 
Chánh văn: “Phật bảo ngài Trì Thế Bồ-tát: Ông hãy đến thăm bệnh ông Duy-ma-cật”,
Ba là: Phật sai Bồ tát Trí Thế. Văn có hai phần: Sai thăm bệnh và từ chối không kham.
- Sai thăm bệnh. Sở dĩ sai tiếp Bồ tát Trí Thế vì ngài là Bồ-tát xuất gia, cũng là pháp thân Đại sĩ nối ngôi tôn quý. Nói Trì Thế là hiểu nhớ không quên nên gọi là trì. Thế là nghĩa ngăn cách. Chân tâm thật tướng hiểu nhớ các pháp Không quên mất, nên gọi là Trì Thế. Trì có nhiều nghĩa tóm lược, có năm nghĩa:
a) Giá trì.
b) Tổng trì.
c) Văn trì.
d) Trụ trì.
e) Nhậm trì.
Bốn giáo đều có năm thứ trì này nhưng ba quyền một thật. Nay căn cứ ở Viên giáo mà nói năm thứ trì:
- Giá trì: Bồ-tát được thật tướng chân minh thường ngăn chặn các phiền não pháp giới và các khổ báo sinh tử.
- Tổng trì, tất cả công đức muôn hạnh tự lợi lợi tha, như chén nước đầy không nứt nẻ rò rỉ.
- Văn trì, cả mười phương chư Phật nói pháp cho đến các ngôn từ của mười giới một lần nghe qua đều nhớ rõ, như mây giữ mưa không quên mất.
- Trụ trì, giữ gìn các pháp môn của mười phương chư Phật nối tiếp mãi không mất.
- Nhậm trì: Vô duyên đại từ gánh vác tất cả giữ gìn không buông bỏ.
Bồ-tát từ mới phát tâm, tâm như hư không không phải Thiên
không phải Viên, mà luôn giữ được quyền thật, cho đến vị Pháp vân Đẳng giác. Ngài Trì Thế ở vị Bổ xứ, cả năm trì quyền thật đều rốt ráo, lẽ nào không biết ma Ba-tuần hóa thân làm Đế Thích, nhưng vì muốn khiến chúng sinh biết ma giới như và Phật giới như, nhất như không hai, cho nên lúc xưa đã thị hiện việc không biết ma, thị hiện việc chịu chê trách để khiến chúng sinh ngộ Phật tri kiến. Khai tức là chung, thị tức là riêng, chung riêng không hai tức là ngộ. Đây lại dựa vào sơ tâm mà
không tìm cầu xa xôi, cho đến bậc Diệu giác cũng như thế. Trước chê trách các ngài Di-lặc, Quang Nghiêm đều phá cái báo hẹp trên quả, nên căn cứ Bồ-đề đạo tràng để chê trách tiếp các ngài Trì Thế và Thiện Đức thì đều là phá việc nhầm chấp về nhân. Cho nên căn cứ việc ma đến hội thí để chê trách.
Nay Phật sai tiếp ngài Trì Thế là nếu có kể việc chê trách xưa, sẽ khiến các Bồ-tát biết việc ma mà ngộ Phật tri kiến. Đại chúng đồng nghe liền thành năm lợi ích trước.
Đáp lời không kham “Trì Thế…”. Văn có bốn:
1) Đáp lời không kham.
2) Nói lý do không kham.
3) Kể việc không kham.
4) Kết thành không kham.
* Đáp lời không kham: vì lúc xưa không biết ma biến làm Đế Thích, bị ngài Tịnh Danh chê trách, đâu dám truyền chỉ thăm bệnh.
* Nói lý do không kham: do không biết ma làm Đế Thích hiện đến. Văn có năm:
a) Ở trong tịnh thất.
b) Ma làm Đế Thích mà đến.
c) Ma đến không biết.
d) Ma lại cho ma nữ.
e) Sợ kỳ lạ không nhận.
Ở trong tịnh that: ngài Trì Thế đang ở trong tịnh thất tránh ồn ào mà nhập định. Đó là pháp thân Đại sĩ đâu cần sinh thân vào đạo, hiện tích đồng phương tiện làm phép tắc cho mọi người để dẫn dắt mọi người tiến tu, nên ở trong tịnh thất thị hiện tu thiền định, lúc đó ma đến đứng một bên.
b. Ma hiện làm Đế Thích đến, sở dĩ hiện làm Đế Thích đến, vì Đế Thích là đệ tử Phật đã được Thánh đạo, lại là đàn-việt của Phật thường đến gần gũi. Ngài Trì Thế là Bồ-tát xuất gia thấy đàn-việt đến theo lý ắt phải thăm hỏi liền bị quấy loạn. Nay nói theo bốn giáo về biết ma không đồng:
- Bồ-tát của Tam tạng giáo do chưa lìa phiền não ma và ấm ma, chỉ quán hạnh hiểu biết chiết phục mà thôi. Bèn nhờ đây mà tu đạo. Nếu được thần thông, khi tác ý thì biết Thiên ma, không tác ý thì không biết. Nếu biết rồi dùng thần thông hàng phục, thì chưa thể phá hẳn được. Khi đến cội Bồ-đề trước liền hàng ma, sai khi ma rút lui thì ba mươi bốn tâm đoạn dứt các kiết, bốn ma và nội giới đều hết.
- Bồ-tát của Thông giáo kiến địa, đoạn từng phần kiến phiền não ma được năm phần pháp thân, từng phần đoạn trừ ấm ma. Đến địa thứ sáu thì không có các chánh sử thấm đẩm nghiệp, trừ hết ấm ma và tử ma giới nôi. Lại còn thệ nguyên giữ lại tập khí để, thọ sinh vào nội giới có ấm có tử, tuy có ấm tử nhưng không mất đạo. Đến địa thứ bảy thì dù có thần thông nhưng tác ý thì mới biết và phá được Thiên ma, không tác ý thì không biết và không phá được. Khi đến dưới cội Bồ-đề thì mới phá rốt ráo, một niệm tập hết, không phát thệ lưu tập khí thọ sinh, tức là bốn ma đã hết hẳn.
- Bồ tát Biệt giáo là Thập trụ nhập lý thiên Chân mà phá phiền não ma, ấm ma và tử ma. Bậc Thập hạnh được thần thông cũng phải tác ý mới biết Thiên ma, không tác ý thì không biết và không hàng phục được. Đến bậc Sơ địa thì được một thân và vô lượng thân, làm Phật trăm cõi, các tập ở nội giới đều dứt, các ấm tử thiên ma đều phá hết.
- Bồ tát Viên giáo thì năm phẩm đều phục trọn cả bốn ma, nếu vào Thập tín thì liền Viên đoạn tất cả, không cần tác ý tự biết ma đến. Đây là tóm tắt phân biệt việc phá các ma ấm... Nếu phá tám ma thường, vô thường... thì Bồ-tát của Tam tạng giáo chỉ chế phục bốn ma, khi đến đạo thọ mới phá hết. Nếu bậc kiến địa của Thông giáo và thập trụ của Biệt giáo thì dẹp trừ Thường, Lạc... bốn thứ. Thập hạnh, Thập hướng đã phục được vô thường... bốn thứ, Đăng Địa thì phần phá được vô thường... bốn thứ. Nhân tuy vô thường nhưng quả là thường, đầy đủ như trong Đại kinh Phật trả lời Phạm chí. Đến Thập địa ở Biệt giáo thì tám ma đều dứt. Bậc Sơ trụ của Viên giáo thì phá trọn cả tám ma, nội giới dứt hẳn. Nếu bốn thứ vô thường... ngoại giới, thì cho đến hậu tâm thì mới rốt ráo phá hết.
Hỏi: Ngài Trì Thế vì sao bị ma quấy nhiễu?
Đáp: Nếu luận về hiện tích phương tiện ở Bổ xứ thì lẽ nào lại không biết ma, có giáo không người không cần phải sát hạch. Chỉ vì nhờ các phương tiện giáo để làm phép tắc gương mẫu nên thị hiện là Không biết. Giải điều này có ba ý:
Một là, Phương tiện Bồ-tát chưa thể thấy ma và Phật nhất như. Phật giới thuộc lý còn ma giới thuộc sự. Các phương tiện giáo tuy đã vào chân lý nhưng không thể vô ngại ở sự lý. Đoạn kiết nhập chân bỏ sự vào lý. Như lúc người sợ thì hàng phi nhân được dịp, không thể thể nhập cùng Phật giới nhất như, do đó mà bị quấy nhiễu. Còn Đại sĩ Tịnh Danh thì hai giới không hai, thấu suốt vô ngại, không có lấy bỏ, nên biết được và hàng phục được.
Hai là, Các phương tiện giáo duyên tu chiếu tịch, có nhập và xuất quán, tác ý thì biết ma không tác ý thì không biết. Về Viên giáo chân tu thì không xuất nhập quán, luôn ở trong Tam-muội Tịch mà thường chiếu. Ngài Trì Thế dù ở trong tịnh thất nhưng vẫn chưa nhập quán không tác ý để soi chiếu, thế nên không biết, còn Đại sĩ Tịch Chiếu, nên luôn hay biết. Ví như người tu thiền không biết tà mị, phải nhờ gương sáng, nên dù quỷ mị mê hoặc mắt người, nhưng không thể biến nguyên hình ở gương được, ma Ba-tuần cũng thế. Chỉ có thể lừa dối duyên tu chưa nhập quán, mà không thể lừa dối chân tu tịch chiếu.
Ba là, Các người học phương tiện giáo nếu nhập quán thì biết ma, hoặc tạm thời hàng phục nhưng không thể ở cảnh giới mà vô ngại. Như người không thể điều phục được đệ tử hung ác thì bỏ đi không nhận. Cũng có người không bỏ lại dùng phương tiện điều phục cho thuần thục, theo đuổi khiến họ thành kẻ thuận thiện. Bồ-tát điều ma cũng thế. Không phải chỉ điều phục tâm ác khiến thành thiện mà cũng hay khiến họ phát tâm Bồ-đề, chứng Vô tận đăng, rộng hóa độ tất cả. Đối với Phật pháp chưa từng có tổn giảm, mà lại rộng nhiêu ích khắp chúng ma. Quyền giáo Bồ-tát thiếu ba nghĩa này nên bị ma nhiễu loạn. Nay ngài Trì Thế đang tịnh, bị ma hiện hình trời muốn quấy nhiễu. Ngài Trì Thế không biết nhân chướng mà nhập định. Còn Phật biết cơ hóa độ người thành đạo, ma biết người được đạo nên cũng đến phá hoại.
Ma đến không biết mà nói pháp cho nghe “ngã ý… kiên pháp”.
Nói “Thiện lai”, vì không biết là ma, cho đó là Đế Thích đến cầu thiện pháp nên khen là “Thiện lai.” Kiều-thi-ca vốn là họ người, lấy họ làm tên. Tuy phước đáng có, là phước cảm được quả báo vui giàu của Thiên vương nhưng không nên phóng túng không tu.
Phải quán năm dục vô thường để cầu gốc thiện. Nếu Tiểu thừa chỉ dùng vô thường làm gốc thiện xuất thế. Đại Luận nói Thiên vương luôn mê đắm năm dục, Phật nói cho nghe vô thường... Mười lăm thứ quán, để phá hết dục, liền khiến chuyển giáo. Ngài Trì Thế cho đó là Thiên vương nên khuyên quán vô thường để lìa dục, đối với thân mạng tài mà tu pháp kiên  cốcó pháp. Tam kiên cố có năm thứ:
Một là, Ba kiên cố của thế gian: không đánh đập mà ban ân tuệ nên được thân kiên cố ở vị lai; do phóng sinh cấm sát nên được mạng kiên cố ở vị lai, do trực tâm bố thí nên được tài kiên cố ở vị lai. Nên khiến Thiên đế quán vô thường. Quả báo trời không lâu dài, nên phải gieo trồng nghiệp kiên cố ở vị lai.
Hai là, Kinh Thanh Văn nói tu ba kiên cố, là nếu quán vô thường
thì được năm phần pháp thân, vô lậu tuệ mạng và thất Thánh tài. Không thể bị tổn hại nên gọi là kiên. Bồ-tát vì chúng sinh vì Phật pháp mà hy sinh thân mạng không chút luyến tiếc, thì báo đẹp được ba kiên cố thế gian, sau khi thành Phật mới được ba kiên cố, đại thể đồng với Thanh văn.
Ba là, Theo Thông giáo thì quán ba kiên cố không sinh không diệt, phiền não sinh tử Thiên ma ngoại đạo không thể phá hoại.
Bốn là, Biệt giáo thì bậc Đăng địa lìa sinh tử nội ngoại giới, pháp thân hiển bày gọi là thân kiên cố; Bát-nhã tuệ mạng trọn không đoạn mất tức là mạng kiên; muôn thiện pháp tài không bị cướp đoạt tức là tiền của kiên cố.
Năm là Viên giáo nói bỏ thân mạng tài đều suốt cùng sinh tử kiếp sau, lìa bỏ lão bệnh tử được thường trụ bất hoại. Tất cả pháp đến thân mạng tài cũng là ba đức kiên cố .
Ngài Trì Thế lầm vì Thiên vương nói pháp năm thứ ba kiên cố chưa biết nói như thế nào.
Nói ma thí ma nữ “tức ngữ… tảo sái”, ma biến hình làm Đế Thích đã bỏ thiền tâm lại hiến dâng ma nữ để lại quấy nhiễu. Trước hiện thân Đế Thích là giặc yếu nhập vào, nay đem ma nữ dâng hiến để trái tình là giặc mạnh lại nhập, hai loại giặc cướp này quấy hại tâm. Trì Thế không biết là đã bị ma nhiễu hại.
Nói Trì Thế thấy quái lạ không nhận ““Ta nói”… “trái phép ta”“. Nữ là cảnh phi pháp đâu được cưỡng dâng cho nên nói: Chớ đem vật phi pháp này dâng cho ta. Sa-môn là bậc phạm hạnh thanh khiết, không được nhận vật ô nhiễm phi pháp cúng dường, nên nói không hợp với  ta.
* Kể việc bị chê trách        nên không kham “Sở ngôn…”. Văn có tám:
                       1. Ngài Tịnh Danh cảnh tỉnh ngài Trì Thế.
                       2. Tịnh Danh đến ma đòi ma nữ.
                       3. Ma sợ hãi muốn đi.
                       4. Tiếng trên không khuyên bỏ.
                       5. Ma bỏ ma nữ.
                       6. Đại sĩ nói pháp cho ma nữ.
                       7. Ma xin lại ma nữ.
                       8. Đại sĩ trả lại ma nữ.
Ngài Tịnh Danh cảnh tỉnh: Vì ngài Trì Thế không thể tự tỉnh giác bởi duyên tu không tới nơi, nên bị ma huyễn hoặc mà không biết. Đại
sĩ ngộ Phật tri kiến, tự ngộ ngộ tha, soi chiếu cùng tột, nên có thể phát giác được ma huyễn hoặc, chỉ rõ phải quấy. Trước chỉ rõ ma muốn phá chánh đạo nên nói: “Ma vây chặt quấy nhiễu ông”.
Ngài Tịnh Danh đòi ma nữ “tức ngữ… ưng thọ): Như ta đáng thọ nhận. Đây có hai ý:
a) Ta là người thế tục nhận thì không hại gì.
b) Viên hạnh Đại sĩ thấu suốt cội nguồn của sắc, trái hay thuận, mạnh hay yếu đều là Chánh đạo, không hại gì nên nói: “Như ta đáng thọ nhận”.
Ma sợ muốn đi “ma tức… đắc khứ”. Vốn khinh ngài Trì Thế việc phá hoại sắp thành bỗng gặp ngài Tịnh Danh phát hiện sự giả trá, lại biết không thể đối địch, đành phải chịu nhục, thế nên kinh sợ. Muốn  ẩn hình biến đi nhưng cố hết thần lực cũng không đi được. Vì ma tuy có thần lực nhưng không bằng pháp thân Đại sĩ có năng dụng không cần mưu cầu, nên cố hết sức vẫn không đi được.
Tiếng trên không trung khuyên bỏ: “Tức văn… đắc khứ”, tiếng trên không trung. Quan Hà xưa có giải rằng: Bồ-tát hóa độ ma này, nhân căn cơ mà trợ giúp: Trước đây ngươi muốn hiến dâng cho ngài Trì Thế, nay ngài Tịnh Danh xin sao lại không cho. Cho thời không trái với bổn tâm thì mới có thể đi được. Hoặc là ngài Tịnh Danh phát tiếng nói trên không trung để điều phục ma, hoặc là tiếng nói của Pháp thân Tỳ- lô-giá-na Đức Thích-ca, như Phổ Hiền Quán đã nói. Ma vì sợ nên gắng gượng kính cho.
Ma đã bỏ ma nữ, nhưng không thể tự ẩn đi. Tiếng trên không lại khuyên ma nên tự niệm nhớ, nếu không dâng nạp các ma nữ e càng bị nhục. Sợ không nhận nên lại xin dâng nạp.
Nhận ma nữ và nói pháp để điều phục tâm ma “Bấy giờ trở đi”. Thế nên nhận các ma nữ, để lợi ích cho họ nên cần nói pháp. Văn có hai: Một là Khuyên phát tâm. Hai là Khuyên tu hành.
Phát tâm là mắt, tu hành là chân. Mắt chân đầy đủ nên vào được ao Thanh lương. Do đó trước khuyên phát tâm, sau khuyên tu hành. Như ứng hiện nói pháp, là tùy bốn căn duyên khiến đều phát tâm.
Từ “các ngươi…) là khuyên tu hành, tuy đã phát tâm cần phải tu hành thay cho nguyện suông, nên khuyên tu hành Bồ-tát pháp lạc.
Vì để phá dục lạc, nên nói pháp lạc, khiến ma tu tập. Văn đây lại có ba phần nhỏ: Khuyên tu pháp lạc. Thiên nữ thỉnh hỏi. Tịnh Danh đáp.
Khuyên tu, như văn.
Thiên nữ liền hỏi: Sao gọi là pháp lạc là Thiên nữ hỏi. Thiên nữ ở cung ma nhận được dục lạc thế tục, không nghe nói pháp lạc thanh tịnh xuất thế. Nay nghe chưa hiểu nên hỏi.
Tịnh Danh đáp “đáp rằng…”: Pháp lạc là tất cả ham muốn thiện pháp là gốc của nó, nếu có ham thích thì là vui. Như người yêu kính nghĩ đến cha mẹ thân thích thì lấy đó làm vui. Nếu là đệ tử Phật thì lấy Phật thay cha, lấy Pháp thay mẹ, lấy Tăng thay cho thân thuộc, lấy hạnh thay cho tài sản, cái vui sâu sắc đó là pháp lạc xuất thế. Văn có năm: Một là, Vui quy y Tam bảo. Hai là, Vui lìa bỏ Tập đế. Ba là, Vui quán Khổ đế. Bốn là, Vui tu Đạo đế. Năm là Kết thành pháp lạc.
Nếu hay như thế chẳng những trong nhân liền được pháp lạc mà sau này lại được cứu cánh thường, lạc của Diệt đế Niết-bàn.
Vui quy y Tam bảo, Tam bảo của bốn giáo, tùy chỗ tin vui tức là pháp lạc, vui lìa ngũ dục.
Vui lìa bỏ Tập đế. Tập cần nên là đoạn, nên nói vui lìa ngũ dục. Kinh Pháp Hoa nói: Các khổ đều do tham dục làm gốc, nên biết ngũ dục tức là tập vậy. Như người bệnh hết liền được an lạc. Nếu lìa ngũ dục tức được pháp lạc. Việc lìa tập tùy cơ của bốn giáo không đồng. Chỉ lúc đầu chê trách Thiên nữ mê đắm năm dục lạc là dùng nhiều về Tam tạng giáo.
Ba, Vui quán Khổ đế “Lạc quán… không tụ”, nếu không có lạc quán thì là bị khổ làm khổ, đâu có pháp lạc. Nếu hay quán thì liền được quán trí chân pháp lạc. Quán khổ của bốn giáo tùy căn đem dùng.
Khuyên tu Đạo đế: “lạc tùy hộ…”. Văn có ba:
1. Tu hạnh gốc.
2. Chánh hạnh.
3. Biến hạnh.
Tu hạnh gốc là vui tùy ý hộ đạo, đây là khuyên tự làm thiện, khéo hộ trì đạo tâm thì đạo tâm không hư hoại. Lấy đạo tự vui tức là pháp lạc. Thích làm lợi ích chúng sinh, tức là khuyên hóa tha. Như cha mẹ thấy con lìa khổ được vui thì cha mẹ cũng vui. Ưa thích kính dưỡng thầy, là bỏ cha theo thầy, thầy giúp thành đức tốt. Kính thầy và đạo pháp thấm vui, với Thần vi tức là pháp lạc. Biết ân kính dưỡng, báo đức thỏa lòng cũng là pháp lạc. Ấy là trong tu tự hành hóa tha, ngoài có Minh sư dắt dẫn, nhân duyên đầy đủ, không hạnh nào không thành, chỗ mong cầu đều xứng ý, tức là pháp lạc.
Nói chánh hạnh của Bồ-tát “Lạc quảng… Minh Tuệ”, Lục độ là tông chỉ chung của các hạnh, bốn giáo đều tu để cầu Bồ-đề nhưng giáo
môn không đồng, nên có sinh diệt... Tứ đế, như trong Phẩm Phật Quốc khen đức của Bồ-tát và hạnh Tịnh độ đã giải thích đầy đủ. Chỉ ngài Tịnh Danh tùy ứng mà nói, cốt mong các Thiên nữ chỗ ra làm đều tùy được vui, đạo vị thấm trí, xứng tâm thỏa ý đều gọi là pháp lạc.
Nói về biến hạnh “Lạc quảng chi pháp”. Hạnh có hai thứ là chung và riêng. Chung là sáu pháp Ba-la-mật. Riêng là trải khắp muôn hạnh. Nay khuyên các thiên nữ làm khắp muôn hạnh mà tóm tắt nêu ra vài điều để làm tướng pháp lạc. Lại còn, nếu làm một hạnh thì hạnh nào không thuộc. Vui thích mở rộng tâm Bồ-đề tức là hoằng thệ, ắt khiến biến khắp nên gọi là rộng. Từ lúc đầu phát hoằng thệ cho đến vô tác, tức là nghĩa thêm rộng. Đạo cao quý tăng trưởng, pháp vị đổi mới tức là pháp lạc.
Vui hàng phục các ma, như tâm bình thắng oán thù thì tất vui sướng. Vui đoạn các phiền não. Bệnh phiền não hành tức là Niết-bàn.
Vui cõi Phật thanh tịnh, nghĩa cõi Phật thanh tịnh như trước đã nói. Như nhà cửa ở đời cần nên sửa sang cho sạch đẹp, chủ khách nhìn vào tất vui vẻ.
Vui thành tựu tướng hảo, nên tu các công đức. Như người tự tại thoải mái tất hình nghi đoan chánh, trong có đức tốt liền vui sướng.
Vui nghiêm đạo tràng. Về đạo tràng của bốn giáo đã giải thích rõ trong phần ngài Quang Nghiêm. Đây là trừ ngụy hiển chân, chân hiển thị thì ngụy diệt, tất sẽ vui mừng.
Vui nghe pháp sâu không sợ, tuy mỗi thứ đều có pháp sâu nhưng thiên chân của Tạng Thông thì chưa lấy làm sâu. Biệt viên thì viên trực mới là pháp sâu khó đạt đến đáy. Nếu người sợ sệt tâm sẽ kinh nghi, nên khổ mà không vui. Nếu nghe mà không sợ thì ham thích cầu mong được vui chân thường. Nhưng vui ở ba môn giải thoát, không vui phi thời. Về ba giải thoát môn của bốn giáo, hai thứ trước có thời và phi thời. Phi thời tức là Nhị thừa, còn thời là Bồ-tát. Lại còn, hai thứ Bồ-tát trước cũng là phi thời. Biệt và Viên giáo quán Trung đạo, tu ba giải tho- át môn tức là thời. Biệt so với Viên lại là phi thời. Riêng Viên giáo mới chính là chân thời. Vì sao? Vì các giáo hạnh phương tiện không phải chứng thời, nếu muốn lấy chứng thì đều là phi thời. Nếu thời mà cầu thì liền được chân rốt ráo ba giải thoát môn, tức là chân pháp lạc.
Vui gần và đẳng, thì bốn giáo mỗi thứ đều có đồng học thân cận, đồng tu hòa đồng được khen thưởng tức là pháp lạc. Nếu ở phàm phu Tiểu thừa thì không phải đồng hành. Nếu tâm có sân khuể chướng ngại thì phá hư chân pháp lạc. Nếu tâm không có sân khuể chướng ngại  lại
hay tùy hỷ những việc cao hơn thì lại được pháp lạc tùy hỷ.
Vui hộ trì ác tri thức, nếu không hộ trì ý người ấy tất họ phá hoại pháp lạc, nếu hay đem điều thiện hộ trì thì ác tâm họ không sinh, không đến nổi phá hư các nội thiện pháp lạc, luôn được an ổn tồn tại.
Vui gần Thiện tri thức. Thiện tri thức là người hay chỉ bày giáo pháp tạo niềm vui, tạo nên pháp lạc cho người.
Vui tâm hỷ thanh tịnh, Đại tập có nói như biết đúng thật, biết nhiều tâm động hoàn toàn là hỷ. Biết đúng thật, biết nhiều tức là chân pháp lạc. Tâm động hoàn toàn gọi là tịnh pháp lạc.
Vui tu vô lượng pháp đạo phẩm. Đạo phẩm của bốn giáo, nếu     ở tâm Bồ-tát để hóa độ chúng sinh đều gọi là vô lượng. Sở dĩ nói đạo phẩm gọi là pháp lạc, là như kinh Pháp Hoa nói: “Có căn, lực, giác, đạo vô lậu liền được vô lượng an ổn vui vẻ”, hàng Nhị thừa còn được thế, huống là Bồ-tát. Nhưng chỉ phân biệt vô lượng đạo phẩm, mở nghĩa bốn giáo lấy bỏ khó hiểu. Đó là căn cứ pháp lạc của Bồ-tát.
Năm, Kết thành pháp lạc. Nếu Bồ-tát có tâm ham thích tu các pháp này thì đều là pháp lạc. Chỉ lược nêu ra một thứ, các thứ khác đều là pháp lạc. Như người tự hành nghe kinh, học tập thiền tọa... tâm vui liền vui, nếu tâm không vui liền sinh khổ thọ.
Ma khuyên Thiên nữ về cung: “Do đó…”. Văn có ba: Một là Ma khuyên Thiên nữ. Hai là, Thiên nữ thích pháp lạc không trở về. Ba là, Ma đến xin Thiên nữ. Đều như văn nói.
Ngài Tịnh Danh trả lại Thiên nữ: “Duy-ma-cật…”. Đây có bốn: Một là Tịnh Danh trả các Thiên nữ. Hai là, Các Thiên nữ thỉnh pháp muốn trở về. Ba là, Ngài Tịnh Danh nói Vô tận pháp môn. Bốn là,Các Thiên nữ chí kính ra đi.
Ngài Tịnh Danh trả Thiên nữ: Đại sĩ vốn thường tu xả hạnh, chính để điều phục ma, nên nói “như ta đáng nhận lãnh.” Điều phục ma xong thì các Thiên nữ phát tâm nên thả trở về ma cung lại hay rộng giáo hóa nên trả lại cho ma. Khiến tất cả chúng sinh đều được pháp nguyện đầy đủ. Trả về liền mãn nguyện, nhân đó mà lập nguyện khiến cầu pháp, là đều được pháp nguyện đầy đủ.
Các Thiên nữ thỉnh pháp muốn trở về “Ư thị… ma cung”. Đệ tử riêng thờ thầy là cần thưa hỏi và xin được dạy bảo những điều cần làm.
Nói cho pháp môn Vô tận đăng “Duy-ma… chúng sinh”. Bồ-tát của bốn giáo đều có pháp môn này, chỉ có rốt ráo hay không rốt ráo mà thôi. Về Tạng Thông do hôi đoạn thì quả có dứt hết mà trong nhân được
truyền hóa đến quả, tuy đã nhập Niết-bàn, nhưng vẫn lần lượt thọ ký, nên giáo pháp Phật không dứt mất. Đây là làm vô tận Hữu tận đăng. Trong Biệt viên thì thấy biết tất cả pháp như không vô tận, trí cũng vô tận. Tự mình bất khả tận mà hóa tha cũng thế. Ví Như có hai cái đèn, một cái dầu ít ngọn lửa nhỏ, một cái dầu nhiều ngọn lửa to. Dầu nhiều ngọn lửa to vốn là Bất tận đăng, đốt mồi các đèn khác cũng không thể dứt. Ngài Tịnh Danh dùng pháp môn này để chuyển độ người khác. Lại khiến cho cả trăm ngàn người khác đều phát tâm mà không tổn hại chi ngọn đèn gốc, nên lấy đó làm dụ. Ấy thời ngầm biết, là tất cả đều sáng mãi trọn không dứt mất. Khiến các chúng sinh nối giòng Pháp vương, tức là hay báo đền ân pháp làm lợi ích cho tất cả.
Bốn, “Nhĩ thời… bất hiện” Thiên nữ thọ giáo chí kính rồi trở về cung, như văn.
* Kết thành không kham “Thế Tôn…”. Ngài Tịnh Danh có thần lực này, là tịch chiếu tri kiến đều phục ma tự tại. Trí tuệ biện tài, là nói pháp lạc và Vô Tận Đăng. Ngài Trì Thế tự nghĩ lúc xưa không bằng ngài, đâu dám lãnh ý đến thăm bệnh.
Chánh văn: Phật bảo Trưởng giả tử Thiện đắc.
Bốn là sai Thiện đắc. Văn có hai phần: Phật sai thăm bệnh và Từ chối không kham.
Sai thăm bệnh, sở dĩ sai tiếp ngài Thiện đắc, vì ngài là Bồ-tát tại gia, là một trong số năm trăm người, cũng là pháp thân thị hiện ở vị bổ xứ. Sở dĩ gọi là Thiện đắc, thiện là khéo léo, đắc là được lý, khéo léo được lý nên gọi là Thiện đắc. Nhưng xét theo giáo thì không đồng.
Theo Tam tạng giáo thì Nhị thừa tự khéo léo được lý, nhưng không có thể đoạn tập, còn Duyên giác đoạn tập không hết nên không phải nghĩa Thiện đắc. Bồ-tát thì không thế. Ý luôn cứu giúp tất cả để đạt quả được lý, các chánh tập đều hết nên gọi Thiện đắc.
Theo Thông giáo, thì giáo trước tích không đạt được lý, ba thừa đều không phải Thiện đắc, giáo này thể chân tức là khéo độ, ba thừa thảy đều là lý Thiện đắc Đệ nhất nghĩa. Chỉ Nhị thừa không có Bi, liền nhập Niết-bàn nên không gọi là Thiện đắc. Bồ-tát được lý thì rộng lợi ích quần sinh đạt đến tận cùng, đạt đến quả Phật, tập khí đều dứt, nên gọi là Thiện đắc.
Theo Biệt giáo, thì Thông giáo thiên chân đâu thể gọi là Thiện đắc. Giáo này được chân, không trụ ở tu hằng hà sa Phật pháp, đoạn hết biệt hoặc, thấy lý Trung đạo, bèn gọi là Thiện đắc.
Theo Viên giáo thì Biệt giáo duyên tu đâu thể gọi là Thiện đắc.
Một tâm ba quán năm nhãn đầy đủ, viên chiếu pháp giới, viên thành ba đức, rốt ráo Niết-bàn, đó là chân Thiện đắc. Thế thì không đắc mà đắc. Đắc vô sở đắc nên gọi là Thiện đắc là ba quyền một thật. Nay Trưởng giả tử khéo biết không phải quyền không phải thật mà luôn thành tựu được quyền thật Thiện đắc. Do đây mà hóa vật, tự lợi lợi tha, nhập Phật tri kiến, nên gọi là Thiện đắc. Nghĩa này đã thế, đâu lại đáp là Không biết hội pháp thí nên bị ngài Tịnh Danh chê trách. Nhưng chỉ là dùng chày cối để thành vật mà hiển bày nhập Phật tri kiến. Vì sao biết được? Nay sai thăm bệnh là lấy bốn nghĩa này. Ba nghĩa trước là hiển bày ba nghĩa khai, thị ngộ ở sơ tâm. Nay sai ngài Thiện đắc là muốn chỉ bày đạo nhập Phật tri kiến. Trước ngài Trì Thế, là chỉ cho biết chính nói ma như không khác Phật như. Nay là hiển bày việc vào hội pháp thí không có trước sau, cùng một lúc bình đẳng thí, tức là Không hai mà hai. Đạo quán song lưu, nên nhận chuỗi anh lạc phân làm hai phần, một phần dâng ngài Nan-thắng, một phần cho người ăn xin, tức là hội bình đẳng pháp thí. Lại căn cứ theo sơ tâm chớ cầu xa xôi. Thuở xưa phá hội tài thí bảy ngày, tức là mượn ý để phá người học Ba giáo chưa vào Trung đạo, bao nhiêu đàn thí không phải là hội pháp thí. Nay sai thăm bệnh, nếu thuật lại việc bị chê trách xưa, thì đại chúng đều được khắp nghe về học phương tiện, và đều hỗ thẹn mà cầu chân pháp thí, tức là thành tựu được năm thứ lợi ích trước.
- Từ chối không kham “Thiện đắc…”. Văn có bốn:
1) Từ chối không kham.
2) Kể lý do không kham.
3) Chính kể việc bị chê trách.
4) Kết không kham.
* Từ chối không kham, vì thuở xưa lập hội thí bảy ngày, nhưng không phải là hội pháp thí không lợi ích vật, đến nỗi bị chê trách, nên không kham truyền chỉ Phật đến thăm bệnh.
* Nói lý do không kham “Sở dĩ… bảy ngày”. Do ở tại nhà cha lập hội đại thí cúng dường tất cả, thời hạn bảy ngày, nhưng không biết pháp thí. Nói nhà cha là chỗ ở của tổ phụ. Lập hội đại thí, thì Quan Hà cựu giải nói rằng: Nhà Tổ phụ có tà kiến nhiều đời luôn tu theo cúng tế tà. Tế nhỏ thì dùng dê, tế vừa dùng trâu, tế lớn thì dùng người. Thiện đắc giáo hóa dẹp bỏ được thờ cúng tà này, khuyên tu chánh đạo là chân đàn thí. Nhà ông rất giàu tứ sự đều dư giả, nên lập đại hội thí này, cúng dường cho tất cả hàng xuất gia, tại gia, nội đạo hay ngoại đạo và cho kẻ ăn xin hèn kém nhất, cung cấp đầy đủ không phân biệt các thứ cần dùng
suốt cả bảy ngày. Nhưng hội thí là đàn. Xét theo bốn giáo là:
Theo Tam tạng giáo là thường bỏ tài vật cho đến thân mạng, mới thành Đàn độ (Bố thí độ). Như vua Thi-tỳ chết thay cho chim câu không hề hối hận.
Theo Thông giáo, nếu chỉ buông bỏ tất cả thì chỉ là đàn mà không phải độ. Hiểu rõ ba việc đều không “người thí, của thí, người nhận) có gì thí nấy mới là đàn là độ.
Theo Biệt giáo, tuy ba việc đều không, thì vẫn là Đàn mà không phải độ. Hay độ Biệt hoặc, đến được Đại Niết-bàn, luôn phân biệt thí có vô lượng tướng, phó cơ độ vật thì mới là Đàn là độ.
Theo Viên giáo, trước tuy đã phá Biệt hoặc, tùy cơ mà thí, nhưng vẫn là Đàn chưa phải độ, vì không phải rốt ráo. Nếu biết tất cả hướng đến, đàn không ngoài thú, mà đàn còn không thể được, sao còn có hướng đến không hướng đến, tức là Đàn độ vậy. Vì sao? Vì là đàn rốt ráo thấu suốt các pháp vậy. Ba quyền một thật, thật là hội pháp thí. Ngài Thiện đắc thị hiện phương tiện làm ba thứ trước, không hiểu đàn độ rốt ráo của Viên giáo là hội pháp thí, cho nên bị chê trách. Nguyên do không kham là do đây.
* Kể việc bị chê trách “Thời Duy-ma…”. Văn có sáu:
a) Chánh chê trách.
b) Thiện đắc thưa hỏi.
c) Tịnh Danh lược nói.
d) Thiện đắc lại hỏi.
e) Tịnh Danh lại nói rộng.
f) Thời chúng được lợi ích.
Chánh chê trách. Thiện đắc tuy có đại hội tài thí nhưng không biết trong tài có pháp thí, nên không phải pháp thí. Do đó trước chê trách sau khuyên. Trước chê trách là Không thấy trong tài có tất cả Phật pháp, đâu gọi là đại thí. Sau khuyên là khuyên tu đại hội pháp thí.
Hỏi: Hội pháp thí là nói pháp làm hội thí hay trong tài có đủ tất cả pháp, vì khi tài thí tức là hội pháp thí?
Đáp: Đầy đủ cả hai nghĩa. Kinh luận đã nói nhiều, cho tiền của là tài thí, nói pháp là pháp thí, đây là cách chung về hai thí của bốn giáo. Nay đạo Viên thông bất tư nghị không phải chỉ nói pháp mới là pháp thí. Trong tài thí đã đầy đủ tất cả Phật pháp để thí cho chúng sinh. Khi làm tài thí này tức là pháp thí, như ngài Vô Tận Ý cởi chuỗi anh lạc ở cổ để thí cho ngài Quán Thế Âm và bảo rằng: “Nên nhận chuổi ngọc trân bảo pháp thí này.” Chỉ thí chuỗi anh lạc mà nói là pháp thí, tức trong
chuỗi anh lạc có đầy đủ Phật pháp, khi thí chuỗi anh lạc tức là pháp thí. Nay ngài Tịnh Danh nói: “Không trước không sau cùng lúc cúng dường tất cả chúng sinh gọi là hội pháp thí.” Đây như trên đã chê trách ngài Ca-diếp: “Dùng một bữa ăn mà bố thí cho tất cả, cúng dường chư Phật và chúng Thánh hiền.” Nay nhận chuỗi anh lạc phân làm hai phần, một phần dâng lên Đức Như Lai Nan Thắng, một phần thí cho kẻ ăn xin thấp hèn nhất, mà nói rằng nếu thí chủ tâm bình đẳng thí cho một người ăn xin thấp hèn kém nhất cũng xem như tướng phước điền của Như Lai không thể phân biệt, đồng với đại bi không cầu quả báo, ấy là cũng đầy đủ pháp thí. Do đây mà nói đâu cần phải nói pháp. Nay văn chính là ước tài thí có đầy đủ Phật pháp tức là hội pháp thí. Vì sao? Vì tài thí tức là năm trần. Đại Phẩm nói: Tất cả hướng đến sắc cho đến thú phi thú thinh... cũng thế. Nếu hay thấu suốt trong tài thí có pháp thí, thì từ bi thệ nguyện phước trí huân tu, dùng thứ tài thí này tùy như trước mà được. Như bỏ chất độc vào sữa nghe tiếng trống độc gần xa đều chết. Như đây mà thí thì không phải chỉ người thọ nhận trong bảy ngày được lợi, mà tất cả đều có ích. Thiện đắc không hiểu, nên bị chê trách rằng: Đáng làm hội pháp thí sao lại làm hội tài thí.
Hỏi: Chỉ có Viên giáo là có pháp thí, ba thứ kia cũng có vậy?
Đáp: Đối với Đàn mà ước quán thì cũng có nghĩa này, nhưng không phải Viên khắp. Lại phương tiện giáo môn ẩn hiện, chưa ắt là nói nghĩa này. Nên ngài Tịnh Danh dùng thí Viên giáo để hiển bày nhập Phật tri kiến, thấu suốt vô ngại mà mượn việc chê trách ngài Thiện đắc, khiến thời chúng vốn theo phương tiện giáo hiểu rõ tài thí này mà thành tựu pháp thí.
Thiện đắc xin nói: “ngã ngôn… chi hội”. Sở dĩ xin nói, Thiện đắc đâu không biết nói pháp mà là pháp thí, chỉ sợ ý ngài Tịnh Danh có gì sâu sắc hơn nên xin nói.
Ngài Tịnh Danh lược đáp: “pháp thí… chi hội”. hội pháp thí là Không trước không sau. Đây tức là quán thí sắc... tất cả sắc hướng đến tức là trong sắc có đủ pháp của mười giới gọi là pháp, dùng thứ này mà cúng thí Phật tức là pháp thí. Như châu Như ý đầy đủ tất cả báu. Không phân biệt, là chỉ có người thí bà người nhận là khác. Đây như viên giáo, nếu người thí và người nhận đều biết đủ các báu thì đây như Ba giáo. Nên Đại kinh nói: Có hai loại người được phước lợi lớn: Một là, đúng pháp mà thí, hai là, đúng pháp mà nhận. Đây tức là hội pháp thí. Không trước không sau, là bờ mé trước tức sinh tử, lục đạo chúng sinh. Bờ mé sau tức Niết-bàn, bốn thứ Thánh nhân. Nếu quán ba việc “người thí của
thí người nhận) là nhất như không hai đều là Trung đạo, là Không có bờ mé trước sau, cùng lúc cúng dường tất cả chúng sinh, đó gọi là hội pháp thí. Ở giữa không phải hai biên mà hay song chiếu sáu đạo bốn Thánh. Mười thứ này khắp nhiếp tất cả chúng sinh. Bồ-tát nhân thí một sắc thì khiến tất cả chúng sinh đều thấy được Trung đạo. Tức là đại sự nhân duyên vì khiến tất cả chúng sinh khai thị ngộ nhập, nên nói thí tất cả. Lại còn, nếu chúng sinh nào chưa được lợi lớn thì do căn duyên mình đều được pháp lợi, nên gọi là thí tất cả. Ấy là Không phải quyền không phải thật, mà hay quyền hay thật song chiếu cả hai thí, tâm tâm vắng lặng, nhập Phật tri kiến, đó gọi là hội pháp thí.
Thiện đắc lại hỏi, sở dĩ lại hỏi, là ngài Tịnh Danh lược đáp tóm nói nghĩa sâu sắc, tuy chỉ bày việc pháp thí ý rất rõ ràng, nhưng vẫn chưa hiểu. Lại hiện tích chưa ngộ để khiến thời chúng khắp nghe mà được hiểu rõ lợi ích của pháp thí.
Ngài Tịnh Danh lại đáp “vị dĩ…”. Nói rộng pháp thí có ba mươi hai việc, không thứ nào không ước trong tài có pháp. Nếu lìa tài thì trong tài không có pháp, gồm nhiếp pháp bất tận. Tất cả hướng đến đàn sao chỉ có ba mươi hai thứ, đây chỉ là lược nói mà thôi. Do đó trong tài có đủ muôn hạnh, đem thứ này mà thí thì người nhận tài liền nhận được tất cả pháp. Năm trần cũng đều thế, như tên độc tẩm thuốc, bất cứ vào đâu, chất thuốc độc sẽ phát tán giết chết người. Quán pháp vào tài, tùy thí cho mọi người, sáu căn nhận thí thì pháp liền vào. Như Đại kinh nói: Cho chất độc vào sữa biến khắp năm vị đều hay giết chết người. Chúng sinh thọ nhận tài, quán pháp thấm đượm, để làm thiện căn. Sau nếu gặp Phật khai phát thiện đời trước, thì liền được ngộ. Như chất độc phát tán giết người. Nếu tài thì không đủ pháp tài cùng thí, thì lợi ích bé nhỏ không nhập đạo duyên. Văn có năm:
1) Căn cứ bốn đẳng.
2) Căn cứ lục độ.
3) Căn cứ ba thoát.
4) Căn cứ các hạnh.
5) Kết thành pháp thí.
Căn cứ bốn đẳng, đây là hoài bão lợi vật của Bồ-tát, nghĩa là vì Bồ-đề mà khởi từ tâm. Đoạn văn trên có nói: tịch diệt là Bồ-đề. Nếu quán tài hướng đến rốt ráo tịch diệt, tức là chân Bồ-đề mà khởi Vô duyên đại từ như nam châm hút sắt, cho vui Đại Niết-bàn. Vì cứu chúng sinh mà khởi tâm đại bi. Tất cả chúng sinh đều vì hai biên mà chìm đắm trong biển khổ. Nếu quán tài này lìa bỏ hai biên, tức là Vô duyên đại
bi cứu khổ hai biên.
Vì giữ gìn chánh pháp mà khởi tâm hỷ. Chánh pháp là lý nhất thật, nếu thấy lý này, tức là đầy đủ chánh pháp. Pháp này hay khiến lìa khổ hai biên, được Đại Niết-bàn, thành tựu vô duyên đại hỷ.
Vì nhiếp giữ trí tuệ mà khởi tâm xả. Nếu quán ba việc thấy lý ba đế Phật tánh hư không, tức là nhiếp ba trí, không thí không thọ nhận. Biết bốn bất khả thuyết, bình đẳng chân pháp giới Phật không độ chúng sinh, tuy lại cứu khổ ban vui, tâm không phân biệt, không chấp giữ ân nghĩa với vật, tức là vô duyên đại xả.
Căn cứ lục Độ “dĩ nhiếp… Ba-la-mật”. Vì nhiếp giữ xan tham mà khởi Đàn Ba-la-mật. Quán ba việc thấy Trung đạo, lìa bỏ hai biên, không xan tham, cũng không bố thí, gọi là chân đàn. Vì nhiếp năm thứ xan tham mà khởi năm thứ đàn. Bốn quyền một thật, nhiếp chúng sinh như phần khen đức của ngài Tịnh Danh trước đã tóm tắt phân biệt.
Vì hóa độ việc phạm cấm mà khởi Thi-la. Bồ-tát ra làm thấy Đế Nhất thật liền quên trì phạm, đó là chân Thi-la. Vì hóa độ chúng sinh mà nói về đàn.
Vì pháp vô ngã mà khởi Sằng-đề. Quán thí thật đế, tức đối với ngã và vô ngã không hai, ấy là chân vô ngã. Nếu thấy chân vô ngã thì không giận cũng không nhẫn. Đó là chân Sằng-đề, vì hóa độ chúng sinh cũng giống như trước.
Vì lìa tướng thân tâm mà khởi Tỳ-lê-gia, là quán ba việc Thí thất đế Nhất thật, tức là Không thấy thân tâm có tướng cũng không tướng, không tinh tấn cũng không giải đãi, là chân Tỳ-lê-gia. Vì hóa sinh cũng giống như thế.
Vì Bồ-đề tướng mà thiền định là quán thật đế của thí tức là tịch diệt. Diệt là Bồ-đề không có tướng định và loạn, đó là chân đế của định. Hóa sinh giống như trước.
Vì Nhất thiết trí mà khởi Bát-nhã, tức quán thí Trung đạo, không thấy có ngu hay trí, ấy là chân chủng trí, vì hóa sinh cũng giống như trước.
Hỏi: Căn cứ bốn đẳng mà giải thích pháp thí, sao chỉ lấy thật, còn giải thích sáu độ để nói pháp thí sao lại song thích?
Đáp: Bốn đẳng là căn cứ vào hoài bảo bên trong, ở ngoài không biết được. Còn Lục độ nhiếp vật, mà vật có tình không phải một, nên cần phải song khởi. Vả lại, bốn đẳng thật tức là nhiếp quyền trong nội tâm ẩn kín trọn không thể biết, nên không cần giải thích đầy đủ.
Căn cứ ba giải thoát môn “giáo hóa… vô tác”. Vì giáo hóa chúng
sinh mà khởi không. Quán thí thật đế tức Chân không Tam-muội. Vì hóa độ chúng sinh mà đoạn dứt các duyên tập nội ngoại, khởi bốn thứ Tam-muội ở bốn giáo, ba quyền một thật. Chẳng bỏ pháp hữu vi mà khởi vô tướng. Quán thí hai biên, tức thấy chánh đạo, là chân Vô tướng Tam-muội, vì hóa độ chúng sinh như ở không môn trước.
Thị hiện thọ sinh mà khởi vô tác, hàng Nhị thừa không nghiệp nên không còn thọ sinh, gọi là vô tác giải thoát. Bồ-tát quán thí thấy một đạo thanh tịnh, lìa nghiệp hai biên, tức là chân vô tác Tam-muội. Do căn lực từ thiện vì vật mà thọ sinh, quyền thật như trước nói.
Căn cứ các hạnh “Hộ trì… đạo pháp”. Hộ trì chánh pháp mà khởi sức phương tiện. Quán thí chánh đạo tức là bảo thành chánh pháp. Hộ trì chánh pháp này mà khởi ba nghiệp phương tiện, ba luân hóa độ bất tư nghị. Đối bốn bất khả thuyết dùng bốn Tất-đàn khéo nói bốn giáo, tức là khởi sức phương tiện. Vì độ chúng sinh mà khởi bốn nhiếp pháp. Quán thí thấy lý, muốn đem lý này độ thoát chúng sinh. Nhân đàn mà khởi bốn nhiếp quyền thật khá biết.
Vì kính thờ tất cả mà khởi pháp trừ kiêu mạn. Quán ở người thọ nhận đều như cúng Phật, khởi tâm yêu kính, không sinh khinh mạn, tức là khởi pháp trừ mạn. Từ đây trở đi các câu đều nói ba quyền một thật. Đối với thân mạng tài mà khởi ba kiên cố. Nếu thấy thí thật đế hay khởi ba kiên cố thì như trước đã nói. Đối với sáu niệm mà khởi pháp tư niệm, biết đàn thật đế tức là niệm Phật. Niệm đàn pháp tánh tức là niệm pháp. Niệm trí cùng đàn hợp nhau, tức là niệm Tăng, niệm đàn mà hay đoạn ác tức là niệm giới. Niệm đàn mà hay buông bỏ tất cả pháp, tức là niệm xả. Niệm nhân đàn mà sinh Tịnh thiên đệ nhất nghĩa thiên, tức là niệm Thiên... Nhưng pháp ngữ không thông suốt tràn đầy. Sáu niệm duyên với bốn giáo, phân biệt quyền thật các pháp, tư niệm không quá mức, đó gọi là khởi pháp tư niệm. Đối với sáu pháp hòa kính mà khởi tâm chất trực. Nếu khi bố thí, tức bốn giáo đã nói bốn thứ lục hòa, đó là thân từ, khẩu từ, ý từ, đồng thí, đồng kiến, đồng giới. Đã biết bốn bất khả thuyết thì hay khởi tâm chất trực. Chính khi làm pháp lành mà khởi tịnh mạng hành thí. Trụ vào bốn chánh thiện mà khởi bốn thứ tịnh mạng, đều là vì lợi vật mà không sinh tà mạng. Tâm tịnh hoan hỷ mà khởi gần gũi Hiền Thánh. Thấy thí thật đế, bổn tánh thanh tịnh, được chân pháp hỷ, mà gần gũi các phương tiện nói về Hiền Thánh, đồng với các Hiền Thánh, làm lợi ích cho chúng sinh. Không ghét người ác, mà khởi tâm điều phục. Khi bố thí, người ác đến xin thì không sinh chướng ngại, mà điều phục tâm người ấy, để nhập vào tất cả Bố thí bình  đẳng
pháp giới. Vì pháp xuất gia mà khởi thâm tâm. Khi bố thí thấy Đế nhất thật, ra khỏi hai biên sinh tử, quán phương tiện giáo, nói pháp xuất gia. Biết rằng tất cả đều quy về nhất Đại thừa mà xuất gia, nên khởi thâm tâm. Vì làm đúng như nói mà khởi đa văn, quán thí thật đế, tức tâm điều khuyến hay làm đúng như lời nói. Khởi đa văn khắp muốn nghe bốn giáo nói về quyền thật. Vì pháp vô tránh mà khởi chỗ trống vắng. Biết bốn bất khả thuyết thì không tranh giành, phương tiện mà khởi các chỗ trống vắng, để nhiếp giữ các chúng sinh ồn ào. Hướng về Phật tuệ mà khởi ngồi yên, thấy Đế nhất thật tức là hướng đến Phật tuệ, mà khởi ngồi yên, là như đã giải thích ở chương ngài Thân Tử. Vì mở trói buộc cho chúng sinh mà khởi địa tu hành. Quán đế nhất thật luôn dùng phương tiện mở các phược nội ngoại giới cho chúng sinh. Ước các giáo môn khởi địa tu hành thì xét các ngôi vị Hiền Thánh đoạn phục không đồng, đã như huyền nghĩa phân biệt. Vì đủ tướng hảo và tịnh cõi Phật mà khởi nghiệp phước đức. Khởi nghiệp ba mươi hai tướng như Đại lu- ận đã nói. Nhân thí mà khởi nghiệp Tịnh độ, như đã giải thích ở phẩm Phật Quốc. Biết tất cả chúng sinh bình đẳng là thấy Đế nhất thật, tức là biết tất cả tâm niệm chúng sinh. Hay phó cơ nói pháp mà khởi hai thứ trí nghiệp quyền thật tùy tình. Biết tất cả pháp bình đẳng, là biết tất cả hướng đến đàn, thấy Đế nhất thật, tức là Không lấy bỏ mà nhập vào nhất tướng môn. Nói khởi tuệ nghiệp, tức là quên hai trí quyền thật ở trước. Đoạn tất cả phiền não..., tức là thấy thật đế chân tu, hiển bày thì hay như thế. Nhưng muốn tiến sâu về tự hành hóa tha, thì cần phải khởi duyên tu để giúp đạo pháp.
Kết thành hội pháp thí: “Như thị… phước điền”, tức ở trong đàn có đủ tất cả Phật pháp, tùy chỗ tài thí, như tên độc tẩm thuốc. Nếu có người đắm trước xứ ở, diệt các phiền não, thành tựu tất cả thiện căn, đó là hội pháp thí, là đại thí chủ, cũng là phước điền của tất cả chúng sinh. Nếu nội tâm thành tựu tất cả Phật pháp, nếu có bố thí, tất hay nuôi lớn tất cả thiện căn, đó là chân phước điền.
Thời chúng được lợi ích: “Thế Tôn…”. Văn có hai:
a) Bà-la-môn phát tâm.
b) Thiện đắc thanh tịnh.
Nghe nói Đàn độ có đầy đủ Phật pháp, thành tựu hội pháp thí, thì tâm ý khai mở liền phát tâm vô thượng.
Thiện đắc tâm được thanh tịnh “ngã thời…”. Văn có bốn:
1) Thiện đắc tâm được thanh tịnh chí kính cúng dường.
2) Tịnh Danh khiêm nhường không nhận.
3) Thiện đắc lại xin nhận cho.
4) Tịnh Danh nhận rồi thí lại.
Thiện đắc tâm thanh tịnh: Thiện đắc nghe nói pháp thí liền thấy trong thí có tất cả Phật pháp, suốt chiếu không nhiễm tức là tâm được thanh tịnh. Xưa học phương tiện chưa từng nghe được điều này, nên khen ngợi chưa từng có. Vì việc lớn lợi ích chúng sinh, nên cảm Đức chí kính, liền cởi chuỗi anh lạc cúng dường đền ân.
Tịnh Danh khiêm nhường: “không chịu nhận”, vốn vì pháp làm lợi ích không có ý tài vật, bỗng nhận lấy tất gây chê bai cũng là biểu thị rằng Bồ-tát bên trong không nhận tất cả pháp.
Thiện đắc lại xin nhận lấy: “ngã ngôn… sở dữ”. Kính trọng báo ân rất muốn cúng dường, nhưng không có dịp bày tỏ, nên lại xin nhận lấy. Nếu không cần dùng thì nhận rồi cho lại, cũng nói lên lòng chân thành thân thiết, nên lại xin nhận lấy.
Tịnh Danh nhận rồi cho lại: “Duy-ma-cật…”. Thiện đắc quyết lòng khó thể làm ngược lại. Cũng biểu thị cho Bồ-tát vì hóa độ chúng sinh, dùng không thọ nhận mà thọ nhận các thọ. Nhận rồi thí lại là đủ cả Bi và kính điền. Văn có bốn:
a) Thí lại bi kính hai điền.
b) Chúng thấy chuỗi anh lạc bên Phật Nan Thắng.
c) Tịnh Danh lược nói hội pháp thí.
d) Trong thành người ăn xin phát tâm Bồ-đề.
Biểu thị phước điền không hai tức là hội pháp thí.
“Tất cả… chướng tệ”, chúng thấy Đức Như Lai Nan Thắng nhận. Ngài Tịnh Danh hiến cúng biến thành đài báu, tức biểu thị ngài Tịnh Danh, nhân bố thí mà ở vị lai sẽ được thượng quả, bốn đức không chướng ngại Đại Niết-bàn.
“Thời Duy-ma… pháp thí”, ngài Tịnh Danh nhân thí chuỗi anh lạc nói hội pháp thí, nếu thí cho người ăn xin cũng xem như tướng phước điền của Như Lai, không có phân biệt. Đây tức là quán điền thí nhập vào bình đẳng pháp giới, không có hai tướng, mà thành tựu Vô duyên đại từ, đầy đủ tất cả Phật pháp, không mong cầu báo duyên tu, tức là đầy đủ hội pháp thí, văn nói như thế. Các sư sao được chỉ ước vào nói pháp để nói pháp thí.
“Thành trung… Bồ-đề”. Trong thành người ăn xin phát tâm Bồ- đề. Người ăn xin nhân nhìn thấy thần lực, lại nghe nói hội pháp thí, tâm ý khai mở liền phát đạo tâm vô thượng.
* Kết thành không kham “cho nên con không kham đến thăm
bệnh ông ta”. Thiện đắc tự nghĩ thuở xưa ở nhà cha đã lập hội pháp thí bất nhàn, liền bị chê trách, tâm liền thanh tịnh, đâu lại dám lãnh ý chỉ Phật đến thăm bệnh.
Từ “như thị… vấn tật” là phần lớn kế tiếp. Người dịch kinh còn lược bỏ hoặc kinh chưa nói hết. Các Bồ-tát được sai thăm bệnh đều từ chối không lãnh việc. Nếu dựa vào khen đức thì có ba vạn hai ngàn người. Nếu dựa theo văn nói số người vào thất thì chỉ có tám ngàn chưa thể phán định. Chỉ có bốn Bồ-tát kể lại việc bị chê trách mà văn đã mấy tờ. Nếu kinh thuật đủ các Bồ-tát đều trình bày cả, thì văn sẽ đến mấy ngàn tờ. Như thế đại chúng đồng nghe Như Lai ấn định, đều thành nghĩa năm thứ lợi ích, đâu thể chỉ riêng phần tựa.
 
 
----------------------------------
PHẨM: THĂM BỆNH
(Phần 1)
 
Phẩm này đến tiếp sau phẩm Bồ-tát. Trước Phật đã sai các đệ tử Bồ-tát ai nấy đều từ chối không kham. Nay tiếp sai ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù tuân lời nên gọi là phẩm Văn-thù-sư-lợi thăm bệnh. Trước nói ngài Tịnh Danh giả bệnh để hưng giáo. Đại lược có hai phần: hai phẩm rưỡi trước là nói pháp ở ngoài thất, còn sáu phẩm này là nói pháp ở trong thất. Ở ngoài thất chê trách chiết phục phần nhiều dùng để đối trị. Còn trong thất tiếp dẫn nhiếp thọ phần nhiều dùng vì người, đều khiến cho vào Đệ nhất nghĩa. Nên kinh Thắng-man nói: Chỗ chiết phục nhiếp thọ là khiến chánh pháp được lâu bền. Được lâu bền tức là nhập vào Đệ nhất nghĩa vô lậu chân pháp dứt hẳn lui sụt. Đã chiết phục xong liền nói nhiếp thọ, nên tiếp có phẩm này. Nay lược dùng năm nghĩa để giải thích phẩm này và năm phẩm tiếp sau:
1. Lý do có phẩm này.
2. Văn-thù kham thăm bệnh.
3. Giải thích hai bệnh quyền thật.
4. Nhân bệnh mà nói sáu phẩm.
5. Giải thích văn kinh.
Lý do có tiếp phẩm này: Ngài Tịnh Danh trụ ở quyền mưu Bất tư nghị, giúp Phật hiển bày chân tánh giải thoát bất tư nghị, giúp thành tựu giáo nhân quả Phật quốc. Trước đã dùng bốn giáo để chiết phục phàm phu Nhị thừa và các Bồ-tát thiên lệch, nay khen quả ba giải thoát của Viên giáo, để tiếp dẫn nhiếp thọ, khiến họ tu nhân ba quán, nhập vào Giải thoát bất tư nghị, được thấy cõi nước thanh tịnh, tùy nghiệp vãng sinh, thành tựu hạnh Tịnh độ, cho nên có phẩm này và năm phẩm sau. Đây lại có năm:
a) Khởi tâm khát ngưỡng cho thời chúng.
b) Làm ba quán nhiếp thọ dẫn nhập.
c) Giúp thành giáo Tịnh độ.
d) Vì vào dòng Đại phẩm Pháp Hoa.
e) Lại về chỗ Phật kết định.
Khởi tâm khát ngưỡng, tuy các vua quan sĩ thứ đệ tử Bồ-tát khen kể lại thắng trí thắng đức của Đại sĩ, nhưng đại chúng chỉ luống khát ngưỡng mà thôi, vì chưa được thấy nghe, nếu được người thăm bệnh tùy việc khơi mở thì liền được thấy nghe thần trí của Đại sĩ giả bệnh hưng giáo để lợi ích chúng sinh, nên vâng lệnh ứng hợp tâm của thời chúng
khiến họ thấy được sự biểu thị về giả bệnh, nhà trống nghe nói hai bệnh quyền thật bất tư nghị.
Làm ba quán để nhiếp thọ dẫn nhập, ở ngoài thất chê trách các người học giáo thiên lệch, chưa nhập chánh vị và các phàm phu, tuy đã tâm phục ngưỡng mộ chánh đạo, nhưng chưa biết cách thức tu nhập. Nếu ngài Văn-thù vào thất hỏi Bồ-tát có bệnh làm sao điều phục tâm mình, thì ngài Tịnh Danh sẽ rộng hẹp trình bày ba quán điều phục, tức là nghĩa nhiếp thọ dẫn nhập vậy.
Giúp thành giáo tịnh độ, nếu nhân ngài Văn-thù thăm bệnh mà hay tu ba quán, tùy các chứng dứt được nhiều ít mà mỗi người được sinh Tịnh độ, có bao nhiêu nguyện hạnh đều thành tựu hạnh Tịnh độ.
Vào dòng Đại phẩm Pháp Hoa, nếu người đã vào chánh vị, trước tuy có nghe Đại thừa, nhưng chưa chuyển thành lạc, thì nay nhân ngài Văn-thù vào thất, lại được nghe nói thêm sáu phẩm, liền chuyển thành sinh tô. Nên ngài Ca-diếp có nói: Nay các Thanh văn đều gào khóc là việc này vậy. Nếu đến Đại phẩm mà được thục tô thì đến thời Pháp Hoa Niết-bàn liền thành đề hồ. Các Bồ-tát độn căn của Tam tạng giáo thứ lớp hưởng qua các mùi vị, phần lớn đồng với hàng Nhị thừa, còn các vị lợi căn thì bất định, như đã giải thích ở phẩm Bồ-tát.
Lại về chỗ Phật kết định, nếu không nhân ngài Văn-thù thăm bệnh vào thất biện luận qua lại suốt sáu phẩm, thì đâu được tay nâng đại chúng đem về Am-la viên, được Phật ấn định các điều nói trước sau để khởi phát việc A-nan được Phật nói rộng Tịnh độ, tiếp dẫn người cõi Diệu hỷ vào cõi nước này, khiến đại chúng đều được thấy nghe mà phát nguyện vãng sinh tu hành bất động. Ấy là tóm tắt những điều diễn bày của ngài Tịnh Danh ở ngoài thất và trong thất, đều nhằm giúp Phật thành tựu giáo nhân quả cõi Phật thanh tịnh và pháp thân giải thoát bất tư nghị.
Nói ngài Văn-thù có thể làm người thăm bệnh. Trên sai năm trăm vị và các Bồ-tát, ai nấy đều kể việc bị chê trách mà từ chối không kham. Nay ngài Văn-thù riêng kham lãnh ý chỉ Phật, tóm tắt có năm ý:
a) Vị cao.
b) Thùy tích.
c) Hiển bày viên.
d) Thỏa tình chúng.
e) Tùy căn cơ người.
Vị cao: Ngài Văn-thù cùng các Bồ-tát tuy cùng ở vị Đẳng giác, nhưng đều có cao thấp. Nên kinh Anh Lạc có nói: Trụ ở vị Đẳng giác
vào trùng huyền môn, trải vô lượng kiếp, sửa tu việc phàm.” Ngài Văn- thù tu hành đã lâu, trí đức cao tột, có ngôi vị ngang hàng với ngài Tịnh Danh, nên kham làm người thăm bệnh. Đây cùng là một loại.
Thùy tích: các Bồ-tát phần nhiều là thật vị bổ xứ, nhưng ngài Văn-thù bổn địa là long chủng Như Lai, nay hiện tích là bổ xứ, cùng với ngài Tịnh Danh có nghĩa bổn tích ngang nhau nên kham làm người thăm bệnh, cũng một loại mà nói.
Hiển bày Bồ-tát: Viên giáo với bổn tích đâu thể lượng định, chỉ vì các Bồ-tát hiện bày nhiều phương tiện, nên đều bị chê trách. Ngài Văn-thù hiện hoằng truyền Viên giáo cùng ngài Tịnh Danh đồng việc, nên kham làm người thăm bệnh.
Hỏi: Nếu thế sao bị Ương-quật chiết phục?
Đáp: Văn-thù đồng việc từ nhiều, còn Ương-quật từ ít, và Văn-thù chưa bị ngài Tịnh Danh chê trách nay lãnh chỉ Phật thì không hại gì?
Thỏa vật tình.
Hỏi: Các Bồ-tát đồng giúp Phật sao được có và không thỏa mãn tình người?
Đáp: Ngài Di-lặc tuy là bổ xứ, nhưng hầu Phật bên hữu, là các Bồ-tát làm việc ngoại đạo. Còn ngài Văn-thù tuy đồng vị bổ xứ, nhưng đứng hầu bên tả, cũng như các đại thần bên tả thì tự do quyết đoán, nên thỏa mãn vật tình.
Tùy cơ mọi người. Các Bồ-tát cùng ngài Tịnh Danh, như chày  cối thành vật. Nay ngài Văn-thù cùng ngài Tịnh Danh như hai chày mà thành vật, cho nên vào thất đối đáp qua lại mà không trệ ngại, vui lòng mọi người, được ngài Tịnh Danh khen ngợi, đâu giống như các Bồ-tát khác nói ra thì bị chê trách. Do các nghĩa đó mà kham làm người thăm bệnh.
Giải thích về bệnh quyền thật. Nghĩa bệnh do nhiều nguyên do nhưng ý chánh không ngoài quyền thật. Quyền là chư Phật pháp thân Bồ-tát không bệnh mà thị hiện có bệnh. Thật là chín đạo chúng sinh thật có nhân quả bệnh hoạn. Nếu từ năng hóa mà ứng hiện trước quyền sau thật, thì kinh văn nói “ là bệnh có thể chịu được chăng?”Lại nói: Bồ-tát có bệnh, làm sao điều phục tâm ấy. Nếu từ sở hóa thì trước thật sau quyền, nên ngài Tịnh Danh nói: “Vì chúng sinh bệnh nên tôi có bệnh.” Nay dựa theo sở hóa làm thứ lớp, nên trước nói bệnh thật. Tóm dùng bốn nghĩa để phân biệt:
a) Luận về tướng nhân quả của bệnh.
b) Giải thích.
c) Chung riêng.
d) Xét theo độ có nặng nhẹ.
Về tướng bệnh. Bệnh về chướng ngại sắc tâm nên gọi là tật, cũng gọi là bệnh, cũng gọi là hoạn. Nói về nhân bệnh, tức là trong nhân có bốn phần chướng ngại về tâm thần gây ra các não loạn, tức là tâm bệnh. Phiền não làm nhân nên nói là nhân. Về quả bệnh, là cảm thân bốn đại, đồng một hộp mà tánh khác, cùng khởi lên thêm bớt trở ngại sắc thân, tức là thân bệnh, đáp lại nhân phiền não nên nói là quả bệnh.
Giải thích bốn phần trong nhân hoàn toàn phân biệt ba độc đối với ba bệnh lớn, ba chỗ cùng khởi nên gọi là đẳng phần. Thân là bệnh địa đại đối tham dục như nước. Kinh nói sông ái nổi trôi dìm chết chúng sinh, bị vô minh làm mê mờ không thoát ra được. Ái thấm đẩm nghiệp như nước thấm đẩm thân sân khuể là lửa, tâm sân một khi khởi lên thiêu đốt tất cả thiện căn. Ngu si là gió, vì ngu si có bốn điên đảo. Cho nên kinh nói: Gió dữ điên đảo đè bẹp núi gò đất đủ ba phần, như nước lửa gió đều tụ tập ở một thân, nên do cớ đối trên mà dùng bốn phần làm bốn nhân bệnh. Kẻ phàm phu ngu hèn có bốn phần này ắt có tám vạn bốn ngàn thứ, tùy duyên phát động não hại tâm thần, nên nói là nhân bệnh. Về quả bệnh tức là bốn phần cảm thân bốn đại, một đại không điều hòa thì một trăm lẻ một bệnh khởi động, bốn đại không điều hòa thì có bốn trăm lẻ bốn bệnh. Bệnh quấy não không phải một. Lại nữa do bốn phần này cảm thành Báo thân, tức có sinh, lão, bệnh, tử. Đây cũng là bệnh lớn của chúng sinh. Ở đoạn văn sau có nói: Có sinh tử tức có bệnh. Bệnh này cũng nhân ở bốn phần sinh ra. Như kinh Thụy Ứng có nói: Tham dục gây già, sân giận gây bệnh, ngu si gây chết. Suy nghĩa ra có thể nói là đẳng phần gây sinh. Có bốn đại thì có khổ bốn bệnh, tức là quả bệnh vậy. Nhưng kinh luận tùy duyên, có lúc lửa ví cho tham dục, nước ví cho sân giận, gió cũng không nhất định. Nay chỉ căn cứ theo phần đông đối ví như trước. Nếu thông suốt đâu cần phải ví dụ.
Nói về chung riêng, nhân quả hai bệnh đều có chung riêng. Về nhân bệnh, bốn phần là chung cả mười ác, còn bốn trọng tội là riêng. Về quả bệnh, thì bốn đại bốn khổ là chung. Còn bốn đại tăng giảm hoặc sinh lão... bốn khổ thêm nhiều, cho đến tam đồ khổ nặng, đều là quả tột của bệnh riêng. Do nhân chung riêng nên quả cũng có chung riêng. Như ở nhân chỉ chung thì quả lúc đó cũng chung, nếu chung mạnh riêng yếu hay chung yếu riêng mạnh thì quả lúc đó cũng thế. Nhân quả giúp thành cho nhau nghiệm ra không sai.
Xét về cõi nặng nhẹ, tức bốn cõi không đồng.
Xét về cõi đồng cư, thì bốn phần là nhân bệnh, phần đoạn là quả bệnh. Đây có hai thứ là uế và tịnh, uế thì nặng, tịnh thì nhẹ. Vì sao? Vì Đồng cư cõi uế thì có đủ năm đạo. Quả bệnh Thiên đạo chỉ có chung mà không riêng, vì nhân bệnh bất định. Như người, súc và quỷ thì nhân quả chung riêng nhiều ít tùy nghĩa. Quả bệnh địa ngục thì chỉ riêng mà không chung, vì nhân cũng bất định. Như Đồng cư tịnh, thì chỉ chung mà không riêng. Vì sao? Vì tuy có bốn phần mà không có thập ác... bốn thú và bốn khổ nặng, nên bệnh nhân quả chỉ có chung và nhẹ.
Nói về cõi Hữu dư, tức là bệnh của ngoại giới, là ba thừa Thánh nhân mê đế nhất thật, đắm trước vào lý thiên không, khởi bốn phần vô vi mà cảm quả biến dịch, cũng gọi là phương tiện sinh tử. Còn Biệt, Viên đoạn hết hoặc nội giới nhưng chưa thấy Trung và chưa đoạn hết vô minh, thì đều sinh vào cõi này, bệnh hoạn nhân quả đồng với hàng Nhị thừa. Bệnh hoạn này tức là bệnh nhân quả. Chỉ có chung riêng của Biệt giáo, không có chung riêng của Thông giáo.
Hỏi: Cõi Hữu dư sao được còn bệnh nhân bốn phần?
Đáp: Phần vô vi duyên tập là bốn phần vậy. Vì sao? Vì chấp thiên chân là tham, bỏ tục hữu là sân, mê nhất thật là si, ba phần đầu chấp lấy tức là đẳng phần. Đây tức là nhân bệnh của kiến tư biệt hoặc.
Hỏi: Cõi Hữu dư đã có bệnh nhân bốn phần, cũng được có quả bệnh của bốn đại bốn khổ nữa chăng?
Đáp: Cũng có tướng chung bốn khổ của bốn đại biến dịch.
Hỏi: Chư Thiên ở cõi trên còn không có già bệnh thì tịnh độ này sao lại có?
Đáp: Không riêng mà chỉ có chung. Văn trên có nói: Cũng sinh cũng già biến dịch, nếu bốn đại không có tướng trái nhau thì không có biến dịch. Tuy có bệnh chung bốn phần biến dịch ngoại giới nhưng đều nhẹ, đâu thể giống phần nặng của phần đoạn.
- Xét theo cõi quả báo, bậc Sơ địa và sơ trụ của Biệt, Viên thấy Đế nhất thật đồng đoạn hết vô vi nhưng tự thể chưa hết, nên dựa vào vô minh mà được có bốn phần, tức là nhân bệnh. Cảm quả biến dịch tức là quả bệnh, cũng gọi là nhân duyên sinh tử. Vì bệnh hoạn nhẹ nên với tự thể không thành bệnh thật, chỉ là tên chung biến dịch. Nếu trước phương tiện biến dịch có tướng thô thì bệnh hoạn cũng thô. Nếu luận bệnh hoạn của tự thể là nhẹ nhỏ thì cõi Hữu dư là nặng cõi quả báo là nhẹ, cho đến không có sau mới chuyển dần thành nhẹ nhỏ, tuy là nhẹ nhỏ nhưng đồng là bệnh thật, nên mới từ nhân Xiển-đề mà có quả địa ngục A-tỳ. Cho đến Kim cang Đẳng giác nguyên phẩm vô minh, tuy
nặng nhẹ có khác nhưng đều là bệnh thật.
Hỏi: Thật báo sao còn được có bệnh nhân bốn phần?
Đáp: Mở duyên tập tự thể coi là bốn phần. Vì sao? Vì lấy nhất thật là tham, bỏ hai biên là sân, các vô minh khác là si, ba phần đều lấy, tức là đẳng phần. Đó là ba độc căn bản. Nên thỉnh Quan Âm có nói: “Tịnh được gốc ba độc, thành Phật đạo không nghi”.
Hỏi: Thật báo nếu có nhân bệnh bốn phần thì cũng có quả bệnh bốn đại bốn khổ chăng?
Đáp: Đã có tự thể sinh tử đâu không có tự thể bốn đại. Nên Đại phẩm có nói: Tất cả địa hướng đến cho đến thú, không hướng đến ba Đại cũng như thế. Nếu tự thể bốn đại bốn khổ đã hết thì tức là thường an trú trong diệu sắc rỗng sáng như Đại kinh nói, không bị sinh tử biến đổi. Nếu các sư cho rằng vị Pháp vân Đẳng giác không còn sinh tử, thì giáo ấy như thế nào? Lại văn nói: “Từ si mà có ái thì bệnh ta sinh.” Nếu Kim cang Đẳng giác mà vô minh chưa hết thì bệnh vi tế nhân quả sinh ra.
- Xét theo cõi Tịch quang, giải thích có hai cách: Nếu cõi Tịch quang chỉ có bậc Diệu giác ở thì bệnh hoạn nhân quả tự thể đều dứt hẳn không có bệnh nào để luận. Nếu chung cho hạ địa Bồ-tát ở thì ắt phải có bệnh nhân quả vi tế. Đây là chấp hay không có sinh tử sau đó. Nếu y vào pháp vân ba đời của kinh Nhân Vương thì không có hữu hậu chung sinh và hữu hậu trụ sinh. Pháp vân mới sinh cho đến Hoan hỷ đều thuộc nhân duyên sinh tử. Đây là cách của Biệt giáo. Còn nếu dựa theo nghĩa Viên giáo mà suy, thì không có hữu hậu tức là Đẳng giác, nếu có hữu hậu hoặc từ vị Pháp vân đến ba mươi tâm thì đều là nhân duyên nặng nhẹ xoay vần. Tuy giải thích như thế nhưng chưa nhất định. Chỉ dựa vào Giải thích trước. Cõi Tịch quang là rốt ráo thanh tịnh há lại có tướng bệnh nhân quả vi tế, đối đãi nhau mà phán quyết là nặng hay nhẹ ư?
Hỏi: Học theo ngài Long Thọ sao lại dùng nghĩa của ngài Thiên Thân?
Đáp: Đây là hai Đại sĩ đâu không cùng dùng pháp môn Bất nhị. Nay là giáo chung của Phật pháp tùy chỗ liên quan mà sử dụng, sao cần phải chấp chặt. Nếu muốn phân biệt danh nghĩa các kết hoặc sinh tử nội giới và các hành thì nên xét kỷ theo ngài Thiên Thân, còn nếu quán môn để thanh đãng an tâm nhập đạo thì không ai qua ngài Long Thọ. Chỉ kinh này nói rõ về nghĩa bệnh mà chưa thấy các kinh khác nói. Nếu không chấp địa nhiếp tướng để đối nhau thì người khác sẽ cho là phi nghĩa lý, rồi theo nhiều thuyết mà cưỡng nói.
Tiếp   nói về bệnh quyền , Bồ-tát trụ vào Đại Niết-bàn có năm
hạnh. Cho rằng nếu được Tam đế Tam-muội thì có đủ hai mươi lăm Tam-muội, tức thành Thánh hạnh. Từ Thánh hạnh mà sinh Thiên hạnh và Phạm hạnh. Từ Phạm hạnh mà khởi Anh nhi bệnh hạnh. Anh nhi hạnh khởi từ đại Từ thiện căn, Bệnh Hạnh khởi từ đại bi thiện căn. Vì sao? Vì chư Phật, Bồ-tát thanh tịnh pháp thân, các ác đoạn dứt, các thiện khắp hội, đâu còn phương tiện thiện căn nhỏ nào để làm, đâu còn bệnh nhân quả nội ngoại giới nào để trị. Chỉ vì đại bi thiện căn mà muốn cứu dứt các bệnh hoạn nhân quả nội ngoại giới. Cho nên hiện thân khắp các pháp giới, không bệnh thị hiện có bệnh, tức là bệnh hạnh. Lại thị hiện phương tiện thiện căn ít để trừ dẹp chúng sinh duyên tập nội ngoại giới, tức là Anh nhi hạnh. Nếu bệnh nhân quả này lành thì chư Phật, Bồ-tát bỏ ứng mà về chân. Chỉ vì chúng sinh bệnh, nên có việc hưng phế nặng nhẹ, Bồ-tát lại đồng với hưng phế nặng nhẹ, nên văn nói Bồ-tát bệnh là từ đại bi mà khởi, vì chúng sinh bệnh nên Bồ-tát cũng bệnh. Nếu chúng sinh không bệnh thì Bồ-tát cũng không còn bệnh. Nay ngài Tịnh Danh mượn phương trượng trống này trong thất chỉ đặt một cái giường vì bệnh mà nằm, đó là Không bệnh mà hiện bệnh, xa là biểu hiện ở các cõi cũng có bệnh quyền vậy. Nhưng về bệnh thật nặng nhẹ thì như trên đã phân biệt. Nay nói về bệnh quyền cũng xét theo bốn cõi:
- Ở Đồng cư uế tịnh mà hiện bệnh quyền, uế tịnh đã có bệnh thật nhân quả ở mười giới, vì có bệnh đó, nên có bệnh quyền nhân quả ở mười giới, nếu bệnh nội giới lành thì ngài Tịnh Danh cũng lành.
Hỏi: Sáu đạo nhân quả có bệnh, có thể biết được, còn bốn thứ hành nhân thì nội giới nhân quả tướng nó như thế nào?
Đáp: Đây là ước bệnh hoạn nội giới nhân quả chưa hết. Nếu ở Tịnh độ đồng cư thì chỉ có bốn thứ hành nhân ở trời, người và sáu thứ bệnh thật nhân quả pháp giới, vì có bệnh ấy nên ngài Tịnh Danh cũng có sáu thứ bệnh quyền nhân quả. Nếu các bệnh này lành, thì ngài Tịnh Danh cũng lành.
- Ở cõi Hữu dư, thì Nhị thừa và ba thứ Bồ-tát đều có bệnh thật nhân quả biến dịch vô vi. Vì có bệnh này, nên ngài Tịnh Danh cũng có, nếu bệnh này lành thì ngài Tịnh Danh cũng lành.
- Nói về cõi quả báo hiện bệnh quyền. Chỉ có bốn mươi tâm của Viên giáo và Đẳng giác địa thọ thân pháp tánh mỗi người đều có bệnh thật nhân tự thể và bệnh thật quả về nhân duyên sinh tử hữu hậu và không hữu hậu. Vì có bệnh này nên ngài Tịnh Danh cũng có. Nếu những bệnh thật này lành thì ngài Tịnh Danh cũng lành.
- Cõi Tịch quang thì có bệnh và không bệnh trước đã phân biệt,
ngài Tịnh Danh cũng khởi đại bi tật hạnh, quyền đồng với bốn cõi, không bệnh hiện bệnh để đảm trách mười giới nên gọi là bệnh quyền.
Hỏi: Ngài Tịnh Danh đã là bậc Đẳng giác, nguyên phẩm vô minh không có hữu hậu sinh tử, thì quả bệnh thật nhân hay còn, đâu được ước với cõi thật báo mà nói là bệnh quyền?
Đáp: Bổn tích cao thấp nghĩa khó lường, đã ở Huyền Văn sao lại đem hỏi. Nhưng nghĩa bệnh quyền đem ước ngôi vị, thì nghĩa không đồng. Nếu bậc Diệu giác tột cao thì không có bệnh pháp giới mà hiện có bệnh pháp giới thì như ngài Tịnh Danh có bệnh quyền. Bậc Đẳng giác còn có nguyên phẩm vô minh thì không có quả bệnh thật nhân của hữu hậu sinh tử. Từ hiện có bệnh nhân quả hữu hậu cho đến phần đoạn thì đều là quyền cả. Như đây mà suy nếu ngang vị là bệnh thật, đồng với vị sau là bệnh quyền. Cho đến ở cõi Hữu dư, Đồng cư mà hiện có bệnh nhân quả, thì đều là quyền cả. Nếu ở cõi Hữu dư, hàng Nhị thừa và ba thứ Bồ-tát đồng ngôi vị mà có bệnh thật nhân vô vi và bệnh thật quả phương tiện. Dùng thần thông thệ nguyện vào cõi Đồng cư tịnh, đồng có sáu bệnh nhân quả vào cõi Đồng cư uế, đồng có bệnh nhân quả mười giới thì đều là bệnh quyền. Nếu ở cõi Đồng cư, bốn thứ hành nhân đoạn hoặc nội giới chưa hết, hoặc đã đoạn hết mà thân ở cõi Đồng cư là Không bệnh hiện có bệnh, để lợi ích chúng sinh thì đều là bệnh quyền. Cho đến tiên nhân có năm thông và các Thiên báo được thần thông, thì tùy chung việc ra làm Không bệnh hiện có bệnh, thì cũng là bệnh quyền. Nếu ước quán tâm, người khéo tu quán, hoặc tự hành hoặc hóa tha, không có bệnh nhân quả mà hiện có bệnh nhân quả, còn gọi là bệnh quyền, cho đến tất cả chúng sinh đều có nghĩa này. Như thế thì tất cả bệnh hướng đến cho đến thú hay không hướng đến, như đây mà nói bệnh, thì dọc là tận cùng nguồn cội thật tế, ngang là rộng khắp hư không pháp giới, nghĩa lý sâu kín. Nếu không phải bậc Diệu giác chủng trí Viên minh thì còn ai có thể thấu suốt vô ngại. Ngay ngài Tịnh Danh hiện có bệnh là biểu thị ý này, cho nên hàng Thanh văn Bồ-tát đều không kham không dám truyền ý Phật. Chỉ có ngài Văn-thù hiểu rõ nghĩa bệnh nên tuân lời Phật mà hỏi đáp qua lại về quyền thật không trệ ngại.
Nói về nhân bệnh nêu ra sáu phẩm. Ngài Tịnh Danh giả bệnh cốt ý hưng giáo. Nhân Văn-thù hỏi bệnh quyền thật mà ngài đáp về bệnh quyền ở nữa đầu phẩm này và đáp về bệnh thật ở nữa sau phẩm này. Lại nhân bệnh quyền mà nói phẩm Bất Tư nghị, nhân bệnh thật mà nói phẩm Quán Chúng Sinh, phẩm Phật Đạo, phẩm nhật Bất Nhị Pháp Môn
và phẩm Hương Tích. Thế nên sáu phẩm ở trong thất đều từ một chữ bệnh quyền thật mà có. Khi giải thích văn nên phù hợp như thế.
Hỏi: Có sư nói phẩm này là năm nguồn tám cội, đây là sao?
Đáp: Có giống như thế nhưng đậm nhạt không có chủ đối. Vì sao? Vì ngài Tịnh Danh vốn giả bệnh để hưng giáo, chỉ dựa vào một chữ bệnh mà nói sáu phẩm ở trong thất, đâu phải đợi nhà trống làm năm nguồn cội. Nay nói một bộ kinh gồm mười bốn phẩm, chỉ có phẩm Phật Quốc đầu chính là Đại Thánh pháp vương tự nói, còn mười ba phẩm kia đều nhân ngài Tịnh Danh giả bệnh mà hưng truyền. Xét kỹ một chữ bệnh mà là ba nguyên do, sáu nguồn cội, hai đầu mối, hai nguyên nhân. Ba nguyên do là do ngài Tịnh Danh giả bệnh nên có các vua quan thứ dân đến tham vấn, Phật sai đệ tử Bồ-tát đến thăm bệnh, tức do bệnh mà có ba phẩm ở ngoài thất.
Sáu nguồn cội là vì hiện có bệnh nên ngài Văn-thù vâng lệnh Phật vào thất hỏi về hai bệnh quyền thật và ngài Tịnh Danh đã rộng hẹp giải đáp, ấy là sáu phẩm trong thất từ bệnh mà có. Bệnh tức là nguồn gốc có sáu phẩm.
Hai đầu mối: Tức là hai phẩm Bồ-tát Hạnh và Kiến A-bệ Phật cũng nhân ngài Tịnh Danh giả bệnh mà có. Vì sao? Nghe nói sáu phẩm có duyên lành bệnh thì ngài Tịnh Danh cũng không còn bệnh, nên bàn tay nâng đại chúng đưa về Am-la viên, mở đầu cho việc trở về điểm chính của Như Lai để nói về nhân quả Phật quốc, hai phẩm từ bệnh lành mà có nên nói là hai đầu mối.
Hai nguyên nhân, là hai phẩm Cúng Dường và Chúc Lụy cũng nhân giả bệnh mà có. Vì sao? Vì hai phẩm này là phần Lưu thông cũng nhân ngài Tịnh Danh giả bệnh mà có chánh thuyết. Lưu thông tức là lưu thông phần chánh thuyết, ấy là nhân bệnh mà có hai phẩm lưu thông nên nói là hai nguyên nhân.
Nay nói sáu phẩm trong thất có ba phần lớn. Một phẩm này tức lược nói hai bệnh quyền thật, kế nói phẩm Bất Tư nghị là rộng giải thích về bệnh quyền, bốn phẩm sau là nói rộng về bệnh thật.
Chánh giải thích văn: “lúc bấy giờ Phật…”. Có hai phần: Phật sai ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù vâng lời.
* Phật sai Văn-thù. Ở trên, các người được Phật sai đi đều kể việc bị chê trách mà từ chối không kham, nhưng việc vào thất thăm bệnh có lợi ích rất quan trọng, nếu không phải ngài Văn-thù có đủ năm nghĩa trước, thì không ai kham được nên sai ngài đi.
* Văn-thù vâng lời “Văn-thù…”. Ngài Văn-thù không có lỗi bị chê
trách nên không thể từ chối. Lại năm lợi ích là việc hệ trọng, đâu thể trái lệnh Phật mà bỏ lợi lớn, thế nên vâng lời. Văn có năm:
1/ Vâng lời đi thăm bệnh.
2/ Đại chúng cùng đến.
3/ Chủ khách hỏi đáp qua lại.
4/ Chánh nói ý chỉ.
5/ Thời chúng được lợi ích.
- Phần một có hai:
a) Trước tự khiêm nhường.
b) Chánh vâng lời.
Phần (a) lại có hai: Một là Tự khiêm. Hai là, Nói việc khiêm nhường khó vấn nạn. Tự khiêm là lẽ thường của người tu mà nói vấn nạn là để đối đáp, vì bậc Thượng nhân trí sâu đức trọng đối đáp không phải dễ.
Từ “thâm đạt trở xuống là nói vấn nạn khó. Văn có bốn: Một là, Trí sâu rộng. Hai, Nhân quả đức đầy. Ba, Hóa tha công lớn. Bốn, Kết hai trí rốt ráo.
Vì đủ bốn thứ này nên có thể khiêm nhường vấn nạn.
Nói hai trí sâu rộng: Nói thấu suốt thật tướng, tức là thật trí sâu rộng. Nếu Bồ-tát của Tam tạng giáo vốn không nhập thật thì đâu thể xét cạn sâu. Bồ-tát của Thông giáo có thật tướng Thiên chân thì chưa đủ sức để vấn nạn thật trí của Đại sĩ. Còn bậc Đăng địa của Biệt giáo cho đến Đẳng giác, chỉ phá mười một phẩm vô minh, chưa thành thấu suốt, huống chi bậc có giáo không người đâu đủ sức vấn nạn. Nay bậc Sơ trụ của Viên giáo cho đến Đẳng giác, chỉ phá bốn mươi mốt phẩm vô minh, sắp cùng tận nguồn cội, trí gần bậc Diệu giác, nên nói là thấu suốt.
Khéo nói pháp yếu, tức là biết không sinh. Không sinh thì bất khả thuyết, dùng bốn Tất-đàn mà phó cơ nói pháp thật tướng. Nếu dùng quyền trí mà nói dù nhiều nhưng lợi ích không bao nhiêu, nên không phải là thiết yếu. Nay dùng thật trí nói tướng nhất thật thì lợi ích rất sâu rộng, nên nói là pháp yếu. Như kinh Pháp Hoa nói dù thí nhiều vàng bạc châu báu, nhưng không bằng mở búi tóc. Đây có bốn trường hợp:
1. Nói ít gồm ít.
2. Nói nhiều gồm ít. Đây không phải là pháp yếu.
3. Nói ít gồm nhiều.
4. Nói nhiều gồm nhiều. Đây là pháp yếu.
Biện tài không trệ ngại, là nói về quyền trí không trệ ngại, nên có
thể kính hỏi. Đây là sinh sinh, chẳng sinh sinh, sinh chẳng sinh bất khả thuyết là luận việc phó duyên ba thứ không trệ ngại.
Trí tuệ vô ngại, tức là lý ba giáo sở thuyên. Biết bệnh biết thuốc tùy bệnh cho thuốc, phương tiện tri kiến Ba-la-mật đều đầy đủ, nên nói là trí tuệ vô ngại.
Nói về đức nhân quả đầy đủ “tất cả… được nhập”, nên có thể kính hỏi.
Tất cả pháp thức của Bồ-tát, tức là pháp thức quyền thật tự hành giáo tha không phải chỉ đều biết mà cũng hay thành tựu. Nhân đức này đầy đủ nên có thể kính hỏi.
Bí tạng của chư Phật đều được nhập vào, là hai quyền một thật đều có đương giáo nói về bí tạng. Đem Thật so với quyền. Quyền là tùy người khác, không phải là chân bí tạng. Còn thật là tùy ở mình, thầm nhận yếu này không cần nói nhiều đó là chân bí tạng. Tất cả pháp môn mỗi mỗi đều là kho báu đó là nghĩa của tạng. Nên kinh Pháp Hoa nói: Tất cả các kho báu đều được tràn đầy. Đức quả sắp trọn nên nói là đều được nhập vào tức là quả thành đức sâu, nên có thể kính hỏi.
“Du hí thần thông…”. nói công đức hóa tha đã thành cho nên kính hỏi. Hàng phục các ma, tức hàng phục ma như trước đã giải thích. Nhưng ma là chúa của chúng sinh được giáo hóa, nếu chúa mà không có dân khách khâm phục, đâu thể quy tâm. Nay Đại sĩ đã hay hàng phục các ma ở mười phương cõi Phật, thì tất cả chúng sinh đều quy tín.
Du hí thần thông, chúa dân đã phục do đó thần thông biến hiện thành tựu chúng sinh, cõi Phật thanh tịnh công đức ấy rất rộng lớn. Tất cả hạ địa đều không thể sánh được nên có thể kính hỏi.
“Tuệ phương tiện ấy đều đã được độ) là kết hai trí rốt ráo nên có thể kính hỏi. Tuệ là kết thật, phương tiện là kết quyền, hai trí dắt dẫn các hạnh ra làm, đều rốt ráo nên nói là đã được độ.
Phần (b) Chánh vâng lời thăm bệnh “tuy nhiên… hỏi bệnh”. Ngài Văn-thù đầy đủ sự khiêm nhường. Tuy trí đức của ngài gần giống dáng vẻ của các đệ tử Phật, nhưng chỗ ra làm đều nương sức Phật. Dầu do Phật sai lại mong nhờ sức Phật gia hộ, để tránh được các lỗi lầm trệ ngại, nên nói tuân Thánh chỉ của Phật đến thăm bệnh.
Hỏi: Nếu nương nhờ sức Phật gia hộ thì các Bồ-tát trên cũng đều đến được.
Đáp: Gia hộ những ai có thể gia hộ. Ngài Văn-thù đã đủ năm ng- hĩa nên có thể gia hộ. Lại kinh Pháp Hoa có nói: Di-lặc và bốn chúng có điều nghi, chỉ nhờ ngài Văn-thù giải quyết, há các Bồ-tát sánh được.
Phần hai, Đại chúng cùng đến “do đó” trở xuống. Văn có hai:
a) Chúng muốn theo đến.
b) Văn-thù và chúng cùng đến.
Chúng muốn theo đến: Sở dĩ cùng nghĩ muốn đến, vì ngài Tịnh Danh thần trí rất khó đối đáp nên hàng Thanh văn, Bồ-tát lúc xưa không dám đương đầu. Nay ngài Văn-thù trí đức cao xa, vâng Thánh chỉ Phật tất biện luận đại pháp rất sâu kín, nên đều muốn theo đến.
Cùng đại chúng đến “Do đó… đại thành”. Vì người có cơ duyên vào thất nghe pháp tất được lợi ích, nên đều cùng vào thành.
Phần ba, Chủ khách đối đáp “bấy giờ…”. Văn lại có bốn:
a/ Ngài Tịnh Danh hiện tướng thất trống.
b/ Văn-thù thấy tướng biết có biểu thị.
c/ Ngài Tịnh Danh khen ngài Văn-thù.
d/ Văn-thù đáp lời.
Phần (a) lại có hai: Một là, Thần lực hiện thất trống. Hai là, Vì bệnh mà nằm.
- Thất trống là biểu thị muốn giúp thành giáo Phật quốc. Hiện có bệnh là muốn hiển bày ba giải thoát.
Liền dùng thần lực... thần lực là biểu thị dùng trí tuệ. Thất trống là biểu thị Phật quốc đều không, hiển bày cõi Chân tịch quang. Dẹp bỏ các thứ là biểu thị dẹp bỏ y báo. Và các thị giả là biểu thị dẹp ngoại ma, đầy đủ như ngài Tịnh Danh đáp ngài Văn-thù. Thất trống là biểu thị cho Phật quốc, có hai ý:
1. Thành việc trước.
2. Sinh cái sau.
Thành cái trước: Ở trên Phật nói Tịnh độ vì chúng sinh tội nên không thấy cõi Phật thanh tịnh, không sinh được cõi Phật, không thể thành hạnh Tịnh độ, nên nói rộng phẩm Phật Quốc để phá cho chúng sinh các tội cấu trói buộc các nghiệp bất tịnh, khiến họ thành tựu nhân Tịnh độ. Ngài Tịnh Danh vì giúp thành giáo Phật, nên làm phương tiện trái ngược, là chê trách chiết phục. Lại nhân giả bệnh vì phàm phu nói pháp. Lại muốn nhắc lại việc chê trách xưa đều vì muốn giúp thành thuyết Tịnh độ. Nay ngài Văn-thù đã đến do đó hiện ra thất trống để biểu thị cõi Phật đều không, muốn cùng ngài Văn-thù rộng luận về Phật quốc, tức là thành cái trước.
Sinh cái sau, nếu hiện thất trống là biểu thị Phật quốc đều không, ngài Văn-thù biết việc biểu thị đó bèn đến đối đáp luận nghĩa Phật quốc. Nên phẩm này được nói là Phật quốc. Lại nhân thất trống, ngài
Thân Tử vì chúng cần giường ngồi, nghĩ đến giờ ăn, chúng sẽ được thấy cõi Phật Đăng Vương, tịnh sát Hương Tích. Trong lúc đối đáp biện luận, các phẩm đều nói về nhân quả Phật quốc. Nghĩa này đã xong dùng bàn tay đưa đại chúng đến chỗ Như Lai là phát khởi việc trở về điểm chính của Như Lai mà nói rộng phẩm Bồ-tát Hạnh nói nhân quả Phật quốc và phẩm Kiến A-súc Phật, vô lượng đại chúng thấy cõi Phật ấy, nhân đây mà phát tâm tu hạnh Tịnh độ A-súc Phật, sinh vào cõi ấy đều do hiện tướng thất trống mà lập, tức là sinh cái sau.
Nay dựa theo bốn cõi mà giải thích sự biểu thị này:
- Ở cõi Đồng cư uế tịnh. Nếu biểu thị cho cõi uế, thì có tạp uế y báo và ngoại ma chánh báo. Ngài Tịnh Danh hiện uế liền biết uế tức không, muốn dùng sức trí phá trừ uế nghiệp. Nếu uế chẳng không, thì không thể phá hoại. Vì uế nghiệp là Không, nên y báo có thể dẹp bỏ, tức là dẹp trừ các thứ, phá các ngoại ma ái kiến chánh báo, tức là và các thị giả.
- Kế là biểu thị cho Đồng cư tịnh độ. Tuy không có tạp uế y báo và ngoại ma chánh báo, nhưng lại có phần đoạn thanh tịnh y báo và phần đoạn ái kiến chánh báo. Ngài Tịnh Danh hiện đời biết tịnh tức không, dùng sức trí tuệ đoạn trừ nghiệp phần đoạn Y chánh báo, nên nói là dẹp hết các thứ và các thị giả.
Sau là biểu thị cõi Hữu dư, tuy không có phần đoạn uế tịnh y Chánh, nhưng có biến dịch y báo và vô vi Chánh báo, tức là ái kiến ngoại ma kia. Nên ngài Tịnh Danh chê trách ngài Tu-bồ-đề rằng: “Đồng ở phiền não nhập vào các tà kiến.” Ngài Tịnh Danh hiện đời biết nước ấy là Không, liền dùng trí lực mà dẹp bỏ y Chánh báo, tức là dẹp bỏ các thứ và các thị giả.
Kế là căn cứ cõi Thật báo, cõi nước này tuy không có phương tiện y Chánh, nhưng lại có tự thể tinh diệu y báo và tự thể ái kiến chánh báo. Ngài Tịnh Danh ứng hiện, biết cõi nước tức không, dùng sức trí tuệ dẹp bỏ y chánh ấy, nên nói là dẹp bỏ các thứ và các thị giả.
Sau nữa là cõi Thường tịch quang rốt ráo thanh tịnh. Không cả các thứ, tức là ở chỗ cao tột nhất, không còn gì để dẹp bỏ. Nên trong Đại kinh nói: Không còn chỗ đoạn trừ, gọi là Vô thượng sĩ. Nay ngài Tịnh Danh dùng thần lực làm trong thất trống không, dẹp bỏ các thứ và các thị giả, là biểu thị quả báo rốt ráo sau, sắp vào Tịch quang. Nên kinh Trì Địa có nói: “Khi đoạn hai chướng, lìa tất cả các kiến, được thanh tịnh tịnh thiền”, đây là nghĩa ấy. Nếu biểu thị cho quyền ở ba thứ trước để phương tiện lợi vật, thì đủ như trước đã giải thích. Lại nữa, có nước có
người có thị giả thì là phương tiện, nay tất cả đều dẹp bỏ, là hiển bày cái thật. Hiện tướng thất trống lược giải thích như thế. Chỉ đặt một cái giường để người bệnh nằm là hai, nói muốn hiển bày ba đức giải thoát. Giường là biểu thị cho chân tánh, bệnh là biểu thị cho phương tiện, nằm là biểu thị thật tuệ. Đây cũng có hai: Thành cái trước và sinh cái sau. Một là thành cái trước là giúp thành việc Phật nói pháp thân ba giải thoát. Vì sao? Vì ngài Tịnh Danh giúp thành Như Lai nói giải thoát bất tư nghị. Cho nên trước chê trách các đệ tử Bồ-tát, sau giả bệnh vì các phàm phu, muốn nhắc lại cái chê trách xưa để thành tựu giáo giải thoát bất tư nghị, nên không bệnh hiện có bệnh. Nay ngài Văn-thù nhận lệnh Phật vào thất thăm bệnh, việc cần phải hiện bệnh biểu tướng, để mở đầu cho việc đối đáp qua lại, nhân đây mà luận hai bệnh quyền thật của Như Lai đã nói và ngài Tịnh Danh chê trách, để giúp các điều nói trên được sáng tỏ. Hai, sinh cái sau tức là sinh sáu phẩm trong thất và hai phẩm ngoài thất. Vì sao? Vì hiện bệnh có biểu thị, khiến ngài Văn-thù hỏi bệnh quyền thật mà có phẩm này. Ngài Tịnh Danh nói rộng nên có năm phẩm sau, trở về rừng Am-la để thành giáo giải thoát bất tư nghị, tức có thêm hai phẩm Bồ-tát Hạnh và Kiến A-súc Phật, nên nói là sinh cái sau. Đến các văn sau thì nghĩa này tự sáng tỏ.
Sở dĩ chỉ đặt một cái giường để biểu thị chân tánh, kinh Pháp Hoa nói: Các pháp Không là tòa ngồi, không tức là chân tánh giải thoát. Bệnh biểu thị cho đại bi phương tiện. Đồng bệnh tức là phương tiện giải thoát. Nằm biểu thị cho thật tuệ, tức là bệnh chân báo. Nằm là tướng thân yên dừng nghỉ. Nếu thật tuệ cùng tương ưng với chân tánh, thì các hạnh lặng dừng, tâm an không động. Trí đoạn đã viên mãn, tức là thật tuệ giải thoát. Nên Đại kinh nói: Ai được ngủ an ổn đó gọi là từ bi, thường tu không phóng dật, xem chúng sinh như con một, dùng Vô duyên từ bi của chư Phật mà cứu tất cả khổ. Không làm hạnh phóng dật nói là được giấc ngủ an ổn. Như nam châm hút sắt, không duyên không niệm, tức là giấc ngủ an ổn. Như giấc ngủ của người không bệnh có bệnh. Thật tuệ cũng thế. Nếu chúng sinh không bệnh tức là pháp thân Phật tuệ không có bệnh nhân duyên, nếu chúng sinh có duyên có bệnh tức thật tuệ pháp thân đại bi ứng hiện. Như ngài Tịnh Danh ở Đồng cư cõi uế hiện có bệnh này. Tịnh độ cũng thế, cho đến cõi Hữu dư và quả báo cũng thế.
Hỏi: Bệnh là pháp duyên tập chướng ngại, sao được biểu thị cho đức giải thoát?
Đáp: Đây khác với Tạng Thông, họ cho không có phiền não sinh
tử là giải thoát. Nay bất tư nghị phương tiện giải thoát chấp nhận phiền não sinh tử, mà tự không trói buộc lại giải thoát các trói buộc. Nên Đại kinh có nói: Chư Phật, Bồ-tát tùy chỗ chúng sinh được điều phục gọi là giải thoát.
Hỏi: Kinh này nói tứ thiền làm giường tòa, sao được đem giường biểu thị cho chân tánh?
Đáp: Kinh giáo tùy duyên dùng thí dụ không nhất định, đâu nên chấp chặt. Nay giải thích biểu thị của ngài Tịnh Danh là từ không mà được châu giải luận nghiên cứu cùng tột không mất báu vật. Cũng như ở văn sau nói nhà cửa trống vắng rốt ráo. Nay thấy thất trống tức là biểu thị cho các Phật quốc độ đều không.
Phần (b) “Văn-thù… một giường”, nói Văn-thù vào thất thấy tướng biết ý biểu thị. Thấy thất trống không có các thứ vật khác, tức biết biểu thị cho các cõi Phật là Không, tất muốn khai mở giúp thành giáo Phật quốc. Thấy ngài bệnh riêng nằm trên một giường liền biết biểu thị cho ba đức giải thoát, muốn hiển bày giúp thành việc Phật nói giáo giải thoát bất tư nghị. Nên Đại luận có nói: Người trí hay biết trí như rắn biết chân rắn.
Hỏi: Vì sao biết được Văn-thù thấy tướng liền biết ý biểu thị?
Đáp: Ngài Tịnh Danh khen: “Ngài mới đến; không thấy tướng mà thấy....” không thấy tướng tức là bốn bất khả thuyết. Không thấy tướng Y Chánh mà thấy là hiện tướng biểu thị cho thân, biểu thị cho cõi nước. Nếu không như thế, thì Văn-thù là bậc dưới sao được thăm bệnh liền hỏi thất trống, nhân đó mà đối đáp qua lại. Lại, ngài Văn-thù còn biết Như Lai sắp nói kinh Pháp Hoa đã hiện tướng báo hiệu, đâu thể không biết việc hiện tướng biểu thị của ngài Tịnh Danh. Nếu không biết, thì đâu được lãnh chỉ đến thăm bệnh.
Phần (c) Ngài Tịnh Danh khen ngợi “lúc đó ngài Duy-ma-cật…”. Sở dĩ khen ngợi vì ngài Tịnh Danh biết ngài Văn-thù đã đủ năm nghĩa, nay đến thăm bệnh tất hay hiển bày giáo giải thoát bất tư nghị của nhân quả Phật quốc để giúp thành việc Pháp vương nói rộng lợi ích cho những kẻ có duyên, nên khen ngợi là khéo đến. Văn có hai: Chánh khen và Giải thích khen.
Chánh khen, đối việc không phải khéo đến mà khen là khéo đến. Nếu các phàm phu đệ tử Bồ-tát không đủ năm nghĩa thì không thể hiển bày giải thoát bất tư nghị của Tịnh độ nhân quả, rộng lợi ích quần sinh, nên không phải là khéo đến. Nay ngược lại ngài Văn-thù hay giúp thành Đại giáo cho Pháp vương, tạo nhiều lợi ích, nên gọi là khéo đến.
Còn các người khác không phải khéo đến lược có bảy thứ:
1. Các vua dân đều có duyên phược, tuy nhờ nói pháp mà trừ bỏ các kiết hoặc, nhưng chưa thật làm hưng thịnh đại pháp.
2. Các đệ tử Thiên chân đoạn kiết, không có tâm đại bi, không cầu quả Diệu giác, không hay dẫn dắt mọi người ra khỏi nhà lửa. Tuy từ nhân đến Hữu dư Niết-bàn, nhưng lại nhập vào hôi đoạn, không phải là chân Niết-bàn, đâu thể gọi là khéo đến.
3. Các Bồ-tát của Tam tạng giáo tuy cầu Phật quả nhưng các phục kiết chưa đoạn, tâm không thanh tịnh, lại chỉ cầu Phật quả ở đạo thọ rồi nhập Niết-bàn. Chỗ cầu không phải cần thật quán chuyển tâm, đâu gọi là khéo đến.
4. Bồ-tát của Thông giáo thiên chân đoạn kiết, tuy có từ bi, nhưng trọn cầu vô dư vô thường Phật quả, cần chuyển tâm quán, đâu gọi là khéo đến.
5. Bồ-tát của Biệt giáo, tuy cầu thường quả, nhưng không thể viên quán pháp giới, thứ lớp mà đoạn các hoặc nội ngoại giới, rồi vào Thập địa, cũng cần chuyển tâm quán, đâu gọi là khéo đến.
6. Hàng sơ tâm và trung tâm của viên giáo, tuy thấy trung Vô duyên đại từ khắp che tất cả, không trụ vào các Địa, nhưng trí đức còn cạn, không sức ngang bằng, đâu gọi là khéo đến.
7. Hàng hậu tâm Viên giáo, bổn tích tuy ngang hàng, nhưng không cùng người có duyên thăm bệnh, nên không thể cùng hiển bày, đâu gọi là khéo đến.
Sở dĩ Thanh văn, Bồ-tát đâu không kham lãnh lệnh là do có những “Không khéo đến”như thế. Nay Văn-thù là Đạo sĩ Viên giáo, Bổn tích ngang bằng biết cùng thời chúng có duyên gõ đập, nên dắt đại chúng như voi chúa kéo bầy cùng vào thất, tuyên chỉ thăm bệnh, ắt vì thời chúng khiến nhập vào bất tư nghị thấy Tịnh độ, sinh Tịnh sát, thành tịnh hạnh mà làm duyên lành, nên đến thăm bệnh là thật khéo đến. Ngài Tịnh Danh nêu gương có ích, nên khen ngợi là khéo đến.
Giải thích khen: “tướng không đến mà đến, tướng không thấy mà thấy”. Có thầy nói tướng không đến là chân đế, có đến là Tục đế, nên nói Tướng không đến mà đến. Nếu thế phải khen Nhị thừa. Lại có thầy nói pháp thân không tướng đến, Ứng thân có đến, nên nói tướng không đến mà đến. Nếu thế, ngài Tịnh Danh cần khen các Bồ-tát. Lại có thầy nói: Nếu đến là đến mà đến, tức là tự tánh đến. Nếu đến là Không đến mà đến, tức là giả đến. Giả đến thì không phải đến, tức là tướng không đến mà đến. Nay nói là đến, mà đến là tự tánh, thì đến là Không đến
 
 
mà đến, tức tha tánh đến, đâu thể được khen. Nay nói nếu do tướng đến mà đến, thì không phải là khéo đến. Nay Văn-thù do tướng không đến mà đến, nên khen là khéo đến. Vì sao? nếu các phàm phu đều có ái kiến, nay chấp tướng này mà đến. Nếu các Thánh nghe nói phá Giả vào chân mà đến, thì đây là con đường quanh co chấp tướng thiên chân mà đến. Bồ-tát của Tam tạng giáo phục kết mà đến, chưa đoạn chấp tướng. Bồ-tát của Thông giáo từ thể giả thấy chân vào kiến đạo cho đến nhập vào vị Bồ-tát mà đến. Đây là chấp tướng hai đế mà đến. Đây là nương vào tướng ba đế mà đến. Đây đều là Không phải tướng không đến mà đến. Nếu người Viên giáo biết bốn bất khả thuyết, tức không thấy tất cả tướng mà hay quán Trung đạo, Vô duyên đại từ hóa độ pháp giới chúng sinh đồng đến cõi Tịch quang, ấy là Tướng không đến mà đến. Đây là hợp với chương Như Lai sai nói nghĩa Tịnh độ, cũng khen là đúng hoài bảo của ngài Tịnh Danh. Nhưng các bậc Sơ trung hậu tâm Viên giáo, cùng với thời chúng này không có duyên về thăm bệnh, đâu dám tuân lệnh Phật đến thăm bệnh. Vì thiếu nghĩa này, nên ngài Tịnh Danh không khen. Nay ngài Văn-thù từ Sơ phát tâm biết bốn bất khả thuyết, không có tướng tự hành hóa tha quyền thật mà đến, nên nói tướng không đến, song hay đạo quán song lưu mà quyền mà thật tự hành hóa tha mà đến, ngang bằng đức bổn tích của ngài Tịnh Danh, nên nói mà đến. Lại biết thời chúng là bốn bất khả thuyết, nay có nhân duyên nên thấy cơ duyên có thể nói mà đến, nên sắp lành bệnh mà vào, để nghe nói về cõi Phật thanh tịnh giải thoát bất tư nghị đều được lợi ích lớn, nên giải thích nói tướng không đến mà đến.
Về tướng không thấy mà thấy, cũng là giải thích khen khéo đến. Vì ngài Văn-thù với tướng không đến mà đến vào thất, vì tướng không thấy mà thấy thất trống và do bệnh mà nằm đều biết là có ý biểu thị thì theo tướng xứng hợp do đó mà khen. Nói tướng không thấy mà thấy, vì đối với tướng thấy mà thấy, thì không phải là khéo đến. Vì sao? Vì nếu các phàm phu dùng nhục nhãn, Thiên nhãn để thấy các tướng thô tế, hàng Thanh văn chỉ có ba thứ nhãn, nhục nhãn, Thiên nhãn việc thấy giống như trước, còn tuệ nhãn là thấy chân, tức là thấy tướng hai đế. Bồ-tát của Tam tạng giáo vì chưa đoạn kiết nên không thấy chân đế, chỉ có nhục nhãn và Thiên nhãn dùng để thấy tướng thô tế của Thế đế. Bồ- tát của Thông giáo cũng chỉ có ba loại nhãn chỉ thấy tướng huyễn hóa của hai đế. Bồ-tát của Biệt giáo có bốn loại nhãn, ba thứ nhãn trước, riêng pháp nhãn thì thấy lý hằng sa Phật pháp vô lượng Tứ đế của nội ngoại giới thì đều là tướng thấy mà thấy. Nếu Bồ-tát ở Viên giáo, trụ ở
vị thập tín, tuy có nhục nhãn gọi là Phật nhãn, tương tợ viên thấy pháp giới, tướng hoặc pháp giới chưa trừ hết, còn gọi là kiến. Nếu nhập vào sơ phát tâm trụ mà phát chân vô lậu, tức là năm nhãn đều mở cả. Tuy được năm nhãn biết bốn bất khả thuyết, không thấy có ba nhóm chúng sinh, tức là tướng không thấy mà thấy cả pháp giới, đây là tướng không thấy mà thấy. Cho đến diệu giác cũng như thế. Nay ngài Văn-thù có bổn tích năm nhãn ngang hàng ngài Tịnh Danh. Ngài Tịnh Danh không phải tướng mà hiện tướng để biểu thị, ngài Văn-thù do tướng không thấy mà thấy chỗ biểu thị. Ý này cùng với ngài Tịnh Danh ngầm hợp nên khen ngợi.
Hỏi: Đến và thấy có gì khác?
Đáp: Đến là ba trí, thấy là năm nhãn. Pháp Hoa nói: Vì khiến chúng sinh khai Phật tri kiến. Lại nói: tri kiến của Như Lai rộng lớn vô lượng, tức là nghĩa này. Lại nữa, Bồ-tát của Viên giáo từ Phát tâm trụ biết bốn bất khả thuyết, được một tâm ba quán, ba trí năm nhãn, từ quả nhìn nhân, tâm luôn vắng lặng tự nhiên lưu nhập vào biển lớn diệu giác. Nên nói tướng không đến mà đến. Năm nhãn chuyển sáng, khi đến quả vị thì thấy cả pháp giới, nên nói tướng không thấy mà thấy.
Phần (d) Ngài Văn-thù ấn khả kể thành “Văn-thù...” . Như thế Cư sĩ, trước Cư sĩ đã khen là khéo đến, nay Văn-thù cũng ấn khả như thế. Đây có hai:
1) Văn-thù hiểu ý đáp đúng.
2) Giải thích kể thành.
Văn-thù nói nhưng thế cư sĩ, đây là chánh ấn khả. Nếu đến rồi lại không đến tức là nói thành. Câu đầu, đây là nói thành việc khéo đến đối với không phải khéo đến. Vì sao? Vì năm người trước do tướng mà đến, cho nên đến rồi có thể lại đến. Như phàm phu ngoại đạo tu thiền đến Phi tưởng rồi trở lại đọa vào tam đồ luân hồi lên xuống. Như Nhị thừa ra khỏi ba cõi hơn ba trăm do-tuần, tức ở tại hóa thành, nếu dẹp mất hóa thành lại về bảo sở. Bồ-tát của Tam tạng giáo, muốn cầu Phật quả hành lục độ mà đến không tới quả diệu giác, nếu nghe quán của Thông giáo, từ quán vô sinh mà đến. Bồ-tát Thông giáo đến cầu Phật địa, nếu nghe quán cải tâm của Biệt giáo, từ biệt quán mà đến. Nếu Bồ-tát Biệt giáo tu ba quán Biệt Tướng đến cầu quả Diệu giác, thì cũng còn là đường quanh co. Nếu nghe cải tâm cải quán của Viên giáo rồi  từ Viên giáo mà đến. Đây đều là đến rồi lại đến. Nay Bồ-tát Viên giáo ngồi xe không hẹp hòi trọn không ở giữa đường mà đổi tâm quán, tức là kim sa đại hà đi thẳng vào Tây hải, nên là đến rồi không đến nữa.
 
 
Lại còn, sơ tâm và trung tâm Viên giáo tuy từ đường thẳng mà đến, không cần thay đổi tâm quán. Nhưng chưa tới quả, cũng có nghĩa đến. Các ngài Văn-thù và Tịnh Danh đều đã đến cực địa, tất không lại đến nữa, nên nói nếu đến rồi lại không đến nữa. Đây là kể thành việc giải thích khen khéo đến, là tướng không đến mà đến. Nếu đi rồi lại không đi nữa. Đây là nhắc lại để thành nghĩa đến. Cũng ước vào năm người, tuy đi dùng tướng mà đi chẳng phải là khéo đi. Đây là đi rồi cũng còn lại đi. Nếu nương vào Viên giáo phát tâm chánh quán Trung đạo, một đi thì không có lý đổi tâm thay quán lại đi, nên nói nếu đi rồi lại không đi. Đây là cách nói thứ hai, là nghĩa khác của nhất thể đổi tên mà thôi. Nếu ở quả trông vào nhân tức là từ nhân mà đến, cho nên nói Phật từ đường lớn trí độ mà đến. Đem nhân nhìn thấy quả tức là nghĩa đi, nên Đại phẩm có nói: Thừa này từ trong ba cõi thoát ra, đến ở trong Tát-bà- nhã. Lại Đại luận nói: Các Thánh đến như thế, Phật cũng đến như thế. Các Thánh đi như thế Phật cũng đi như thế. Như ngài Văn-thù vào thất trống của ngài Tịnh Danh thì gọi là đến, lãnh lệnh Phật thăm bệnh gọi là đi. Văn-thù vì ngài Tịnh Danh nói mà đến, nên lại dùng nghĩa đi mà kể thành. Văn-thù nói chỗ có thể thấy lại không thể thấy. Đây là nói tướng không thấy mà thấy. Không thể thấy mà thấy, là thất trống hiện có binh để biểu thị cho quả của y chánh. Nếu biểu thị ngoài hạng người này thì lại không có Tịnh độ và pháp thân có thể thấy. Lời này thành nghĩa cõi Phật. Nếu dẫn việc chúng sinh đến vào thấy Tịnh độ và pháp thân thì ngoài hạng người này ra lại không thể thấy. Cho nên nói cái có thể thấy lại không thể thấy. Lại nữa, như người đời dùng nhục nhãn thấy sắc thô mà không thấy sắc tế thì không phải thấy rốt ráo. Nếu lại tu Thiên nhãn khiến thấy được sắc tế. Tuy thấy sắc tế mà không thể thấy chân. Nếu hàng Nhị thừa và Bồ-tát Thông giáo tu được Tuệ nhãn thì liền thấy chân. Tuy lại thấy chân nhưng không thấy được bệnh và thuốc. Bồ-tát Biệt giáo tiến tu pháp nhãn, thì thấy được pháp sai biệt. Tuy thấy sai biệt, nhưng không thể thấy trọn được ba đế. Tất cả pháp nhập vào một pháp, một pháp đầy đủ tất cả pháp. Bồ-tát Viên giáo nếu được Phật nhãn thì thấy cả pháp giới cùng tận cội nguồn cũng như hư không. Nếu ngoài Phật nhãn lại không thể thấy. Nên nói chỗ có thể thấy lại không thể thấy.
- Nói Văn-thù giải thích kể thành “Sở dĩ giả hà… Cánh bất khả kiến”. Sở dĩ nói: “Đến không từ đâu đến.” Đây là giải thích: Nếu đến rồi lại không đến, bốn bất khả thuyết tức là bình đẳng pháp giới. Chư Phật không làm gì cả, đây là tướng không đến. Ước đây nói đến tức là
Không từ đâu đến. Nói thành việc không đến mà đến. Đi không chỗ đến, là bốn bất khả thuyết tức bình đẳng chân pháp giới. Chư Phật không đến đâu cả, nên nói là đi không chỗ đến. Lập lại thành tướng không đến mà đến, đến không chỗ đến. Chỗ có thể thấy lại không thể thấy, là bốn bất khả thuyết, trong bình đẳng chân pháp giới không có chỗ có thể thấy mà nói là thấy. Phật nhãn thấy cùng tột lại không thể thấy, tức là giải thích việc trên, nói thành tướng không thể thấy mà thấy.
 
 

 
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »