DUY-MA KINH LƯỢC SỚ
QUYỂN 7
PHẨM: THĂM BỆNH
(Phần 2)
Phần bốn, Chánh nói thăm bệnh: “Thả trí...” . Từ trên đã luận về cách tương kiến giữa chủ khách, không phải là ý chánh. Thần trí ngang sức biện luận vô cùng bày tỏ ý Phật, nên nói “gá lại việc này”. Văn có hai:
1) Trình bày ý Phật.
Vốn rất tôn trọng ý chỉ Phật nên cần nói trước, kế thăm hỏi cặn kẻ việc Đại sĩ thâm ý giả bệnh để mở bày lợi ích cho mọi người, nên tự kể ý mình, nếu chỉ nói ý chỉ Phật thì các Thanh văn Bồ-tát không cần phải từ chối, nhưng đây là nghĩa đối với người giỏi thăm hỏi bệnh, đối đáp qua lại là việc khó, người khác không kham được, ý là ở đây. Nên ngài Văn-thù tiếp đó nói ý mình.
Nói lệnh Phật có hai:
a) Chánh tuyên chỉ.
b) Chung nói ý Phật.
Phần tuyên chỉ có ba câu là ba phần: -Câu đầu nói: Bệnh ấy có thể chịu được chăng? Ngài Tịnh Danh vốn pháp thân không bệnh, không nhẫn nào chẳng chịu, đã là chúng sinh lại căn cứ ở chúng sinh mà luận về nhẫn và không nhẫn. Nhưng Phật ở đời tích đồng thế gian, nên có việc thăm hỏi.
Như trong Tỳ-ni, Phật cũng thăm hỏi an ủi các Tỳ-kheo rằng: “Đi đường có mệt nhọc chăng, khất thực có dễ dàng chăng?”
Lại như trong Đại phẩm chư Phật cũng thăm hỏi nhau: “Có ít bệnh não chăng... Trí Độ luận giải thích đây đều có thâm ý. Nay Phật hỏi ngài Tịnh Danh: Có thể chịu được chăng, là ngài Tịnh Danh vì chúng sinh mà bệnh, chúng sinh không đồng, vậy chịu được hay không chịu được? Như người tuy bệnh mà còn bước đi được, ấy là chịu được, hoặc
có bệnh khổ mà đi đứng không được, ấy là Không chịu được. Nay cũng căn cứ vào bốn cõi nước:
1. Nói về Đồng cư uế tịnh: bệnh của cõi uế là các nghiệp trong sáu đường, mười ác, bốn trọng tội... là nhân bệnh ba ác, còn quả khổ tam đồ là quả bệnh. Đây là bệnh nặng, là tướng không thể chịu được. Nếu mười thiện là bệnh nhân của trời, người, A-tu-la, thì tám khổ, năm suy... là quả bệnh. Khổ này nhỏ, là tướng chịu được. Lại còn, quả bệnh ở cõi Đồng cư uế có một mà nhân bệnh có chín thứ không đồng, đó là sáu đạo và ba thừa. Nếu có nhân bệnh sáu đạo, mà không có căn tánh ba thừa, là tướng không chịu được. Nếu có căn tánh ba thừa, tức là chịu được. Lại nữa, phàm phu tu hạnh ba thừa, căn có lợi độn, nên ngăn cản có nhẹ nặng. Căn lợi ngăn cản nhẹ là bệnh chịu được, còn độn căn ngăn cản nặng là bệnh không chịu được. Lại còn, ba thừa tiến hành đoạn kết. Nếu đoạn kết là nhẹ thì chịu được, nếu chưa đoạn là nặng, là Không chịu được. Ngài Tịnh Danh bệnh quyền nên đều đồng. Nói về Đồng cư thanh tịnh là trừ bốn ác thú, chỉ xét về trời, người còn ba thừa giống như trên.
2. Nói về cõi Hữu dư, không có khổ phần đoạn, thì nói chung là chịu được, chỉ có hình tướng thô tế thôi. Hàng Nhị thừa và Bồ-tát Thông giáo sinh về cõi ấy, là độn căn là Không chịu được. Còn Bồ-tát Biệt, Viên sinh vào cõi ấy là lợi căn, là chịu được. Quyền đồng cũng thế.
3. Nói về cõi quả báo, các Bồ-tát ấy đều là pháp thân không khác ba thừa, tuy có vô minh tự thể, nhưng bệnh nhân quả đều chịu được, quyền đồng cũng thế. Như địa vị và hình tướng không phải là Không chịu được, chỉ không như cõi Hữu dư trước đồng có tướng ấy.
4. Nói về cõi Thường tịch quang là cõi cao tột, các ác dứt hẳn, các thiện khắp cùng, không bệnh, không não, không có bệnh quyền hay thật, chịu được hay không chịu được khác nhau. Phật chỉ một câu thăm hỏi ngài Tịnh Danh mà rộng lớn sâu xa khó nói hết.
Hỏi: Trên nói cõi Tịch quang có bệnh, nay sao nói là Không?
Đáp: Không nhất định, chỉ theo Thánh giáo. Giáo nói có là có, nói không là Không. Nay căn cứ vào cõi cao tột thì không có bệnh thật.
- Câu hai: trị bệnh có bớt chăng? Trị bệnh có bớt chăng là thế gian có bệnh ắt phải dùng thuốc để trị. Đã vì chúng sinh khổ, nếu trị chúng sinh tức là trị ngài Tịnh Danh. Nhưng bệnh của chúng sinh có ba thứ không đồng, tức là kiến, tư và vô minh vô tri. Ba bệnh này gốc của tất cả bệnh nhân quả nội ngoại giới. Dùng ba quán mà trị thì ba bệnh đều hết, điều này đã nói trong ba quán, đầy đủ trong huyền nghĩa. Khi giải
thích văn sau sẽ thấy rõ. Cũng nói về bốn cõi:
1. Cõi Đồng cư: Từ Giả vào Không chính là trị bệnh kiến tư ở Đồng cư.
2. Từ không vào Giả chính là trị bệnh hằng sa Hữu dư, phụ trị vô tri ở Đồng cư.
3. Trung đạo chánh quán, chính là trị vô minh hữu dư, quả báo. Bồ-tát lợi căn phụ trị kiến tư vô tri ở Đồng cư, cũng phụ trị vô tri ở Hữu dư. Cõi Tịch quang thì không có bệnh để trị, nay nói trị ở cõi Đồng cư.
Trong Đại Luận có nêu bốn trường hợp: Một là căn độn chướng nặng, tức là phàm phu căn độn , cấu phiền não nặng không thể trị. Hai là độn căn chướng nhẹ, như ngài Châu-bàn-đặc trong suốt mùa hạ chỉ tụng một bài kệ mà phát chân, thành Đại A-la-hán. Ba là căn lợi chướng nặng, như Ương-quật-ma-la, một ngày giết chín trăm chín mươi chín người, nhưng vì căn lợi, chướng không thể ngăn cản, nên thấy Phật liền ngộ. Bốn là căn lợi chướng nhẹ, như Xá-lợi-phất nghe A-thấp nói một bài kệ về ba đế liền chứng được sơ quả. Ngài Tịnh Danh đồng với những bệnh này khó trị và dễ trị. Như trong bốn trường hợp thì Châu- bàn-đặc và Thân Tử là bệnh dễ trị giảm bớt. Nếu đến cõi Hữu dư thì không có việc trị giảm bệnh. Nếu hình tướng ba thừa cũng phân biệt ba thứ có giảm bớt. Bệnh quyền cũng thế, nếu vào cõi quả báo bình đẳng pháp giới thì đây là lợi căn có một chướng vô minh. Xét quyền vị mà luận nhẹ nặng không có chướng ngăn riêng thì chỉ có một trường hợp giảm bệnh. Nếu xét về Sơ tâm nghiệp đời trước hoặc có hai trường hợp phân biệt không có độn căn. Bệnh quyền cũng thế.
4. Cõi Thường tịch quang là địa cao tột tịch nhiên không có những phân biệt này.
Kế đến câu thứ ba. Phật hỏi rằng: Bệnh trệ đều giảm không tăng chứ? Đây là ý hỏi như người đời bệnh đủ bốn thứ:
1. Từ lúc đầu uống thuốc, nhưng bệnh chỉ tăng mà không giảm, trọn không chữa được bệnh đó, gọi là tăng tăng.
2. Tuy lúc nguy khốn mà dốc lòng tìm thuốc chữa trị và bệnh lành, đó gọi là có tăng giảm.
3. Tuy lúc đầu có uống thuốc bệnh có tạm giảm, nhưng sau lại tăng, gọi là giảm tăng.
4. Từ đầu bệnh tạm giảm cho đến bình phục, đó gọi là giảm giảm.
Ngài Tịnh Danh ứng hiện sinh vào cõi Đồng cư, nói mười hai bộ kinh, trị bệnh cho chúng sinh, cũng có bốn căn duyên.
1. Tăng tăng tức là hạng phàm phu thấp kém nhất. Nếu vì họ thuyết pháp thì họ liền khởi tội bài báng không tin, như Thiện Tinh, Điều-đạt…
2. Tăng giảm như Thi-lợi-cúc-đa, Ương-quật…
3. Giảm tăng. Như Đại Luận nói: Bốn thiền của Tỳ-kheo đó là bốn quả. Khi lâm chung thấy chỗ sinh chê không phải là Niết-bàn, liền đọa vào địa ngục. Lại Tỳ-đàm, Thành Thật nói người thoái pháp đều có tướng này.
4. Giảm giảm, tức là các người được đạo như Thân Tử...
Ngài Tịnh Danh ở Đồng cư bệnh quyền cũng thế. Về cõi Hữu dư, có ba thứ, không có tăng tăng. Đã được vị bất thoái, thì không sinh vào ba cõi, nhưng ba thừa sinh vào cõi ấy có lợi có độn. Căn cứ ở hạnh thoái niệm thoái cũng có ba thứ, về bệnh quyền cũng thế. Nếu xét theo cõi quả báo đều là niệm bất thoái, tâm luôn vắng lặng, tự nhiên lưu nhập, thì đều là giảm giảm. Nếu căn cứ nghĩa xuất nhập quán, thì có ba trường hợp, bệnh quyền cũng thế. Về cõi Thường tịch quang tột cao rỗng rang, không có bệnh tật. Ngài Tịnh Danh đồng bệnh quyền với ba cõi trước. Về trị bệnh thật có giảm mà không tăng. Ngài Tịnh Danh cũng thế, nên khi thăm hỏi nói “bệnh không tăng chứ?”
Từ câu “Đức Thế Tôn ân cần thăm hỏi vô lượng”… trở xuống là Văn-thù tuyên chung ý Phật thăm hỏi. Nói thăm hỏi vô lượng là bệnh thật ở ba cõi, khắp mười phương pháp giới nhiều vô lượng. Ngài Tịnh Danh từ bi nghĩ nhớ hiện vô lượng bệnh quyền, nên khiến Như Lai thăm hỏi vô lượng. Chỉ kể có ba câu, đây là biểu thị các câu hỏi đầu, có thể có nhiều câu, nhưng dịch giả đã lược bỏ hoặc kinh không nêu, giống như năm trăm và tám ngàn người ai cũng kể việc chê trách, nhưng lược bỏ không nêu, hoặc chỉ nói chung là vô lượng, đủ biểu thị ý Phật, không cần phải nói nhiều.
2) Văn-thù tự nói ý mình Từ câu “Cư sĩ…” là. Việc vâng lời Phật thăm bệnh để hỏi là ý ở đây. Văn có hai:
Một là, Hỏi bệnh quyền trong quả.
Hai là, Hỏi bệnh thật trong nhân.
Do hỏi quyền, nên ngài Tịnh Danh nói ra phẩm Bất Tư nghị. Do hỏi thật, nên ngài Tịnh Danh nói bốn phẩm Quán Chúng Sinh... Đến văn sẽ thấy rõ.
Văn Hỏi bệnh quyền trong quả có ba phần:
a) Từ Cư sĩ bệnh này nhân đâu mà khởi trở đi, là hỏi nhân khởi bệnh quả. Đại sĩ quả địa pháp thân thanh tịnh nhất định, không có mọi
bệnh hoạn, mà nay hiện có bệnh, do đâu mà khởi.
b) Từ “thất này vì sao trống không và không có thị giả…”, là hỏi Đại sĩ pháp thân y báo quyến thuộc nay ở đâu, mà chỉ thấy thất trống.
c) Từ “bệnh này có những tướng gì …”, là hỏi bệnh đồng ứng thân lấy gì làm tướng, là đồng pháp thân hay đồng với phàm phu, nên hỏi tướng mạo nó.
Phần a, có hai: Một là Văn Thù hỏi, hai là Tịnh danh đáp.
Phần Văn thù hỏi có ba: Hỏi bệnh do đâu khởi. Hỏi bệnh mới hay đã lâu. Hỏi cách làm hết bệnh.
- Hỏi bệnh do đâu khởi, là nếu quả địa pháp thân thì có bệnh não gì mà nay bỗng nói có bệnh là do đâu mà khởi. Kế hỏi bệnh đã lâu chưa. Pháp thân vốn không bệnh, đã có bệnh quyền thì có từ lúc nào? Sau là hỏi làm sao hết bệnh. Nếu vì chúng sinh, nay chúng sinh trong các cõi nước mười phương vô tận. Quyền thì không thể diệt, bệnh này làm sao diệt được? Văn-thù có ba câu hỏi đại ý là thế.
Phần Tịnh Danh đáp “Duy-ma…” trở xuống có hai phần trước và sau: Trước trả lời hai câu hỏi sau, sau trả lời một câu hỏi trước:
Sở dĩ hỏi đáp có trước sau là có ý. Ngài Văn-thù hỏi, có ý muốn khiến chúng sinh biết từ bổn khởi tích. Ngài Tịnh Danh đáp, có ý muốn khiến chúng sinh tìm tích vào bổn. Cũng là hiển bày thành nghĩa tướng sinh diệt.
Phần đáp trước lại có ba ý:
- Đáp chung hai câu hỏi sau.
- Giải thích.
- Thí dụ để chỉ rõ.
Ý một Đáp chung gồm hai: Trước đáp câu hỏi: Bệnh mới hai đã lâu. Sau đáp câu hỏi. Làm sao dứt bệnh.
Đáp câu hỏi bệnh sinh đã lâu mau? Từ si hữu ái thì bệnh tôi sinh, bệnh ấy lâu mau đều do chúng sinh mười hai nhân duyên mà sinh. Ngài Tịnh Danh bệnh quyền đồng với sự lâu mau ấy. Sở dĩ biết căn cứ nhân duyên mà đáp, là kinh Niết-bàn nói: Bờ mé gốc của sinh tử gồm hai thứ là vô minh và ái, ở khoảng giữa hai thứ ấy liền có sinh, lão, bệnh, tử. Vô minh là si ở quá khứ ái , là si ở hiện tại, hai đời cách nhau nên lập làm hai tên. Vô minh thấm đẩm hành khiến có thức... năm quả ở hiện tại. Ái thủ ở hiện tại thấm đẩm hữu, nên có sinh tử ở vị lai, nên có mười hai nhân duyên luân chuyển ở ba cõi, hai mươi lăm hữu có trải qua sinh tử nên có nhân bệnh và quả bệnh. Ngài Tịnh Danh, vì chúng sinh có si ái mà sinh ra pháp thân Đại sĩ, tức sinh bệnh quyền. Si ái của chúng
sinh từ sinh ra đến nay, không phải mới, thì bệnh quyền cũng thế. Đáp bệnh đã lâu mau, là ý ở đó. Lại nữa, ngài Tịnh Danh vì chúng sinh bệnh, đâu chỉ ở Đồng cư. Nếu bệnh hữu vi si ái sinh, thì bệnh quyền ắt sinh, vô vi ở hữu dư cũng thế. Vì sao? Vì si ái ở Đồng cư hết, thì si ái ở hữu dư ắt sinh. Vì mê Trung đạo, nhiễm Niết-bàn, nên si ái sinh. Ở khoảng giữa hai thứ đó, thì có nhân bệnh quả bệnh mười hai nhân duyên. Chỉ có biến dịch nhân duyên và phần đoạn là khác nhau. Phần đoạn thì lên xuống qua lại sáu nẽo, còn biến dịch thì không thế. Nhưng ước vào ái có mà sinh tử. Ái diệt rồi liền sinh lên Thượng địa, trọn không thoái lui mà sinh vào Hạ địa. Vì sao? Vì ở tam giới nhận thô. Suy ra như Na- hàm, thân cõi Dục tu được Sơ thiền, ở Sơ thiền chết rồi liền sinh lên Nhị thiền, trọn không sinh vào cõi Dục mà lui sụt vào Sơ thiền. Thánh nhân nội giới cũng thế, huống là ngoại giới mà lại sinh vào phần đoạn và nhận thô biến dịch. Nếu chúng sinh biến dịch có thứ si ái này, thì ngài Tịnh Danh đại bi liền sinh bệnh si ái. Đó là đáp lời việc bệnh sinh đã lâu mau. Nếu ở cõi quả báo thì vô minh chưa hết là si, nhiễm y chánh báo là ái, ở giữa hai thứ đó mà có bệnh nhân quả của tự thể sinh tử mười hai nhân duyên sinh ra. Nên kinh Thắng-man nói: Vô minh trụ địa sức rất lớn mạnh chỉ trí Bồ-đề của Phật mới đoạn đứt được. Nếu bệnh si ái ở cõi Hữu dư hết, thì bệnh si ái ở cõi quả báo sinh. Ngài Tịnh Danh pháp thân đại bi cũng đồng sinh bệnh. Đây cũng đáp lời về bệnh sinh lâu mau. Cõi Tịch quang cao tột không thật có bệnh si ái nên không có bệnh quyền sinh ra lâu mau.
Hỏi: Nếu xét theo chúng sinh để nói ngài Tịnh Danh bệnh sinh lâu mau, mà si ái thì vô thỉ nên không lâu không mau, sao được lấy đây mà đáp lời hỏi ngài Văn-thù?
Đáp: Si ái của chúng sinh thì vô thỉ, không lâu không mau nên Vô duyên đại bi của ngài Tịnh Danh cũng thế. Luận về lâu mau, là dựa theo sự mà có, bởi vì quả địa đại bi tận nguồn cội vẫn không có, nhưng tùy bệnh chúng sinh mà đồng thể, ấy là nhân đại bi mà có tên, có lâu mau. Văn nói: Từ vô trụ mà lập ra tất cả pháp, vô minh từ vô thỉ khởi hằng hà sa vô tri bốn điên đảo ngoại giới và bốn điên đảo nội giới. Ngài Tịnh Danh cùng duyên khởi cũng thế. Nếu theo lý thì bệnh sinh ở cõi quả báo là lâu, còn bệnh sinh ở cõi Đồng cư, Hữu dư là tạm mới. Nếu theo sự thì bệnh sinh ở cõi Đồng cư là lâu, ở cõi quả báo, Hữu dư là mới, như đoạn dứt hết các si ái ở Đồng cư thì ở cõi Hữu dư si ái mới sinh.
- Đáp câu hỏi làm sao hết bệnh? Từ “Nêu tất cả chúng sinh… bệnh ta hết”, nếu dùng ba quán bốn giáo, đoạn dứt si ái của chúng sinh ở ba
cõi, bệnh thật hết thì bệnh quyền của ngài Tịnh Danh cũng hết, nên nói bệnh ta hết. Vì sao? Vì ở cõi Đồng cư khởi bệnh nhân quả thì ngài Tịnh Danh cũng đồng ở cõi ấy mà nói bốn giáo, khiến tu ba quán. Nếu chúng sinh ở cõi ấy bệnh hết thì bệnh quyền của ngài Tịnh Danh cũng theo đó mà hết. Nếu chúng sinh ở cõi Hữu dư có bệnh nhân quả, thì ngài Tịnh Danh cũng bệnh quyền mà nói Biệt, Viên, khiến họ tu giả, trung. Nếu bệnh của chúng sinh ấy hết thì bệnh quyền của ngài Tịnh Danh cũng theo đó mà hết. Nếu chúng sinh ở cõi quả báo có bệnh nhân quả, thì ngài Tịnh Danh liền bệnh quyền, chỉ nói Viên, khiến họ tu trung quán, nếu bệnh của chúng sinh ấy các phần bốn mươi mốt phẩm đều hết, thì ngài Tịnh Danh cũng thế. Cõi Tịch quang cao tột trí đoạn viên cực, thì không còn gì để hết nữa. Lược đáp câu hỏi thứ ba đã xong. Nếu các sư không căn cứ hai cõi ngoại giới, để nói về quyền thật thì hai cõi ấy lẽ ra cũng không có vô minh. Nếu cõi ấy có vô minh thì ngài Tịnh Danh sao lại không quyền được?
Hỏi: Chúng sinh ở ba cõi, si ái không hết thì bệnh quyền của ngài Tịnh Danh sao hết được?
Đáp: Luận chung về bệnh quyền thì chúng sinh không hết, bệnh cũng không hết. Vả nay căn cứ vào một thời hạn về số chúng sinh có duyên được hóa độ ở ba cõi, nếu bệnh hóa duyên hết, thì bệnh quyền cũng hết.
Ý hai, giải thích việc đáp hai câu hỏi sau “sở dĩ… vô phục bệnh”. Có hai ý: Trước nói vì chúng sinh mà vào sinh tử, có sinh tử liền có ba bệnh sinh ra. Đây là giải thích việc đáp có bệnh quyền sinh ra lâu mau. Kế nói: Nếu chúng sinh lìa bệnh thì Bồ-tát không còn bệnh nữa, đây là giải thích đáp câu hỏi sau về lý do bệnh quyền được hết.
Ý ba Thí dụ làm sáng tỏ Từ “Thí như …”. Văn có hai: Khai dụ và hợp dụ.
Khai dụ có hai: Khai dụ có bệnh. Khai dụ hết bệnh.
- Khai dụ có bệnh, lấy cha mẹ làm dụ, là Bồ-tát từ hai trí sinh đại bi trụ ở địa con một, tức là cha mẹ của chúng sinh. Tất cả chúng sinh đồng có tánh lý nên nói chỉ có một con. Nếu chúng sinh ở ba cõi có bệnh thật si ái thì pháp thân hai trí đại bi liền ứng sinh ở ba cõi, nên có bệnh quyền.
- Khai dụ hết bệnh, có thể tự hiểu.
Hợp dụ Từ “Bồ-tát… cũng hết”. Cũng có hai: Hợp dụ có bệnh quyền. Hợp dụ bệnh quyền hết. Như văn.
Phần đáp sau Từ “Lại nói… Bi khởi” là trả lời câu hỏi đầu: bệnh
áo đâu khởi. Trên đây đã luận về sinh và hết của bệnh quyền, nay đáp về nguyên do có bệnh quyền. Nguyên do là do đại bi, tức do sức thiện căn Vô duyên từ bi của giải thoát bất tư nghị, nên thường hiện thân có bệnh để lợi ích chúng sinh ở ba cõi. Đây là vô tâm đối với vật. Đại kinh nói: Từ năm đầu ngón tay phóng ra năm con sư tử, Như Lai không khởi niệm mà voi thấy sư tử. Phải biết đều là do sức Từ thiện căn. Nay ngài Tịnh Danh do đại bi hun đúc tâm, hiện bệnh ở ba cõi cũng thế. Chúng sinh duyên và Pháp duyên thì không thể như thế. Nay ngài Tịnh Danh do Vô duyên đại bi, nên có thể hiện thân có bệnh ở ba cõi mà nói bốn giáo ba quán, như bỏ chất độc vào sữa cho đến đề hồ cũng có khả năng giết chết người. Bồ-tát đại bi cũng lại như thế. Tùy chỗ hiện thân mà đồng sự, lợi ích, các công năng đó không luống uổng. Nên Đại kinh nói: Từ tức Như Lai, Từ tức giải thoát. từ bi này đầy đủ tất cả Phật pháp, như nam châm hút sắt. Bi cũng như Từ.
Hỏi: Đá khác với hút hay hút khác với đá?
Đáp: Nếu đá khác với hút, thì đá không hút, còn hút khác với đá thì hút ở ngoài đá. Nay không thế, vì không một cũng không khác, tức là đá hút. Vô duyên từ bi tức là pháp thân, pháp thân tức là Vô duyên đại bi, luôn vắng lặng thanh tịnh, không nghĩ nhớ, không hút. Như gương vốn không có hình ảnh, tùy các duyên đối với gương mà hình ảnh hiện ra. Chúng sinh vốn tánh thanh tịnh, không có si ái. Bồ-tát pháp thân xưa nay vốn không bệnh, vì chúng sinh ở ba cõi có bệnh si ái khởi lên, nên Bồ-tát đại bi ở ba cõi liền có bệnh quyền, nên nói từ si có ái thì bệnh ta sinh.
Phần b) Ngài Văn-thù hỏi thất trống và không có thị giả từ câu “Văn-thù …”. Văn có hai: Hỏi và đáp.
- Ngài Văn-thù hỏi. Ngài Văn-thù vào thấy thất trống liền biết có biểu thị việc thời chúng chưa ngộ, nay muốn hiển bày nghĩa Phật quốc nên hỏi tiếp. Đây là hỏi về cõi nước y báo là nơi chánh báo nương tựa, để khiến thời chúng biết Tịnh độ rốt ráo là nơi pháp thân Đại sĩ nương tựa không có y báo quyến thuộc. Nếu ứng với vật, thì có y báo quyến thuộc, nên hỏi tiếp thất này vì sao trống không và không có thị giả. Câu hỏi này chính là khởi phát việc giúp thành Phật quốc đã nói ở phẩm Phật Quốc.
- Ngài Tịnh Danh đáp từ câu “Duy-ma…”. Văn có hai: Trước đáp thất trống. Kế đáp không có thị giả. Phần đáp thất trống có bảy lần đối đáp qua lại.
Lần một, đáp thất trống. Nói quốc độ chư Phật cũng đều không.
Đại sĩ khéo léo có nhiều cách biểu thị không phải một. Từ khi đến thất này việc bày biện, người hầu, đều nhằm biểu thị việc muốn nói các giáo Phương tiện về duyên tập chưa trừ thì chưa được hiển bày cõi nước thanh tịnh. Nay muốn chỉ rõ chân Tịnh độ không có các phiền lụy về phần đoạn, biến dịch y chánh, để dẫn nhập vào bổn quốc thường tịch, bổn tánh lý không rốt ráo. Nên dẹp bỏ các thứ, biểu thị cho giáo xả phương tiện mà nói có. Nay muốn mở bày Tịnh độ Chân không Tịch quang rốt ráo, nên đáp nói các quốc độ của chư Phật cũng đều không. Vì cái không đó đâu chỉ biểu thị cho tánh tịnh thường tịch trống không chẳng có chi vì tất cả các quốc độ cũng đều không. Nếu các quốc độ chẳng phải là Không, thì Tịch quang không khắp, mà đã khắp tất cả, thì ba cõi cũng đều không.
Hỏi: Có cõi Tịch quang riêng chăng?
Đáp: Không phải thế, chỉ có phần đoạn biến dịch tức là Thường tịch quang. Như ngài Loa Kế đã thấy uế tức là tịnh nên lại không riêng cầu. Nên nói thí như chư Thiên cùng có bát báu, nhưng cơm có sắc khác. Nói chư Thiên là biểu thị cho ba cõi, đều có y chánh. Chánh báo tức là thân, y báo tức là chỗ ở và các thứ tịnh diệu ngũ dục. Nói đều “không” tức biểu thị cho Thường tịch quang. Đây không có sự khác nhau của giới hạn cảnh vật y báo, cũng không có các loại chánh báo khác nhau, mà đồng nhập vào lý Chân không rốt ráo. Như thất trống này không có các vật cũng không có thị giả. Từ trước nay đối với phương tiện khách khứa mà bày trí mọi vật, nay các khách đã thành cơ rốt ráo không, giả sử ai chưa vào thì khiến vào, không bao lâu liền được chất cơm thơm, như nghe trống độc. Đến khi nghe Pháp Hoa thì tất cả đều vào. Thế nên thất trống chính là biểu thị việc này.
Lần hai, hỏi đáp “Lại hỏi… không không”. Hỏi lấy gì làm Không. Phần đoạn, biến dịch đều có y, chánh, sao lại khiến chúng cùng quy về một không? Lại kinh Thanh Văn nói: Có không Tam-muội, mười tám không của Đại thừa thì có không không, chưa biết lấy gì làm Không nên gọi là Không. Đáp rằng lấy không làm Không, nếu dựa theo cảnh trí, chung nói pháp Không. Như Đại kinh nói: Vì không không nên là Không. Cũng vì Bồ-tát tu không, nên là Không. Như muối có tánh mặn, khiến khác các vật mặn, nên nói lấy không làm Không. Nay nói nếu mê ý giáo, chỉ chạy theo lời nói, mà nói không không, thì không là vô cùng không khỏi rơi vào hý luận. Việc Tạng Thông nói chỉ là Không không của nội giới. Nay ở Trung đạo mà chánh quán thì hay không sinh tử, mà cũng rỗng không cả Niết-bàn, nên nói là Không Không. Nếu rỗng
không sinh tử tức là Đồng cư không, nếu không Niết-bàn tức là Biến dịch Không, nên nói lấy Không làm Không. Vì sao? Vì nội giới đóng khối cũng còn là Không, huống là quả báo ngoại giới rất tế diệu, mà chẳng không ư? Lấy đây mà suy, thì thất trống là biểu thị cho các Phật quốc đều không, tức biểu thị các cõi nước là Tịch quang vậy.
Lần ba, hỏi đáp “Lại hỏi… nên là Không”. Sở dĩ lại hỏi thêm “Đã Không, cần gì phải Không?”, là nếu pháp vốn xưa nay tự không, thì cần gì đợi tu mới Không. Nếu cho tu mới không, thì bổn tánh của Không chẳng là Không. Lại nếu quán phần đoạn, từ Giả vào Không, không tức chân đế, đâu cần lại không. Nếu cần lại không, thì phải biết là có, nên hỏi đã không cần gì phải Không? Đáp rằng: Vì không phân biệt không nên không. Nếu ở bản tánh, thì lý không là một, nhưng học phương tiện Nhị thừa Bồ-tát còn phân biệt chấp Không, chưa hiểu được Chân không. Nếu bỏ trí chướng phân biệt hai đế, liền hiểu lý Trung đạo Chân không. Nên nói vì không phân biệt không nên không. Lại nữa, nếu phân biệt tục là có thật không, phá tục vào chân, thì sinh tử Niết-bàn là hai, gọi là phân biệt. Chỉ được cái đản không mà không được cái “Không chẳng thể được.” Nếu thể nó không phải tục không phải chân, tức không có sinh tử Niết-bàn khác nhau, há là có trí chướng để bỏ ư? Không có sinh tử tức là đản không, không có Niết-bàn tức là cái “Không chẳng thể được”, đó gọi là vì Không nên Không. Nếu biết vô phân biệt là Không, thì không có nội ngoại giới để phân biệt, tức là Thường tịch quang chân cực Tịnh độ.
Lần bốn hỏi đáp “Lại hỏi… cũng không”. Ngài Văn-thù hỏi ý này là ngầm vấn nạn rằng: Nếu phân biệt chẳng phải là Không thì vô phân biệt là Không, sao được nói không. Nếu nói là Không, thì đâu không phải là phân biệt. Nếu dùng phương tiện Nhị thừa phân biệt Bồ-tát chấp Không thì đều chẳng phải Không, nay sao được bỏ phân biệt không, mà chấp chẳng phân biệt mới là Không. Nếu có lấy bỏ không phân biệt, lại thành phân biệt. Đã thành phân biệt thì không phải Không nữa. Nếu là Không thì không cần phân biệt, nên hỏi nói là Không mà có thể phân biệt ư? Ngài Tịnh Danh đáp nói phân biệt cũng không. Lý Không này, bản tánh tự không mà dối sinh phân biệt, chỉ phân biệt này chưa từng có. Tuy lại có các thứ nhớ tưởng phân biệt mà phân biệt tức không, nếu tánh tự không tại sao tu không mới thấy Không. Nếu cảnh sở quán phân biệt tức không, không phân biệt thì năng quán cũng thế. Nếu trí năng quán phân biệt chẳng không mà không phân biệt, thì sở quán cũng thế. Vì cảnh sở quán phân biệt không, tức là Không phân biệt thì năng quán
cũng thế. Các phương tiện giáo sự lý không dung nhau, vì phân biệt có thể làm chướng lý không phân biệt. Viên giáo thì không thế, tất cả phân biệt tức là Không phân biệt, không phân biệt tức là phân biệt. Phân biệt tức không. Do đó văn trên có nói: Luôn khéo phân biệt các pháp tướng ở Đệ nhất nghĩa mà không động, tuy lại phân biệt nhưng chưa từng lìa không, do đó nói phân biệt cũng không. Lại nữa, ba cõi đều là vọng tưởng phân biệt nên có. Nếu đều tức là Trung đạo pháp tánh nhất như không hai. Thì đây là phân biệt tức không, tức là Tịch quang vô phân biệt vậy.
Lần năm hỏi đáp “Lại hỏi… Trung cầu”. Hỏi: Không tìm ở đâu? Nói lý Không chẳng phân biệt này vi diệu huyền tuyệt, người tu phải tìm nó ở đâu? Ngài Tịnh Danh liền đáp phải tìm trong sáu mươi hai kiến. Ví Như có người mê, cho Nam là Bắc, không thể bỏ phương Bắc, mà cần phải trở về chỗ lầm là Bắc, để tìm phương Nam. Khi ngộ, thì trở về chỗ mê cho là Bắc, thì thấy phương Nam. Nay chúng sinh chưa ngộ tức Bồ-đề là phiền não, cho nên có sáu mươi hai kiến phiền não. Nếu ngộ tức phiền não là Bồ-đề, thì sáu mươi hai kiến chấp cho là chỗ phiền não, tức là Tịnh độ Thường tịch Bồ-đề Chân không vậy. Nay nói sáu mươi hai kiến, tuy có rất nhiều nguồn, nhưng gốc rễ của nó không ngoài hai kiến. Từ hai sinh ra bốn và trải ấm ba đời tức là sáu mươi hai vậy. Nên kinh Pháp Hoa có nói: “Hoặc hữu hoặc vô nương vào các kiến đầy đủ sáu mươi hai thứ.”
Phàm phu bốn giáo có năm thứ bốn kiến có, không:
1) Bốn kiến của phàm phu sinh ra sáu mươi hai thứ như vừa mới nói.
2) Bốn môn Tam tạng giáo chưa ngộ chấp trước tức là bốn kiến, như Đại luận nói: Nếu vào Tỳ-đàm tức đọa vào hữu, không môn, Côn lặc môn... đều đọa vào kiến.
3) Bốn môn của Thông giáo, nếu chưa được chân, chấp bốn trường hợp này (bốn cú) tức là bốn kiến. Như Đại luận nói: “Bát-nhã như lửa lớn, đốt nóng bốn bề không thể lấy.” Xem phẩm pháp ở Trung luận cũng có lời nói đó.
4) Bốn môn của Biệt giáo, như Đại kinh có nói: Sữa ví như Phật tánh bốn trường hợp. Nếu chưa thấy Phật tánh chấp bốn trường hợp này tức là bốn kiến.
5) Bốn môn Viên giáo, nếu chưa thấy tánh, chấp bốn trường hợp này cũng thành bốn kiến. Nên kinh Tư Ích nói rằng: Thật ngữ là hư ngữ, sinh ra ngữ kiến.
Cho nên trong Đại kinh nói: Từ đây trở về trước đều gọi là tà kiến. Lấy bốn giáo này trải qua ấm ba đời và hai vô ngã, mỗi thứ cũng đều sinh sáu mươi hai kiến. Có người nói: Đại Tập có loại phân biệt này chưa được viết thành văn. Sở dĩ nêu năm thứ sáu mươi hai kiến này, là để thành lời đáp của ngài Tịnh Danh, cho nên nói phải tìm ở sáu mươi hai kiến. Nếu từ sáu mươi hai kiến của phàm phu và bốn kiến của Ta- ng, Thông mà tìm, thì được cái “đản không”, tức là kiến ở Đồng cư và hữu dư. Nếu từ bốn kiến của Biệt, Viên mà tìm, thì được kiến của cõi quả báo. Nếu ở bốn kiến của Viên giáo... mà tìm cho đến lìa tất cả kiến thanh tịnh Tịnh thiền, tức là kiến Tịch quang. Như mê Nam cho là Bắc, thì từ chỗ mê mà tìm, liền được thấy gốc. Nay muốn tìm lý, chỉ căn cứ vào kiến mà tìm liền được chẳng phân biệt Không, nhập vào Thường tịch quang. Nên đáp nói ở sáu mươi hai kiến mà tìm.
Lần sáu, hỏi đáp “Lại hỏi… trung cầu”. Hỏi sáu mươi hai kiến phải tìm ở đâu? Đây là nói các kiến điên đảo xưa nay vốn không thật, nương vào đâu để khởi mà tìm thấy các kiến. Ngài Tịnh Danh liền đáp: Phải tìm ở giải thoát của chư Phật. Vì sao? Vì các giải thoát của chư Phật tức là tâm Thanh tịnh, Trung đạo tự tánh, không bị phiền não vấy nhiễm, vốn không phải trói buộc hay giải thoát, không nhiễm hay nhiễm, khó thể biết rõ. Tức là chúng sinh mê chân tánh giải thoát, nên khởi sáu mươi hai kiến mà có trói buộc, có giải thoát. Kiến này, không phải ở chỗ khác khởi lên, tức do mê chân tánh giải thoát mà khởi. Nay muốn tìm thấy các kiến mê tình này, thì phải tìm ở chân tánh giải thoát của chư Phật, thì biết nguồn gốc chỗ khởi sáu mươi hai kiến. Như muốn tìm băng giá thì không được lìa nước.
Lần bảy, hỏi đáp “Lại hỏi… trung cầu”. Nếu muốn tìm sáu mươi hai kiến thì phải từ chân tánh giải thoát của chư Phật mà tìm, thì quả địa ba đức giải thoát của chư Phật phải tìm từ đâu? Ngài Tịnh Danh liền đáp: Phải tìm ở tâm hạnh chúng sinh. Văn trên có nói: “Tùy tâm tịnh thì cõi Phật tịnh.” Nay quán tâm của chúng sinh nhập vào trí bổn tánh thanh tịnh, tột cùng nguồn cội chúng sinh, tức là hiển bày quả giải thoát của chư Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Phá một vi trần sinh ra Đại thiên kinh quyển.” Nên Ban Chu Tam-muội có nói: Chư Phật từ tâm mà được giải thoát. Tâm là thanh tịnh gọi là vô cấu. Năm đạo tươi sạch không nhận màu sắc, hiểu được nghĩa này là thành đại đạo. Nên ngài Tịnh Danh khuyên tìm ở tâm hạnh chúng sinh. Như khuyên tìm băng thì không được lìa nước.
Hỏi: Tìm chân tánh giải thoát cũng được thật tuệ và phương tiện
chăng?
Đáp: Tâm tánh chúng sinh tức là chân tánh, si ái tức là thật tuệ, các hạnh bất thiện tức là phương tiện, đầy đủ như trong huyền nghĩa nói về mười hai nhân duyên, ba thứ phi đạo thông suốt bất tư nghị, ba thứ Phật đạo giải thoát. Nếu thấy tâm chúng sinh tịnh tức cõi Phật tịnh, tức là ở tâm hạnh chúng sinh mà thấy ba thứ pháp thân giải thoát của Phật, không dọc không ngang, như chữ nhất ở đời. Do đó mà pháp thân cao tột, lìa thân không có cõi, lìa cõi không có thân. Thân cõi lý đồng, mà tên có khác. Như trời Đế Thích có nhiều tên, giải thoát cũng thế. Hoặc gọi là Tỳ-lô-giá-na, hoặc gọi là Thường tịch quang độ, nên thất trống của ngài Tịnh Danh biểu thị cho các Phật quốc là Không, chỉ đặt một giường để bệnh nằm, là biểu thị cho ba đức giải thoát. Nếu thấy thất trống, tức là thấy giường bệnh nằm. Nếu thấy giường bệnh nằm, tức là thấy thất trống. Nếu thấy tâm chúng sinh không, tức là thấy các Phật quốc không, tức là trong tâm hạnh mà tìm được ba giải thoát. Nên ngài Tịnh Danh nhân đáp Phật quốc tức không, vẫn đáp là giải thoát của chư Phật, thì lại giúp thành việc Phật nói chỉ thú giải thoát bất tư nghị, hiển bày tông chỉ Phật quốc, giúp Phật rộng hóa độ, chính ý là đây. Đến năm phẩm nói trong thất, tuy nói nhiều thứ, nhưng tóm tắt đường lối thì chỉ do đây mà ra.
Tiếp là phần đáp không có thị giả “Hựu nhân sở vấn…”, tức biểu thị cho tánh tịnh, không có các ái kiến, nên nói là Không có thị giả. Như người đời luôn hầu hạ ở hai biên, luôn chạy nhảy sai khiến, hầu hạ các thứ, chính là biểu thị việc này. Văn có hai: Chánh đáp và Giải thích.
- Chánh đáp: Tất cả các ma ngoại đạo đều là thị giả của tôi. Ý đáp này, là Đại sĩ lấy ma và ngoại đạo làm thị giả. Nay thất trống không có thị giả, là biểu thị cho Thường tịch quang không có ái kiến, tức không có ma ngoại, nên không có thị giả. Nhưng có nghĩa hầu hạ là, nếu ở ba cõi có chúng sinh ái kiến, tức là ma ngoại, thì ngài Tịnh Danh chuyển dùng họ để làm Phật sự, lợi ích chúng sinh, tức là nghĩa hầu hạ. Nếu chúng sinh ái kiến ở ba cõi tức không, chẳng có gì cả, là Không có nghĩa hầu hạ. Nhưng ngài Tịnh Danh vì chúng sinh ở ba cõi đều có ái kiến nên thị hiện ở các cõi, tức là có hầu hạ. Nếu ở Đồng cư cõi uế tức có Ba-tuần quyến thuộc và thuộc ái chúng sinh đứng hầu bên hữu, chín mươi sáu thứ Lục Sư và thuộc kiến chúng sinh đứng hầu bên tả. Vì sao? Vì ngài Tịnh Danh ở Đồng cư cõi uế hiện các thứ thân, không buông bỏ các ái, hoặc làm ma vương điều phục quyến thuộc để làm Phật sự, mà ở kiến không động, hoặc làm ngoại đạo hồi tà quy chánh, điều phục quyến
thuộc của họ để cùng làm Phật sự. Đây tức là dùng ái kiến tạo chúng sinh làm người hầu. Thị hiện ở Đồng cư tịnh cũng thế, chỉ không có bọn ác ma ngoại. Nếu kiến ái ở cõi Hữu dư, thì hàng Nhị thừa và Bồ-tát Thông giáo, sinh vào cõi ấy có thiền định trí tuệ. Thiền định là tánh ái, trí tuệ là tánh kiến, cũng là ái kiến tội cấu nghiệp đời trước, nên không thấy cõi thanh tịnh của Như Lai. Ngài Tịnh Danh cũng ứng hiện sinh, đồng có ái kiến với họ mà điều phục giáo hóa, khiến làm Phật sự tức là kẻ hầu vậy. Nếu Bồ-tát Biệt, Viên, tuy có phước tuệ, nhưng chưa thấy Phật tánh, chưa đoạn hết vô minh, tức là do ái kiến tạo nên, thì cũng là ma ngoại. Cõi biến dịch ấy, tuy không có Thiên ma, nhưng có ma ưa sinh tử, làm nhiễm Niết-bàn, tức là ái, vì ái nên có biến dịch quả báo tức là ma vậy. Tuy không có ngoại đạo ngoài lý chân đế, mà có ngoại đạo ngoài lý Trung đạo. Đại sĩ đối với ái không bỏ, đối với kiến không động, mà hóa độ, tức lấy chúng làm thị giả. Nếu ở cõi quả báo bắt đầu từ sơ trụ, tuy thấy thật đế, viên đoạn các kiến tư pháp giới, nhưng chưa đoạn hết, cho đến vị pháp vân cũng còn có ái kiến vi tế, bị các hoặc vô ngã trói buộc, nên còn ở một phẩm Tử Ma. Ngài Tịnh Danh vì họ hiện sinh cõi ấy, điều phục Bồ-tát do ái kiến tạo nên này để làm quyến thuộc, tức đều là thị giả của tôi vậy. Nếu ở cõi Tịch quang rốt ráo, các nghiệp chiêu cảm y báo đều hết nên nói không, chẳng có gì, dứt hẳn chẳng có ái kiến chiêu cảm Chánh báo, nên nói là Không có thị giả, ấy là thất trống không có thị giả, biểu thị xa vậy.
- Giải thích “Sở dĩ… bất động”, như đồng Cư sĩ lấy ái kiến ma ngoại làm thị giả, thì chúng sinh do ái kiến tạo nên ở ba cõi, cũng đều gọi là thị giả. Nếu ái kiến tức không, không bỏ không động, tức là Không có thị giả, tức không mà có ái kiến chúng sinh. Ngài Tịnh Danh không vướng vào Không buông không động mà điều phục, khiến đầy đủ tất cả các Phật pháp, tức có nghĩa thị giả. Cõi Tịch quang dứt hẳn không có ái kiến, tức không có ma ngoại, nên không có thị giả.
Phần c) Ngài Văn-thù hỏi tướng bệnh “Văn-thù…”. Có ba lần hỏi đáp:
Lần một, Hỏi thể tướng bệnh.
Lần hai, Hỏi dụng của bệnh.
Lần ba, Hỏi việc gây bệnh.
- Hỏi bệnh có những tướng gì, tức là hỏi thể tướng của bệnh. Sở dĩ hỏi, đã nói pháp thân thì các bệnh dứt hẳn, nhân đại bi mà hiện ra bệnh này. Bi tức là thể của bệnh. Có những tướng gì. Nếu có tướng nhất định thì luôn làm lợi ích, nếu không có tướng nhất định thì há có chỗ dùng.
Ngài Tịnh Danh đáp nói “Bệnh tôi không có hình tướng không thấy được.” Đây là nói pháp thân xưa nay không bệnh, vì đại bi thiện căn mà hiện ra bệnh này. Vô duyên đại bi không có nơi chốn, há lại có hình tướng. Nếu chúng sinh duyên với pháp duyên, có chỗ nương nhờ, thì có thể luận về hình tướng của nó. Nó đồng thể với đại bi không duyên không niệm, há lại thấy được. Như nam châm hút sắt, như bệnh hoạn của thân phàm phu còn không hình tướng, huống là pháp thân vô duyên mà thấy được ư? Cho nên đáp nói: Bệnh ta không hình tướng, không thể thấy, tức là đáp thể bệnh vậy.
- Hỏi về dụng của bệnh “Lại hỏi… như huyễn”. Sở dĩ hỏi dụng của bệnh, ứng thân có bệnh quyền tức là dụng của bệnh. Tiến thoái hai thứ cùng hợp với pháp nào? Cùng hợp với thân Kim cang hay hợp với tâm trí tuệ. Nếu cùng hợp với thân, thì pháp thân phải có bệnh ấy. Nếu cùng hợp với tâm, thì tâm lực vô úy... phải có khổ. Đây là dựa theo nghĩa tấn hợp mà hỏi. Sở dĩ ước Kim cang làm sắc, trí tuệ làm tâm là trích từ Đại kinh. Phật đáp ngài Sư tử hống. Nếu cùng thân chúng sinh hợp mà thân chúng sinh thật có bệnh, thì ứng thân phải thật có bệnh. Nếu cùng tâm chúng sinh hợp, mà tâm chúng sinh có thật khổ, nên ứng tâm cũng có thật khổ. Đây là ước nghĩa thối hợp mà hỏi. Nếu không cùng thân Kim cang và tâm trí tuệ hợp, thì vì sao lại gọi: Pháp thân khởi ứng từ đại bi sinh. Nếu không hợp với thân tâm của chúng sinh, thì sao lại nói ứng đồng bệnh ấy. Ngài Tịnh Danh đáp nói: Không phải hợp với thân, vì thân tướng vốn lìa. Như phàm phu bệnh hiện thấy không hợp cùng thân tâm, suy thân giả danh không thấy bệnh thật, chỉ có danh tự, mà danh tự thì không luận hợp hay không hợp. thân tướng vốn lìa nên tìm thật không được. Cho nên bệnh không hợp với thân cũng không hợp với tâm vì tâm như huyễn, niệm niệm không dừng trụ, huống là ứng thân bệnh quyền mà hợp với thân Kim cang ư. Vì thân tướng vốn lìa, mà cùng hợp với tâm trí tuệ. Vì tâm như huyễn, nên chỉ có danh tự. Ví như gương sáng, tất cả hình ảnh màu sắc đều hiện trong gương các hình ảnh này không hợp với gương. Vì sao? Nếu gương tròn đầy thì hình tượng cũng tùy tròn theo, nếu không tròn đầy thì phải biết hình ảnh không hợp cùng gương, cũng không hợp với hình. Vì sao? Vì ngoại đạo là hình thật còn hình ảnh này không thật. Hình không thật thì đâu thể thật hợp. Tuy không cùng gương hợp, nhưng nhân gương hiện ra ảnh, tuy không hợp cùng hình nhưng hình đối với gương thì ảnh sinh. Bệnh này cũng thế. Không hợp cùng thân Kim cang và tâm trí tuệ. Vì sao? Vì thân Kim cang vốn tướng lìa, tâm trí tuệ như huyễn, vì tánh vốn không bệnh cũng
không cùng thân tâm phàm phu hợp nhau. Vì sao? Vì thân phàm phu vốn lìa, tướng bệnh không dừng, tâm thì như huyễn hóa bệnh ở vào đâu. Phàm phu thì bệnh thật, mà bệnh này lại quyền hiện tuy không cùng pháp thân và phàm phu hợp nhau, nhưng nhân đại bi khởi, mà có bệnh thật. Nên từ vô trụ vốn lập tất cả pháp mà hiện có bệnh ở ba cõi, nên lấy gương làm dụ.
- Hỏi việc gây bệnh “Lại hỏi… bệnh của ta”. Sở dĩ hỏi, là hễ có bệnh thì ước vào thân. Thân có bốn đại như bốn rắn độc lại tranh hại nhau. Đại Luận nói: Bốn rắn đuổi nhau luôn tàn hại nhau, một đại không điều hòa thì có một trăm lẻ một bệnh não. Nên văn nói Bồ-tát vì chúng sinh có sinh tử, có sinh tử thì có bệnh. Vì sao? Vì ứng hiện chịu thân rắn độc này tức có bốn đại. Nay hiện thân có bệnh, thì đại nào bệnh. Ngài Tịnh Danh đáp nói: Không phải Địa đại. Nếu Địa đại là bệnh thì đất đá rừng cây cũng phải là bệnh. Nếu các thứ này... Không phải bệnh, sao được nói Địa đại là bệnh. Thủy, hỏa, phong cũng lại như thế. Bốn đại ngoại đạo không phải, thì bốn đại bên trong cũng thế. Lại nữa, nếu bốn đại là bệnh, thì những gì có bốn đại này đều phải là bệnh, đâu được nói hoặc có hoặc không. Nếu khi không bệnh thì phải Không có bốn đại. Tuy có bốn đại, nhưng có lúc không bệnh. Nên biết bệnh không phải bốn đại, cũng không lìa bốn đại, chỉ ước thân này được luận là có bệnh. Ví như nhân đích mà có tên trúng há lìa bốn đại mà riêng luận bệnh, nên nói không lìa địa đại. Ngài Tịnh Danh cũng thế. Tuy đồng bệnh thật hà tất phải đồng ngay bệnh khổ ư? Nên nói không phải bốn đại vậy. Không lìa, vì ngài Tịnh Danh là bệnh thật thế nên phải đồng lý do của ứng bệnh thành bệnh thật. Nên nói là Không lìa, tức là Không lìa để luận bệnh quyền vậy. Lại không phải địa đại, là như Thỉnh Quan Âm nói: Địa không có tánh bền chắc, tánh thủy không dừng, lửa từ duyên sinh, tánh gió không ngăn ngại mỗi mỗi đều nhập vào bờ mé như thật. Thật tế của bốn đại tức không phải bệnh, nên nói không phải bốn đại. Không lìa là chúng sinh không hiểu rõ bốn đại như thật, nên khởi các bệnh. Do đó mà ứng thân đồng bệnh bốn đại, nên nói không lìa. Cho nên ngài Tịnh Danh nói: Vì bệnh chúng sinh từ bốn đại khởi lên mà có bệnh. Thế nên tôi bệnh, là chúng sinh do bốn đại tạo nên, cũng hiện thân do bốn đại tạo nên. Vậy bốn đại tức là việc gây bệnh. Nay khắp ước ba cõi, nếu ba cõi có bệnh thì ngài Tịnh Danh có đại bi này. Thể của bệnh không hình tướng cũng như hư không, tuy lại hiện đồng nhưng không hợp nhau với thân tâm ba cõi. Việc tạo nên bệnh vốn do đại bi, nào có liên quan chi đến bốn đại, cũng không lìa bốn đại, nên sinh ở ba
cõi mà hiện bệnh quyền. Nên nói “thế nên tôi bệnh.” Cho đến tâm Kim cang ở vị pháp vân cũng thế.
Tiếp hỏi bệnh thật trong nhân “Bấy giờ, Văn-thù-sư-lợi…”. Sở dĩ hỏi tiếp, vì từ trước đến đây là bệnh quyền nhân đâu lại đồng bệnh thật, vì có bệnh thật nên bèn phương tiện hiện đồng sự để trị bệnh. Thế nào là vì chúng sinh bệnh thật mà nói pháp, thế nào là an ủi ủy dụ bệnh thật Bồ-tát. Văn có hai:
a) Hỏi về người tín hành.
b) Hỏi về người pháp hành. Vì sao?
Hỏi an ủi như thế nào? Ngài Tịnh Danh đáp dùng ba giáo để ủy dụ, tức là người tín hành. Từ đó lại hỏi làm sao điều phục. Ngài Tịnh Danh đáp: Dùng ba quán để điều phục, tức là người pháp hành. tín hành, tất phải nhờ ngoại duyên, luôn vì nói pháp, chỉ bày rõ ràng mới được ngộ, tức là hàng độn căn? Còn pháp hành thì không chuyên nhờ ngoại duyên, ít việc học hỏi nghe pháp, mà luôn quán hạnh để nhập đạo, tức là hàng lợi căn. Cũng chưa hẳn nhất định như thế, chỉ vì tín pháp hai hạnh xen nhau các Căn lợi độn, tánh chất không đồng. Ngài Văn-thù nhân đây đặt hai câu hỏi. Lại nữa, chúng sinh nhiều kiếp có lúc nghe pháp, có lúc tự tu, nên hỏi về ủy dụ và điều phục để xin nói ra ba giáo, ba quán. Nếu đem ba giáo mà thành kinh trên ở ngoài thất, tức là dùng Thông giáo để ủy dụ và từ Giả vào Không quán để điều phục, để thành việc nói pháp cho quốc vương, trưởng giả, chê trách hữu vi duyên tập. Nếu dùng Biệt giáo để ủy dụ, thì từ không vào Giả, quán để điều phục, mà thành việc chê trách vô vi duyên tập của mười đệ tử Phật. Nếu dùng Viên giáo mà ủy dụ, thì không giả một tâm ba quán, để điều phục là thành việc chê trách tự thể duyên tập của Bồ-tát. Nếu đem thành đoạn văn sau này, thì từ trên đã hỏi về bệnh quyền, lấy phẩm Bất Tư nghị làm gốc. Nay hỏi bệnh thật, nếu dùng Thông giáo mà ủy dụ và từ Giả vào Không để điều phục, thì lấy phẩm Quán Chúng Sinh làm gốc. Nếu dùng Biệt giáo để ủy dụ, từ không vào Giả để điều phục, thì lấy phẩm Phật Đạo làm gốc. Nếu dùng Viên giáo để ủy dụ, Trung đạo chánh quán để điều phục, thì lấy hai phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn và Hương Tích làm gốc. Nhưng chẳng dùng Tam tạng giáo, vì đây là nghĩa Ma-ha-diễn.
Khi chưa vào thất nói bốn giáo là để chiết phục chê trách việc mê đắm dục lạc của phàm phu Tiểu thừa. Nay vào thất nói ba giáo ba quán, chính vì muốn nhiếp thọ, phân biệt như trước. Nên biết một bộ kinh này nói ba quán bốn giáo, lời văn rất rõ ràng sáng tỏ, so trước nhìn
sau các nghĩa tương đương. Cùng một nhà dùng bốn giáo ba quán hơi giống. Cho nên trước ở huyền nghĩa đã nói đủ bốn giáo ba quán, ý là ở đây vậy. Lược xét đã xong.
* Nay ngài Văn-thù trước hỏi nói Bồ-tát ủy dụ Bồ-tát có bệnh như thế nào? Tức là mời nói giáo môn an ủi.
Ngài Tịnh Danh đáp “Duy-ma…”. Văn có bốn: Ba tức là ủy dụ của ba giáo và bốn là kết thành. Nay nói ba giáo là chỉ an ủi ủy dụ Bồ-tát không lấy hàng Nhị thừa, vì không từ bi mà nhập hẳn vào Niết-bàn. Nên nay dùng Tạng Thông cùng thành một giáo để ủy dụ, các bệnh hữu vi kiến tư nội giới chưa đoạn hết, Bồ-tát có bệnh thật nhân quả phần đoạn, cho nên cần Tam tạng giáo giúp Thông giáo Đại thừa mà ủy dụ. Cũng được gồm dùng Biệt, Viên mà ủy dụ. Nếu nói Biệt giáo chính là ủy dụ Bồ-tát có hữu vi, vô vi duyên tập, vì họ có bệnh thật nhân quả Vô tri biến dịch, nên phải dùng Biệt giáo mà ủy dụ. Nếu nói Viên giáo, chính là để ủy dụ Bồ-tát có tự thể duyên tập, vì họ có bệnh thật nhân quả tự thể, nên dùng Viên giáo mà ủy dụ.
Dùng Tạng, để giúp thông mà ủy dụ, là khuyên họ từ Giả vào Không quán tu tất cả trí tuệ nhãn. Văn có hai:
a) Từ quả Giả vào Không.
b) Từ nhân Giả vào Không.
Quả là thân năm ấm vọng hoặc do ba thứ giả có nên gọi là quả giả, tức là bốn hành trong khổ đế, vô thường đứng đầu.
Nói thân vô thường nhưng không nói chán lìa thân, là như Thanh văn quán thân vô thường, khởi chán lìa, mà bỏ xa sinh tử. Bồ-tát thì không thế. Họ quán thân vô thường hoặc tích hoặc thể để phá thường điên đảo, mà không nói chán lìa để phá tâm Nhị thừa Bồ-tát. Tuy biết vô thường niệm niệm tiêu mất nhưng chưa độ chúng sinh, chưa đủ Phật pháp thì trọn không buông bỏ.
Nói thân có khổ mà không nói ham thích Niết-bàn, là Thanh văn quán khổ thì ham cầu Niết-bàn. Bồ-tát thì không thế. Họ hoặc tích hoặc thể hiểu khổ là Không khổ, để phá chấp lạc điên đảo, nhưng chưa độ chúng sinh, chưa đủ Phật pháp, thì trọn không thể nhập Vô dư Niết- bàn.
Nói thân vô ngã mà nói giáo dẫn dắt chúng sinh, là Thanh văn quán thân vô ngã mà chứng diệt, không từ bi cứu độ chúng sinh. Bồ-tát thì không thế. Họ hoặc tích hoặc thể mà quán ngã giả nhập vào vô ngã, là phá mười sáu tri kiến chấp ngã điên đảo, không chấp nhận chúng sinh có tướng rốt ráo không, nên hay vì chúng sinh mà nói pháp vô ngã,
như thế mà truyền dạy.
Nói thân không tịch mà không nói tịch diệt rốt ráo. Vì pháp Thanh văn nhập chân thì rơi vào tịch diệt, Bồ-tát thì không thế. Họ hoặc tích hoặc thể nhập giả thật hai không, mà biết lý Trung đạo, không lấy thiên chân làm rốt ráo. Ấy là tuy còn từ Giả vào Không mà muốn vào Trung đạo làm dòng dõi không bỏ quần sinh. Cho nên vì Thanh văn quán khổ có khác, ý là ở đây vậy.
- Nói ủy dụ “Thuyết hối… quá khứ) khiến quán nhân Giả vào Không. Nhân tức Tập đế, các kết nghiệp đều là nhân của khổ. Hàng Nhị thừa vì Niết-bàn chỉ đoạn gấp các kiết mà không sám hối các tội đời trước. Vì ngài Thân Tử có tội nên không thấy Tịnh độ là ý ở đây vậy. Bồ-tát biết rõ tánh phiền não nên không vội vã đoạn kiết, mà vào ngay Niết-bàn, chỉ lấy sám hối làm đầu được tịnh các công đức nên ngài Loa Kế thấy tịnh, là ý ở đây vậy. Đây chính nói quán nhân Giả vào Không, nếu chỉ quán quả Giả vào Không thì không phải lìa hoặc bốn trụ, mà tội xưa không trừ thì nói làm chướng pháp môn công đức hóa tha. Bồ-tát vì độ chúng sinh ắt cần phải trừ tội, nếu không còn oán đối tức có thể được giáo hóa. Nên Bồ-tát giới cấm sát làm đầu, còn Thanh văn giới thì cấm không trái phạm hạnh làm đầu, là ý ở đây. Nay nói Bồ- tát tu từ Giả vào Không mà sám hối tội quá khứ, cho nên nói sám hối tội trước. Như Tỳ-đàm nói ba đời có tội từ vị lai đến hiện tại nhập vào quá khứ thành dây nhợ trói cột người tu. Hoặc Thành luận nói hai đời không tội chỉ tùy tâm ở hiện tại. Nay Bồ-tát quán vô sinh sám còn không có ba đời, huống là tội nhập vào quá khứ và ở hiện tại. Chỉ vì ở quá khứ điên đảo vọng tạo ra các tội. Nếu biết tâm ta tự không, tội phước không chủ, như đây mà sám hối thì các tội như sương mốc bị mặt trời tuệ diệt trừ. Thể Giả vào Không phá các vọng tội tạo ra từ xưa, nên nói sám hối tội trước ba đời trống không, nên không nhập vào quá khứ.
Nói về dụng “Dĩ dĩ…”, nói dùng Biệt giáo mà ủy dụ vô vi duyên tập. Bồ-tát tự có bệnh thật nhân quả, hằng sa biệt hoặc, khiến từ không vào Giả quán phá vô tri, được pháp nhãn đạo chủng trí, thấy cơ nhập giả mà hóa vật. Văn có năm:
a) Ủy dụ khuyên khởi Bi tâm.
b) Khuyên pháp nguyện nhiêu ích chúng sinh.
c) Khuyên tu phước tuệ.
d) Khuyên sinh tâm mạnh mẽ.
e) Khuyên tinh tấn không lui sụt.
Nếu đủ năm điều này tức việc nhập giả quán đã thành, có thể lợi
ích cho tất cả.
Do biết bệnh mình mà thương xót bệnh người, nên trước khuyên khởi tâm bi. Vì sao? Vì hàng Nhị thừa không có tâm Bi chỉ chìm đắm trong không mà hưởng vui. Bồ-tát ra khỏi giả nên cần khởi đại bi.
Hỏi: Bồ-tát tự mình có bệnh thì có thể thương người khác, mình đã không bệnh sao được thương người khác bệnh. Lại Biệt giáo tuy có vô minh trần sa cùng phần đoạn khác nhau, sao được lấy mình mà thương người khác?
Đáp: Đây có hai cách giải:
1. Bồ-tát khi đoạn bốn trụ chỉ có vô minh và tập liền nghĩ rằng: Ta nay bị bệnh vô minh còn thế huống chúng sinh cụ phược, sao có thể chịu được khổ nặng ở nội giới. Ấy là so mình nhẹ mà thương người nặng nên cần ra khỏi giả.
2. Giả bệnh vô minh thì nhẹ, bệnh bốn trụ là nặng, sao được lấy nhẹ mà thương nặng. Phải biết đời trước đã trải vô số kiếp khổ, vì việc khổ xưa mà thương xót tất cả. Như kẻ nghèo hèn được làm vua do biết rõ mọi khổ vui của người mà nghĩ làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.
b) Nói ủy dụ khuyên phát nguyện lớn, tức từ bi mà khởi thệ nghĩ muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. Tức là nhập giả thắng duyên, nhớ nghĩ việc tu phước, luôn nghĩ đến tịnh mạng.
Nói ủy dụ khiến tu phước trí, khi đã vào Không thì không phước không mạng sống. Đây là nhập giả tu muôn hạnh, như trồng cây trên không trung. Tu phước, tức phước đức trang nghiêm, tịnh mạng tức trí tuệ trang nghiêm. Như Đại luận nói bốn thứ, năm thứ chánh mạng đều là việc này. Nếu không có chánh kiến thì tuệ mạng đều là, sao có thể thương người khác khiến không sinh ưu não.
Nói ủy dụ khuyên sinh tâm mạnh mẽ. Nghe sinh tử vô lượng kiếp mà ý mạnh mẽ. Tâm Thủ-lăng-nghiêm mới có thể vào Giả hóa độ chúng sinh. Nếu sợ sệt buồn khổ hoặc lui sụt thì rơi vào Nhị thừa. Nên nói chớ sinh ưu não phải khởi tinh tấn.
Ủy dụ khuyên tu tinh tấn: Bồ-tát có bệnh nếu muốn vào Giả, ắt cần tinh tấn không được nghỉ ngơi, chưa đủ Phật pháp Không được thủ chứng. Lại mới muốn gánh vác không nên biếng nhác. Đây tức là từ không vào Giả, lợi ích cho tất cả. Nếu nói không là chẳng có gì, không tu tinh tấn liền lui sụt rơi vào Nhị thừa, há có thể từ không vào Giả mà lợi ích cho tất cả. Nên làm vua thuốc trị lành các bệnh.
Nói dùng Viên giáo để ủy dụ. Bồ-tát có bệnh thật tự thể duyên tập thì khiến tu không giả, một tâm ba quán mà được pháp nhãn Nhất
thiết chủng trí. Nếu các phương tiện giáo thì đây không phải là thầy thuốc lớn, nên không gọi là vua. Viên giáo phát tâm làm ba đế Viên quán của Phật, nếu được khai Phật tri kiến là Đại y vương, hay viên tập các pháp dược mà trị bệnh cho cả pháp giới. Nên nói làm vua thầy thuốc trị lành các bệnh, bệnh mình bệnh người đều lành rốt ráo. Văn ủy dụ này nói đủ ý bốn giáo ba quán, vì lược bỏ mà văn chưa sáng tỏ. Đến đoạn giải thích về ba quán sau này, thì văn mới sáng tỏ đầy đủ.
Kết thành “Bồ-tát… hoan hỷ”, tức là khuyên ba giáo để ủy dụ ba thứ Bồ-tát bệnh thật. Nếu nương vào giáo mà đoạn trừ ba thứ duyên trói buộc giải thoát về bệnh hoạn nhân quả ở ba cõi tức ai nấy đều vui mừng.
-------------------------------------
PHẨM: THĂM BỆNH
(Phần 3)
* Tiếp, vì Bồ-tát bệnh thật hỏi quán pháp để điều phục “Văn-thù- sư-lợi nói…”. Lại có hai: Một là, Văn-thù-sư-lợi hỏi. Hai là Tịnh Danh đáp.
Về hỏi, ý cũng như trước nói về pháp hành, đối chung hai hành giúp nhau phát triển nên hỏi.
Ngài Tịnh Danh đáp “Duy-ma…”, chính căn cứ ba quán để điều phục. Vì sao? Vì ba quán phá ba hoặc, tức là tu ba trí ba nhãn để điều phục ba thứ bệnh thật nội giới của Thông biệt viên, cũng là điều phục bệnh thật nhân quả ba cõi. Văn có ba phần:
a) Căn cứ từ Giả vào Không để điều phục bệnh kiến tu nội giới.
b) “Vì không có chỗ thọ nhận…) là nói từ không vào Giả để điều phục bệnh vô tri.
c) “Bồ-tát có bệnh tự nghĩa…) là nói chánh quán Trung đạo để điều phục bệnh thật vô minh, nghĩa của ba quán nói đầy đủ như ở huyền văn.
Phần (a) lại lược nói về tướng của ba quán. Tam tạng giáo đã không thấy Chân không cần phải luận. Về Thông giáo thì ba quán chỉ dựa vào hai đế nên chỉ thành hai quán mà không có quán thứ ba, không phải là ý đáp hiện nay. Nay chỉ dựa vào Biệt, Viên giáo chọn lấy ba quán, thì có ba thứ: Biệt tướng. Thông tướng. Nhất tâm.
- Biệt tướng, (tướng riêng) lần lượt quán riêng ba đế, từ Giả vào Không chỉ được quán chân, còn không quán tục há được quán trung. Từ không vào Giả chỉ được quán tục cũng chưa quán Trung. Nếu nhập Trung đạo mới được song chiếu. Huyền nghĩa đã nói đủ.
- Thông tướng, (tướng chung) có khác với đây. Từ Giả vào Không không phải chỉ Tục không, mà chân Trung cũng không. Từ không vào Giả không phải chỉ tục giả, chân Trung cũng giả. Nếu vào Trung đạo không phải chỉ biết Trung là Trung, tục chân cũng trung. Ấy là một không thì tất cả không, chẳng có giả trung nào chẳng không. Một giả thì tất cả giả, chẳng có không trung nào chẳng giả. Một trung thì tất cả trung, chẳng có không giả nào chẳng trung. Chỉ dùng một quán mà giải tâm đều thông. Tuy nhiên đây là tín giải giả thông, đến quán trừ bệnh đều có trước sau.
- Nhất tâm, biết tâm một niệm bất khả đắc bất khả thuyết mà luôn quán trọn cả ba đế. Tức kinh này nói: Một niệm biết tất cả pháp là đạo
tràng, thành tựu tất cả trí. Huyền nghĩa đã nói đủ.
Ba thứ tam quán này, ban đầu là tướng riêng chính ở Biệt giáo, tướng chung và nhất tâm là thuộc Viên giáo. Nay sáu phẩm trong thất chính là thuộc tướng chúng hoặc dùng nhất tâm. Sao biết được? Trước hết từ Giả vào Không, quán rằng: Chỉ có bệnh không, bệnh không cũng không. Đây giống như không ở Trung đạo. Lại phẩm Quán Chúng Sinh là từ Giả vào Không quán suốt ba đế. Xem văn mới thấy.
Hỏi: Hai thứ ba quán này đều là Viên, sao lại là hai?
Đáp: Thông tướng căn cứ chung. Luận Viên e là Phương đẳng kèm phương tiện của Viên, không đồng với Pháp hoa.
Nay nói từ Giả vào Không quán, cũng gọi là quán hai đế, tức là tu tất cả trí tuệ nhãn. Văn có ba: Một là Quán chúng sinh Giả Không. Hai là, Quán thật pháp Giả Không. Ba là, Quán bình đẳng Giả Không.
Quán chúng sanh giả không: Văn kinh hoàn toàn giống như phân tích giả. Vì sao? Trước phá ngã tưởng và chúng sinh tưởng là chúng sinh Không. Kế đến phải khởi pháp tưởng, là riêng tu pháp Không. Đây trái với dụ hình ảnh ngón tay và nắm tay trong gương. Nay nói không phải thế. Đây có ý riêng. Nếu người Thanh văn chỉ cầu tự độ thì tướng chung phá người tức là phá pháp Không. Bồ-tát vì hóa độ chúng sinh mà có tướng chung tướng riêng. Nếu tướng chung chỉ thể nhập ba giả đều như huyễn hóa. Về tướng riêng mà quán vào Không, trước cần phân biệt chúng sinh, Thật pháp, bình đẳng Không nhầm lẫn, sau đó mới quán Không. Vì sao? Vì Bồ-tát tập họp pháp dược cần phải phân biệt kỷ, vì phải phân biệt thuốc và bệnh để làm phương tiện. Do đó Đại luận giải thích việc Bồ-tát dùng đạo chủng tuệ để vào Không, là khắp phân biệt các đạo mới vào Không vậy. Cho nên kinh này nói tuy trước quán chúng sinh vào Không mà lại cần phải khởi pháp tưởng.
Đoạn văn sau nói: Lấy gì làm Không? Chỉ lấy danh tự nên không. Nếu nói chỉ lấy danh tự, tức là như huyễn như hóa là ý thể Giả nhập không.
Trước nói chúng sinh Không, văn có ba:
1) Chính nói phá chúng sinh Giả vào Không tức là căn cứ nhân mà phá quả.
2) Giải thích là ước quả phá nhân.
3) Kết thành.
- Đời trước vọng tưởng tức là vô minh và hành thường chiêu cảm năm quả thức... đời này, nếu có quả này tức là có bệnh. Do nhân hư vọng, quả báo không thật, lý đúng là hư giả trong ấy không có ngã, nên
nói ai thọ nhận. Văn này cũng không phán xét tích thể. Nay so nghĩa văn dưới, suy ra phần nhiều là dùng thể giả.
- Giải thích “Sở dĩ… sinh đắm trước”, tức là dùng quả phá nhân, quả tức là thân này là bốn đại không chủ. Vì không chủ nên vô ngã. Phá bốn đại, như trước đã dựa theo thỉnh Quan Âm nói. Nói dùng quả phá nhân là kinh nhắc lại mà giải thích rằng: Lại bệnh này đều do đắm trước ngã. Do mê quả này mà chấp ngã tức là si, thuận theo ngã tức là tham, trái ngã liền sinh sân, tức ái, thủ, hữu cho nên có sinh tử ở vị lai, các khổ không dứt. Nếu biết vô chủ thì không chấp ngã và khởi ái, thủ, hữu, nên nói là dùng quả phá nhân.
- Kết thành “Đã biết… sinh tưởng”, nếu biết vọng chấp là gốc bệnh, tức là trừ ngã tưởng và chúng sinh tưởng. Nếu tưởng ngã nhân diệt thì mười sáu tri kiến và sáu mươi hai kiến, tất cả thuộc kiến phiền não đều diệt, tức là quả Tu-đà-hoàn trí đoạn, là Bồ-tát Vô sinh pháp nhẫn.
Tiếp nói về pháp Không “Đương khởi…”. Văn có ba:
1) Phân biệt pháp.
2) Phá trừ.
3) Giải thích.
- Phân biệt pháp. Bồ-tát vì lợi ích chúng sinh, trước phân biệt pháp tướng rồi mới nhập không. Nên Đại luận nói: “Trước dùng pháp trí phân biệt các pháp, sau đó mới dùng trí Niết-bàn.” Do đó nhập quán chúng sinh Không rồi lại khởi pháp tưởng phân biệt các pháp, sau đó mới có thể nhập pháp mà vào Không. Như ngài Thân Tử lợi căn nhập kiến đạo xong liền mới có thể đoạn kiết mà thành quả A-la-hán. Dừng lại bảy ngày để theo Phật làm tướng chuyển pháp luân. Nên cần ở bậc Hữu học khắp biết các pháp người học phải làm, rồi mới chứng La-hán. Nay Bồ-tát muốn quán pháp từ Giả vào Không, trước phải khởi pháp tưởng. Chỉ vì các pháp họp thành thân này, tức trước phân biệt các pháp nhân duyên, đó là hai nhân ở quá khứ mà thành năm quả ngày nay, do các pháp ấm, nhập, giới tạo thành thân giả danh, cũng là pháp mười pháp giới. Sao biết được? Vì thân chúng sinh đầy đủ sáu đạo, sau phá Niết-bàn tức phá bốn thứ người tu chấp Niết-bàn.
Khởi chỉ là pháp khởi, là ấm, nhập, giới chỉ là pháp sinh trong ấy không có ngã kiến khởi khiến diệt. Lại hiểu khởi là chỉ là pháp khởi, là pháp khởi nhân quả sáu đường. Diệt chỉ là pháp diệt là bốn thứ Thánh nhân được hai thứ Niết-bàn, tức là pháp diệt nhân quả tam giới. Lại pháp này, là mỗi thứ đều không biết nhau, là sắc không biết tâm, tâm
không biết sắc. Nhập, giới đều như thế mỗi thứ không biết nhau. Vì sao? Vì các pháp vô tánh, vô tri giả kiến giả. Do đâu mà biết, lúc khởi không nói ngã Khởi. Trước nói “Không biết” là đều không biết nhau. Nay nói các pháp vô tánh không biết nhau khởi lên, tuy có pháp khởi nhưng không có tánh mình và người, hư giả không thật, khi diệt không nói là ngã. Nghĩa diệt cũng thế.
- Nói phá trừ pháp tưởng “Bỉ hữu bệnh… Niết-bàn...” , là diệt pháp tưởng, là biết pháp tưởng điên đảo, là tai họa lớn. Không có pháp mà sinh pháp tưởng tức là điên đảo. Đây tức là thể nhập như huyễn hóa. Không đồng với người số luận pháp tưởng tức là si, trái và thuận tức là tham và sân. Nhân đó có mười sử, chín mươi tám sử, các nghiệp thiện ác khởi lên tức có bệnh thật nhân quả phần đoạn, nên nói tức là “tai họa lớn.” Cho đến chấp có bốn hạng người Niết-bàn, đều là tai họa lớn. Ta phải nên lìa bỏ, là lìa các pháp tưởng hai biên điên đảo. Đây có hai nghĩa:
a) Biết pháp được phân biệt đều như huyễn hóa mà được lìa pháp tưởng.
b) Biết do tâm thì có phân biệt.
Nếu thể nhập nội tâm tùy lý ba giả tạo thành không có mình người... Huyền nghĩa đã nói từ Giả vào Không, bốn mươi tám lần phá kiến tức không có có, không... bốn kiến pháp tưởng. Lại dùng chín trăm bảy mươi hai lần phá tư, tức là tư duy pháp tưởng trong tam giới hoàn toàn hết. Đó là quả Tư-đà-hàm cho đến A-la-hán trí đoạn, đều là Bồ-tát Vô sinh pháp nhẫn. Tức là thể pháp giả nhập không. Thế nào là lìa, lìa ngã, ngã sở, nội tâm pháp tưởng là ngã, chấp mười pháp giới là sở. Nếu thể nhập nội tâm hay khởi pháp tưởng điên đảo huyễn hóa không có mình người... Như trước phá, tức là lìa ngã. Nếu hiểu mười giới huyễn hóa hư giả không mình người... tức là lìa sở. Thế nào là lìa ngã, ngã sở..., trước ước lìa năng quán ngã là nội, lìa sở quán ngã là ngoại, gọi là Không nghĩ hai pháp. Trong đây tức sinh tử nội giới là nội, Niết- bàn ngoại giới là ngoại, gọi là Không nghĩ hai pháp. Nếu hai biên đều không, thì gọi là bình đẳng, tức là thể giả nhập pháp Không, nghĩa là ngã bình đẳng Niết-bàn bình đẳng như trước đã nói. Tâm hay khởi pháp tưởng là ngã. Ngã này tức không, Niết-bàn là sở, sở cũng tức không, lý không chẳng hai, tức là bình đẳng vậy. Cũng nên nói rằng sinh tử là sở. Niết-bàn còn không huống là pháp sinh tử.
- Giải thích “Sở dĩ… định tánh”, ngã và Niết-bàn là hai thứ đều không, tức là từ thể nhập pháp hai biên là giả để vào Không. Lại nhắc
lại giải thích nói chỉ vì danh tự nên là Không. Hai pháp Không có tánh nhất định. Đây chính là hiển bày thể nhập pháp giả không, chính ý là ở đây. Nên trước phán xét cái quán đầu này là thể nhập cái không của Đại thừa. Vì danh tự rỗng không, nên tánh không quyết định, tức là sinh tử và Niết-bàn đối đãi nhau mà có danh tự, không có pháp nhất định là sinh tử hay Niết-bàn. Tìm xét bốn trường hợp. Nếu bất khả đắc mà nói hai pháp là chỉ có danh tự không có tánh quyết định.
Cuối cùng nói bình đẳng Không “đắc thị… diệt không”. Tức là thể nhập bình đẳng giả để vào Không. Nói bình đẳng là sinh tử hữu vi, Niết- bàn vô vi, e pháp khác nhau nên không bằng nhau, nay hai pháp đều không, chẳng có hai tướng khác nhau tức gọi bình đẳng. Nếu còn bình đẳng thì không phải là Bình đẳng Không. Như còn sinh pháp thì không phải sinh pháp Không. Đắc là bình đẳng chỉ có không bệnh là đẳng tức là thể nhập bình đẳng giả để vào Không. Sở dĩ bình đẳng là giả là đối đãi với bất bình đẳng mà có bình đẳng, tức là giả đối nhau. Tìm xét bốn trường hợp. Nếu bất khả đắc chỉ có danh tự, mà danh tự tức Không, tức là thể nhập bình đẳng Giả Không, bệnh không cũng không.
Hỏi: Đây là trái với kinh Anh Lạc nói: Từ Không vào Giả mới là bình đẳng. Vì sao lại lấy quán đầu nói là bình đẳng Không.
Đáp: Bồ-tát lợi căn nếu không được sinh tử biết Niết-bàn cũng không, có thể xa phá bệnh trệ không, gọi là bình đẳng Không. Đây có hai thứ: Thông giáo vào Không, chưa phát khởi chân trí, vọng chấp Niết-bàn sinh ra hý luận. Đây như Đại luận phá Đệ nhất nghĩa không, dẫn Tỳ-đàm hữu duyên vô vi sinh sử. Biết bệnh không cũng không tức là chẳng có bệnh không. Thấy Đệ nhất nghĩa là ý của Thông giáo. Biệt và Viên giáo không thế. Nếu thấy thiên chân mà khởi nhiễm trước là Không thể vào Giả, như trụ ở hóa thành nên gọi là bệnh không. Biết không cũng không tức là Trung đạo. Lại nữa, nếu nói ngã đẳng... tức sinh tử không, Niết-bàn đẳng... tức chân đế không, bệnh không cũng không, tức là vọng chấp, Trung đạo bệnh không cũng hết. Xem ý văn tức như thế. Quán này tức tướng chung vào Không, chẳng phải chỉ giả không mà Trung chân cũng không. Quán đầu tuy như thế nhưng vị và hạnh sau cùng từ Giả vào Không, há biết không của Trung như vô minh tức đoạn giống như Thanh văn ở đạo phương tiện chưa vào chánh vị. Tuy hư tâm phá không nhưng thật chưa thấy Đế. Xét kỷ ý này cùng với ủy dụ lần đầu ý đồng.
Phần (b) từ Không vào Giả “ là có bệnh…”, từ không vào Giả để điều phục bệnh vô tri. Quán này chính là điều phục bệnh thật vô tri nội
ngoại giới, cũng gọi là bình đẳng quán, tức là tuy pháp nhãn đạo chủng trí. Đây chính là Phật đạo phẩm làm gốc. Vì không chỗ thọ nhận tức vẫn là Không quán nói trên đã đoạn các thọ nội giới. Sở dĩ nhận các thọ này vì hóa độ các chúng sinh ái kiến. Xuất giả có ba thứ:
1) Từ Niệm xứ tương tợ Không mà xuất. Vì sao? Vì Bồ-tát có tâm hóa vật thì nặng mà tự lợi thì nhẹ. Vì từ bi nặng nên không lo việc đoạn kiết. Từ tương tợ không, liền khiến xuất giả, kiến tư chưa đoạn nên nói có bệnh.
2) Từ kiến Đế trọn không lui sụt bèn xuất giả. Tư hoặc chưa hết, tức là có bệnh.
3) Đoạn kiến tư hết rồi mới xuất giả. Thông giáo ngang đây. Đây mới là Không có chính bệnh ở tam giới, cũng còn tập khí vô tri cũng là có bệnh. Như Biệt giáo nhập vào vô lượng Tứ đế, Giả của trần sa nên gọi là nhập giả. Chỉ Biệt, Viên đều có quán nhập giả. Nay lấy Thông giáo mà đoạn hết phần đoạn, chính là ở Biệt giáo xuất giả. Nên nhờ thông mà hiển bày, không phải là dùng Thông. Nhưng Thông giáo thì Biệt hoặc, kiến tư, vô minh cũng chưa hết, nên Biệt, Viên cũng còn đầy đủ có bệnh ngoại giới. Trước nói nhập không đã thể nhập ba Giả. Nay nói vào Giả lại nhập ba Giả. Phần nhập giả ủy dụ thứ hai của Biệt giáo trên thì văn kinh có đủ năm phần, nay phần quán điều phục thứ hai thì văn cũng đủ năm. Tuy không có thứ lớp Đại ý vẫn gần đồng. Văn đủ năm phần là:
a) Vì không chỗ thọ mà thọ các thọ, đây là người có Thần căn lợi nên có thể xuất Giả.
b) Chưa đủ Phật pháp Không nên diệt thọ mà thủ chứng, ấy là người đại tinh tấn, thường vì chúng sinh rèn tập Phật pháp.
c) Giả sử thân có khổ, phải khởi Bi tâm tức là đại bi.
d) Mình đã điều phục, vậy nên điều phục người khác, tức là nguyện lớn.
e) Thường điều phục được tuệ lợi ích, tức tâm mạnh mẽ.
- Nay giải thích vì không chỗ thọ mà thọ nhận các thọ. Nếu Niệm xứ, Noãn, Đảnh, phương tiện phục kiến thì gọi là Không chỗ thọ. Nếu kiến Đế thì một khi thọ nhận không lui sụt mà thường vắng lặng. Không thọ sáu mươi hai kiến gọi là Không chỗ thọ. Đoạn kết kiến tư rồi vị bằng A-la-hán. Nên Pháp Hoa có nói: Đối các pháp Không thọ nhận đều thành A-la-hán. Trí đoạn là Bồ-tát vô sinh, tức là thật không chỗ thọ. Như đối với ngoại giới cũng còn gọi là thọ, không hại chi đến kiến tư tam giới, đã đoạn tùy phần thì gọi là thật không chỗ thọ. Đại Phẩm
nói: Không thọ có năm, đó là thọ, không thọ, không thọ cũng không thọ cho đến không phải thọ, không phải Không thọ, cũng không thọ, không thọ cũng không thọ. Bốn thứ trước là phá ngã tức không thọ sinh tử mà được nhập Niết-bàn, một thứ sau là Không thọ Niết-bàn tức hay nhập giả. Bồ-tát từ bi nên cần phải cứu độ. Thế nào là Không thọ mà thọ Niết-bàn, vì cần phải nhập giả thọ các thọ ấy, nên nói chúng sinh bệnh thì ta bệnh. Chúng sinh nếu lìa các thọ kiến tư thì ta cũng lìa. Nên nói chúng sinh bệnh lành thì bệnh ta lành. Là nghĩa ấy, nên dùng không thọ mà thọ các thọ. Thọ gồm có ba: Một là Thọ của phàm phu. Hai là, Thọ của Nhị thừa. Ba là, Thọ của Bồ-tát.
Nếu thọ thuộc ái ác, tức là Ma-la ưa sinh tử, khởi ba độc, mười sử, phỉ báng phương đẳng, ngũ nghịch, tứ trọng tội, thập ác, ba đường dữ... các thọ này, là Bồ-tát dùng không chỗ thọ mà thọ nhận các ác này. Như Điều-đạt, Bà-tẩu chịu nghiệp trọng tội bị khổ ở địa ngục cho đến nhận các khổ ngạ quỷ súc sinh.
Nếu thọ thuộc ái thiện, từ ái phiền não mà khởi thập thiện, mười hai môn thiền có quả báo Tu-la, nhân, Thiên phương tiện gần gũi mà dạy dỗ dẫn dắt. Thọ thuộc kiến cũng có hai thứ:
+ Nhân kiến mà tạo ác như Ni-kiền kiến.
+ Nhân kiến mà tạo thiện tức là Phạm chí thấy Bồ-tát.
Thật ra không phải chín mươi sáu thứ ngoại đạo mà do thương các chúng sinh thuộc kiến, nên nhận lấy các kiến thiện ác, hòa quang nhưng không đồng trần mà hóa độ.
- Thọ Nhị thừa. Tức là thọ thuộc hai thừa, Tạng, Thông một là thọ bốn môn của Tam tạng giáo. Thấy hữu mà được đạo như Tỳ-đàm. Bồ- tát nhập không biết sinh sinh bất khả thuyết, há có sinh diệt để thọ nhận vì đáng dùng môn này mà được độ mà thọ các thọ ấy để rồi nói pháp, làm luận Tất-đàn lợi sinh. Thọ Không môn như Thành luận nói: Thấy không mà được đạo. Bồ-tát từ lâu biết sinh sinh bất khả thuyết, há có tích sinh và pháp hai không cho đến diệt ba tâm Niết-bàn có thể thọ. Vì tiếp môn này mà vào đạo thọ lấy để làm luận và Tất-đàn lợi sinh. Thọ “cũng có cũng không” như Côn Lặc luận. Còn môn thọ chẳng phải có chẳng phải Không thì như vì Xa-nặc mà nói lìa có không. Hai là thọ Nhị thừa của Thông giáo. Đây là ước mười dụ để nói về bốn môn, như phẩm Quán Pháp của Trung luận đã nói. Nên Đại luận khen Bát-nhã rằng: Bát-nhã như lửa nóng bốn bề không thể lấy. Bồ-tát từ Giả vào Không từ lâu mà biết bất sinh sinh bất khả thọ bất khả thuyết, chỉ vì chúng sinh
căn tánh có bốn môn này, mà nhập giả thọ lấy để làm luận thuyết pháp, dùng bốn Tất-đàn mà giáo hóa hàng Nhị thừa.
- Thọ của Bồ-tát, Bồ-tát từ Giả vào Không biết bốn bất thọ bất khả thuyết bốn giáo Đại thừa. Vì có bốn thứ căn tánh Đại thừa từ không vào Giả mà thọ mười sáu môn của bốn giáo, hóa độ bốn căn tánh, dùng bốn Tất-đàn nói pháp làm luận mà độ thoát.
Hỏi: Nếu vào Giả thọ bốn môn của Viên giáo thì cần gì quán thứ ba?
Đáp: Quán kinh này ý cần dùng Thông tướng nhập giả mà giải thích.
Nói tinh tấn thường đủ Phật pháp: “Chưa đủ… thủ chứng”. Bồ-tát lợi căn từ không nhập giả, tuy luôn dùng không chỗ thọ mà nhận các thọ, như trồng cây trên không trung, nhưng nếu không có sức đại tinh tấn thì không thể ở trong các thọ mà thành tựu tất cả Phật pháp. Như người lười biếng dẫu có đồ đạc mà chẳng làm gì nên. Nếu đại tinh tấn thì như Thái tử Đại thí “không” như biển lớn. Như kinh Hoa Nghiêm nói: Bậc Thất địa muốn chìm đắm không, chư Phật không chấp nhận điều đó, mà khuyên phát khởi sức đại tinh tấn, nên Bồ-tát nhập giả. Chưa đủ Phật pháp nên khuyên tinh tấn không nên thọ diệt thủ chứng. Nay nói đầy đủ Phật pháp, là lại căn cứ vào ba thứ thọ của tất cả pháp. Một, nói về thọ phàm phu đủ tất cả pháp là ước thọ thuộc ái kiến. Thọ thuộc ái ác như trước đã nói, thọ các thọ này là tu đủ tất cả pháp. Bồ-tát đối với các thọ bất thiện mà biết bệnh biết thuốc. Biết bệnh tức là biết khổ tập, biết thuốc tức là biết đạo diệt. Biết bốn điều chẳng thể nêu bày mà thông suốt Tứ đế, tức là hành phi đạo mà thấu suốt Phật đạo. Đạo bất thiện này tức giống Như Lai dùng bốn Tất-đàn tự hành hóa tha, đầy đủ như ở Phật đạo phẩm... Kế nói về thọ ái thiện, đầy đủ Phật pháp thì cũng như trước đã giải thích. Đối với thiện thọ này hay biết thiên văn địa lý, sách sử phê-đà, ngũ minh, lục nghệ luận về thập thiện của Luân vương, Thần tiên có ngũ thông, luận về các thiện của Thích Đề-hoàn Nhân, luận nói các Phạm thiên vương ra khỏi cõi Dục, không thứ nào không biết. Lại đối pháp này mà biết bốn điều chẳng thể nêu bày như nói trong ác trước. Sau lại nói thọ thuộc kiến về thọ ác thọ thiện. Đem tà tướng vào chánh pháp mà tu tất cả Phật pháp cũng như thế.
Thọ của Nhị thừa đủ tất cả Phật pháp, tức bốn môn của Tạng Thông đều biết bốn điều chẳng thể nêu bày như đã nêu trong ác trước.
Thọ của Bồ-tát đủ tất cả Phật pháp. Bồ-tát bốn giáo như trước nói. Bồ-tát biết bốn điều chẳng thể nêu bày, nhập giả lợi ích quần sinh.
Bồ-tát của Tam tạng giáo có môn sinh diệt Tứ đế, khởi bốn hoằng thệ nguyện, suốt a-tăng-kỳ kiếp hành hạnh lục độ, đủ tất cả pháp mà ở sinh diệt Tứ đế, thấu suốt ba thứ Tứ đế tự lợi lợi tha. Ba môn kia cũng thế. Mười hai môn của Thông Biệt, Viên cũng như thế. Nếu thọ cái thọ phàm phu mà chưa đủ Phật pháp thì không được diệt để thủ chứng. Cho đến thọ của Bồ-tát cũng thế. Kinh Hoa Nghiêm chê bậc Thất địa chìm đắm trong không, là ý ở đây vậy. Kinh Anh Lạc nói: Bậc Đẳng giác trong vô lượng trăm ngàn vạn kiếp nhập Trùng huyền môn, tu việc phàm phu, tức là chưa diệt thọ phàm phu mà thủ chứng. Thọ phàm phu còn thế. Còn thọ Nhị thừa Bồ-tát chưa đủ Phật pháp sao được diệt mà thủ chứng.
Nói nhập giả khởi bi: “Thiết thân… đại bi tâm”, nhập giả tinh tấn, học Phật pháp đầy đủ, vốn vì hóa tha. Nếu tâm đại bi ít, thì tâm tinh tấn yếu, nên cần phải tu nhiều tâm Bi. Giả sử thân có khổ. Nếu là niệm xứ... xuất giả, phục hoặc chưa đoạn, nếu vào sinh tử bị khổ ép bức thân mà sinh hối hận. Nếu đoạn kiết thấy chân hoặc tự ích kỷ ham muốn vào Niết-bàn mà buông bỏ tinh tấn. Nên khuyên thương các ác thú, từ vô lượng kiếp đến nay không biết chân, chính vì chìm đắm trong biển khổ. Nay được niệm xứ noãn đảnh mà biết không, khổ còn khó chịu nổi, huống là đám người ấy. Cho đến thấy Đế mà xuất giả. Nay có tư duy, khổ còn khó chịu huống là đủ các phược trong ác thú. Cho đến đoạn hết kiến tư mà xuất giả. Nay chỉ có rèn tập, khổ còn khó chịu nổi, huống là phàm phu tam giới... Khi nghĩ như thế thì đại bi lần lượt tăng trưởng, nên cam tâm mà chịu khổ, gánh vác chúng sinh, tinh tấn xuất giả, đủ như trước đã giải thích. Lấy bệnh mình mà thương bệnh người, ý này đồng.
Nói về nguyện lớn: “Ta đã…”. Văn có bốn:
1) Đáp lại bổn nguyện hóa vật.
2) Lấy bỏ.
3) Chánh hóa vật.
4) Truyền giải thích.
- Nói đáp lại bản nguyện “Ta đã... chúng sinh”. Vì sao? Vì lời nguyền từ bi độ sinh, chỉ vì trị bệnh bên trong còn nặng, chưa hoàn thành xong pháp hóa tha. Nay cần tu hai quán, để điều phục chấp tướng phá trừ vô minh, làm cho giảm bớt hoặc dứt hẳn, nên nói ta đã điều phục. Vì bổn nguyện độ vật, nay cần điều phục tất cả chúng sinh, chỉ trừ bệnh mà không bỏ pháp.
- Nói về lấy bỏ. Có thầy nói: Như mắt bệnh thì thấy hoa đóm. Khi
bệnh lành thì hoa đóm không còn. Chúng sinh cũng thế, vọng thấy các pháp, khi vọng hoặc đã diệt thì không còn pháp nào để dẹp trừ. Đây là vốn không pháp sao cho là trừ pháp. Nay nói tất cả chúng sinh đủ các pháp ở mười giới, vì vô minh không hiểu tùy chỗ gặp mà bệnh sinh. Nếu có trí tuệ vô ngại tự tại thì tất cả đều là Phật sự. Ví như lửa là pháp đốt cháy, nếu gặp liền đốt, cũng như bệnh, cẩn thận không chạm đến tức là trừ bệnh, đâu thể trừ lửa. Trừ lửa tức là mất công năng làm ấm thân, chiếu sáng và tạo thức ăn. Về mười hai nhân duyên ở ba đường cũng thế. Đây có pháp lấy bỏ không đồng với việc dẹp trừ. Lại lửa có công năng đốt cháy, người có pháp thuật thì ra vào tự do không cần phải trừ lửa. Cho nên tám vạn bốn ngàn phiền não đối với phàm phu là bệnh nặng, còn đối với chư Phật, Bồ-tát thì xem đó đều là Phật sự. Cũng như trị mắt là bỏ bệnh mà để nguyên tròng mắt, vì trị gốc bệnh mà dạy dỗ dẫn dắt.
- Chính nói về hóa vật: gốc bệnh tức là một niệm vô minh chấp tướng. Nên kinh Hoa Nghiêm nói: Trong tam giới không riêng có một pháp nào, chỉ là một tâm tạo ra. Nay nói chỉ là một niệm vô minh chấp tướng do tâm tạo ra, đây tức là gốc bệnh của tam giới. Nếu biết vô minh không khởi, thì chấp có liền hết, nên không tạo thứ mới, tức là đoạn được gốc bệnh.
- Truyền giải thích “Sao gọi gốc bệnh…”. Văn đây lại có hai phần: Một là, Giải thích nêu ra gốc bệnh. Hai là, Giải thích giáo hóa đoạn trừ.
Giải thích thế nào gọi là gốc bệnh. Phan duyên chỉ là vọng niệm chấp tướng vô minh. Hành ở quá khứ hợp với ái, thủ, hữu ở hiện tại, họp với phan duyên ở quá khứ làm gốc bệnh ở hiện tại; phan duyên ở hiện tại làm gốc bệnh ở vị lai. Phan duyên với cái gì, đó là phan duyên với tam giới. Phan duyên ở quá khứ hiện tại đều duyên với tam giới. Nếu lìa tam giới thì không có duyên nào khác.
Giải thích giáo hóa đoạn trừ “Hà… vô sở đắc”, tức tâm không thể được là Không tuệ vô tướng, không được một niệm vô minh chấp tướng tam giới, tức tâm không chỗ được, các phan duyên đều dứt, như kinh nói không có chỗ phan duyên, gọi hai kiến là ngã và Niết-bàn hai thứ này đều không tức là tâm nội ngoại kiến đều không chỗ được. Nếu tâm không chỗ được thì mọi vô minh chấp tướng, phan duyên đều dứt, thì nước tâm thanh tịnh, tướng châu tự hiện ra. Nếu được tâm thanh tịnh luôn nhất như thì có thể thấy được Bát-nhã. Đó là yếu đạo của việc hóa vật.
Nói về tâm mạnh mẽ: “Văn-thù…”. Kết giải thích bốn thứ trước. Văn có hai: Một là Chánh kết giải thích. Hai là, Thí dụ làm sáng tỏ.
- Chánh kết: Ấy là Bồ-tát có bệnh điều phục tâm mình, là kết từ không vào Giả để điều phục tâm, tu tất cả Phật pháp, là kết hay lợi ích tất cả chúng sinh. Như kinh Kim Cang Bát-nhã có nói Bồ-tát điều phục tâm mình diệt độ vô lượng chúng sinh mà thật không có chúng sinh được diệt độ, tức là nghĩa này. Vì đoạn khổ, lão, bệnh, tử là Bồ-đề của Bồ-tát. Bồ-đề nói là đạo. Nếu không lợi vật tức là đạo của Nhị thừa Bồ-đề, gọi là đạo, Tát-đỏa gọi là thành chúng sinh. Nếu không thế là Không có tuệ lợi, chúng sinh không được pháp thí tuệ lợi, đối với vật không có lợi ích lớn để ra khỏi sinh tử.
- Nói thí dụ để hiển bày “Thí như thắng giặc dữ”, Bồ-tát tâm lợi vật rất mạnh mẽ. Tâm ái kiến hay dạy chúng sinh vào ma ngoại, tức là chúng sinh vào oán đạo, Bồ-tát hay đoạn kiến tư là thắng giặc dữ. Gồm trừ là gồm nói chưa chánh thức, Bồ-tát chưa hết các kết hoặc pháp giới, do đó cần tự hành phụ thêm gồm lợi vật, nên nói gồm trừ. Lại gồm trừ là ở nhân mà gồm trừ các chúng sinh sinh tử, khi thành Phật thì đoạn trừ rốt ráo.
Phần (c) Nói Bồ-tát có bệnh “Người ấy có bệnh…”, Bồ-tát có bệnh thì dùng Trung quán để điều phục, hai quán trước làm phương tiện quán này tức là trí Bồ-đề của Phật, để đoạn bệnh thật vô minh tự thể. Nên kinh Thắng-man nói “Vô minh trụ địa công lực lớn nhất, chỉ có trí Bồ-đề của Phật mới đoạn được. Nhân đó mà phát chân, khai phát tri kiến, cũng gọi là Nhất thiết chủng trí, cũng gọi là Phật nhãn. Ấy là dùng phẩm Nhập Bất Nhị Pháp Môn làm gốc, đầy đủ như ở huyền nghĩa. Tu vị quán này ước giáo có ba. Về Thông giáo thì bậc lục địa đoạn được bốn trụ, thất địa đoạn các trần sa, bát địa đạo quán song lưu. Nếu Biệt giáo tiếp theo Bát địa của Thông giáo thì tu Trung đạo để trị bệnh vô minh, bậc Địa thứ chín thì tương tợ giải thoát gọi là Văn kiến, bậc Thập địa thì phát chân gọi là nhãn kiến. Về Biệt giáo, thì bậc Thập trụ đã đoạn bốn trụ, thập hạnh trừ hết trần sa, nhân giải hạnh trước mà được tu quán này. Thập phẩm thì tương tợ giải thoát tức là hồi hướng. Bát địa Phát chân phần phá vô minh, đạo quán song lưu, vào biển Tát-bà-nhã. Về Viên giáo, bậc năm phẩm tức tu quán này, nếu sinh tương tợ giải thoát thì được sáu căn tịnh, nếu luôn phát chân thì liền nhập sơ trụ, đoạn bệnh thật vô minh, đạo quán song lưu, tự nhiên lưu nhập. Cho đến bậc Đẳng giác, vô minh chưa hết, đều gọi là có bệnh. Lấy Biệt tiếp thông và đoạn phục Biệt giáo đều là phương tiện. Nay hạnh sơ phát tâm sinh
tu cho đến ngồi dưới cội Bồ-đề, cho nên hàng sơ tâm của Viên giáo liền học Trung quán. Văn có hai: Một là, Chính nói về Trung quán. Hai là, Đạo quán song lưu.
Phần một có hai: Nói về quán thể và Chọn phi.
Phần nói về quán thể lại có hai:
* Nói về tự quán.
* Nói về quán chúng sinh.
Nói về tự quán: Như bệnh ta đây không phải thật không phải có, là nói về tự quán pháp thân có bệnh vô minh tự thể. Không phải chân, không phải Không, không phải hữu, không phải giả. Lại không phải chân, là Không phải từ Giả vào Không để trị bệnh. Không phải có là Không phải trị bệnh từ Không vào Giả. Cho nên hai phương tiện trước không phải là chánh quán. Nhân hai thứ không ấy nay nhập Trung đạo. Bốn trường hợp xét kiểm vô minh rốt ráo không thể được, tức biết tánh vô minh tức là minh. Minh cũng không thể được. Ấy là nhập pháp môn bất nhị, tức là thấy thật đế Phật tánh như hư không, gọi là quán Trung đạo. Huyền nghĩa có nói đủ. Quán như thế là phá bệnh vô minh mê thật đế. Bệnh chúng sinh không phải chân, cũng không phải có.
Nói về quán chúng sinh. Khi tu quán này không phải chỉ tự biết bệnh không phải Chân không phải hữu, mà biết chúng sinh cũng thế. Đó là quán bệnh căn bản chúng sinh. Vì sao? Vì chúng sinh xưa nay cùng Bồ-tát không phải chân, không phải hữu, nhất như bất nhị, không sai khác nhau. Chúng sinh vì mê nên đọa vào hai thứ sinh tử, Bồ-tát quán chiếu thấu suốt mười giới đều có bệnh vô minh Trung đạo, cho nên mình người bệnh đồng, là chân thể một vô minh. Lấy đây mà ng- hiệm biết kinh này Quán trung, thì chẳng giả không nào chẳng trung
Nói về chọn phi, có ba:. Một là, căn cứ ái kiến đại bi. Hai là căn cứ thiền định. Ba là căn cứ hai trí.
Ba phi này chính là chọn trong hai thứ trang nghiêm pháp thân.
Một căn cứ ái kiến đại bi: Nếu quán Trung đạo mà sinh ái kiến thì không thể song chiếu hai đế, nếu chiếu hai đế thì cũng không thể chiếu được Trung. Nay quán Trung đạo mà không sinh ái kiến, nếu chiếu Trung đạo liền có thể song chiếu mà không mất Trung đạo, tức là một tâm ba quán, tức là chánh thể của quán chân trung. Đây là ái kiến chánh ước với Trung đạo. Như căn cứ hai đế thì thuộc hai quán trước. Nếu nói theo ba đế quyền thật, thì đây là tự hành quyền thật. Vì sao? Vì tự hành chiếu thật đế là thật, chiếu hai đế là quyền. Nếu ước chánh đạo mà sinh ái kiến Bi, tức là pháp thân có bệnh. Đây có bốn: Chính
nói khởi ái kiến. Giải thích thị phi. Dẫn lời Phật làm chứng. Kết khuyên buông bỏ.
a) Nói khởi ái kiến đại bi, tức phải lìa bỏ. Nếu đối với Trung đạo pháp thân mà khởi ái, tức là thuận đạo ái sinh, gọi là đảnh đọa. Bồ-tát tuy vậy không đọa vào Nhị địa, vì nó chướng nhập ngôi vị Bồ-tát. Nếu dùng Bi tâm muốn cứu khổ sinh tử hai biên, gọi là ái kiến Bi, thì không phải chỉ tự thể thành bệnh cũng do hai định tuệ đại bi song chiếu không rõ ràng, tổn sức phương tiện, ngăn ngại đại dụng. Như thân có bệnh thì chân tay cũng yếu ớt không thể làm việc, chính biết thể có bệnh ái kiến, định tuệ đại bi đều có chướng vậy. Lại chân tay có bệnh thì hay liên lụy đến thân. Nếu định tuệ có chướng thì hay chướng quán thể. Chướng quán thể này nếu có ái kiến duyên với chúng sinh, tức là ái kiến Bi, không phải chỉ tự thể có chướng. Cũng chướng phước tuệ trang nghiêm, hai đế cùng song quán khắp lợi ích chúng sinh.
b) Giải thích thị phi: “Sở dĩ… giải phược” trừ thất hiển bày đắc. Văn có hai: Trừ thất và hiển đắc.
- Trừ thất. Bồ-tát đoạn trừ khách trần, ái kiến tức vô minh, không có mà có nên gọi là khách trần hay che tâm tự tánh. Nếu dùng Bi tâm muốn cứu khổ nhị biên của chúng sinh, tức đối với sinh tử có tâm lười chán. Vì sao? Vì quán thể nếu có ái kiến thì dụng chiếu hai đế không rõ ràng. Nên từ bi hóa người ngoài, liền có lười mỏi, như thân có bệnh chẳng muốn bước đi. Đây là trừ thất.
- Hiển đắc, nếu hay lìa đây không có lười mỏi. Nếu hay lìa ái kiến này, thì nội quán thấu suốt song chiếu không trệ ngại, dùng Vô duyên đại từ hóa vật không mệt mỏi. Như thân không bệnh, việc làm đều thành, các thứ sinh ra đều không bị ái kiến ngăn cản. Nếu đoạn vô minh ái kiến, thì không có phiền não ngoại giới. từ bi thệ nguyện, tùy chỗ chúng sinh có bệnh duyên mà thọ thân hóa vật. Mình đã không có các ràng buộc của phần đoạn, biến dịch, thì có thể mở các buộc ràng của chúng sinh ấy. Cho nên nói rằng: Ứng sinh không có triền phược, nên hay vì chúng sinh mà thuyết pháp cởi mở triền phược cho họ. Đây là hiển đắc.
c) Dẫn chứng lời Phật nói để giải thích nghĩa chánh quán “Như Phật… thị xứ”. Nghĩa rất sâu xa nhưng hạnh cạn thấu suốt mà sinh nghi ngờ, nên cần phải dẫn chứng.
d) Kết khuyến giải thích. Thế nên Bồ-tát không nên khởi phược phân bày chứng cứ rõ ràng có thật, đủ để đoạn nghi sinh tin tưởng. Nên kết khuyên rằng “Không nên khởi phược”.
Hai, căn cứ thiền bỏ phi bày thị “Sao gọi là…”. Văn có hai: Bỏ phi. Bày thị.
1) Bỏ phi: Tham đắm thiền vị là triền phược của Bồ-tát, phược tức là phi. Nếu tham đắm hữu lậu căn bản thiền mười hai môn thì liền đọa sinh vào đồng cư. Nếu tham đắm vô lậu quán luyện huân tu, liền đọa sinh vào hữu dư. Nếu tham đắm chín thứ Đại thiền Thủ-lăng-nghiêm... một trăm lẻ tám Tam-muội, thì đọa sinh vào quả báo, đều không tránh khỏi triền phược.
2) Căn cứ thiền bày thị “nếu Phương tiện sinh là Bồ-tát giải tho- át”. Nếu quán Trung đạo mà không nhiễm ba thứ trước, thệ sinh vào ba cõi là dùng phương tiện mà sinh, tuy sinh vào ba cõi mà ba thứ phược kia không có lại hay cởi mở các phược cho chúng sinh nên nói phương tiện sinh là Bồ-tát giải thoát.
Ba, căn cứ hai trí nói phi “Lại không phương tiện…”. Văn có hai: Xét về tu hành hai trí. Xét về chân ứng hai trí.
Tu hành là dụng nhân chân ứng là xét quả.
Xét về tu hành có ba: Một là Lược dùng bốn trường hợp nêu chương. Hai là Bốn lần giải thích. Ba là Tổng kết.
- Nêu chương, hai trường hợp đầu là nêu phược thoát chương môn của thật trí. Hai trường hợp sau là nêu phược thoát chương môn của quyền trí, như văn nói.
- Giải thích bốn chương môn trước “Hà vị… phương tiện giải”. Một, là giải thích không có phương tiện tuệ thì buộc nghĩa là dùng tâm ái kiến khi tu chánh quán thì không thể thấu suốt bất sinh, bất sinh bất khả thuyết. Lại không có trợ đạo nhờ phát thật tuệ. Thật tuệ không phát, đến nỗi sinh ái kiến. Nếu dùng tâm này mà tu hành sáu Độ, trang nghiêm cõi Phật, thành tựu chúng sinh. Tu ba thoát môn mà điều phục, thì không thể phát chân, phá vô minh chướng mà hiển hiện pháp thân, tự lợi lợi tha, tức là Không có phương tiện tuệ phược. Như thân có bệnh không thể vận động. Hai, là giải thích có phương tiện tuệ thì mở, nghĩa là Không dùng tâm ái kiến. Chỉ không dùng tâm ái kiến trái với trước là khác, còn nghĩa khác đều đồng với trước nói. Ba, là giải thích không có tuệ phương tiện thì buộc, nghĩa là trụ ở ba cõi, đây là tu quán hạnh, không gia công tu chân tuệ để phá ba độc thông biệt. Dùng tâm bất tịnh mà vào phương tiện muôn hạnh không dẫn dắt, tức là Không có tuệ phương tiện thì buộc. Như người tay chân có bệnh không an vui. Bốn, là giải thích có tuệ phương tiện thì mở, nghĩa là lìa ba độc, vì lìa ba độc trái với trước là khác, còn các thứ khác thì đồng trước nói.
Hỏi: Ái kiến cùng ba độc có gì khác?
Đáp: Ái kiến là thuận đạo mà khởi, còn ba độc phần nhiều là đắm trước ở y chánh báo mà sinh.
Hỏi: Thành tựu chúng sinh cùng gieo trồng gốc các đức có gì khác?
Đáp: Lợi vật Vô duyên đại bi gọi là thành tựu chúng sinh tức là trí tập dung thức thông, như thế mà nhận lấy Tịnh độ, tự hành nhất tâm mà đầy đủ muôn hạnh, hồi hướng quả Bồ-đề, gọi là gieo trồng gốc các đức. Tức là Không phải hình dùng mà đệ nhất thể, không phải trang nghiêm mà trang nghiêm.
- Tổng kết khuyên “Văn-thù… Quán chư pháp”, Bồ-tát có bệnh thật vô minh, nên như thế mà khéo dùng hai trí để quán các pháp, tức là dùng trợ giúp chánh, dùng chánh dẫn trợ. Đây tức là khéo dùng hai trí để tự lợi lợi tha.
Xét về chân ứng luận hai trí “Lại còn quán thân…”. Văn có hai: Một là, Quán thân có bệnh thật bệnh quyền mà nói hai trí. Hai là, Quán thân bệnh không lìa bất diệt mà nói hai trí.
Phần một, lại có hai: Quán pháp thân bệnh thật, tức là thật trí , và quán ứng thân bệnh quyền tức là quyền trí. Vì sao? Vì chiếu cảnh quyền thật tùy cảnh mà được tên.
- Quán thân bệnh thật: Lại còn quán thân vô thường, khổ, không vô ngã. Đó gọi là lấy tuệ làm quán này, trước nói về thật tuệ. Quán pháp thân lý thật cảnh sâu xa rỗng sáng gọi là thật tuệ. Nay Bồ-tát pháp thân có bệnh, cũng còn bệnh nhân, bệnh quả ấy là vô thường... tức việc không thật, tức là pháp tánh là thật tuệ. Bồ-tát chưa chứng cực quả, nhân địa pháp thân có thường và vô thường như hai chim cùng dạo chơi là ý ở đây.
- Nói chiếu cảnh ứng thân bệnh quyền “Tuy thân… phương tiện) tức là trí phương tiện vậy. Vì sao? Vì tuy thân có bệnh tức là pháp thân Bồ-tát có, hoặc lụy chưa hết, cũng có bệnh thật vô minh biến dịch. Thường ở trong sinh tử, tức là ứng thân thường ở sinh tử nội ngoại giới. Sở dĩ thường ở, tức vì nhiêu ích tất cả mà không lười mỏi. Đó gọi là phương tiện, tức là chiếu quyền cảnh làm quyền trí.
Phần hai, quán thân không lìa bất diệt “Lại còn…) nói hai trí. Văn có hai: Căn cứ không lìa mà nói thật trí và căn cứ bất diệt mà nói quyền trí.
- Căn cứ không lìa: Lại còn quán thân, thân không lìa bệnh, là Bồ-tát có bệnh quán thân thật tướng, tức là tự tánh thanh tịnh, tâm
không nhiễm mà nhiễm, khó thể biết rõ, nếu đoạn chưa dứt tức là thân không lìa bệnh. Lại pháp thân đại bi đồng bệnh chúng sinh. Pháp thân hiện bệnh nên nói thân không lìa bệnh. Bệnh không lìa thân, là bệnh thật bệnh quyền không lìa pháp thân, mà có bệnh ấy. Thân ấy không phải là mới không phải cũ, tức là vô minh bệnh thật cùng bổn pháp thân không có trước sau, chỉ không phải đầu hay cuối. Chúng sinh bệnh từ vô thỉ không mới không cũ. Bồ-tát đồng bệnh cũng không phải mới cũ. Ấy gọi là tuệ, tức là thật trí.
- Căn cứ bất diệt để nói quyền trí “giả sử thân có bệnh mà không mất hẳn”. Bồ-tát có bệnh đã trụ vào chánh quán không ứng hiện thân bốn đại tăng động do túc nghiệp gây ra. Giả sử có bệnh nặng, liền quán nhập pháp môn. Nên nói là Không mất hẳn. Giả sử là giả lập, hai trí quyền thật đều là giả lập. Bệnh thật tức là vô minh giả lập. Nên kinh Kim Quang Minh có nói: “Không có các thứ nên giả gọi là vô minh.” bệnh quyền do chúng sinh mà khởi, cũng là giả lập. Mà không mất hẳn, là cũng không có thật và quyền. Thật là tuy có bệnh này nhưng thể nhập bệnh là Không bệnh, không đoạn, không phá. Vì bệnh mình mà thương xót bệnh người. Nếu quán bệnh này mà nhập thật tướng, thì được Vô duyên đại bi, lại dùng đó mà lợi sinh nên nói là Không mất hẳn. Quyền là, nếu có một chúng sinh hết bệnh thì vì các chúng sinh khác cũng phải hiện bệnh, nên không mất hẳn.
Phần hai, Đạo quán song lưu, Nhân quán thành hạnh “Văn-thù- sư-lợi…”. Đây là phẩm Hương Tích làm gốc. Phẩm đó nói hạnh Bồ-tát ở cõi uế tịnh. Để thành nghĩa này, văn có hai:
a) Kết quán trước để làm gốc hạnh.
b) Chính nói hạnh song lưu.
Phần a, lại có ba: 1/ Nói điều phục quán thành. 2/ Giải thích. 3/ Kết thành gốc hạnh.
Nói điều phục quán thành: Bồ-tát có bệnh nên như thế mà điều phục tâm mình. Cũng lại không trụ ở tâm chẳng điều phục. Ở trên phần nhiều nói không đoạn phiền não, nếu bất đắc ý thì buông lung với phiền não, tâm theo vọng pháp lại đồng với phàm phu.
Giải thích kết lỗi “Sở dĩ… Thanh văn pháp”. Nếu trụ ở tâm không điều phục là pháp người ngu, hoàn toàn đồng ngu, không phải tức ngu thông thường. Cũng như mắng người là lừa thì không phải là lừa. Nếu trụ ở tâm điều phục là pháp Thanh văn, cũng chỉ là tương tợ không phải đồng.
Kết thành gốc hạnh “Thị cố… Bồ-tát Hạnh”. Nếu lìa hai pháp mà
được chấp nhận thì gốc của Bồ-tát lập hạnh, nên nói là hạnh Bồ-tát.
Phần b Chính nói hạnh song lưu. Văn có năm: 1/ Cùng nói hạnh song lưu căn cứ . 2/ Riêng nói hạnh song lưu căn cứ .3/ Ước đạo phẩm chánh quán nói hạnh song lưu căn cứ . 4/ Ước hiện tướng tự nói hạnh song lưu căn cứ . 5/ Ước y chánh báo nói hạnh song lưu căn cứ .
Cùng nói hạnh song lưu: Có ba hàng: Ở trong sinh tử mà không có hạnh nhiễm ô. Nếu Trung quán tương ưng vào tục không nhiễm, trụ ở Niết-bàn mà không diệt độ hẳn, lưu nhập thiên chân mà không thủ chứng. Không phải hạnh phàm phu, là lưu nhập chân vậy. Không phải hạnh Hiền Thánh, là nhập tục tự tại, không đồng với Nhị thừa. Không phải hạnh nhỏ, là lưu nhập vào chân. Không phải hạnh sạch là lưu nhập vào tục.
Riêng nói hạnh song lưu “Tuy quá… là Hạnh Bồ-tát”, có mười lăm hạnh. Tuy ngoài ma hạnh mà hàng phục các ma, vì chánh quán tương ưng nên hay vào tục mà hàng ma. Cầu Nhất thiết trí là lưu nhập vào Chân không. Không cầu phi thời, chứng Nhất thiết trí mà không rơi vào Nhị địa. Tuy quán các pháp Bất sinh, lưu nhập Chân không. Tuy hóa độ Nhị thừa mà không rơi vào Nhị địa. Tuy quán mười hai duyên khởi vốn tự bất sinh mà lưu nhập tục đế duyên khởi. Khởi sáu mươi hai kiến hóa độ các ngoại đạo. Tuy nhiếp tất cả chúng sinh, tuy vào tục đế dùng bốn nhiếp pháp nhiếp phục tất cả chúng sinh vào Nhất thật đế, hòa quang mà không đồng trần nên không đắm trước. Tuy ưa xa lìa, lưu nhập vào Chân không, hay xa lìa phiền não sinh tử mà không hôi đoạn. Tuy hành ở ba cõi. Tuy vào tục đế hành ở ba cõi, tức chiếu thế đế mà không hư hoại pháp tánh, tức là chiếu chân đế. Tuy hành ở không, lưu nhập thiên chân mà tu đủ muôn hạnh, như trồng cây trên không trung. Tuy hành vô tướng, lưu nhập thiên chân mà vô tướng không hại độ sinh. Tuy hành vô tác lưu nhập thiên chân, mà vô tác không hại việc thọ thân lục đạo. Tuy hành vô khởi lưu nhập thiên chân, không khởi mà khởi muôn thiện. Tuy hành Lục độ, tuy nhập tục đế mà đồng sáu Độ của Bồ-tát, mặc tình chiếu khắp tâm chúng sinh. Tuy hành lục thông tự nhiên vào tục, nên được ngũ thông nhập chân mà không lậu tận, không đồng với Nhị thừa. Tuy hành bốn Vô lượng tâm, lưu nhập Phạm thiên, hành ở tục đế mà không chịu tập sinh tử của Phạm thế. Làm thân Phạm vương. Tuy hành thiền định giải thoát Tam-muội, tuy nhập các thiền tục đế mà không tùy thiền sinh sắc giới. Không tùy định sinh cõi Vô sắc, không tùy giải thoát mà sinh Tịnh cư. Cũng không tùy giải thoát Tam-muội mà sinh cõi Hữu dư.
Căn cứ Ước ba mươi bảy phẩm chánh quán mà nói hạnh song lưu “Tuy hành… là Bồ-tát hạnh”. Tuy hành bốn Niệm xứ, chánh quán tương ưng, tự nhiên lưu nhập tích thể niệm xứ thấy chân mà không bỏ, thân thọ tâm pháp của tục đế. Tuy hành bốn Chánh cần, lưu nhập tích thể chánh cần, thấy chân mà không bỏ thân tâm tinh tấn tục đế. Tuy hành bốn Như ý túc, lưu nhập tích thể như ý, thấy chân mà luôn được thần thông tự tại tục đế. Tuy hành ngũ căn, lưu nhập tích thể ngũ căn, thấy chân mà thường vào tục, phân biệt các căn lợi độn chúng sinh. Tuy hành ngũ lực, lưu nhập tích thể ngũ lực, thấy chân mà luôn cầu mười lực của Phật chiếu tục. Tuy hành bảy Giác phần, lưu nhập tích thể thất giác, thấy chân mà phân biệt Nhất thiết chủng trí của Phật. Tuy hành tám Chánh đạo, lưu nhập tích thể bát chánh thấy chân mà ham thích Phật đạo. Tuy hành pháp chỉ quán trợ đạo lưu nhập sự chỉ quán trợ tích thể, thấy chân mà không nhập vào khôi đoạn. Ở thế tục mà hóa độ, đây là Nhị đế song lưu đều khác với Nhị thừa, nên đều kết thành hạnh Bồ-tát.
Căn cứ hiện tướng “Tuy hành… là hạnh Bồ-tát” nói hạnh song lưu. Vẫn có ba hàng. Tuy hành bất sinh bất diệt, là chánh quán tương ưug lưu nhập chân đế bất sinh bất diệt mà hiện tướng hảo trang nghiêm tục đế. Tuy hiện oai nghi Thanh văn và Bích-chi-Phật lưu nhập hiện ngoại oai nghi, nhập chân mà hay nhập tục, không buông bỏ tất cả Phật pháp. Đây tức là hạnh nội bí của Bồ-tát ngoại đạo hiện làm Thanh văn, tuy tùy các pháp tịnh tướng rốt ráo, lưu nhập bốn bất khả thuyết bình đẳng pháp giới, mà hay hiện thân lợi ích ngoại giới.
Căn cứ y chánh báo toát yếu giúp thành thể tông này. Văn có hai hàng. Tuy quán bình đẳng, nếu chánh quán tương ưng biết Thường tịch quang mà hay khởi tịnh độ Đồng cư nội giới, tịnh độ Hữu dư và tịnh độ quả báo ngoại giới. Đây là kết thành nhân quả Phật quốc làm tông. Tuy được bình đẳng, là nếu chánh quán tương ưng về Biệt thì nhập Sơ địa, về Viên thì nhập sơ trụ. Với chúng sinh đáng dùng thân Phật để độ thì hay hiện ra tám tướng, mà chân ứng chưa rốt ráo cần phải tu các trụ hạnh cho đến Đẳng giác các đạo hạnh Bồ-tát, nên nói không buông bỏ đạo Bồ-tát đó là hạnh Bồ-tát. Đây là kết thành thể dụng trụ ở giải thoát bất tư nghị. Nếu các sư không tin kinh này nói pháp thân Tịnh độ quả ngoại làm sao hiểu được văn này?
Phần năm nói về thời chúng được lợi ích Từ “Thuyết thị đến Tam Bồ-đề tâm” : Tám ngàn Thiên tử phát tâm Bồ-đề. Nghĩa tâm Bồ-đề thì trước đã giải thích đầy đủ.
--------------------------
PHẨM: BẤT TƯ NGHỊ
Năm phẩm sau đây tiếp sau phẩm Thăm Bệnh, tức là đoạn lớn thứ hai vào thất khơi lại ý phẩm Thăm bệnh ở trước. Vì sao? Vì trước nói phẩm Thăm Bệnh là căn cứ bệnh quyền, luận về bệnh thật của quả mà nói nhân. Chỗ nói tóm tắt, hàng lợi căn như tám ngàn Thiên tử đã phát đạo tâm. Đám người chưa ngộ thì rộng luận bàn nhân quả để gợi lại ng- hĩa bệnh thật quyền ở trước, cho nên nó có sau. Năm phẩm này có hai:
A) Phẩm này chính là gợi lại phẩm Thăm Bệnh trước ước bệnh quyền nói về quả.
B) Từ phẩm Quán Chúng Sinh đến Hương Tích gồm bốn phẩm chính là gợi lại phẩm Thăm Bệnh trước, căn cứ bệnh thật mà nói cái nhân ủy dụ ba giáo và ba quán điều phục. Nay sơ lược dùng ba ý giải thích chung phẩm này:
1/ Nói ý có phẩm này.
2/ Lược giải thích bất tư nghị.
3/ Giải thích văn.
1- Ý có phẩm này: (Phẩm Bất tư nghị) Phẩm Thăm Bệnh nói bệnh có quyền thật. Bệnh quyền tức là pháp thân ứng dụng bổn tích đều có chỗ ở, cho nên ngài Tịnh Danh ở thất trống hiện bệnh mà nằm, biểu thị cho cõi, cho thân, cho bổn, cho tích. Ngài Văn-thù thấy tướng biết là có biểu thị, cho nên nhân đó đối đáp qua lại luận quyết về nghĩa y chánh của quả địa. Ý tuy sáng tỏ mà thùy tích bất tư nghị. Nhưng cái dụng bệnh quyền y chánh khó lường còn chưa sáng tỏ. Cho nên nhân ngài Thân Tử sinh ý nghĩ về tòa ngồi của Phật Đăng Vương mà trong thất nhỏ này chứa rất nhiều tòa lớn cũng không ngại gì, tức hiển bày việc thùy tích bất tư nghị, chỗ ở của bệnh quyền thần dụng thật khó lường. Rộng luận về quả địa từ bản mà khởi tích, trong tích biến dụng y chánh tự tại. Rộng hiển bày lại về bệnh quyền, thùy tích biến hiện, bệnh chúng sinh lành thì bệnh quyền cũng lành, cho nên có phẩm này.
2- Lược giải thích bất tư nghị: Có hai ý: 1) Nói ba đức giải thoát bất tư nghị. 2) Nói bổn tích nương cõi bất tư nghị.
Nói ba đức giải thoát, có ba:
a) Chân tánh.
b) Thật tuệ.
c) Phương tiện.
Nên ngài Tịnh Danh nói: Chư Phật, Bồ-tát có giải thoát gọi là bất tư nghị. Nếu Bồ-tát trụ ở giải thoát ấy, thì có thể đem núi Tu-di cao
rộng để trong một hạt cải, cho đến các thứ biến hiện khó lường, đó là nghĩa ba thứ giải thoát bất tư nghị. Vì sao? Vì Chư Phật, Bồ-tát có giải thoát tức là chân tánh. Nếu Bồ-tát trụ vào đó tức là thật tuệ. Hay đem núi Tu-di để trong hạt cải... tức là phương tiện. Chỉ có bốn giáo cùng nói lý ba thứ đều có nghĩa bất tư nghị, nhưng có hai thứ là đối đãi và tuyệt đối đãi. Như chỗ ba giáo nói tức là đối đãi. Vì sao? Vì ba giáo tuy ý lời người khác căn cứ việc đoạn kiết để nói giải thoát, tức là đối đãi. Còn Viên giáo thì tự ước vào việc không đoạn kiết mà nói giải thoát, tức là tuyệt đối đãi bất tư nghị. Đối đãi tức là có suy nghĩ và không suy nghĩ, đều là tư nghị. Còn tuyệt đối đãi là Không suy nghĩ, không suy nghĩ tức là chân bất tư nghị. Nay một phẩm này là dứt đối đãi không suy nghĩ để giải thích về bất tư nghị. Sở dĩ ba giáo thành việc đối đãi nhau. Như ở Tam tạng giáo thì Phật quả thần dụng biến hóa, thì phàm phu Nhị thừa và các Bồ-tát khó lường biết được, tức là bất tư nghị. Nếu đối Thông giáo đã thể nhập pháp giải thoát thì lại là tư nghị. Nếu Thông giáo từ Bát địa trở lên, đạo quán song lưu, thì Nhị thừa là hạ địa không thể lường biết được nên gọi là bất tư nghị. Nếu đối Phật địa cũng là tư nghị. Còn Thông đối với Biệt lại là tư nghị. Biệt giáo đăng địa thấy Nhất thật đế được ba giải thoát, mà đối với ba thừa Thông giáo riêng ba mươi tâm không thể lường biết được tức là bất tư nghị, nếu đối Thượng địa thì lại là tư nghị. Ba thứ này đều là dưới không suy lường được trên, không phải là bất tư nghị ngang hàng tuyệt đối đãi. Nay nói tuyệt đối đãi bất tư nghị của Viên giáo, là mười hai nhân duyên, ba thứ phi đạo tức là ba đức giải thoát của Phật đạo. Nếu Bồ-tát hành trì mười hai nhân duyên ba thứ phi đạo này mà không đoạn ba hoặc, không phá ba pháp, lại trụ ở đạo ba thứ giải thoát, tức là ba đức giải thoát tuyệt đối đãi bất tư nghị vậy. Ấy là chẳng những địa dưới không thể tư nghị địa trên, cho đến Thượng địa chư Phật, Bồ-tát cũng không thể tư nghị địa dưới và tất cả nhân duyên ba đạo chúng sinh, tức là bất tư nghị tuyệt đối đãi. Cho nên Văn-thù trong Bát-nhã có nói: Phật giới, chúng sinh giới đều không thể nghĩ bàn, không có khác nhau. Trên đã giải thích xong tên Giải thoát bất khả tư nghị.
Nói về cõi nương tựa của bổn tích: Ở phẩm trước, thất trống biểu thị cho cõi nước. Ngài Văn-thù thấy tướng hỏi về Phật quốc thì chỉ nói Tịch quang rốt ráo không tịch. Đây chỉ là pháp thân và cõi nước bất khả tư nghị mà chưa hiển bày ứng thân tích ở tướng bất tư nghị. Nay dùng thần lực xếp đặt tòa ngồi để nói tích ở cõi uế hiện việc bất tư nghị, cả núi Tu-di và biển lớn, đất nước lửa gió, mười phương cõi Phật đều tập
trung ở một cõi nước, chỉ bày cho mọi người những việc như thế đều là nương cõi nước hiện tướng bất tư nghị khó lường biết được, nói đầy đủ trong văn. Nếu tích ở phần đoạn y báo là một khối lớn, còn hiện bày vô ngại, thì đối với ba cõi kia đâu thể lường biết được.
Hỏi: Cả mười bốn phẩm này đều bất tư nghị đâu được chỉ nêu riêng phẩm này?
Đáp: Tuy đều như thế, nhưng chỉ phẩm này nói rộng về sự biến dụng rất rõ ràng nên lấy đó đặt tên. Như ma-ha Bát-nhã trước sau đều nói Bát-nhã. Phật nói muốn cầu Bát-nhã thì cần phải tìm ở phẩm Tu- bồ-đề, mà Tu-bồ-đề đối với Phật như Thích Đề-hoàn Nhân, Xá-lợi- phất vấn nạn, một mực đều vào thật tướng Chân không, tức là Chánh ý Bát-nhã, nên khuyên phải tìm trong phẩm đó. Nay trong phẩm này cũng thế.
3- Giải thích văn “Nhĩ thời…”. Phẩm này chung có sáu phần:
1) Ngài Thân Tử vì chúng nghĩ về tòa ngồi.
2) Ngài Tịnh Danh mượn tòa.
3) Nói thần dụng bất tư nghị.
4) Ca-diếp mừng ngưỡng mộ.
5) Thời chúng được lợi.
6) Ngài Tịnh Danh kể thành.
Thân tử vì chúng nghĩ về tòa ngồi. Có năm phần nhỏ: a) Ngài Thân Tử có ý nghĩ. b)Tịnh Danh hỏi. c)Thân Tử đáp. c)Tịnh Danh trách.
Thiên tử được pháp nhãn tịnh.
* Ngài Thân Tử có ý nghĩ: Ngài Thân Tử là bậc Cổ Thánh tích có ý nghĩ này là muốn mở bày nghĩa bất tư nghị. Nếu không có ý nghĩ ấy do đâu hiện bày dụng bất tư nghị lại muốn khiến hàng Nhị thừa chưa chứng quả được Pháp nhãn tịnh, hoặc những người phát đại tâm đã vào ngôi vị được thành sinh tô, cho nên hiển bày việc có ý nghĩ, nhân đó bị chê trách, để mượn tòa Đức Đăng Vương mà nói rộng đại dụng. Như thế các Thanh văn chê tiểu mộ đại, kham nghe được Đại phẩm, Pháp Hoa. Ước Sự, mà luận thì đại chúng đứng đã lâu mà hai Đại sĩ mới luận đại đạo, luận bàn chưa xong e đại chúng mỏi mệt không thâu nhận được pháp lợi. Nếu Như có giường ghế thì đều được an ổn tất sẽ thu nhận được lợi ích lớn, nên có nghĩa này. Cũng nhân thất trống mà có ý nghĩ ấy. Nhân đây mà chê trách, dùng thần lực mượn tòa ngồi liền được là nói rộng thần lực giải thoát bất tư nghị, đều là công năng tự tại thùy tích bệnh quyền để lợi vật. Nếu có cơ hội tốt đẹp này dùng để hóa vật, tất trừ được bệnh thật nhân quả của chúng sinh, đâu lại chẳng nghĩ. Nếu
bệnh nhân quả chúng sinh lành thì bệnh thị hiện của Phật, Bồ-tát và ngài Tịnh Danh cũng đều lành. Ấy là đã thành được nghĩa quả địa bệnh quyền ở trước.
* Hỏi ý nghĩ “Trưởng giả… sàng tòa da”. Ngài Thân Tử tuy nghĩ thế, nhưng chúng sinh đều chưa biết, sắp muốn chê trách nên hỏi ý nghĩ ấy: “Vì cầu pháp hay cầu ghế ngồi?”Nếu vì ghế ngồi thì không gọi là người tu hành. Nếu nói vì pháp thì không nên cầu ghế ngồi, nên cần phải gạn hỏi. Nếu ý nghĩ đã tỏ lộ đại chúng đều biết thì mới có thể chê trách.
* Ngài Thân Tử đáp đúng ý nghĩ “Xá-lợi đều cầu Sàng tòa): Tôi vì pháp mà đến chứ không phải vì ghế ngồi. Vừa đáp câu này liền có ba lỗi:
- Tâm nghĩ ghế ngồi mà nói là vì pháp, là lỗi trái tâm mình.
- Nghĩ về các pháp Tam bảo, Tứ đế... trong pháp Thanh văn là lôi không xứng lý.
- Chân pháp Không nghĩ nhớ mà nay lại nghĩ nhớ ấy là lỗi bỏ đạo pháp mà vào phàm phu.
* Tịnh danh trách ba lỗi ấy “Duy-ma…”.
Một là Chê trách lỗi trái tâm. Phàm người cầu pháp Không tham tiếc thân mạng, há lại từ chối đứng lâu, không thấm được pháp vị do thân có mệt mỏi. Cho rằng chúng cũng thế, bèn nghĩ đến ghế ngồi... Cho đến gạn hỏi và đáp nói vì pháp. Nếu vì pháp thì không tiếc thân mạng, há được mỏi mệt mà nghĩ đến giường ghế?
Hai là, Trách lỗi không xứng lý “Phù cầu…”. Vừa nghe Đại thừa mà lòng không đắm nhiễm vẫn còn giữ pháp Tiểu thừa, đến nỗi biếng nhác nghĩ đến tòa ngồi, nên chê trách vẫn còn ôm giữ tiểu pháp. Văn có bốn:
* Căn cứ ấm nhập tam giới mà chê trách.
* Căn cứ Tam bảo mà chê trách.
* Căn cứ chung Tứ đế mà chê trách.
* Căn cứ riêng Tứ đế mà chê trách.
* Căn cứ ấm nhập mà chê. Ngài Thân Tử nương Tam tạng giáo mà nhập đạo, ấm nhập là báo thân. Nhân đây tu thiền được phát tứ thiền tứ không là định cõi Dục. Trụ các thiền này mà quán sát ấm nhập ba cõi đế lý sinh diệt mà đoạn kiết ba cõi. Tuy đã thành A-la-hán quán khắp vô lậu và từ đây mà vào. Nay ngài Tịnh Danh dùng Đại thừa chê trách ngài là vụng về pháp tánh ấm nhập, không được tức không, không phải là pháp thật cầu, không tránh khỏi việc chiêu cảm cái chết thô
biến dịch. Lại có quán xuất nhập, khi xuất quán thì biếng lười nghĩ đến tòa ngồi.
Căn cứ Tam bảo mà chê “Tuy Xá-lợi-phất… chúng cầu”. Sở dĩ phải ước Tam bảo mà chê, là hàng Thanh văn do nghe pháp hiểu ba không mà vào đạo, do Phật nói pháp mà được làm Tăng. Nếu chê trách người ấy lỗi, thì lỗi là do Phật pháp, chúng Tăng cũng bị lỗi, nên chê là Không nên chấp trước. Giáo Bất liễu nghĩa nói ba mươi hai tướng là Phật, chín Bộ là pháp, Yết-ma được gọi là sự Tăng, thấy Đế được quả là lý Tăng. Các pháp thật tướng Đại thừa vốn tự rõ ràng là Phật, lý tánh không điên đảo là pháp, trí lý không hai là Tăng. Lại biết pháp gọi là Phật, lìa tướng là pháp, vô vi là Tăng. Nếu không biết Tam bảo nhất thể này bèn đắm trước biệt tướng Tam bảo nên chê trách là Không nên chấp trước.
Căn cứ chung về Tứ đế mà trách “Phù cầu…”. Sở dĩ kế ước Tứ đế mà chê trách, là vì Thân Tử không thích. Nếu Tam bảo không thật không nên chấp trước thì quán đế thấy lý há không có Tam bảo, liền chê trách ông hành Tứ đế không rốt ráo. Văn có hai là chê và giải thích. Một, chê rằng: “Không thấy...” , đây là chê Tứ đế sinh diệt, nếu do đây mà thấy lý thì không nên cầu nữa, vì đó chỉ là trụ hóa thành chưa đến được bảo sở. Như trách ngài Tu-bồ-đề không hoại nơi thân mà tùy một tướng há lại tích quán khổ mà nói là thấy lý, không dứt dâm, nộ, si cũng chẳng chung cùng nó, há nhất định đoạn tập dùng tướng ngũ nghịch mà được giải thoát, há dứt hết phiền não cho là chứng diệt, như việc tạo tác ra hóa thành vậy. Có thầy nói hiểu biết rốt ráo, e là Không như giải thích trước. Không đoạn dứt si ái mà khởi minh thoát tức là hành phi đạo mà thấu suốt Phật đạo, há lìa phi đạo mà riêng có chánh đạo để tu? Nếu chấp Tứ đế của Thanh văn là thật tức là Không thấy ba Tứ đế của Đại thừa. Hai, giải thích rằng “Sở dĩ… phi cầu pháp”. Nếu chấp sinh diệt thì có tranh luận, tức là hữu vi hý luận nội giới. Nếu nhân đây thấy chân, đoạn ái kiến nội giới mà luận, thì cũng là vô vi hý luận ngoại giới. Nay Thân Tử tuy đoạn hữu vi, nhưng cũng còn ở Tứ đế, tức là vô vi giới duyên tập hý luận, không phải cầu pháp ba đế Đại thừa há lại thấy được Phật tánh, nhập vào vương Tam-muội và nhập vào tất cả Tam-muội.
Căn cứ riêng Tứ đế mà chê trách “Duy Xá-lợi-phất…”. Sở dĩ lại ước riêng mà chê trách, vì sợ Thân Tử chưa muốn. Nếu nói Tứ đế là hý luận, thì tại sao Phật mở cho là các thứ pháp môn lợi vật. Lại hiểu là chưa ngộ nên cần phải riêng chê trách. Có bốn:
- Một phen trách theo Khổ đế.
- Hai phen trách theo Tập đế.
- Bốn phen trách theo Diệt đế.
- Hai phen trách theo Đạo đế.
Ước trách khổ đế, pháp gọi là tịch diệt, thì khổ pháp như ấm... xưa tự không sinh, nay ắt không diệt tức nghĩa chân ấm diệt, quán ấm khổ pháp là thấy sinh diệt bèn bài bác sinh diệt, há thấy được Nhất thật đế lý vô sinh. Nếu không thấy lý thì không phải là cầu pháp. Như trách ngài Ca-chiên-diên không dùng tâm sinh diệt mà nói pháp thật tướng, đã không được chân vô sinh mà lại chiêu cảm cái khổ biến dịch.
- Hai phen riêng chê trách theo tập đế “pháp danh… phi cầu pháp”. Tập là do hai nhân báo và tập tạo nên. Tập nhân căn cứ phiền não, báo nhân căn cứ nghiệp. Phiền não và nghiệp hợp nhau hay chiêu quả khổ nên gọi là Tập đế. Trước trách tập nhân của Tập nói rằng: Pháp Không đắm nhiễm, là như Đại kinh có nói: Chín thứ ái hữu hay khiến sinh tử tiếp nối không dứt, nếu đắm nhiễm Thế đế liền có phần đoạn sinh tử gọi là Tập nội giới. Nếu nhiễm chân đế liền có biến dịch sinh tử gọi là Tập ngoại giới. Kế trách báo nhân rằng pháp Không hành xứ, là trách hành nghiệp. Trí năng quán là hành, cảnh sở quán là xứ. Nên kinh nói trí và trí xứ, tâm hành đối với cảnh tức là hành nghiệp. Phàm phu hành Thế đế thì chiêu cảm cái khổ quả nội. Hàng Nhị thừa hành chân đế thì chiêu cảm cái khổ biến dịch, tức là Tập vậy.
Bốn phen riêng tráchtheo Diệt đế “pháp vô… pháp giả”. Pháp Không có lấy bỏ là Thật đế chân diệt vốn không lấy bỏ. Mà phàm phu thì lấy Thế đế bỏ Niết-bàn, cho nên có sinh tử nội giới, không được chân diệt. Còn hàng Nhị thừa thì lấy chân đế bỏ Thế đế, tức chịu biến dịch sinh tử, cũng không phải chân diệt. Do lấy bỏ nên không thấy Trung đạo, không phải thật cầu pháp. Pháp Không xứ sở, đây là nói Diệt đế, tức là hữu dư, vô dư chỗ của người tu Nhị thừa quy tâm. Nếu đắm trước vào chỗ Diệt đế Niết-bàn, tức là có vô vi phiền não sinh tử, không phải chân diệt đế nên không phải là cầu pháp. Pháp gọi vô tướng, là trách chấp lấy diệt đế vô tướng Niết-bàn. Vì sao? Vì phàm phu chấp tướng thế gian sinh ở sáu thức, cho nên có nội giới sinh tử, mà không gọi là diệt. Còn Thanh văn chấp tướng Diệt đế, tức có bảy thức gọi là tùy tướng sinh thức, liền có ngoại giới sinh tử không phải chân diệt đế, nên không phải là cầu pháp. Pháp Không thể trụ, là chê trách trụ ở diệt đế. Vì sao? Vì phàm phu trụ ở phần đoạn không phải diệt. Còn ở hàng Nhị thừa trụ ở chân tức có biến dịch, đâu được là chân diệt. Vì trụ ở chân đế hữu dư, vô dư, không thấy được Phật tánh, không phải là Đại Niết-bàn
rốt ráo tịch diệt, sao phải là thật cầu pháp.
Hai phen riêng trách theo Đạo đế “pháp Không… pháp”. Pháp Không thể thấy nghe hay biết. Phàm phu có thấy nghe hay biết thế tục ắt có kiến tư, do đó mà lưu chuyển và đều là lậu đạo. Tiểu thừa có tuệ nhãn thấy chân, từ nghe pháp mà sinh hiểu, mười sáu tâm ngộ lý tức là giác tri, nên Đại kinh nói: Bậc Tu-đà-hoàn dùng đạo chánh giác đoạn trừ phiền não, cũng gọi là Phật. Nhất thiết trí biết tức là tri, cho nên đối với thấy Đế nói nhãn, trí nói giác. Đây là thấy nghe giác tri, không thấy Nhất thật đế lý, không phải là cầu kiến tư vô lậu Đại thừa, há là thật cầu pháp. Pháp gọi là vô vi, Tiểu thừa thì Diệt đế là vô vi, Đạo đế là hữu vi, còn vô lậu Đại thừa thì đạo diệt đều là vô vi. Nên Đại kinh có nói: “Đệ tử Thanh văn là hữu vi Tăng.” Trên có trách ngài La Vân rằng: “Nói lợi công đức hữu vi không phải là xuất gia vô vi” là ý ở đây vậy.
Ba là, Kết trách Thân Tử lỗi dấy niệm “Thị cố… sở cầu”. Do nghĩ cầu pháp đến mỏi mệt mà nghĩ đến giường tòa. Nếu thật cầu pháp thì không nghĩ không cầu, đợi nước lắng trong thì châu liền tự hiện. Ấy là chân cầu không có biếng lười mỏi mệt há là nghĩ đến giường tòa.
* Nói Thiên tử được Pháp nhãn tịnh “Thuyết thị… Nhãn tịnh”. Pháp nhãn tịnh, có thầy nói là pháp nhãn Đại thừa. Nay xét văn này tuy không cốt ý so sánh văn trên nhưng e cũng là Pháp nhãn tịnh Tiểu thừa. Vì sao? Vì ngài Tịnh Danh có hàm ý nhập chân Thông giáo Đại thừa mong cho hàng Tiểu thừa nghe xảo độ này tức là Pháp nhãn tịnh. Lại xưa phân biệt suy tìm đạo lý pháp tướng, vì nước tâm nổi sóng nên không thấy lý. Nay nghe nói “Không chỗ cầu”mà tâm mong cầu lặng dứt, nước tâm lắng trong thì bỗng nhiên thấy lý. Như A-nan suốt đêm thiền quán muốn dứt các kết còn sót nhưng không thể hết, khi định đi ngủ thì bỗng nhiên phát chân, lậu ba cõi dứt hết. Đây cũng thế.
Tịnh danh dùng thần lực mượn tòa: “Nhĩ thời…”. Trên trách ngài Thân Tử chỉ cầu ghế ngồi chứ không phải cầu pháp. Nhân đây mà nói pháp các Thiên nhân đều được đạo, nhưng chưa hiển hiện thần lực Bất tư nghị. Nếu không bày tòa thì như kẻ nghèo không tiền bạc không có sắm sửa để chê trách tân khách. Nay dùng thần lực mượn tòa đáp lại ý nghĩ của ngài Thân Tử, xem là nguyên do nói giải thoát bất tư nghị. Văn có sáu:
a) Hỏi ngài Văn-thù có chỗ ngồi tốt đẹp chăng.
b) Ngài Văn-thù đáp chỗ ngồi.
c) Hiện thần lực mượn tòa ngồi.
d) Đức Đăng Vương gởi tòa.
e) Đại chúng mừng đón.
f) Ngài Tịnh Danh khiến chúng đến tòa.
Hỏi chỗ tòa, muốn hiện bày thần lực bất tư nghị đặt tòa ngồi, ắt cần phải vừa ý tân khách. Sở dĩ trước hỏi chỗ tòa thắng diệu, ước lý mà hiểu thì ngài Văn-thù ứng dụng cơ nào, ngài Tịnh Danh đậu cơ ấy tất sẽ xứng hội, thế nên trước hỏi.
Ngài Văn-thù đáp “Văn-thù… đệ nhất”, biết có diệu tòa xứng hợp cơ nghi của đại chúng, nên chỉ rõ thế giới Tu-di có tòa đẹp đẽ, Đức Phật đó có thân cao tám vạn bốn ngàn do-tuần, biểu thị cho tám vạn bốn ngàn pháp Ba-la-mật đã tạo nên pháp thân hoàn hảo. Tòa ấy cao tám vạn bốn ngàn do-tuần, biểu thị cho tám vạn bốn ngàn cảnh Chân không vô úy.
Chính nói thần lực mượn tòa “Ư thị… thần lực”. Nếu căn cứ vào văn sau sai hóa Bồ-tát đến nước Hương Tích xin cơm. Nay văn này không thấy việc biến hóa, tức là Đại sĩ đã thông linh ngầm cảm, do đó đức Phật kia theo tâm ý nghĩ mà gởi tòa đến hoặc có thể các nhà làm kinh đã lược bỏ.
Đức Phật gởi tòa đến “Tức thời… Duy-ma-cật thất”. Đức Phật ấy gởi ba mươi hai ngàn tòa đến và phương trượng tiểu thất của ngài Duy- ma chứa đủ không chật chội. Vì trụ ở thần lực Bất tư nghị nên được như thế. Tức là biểu thị quả báo vô ngại đối với cõi nước y báo.
Hỏi: Thần lực do đâu mà nhanh thế?
Đáp: Linh Quỷ Chí có nói: “Chồn ngàn năm có thể đem xe mà chui vào gò mã, mã không thủng lổ mà xe vẫn không hư”, yêu nhỏ còn thế huống là thần lực của Bồ-tát bất tư nghị.
Đại chúng đón mừng “Chư Bồ-tát… như cố”. Bao nhiêu tòa lớn để trong tiểu thất đó rốt cuộc không chật chội, hình dạng thành Tỳ-da-ly cũng không thay đổi, từ xưa nay chưa từng thấy nên đều khen ngợi.
Mời lên ngồi “Nhĩ thời…”. Văn có ba: Một là, Văn-thù... cùng đến ngồi. Các Bồ-tát có thần thông đều theo tòa mà ngồi. Ba là, Các Bồ-tát mới phát tâm đều không thể lên ngồi được.
Mời lên tòa ngồi, bảo tự biến thân cao lớn giống tòa ấy, tức tự khiến hai, Đáng ngồi mà ngồi “Kỳ đắc… sư tử tòa”. Các Bồ-tát có thần thông đều là thân bốn vạn hai ngàn do-tuần. Trên nói thân Phật đầy đủ tám vạn bốn ngàn do-tuần. Nay Bồ-tát ở nhân nhường quả nên giảm còn phân nửa.
“Các Bồ-tát mới phát tâm…) là nói những Bồ-tát mới phát tâm và các đệ tử Thanh văn... đều không thể lên ngồi. Văn có năm: Một
là, Những người mới phát tâm đều không thể lên ngồi. Hai là, Nói ngài Thân Tử đến tòa. Ba là, Ngài Thân Tử từ chối không thể lên được. Bốn là, Khiến đảnh lễ Đức Đăng Vương. Năm là, Các người mới phát tâm đều đảnh lễ mới lên ngồi được.
* Phần đầu theo văn mà biết.
* “Nhĩ thời… Sư tử tòa” nói ngài Thân Tử đến tòa. Từ trước nay nghĩ cần có tòa ngồi nay đã bày tòa sao không như các Bồ-tát kia đến ngồi.
* “Xá-lợi-phất… không thể lên ngồi” là nói ngài Thân Tử từ chối vì không thể lên ngồi. Tòa này cao rộng, kinh Pháp Hoa nói: Các pháp Không làm tòa. Lý không sâu rộng tức là sự cao rộng. Ngài Thân Tử và các đệ tử mới phát tâm đều chưa vào Phật tuệ, không được thần thông Bất tư nghị, sao được đồng các Đại Bồ-tát mà lên, cho nên tuy thấy tòa này mà không thể lên ngồi. Như người thấy trò ảo thuật hóa một hay nhiều việc mà mình không làm được. Thân Tử... cũng thế. Tuy thấy trong thất các việc rộng lớn như thế mà không có thần lực này nên không thể lên ngồi. Sở dĩ người mới phát tâm không thể lên ngồi, là vì hàng phục kiết ngũ thông của Tam tạng giáo không phải bậc Lậu tận, không bằng Nhị thừa sao có thể lên ngồi. Hàng Lục địa của Thông giáo đoạn kiết cùng A-la-hán ngang nhau, được Lục thông nội giới. Nếu xem về Viên giáo cũng còn là La-hán mới phát tâm, cũng chưa thể lên ngồi, hàng Lục địa sao có thể ngồi. Riêng ba mươi tâm của Biệt giáo tuy được năm thông ngoại giới, cũng gọi là mới phát tâm, chưa vào Sơ địa của giải thoát bất tư nghị, sao có thể lên ngồi. Hàng Thập tín của Viên giáo tuy đã tịnh sáu căn, cũng gọi là mới phát tâm, chưa vào sơ trụ chân ứng hai thân, sao có thể lên ngồi.
* Khuyên đảnh lễ “Duy-ma-cật… bèn có thể đến ngồi”. Sở dĩ phải đảnh lễ, là vì Thân Tử và các đại đệ tử chưa vào đại đạo. Người mới phát tâm... tuy là Bồ-tát nhưng chưa trụ giải thoát Bất tư nghị, không được sức tự tại nên không thể lên ngồi. Nếu đảnh lễ Đức Phật ấy, nhờ thần lực Phật mới có thể lên ngồi. Lại giải Tiểu thừa quy hướng Như Lai, tức là hồi tâm hướng về Đại thừa. Biểu thị đến thời Pháp Hoa sẽ được an trụ vào thật trí, được thọ ký làm Phật, cho nên được lên ngồi. Các người mới phát tâm nghe lời nói bất tư nghị này, tâm liền ngộ giải. Hoặc đến thời Đại phẩm thì được vào. Nếu đến thời Pháp Hoa mới nghe chánh trực xả phương tiện đều có nghĩa nhập, nên được lên ngồi.
* “Do đó… tòa sư tử) là những người mới phát tâm nghe lời khuyên đảnh lễ mà được lên tòa, là do nhờ thần lực của Đức Phật ấy. Cũng là
biểu thị xa về sắp xứng hợp lý không của Đại thừa nên được lên tòa.
Phần ba, Chính nói ngài Tịnh Danh nói lực dụng giải thoát bất tư nghị. “Xá-lợi-phất…’ Văn có hai: * Ngài Thân Tử thấy thần dụng bất tư nghị này khen là chưa từng có. Hai là Ngài Tịnh Danh đáp lời nói rộng chư Phật, Bồ-tát trụ vào quả vị giải thoát bất tư nghị, có thần dụng lớn.
* Ngài Thân Tử thấy thần lực này về các tòa cao rộng, nếu đặt một Tòa cao rộng tám vạn bốn ngàn do-tuần thì cõi Diêm-phù này không đủ chứa. Vì sao? Vì đất cõi Diêm-phù-đề chỉ dài có bảy ngàn do-tuần đâu thể chứa được một tòa này, huống là ba mươi hai tòa cùng vào một tiểu thất, mà y chánh của thành Tỳ-da-ly trong cõi Diêm-phù đều không hư hại, cũng không chật chội, thật khó lường. Thế nên ngài Thân Tử mừng khen.
Hỏi: Nhà nhỏ sao chứa được các tòa lớn?
Đáp: Thế đế có hai, tư nghị thì nhỏ không chứa được lớn. Bất tư nghị thì nhỏ ắt chứa được lớn, như cả cảnh tượng lớn vẫn hiện đủ trong mặt gương một thước.
* “Duy-ma-cật nói…” là chính căn cứ quả địa giải thoát ba đức bất tư nghị mà đáp. Sở dĩ ước quả mà đáp, là vì ngài Thân Tử thấy việc này khen là chưa từng có mà không suy biết là những pháp môn nào. Thời chúng chưa trụ vào Giải thoát này cũng không biết như thế. Cho nên ngài Tịnh Danh hiển bày chư Phật được thứ giải thoát này mà đáp là Bồ-tát trụ vào Giải thoát này tức hay có đại thần dụng. Nay ngài Tịnh Danh là Đại Bồ-tát trụ vào Giải thoát này, nên hiện ra sự việc như thế. Văn có ba: Một là, Nói Phật, Bồ-tát hiển bày thể bất tư nghị. Hai là, Nói Bồ-tát trụ vào trí bất tư nghị. Ba là, Nói đại dụng bất tư nghị.
Đây là chính nói ba đức giải thoát, hiển bày cái dụng của quả địa pháp thân đại bi bệnh quyền trong phẩm Thăm bệnh ở trên. Vì sao? Vì trên chỉ hiện một nhà trống để một cái giường để người bệnh nằm. Nay lại hiển bày việc này là cốt nói chư Phật, Bồ-tát có giải thoát, tức hiển sáng chân tánh. Trên chỉ đặt một cái giường là biểu thị cho chân tánh này vậy. Bồ-tát trụ vào Giải thoát này. Đây là thật tuệ cùng chân tánh tương ưng nhau mà nhập lý Bát-nhã gọi là trụ. Trụ là yên tịnh dứt nghỉ. Thật tuệ thấy lý nghỉ làm phương tiện. Trên hiện nằm ngủ là biểu thị việc này. Có thể đem núi Tu-di cao rộng để trong một hạt cải nhỏ bé, tức là phương tiện. Trên không bệnh hiện có bệnh, chính là biểu thị việc này. Sở dĩ ngài Tịnh Danh hiển bày lại ba đức giải thoát, là trên tuy nói về bệnh quyền chính vì lợi vật, nhưng chưa nói về vô lượng phương tiện Bất tư nghị để ích vật. Thời chúng sao biết được việc tích
xứ bệnh quyền lợi vật biên không ở mười phương. Nay nhân mượn tòa vào thất làm chứng cho việc tích xứ bệnh quyền có cái dụng lợi vật bất tư nghị này. Trước nói chư Phật, Bồ-tát có giải thoát hiển bày chân tánh, là chân tánh cùng chúng sinh cùng có. Vì như Phật, Bồ-tát hay được lý này, nên có được đại dụng. Như được châu Như ý thì ắt có mưa báu. Hai, nói trụ trí Bất tư nghị “nếu Bồ-tát trụ ở giải thoát này) tức là thật tuệ. Vì được thật tuệ thì có thể dùng bất trụ pháp mà trụ vào chân tánh này. Tạng Thông không nói lý này, nên Bồ-tát không trụ. Về Biệt, Viên địa trụ trở lên thì luôn trụ ở lý này tức có đại dụng. Như châu Như ý tự nhiên hiện ra vật. Nay ngài Tịnh Danh hậu tâm trụ ở lý có công dụng không ai sánh được.
Về đại dụng bất tư nghị “Đem núi Tu-di…”. Tức là thật tuệ cùng chân tánh hợp nhau mà có được sự khó suy lường này. Đại luận nói nước bạc hòa cùng vàng ròng đem tô đắp các tượng. Công đức hòa cùng pháp thân, nơi nơi đều hiện đến. Văn có hai: nói tắt riêng về dụng bất tư nghị và nói rộng chung nói dụng bất tư nghị.
- Tóm tắt riêng nói: Văn nêu ra tám cặp đối nhau. Cặp đầu là núi biển đối nhau cũng là y chánh báo đối nhau. Đem núi Tu-di... Người được giải thoát Bất tư nghị bèn nương y báo mà được tự tại. Việc này không dễ. Có Sư nói do thần lực mà được như thế. Nay cho ràng đó là tánh bất tư nghị, không phải do thần lực của Phật hay trời, người, Tu-la nào có thể làm được. Có sư nói: Nhỏ không tướng nhỏ, lớn không tướng lớn nên được vào. Nay bảo nhỏ là nhỏ, lớn là lớn là tự tánh. Nhỏ lớn không được vào nhau, tức là nhỏ lớn lớn nhỏ, đã là tha tánh thì sao được vào. Nay hiểu theo kinh Hoa Nghiêm nói: “Một hạt vi trần có đại thiên kinh quyển.” Quán chúng sinh một niệm tâm vô minh tức là tâm Như Lai. Nếu thấy được tâm này thì có thể đem núi Tu-di để vào hạt cải, nào có ngại gì? Các việc bất tư nghị sau này dầu cùng kiếp nói cũng không hết, đều là ý này. Nên văn nói: Giải thoát của chư Phật phải tìm ở tâm hạnh chúng sinh, nếu quán tâm hạnh chúng sinh thì được giải thoát của Phật. Trụ vào Giải thoát này thì có thể hiện được các việc bất tư nghị như thế. Vì sao? Vì các phương tiện giáo có nói: Hàng Nhị thừa giải tho- át thiên chân là giải thoát tư nghị, như được chất pha lê mà không được mưa báu. Viên giáo Trung đạo thì chân tánh viên chân, tức là giải thoát bất tư nghị. Như được châu Như ý mưa báu đại thiên. Thấy chân tánh tâm hạnh chúng sinh, tức được chân tánh của hạt cải và núi Tu-di nhất như không hai. Nếu được cái nhỏ của chân tánh hạt cải hay dung chứa cái lớn của núi Tu-di thì được cái lớn của chân tánh núi Tu-di thì không
ngại gì cái nhỏ của hạt cải. Nêu một ý này có thể suy các ý khác.
Nói chúng sinh ở trong ấy... chúng sinh đã không thấy cái chân tánh nhỏ lớn thì đâu biết được cái cơ được độ, nhờ thần lực gia hộ mà thấy được việc đó. Nếu hay quán chân tánh này mà vào quán hạnh tương tợ. Nhân đây tất được Diệt độ của Như Lai. Cho nên nói bèn có thể thấy. Nên kinh Pháp Hoa nói sáu căn thanh tịnh chỉ riêng mình thấy rõ ràng, người khác không thấy được. Lại đem cả nước bốn biển lớn để vào một lổ chân lông. Biển đối với núi Tu-di vào một lổ chân lông, là chánh báo tự tại. Nếu gặp nước biển chân tánh tức là chân tánh một sợi lông, tức hay đem nước biển để vào một sợi lông, đối với thân chánh báo không ngại gì.
Cặp thứ hai là ném thế giới, đi lại đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... bổn tướng như cũ”. Nếu Bồ-tát trụ vào chân tánh thế gian tức có thể làm như thế.
Cặp thứ ba là dài ngắn đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... bảy ngày”. Nếu Bồ-tát trụ ở chân tánh thời tiết thì có thể như trong một niệm mà rộng thấy việc ba đời như thế. Nếu nói là ngắn thì thấy việc ba đời, nếu nói là dài thì chỉ một niệm chiêm bao.
Cặp thứ tư là kia đây đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... bổn xứ”.
Cặp thứ năm là có quốc độ đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... kiến chi”
Cặp thứ sáu là gió, lửa đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... vi hại)
Cặp thứ bảy là trên, dưới đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... sơ nhiễu” nhưng kinh lược bỏ không đem trên đặt dưới, nghĩa suy ra ắt có.
Cặp thứ tám là thân và tiếng đối nhau “Hựu Xá-lợi-phát... đắc văn”. Các việc trên đều nên căn cứ theo núi và biển. Trụ vào chân tánh thì được như thế. Vì bệnh quyền biến hiện để lợi vật, thật khó lường, những ai thấy nghe thì đều được độ.
- Nói rộng kết chung Về đại dụng bất tư nghị vô lượng, “Xá-lợi- phất… bất tận”. nếu trụ vào chân tánh tức các pháp tánh. Pháp tánh thì vô lượng, biên không, ắt có đại dụng bất tư nghị cũng vô lượng, biên không, há có thể cùng kiếp mà nói hết được sao. Tức là thùy tích bệnh quyền ở ba cõi lợi vật và hư không bằng nhau. Hiển bày quả địa đại bi bệnh quyền nghĩa đã khá rõ.
Ngài Đại Ca-diếp khen ngợi “Nhĩ thời…”. Văn có hai:
a) Tự khen ngợi.
b) Bảo ngài Xá-lợi-phất là việc đáng khen.
a) Tự khen: Ngài Ca-diếp nghe nói về dụng khó thể suy lường,
việc chứng của hàng Nhị thừa không như việc này. Từ xưa nay chưa nghe nên khen là chưa từng có.
Nói với ngài Xá-lợi-phất là việc đáng phục “vị Xá-lợi-phất…”. Lại có bốn: Một là, Hàng Tiểu thừa nghe nói không hiểu được. Hai là, Khuyên người trí phát tâm. Ba là, Tự trách Thanh văn không có phần. Bốn là, Mừng Bồ-tát được lợi.
- Hàng Tiểu thừa không hiểu: Vì hàng Tiểu thừa không có ba căn vô lậu Đại thừa, tuy nghe vẫn không hiểu. Ngài Ca-diếp tự đặt thí dụ mù để làm sáng tỏ nghĩa này. Tức có hai: Khai dụ và hợp dụ. Đối trước kẻ mù hiện bày hình sắc, người mù tuy không thấy nhưng không phải Không nghe sắc. Đây là thí dụ hàng Nhị thừa không có ba căn vô lậu Đại thừa. Nghe nói về thần lực, nhưng đã không thấy lý thì không biết được thần dụng ý thú do đâu mà có. Như người mù không thấy sắc, tuy nghe người khác nói mà không biết nhân đâu mà có. Nên nói không thể hiểu là như thế. Vì sao? Vì hàng Nhị thừa tuy được tuệ nhãn để thủ chứng nên căn Pháp nhãn hư hoại. Tuy lại nghe nói nhưng không thể phát ra thức để thấy được việc ấy. Như người mù ở đời vì căn nhục nhãn hư hoại, tuy đứng trước các màu sắc nhưng không thể phát ra thức thấy được.
- Khuyên người trí phát tâm “trí giả Tam-bồ-đề tâm…”, trừ hàng Nhị thừa chánh vị, còn người có trí của năm thừa kia đều có thể phát tâm học pháp môn này.
- Ca-diếp tự trách hàng Thanh văn không có phần “ngã đẳng… thế giới”. Vì tất cả Thanh văn đã mất hẳn căn, là hạt giống không nảy mầm. Nghe nói lời ấy đều gào khóc tiếng vang động đại thiên, không gây nhân ở ba cõi, đối đại thiên thế giới thì mất hẳn việc này, nên thảm thương tự trách. Ngài Ca-diếp ở đây trách các chánh vị khiến thành sinh tô, khi vào Đại phẩm thì thành thục tô, đến Pháp Hoa thì thành đề hồ.
Bốn, Ca-diếp mừng các Bồ-tát “Nhất thiết trí…”. Có hai:
* Mừng khuyên lãnh thọ, như văn kinh.
* Được chân pháp này, Đại sĩ trụ trong pháp môn này liền biết ma huyễn. Nên nói Bồ-tát tin hiểu pháp môn, thì tất cả chúng ma không làm gì được.
Phần năm, Thời chúng được lợi ích “Đại Ca-diếp… Tam Bồ-đề tâm” hàng Thiên nhân được lợi ích, chính là do nghe nói độ dụng bất tư nghị này, cũng là ngài Ca-diếp tự khen khuyên nên đều phát tâm.
Phần sáu, Kể thành việc ngài Đại Ca-diếp “Nhĩ thời…”. Ở trên ngài Đại Ca-diếp nói: Pháp môn này ma không thể phá hoại. Nay thuật
thành ý này có hai: Một là, Nói ma không thể phá hoại. Hai là, Nói trụ vào Bất khả tư nghị thì Bồ-tát hay thành tựu được người tu hành.
Một, Ma không thể phá hoại. Tất cả chúng ma không thể phá hoại, là phàm làm ma vương phần nhiều đều trụ ở pháp môn này để khích động các người mới học phương tiện Bồ-tát và những kẻ mới học tu Viên đạo. Nếu là chân đạo thì như bình báu kim cang không thể phá. Cũng như heo cọ cột vàng thì cột càng sáng bóng, như ma đến thì lại tăng thêm phước trí.
Hai, Nói Bồ-tát trụ vào bất tư nghị hay thành tựu người tu “Hựu Ca-diếp… chi môn”. Các người học Phương tiện và người sơ học Viên giáo hành trì lục độ bố thí... hay trụ vào bất tư nghị thì các Bồ-tát thường đến thử thách, khiến họ càng bền chắc. Như kinh Pháp Hoa nói Thích- ca nhân địa luôn nhờ Điều-đạt giúp thành. Nếu hàng Tiểu Bồ-tát thì không thể như thế được. Tức dùng thí dụ mà hiển bày. Khai dụ hợp dụ xem văn có thể hiểu.