LUẬT MA HA TĂNG KỲ
QUYỂN THỨ HAI
PHẦN CUỐI CỦA GIỚI DÂM
Lại nữa, khi Phật ở tại thành Xá-vệ, như trên đã nói . Lúc bấy giờ tại nước Uất-xà-ni có người vợ của một chàng thanh niên tính tình gian dâm, cùng giao hoan với người khác. Người chồng tức giận khiển trách trực tiếp nàng nhưng rồi nàng vẫn thế, nên anh ta muốn trừng phạt nghiêm khắc, song nàng vẫn không chịu bỏ. Người chồng rình lúc họ hành lạc, liền bắt cả hai đem lên trình với nhà vua, và tâu rằng:
- Tâu đại vương, người đàn bà này là kẻ bất lương đã cùng với ông này làm tình, xin đại vương hãy trừng trị nghiêm khắc để ngăn ngừa về sau.
Khi ấy nhà vua vô cùng tức giận bèn ra lệnh Quan Hữu ty chặt tay chân cô ta, rồi đem vứt ngoài nghĩa địa. Quan Hữu ty liền dẫn cô ta ra nghĩa địa, chặt tay chân, rồi bỏ nằm ngửa tại đó.
Bấy giờ có thầy Tỳ-kheo đi qua nghĩa địa, thấy người phụ nữ ấy đang nằm lõa thể trên đất, vì thầy tư duy không chân chánh, nên phát sanh dục tưởng, bèn bảo
người phụ nữ kia, cùng làm việc ấy (hành lạc). Cô ta liền đáp: "Thân hình tôi như thế này mà có thể làm được việc ấy sao?".
Thầy Tỳ-kheo nói: "Có thể được". Cô ta bèn đồng ý, nên hai người cùng hành lạc. Sau khi xong việc, thầy Tỳ-kheo liền bỏ đi.
Lúc bấy giờ những bạn bè thân quyến của người phụ nữ ấy cùng bảo nhau ra nghĩa địa xem cô ta đã chết hay còn sống.
(235b) Thế rồi, họ cùng kéo nhau ra nghĩa địa, thấy cô ta bị chặt cả tay chân, đang nằm ngửa trên đất và trên thân còn dấu vết vừa mới hành lạc. Họ đều nổi giận bảo với cô:
- Ngươi đang bị thống khổ, mà còn làm chuyện ấy, con người ta sao có thể vô sĩ đến thế?
Người phụ nữ ấy đáp: "Người ta đến cưỡng bức tôi, chớ không phải lỗi của tôi".
Họ bèn hỏi: "Kẻ cưỡng bức là ai vậy?". Cô ta đáp: "Ðó là Sa-môn giòng họ Thích".
Mọi người đều thất kinh lấy làm quái lạ bảo nhau: "Hạng Sa-môn Thích tử đối với một người đàn bà tàn phế thế này mà không từ bỏ, huống gì những người thân thể còn toàn vẹn. Chúng ta phải đề phòng gìn giữ, chớ để họ tới gần nhà. Ðó là hạng người bại hoại, nào có đạo đức gì!"
Vị Tỳ-kheo kia, sau đó hối hận, nghi ngờ liền bạch đầy đủ lên Thế Tôn. Phật dạy: "Này Tỳ-kheo, thầy không nghe ta chế giới không đưọc hành dâm sao?"
Thầy Tỳ-kheo đáp: "Con biết Thế Tôn có chế giới nhưng tưởng là đối với người thân thể vẹn toàn, chứ còn người đàn bà này cụt tay chân kia mà?".
Phật dạy: "Người đàn bà bị chặt một tay trái và một chân phải hay bị chặt một tay phải và một chân trái, nếu Tỳ-kheo hành dâm với họ, đều phạm Ba-la-di".
Lại nữa, khi Phật ở thành Vương Xá, như đã nói ở trên. Có một Tỳ-kheo tại tinh xá Kỳ Hoàn, sau khi ăn xong, vào trong rừng Khai Nhãn tọa thiền. Bấy giờ tại rừng Khai Nhãn có một phụ nữ nổi cơn điên, nằm trên đất ngủ, gió thổi bay vạt áo, khiến thân thể cô lộ ra. Khi ấy, Tỳ-kheo không tư duy chân chánh, dục tâm phát khởi, liền hành lạc với người ấy. Khi hành lạc xong, liền hối hận, ngờ vực, bèn bạch đầy đủ (việc ấy) lên Thế Tôn. Phật liền bảo với Tỳ-kheo: "Ngươi không biết rằng ta chế giới không được hành dâm sao?".
Thầy Tỳ-kheo đáp: "Con có biết Phật chế giới, nhưng người phụ nữ này điên cuồng, nằm ngủ (kia mà)".
Phật dạy: "Hành dâm với phụ nữ điên cuồng nằm ngủ cũng phạm Ba-la-di".
Lại nữa, khi Phật trú tại thành Tỳ-xá-ly, nói rộng như trước.v.v... Lúc ấy có một người vợ của cư sĩ ở nhà cha mẹ lâu ngày, nhà chồng sai người đến báo tin nàng ấy phải về gấp. Nàng bèn làm các thức ăn đem theo, trên đường đi nàng trúng phải gió độc nên mạng vong. Nơi thành Tỳ-xá-ly này khí hậu ẩm thấp, người chết không thể để lâu ngày. Bấy giờ, những người thân quyến tập họp lại, họ bảo nhau phải đưa gấp tử thi đến nghĩa địa, kẻo để hư thối khiến người ta nhờm tởm. Nhưng khi rước
tử thi, gặp mưa gió lớn, họ bèn đặt tử thi tại một chỗ, dùng cỏ phủ lên, định sáng hôm sau đem đi thiêu. Song, đêm đó mưa tạnh trời trong, trăng sáng, lúc ấy có một Tỳ-kheo đi nhàn du đến nghĩa địa. Khi đến chỗ để tử thi, nghe mùi hương từ trong thân thể tử thi mới chết tỏa ra, ngỡ là người sống. Vị Tỳ-kheo này không chánh tư duy, dục (235c) tâm sinh khởi, liền hành dâm với tử thi. Khi hành dâm xong thầy thấy chưa chán, bèn vác tử thi đem về trú xứ, tiếp tục hành dâm suốt đêm, đến sáng sớm, bèn đóng cửa, vào làng khất thực. Sáng sớm hôm ấy, thân quyến của người phụ nữ này, mang hương dầu, củi, lửa, định đem thiêu xác cô ta, nhưng họ đến chỗ cũ thì không thấy tử thi, lại cũng không thấy dấu vết gì do chim muông ăn cả. Họ tìm khắp mà không thấy, họ liền mở cửa thảo am của Tỳ-kheo thì thấy tử thi trong đó, và trên tử thi còn dấu vết vừa mới hành lạc. Thấy thế, họ liền bảo nhau: "Quái lạ thay! Sa-môn Thích tử, người chết còn không tha, huống gì là người sống! Từ nay trở đi chúng ta cần phải phòng hộ, chớ để Sa-môn bước chân vào nhà. Những loại này là súc vật bại hoại, chứ nào có đạo hạnh gì!"
Sau đó thầy Tỳ-kheo cảm thấy hối hận, ngờ vực, bèn bạch đầy đủ sự việc lên Thế Tôn. Phật dạy: "Này Tỳ-kheo! Thầy không biết rằng ta chế giới không được hành dâm sao?"
Vị Tỳ-kheo đáp: "Con biết Phật có chế giới, nhưng đó là người đàn bà chết (kia mà)".
Phật dạy: "Hành dâm với người đàn bà chết cũng phạm Ba la di".
Có ba trường hợp thầy Tỳ-kheo hành dâm phạm Ba-la-di, đó là hành dâm với người thức, người ngủ và người chết.
Khi ấy Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo đang cư trú tại Tỳ-xá-ly phải tập hợp lại tất cả, rồi vì 10 điều lợi ích mà chế giới cho các Tỳ-kheo, dù ai nghe rồi cũng phải nghe lại:
-- "Nếu Tỳ-kheo đã thọ giới Cụ túc ở trước chúng Tăng hòa hợp, giới yếu kém không trả giới, không ra khỏi (chúng Tăng) mà hành dâm, thậm chí hành dâm với súc sinh, thì Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di không được sống chung"
(Phần duyên khởi của Ba-la-di đến đây là hết)
Giải thích:
Tỳ-kheo: Ðã thọ Cụ túc, khéo thọ giới Cụ túc, đúng pháp chứ không phải không đúng pháp, hòa hợp, chứ không phải không hòa hợp, đáng khen ngợi, chớ không phải không đáng khen ngợi, đủ hai mươi tuổi, chứ không phải chưa đủ. Ðó là Tỳ-kheo.
Thọ giới Cụ túc ở trước tăng chúng hòa hợp: Nếu Tỳ-kheo lúc thọ Cụ túc khéo thọ Cụ túc tức là Một bạch, ba lần yết ma, không bị chướng pháp, (già nạn). Tăng chúng hòa hợp, không biệt chúng, đủ 10 vị Tăng (giới sư) hoặc hơn 10 vị. Ðó là Tỳ-kheo thọ giới Cụ túc ở giữa chúng Tăng hòa hợp.
Không trả giới: (Ðể rõ sự việc, trước hãy nói về "Trả giới")
Trả giới: Lúc vị Tỳ-kheo bị ưu sầu không vui, ý muốn bỏ pháp Sa-môn, không thích làm Tỳ-kheo, không ưa làm người con Phật, nói: "Tôi muốn làm Sa-di, tôi muốn làm ngoại đạo; tôi muốn làm người thế tục, hưởng thọ năm thứ dục lạc như xưa",
rồi hướng vào một Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Thức xoa-ma-ni, Sa-di, Sa-di Ni, ngoại đạo, người xuất gia hoặc người thế tục tại gia nói rằng: "Tôi bỏ Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, bỏ môn học, bỏ thuyết (giới), bỏ cọng trú, bỏ cọng lợi, bỏ Kinh Luận, bỏ Tỳ-kheo, bỏ (236a) Sa-môn, bỏ dòng họ Thích. Tôi không phải Tỳ-kheo, không phải Sa-môn, không phải dòng họ Thích. Tôi là Sa-di, là ngoại đạo, là người thế tục, nay tôi sẽ thọ hưởng ngũ dục như trước". Ðó gọi là trả giới.
- Thế nào là bỏ Phật?
Bỏ Phật: Bỏ bậc Chánh giác, bỏ Đức tối thắng, bỏ Ðấng nhất thiết trí, bỏ Bậc thầy tất cả, bỏ bậc thấy không sót thứ gì, bỏ phụ thân của La-hầu-la, bỏ Đấng có thân như vàng ròng, bỏ bậc có ánh sáng viên mãn, bỏ 32 tướng, bỏ 80 tướng phụ tốt đẹp. Nếu xả bỏ mỗi mỗi danh hiệu Phật, đều gọi là bỏ Phật. Bỏ Phật như vậy, thì gọi là bỏ giới. Nhưng nếu nói bỏ Phật quá khứ, vị lai thì không gọi là bỏ giới, song phạm tội Thâu Lan Giá. Nếu không nói bỏ Phật quá khứ, vị lai mà nói thẳng là bỏ Phật, đó gọi là bỏ giới. Hoặc nói: "Bỏ Bích-chi Phật", đó gọi là bỏ giới. Về quá khứ, vị lai giống như trường hợp bỏ Phật ở trên. Vả lại, tất cả các đệ tử xuất gia của hàng Lục sư ngoại đạo, họ cũng đều bảo có Phật . Nếu Tỳ-kheo thật sự muốn bỏ Phật ấy, rồi bảo rằng tôi bỏ Phật, thì không gọi là bỏ giới nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Song nếu vì đùa cợt, nói: "Tôi bỏ Phật" thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Thế nhưng, nếu cuồng điên, nói bậy bạ thì không có tội.
- Thế nào là bỏ Pháp?
Pháp là không thuộc vào ba đời, tướng của pháp thường trụ, là vô vi Niết-bàn, lìa các phiền não, vĩnh viễn dứt sạch tất cả khổ não. Nếu nói tôi bỏ những pháp ấy, tức là bỏ giới. Nhưng nếu nói bỏ pháp quá khứ, vị lai, thì không gọi là bỏ giới, song phạm tội Thâu-lan-giá. Thế nhưng, nếu không nói bỏ pháp quá khứ, vị lai mà nói thẳng là bỏ pháp, thì đó là bỏ giới. Tất cả ngoại đạo cũng
đều có pháp. Nếu Tỳ-kheo thực sự muốn bỏ pháp này và nói rằng tôi bỏ pháp ấy, thì đó không gọi là bỏ giới. Nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa là mình bỏ pháp, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nhưng nếu vì cuồng điên nói bậy bạ thì không có tội.
Thế nào là bỏ Tăng?
Tăng là đệ tử của Đức Thế Tôn, là các bậc hướng chánh, hướng trí, hướng pháp, hướng tùy thuận pháp hành, nghĩa là tứ song bát bối (4 đôi 8 chúng), Tín thành tựu; Giới thành tựu; Văn thành tựu; Tam muội thành tựu; Tệ thành tựu; Giải thoát thành tựu; Giải thoát tri kiến thành tựu, đáng được tôn kính, là phước điền Vô thượng. Nếu Tỳ-kheo nói rằng tôi bỏ Tăng như thế thì gọi là bỏ giới. Nhưng nếu nói tôi bỏ quá khứ, vị lai Tăng, thì không gọi là bỏ giới, song phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu không nói quá khứ, vị lai Tăng mà nói thẳng là "bỏ Tăng", thì gọi là bỏ giới. Giống như Tỳ-kheo Tăng, Tỳ-kheo-ni cũng thế. Nếu nói: "Tôi bỏ nhiều vị Tỳ-kheo" thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói: "Tôi bỏ nhiều Tỳ-kheo quá khứ, vị lai" thì không gọi là (236b) bỏ giới, song phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu không nói bỏ nhiều Tỳ-kheo quá khứ, vị lai mà nói thẳng là "Tôi bỏ nhiều Tỳ-kheo" thì cũng không gọi là bỏ giới. Song phạm tội Thâu-lan-giá. Giống như nhiều Tỳ-kheo, nhiều Tỳ-kheo-ni cũng như thế. Nếu nói: "Tôi bỏ một Tỳ-kheo", thì không gọi là bỏ giới. Nhưng phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu nói: "Tôi bỏ một Tỳ-kheo quá khứ, vị lai" thì không gọi là bỏ giới. Song phạm tội Việt-tỳ-ni tâm niệm sám hối. Nếu không nói: "Tôi bỏ một Tỳ-kheo quá khứ, vị lai", mà nói thẳng là: "Tôi bỏ một Tỳ-kheo" thì cũng không gọi là bỏ giới. Nhưng phạm tội Việt-tỳ-ni. Giống như một Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo-ni cũng thế. Nếu nói: "Tôi bỏ Hòa thượng", đó gọi là bỏ giới. Những sai biệt giống như trường hợp bỏ Tăng đã nói ở trên. Nếu nói: "Tôi bỏ thầy (A-xà-lê)", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói: "Tôi bỏ thầy quá khứ, vị lai", thì
không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu không nói bỏ thầy quá khứ, vị lai mà nói thẳng là bỏ thầy, thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa là bỏ thầy, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu cuồng điên nói bậy bạ, thì không có tội.
Các hàng ngoại đạo cũng đều tự xưng là Tăng. Nếu Tỳ-kheo thực sự muốn bỏ hạng Tăng ấy, và nói rằng: "Tôi bỏ ngoại đạo Tăng", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa rằng: "Tôi bỏ Tăng", thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu vì điên cuồng nói bậy bạ, thì không có tội.
Thế nào gọi là bỏ môn học?
Các môn học gồm ba thứ là: Tăng thượng giới học, Tăng thượng ý (tâm) học và Tăng thượng tuệ học.
Tăng thượng giới học: Giới-Ba-la-đề-mộc-xoa, được thuyết minh rộng rãi hay đơn giản.
Tăng thượng ý học: Chín nấc thiền định (chánh thọ)
Tăng thượng tuệ học : Bốn thánh đế.
Các Tăng thượng giới học, Tăng thượng ý học và Tăng thượng tuệ học ấy đều được gọi là các môn học. Nếu Tỳ-kheo nói rằng: "Tôi bỏ những môn học ấy", tức là bỏ giới, như trường hợp bỏ Phật đã nói ở trên. Thế gian mỗi ngành đều có môn học riêng, như công nghiệp, toán số, kỹ thuật.v.v... đều gọi là môn học. Nếu Tỳ-kheo muốn bỏ những môn học ấy, và nói rằng: "Tôi bỏ môn học đó", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá.Hoặc như ngoại đạo mỗi phái đều có một môn học riêng. Nếu Tỳ-kheo muốn bỏ những môn học đó vờ vĩnh nói: "Tôi bỏ các môn học ngoại đạo" thì không gọi là bỏ giới nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa rằng : "Tôi bỏ môn học", thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu vì cuồng điên nói bậy bạ thì không có tội.
Thế nào gọi là bỏ Thuyết (giới)?
Thuyết giới có ba trường hợp, hoặc thuyết giới vào ngày 14, hoặc ngày 15, hoặc trung gian thuyết giới (Bố tát).
Ngày 14 là: Vào mùa Ðông, Bố-tát lần thứ ba và thứ bảy. Mùa Xuân, Bố-tát lần thứ ba và thứ bảy. Mùa Hạ (236c) Bố-tát lần thứ ba và thứ bảy. Ðó là trong một năm có sáu lần Bố-tát vào ngày 14. Ngoài ra, mười tám lần Bố-tát còn lại vào ngày 15, cộng chung lại gồm có hai mươi bốn lần Bố-tát, và được gọi là Bố-tát ngày 14, Bố-tát ngày 15 và trung gian Bố-tát.
Khi Tỳ-kheo làm lễ Bố-tát, nếu Tăng không hòa hợp (nên không Bố-tát được) mà có một Tỳ-kheo xướng lên rằng: "Ðợi khi nào Tăng hòa hợp sẽ Bố-tát" (thì Tăng không phạm tội). Nếu không có một Tỳ-kheo nào xướng như thế, thì Tăng phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu đến 15 ngày mà Tăng không hòa hợp thì đến ngày kế tiếp phải Bố-tát. Nếu ngày kế tiếp cũng không hòa hợp thì ngày thứ hai cho đến ngày thứ mười hai phải Bố tát. Nếu ngày thứ mười hai cũng không hòa hợp thì đến ngày thứ mười ba phải Bố-tát. Nếu kỳ Bố-tát đó chỉ có 14 ngày, thì ngày thứ 13 không được trung gian Bố-tát, mà phải dồn vào ngày 14 Bố-tát chung một lần. Ngày Bố-tát đó cũng gọi là trung gian Bố-tát và cũng gọi là ngày Bố-tát chính thức. Nếu gặp tháng đủ (30 ngày), thì đến ngày thứ 13 có thể làm trung gian Bố-tát khi mà Tăng chúng hòa hợp. Nếu Tăng chúng bất hòa thì không được Bố-tát vào ngày thứ 14 mà để sang ngày thứ 15 Bố-tát luôn một lần. Lần Bố-tát này vừa gọi là trung gian Bố-tát, vừa gọi là chính thức Bố-tát. Vì sao vậy? Vì không được Bố-tát hai ngày liền nhau mà phải để cách một ngày Bố-tát. Ðó gọi là trung gian Bố-tát. (Nếu trường hợp) đáng Bố-tát vào ngày thứ 14 thì không nên dời lại ngày 15 mới Bố-tát, trái lại đáng Bố-tát vào ngày thứ 15 thì cũng không được Bố-tát vào ngày 14. Nhưng nếu có lý do chính đáng thì có thể Bố-tát được. Hoặc ngày 14, hoặc ngày 15, hoặc trung gian Bố-tát, đều gọi là thuyết (giới). Nếu nói rằng tôi bỏ sự thuyết giới ấy, thì gọi là bỏ giới, như trường hợp bỏ Phật đã nói ở trên.
Các hàng ngoại đạo khác cũng đều có sự thuyết giới. Nếu thực sự muốn bỏ sự thuyết giới ấy, giả vờ nói: "Tôi bỏ sự thuyết
giới của ngoại đạo", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa rằng: "Tôi bỏ thuyết giới", thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu tâm trí cuồng điên nói bậy bạ thì không có tội.
· Thế nào là bỏ cọng trú?
Cọng trú gồm có hai loại: Một là Thanh tịnh cọng trú. Hai là Tương tợ cọng trú.
1) Thanh tịnh cọng trú là: Tăng chúng đều thanh tịnh, cùng nhau Bố-tát, đó gọi là thanh tịnh cọng trú.
2) Tương tợ cọng trú là: Không thanh tịnh mà làm ra vẻ thanh tịnh để cùng với người thanh tịnh làm lễ Bố-tát, đó gọi là tương tợ cọng trú. Hai loại thanh tịnh cọng trú và tương tợ cọng trú đều được gọi là cọng trụ. Nếu nói rằng: "Tôi bỏ cọng trú", thì gọi là bỏ giới, như trường hợp bỏ Phật đã nói ở trên.
Các hàng ngoại đạo cũng có sự cọng trú. Nếu thật sự muốn bỏ sự cọng trú ấy, giả vờ nói: "Tôi bỏ sự cọng trú ấy, thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. (237a) Nếu nói đùa rằng: "Tôi bỏ cọng trú" thì phạm tội Việt tỳ ni. Nếu tâm trí điên cuồng nói bậy bạ rằng: "Tôi bỏ cọng trú", thì không có tội.
· Thế nào là bỏ cọng lợi?
Cọng lợi gồm có hai loại: Một là Pháp lợi. Hai là Y thực lợi.
1) Pháp lợi là: Thọ tụng, thưa hỏi.
2)Y thực lợi là: Cùng nhận một sự bố thí.
Pháp lợi và Y thực lợi này nói chung là Cọng lợi. Nếu Tỳ-kheo nói: "Tôi bỏ những thứ lợi này"thì gọi là bỏ giới. Ngoài ra, như bỏ Phật đã nói rõ ở trên. Nếu nói: "Tôi bỏ pháp lợi"tức là bỏ giới, nhưng nếu chỉ nói: "Tôi bỏ y thực lợi", thì không gọi là bỏ giới, song phạm tội Thâu lan giá. Nếu nói: "Tôi bỏ y thực lợi của quá khứ, vị lai", thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Các hàng ngoại đạo cũng có cọng lợi. Nếu thực tình muốn bỏ thứ cọng này, giả vờ nói: "Tôi bỏ thứ cọng lợi kia",
thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa rằng: "Tôi bỏ cọng lợi" thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu vì tâm trí cuồng điên nói bậy bạ rằng: "Tôi bỏ cọng lợi", thì không có tội.
· Thế nào là bỏ Kinh luận?
Các Kinh luận gồm có chín bộ loại. Nếu Tỳ-kheo nói: "Tôi bỏ Kinh luận này", thì gọi là bỏ giới. Nếu nói: "Tôi bỏ Kinh luận quá khứ, vị lai", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu dùng văn chương thi hóa lời Phật dạy để ngâm ca xướng tụng, rồi nói: "Tôi bỏ lời Phật dạy trong những xướng tụng ấy", thì gọi là bỏ giới.
Các hàng ngoại đạo cũng có Kinh luận. Nếu thực sự muốn bỏ thứ Kinh luận này, và nói: "Tôi bỏ Kinh luận của họ"thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu nói đùa rằng: "tôi bỏ Kinh luận", thì không gọi là bỏ giới, nhưng phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu tâm trí cuồng loạn nói bậy bạ rằng: "Tôi bỏ Kinh luận", thì không phạm tội.
Lại nữa, nếu Tỳ-kheo nói: "Tôi bỏ Phật, Phật bỏ tôi, tôi lìa Phật, Phật lìa tôi, tôi xa Phật, Phật xa tôi, tôi chán Phật, Phật chán tôi, tôi thôi Phật, Phật thôi tôi..."như vậy đều gọi là bỏ giới. Hoặc là bỏ Kinh luận cũng như thế, đều gọi là bỏ giới .
không phải bỏ giới : Nếu vì giận dữ, vì bốc đồng mà nói, hoặc nói một mình, hoặc nói mà không rõ, nhân dân tranh luận hoặc tưởng tượng một mình mà nói, hoặc nói với người không hiểu, hoặc nói với người ngủ, hoặc nói với người điên, hoặc nói với người đang khổ não. (237b) Hoặc nói với trẻ con, hoặc nói với phi nhân, hoặc nói với súc sinh.v.v... nói trả giới trong những trường hợp như thế thì không gọi là bỏ giới.
Giới yếu kém: Người ấy suy nghĩ: "Chi bằng ta bỏ Phật, Pháp, Tăng, bỏ luôn Kinh Luận". Lại suy nghĩ: "Ta nên làm Sa-di, làm người thế tục, làm ngoại đạo". Người này tâm niệm, miệng nói, nhưng chưa quyết định hướng đến người khác nói, đó
gọi là giới yếu kém. Nếu người này nói ra vì giới yếu kém của mình, thì mỗi lời, mỗi lời đều phạm tội Thâu-lan-giá. Hoặc người ấy tâm niệm miệng nói: "Chi bằng ta bỏ Phật ..."cho đến nói: "Chi bằng ta làm người thế tục như trước", lại nói: "Ta bỏ Phật là tốt nhất"... cho đến nói: "Ta sống lại đời sống thế tục là tốt nhất", đó gọi là giới yếu kém. Nếu nói lên giới yếu kém của mình, thì mỗi lời, mỗi lời đều phạm tội Thâu-lan-giá. Ðó gọi là giới yếu kém.
Hành dâm: Cùng với người nữ có sinh mệnh hành dâm tại ba chỗ (âm hộ, hậu môn và miệng), lúc bắt đầu, giai đoạn giữa và lúc cuối cảm thấy khoái lạc, đó gọi là sự hành dâm. Nếu Tỳ-kheo giới yếu kém, hành dâm thì phạm tội Ba-la-di không được sống chung (với Tăng chúng). Nếu Tỳ-kheo hành dâm với người phụ nữ đang sống hay chết, tại ba chỗ như trên, lúc đầu, giai đoạn giữa và lúc cuối cảm thấy khoái lạc thì phạm tội Ba-la-di. Hoặc nếu hành dâm với loài phi nhân nữ, súc sinh cái trong các trường hợp như trên, cũng phạm tội như vậy, không được cùng sống chung (với Tăng chúng). Nếu Tỳ-kheo hành dâm với người nam còn sống hay đã chết, loài phi nhân nam còn sống hay đã chết, loài súc sinh đực còn sống hay đã chết, tại hai chỗ (hậu môn và cửa miệng) và vào ba giai đoạn đầu, giữa và cuối cảm thấy khoái lạc thì phạm tội Ba-la-di, không được sống chung với Tăng chúng. Nếu Tỳ-kheo hành dâm với người hoàng môn (lại cái) còn sống hay đã chết, loài phi nhân hoàng môn, còn sống hay đã chết, loài súc sanh hoàng môn còn sống hay đã chết, tại hai chỗ, vào ba giai đoạn, mà cảm thấy khoái lạc, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo hành dâm với thân con voi, ngựa đến thân con gà nhỏ, thì phạm tội Thâu lan giá. Nếu... thân con voi nhỏ, cho đến thân con gà lớn, thì phạm tội Ba-la-di. Thế nên nói"cho đến cùng với súc sinh phạm tội Ba-la-di".
Ba la di: Ðối với Chánh pháp tâm trí bị lui sụt, đọa lạc không đạt được đạo quả, đó gọi là Ba-la-di. Như vậy là đối với các trí
như vị trí, đẳng trí, tha tâm trí, khổ tập tận đạo trí, tận trí, vô sinh trí, đều bị lui sụt, đọa lạc, không đạt được đạo quả, đó gọi là Ba-la-di.
Ba la di còn có nghĩa là: Ðối với Niết-bàn bị lui sụt, đọa lạc, không chứng đạt được, đó gọi là Ba-la-di.
Ba la di còn có nghĩa là: Ðối với phạm hạnh bị lui sụt, đọa lạc, không đạt được đạo quả, đó gọi là Ba-la-di.
(237c) Ba-la-di còn có nghĩa là: Những tội đã phạm không chịu phát lồ sám hối, nên gọi là Ba-la-di.
Nếu Tỳ-kheo đem cái tâm nhiễm ô để xem phụ nữ thì phạm tội Việt-tỳ-ni, tâm niệm sám hối. Nếu mắt thấy họ, tai nghe tiếng họ, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Còn như cả hai lõa thể chạm xúc nhau, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu như nam căn đưa vào nữ căn, dù chỉ chạm nhau như hạt mè, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu nam căn lớn, tuy đút vào nhưng chỉ ở ngoài mé nữ căn, thì phạm tội Thâu-lan-giá.Có những chúng sanh chỉ có một đường, vừa dùng để ăn uống, vừa để đại tiểu tiện, hoặc còn sống, hoặc là đã chết, nếu Tỳ-kheo hành dâm với họ mà cảm thấy lạc thú trong ba giai đoạn đầu, giữa và cuối, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu thân người nữ bị cắt dọc thành hai phần mà (Tỳ-kheo) hành dâm nơi mỗi phần, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu đem buộc cho dính lại thành một rồi hành dâm, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu thân người nữ bị cắt làm ba phần: thượng, trung, hạ, mà Tỳ-kheo đến hành dâm hai phần thượng và hạ thì phạm tội Ba-la-di. Nếu hành dâm ở phần trung thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu hành dâm với thân của một người nữ bầm xanh, sình chương, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu thân ấy đã hư hoại, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nếu thân ấy còn toàn vẹn nhưng đã phơi khô, thì phạm tội Thâu-lan-giá. Nhưng nếu đem dầu hay nước tẩm ướt làm cho tươi nhuận, nguyên vẹn, rồi hành dâm, thì phạm tội Ba-la-di. Còn như đem tẩm ướt mà rã ra rồi hành dâm, thì phạm tội Thâu lan giá. Còn
như hành dâm vào những đốt xương dính vào nhau đầy máu huyết, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu như hành dâm vào những đốt xương khô, thì phạm tội Việt-tỳ-ni. Nếu như hành dâm vào tượng phụ nữ bằng gỗ đá, hay bằng hình vẽ, thì phạm tội Việt-tỳ-ni.
Nếu Tỳ-kheo không nói trả giới, không nói không trả giới, hoặc vì giới yếu kém mà không nói trả giới, cũng không nói không trả giới, rồi làm người thế tục, thì tùy theo sự vi phạm mà như pháp trị tội, hoặc làm ngoại đạo cũng như thế.
Khi hành dâm nếu một người lõa thể, một người có y phục, hoặc cả hai cùng lõa thể, nếu nam căn vào trong nữ căn ngang mức bằng hạt mè, thì phạm tội Ba-la-di.
Nếu Tỳ-kheo không trả giới, hoặc vì giới yếu kém mà không cho ai biết, rồi mặc đồ thế tục và phạm tội, thì tùy theo sự vi phạm mà kết tội.
Nếu Tỳ-kheo cưỡng dâm Tỳ-kheo-ni, thì Tỳ-kheo phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo-ni cảm thấy khoái lạc, thì cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo-ni cưỡng dâm Tỳ-kheo, thì Tỳ-kheo-ni phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo cảm thấy khoái lạc cũng phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo cùng hành lạc với Tỳ-kheo, thì cả hai cùng phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo hành lạc với Sa-di, thì Tỳ-kheo phạm tội Ba-la-di, và Sa-di phải bị trục xuất. Nếu Tỳ-kheo hành lạc với người thế tục, thì Tỳ-kheo phạm tội Ba-la-di, nhưng người thế tục (238a) không phạm. Ðối với ngoại đạo cũng thế.
Nếu Tỳ-kheo hành dâm với ba chủng loại: Người, phi nhân, súc sinh, với ba giới tính: Nữ, nam, hoàng môn, tại ba chỗ: Cửa miệng, đường tiểu tiện và đại tiện, trong ba trường hợp: đang thức, lúc ngủ, hoặc thây chết, đều phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo đang ngủ, điên cuồng hay nhập định mà có người nữ đến cưỡng dâm, rồi Tỳ-kheo hay biết và có khoái lạc trong ba giai đoạn đầu, giữa hay cuối, thì phạm tội Ba-la-di. Nếu Tỳ-kheo đang ngủ hay nhập định mà có người nữ đến cưỡng dâm, Tỳ-kheo liền hay biết, nhưng lúc đầu không thấy khoái lạc, song lúc
giữa và lúc cuối thấy khoái lạc, th́ì phạm tội Ba-la-di. Giá như Tỳ-kheo lúc đầu, lúc giữa không thấy khoái lạc, nhưng lúc cuối thấy khoái lạc, thì phạm tội Ba-la-di. Trái lại, nếu cả ba giai đoạn: Ðầu, giữa và cuối đều không thấy khoái lạc thì không có tội.
· Thế nào gọi là cảm thấy khoái lạc?
· Thế nào gọi là không cảm thấy khoái lạc?
Khoái lạc nghĩa là như người đói mà được các thức ăn ngon, vì người ấy xem thức ăn là khoái lạc nhất. Hoặc như người đang khát mà được các thức uống bổ dưỡng, vì người ấy xem thức uống là lạc thú nhất. Dục lạc (cái vui của nhục dục) cũng như thế.
Không cảm thấy khoái lạc nghĩa là: Ví như người đang sạch sẽ mà dùng các thứ xác chết buộc vào trên cổ, hoặc như phá vỡ mụt nhọt, hay bị thanh sắt nóng đốt thân; không thấy khoái lạc cũng như thế.
Nếu Tỳ-kheo hành dâm trong các trường hợp: Hoặc do mua dâm, hoặc do thuê bao, hoặc vì ân nghĩa mà được, hoặc do quen biết mà được, hoặc do đùa cợt mà được, hoặc do thách thức mà được... đều phạm tội Ba-la-di. Nếu vì tâm trí điên cuồng không hay biết, thì không có tội.
Thế nên nói:
Nếu Tỳ kheo đã thọ giới cụ túc trước chúng Tăng hòa hợp, không trả giới, giới yếu kém, không ra khỏi (Tăng chúng) mà hành dâm, thậm chí hành dâm với súc sinh thì Tỳ-kheo ấy phạm tội Ba-la-di, không đưọc sống chung (với Tăng chúng)
(Giải thích Giới thứ nhất đến đây là hết).
Bấy giờ , Đức Thế Tôn ở tại thành Tỳ-xá-ly. Sau bữa ăn, Ngài ngồi quay mặt về hướng Ðông, lúc bóng xế độ