Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 1

Luật Ma Ha Tăng Kỳ - Tập 1

Tác giả: Hán dịch: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển, việt dịch: Thích Phước Sơn. Dịch giả: Thích Phước Sơn. Hiệu đính Hán Văn: Hán dịch: Phật Đà Bạt Đà La - Sa Môn Pháp Hiển. Số trang: 512.

Chương 13: 6. Giới: Làm Nhà Quá Mức Qui Định

Phật bèn nói với các Tỳ-kheo:
- Hai người khi ấy chính là hai Ma-ha-la ngày nay. Còn con lừa nay là con trai của Ma-ha-la. Khi ấy họ đã đổi chác nhau bằng sự lừa gạt, rồi hoan hỷ, ngày nay cũng thế, lừa dối lẫn nhau để mà hòa hợp, rồi lại hoan hỷ. Rồi Phật kết luận:
- Nếu Tỳ-kheo đứng ra tác hợp cho người nữ, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Tác hợp cho kẻ hoàng môn, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Tác hợp cho đàn ông và súc sinh, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Tác hợp cho Khẩn na la cái và khỉ cái, thì phạm tội Thâu-lan-giá.
(Hết giới Tăng tàn thứ 5)
6. GIỚI: LÀM NHÀ QUÁ MỨC QUY ÐỊNH.
(276b) Khi Phật an trú tại tinh xá Khoáng Dã, nói rộng như trên. Bấy giờ, các Tỳ-kheo ở trong tinh xá này làm 500 cái phòng riêng, đều do họ tự đi xin vật liệu về làm.
Có một Tỳ-kheo vào buổi sáng sớm khoác y, cầm bát vào thôn Khoáng Dã để xin vật liệu làm phòng. Lúc ấy, có một người bán tạp hóa mang những cái móc cửa ra tiệm tạp hóa mở cửa hàng định bán, thì trông thấy Tỳ-kheo từ xa đi nhanh đến. Người chủ tiệm liền suy nghĩ:"Vị Tỳ-kheo này đến đây chắc là để xin vật liệu làm phòng. Từ sáng sớm đến giờ ta chưa bán chác được gì, thì lại có người đến xin". Nghĩ thế ông bèn đóng cửa hàng trở về nhà. 
Rồi Tỳ-kheo suy nghĩ: "Ông khách buôn này thấy ta bèn đóng cửa hàng trở về nhà, chắc là biết ta đến xin vật liệu mà không muốn cho chớ gì?". Nghĩ thế rồi, thầy liền đi tắt một đường khác đón đầu ông ta, hỏi: "Lão trượng, 
ông định đi đâu mà không đợi tôi? Tôi biết nhờ ai để cất phòng, chỉ có nhờ ông thôi. Vì ông là người tin Phật pháp, biết có tội phước, hễ tạo nghiệp thì có quả báo..., mà không muốn cho, thì còn ai cho tôi? Lão trượng nên biết rằng đức Thế Tôn đã dạy:
- Phải khởi từ tâm đối với người không muốn nghe, phải tạo phương tiện khiến cho họ nghe; Với những người không tin, phải làm cho họ tin; Thậm chí phải dùng tay kéo đầu họ, khuyên họ bố thí. Bởi lẽ, những người ấy sau khi mệnh chung sẽ sinh lên cõi trời, có sắc đẹp, sức khỏe, trường thọ và quyến thuộc đông đúc; đến khi sinh vào cõi người cũng được khoái lạc, có sắc đẹp, sức khỏe, sống lâu và bà con sum vầy, biết tu tập Phật pháp, làm tăng trưởng công đức, kiến tạo đạo quả.
Này lão trượng, thế nên đức Thế Tôn nói kệ:
"Làm phước hưởng quả vui, 
Muốn gì được tự nhiên, 
Vượt khỏi dòng sinh tử,  
Lên tới cõi Niết bàn.  
Nếu người làm việc phước  
Thiên thần liền gia hộ  
Nguyện gì cũng thành tựu  
Ma quân không thể hại.  
Ðức mỏng nhiều phiền não  
Phước lớn tai họa tiêu 
Phước đức mà vững chắc 
Ðịnh kiên cố chóng thành. 
Sinh thiên hưởng khoái lạc  
Cõi người cũng tự tại. 
Vì do công đức này 
Ðến đâu đều tự nhiên.  
Nhân phương tiện phước báo  
Vĩnh ly khổ sinh tử. 
Ðắc đạo đến Niết bàn 
Hết trôi nổi tái sinh".

Khi Tỳ-kheo đọc bài kệ ấy rồi, lại nói: "Lão trượng! Ông giúp tôi cất phòng (276c) thì phước đức rất lớn". Sau khi nghe thuyết pháp, khách buôn liền bố thí ít nhiều.
Thế rồi, ông suy nghĩ: "Nếu ta trở lại cửa hàng, thì sẽ có nhiều người đến xin, đã không được lợi mà còn bị lỗ vốn, chi bằng ngồi ở nhà thì mới bảo toàn được vốn liếng, hơn là ra sạp mua bán, vốn lời sẽ mất hết". Suy nghĩ như thế rồi, ông bèn trở về nhà ngồi nghỉ.
Bà vợ thấy ông chồng như thế, nổi giận nói: "Vì sao ông ra chợ rồi lại quay về liền? Biếng nhác như thế thì lấy gì để nuôi sống các con, đóng tiền sưu dịch cho nhà nước?"
Khách buôn đáp:
- Bà chớ giận, hãy nghe đã. Sáng sớm hôm nay, tôi ra cửa hàng ngoài chợ.v.v..( nói rộng cho đến) vì sợ mất vốn nên trở về nhà. Bà vợ biết rồi, liền im lặng không nói.
Ðoạn nói về tôn giả Xá-Lợi-Phất, khi vào xóm làng khất thực tuần tự, liền đến đứng ngoài cửa nhà ấy. Bà vợ ông nhà buôn vốn là người có niềm tin sâu xa, cung kính, nên khi trông thấy Xá Lợi-Phất, bèn lấy cái bát sạch bỏ đầy thức ăn, đem ra đổ vào trong bát Xá-Lợi-Phất, rồi đảnh lễ dưới chân, cung kính vấn an.


Bấy giờ, Xá-lợi-phất an ủi, hỏi thăm: "Trong nhà sinh hoạt thế nào, có tốt đẹp không?"
Bà ta đáp: "Trong nhà đều tốt cả, chỉ có việc sinh nhai bị đình đốn".
Hỏi: "Vì sao như vậy?".
Bà bèn đem các nhân duyên trên bạch đầy đủ với Xá-lợi-phất: "Các sinh hoạt trong nhà như ăn uống, y phục và cung cấp sưu dịch cho quan, đều trông cậy vào cái cửa hàng, nhưng nay ông chồng chỉ ở riết trong nhà, vì sợ người ta đến xin. Thực sự ông đang ở nhà mà ông bảo là đi, thực sự đang thức mà bảo là ngủ. Thầy là người mà nhà tôi cung kính, tôn trọng cúng dường, không dám giấu điều chi, nên mới thố lộ cùng thầy".
Bấy giờ, Xá-lợi-phất bèn dùng nhiều cách thuyết pháp cho bà vợ ông khách buôn, khiến bà ta sinh tâm hoan hỷ. Rồi thầy trở về tinh xá, đem sự việc trên bạch đầy đủ lên Thế Tôn. 
Phật liền bảo: "Gọi Tỳ-kheo kinh doanh ấy đến đây?"
Sau khi thầy được gọi đến, Phật bèn hỏi: "Có thật ông đi xin vật liệu về làm phòng, phiền lụy các thí chủ, khiến họ phiền trách với Xá-lợi-phất về việc của ông không?"
Ðáp: "Có thật như vậy bạch Thế Tôn!"
Phật liền khiển trách: "Ði xin vật liệu về làm phòng riêng, làm não loạn các thí chủ là ác pháp".
Rồi Phật khuyến cáo các Tỳ-kheo:   
- Các thầy chớ có làm phòng riêng, khiến não loạn đến các thí chủ nữa. Vì tiền tài khó kiếm, (277a) việc bố thí cũng gian nan. Các Bà-la-môn, cư sĩ xén bớt tài vật để cúng dường Sa-môn y phục, ẩm thực, sàng tọa và các thứ thuốc men phòng trị bệnh, những việc đó thật rất gian nan.
Phật bèn nói với các Tỳ-kheo kinh doanh: "Trong thời quá khứ, có một Tỳ-kheo tên Bạt-cừ sống ở trong rừng, đồng thời có nhiều con chim thích quân cũng đậu nơi rừng ấy, sớm chiều kêu inh ỏi, làm não loạn Tỳ-kheo ấy".
Bấy giờ, Tỳ-kheo Bạt-cừ bèn đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng hầu một bên. Thế rồi, đức Thế Tôn bèn an ủi, hỏi Tỳ-kheo đang sống trong rừng ấy như sau: "Thế nào? Thầy ít bệnh, ít phiền não, sống trong rừng vui vẻ chứ?". Thầy liền đáp: "Bạch Thế Tôn! Con ít bệnh, ít phiền não, sống trong rừng vui vẻ, nhưng vào buổi sớm mai và chiều tối, bị các con chim thích quân kêu inh ỏi, làm não loạn không thể suy nghĩ được". Phật liền hỏi Tỳ-kheo ấy: "Ông muốn tất cả các con chim thích quân không đến chăng?". Ðáp: "Con mong như vậy, bạch Thế Tôn!". Phật nói: "Này Tỳ-kheo, cứ vào buổi chiều, bầy chim thích quân bay về. Ông xin mỗi con một cái lông, rồi sáng sớm chúng bay đi, ông cũng xin như thế". Tỳ-kheo ấy liền bạch với Phật: "Lành thay đức Thế Tôn", bèn trở lại trong rừng, ngồi ngay ngắn suy nghĩ. Ðến khi mặt trời về chiều, bầy chim bay về kêu inh ỏi, thầy liền nói: "Này các con chim thích quân, mỗi chú cho ta mỗi cái lông, vì ta đang có việc cần     
dùng". Khi ấy, bầy chim bèn im lặng trong giây lát, rồi mỗi con nhổ một cái lông bỏ xuống đất. Vào buổi sáng sớm thầy cũng xin như thế.
Do vậy bầy chim bèn di chuyển đến nơi khác, ngủ lại một đêm, nhưng chúng không thích chỗ ấy, nên bay về lại. Thế rồi, Tỳ-kheo lại xin lông chúng như trước. Mỗi con cũng đều nhổ lông cho thầy. Rồi chúng suy nghĩ: "Nay ông Sa-môn này, xin một cách thật là kỳ quặc. E rằng không bao lâu nữa lông của chúng ta sẽ hết sạch và từng thớ thịt cũng sẽ rơi xuống đất, hết bay nổi nữa, biết làm sao đây?"Rồi cùng nhau bàn bạc: "Tỳ-kheo này thường sống trong rừng này, vậy chúng ta nên đi tìm một nơi khác để đậu, không nên trở về đây nữa".
Thế rồi Phật nói với các Tỳ-kheo: "Loài chim là giống súc sinh, còn ghét xin nhiều, huống chi người đời. Này các Tỳ-kheo! Chớ có kinh doanh sự nghiệp, khiến cho các Bà-la-môn, cư sĩ có tín tâm phải bỏ ra tài vật một cách đau khổ để cung cấp cho Sa-môn y phục, ẩm thực, giường nằm và các thuốc men phòng trị bệnh".
Các Tỳ-kheo liền bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao thầy Tỳ-kheo ở trong rừng ấy lại khiếp sợ sự hỗn loạn, chán ghét tiếng chim?"
Phật nói với các Tỳ-kheo: "Thầy Tỳ-kheo ấy không những ngày nay khiếp sợ mà trong quá khứ cũng đã từng khiếp sợ".
Các Tỳ-kheo hỏi: "Ðã có như vậy sao?"
Phật liền bảo với các Tỳ-kheo: "Trong thời quá khứ có một con voi sống nơi thanh vắng trong rừng. Rồi có    
một cơn gió lốc thổi mạnh, làm gãy cây cối. Voi nghe (277b) tiếng cây cối đổ gãy, liền sợ hãi tuôn chạy. Sau đó, nổi sợ hãi vơi dần, voi liền đến đứng dưới một cội cây, nưhng cây ấy lại gãy nữa, voi liền bôn tẩu. 
Bấy giờ, có một vị thiên nhân, thấy voi hoảng chạy, liền suy nghĩ: "Vì sao con voi này lại điên cuồng chạy loạn xạ như thế?", bèn đọc kệ:
"Gió trốt thổi lên cây đổ gãy, 
Voi kia hoảng sợ chạy điên cuồng. 
Giá như gió thổi khắp thiên hạ  
Bấy giờ voi ấy chạy về đâu?"
Thế rồi, Phật nói với các Tỳ-kheo: "Con voi thuở ấy chính là Tỳ-kheo ở trong rừng ngày nay".
Ðoạn Phật lại nói với các Tỳ-kheo kinh doanh: "Trong thời quá khứ có 500 vị Tiên nhân ở trong núi tuyết. Một tiên nhân ở riêng tại một chỗ có suối nước ngọt, hoa trái sum sê. Cách đó không xa, tại đầm Tát-la có một con rồng đang sống. Nó thấy vị Tiên nhân oai nghi tề chỉnh, sinh lòng yêu mến, bèn đến chỗ Tiên nhân, thì gặp lúc vị Tiên nhân đang ngồi kiết già. Rồng liền dùng thân quấn quanh vị Tiên nhân 7 vòng và dùng đầu che trên đỉnh tiên nhân, rồi đứng yên.... Ngày nào cũng như thế. Chỉ có lúc ăn là không đến. Vị Tiên nhân bị rồng quấn lấy thân, nên ngày đêm ngồi thẳng, không nghỉ ngơi được. Do đó, thân thể tiều tụy, sinh ra ghẻ chốc.   
Bấy giờ, có một người sống gần đó, thong thả mang đồ đến cúng dường tiên nhân, thấy Tiên nhân gầy ốm và ghẻ chốc, bèn hỏi: "Vì sao ông như thế?". Tiên nhân liền trình bày đầy đủ sự việc kể trên.
Người ấy liền nói với ông: "Ông có muốn con rồng này không trở lại nửa chăng?". Ðáp: "Muốn như vậy". Người ấy lại hỏi tiên nhân: "Con rồng ấy có đeo thứ gì không?". Ðáp: "Nó chỉ đeo chuỗi ngọc anh lạc trên cổ". Người ấy liền bảo: "Ông chỉ cần xin nó xâu chuỗi ngọc. Vì tính của rồng rất keo kiệt, nên nó sẽ không cho ông và do đó nó không đến nữa". Bày kế xong rồi, ông ta liền đi. Trong khoảnh khắc con rồng lại đến, Tiên nhân bèn xin chuỗi ngọc. Rồng nghe đến việc xin ngọc, trong lòng không vui, liền từ từ bỏ đi. Hôm sau, rồng bèn trở lại. Từ xa trông thấy, Tiên nhân bèn đọc kệ:
"Chuỗi Ma-ni ngời sáng, 
Anh lạc trang nghiêm thân. 
Rồng cho ta vật đó, 
Mới là tình bạn thân".
Khi ấy, con rồng liền đọc kệ đáp lại:
"Sợ mất chuỗi Ma-ni 
Phải cầm gậy xịt chó (để giữ gìn) 
Bảo châu khó có được 
Nên không đến thăm ông. 
Ma-ni này quí hơn 
Thức ngon và châu báu. 
(277c) Tôi không thể nào cho 
 

Cầu nhiều thân ái ly 
Do đó không đến nữa".

Bấy giờ, có vị trời đang ở trên hư không, liền đọc kệ:

"Nhàm chán sở dĩ sinh 
Ðều do tham cầu nhiều 
Lòng tham Phạm-chí hiện 
Rồng liền ẩn đầm sâu".

Thế rồi, Phật liền nói với các Tỳ-kheo kinh doanh: "Rồng là loài súc sinh còn ghét sự tham cầu nhiều, huống gì là người.
- Này các Tỳ-kheo! Chớ có kinh doanh nhiều việc, đòi hỏi hoài không biết chán, khiến cho Bà-la-môn, cư sĩ có lòng tin phải đau xót bỏ tài vật ra cung cấp cho Sa-môn như y phục, ẩm thực, giường nằm và các thứ thuốc men chữa bệnh.
Ðoạn, Phật nói với các Tỳ-kheo: "Có mười việc làm cho người ta không thích. Ðó là:
1) Không thường gần nhau. 
2) Quá thường gần nhau. 
3) Vì lợi mà gần nhau. 
4) Người đáng yêu mà không yêu. 
5) Kẻ không đáng yêu lại yêu. 
6) Không tin lời nói chân thật. 
7) Ưa xen vào việc người khác. 
8) Mình thật sự không có uy đức mà muốn áp đảo người khác. 
9) Ưa che giấu những lời nói gian tà.       

10) Tham cầu nhiều quá.
Ðó là mười việc làm cho người ta không thích".
Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo đang sống tại những nơi khoáng dã phải tập họp lại tất cả, vì mười việc lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
- Nếu Tỳ-kheo tự mình đi xin vật liệu về xây phòng ốc, không có thân chủ, tự bản thân mình làm, thì phải làm đúng qui định, tức là: Chiều dài 12 gang tay tu già đà, bên trong rộng 7 gang tay, phải dẫn các Tỳ-kheo đến xem chỗ xây phòng, nơi ấy không nguy hiểm, không có phương hại. Trái lại, nếu Tỳ-kheo tự đi xin vật liệu về làm phòng, không có thí chủ, tự mình làm lấy mà làm tại những nơi nguy hiểm, có phương hại, làm quá qui định, cũng không dẫn các Tỳ-kheo đến xem chỗ làm phòng, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Giải thích
Tự xin: Tự mình đi xin nhà này, nhà kia, hoặc một đồng, hai đồng cho đến trăm ngàn đồng.
Phòng xá: Mức độ căn phòng mà Phật cho phép.
Làm: Hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm.
Không có thân chủ: Không có thân chủ nghĩa là không có người đàn ông, đàn bà, tại gia hay xuất gia là thân chủ.
Tự thân: Tự chính mình.
Ðúng qui định: Qui định đúng pháp.
Dài: Ðo theo chiều dọc.
Rộng: Ðo theo chiều ngang.
Tu già đà: Vượt qua một cách khéo léo. (ám chỉ Phật) 
12 gang tay: Gồm hai thước bốn tấc.
Bên trong 7 gang tay: Phép làm phòng phải đo ở trong và ở ngoài, nghĩa là tính chiều dọc và chiều ngang bên trong bức tường.
Ðo mức độ cao thấp của căn phòng: Tường phải cao một trượng hai thước.
Dẫn các Tỳ-kheo đến xem chỗ làm phòng: Nghĩa là chỉ chỗ đất (qui định làm phòng).
Các Tỳ-kheo: (278a) Hoặc là chúng Tăng, hoặc là sứ giả của chúng Tăng.
Tăng: Vị Tỳ-kheo làm phòng trước hết vào trong Tăng làm pháp Yếtma xin Tăng nghe mình trình bày, rồi mới làm pháp yết ma xin cất phòng.
Người làm yết ma nói như sau:
- Xin đại đức Tăng lắng nghe: Vị Tỳ-kheo mổ giáp tự xin làm phòng, không có người giúp đỡ, tự mình làm lấy, muốn xin chúng Tăng chỉ cho chỗ (để làm). Nếu chúng Tăng thấy hợp thời, thì hãy chỉ chỗ cho Tỳ-kheo muốn xây phòng:
- Các đại đức Tăng lắng nghe: Tỳ-kheo mổ giáp xin Tăng chỉ chỗ, nay Tăng đã nhận lời, nên im lặng. Việc này hãy cứ như thế mà thi hành.
Thế rồi, vị Tỳ-kheo ấy vào trong Tăng, quỳ gối chấp tay nói như sau: "Ðại đức Tăng nhớ nghĩ cho! Con là Tỳ-kheo mổ giáp tự xin làm phòng, không người giúp đỡ, tự mình làm lấy. Nay đến trong Tăng xin phép làm phòng. Mong Tăng chỉ cho con chỗ làm phòng".
Thầy phải xin ba lần như vậy. Rồi Tỳ-kheo làm Yết-ma phải nói như sau:
"Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo mỗ giáp tự xin làm phòng, không có thí chủ, tự làm cho mình, đã đến trước Tăng 
 xin chỉ chỗ làm phòng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng này vì Tỳ-kheo mỗ giáp mà chỉ làm Phòng. Đây là lời tác bạch.
- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo mỗ giáp tự xin làm phòng, không có thí chủ, tự mình làm lấy, đã theo Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nay Tăng vì Tỳ-kheo mỗ giáp chỉ chỗ làm phòng. Các Ðại đức nào bằng lòng vì Tỳ-kheo mỗ giáp chỉ chỗ làm phòng thì im lặng, ai không bằng lòng hãy nói ?
Nếu tất cả trong Tăng không có ai làm Yết-ma, thì tất cả Tăng phải đi đến chỗ làm phòng, rồi một Tỳ-kheo xướng lên giữa Tăng rằng:
- Tất cả Tăng vì Tỳ-kheo mỗ giáp chỉ chỗ làm phòng. (nói như thế ba lần).
Sứ giả của Tăng: Nếu chỗ làm phòng xa xôi, hoặc bị nước ngăn cách, hoặc lúc trời lạnh, lúc nóng bức, lúc mưa lớn, hoặc lúc tuyết rơi nhiều, hoặc trong Tăng có nhiều Tỳ-kheo già bệnh không đến đầy đủ được, thì khi vị Tỳ-kheo ấy xin Tăng chỉ chỗ làm phòng xong, Tăng phải sai một, hai, tối đa là ba Tỳ-kheo (đại diện cho Tăng). Vì không thể làm Yết-ma cho tất cả chúng (từ bốn người trở lên). Rồi thầy Yết-ma nên nói như sau:
- Ðại đức Tăng xin lắng nghe! Tỳ-kheo mỗ giáp tự xin làm phòng, mà không có người giúp, tự mình làm lấy, đã ở giữa Tăng xin chỉ chỗ làm phòng. Nếu Tăng thấy hợp thời, thì Tăng sai Tỳ-kheo A, Tỳ-kheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳ-kheo mỗ giáp. Đây là lòi tác bạch.
- Xin đại đức Tăng lắng nghe! Tỳ-kheo mỗ giáp tự xin làm phòng mà không có người giúp, tự mình làm lấy, đã ở giữa Tăng
xin chỉ chỗ làm phòng. Nay Tăng hãy sai (278b) Tỳ-kheo A, Tỳ-kheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳ-kheo mỗ giáp. Các đại đức nào bằng lòng sai Tỳ-kheo A, Tỳ-kheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳ-kheo mỗ giáp, thì im lặng, ai không bằng lòng thì nói.
Vì Tăng đã bằng lòng sai Tỳ-kheo A, Tỳ-kheo B chỉ chỗ làm phòng cho Tỳ-kheo mỗ giáp nên im lặng. Tôi ghi nhận việc này như vậy.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo sứ giả đến chỗ làm phòng quan sát. Nếu tại chỗ ấy có nhiều côn trùng và những cây nhiều hoa trái, thì không nên chấp nhận. Ngoại trừ sau khi quan sát mà không có những thứ đó thì như trên đã nói.
Một Tỳ-kheo xướng rằng:
- Tăng đã xem chỗ làm phòng rồi. (Nói như thế ba lần)
Chỗ không nguy hiểm: Nơi ấy không có các giống côn trùng rắn rít, không có cây cối nhiều hoa trái.
Chỗ không phương hại: Bốn bên mỗi bên phải dung chứa được một cái thang có 12 nấc, và khoảng cách của mỗi nấc thang là một khuỷu tay. Cần phải sai người làm công dọn dẹp những cỏ tranh che phủ các lối đi lại xung quanh.
Nếu tại những chỗ nguy hiểm, có cây cối nhiều hoa trái, và chỗ có các loại trùng độc, rắn rít, xung quanh không dung chứa được một cái thang 12 nấc, không sai người dọn dẹp lối đi lại xung quanh bị cỏ tranh che khuất, mà Tỳ-kheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự làm lấy, cũng không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ để làm, và làm quá mức quy định, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Tăng-già-bà-thi-sa: Như trên đã nói.
Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng tại những chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, cũng không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ cần    
làm, hoặc làm dưới mức qui định, hoặc nhờ người khác làm, đến khi làm xong, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. 
Khi sử dụng thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Từ hai Tỳ-kheo cho đến nhiều Tỳ-kheo cũng như thế.
Nếu một Tỳ-kheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự làm lấy, lại làm tại chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, lại không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ cần làm, hoặc tự làm đúng mức quy định, hoặc bảo người khác làm, đến khi làm xong, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Từ 2 người trở lên đến nhiều người cũng đều như thế.
Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng, không có người giúp, tự mình làm lấy, làm nhằm chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, lại không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ cần làm, làm quá mức qui định, hoặc bảo người khác làm. Khi phòng làm xong thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Khi sử dụng thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Từ 2 Tỳ-kheo trở lên đến nhiều Tỳ-kheo cũng như thế.
Nếu Tỳ-kheo làm phòng tại chỗ không được chỉ định, hoặc ngoài phạm vi Tăng chỉ định, hoặc chỗ dự kiến chỉ định từ năm trước, hoặc tại các cù lao không phải đất cát, không phải đất có đá cuội, không phải ở trên tảng đá, không phải chỗ đất bị lửa đốt cháy; hoặc trong Tăng có một người không làm phòng, hoặc hai, ba người không làm phòng đều không nên chỉ chỗ. (278c) Nếu những người không làm phòng trong chúng số đông thì cho phép chỉ chỗ.
Nếu Tỳ-kheo muốn làm phòng vệ sinh mà phải dùng cái phòng đang ở để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng cái phòng đang chất củi để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng đến cái phòng ở trung tâm để làm, thì không nên làm; hoặc phải dùng cái phòng tắm để làm, thì không nên làm.   
Nếu Tỳ-kheo làm phòng riêng tại những nơi nguy hiểm, nơi có thể phương hại, chỗ không được Tăng chỉ định, làm quá mức cho phép, thì khi chuẩn bị các vật liệu như ngói, gạch... đều phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu Tỳ-kheo dùng gạch chất thành từng hàng thì mỗi hàng phạm tội Việt-tỳ-ni. Khi làm vừa xong cửa lớn, cửa sổ thì phạm tội Thâu-lan-giá. Hoặc căn phòng được xây bằng gạch cho đến khi xây xong viên gạch cuối cùng, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Hoặc được lợp bằng ngói, hoặc được lợp bằng cây, hoặc lợp bằng ván, hoặc lợp bằng xi măng, hoặc lợp bằng những viên đất sét, hoặc lợp bằng cỏ, cho đến khi lợp xong lọn cỏ cuối cùng, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu làm phòng chưa xong, nửa chừng dừng lại, thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Nhưng nếu làm cho đến khi hòan thành, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Hoặc trường hợp người làm phòng hay chủ phòng ở trước trong phòng, rồi sai người khác làm, cho đến lúc hoàn thành thì Tỳ-kheo làm phòng phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. Hoặc trường hợp chủ phòng ở trước trong phòng, rồi sau đó người khác làm hoàn thành, thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Nếu Tỳ-kheo làm phòng ở chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, không dẫn các Tỳ-kheo chỉ chỗ cần làm, làm quá mức quy định và Tỳ-kheo chủ phòng, không xả giới, không chết, không hiến cho Tăng, rồi có một Tỳ-kheo nào đó hoặc nhuộm bát, may y trong đó, hoặc tụng kinh, ngồi thiền, thì tất cả những người sử dụng đều phạm tội Việt-tỳ-ni. Hai người, nhiều người làm phòng cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, có dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ cần làm,    
làm dưới mức quy định, hoặc bảo người khác làm, cho đến khi làm xong, thì Tỳ-kheo ấy không có tội.
Người sử dụng cũng không có tội. Hai người, nhiều người cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không có phương hại, có dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ làm phòng, và làm đúng mức quy định, hoặc bảo người khác làm cho đến khi phòng hoàn thành, thì Tỳ-kheo ấy không có tội.
Người sử dụng cũng không có tội. Hoặc hai người, hoặc nhiều người cũng như vậy.
Nếu Tỳ-kheo dẫn các Tỳ-kheo chỉ chỗ làm phòng, chỗ không ngoài ranh giới mà Tăng đã chỉ định, cũng không phải chỗ đã chỉ định từ năm trước, không phải các chỗ ở trong nước như : chỗ đất cát, chỗ đất có đá cuội, hoặc trên tảng đá, không phải chỗ đất bị lửa thiêu và những người không làm phòng trong chúng Tăng không phải là một người, hai người, ba người mà nhiều người thì cho phép làm. Hoặc giả dự định làm phòng ở, (279a) dự định làm phòng rửa ráy, dự định làm hội trường, dự định làm phòng tắm, thì cho phép làm. Hoặc giả Tỳ-kheo ấy làm cái phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, làm không quá mức qu định, thầy cũng có dẫn các Tỳ-kheo đến xem chỗ làm phòng, các Tỳ-kheo ấy hoặc giúp tô vách tường, hoặc trợ giúp thầy đúc gạch, chung quy tất cả những Tỳ-kheo trợ giúp này đều không có tội.
Nếu xây (gạch) một hàng, hai hàng cho đến khi đặt cửa lớn và cửa sổ, thì Tỳ-kheo ấy không có tội. Hoặc dùng gạch để lợp, cho đến khi lợp viên cuối cùng, thì Tỳ-kheo ấy không có tội. Hoặc lợp bằng ngói, lợp bằng cây, lợp bằng ván, lợp bằng cỏ, lợp bằng xi măng, lợp bằng những viên đất sét, khi lợp đến viên đất sét cuối cùng, cũng không có tội.
Nếu làm nửa chừng rồi dừng lại, thì Tỳ-kheo ấy cũng không có tội. Hoặc làm cho đến khi hoàn thành, thì Tỳ-kheo ấy không   
có tội. Hoặc tạo phương tiện để cho người khác làm hoàn thành, thì Tỳ-kheo ấy không có tội. Hoặc tự làm, rồi sau đó người khác hoàn thành, thì Tỳ-kheo ấy không có tội.
Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng tại chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại, có dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ, làm không quá mức quy định, rồi Tỳ-kheo này không xả giới, không chết, không hiến cho chúng Tăng, các Tỳ-kheo hoặc nhuộm bát, may y, tụng kinh, ngồi thiền ở trong đó, thì tất cả những người sử dụng này đều không có tội.
Nếu Tỳ-kheo làm các rạp tạm tại chỗ Phật đản sinh, chỗ Phật đắc đạo, chỗ chuyển pháp luân, chỗ năm năm đại hội một lần, vì để cúng dường những chỗ tôn quý ấy mà làm rạp bằng tranh, rạp bằng lá cây, rạp bằng các thứ cờ màn trướng thì cho phép làm. Thế nên nói:
- Nếu Tỳ-kheo tự xin làm phòng, không ai giúp, tự mình làm lấy, mà làm quá mức quy định, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
(Hết giới Tăng tàn thứ 6)
7.GIỚI: KHÔNG MỜI TĂNG CHỈ CHỖ LÀM THẤT
Khi Phật an trú tại nước Câu-xá-di, nói rộng như trên. Bấy giờ, tại nước Câu-xá-di có 500 Tỳ-kheo mỗi người đều làm phòng riêng. Lúc ấy, Tỳ-kheo Xiển-đà không có người ủng hộ làm phòng, nhưng thầy có một thí chủ thân tín tên A-bạt-tra. Thế rồi, thầy khoác y thường dùng để đi vào xóm làng, tới gia đình ấy. Chủ nhân trông thấy thầy đến, liền cung kính đảnh lễ dưới chân, rồi cùng nhau vấn an. Ðoạn, chủ nhân hỏi: "Thưa thầy, tôi nghe nói 500 Tỳ-kheo tại Câu Xá-di làm 500 căn phòng riêng, vậy có ai làm phòng giúp cho thầy không?"  
Ðáp: "Ðúng như đạo hữu đã nghe, ai có thân chủ thì đều được phòng, riêng tôi đức hèn, phước mỏng, giống như chim kiêu trơ trụi, không có thân nhân, thì ai làm phòng cho?"
Chủ nhân liền nói: "Thưa thầy, thầy đừng hận, tôi sẽ làm cho thầy", bèn cúng dường 500 đồng và bạch: "Thưa thầy, thầy hãy đem về làm phòng".
Bấy giờ, Xiền đà liền cầm tiền ra về, tìm chỗ thuận tiện, yên ổn để làm một cái phòng lớn. Thầy dùng 500 đồng để đổ nền và xây một ít tường vách, thì tiền vật hết sạch. Thầy lại đi đến nhà ấy. Chủ nhân (279b) bèn lễ dưới chân, cùngnhau an ủi, rồi nói: "Thưa thầy, làm phòng xong chưa?
Ðáp: "Mới đổ xong nền và làm được một ít tường vách thì tiền vật đều hết cả".
Lúc ấy, chủ nhân lại cúng thêm 500 đồng.
Xiển-đà mang số tiền ấy về xây xong tường vách và đặt xong các cửa lớn cửa sổ, thì tiền vật cũng lại hết sạch, nên thầy đi đến thân nhân một lần nữa.
Chủ nhân bèn lễ dưới chân rồi hỏi: "Thưa thầy, phòng làm xong rồi chăng?"
Ðáp: "Tường vách, cửa lớn, cửa sổ làm xong, thì tiền vật cũng hết".
Bấy giờ, chủ nhân hết tin tưởng, bèn nói với Xiển-đà: "Thầy là người xuất gia mà làm căn phòng lớn làm chi. Số tiền 1000 đồng đủ để xây một căn lầu mà chỉ làm một căn phòng, vì sao không đủ? Tôn giả hãy trở về. Tôi không thể cho thêm nữa".    
Khi ấy, Xiển-đà-ưu sầu thầm nhủ: "Không biết dùng phương tiện gì để làm cho xong căn phòng đây". Thầy bèn nhớ đến rừng cây Tát-la liền tối đó định chặt cây đem về làm cho căn phòng hoàn thành.
Bấy giờ, có một con quỉ đang nương thân nơi cây ấy, nói với Xiển-đà: "Chớ có chặt cây này, nếu thầy chặt thì các đứa con trai, con gái bé thơ của tôi bị nắng mưa sương gió, không nơi nương tựa."
Xiển-đà liền nói: "Ðồ quỉ chết tiệt, hãy xéo gấp, đừng ở đây nữa, ai mà muốn thấy mặt ngươi", rồi đốn lấy cây. Khi ấy, con quỉ này liền khóc rống lên, rồi dắt các con đến chỗ Thế Tôn.
Phật thấy thế, tuy biết nhưng vẫn hỏi: "Vì sao mà ngươi khóc lóc?". Ðáp: "Bạch Thế Tôn! Tôn giả Xiển-đà chặt cái cây trong rừng mà con nương trú đem về làm phòng. Bạch Thế Tôn! Các con trai, con gái thơ dại, bé bỏng của con phải phơi thân ngoài nắng mưa sương gió, biết nương vào chỗ nào đây?"
Bấy giờ, Thế Tôn bèn tùy thuận thuyết pháp cho con quỉ ấy nghe, chỉ dạy về những điều lợi ích vui vẻ, khiến mọi sầu khổ đều được đoạn trừ. Rồi Thế Tôn chỉ cho nó đến nương thân một rừng cây gần đó.
Ðoạn, Phật bảo các Tỳ-kheo gọi Xiển-đà đến. Họ liền đi gọi. Sau khi Xiển-đà đến, Phật bèn hỏi rõ các việc trên: "Có thật ông làm như thế chăng?". Ðáp: "Có thật như vậy, bạch Thế Tôn!". 
Phật nói: "Này kẻ ngu si! Ðó là việc ác. Ông không biết rằng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri hễ an trú    
một đêm tại nơi nào thì người ta xem cây cối xung quanh nơi ấy như là những tháp miếu. Cho nên quỉ thần thích đến cư trú. Vì sao Tỳ-kheo lại ác khẩu mắng họ? Xiển-đà! Hành vi đó là phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy; không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp".
Các Tỳ-kheo liền bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Vì sao Xiể-đà này khéo dùng phương tiện kinh doanh khiến cho chủ nhân ấy cúng 1000 đồng tiền cũ?".
Phật nói với các Tỳ-kheo: "Ðó chẳng phải là phương tiện khéo léo. Nếu là phương tiện khéo léo thì chỉ 500 đồng đã làm xong căn phòng, đâu phải dùng đến cả 1000 đồng!"
Các Tỳ-kheo liền bạch với Phật:
"Ðúng như Thế Tôn nói! Xét kỹ thì Tỳ-kheo Xiển-đà này (279c) không có phương tiện tốt".
Phật liền nói với các Tỳ-kheo: "Không phải ngày nay mới biết ông Tỳ-kheo này không có phương tiện tốt mà trong thời quá khứ cũng đã biết Tỳ-kheo Xiển-đà không có phương tiện tốt".
Rồi Phật tiếp: "Trong thời quá khứ có một thành phố tên Ba-la-nại, nước tên Già-thi. Lúc bấy giờ, vị quốc vương dùng luật pháp cai trị muôn dân, khiến cho dân chúng an lạc không bị tai ương. Quốc vương không có con, rồi hoàng hậu bỗng nhiên mang thai, đủ mười tháng liền sinh được một bé trai, nhưng không có mắt và mũi. Sinh con được bảy ngày, nhà vua liền mở đại hội triệu tập quần thần, thầy tướng và đạo sĩ đến để đặt tên cho con. Theo phong tục của vương quốc lúc bấy giờ người ta thường dựa vào phước tướng, vào tinh tú, hoặc vào cha  
mẹ để đặt tên cho con. Thế nên Bà-la-môn bèn hỏi mọi người: "Thân thể của vương tử có những dị tướng gì?"
Một người ngồi bên cạnh đáp: "Ngày nay, vương tử này mặt mày phương phi, đoan chánh nhưng không có mắt và mũi".
Bà-la-môn liền nói: "Thế thì nên đặt tên cho vương tử là Kính Diện, và giao cho bốn bà vú trông nom nuôi dưỡng: Một bà lo việc xoa bóp, tắm rửa; Một bà lo việc vệ sinh; Một bà lo việc bồng bế và một bà lo việc bú mớm.
Thế rồi, bốn bà vú này ngày đêm cung cấp và hầu hạ khiến vương tử như đóa hoa sen mỗi ngày mỗi tăng trưởng.
Ðến lúc vương tử khôn lớn, thì vua cha mệnh chung, triều đình bèn tôn Kính Diện lên kế vị ngôi vua. Vị thái tử này vốn đã gieo trồng phước đức từ đời trước, nên tuy sinh ra không có mắt mà lại có thiên nhãn. Do đó mà có thể làm vua đủ phước đức và uy lực lớn.
Nhân dân trong nước nghe thái tử Kính Diện làm vua không ai là không lấy làm kỳ quái. Bấy giờ, có một đại thần muốn thử nhà vua mà chưa gặp cơ hội, thì gặp lúc vua xuất du, đồng ra lệnh quần thần làm lại cung điện mới, cho điêu khắc chạm trổ và vẽ vời nhiều cảnh trí.
Ðại thần suy nghĩ: "Bấy lâu nay ta muốn thử nhà vua, hôm nay mới gặp được cơ hội". Ông bèn dùng một con khỉ cho mặc y phục, rồi làm những dụng cụ tinh xảo (của thợ mộc), bỏ vào trong túi da, buộc vào vai nó, đoạn đem đến trước vua, nói:  
- Tâu đại vương, đại vương ra lệnh lập cung điện, nay thợ khéo đã đến, xin đại vương hãy chỉ bảo về phương pháp xây cất cung điện.
Vua thầm nhủ: "Ông ấy muốn thử ta", liền đọc kệ:
"Xem loài chúng sinh này, 
Mặt nhăn nhó dáo dác. 
Tánh khinh tháo nhảy nhót, 
Việc thành, hắn liền phá. 
Bản chất vốn như thế, 
Làm sao xây cung điện? 
Tàn phá cây hoa trái  
Không thể gần gũi người. 
Huống gì tạo cung điện. 
Thả về rừng hoang thôi".
Thế rồi, Phật nói với các Tỳ-kheo: "Quốc vương Kính Diện thuở ấy, nay chính là Ta đây; và con khỉ thuở ấy, nay là Tỳ-kheo Xiển-đà. Vào thời ấy ta sinh ra không có hai mắt (280a) mà còn biết được ông ta không làm được việc, huống gì ngày nay.
Rồi Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo sống tại thành Câu-xá-di phải tập họp lại tất cả, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại và chế giới như sau:
- Nếu Tỳ-kheo làm phòng ốc lớn, có thân chủ giúp đỡ làm cho mình, phải dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ để làm, và làm tại chỗ không nguy hiểm, không phương hại. Trái lại, nếu Tỳ-kheo có thân chủ làm phòng cho mình, lại làm nhằm chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, cũng    
không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ để làm, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Giải thích
Lớn: Quá mức qui định.
Phòng: Phòng ở mà Phật cho phép.
Làm: Hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm.
Có chủ: (Trước đã giải thích).
Vì mình: Vì bản thân mình, không phải vì chúng Tăng.
Dẫn các Tỳ-kheo chỉ chỗ để làm: Nghĩa là dẫn cả chúng Tăng, hoặc là dẫn sứ giả của Tăng, như đã nói trong trường hợp phòng nhỏ ở trên.
Chỗ không nguy hiểm, chỗ không phương hại: Cũng như đã nói ở trên.
Nếu Tỳ-kheo làm phòng tại các nơi nguy hiểm, nơi có phương hại, và không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ để làm phòng thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. 
Nếu một Tỳ-kheo làm phòng lớn tại chỗ nguy hiểm, chỗ có phương hại, hoặc tự mình làm, hoặc bảo người khác làm, cho đến khi phòng hoàn thành, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa. 
Khi sử dụng thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Từ hai người trở lên đến nhiều người cũng như thế. Trừ trường hợp làm quá mức quy định, các vấn đề có tội, không có tội cũng giống như trường hợp phòng nhỏ đã nói ở trên.
Thế nên nói:
- Nếu Tỳ-kheo làm phòng ốc lớn, có thân nhân giúp làm cho mình mà không dẫn các Tỳ-kheo đến chỉ chỗ để làm, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
(Hết giới Tăng tàn thứ 7)    (p302)

8. GIỚI: VÌ TỨC GIẬN MÀ VU KHỐNG.
Khi Phật an trú tại thành Xá-vệ như trên đã nói. Bấy giờ, có thầy Tỳ-kheo tên Ðà-phiêu-ma-la-tử được chúng Tăng đề cử coi sóc 9 việc sau đâỳ:
1) Coi sóc theo thứ tự mà trao giường ghế. 
2) Theo thứ tự mà sai thỉnh đi dự hội. 
3) Theo thứ tự mà chia phòng ốc. 
4) Theo thứ tự mà chia y vật. 
5) Theo thứ tự mà chia hương hoa. 
6) Theo thứ tự mà chia dưa trái. 
7) Theo thứ tự mà phân công người nấu nước. 
8) Theo thứ tự mà chia các quà bánh lặt vặt. 
9) Biết tùy nghi mà cử người làm được việc.
Ðó gọi là Tăng đề cử coi sóc 9 việc.
Khi giao giường ghế cho ai thì Trưởng lão dùng ngón tay út bên phải khều tim đèn cho sáng để thấy rõ các dụng cụ, rồi mới giao cho. Ðoạn, thầy sắp xếp:
- Người ưa yên tĩnh thì cho ở chung với người ưa yên tĩnh. 
- Người khất thực cho ở với người khất thực. 
- Người mặc y phấn tảo cho ở với người mặc y phấn tảo. 
- Người ăn một lần cho ở với người ăn một lần. 
- Người thường ngồi cho ở với người thường ngồi. 
- Người ưa ngồi chỗ trống cho ở với người ưa ngồi chỗ trống. 
- Người ngồi nệm cỏ cho ở với người ngồi nệm cỏ. 
- Người tụng kinh cho ở với người tụng kinh.    
- Pháp sư cho ở với pháp sư. 
- Người học luật cho ở với người học luật. 
- Tu-đà-hoàn cho ở với Tu-đà-hoàn. 
- (280b) Tư-đà-hàm cho ở với Tư-đà-hàm. 
- A-na-hàm cho ở với A-na-hàm. 
- A-la-hán cho ở với A-la-hán. 
- Những vị được Tam-minh cho ở với những vị được Tam minh. 
- Những vị được Lục thông cho ở với những vị được Lục-thông. 
- Những vị không có oai nghi cho ở với những vị không có oai nghi.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Từ-địa và nhóm sáu Tỳ-kheo (Lục quần Tỳ-kheo) đến đòi phòng ở. Tôn giả Ðà-phiêu-ma-la-tử đáp:
- Chờ một tí, đợi các thầy ngồi ổn định, rồi tôi sẽ tuần tự giao phòng cho các thầy.
Ðến khi họ ngồi xong, Ðà-phiêu bèn theo thứ lớp giao phòng cho họ. Khi nhận được phòng, nhóm sáu Tỳ-kheo thấy các vật dụng trong phòng như giường nằm, ghế ngồi, mền gối đều cũ kỹ, mục nát và căn phòng ăn riêng cũng xấu xí bèn cùng nhau bàn tính:
- Hình như trưởng lão Ðà-phiêu-ma-la-tử có tư thù với chúng ta, nên cho chúng ta căn phòng tồi tàn và thức ăn thô xấu. Nếu Trưởng lão này còn sống đời phạm hạnh lâu dài, thì chúng ta sẽ phải chịu nhiều đau khổ. Nay chúng ta hãy vu cáo ông ta phạm tội Ba-la-di.     (p304)ợ mộc), bỏ vào trong túi da, buộc vào vai nó, đoạn đem đến trước vua, nói:
Ðoạn, họ nói với Ðà-phiêu: "Trưởng lão! Ông phạm tội Ba-la-di. Chúng tôi sẽ vạch tội ông".
Ðáp: "Tôi không phạm tội ấy".
Họ bèn nói: "Có ai ăn trộm mà tự xưng mình ăn trộm bao giờ! Nhưng nay ông đã phạm tội Ba-la-di.
Thế rồi, họ đến chỗ đông người vu khống, lại đến giữa chúng Tăng vu khống tôn giả Ðà-phiêu-ma-la-tử phạm tội Ba-la-di.
Ðà-phiêu-ma-la-tử  bèn đi đến bạch với Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo Từ-địa đã vu khống con phạm tội Ba-la-di một cách vô căn cứ".
Phật hỏi: "Ông có việc ấy không?"
Ðáp: "Không có, bạch Thế Tôn!"
Phật nói: "Này Tỳ-kheo, Như Lai biết ông thanh tịnh, nhưng người khác vu khống ông, vậy phải làm sao đây?"
Ðà-phiêu nói: "Tuy Thế Tôn biết con thanh tịnh, không có tội, nhưng xin Thế Tôn hãy nói với ông ta khiến ông ta sinh khởi lòng tin, để khỏi chuốc lấy sự bất hạnh lâu dài".
Phật liền bảo: "Hãy gọi nhóm sáu Tỳ-kheo đến đây". Thầy liền đi gọi đến.
Ðoạn, Phật hỏi nhóm sáu Tỳ-kheo: "Có thật các ông vu khống Tỳ-kheo Ðà-phiêu-ma-la-tử  phạm tội Ba-la-di một cách vô căn cứ không?"
Ðáp: "Thật như vậy, bạch Thế Tôn!"
Phật hỏi: "Vì sao thế?"                
Ðáp: «  Vì Trưởng lão ấy giao cho chúng con căn phòng cũ kỹ đổ nát.v.v... cho đến: Nếu Trưởng lão ấy còn sống đời phạm hạnh lâu dài, thì chúng ta còn phải chịu nhiều đau khổ. Do thế, chúng con vu khống ông ta phạm tội Ba-la-di.
Phật liền khiển trách nhóm Tỳ-kheo sáu người:
- Ðó là việc ác. Há Ta không thường bảo phải cung kính và thể hiện sự từ ái của thân, khẩu, ý đối với các bậc phạm hạnh hay sao? Nay vì sao các ông lại vu khống một Tỳ-kheo sống phạm hạnh vô tội, rằng ông ta phạm tội Ba-la-di một cách vô căn cứ như thế? Ðó là phi pháp, phi luật, trái lời Ta dạy, không thể dùng việc đó để nuôi lớn thiện pháp được. 
(280c) Thế rồi, Phật truyền lệnh cho các Tỳ-kheo đang sống tại thành Xá-vệ phải tập họp lại tất cả, vì mười lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
- Nếu Tỳ-kheo vì sân hận, không vui, mà vu khống một Tỳ-kheo vô tội thanh tịnh rằng phạm tội Ba-la-di một cách vô căn cứ, chỉ vì muốn phá rối Tỳ-kheo phạm hạnh ấy, sau đó hoặc có người tra xét lại, hoặc không ai tra xét, mà tự nói: "Việc đó không có căn cứ, vì tôi tức giận nên nói như thế", thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Giải thích:
Sân: 9 sự não loạn hoặc giận dữ vô cớ và cái thứ 10 là hận. Hận nghĩa là phàm phu và người còn đang học cảm thấy không vui, cho đến đối với A-la-hán.        
Không có căn cứ: Sự việc ấy hoàn toàn không xuất hiện, cũng không thấy việc của người ấy, không nghe việc của người ấy, không nghi việc của người ấy.
Ba-la-di: Mỗi mỗi điều trong 4 Ba-la-di.
Vu khống: Việc không có mà dựng đứng lên nói là có. Ðó gọi là vu khống.
Muốn phá sự thanh tịnh của người ấy: Muốn làm cho họ không phải là Tỳ-kheo, không phải là Sa-môn, không phải là con dòng họ Thích. Hoặc muốn họ làm Sa-di, làm người thế tục, làm kẻ giữ vườn, làm ngoại đạo...
Sau đó hoặc có người tra xét, hoặc không ai tra xét.
Tra xét: Như hỏi rằng:
- "Ông thấy việc gì? Việc dâm dục chăng? Lấy trên 5 tiền chăng? Cố giết người chăng? Không có thật mà tự xưng được pháp hơn người phải không? Vì sao mà thấy? Nhân lý do gì mà thấy? Thấy ở đâu?"Ðó gọi là tra xét. Trái lại, nếu không hỏi như thế, thì gọi là không tra xét.
Nếu việc ấy không có căn cứ mà chỉ vì sân hận nên nói như thế, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
Nếu Tỳ-kheo vì sân hận mà vu khống hai người tương tự: Người bất tịnh và người thanh tịnh. Rồi người thanh tịnh hỏi:
- Thầy thấy tôi phạm tội gì? Trong 4 việc (4 tội Ba-la-di), phạm tội thứ nhất hay thứ hai? Trong 13 việc (13 tội Tăng-già-bà-thi-sa.) phạm tội thứ nhất hay thứ hai?
Hoặc không thấy, không nghe, không nghi, không quyết định mà đem ra vu khống người ta tại chỗ vắng hoặc giữa nhiều người, hoặc giữa chúng Tăng rằng:
- Tôi thấy thầy ấy phạm tội Ba-la-di. Tôi nghe thầy ấy phạm tội Ba-la-di. Tôi nghi thầy ấy phạm tội Ba-la-di. Nhưng thấy không thật thấy, căn bản không thật. Nghe không thật nghe, căn bản không thật. Nghi không thật nghi, căn bản không thật. Sự 
thấy đó là sai lầm, nghe sai lầm, nghi sai lầm, không phải thấy như vậy; không phải nghe như vậy, không phải nghi như vậy; thế mà hai người đối diện, 4 mắt nhìn nhau, vu khống trực tiếp, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
.
Nếu Tỳ-kheo vu khống Tỳ-kheo khác phạm các điều trong 4 tội Ba-la-di, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
.
Nếu Tỳ-kheo vu khống Tỳ-kheo khác phạm các điều trong 13 tội Tăng-già-bà-thi-sa, thì phạm tội Ba Dạ Ðề.
Nếu Tỳ-kheo vu khống Tỳ-kheo khác phạm các tội trong Ba-dạ-đề, (281a) thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
.
Nếu vu khống về các tội Ba-la-đề Đề-xá-ni, chúng học pháp và tội Việt-tỳ-ni, thì phạm tội Việt-tỳ-ni tâm niệm sám hối.
Nếu vu khống Tỳ-kheo-ni phạm các tội trong 8 Ba-la-di, trong 19 Tăng-già-bà-thi-sa, thì phạm tội Ba-dạ-đề.
Nếu vu khống Tỳ-kheo-ni phạm các tội thuộc trong 30 Ni-tát-kỳ, trong 141 Ba-dạ-đề, thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu vu khống Tỳ-kheo-ni phạm các tội trong 8 giới Ba-la-đề Đề-xá-ni, trong chúng học pháp và oai nghi, thì phạm tội Việt-tỳ-ni tâm niệm sám hối.
Nếu vu khống học giới ni phạm các tội trong 18 pháp, rồi nói rằng: "Phải cho học giới trở lại". thì phạm tội Thâu-lan-giá.
Nếu vu khống Sa-di, Sa-di Ni phạm các tội trong 10 giới, rồi nói rằng: "Phải cho xuất gia trở lại", thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Sau cùng đến những người thế tục, nếu Tỳ-kheo vu khống họ phạm các tội trong 5 giới, thì phạm tội Việt-tỳ-ni tâm niệm sám hối.
Thế nên nói: 
- Nếu Tỳ-kheo vì sân hận, không vui..., cho đến nói như vậy, thì phạm tội Tăng-già-bà-thi-sa.
 (Hết giới Tăng tàn thứ tám)
LUẬT MA HA TĂNG KỲ
Hết quyển thứ sáu     (p308)
/42
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »