Tác giả: Nguyên Bản: Pāli - Việt Dịch: Hòa Thượng: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 363.
Ý kiến bạn đọc
... (Nhân duyên ở Sāvatthi). Đứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
§ I. KIẾM:
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ ái dục.
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia bỏ thân kiến.
Có xúc, thời có chạm,
Nên hại người không hại,
Tức có xúc, có chạm,
Ai hại người không hại,
Người tịnh, không ô nhiễm,
Kẻ ngu hái quả ác,
Như ngược gió tung bụi.
§ III. TRIỀN PHƯỢC
Chúng sanh bị triền phược,
(1) Ở đây, xúc có hai nghĩa: năng động và thụ động, xúc chạm và bị xúc chạm, hành nghiệp và quả báo của nghiệp.
Ai thoát khỏi triền này?
Tu tập tâm và tuệ,
Nhiệt tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo ấy thoát triền.
Với ai, đã từ bỏ
Tham, sân và vô minh,
Bậc Lậu tận, Ứng cúng,
Vị ấy thoát triền phược.
Chỗ nào danh và sắc,
Được đoạn tận, vô dư,
Đoạn chướng ngại, sắc tưởng,
Chỗ ấy triền phược đoạn.
Chỗ ấy đau khổ tận.
Ý chế ngự hoàn toàn,
Thoát đau khổ hoàn toàn.
Hoàn toàn về mọi mặt,
Chớ có chế ngự ý,
Nếu tự chủ đạt được.
Chỗ nào ác pháp khởi,
Chỗ ấy chế ngự ý.
§ V. VỊ A-LA-HÁN (Tạp 22.6 - 7, La-hán, Đại 2,154b (S.i,14) (Biệt Tạp 9.6, Đại 2,435c)
Đã làm điều phải làm (1)
(1) Katāvī
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Đã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
Đã làm điều phải làm,
Các lậu được đoạn tận,
Thân này, thân tối hậu.
Có phải Tỷ-kheo ấy,
Đi gần đến kiêu mạn,
Khi vị ấy có nói:
“Chính tôi vừa nói lên”.
Khi vị ấy có nói:
“Họ nói là của tôi”?
Không còn những buộc ràng,
Mọi hệ phược kiêu mạn,
Vị có trí sáng suốt,
Vượt khỏi mọi hư tưởng,(1)
Vị ấy có thể nói:
“Chính tôi vừa nói lên”,
Vị ấy có thể nói:
“Họ nói là của tôi”.
Vị ấy khéo biết rõ,
Danh xưng ở thế gian,
Vì chỉ là danh xưng,
Vị ấy cũng danh xưng.
§ VI. ÁNH SÁNG (Tạp, Đại 2,360b (S.i,15) (Biệt Tạp 15.12, Đại 2,478c) (P.39)
Do chúng, đời chói sáng?
Con đến hỏi Thế Tôn,
Muốn biết lời giải đáp.
Thứ năm, đây không có.
Ngày, mặt trời sáng chói,
Đêm, mặt trăng tỏ rạng,
Lửa cháy đỏ đêm ngày,
Chói sáng khắp mọi nơi.
Chánh giác sáng tối thắng,(2)
Sáng này, sáng vô thượng.
§ VII. NƯỚC CHẢY (S.i,15)
Chỗ nào nước xoáy dừng?
Chỗ nào danh và sắc,
Được đoạn diệt, không dư?
(1)Yamataṃ.
(2) Sáng của trí tuệ, tín thành của lời Ngài dạy.
Lửa, gió không vững trú,
Do vậy (1)nước chảy ngược,
Chỗ ấy nước xoáy dừng,
Chỗ ấy danh và sắc,
Được đoạn diệt, không dư.
§ VIII. GIÀU LỚN (S.i,15)
Tài sản, quốc độ lớn,
Luôn luôn ganh tỵ nhau,
Hưởng dục không biết ngán,(2)
Giữa người sống dao động,
Trôi theo dòng tái sanh.
Ai bỏ tật và ái,
Không dao động(3) giữa đời.
Bỏ con, gia súc, thân,
Bỏ tham và bỏ sân,
Và từ bỏ vô minh,
Bậc Lậu tận, La-hán,
Không dao động giữa đời.
§ IX. BỐN BÁNH XE (S.i,16)
Đầy uế, hệ lụy tham,
Chìm đắm trong bùn nhơ,
Ôi, thưa bậc Đại Hùng, (P.41)
Sanh thú người như vậy,
Tương lai sẽ thế nào?
(1) Do vậy, chỉ có Vô dư y Niết-bàn
(2) Analaṅkata.
(3) Anussuka
(4) Thân với 4 uy nghi, 9 lỗ: 2 mắt, 2 tai, 2 mũi, 1 miệng, chỗ đại tiện, tiểu tiện.
Dục tham và tà ác,
Ái căn được đoạn tận,
Sanh thú (1) sẽ như vậy.
§ X. CON SƠN DƯƠNG (S.i,16)
Vừa thon lại vừa mạnh,
Ăn uống có chừng mực,
Không tham lam, say đắm,
Như sư tử, voi rừng,
Độc hành, không dục vọng.
Sau khi đến, con hỏi,
Làm sao thoát khổ đau?
Ý căn là thứ sáu,
Ở đây, từ ước muốn,
Như vậy thoát khổ đau.
(1) Yātrā.
(2) Đây là một tướng của bậc Đại nhân.