Tác giả: Nguyên Bản: Pāli - Việt Dịch: Hòa Thượng: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 363.
Ý kiến bạn đọc
TƯƠNG ƯNG TỶ-KHEO-NI
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapiṇḍika.
2) Tỷ-kheo-ni Āḷavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
3) Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Āḷavikà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên đi đến Tỷ-kheo-ni Àlavikà và nói lên bài kệ:
Sống viễn ly làm gì?
Hãy trọn hưởng dục lạc,
Chớ hối hận về sau.
5) Tỷ-kheo-ni Āḷavikà suy nghĩ: “Chính Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó”.
6) Tỷ-kheo-ni Āḷavikà biết được: “Đấy là Ác ma”, liền nói lên bài kệ:
Nhờ trí tuệ,(2) ta chứng.
Này Bà con phóng dật,(3)
Biết sao được pháp ấy?(4)
(1) Nissaraṇan : Nibbānaṃ, Niết-bàn.
(2) Paññā.
(3) Xem IV, 3, §4.
(4) Con đường và đích, padaṃ.
Đài chém đầu các uẩn.
Điều Ông gọi dục lạc,
Ta gọi là bất lạc.
§ II. SOMĀ (S.i.129)
1) Nhân duyên ở Sāvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Somā vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực.
2) Khất thực ở Sāvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
3) Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Somā run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Somā; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Somā:
Chỉ Thánh nhân chứng đạt,
Trí nữ nhân hai ngón,
Sao hy vọng chứng đạt?
5) Tỷ-kheo-ni Somā suy nghĩ: “Đây là Ác ma muốn làm cho ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ đó”.
6) Tỷ-kheo-ni Somā biết được: “Đây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Khi tâm khéo Thiền định,
Khi trí tuệ triển khai,
Chánh quán pháp vi diệu?
Ai tự mình tìm hỏi :
(1) ṭhānaṃ, chỉ cho địa vị và cơ hội.Ngài Buddhaghosa giải thích là A-la-hán quả.
Hay ta là ai khác?”
Xứng nói chuyện Ác ma,
Ác ma thật cân xứng.
§ III. GOTAMÌ (S.i.129)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì, (1) vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi để khất thực.
2) Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
3) Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì:
Một mình, mặt ứa lệ.
Hay một mình vào rừng,
Để tìm đàn ông nào?
5) Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: “Đây là Ác ma muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó”.
6) Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: “Đây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Đàn ông đã chấm dứt,
Ta không sầu, không khóc,
Ta sợ gì các Ông?
(1) Kisā Gotamī, vì nàng ốm và thiếu máu.
Khối mê ám nát tan,
Chiến thắng quân thần chết,
Vô lậu, ta an trú.
§ IV. VIJAYÀ
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vijavà vào buổi sáng đắp y... và ngồi xuống dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijaya sợ hãi... muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Vijaya; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:
Ta vừa trẻ, vừa xuân,
Với cung đàn năm điệu,
Nàng cùng ta vui hưởng.
4) Tỷ-kheo-ni Vijaya suy nghĩ: “ Đây là Ác ma... nói lên bài kệ đó”.
5) Tỷ-kheo-ni Vijaya suy nghĩ: “Đây là Ác ma”, liền nói lên bài kệ với Ác ma:
Làm cho ý đam mê,
Ta nhường lại Ác ma,
Ta đâu có cần chúng.
Với thân bất tịnh này,
Dễ hư hoại mong manh,
Ta bực phiền, tủi hổ,
Dục ái được đoạn tận.
Chúng sanh hưởng sắc giới,
(1) Xem trên IV, 2, §5.
Thiền chứng an tịnh ấy,(1)
Mọi nơi, mê ám diệt.
§ V. UPPALAVANNÀ (S.i.131)
1) Nhân duyên Sàvatthi.
Rồi Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà vào buổi sáng đắp y... và đứng dưới gốc cây tala có trổ hoa.
2) Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà.
3) Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà:
Dưới gốc cây tala,
Đang nở nụ trăm hoa,
Nàng đến đứng một mình,
Nhan sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không ai dám sánh bằng!
Tại đây Nàng đã đến,
Trong tư thế như vậy,
Nàng ngu dại kia ơi,
Không sợ cám dỗ sao?
5) Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà suy nghĩ: “Đây là Ác ma... đã nói lên bài kệ đó”.
6) Tỷ-kheo-ni Uppalavaṇṇà biết được: “Đây là Ác ma”, liền trả lời với bài kệ:
Có đến đây như Ông,
(1) Santā samāpatti, chỉ cho 8 thiền còn đưa đến tái sanh.
Ta không gì sợ hãi.
Ác ma, ta không sợ,
Ta đứng đây một mình,
Ta có thể biến mất,
Hay vào bụng các Ông.
Ta đứng giữa hàng mi,
Ông không thấy ta được.
Với tâm khéo khiếp phục,
Thần túc khéo tu trì,
Ta thoát mọi trói buộc,
Ta đâu có sợ Ông?
Này Hiền giả Ác ma!
§ VI. CÀLÀ (S.i.132)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Càlà vào buổi sáng đắp y... ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Càlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Càlà:
– Này Tỷ-kheo-ni, Nàng không vui thích gì?
– Này Hiền giả, ta không vui thích sanh.
– Sao Nàng không vui thích sanh?
– Khi đã sanh, phải thọ hưởng các dục.
– Này Tỷ-kheo-ni, ai dạy cho nàng: “Chớ có vui thích sanh”?
3) (Càlà):
Đã sanh thấy khổ đau,
Kiết sử trói gia hại,
Do vậy không thích sanh.
Đức Phật thuyết giảng pháp,
Đoạn trừ mọi khổ não,
Giúp ta trú chân thật.
Chúng sanh hướng sắc giới,
Họ vọng vô sắc giới,
Nếu không biết đoạn diệt,
Họ đi đến tái sanh.
§ VII. UPACÀLÀ
1) Ở tại Sàvatthi.
2) Rồi Tỷ-kheo-ni Upacàlà, vào buổi sáng, đắp y... và ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày... nói với Tỷ-kheo-ni Upacàlà:
– Này Tỷ-kheo-ni, Nàng muốn tái sanh tại chỗ nào?
3) – Ta không muốn tái sanh tại một chỗ nào cả, này Hiền giả.
4) - Chư Thiên Ba mươi ba,
Chư vị Hóa lạc thiên,
Tha hóa Tự tại thiên,
Nàng hãy hướng tâm này,
Đến cảnh giới chư Thiên,
Rồi Nàng được tái sanh,
Hưởng an lạc cảnh ấy.
Chư vị Hóa Lạc thiên,
Tha hóa, Tự tại thiên,
Vì ái dục trói buộc,
Lại bị ma chinh phục.
Toàn thế giới cháy đỏ,
Toàn thế giới hỏa thiêu,
Toàn thế giới bùng cháy,
Không rung, không dao động,
Không hệ lụy, phàm phu,
Chỗ nào ma không đến,
Chỗ ấy ta vui thích.
§ VIII. SISUPACÀLÀ
1) Tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà vào buổi sáng đắp y... rồi ngồi xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Rồi Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà:
– Này Tỷ-kheo-ni, Nàng thích thú tà giáo (1) của ai không?
3) – Này Hiền giả, ta không thích thú tà giáo của ai cả.
4) Vì ai Nàng trọc đầu,
Nàng không thích tà giáo,
Vậy nàng tu cho ai,
Này kẻ Ngu muội kia?
Thuộc ngoại đạo tà giáo.
Ta không thích pháp họ,
Ta không giỏi pháp họ!
Có dòng họ Thích-ca.
Đản sanh Phật vô tỷ,
Ngài chinh phục tất cả,
Ngài đại phá chúng ma,
Tại mọi chỗ, mọi nơi,
Không ai chiến thắng Ngài.
(1) Pāsaṇḍa: pāsa, bẫy sập, chỉ cho ngụy giáo như bẫy sập.
Không bị gì triền phược.
Bậc Pháp nhãn thấy khắp;
Tất cả nghiệp đoạn diệt,
Giải thoát, diệt sanh y.
Thế Tôn, Đạo Sư ta,
Ta thích giáo pháp Ngài.
§ IX. SELÀ (S.i.134)
1) Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Selà vào buổi sáng đắp y... ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Selà run sợ... nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Selà:
Được tạo tác làm ra,
Ai là người sáng tạo,
Bong bóng như huyễn này?
Từ đâu bong bóng sanh?
Đi đâu bong bóng diệt?
4) Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: “ Đây là Ác ma, muốn làm ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ ấy”.
5) Rồi Tỷ-kheo-ni Selà được biết: “Đây là Ác ma”, nên trả lời Ác ma với bài kệ:
Không phải tự ngã làm,
Sự vật bạc phước này,
Không phải người khác làm.
(1) Bimbaṃ: bong bóng, chỉ cho cả 5 uẩn.
Sự vật được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,
Sự vật bị tiêu diệt.
Hột giống gieo vào ruộng,
Được nẩy mầm, sinh lộc,
Khi nhiễm thấm cả hai,
Vị đất và khí ướt.
Cũng vậy uẩn và giới,
Cùng với sáu xứ này,
Do nhân duyên quy tụ,
Chúng sẽ được hình thành,
Do nhân duyên tán ly,
Chúng bị hoại, tiêu diệt.
§ X. VAJIRÀ
1) Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni Vajirà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirà đi đến rừng Andha để nghỉ ban ngày, đi sâu vào rừng Andha và ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
2) Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirà:
3) Do ai, hữu tình này,
Người tạo hữu tình này,
Hiện nay ở tại đâu?
Từ đâu hữu tình sanh?
Đi đâu hữu tình diệt?
6) Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: “Đây là Ác ma”, liền trả lời Ác ma với bài kệ:
Đến hai chữ chúng sanh?
Phải chăng, này Ác ma,
Ông rơi vào tà kiến?
Đây quy tụ các hành,
Chúng sanh được hình thành,
Như bộ phận quy tụ,
Tên xe được nói lên.
Cũng vậy, uẩn quy tụ,
Thông tục gọi chúng sanh.
Chỉ có khổ được sanh,
Khổ tồn tại, khổ diệt,
Ngoài khổ, không gì sanh,
Ngoài khổ không gì diệt.