Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trường A Hàm

Kinh Trường A Hàm

Tác giả: HT. Thích Đưc Trí tuyển dịch. Năm xuất bản: 2003. Số trang: 342.

Kinh Trường A-Hàm tuyển dịch thuộc A-hàm bộ trong Hán tạng (Phật giáo Bắc truyền / Kinh điển Nguyên thủy). Tác phẩm này được in trong tập đầu tiên của bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
Công trình tuyển dịch/trích dịch cụ thể mà bạn nhắc đến chính là tập Kinh Trường A-Hàm do cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Đức (tức Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu, một bậc danh tăng lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam hiện đại) thực hiện, đôi khi trong một số ấn bản kỹ thuật số hay bị ghi nhầm hoặc viết gọn thành danh xưng Thích Đức Trí tuyển dịch.

Vị trí và Đặc điểm của bộ kinh này

• Bản chất giáo lý: Mặc dù nằm trong Hán tạng (hệ thống kinh điển chữ Hán), nhưng bộ kinh này chứa đựng những lời dạy thuộc Phật giáo nguyên thủy, nền tảng giống như hệ kinh tạng Pali (Nam truyền), chứ không mang tư tưởng Đại thừa phát triển.
• Tên gọi "Trường": Chữ "Trường" (Dīrgha) có nghĩa là dài. Bộ kinh này tập hợp các bài kinh có độ dài lớn, mang tính chất đối thoại, giảng giải và phá rã các tà thuyết ngoại đạo thời Ấn Độ cổ đại.
• Bản dịch đối chiếu: Bộ Kinh Trường A-hàm (gồm 30 bài kinh dài bản Hán dịch) có nội dung hoàn toàn tương đồng và đối chiếu trực tiếp với bộ Kinh Trường Bộ (Dīgha Nikāya, gồm 34 bài kinh bản Pali) của Phật giáo Nam truyền.
• Giá trị tuyển dịch: Tập sách tuyển dịch của Cố Hòa thượng Thích Trí Đức (Thích Thiện Siêu) tập trung chọn lọc các bài kinh cốt lõi nhất như Kinh Đại Bản Duyên, Kinh Du Hành (ghi lại những ngày tháng cuối cùng và sự kiện nhập Niết-bàn của Đức Phật Thích Ca) để giúp người học dễ dàng tiếp cận tinh hoa giáo lý sơ thời một cách cô đọng.

Chương 16: Kinh Kiên Cố (Trang 287 - 293)

Kinh Kiên Cố (Trang 287 - 293)


KINH KIÊN CỐ
(Dạy về tứ đại do đâu diệt mất và Tỷ-kheo nên hiện thần thông như thế nào)
*


          Tôi nghe như vầy: Một thời Thế Tôn ở tại rừng Ba-bà-lợi-ám-thứ (Pavarikambavana) thuộc thành (Nalanda) cùng với chúng đại Tỷ-kheo 1.250 người đông đủ.
          Lúc đó có một ông trưởng giả tên Kiên Cố, đi đến chỗ Phật đảnh lễ rồi ngồi lại một bên và bạch Phật rằng: “Trọn lành thay, đức Thế Tôn! Trông mong Ngài dạy cho các vị Tỷ-kheo từ nay, nếu gặp các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ đến, thì nên hiện thần thông để tỏ bày diệu pháp của bậc thượng nhân”.
          Phật dạy: “Này Kiên Cố! Ta không bao giờ dạy các Tỷ-kheo vì các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ hiện phép thần thông của bậc thượng nhân, nhưng Ta chỉ dạy các đệ tử ở chỗ tịnh mặc, lặng lẽ gẫm đạo, nếu có công đức hãy tự che dấu, nếu có tội lỗi hãy tự phát lộ sám hối”.
          Trưởng giả Kiên Cố lại bạch Phật một lần nữa như trên. Phật cũng trả lời như trên. Trưởng giả Kiên Cố lại bạch Phật nữa: “Riêng tôi đối với pháp
 
 
 
 

thượng nhân (Phật) không có gì hoài nghi nhưng ở thành Na-lan-đà này, ruộng đất giàu có, nhân dân đông đúc, nếu ở tại đây hiện các thần thông, thì chắc có nhiều ích lợi, Phật và đại chúng dễ rộng bề hóa độ”. Phật dạy: “Ta không bao giờ dạy các Tỷ-kheo hiện thần thông, nhưng Ta chỉ dạy các đệ tử ở chỗ tịnh nặc, lặng lẽ gẫm đạo, nếu có công đức hãy tự che dấu, nếu có tội lỗi hãy tự phát lộ sám hối. Vì sao? Vì có 3 loại thần thông: một là Thần túc, hai là Quán tha tâm, ba là Giáo giới.
          Này ông trưởng giả! Thần túc thông là thế nào? Là nếu các Tỷ-kheo tập luyện theo phép Thần túc vô lượng, thì có thể 1 thân biến ra vô số thân, vô số thân hợp lại thành 1 thân, hoặc đi xa đi gần, trên núi dưới biển, xuyên đá qua vách, đều tự tại vô ngại , không khác gì đi giữa hư không; hoặc ngồi kiết già  giữa hư không cũng như chim bay, ra vào cõi đất cũng như ra vào trong nước, đi trên mặt nước cũng như đi trên đất liền, hoặc thân tuôn khói lửa như đám cháy lớn, hoặc lấy tay rờ mặt trời mặt trăng, hoặc đứng cao thấu trời Phạm thiên. Nếu khi đó có cư sĩ thâm tín nào trông thấy, đem học lại với các cư sĩ chưa tin rằng: “tôi thấy vị Tỷ-kheo kia hiện vô lượng thần thông, đứng lên thấu trời Phạm thiên”. Người chưa tin đó nói lại: “tôi nghe phép thần chú Cù La của ngoại đạo cũng có thể hiện vô lượng thần biến, hoặc đứng lên thấu Phạm thiên như thế”.
 
 
 
 
 
Này trưởng giả Kiên Cố! Kẻ chưa tin kia nói như thế, há không phải là hủy báng đó ư? Kiến Cố đáp: “Đó thật là lời hủy báng”. – Này Kiên Cố! Vì cớ đó T không dạy các Tỷ-kheo hiện thần thông biến hóa. Ta chỉ dạy các đệ tử ở chỗ nhàn tịch lặng lẽ gẫm đạo, nếu có công đức hãy tự che dáu, nếu có tội lỗi hãy tự phát lộ, chính đó là các Tỷ-kheo của ta hiện thần thông vậy.
          Lại nữa, Tha tâm thông là thế nào? Là khi các Tỷ-kheo hiện phép Thần thông quán tha tâm, thấu biết các ý nghĩ trong tâm trí mọi người, dù cho sâu kín cũng đều biết rõ. Khi đó các cư sĩ thâm tín nào trông thấy, đem đồn lại với cư sĩ chưa tin rằng: “tôi thấy vị Tỷ-kheo kia hiện phép thần thông quán tha tâm, thấu rõ tâm niệm của người khác, dù cho sâu kín cũng đều biết rõ”, người chưa tin kia nghe thế buông lời: “Có phép thần chú Càn-đà-ra cũng biết rõ tâm niệm sâu kín của người khác như thế”. Này Kiên Cố! Đó há không phải là lời hủy báng ư? – Kiến Cố đáp: “đó thật là lời hủy báng”. Này Kiến Cố! Vì lẽ đó nên Ta không dạy cho các Tỷ-kheo hiện thần thông biến hóa. Ta chỉ dạy các đệ tử ở chỗ nhàn tịch lặng lẽ gẫm đạo, nếu có công đức hãy tự che dấu, nếu có tội lỗi hãy tự phát lộ, chính đó là các Tỷ-kheo của Ta hiện thần thông vậy.
          Lại nữa, Giáo giới thông là thế nào? Là gặp lúc đức Như Lai ra đời, nếu có các trưởng giả, cư sĩ
 
nghe Phật thuyết pháp phát sinh lòng tin, tin rồi quán sát, tự nghĩ không nên ở nhà, vì ở nhà thì bị câu tỏa buộc ràng, không thanh tịnh được để tu phạm hạnh, tốt hơn ta nên cắt bỏ râu tóc, mặc 3 y pháp, xuất gia hành đạo và đủ các công đức, cho đến thành tựu tam minh, diệt trừ si ám, sinh đại trí minh,; nhờ công phu tinh cần, ở chỗ nhàn tịch chuyên niệm không bỏ nên được kết quả như thế. Này Kiên Cố! Đó chính là Giáo giới thông mà các Tỷ-kheo của Ta thường hiện vậy.
          Ông Kiên Cố bạch Phật: Vả có vị Tỷ-kheo nào thành tựu cả 3 thứ thần thông ấy chăng?”
Phật dạy: Ta không nói có nhiều vị Tỷ-kheo thành tựu cả 3 thứ thần thông ấy. Nhưng trong chúng này có vị  Tỷ-kheo suy nghĩ: “thân tứ đại đất, nước, lửa, gió này bởi tại đâu mà diệt hẳn?” rồi thoạt hiện đến cõi trời Tứ thiên vương hỏi rằng: “thân tứ đại này bởi tại đâu được diệt hẳn?”  - Tứ thiên vương đáp: tôi không biết. Nhưng trên tôi có vị trời Đao-lợi trí tuệ lớn lao, thần diệu bậc nhất, ngài có thể biết điều đó.    
Vị Tỷ-kheo liền thoạt hiện đến trời Đao-lợi hỏi, trời Đao-lợi cũng đáp: Tôi không biết được, nhưng trên tôi nữa có vị trời Diệm-ma có thể biết điều đó. – Vị Tỷ-kheo liền đến hỏi, vị trời Diệm-ma cũng đáp: Tôi không biết được. Cứ vậy lần nữa đi đến trời Đâu-suất, Hóa-tự-tại, vị nào cũng đáp:
 
 
 
 
tôi không biết được, nhưng trên tôi nữa có vị trời Phạm Ca Di có thể biết được điều đó. Vị Tỷ-kheo thoạt đi đến Phạm thiên hỏi, vị trời cũng đáp: tôi không biết được, nhưng trên tôi còn có vị Đại Phạm thiên vương không ai sánh bằng, thống lãnh ngàn thế giới, giàu sang quyền quý, tự tại tự do, hay tạo hóa muôn loài, là cha là mẹ chúng sinh, chỉ có ngài mới biết tứ đại bởi tại đâu mà diệt  hẳn thôi. Vị Tỷ-kheo liền hỏi: vị trời Đại Phạm thiên ấy hiện ở đâu? – Đáp: “không biết ngài ở đâu, theo ý tôi xét thì ngài sẽ xuất hiện không lâu”. Qủa nhiên không bao lâu bỗng thấy Đại Phạm thiên xuất hiện, vị Tỷ-kheo liền đến hỏi: “Thân tứ đại này do đâu diệt hẳn?” Đại Phạm thiên đáp: “Ta Đại Phạm thiên, không ai sánh bằng, thống lãnh cả ngàn thế giới, giàu sang quyền quý , tự tại tự do, hay tạo hóa muôn loài, ta là cha là mẹ của chúng sinh”. Vị Tỷ-kheo nói: “tôi không hỏi việc đó, tôi chỉ hỏi tứ đại do đâu diệt hẳn thôi”. Đại thiên vẫn đáp: “Ta Đại Phạm thiên, không ai sánh bằng …, là cha mẹ chúng sinh, tạo hóa muôn loài”. Vị Tỷ-kheo lại nói: “tôi không hỏi điều đó, tôi chỉ hỏi tứ đại do đâu diệt hẳn thôi”. Vị Tỷ-kheo hỏi đến 3 lần như vậy mà Đại Phạm thiên cũng không đáp được, mới nắm tay mặt vị Tỷ-kheo dắt tới chỗ vắng nói: “các phạm thiên ở đây đều tôn ta là kẻ trí tuệ bậc nhất, không điều chi không biết, nên ta không thể ở giữa họ mà trả lời thẳng với người rằng: ta không hay biết tứ đại
do đâu diệt hẳn, vả ngươi sao dốt nát, bỏ đức Như Lai mà tìm đến chư thiên để hỏi việc đó? Ngươi nên trở lại thưa hỏi đức Như Lai, Như Lai hiện ngự tại vườn Cấp-cô-độc nước Xá vệ, ngươi hãy đến đó thưa hỏi gấp đi”.
          Vị Tỷ-kheo bỗng biến mất từ cõi Phạm thiên nhanh như thì gian kẻ tráng sĩ co duỗi cánh tay, hiện đến vườn Cấp-cô-độc, vào đảnh lế đức Như Lai rồi ngồi lại một bên, bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn: thân tứ đại này do đâu mà diệt hẳn?” – Phật liền bảo: này ông Tỷ-kheo! Ví như người lái buôn nọ mang con chim ưng vào biển, thả đó, chim bay giữa hư không khắp nam bắc đông tây, nếu gặp lục địa thì nó đậu xuống, còn không gặp lục địa thì nó trở lại đậu vào thuyền, này Tỷ-kheo, ngươi nay cũng như thế, đi cho đến Phạm thiên hỏi điều ấy, khi không được mới trở lại hỏi Ta, Ta sẽ dạy ngươi hiểu điều đó. Phật liền dạy bài kệ:
Do đâu không tứ đại:
Đất, nước, gió, lửa diệt?
Do đâu không thô, tế.
Và dài vắn, tốt, xấu?
Do đâu không danh sắc?
Diệt hẳn không dư thừa?
Nến đáp: ‘Thức vô hình,
Vô lượng, tự sáng soi,
Thức diệt thì tứ đại diệt,
 
 
 
Thô, tế, tốt xấu đều diệt
Và nếu danh sắc diệt,
Thì thức diệt và hết thảy đều diệt”.
`        Trưởng giả Kiên Cố bạch Phật: Vị Tỷ-kheo đó tên gì? Làm sao nhớ? – Phật dạy: vị Tỷ-kheo ấy tên A Thất Dĩ, nên nhớ như thế.
          Kiên Cố trưởng giả nghe Phật dạy xong, hoan hỷ phụng hành.
 
 
 
*
*                    *
 
/23
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »