Tác giả: Nguyên Bản: Pāli - Việt Dịch: Hòa Thượng: Thích Minh Châu. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 363.
Ý kiến bạn đọc
§ I. CANDIMASA
Tại Sàvatthi.
1) Rồi Thiên tử Candimasa, sau khi đêm đã gần mãn,với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Candimasa nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Sau khi chứng Thiền định,
Nhứt tâm, niệm tỉnh giác,
Sau khi chứng Thiền định,
Tự chế, vượt lỗi lầm.
§ II. VENDU (S.i,52)
1) Đứng một bên, Thiên tử Veṇḍu nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2) Hạnh phúc thay những người,
Tuân phụng lời Ngài dạy,
Tu học không phóng dật!
Trong pháp cú Ta dạy,
Đúng thời họ sẽ đi,
Thoát khỏi tay tử thần.
§ III. DÌGHALATTHI (S.i,52)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2) Rồi Thiên tử Dìghalaṭṭhi, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, Thiên tử Dìghalatthi nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Vị Tỷ-kheo tu Thiền,
Và với lòng ước vọng,
Đạt được tâm sở nguyện,
Sau khi biết cuộc đời,
Sanh khởi rồi đoạn diệt,
Tâm thuần không chấp trước,
Hưởng lợi quả như chơn.(1)
1)… Đứng một bên, Thiên tử Nandana nói bài kệ với Thế Tôn:
Bậc Đại Giác toàn trí,
Con hỏi đấng Thế Tôn,
Với tri kiến vạn năng.(2)
Người nào gọi trì giới?
Người nào gọi trí tuệ?
Người nào vượt sầu khổ?
Người nào chư Thiên lạy?
(1) II, §1,2.
(2) Anāvaṭaṃ : khi đức Phật phóng hào quang, không có cây, núi nào có thể chặn lại.
Trí tuệ, tâm tu trì,
Chú tâm, vui Thiền định,
Tâm tư trú chánh niệm,
Tất cả mọi sầu khổ,
Được trừ diệt, đoạn tận,
Các lậu hoặc tận trừ,
Sống với thân tối hậu,
Vị ấy gọi trì giới,
Vị ấy gọi trí tuệ,
Vị ấy vượt sầu khổ,
Vị ấy chư Thiên lạy.
1)….Đứng một bên, Thiên tử Candana nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ngày đêm vững, kiên trì,
Không trú, không bám víu,
Ai không chìm vực sâu?
Trí tuệ, khéo định tĩnh,
Chí siêng năng dõng mãnh,
Vượt bộc lưu khó vượt.(1)
Vị đoạn, ly dục tưởng,
Vượt khỏi sắc triền phược,
Đoạn tận hỷ, hữu ái,(2)
Không chìm xuống vực sâu.
§VI. SUDATTA (Tu-đạt-đa)
1)… Đứng một bên, Thiên tử Sudatta nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
_______________
(1) Kệ này được lặp lại xem sau VII, I, 7 ; IX,2. Xem Pss. Of the Brethen, kệ 335.
(2) Chỉ cho 16 sắc giới Thiên, từ Phạm thiên trở lên Dục tưởng ở Dục giới.
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ ái dục.
Như lửa cháy trên đầu,
Tỷ-kheo hãy chánh niệm,
Xuất gia, bỏ thân kiến.
§VII. SUBRAHMÀ (1)(S.i,53)
1) Đứng một bên, Thiên tử Subrahmà nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ý này thường dao động,
Điều mong ước không khởi,
Điều không mong lại khởi,
Nếu có, không sợ hãi,
Hãy nói điều con hỏi.
Không ngoài hộ trì căn,(3)
Không ngoài bỏ tất cả,
Ta thấy các pháp ấy,
Đưa đến sự an toàn,
Cho tất cả chúng sanh.
§VIII. KAKUDHA (S.i,54)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn ở Sàketa, rừng Anjana, tại vườn Nai. Rồi Thiên tử
____________
(1) Theo Tập Sớ, hướng thiên lạc ở Thiên giới thấp nhất, khi nghiệp quả hết phải sanh vào địa ngục. Vì vậy Subrahmā buồn rầu đến hỏi đức Phật.
(2) Bojjhangā Tapasā: đây có thể xem là 7 giác chi và 13 hạnh đầu đà.
(3) Xem trên II,1; VI,3.
2) Đứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
– Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
– Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
– Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
– Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
– Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu muộn?
– Thật như vậy, này Hiền giả.
3) Làm sao, này Tỷ-kheo,
Tuy vậy, Ngài cũng không
Có được sự hoan hỷ?
Làm sao nay Ngài lại,
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?(2)
Tuy vậy ở nơi Ta,
Hoan hỷ không khởi lên,
Dầu nay Ta có ngồi,
Riêng một mình cô độc,
Ta không có hoan hỷ,
Cũng không bị dao động.
Làm sao ở nơi Ngài,
Hoan hỷ không khởi lên?
(1) Vị này trước là con người hầu của Đại Mục-kiền-liên. Từ lúc nhỏ theo vị này, chết trong khi ngồi thiền định và sinh lên cảnh Phạm thiên.
(2) Aratīnābhikīrati.
Ngồi cô độc một mình,
Không có được hoan hỷ,
Cũng không bị dao động?
Sầu muộn chỉ có đến,
Với người tâm hoan hỷ.
Do vậy, vị Tỷ-kheo,
Không hoan hỷ, sầu muộn.
Vậy nên, này Hiền giả,
Ông phải biết như vậy.
Vị Tỷ-kheo không sầu,
Cũng không có hoan hỷ,
Đã an toàn vượt khỏi,
Chỗ người đời đắm say.(1)
§ IX. UTTARA (S.i,54)
1) Nhân duyên tại thành Vương Xá.
Đứng một bên, Thiên tử Uttara nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
2) Mạng sống bị dắt dẫn,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy làm các công đức,
Đưa đến chơn an lạc.
(1) Xem trên I.1, §1.
Tuổi thọ chẳng là bao,
Bị dẫn đến già nua,
Không có nơi dừng bước.
Ai đem tâm quán tưởng,
Sợ hãi tử vong này,
Hãy bỏ mọi thế lợi,
Tâm hướng cầu tịch tịnh(1)
§ X. ANÀTHAPINDIKA: Cấp Cô Độc (S.i,55)
1) Đứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Độc (2) nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Chỗ trú xứ Thánh chúng,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng.
(1) Xem trên I.1,3.
(2) Xem trên I.5,6.
3) Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo và nói:
4) – Này các Tỷ-kheo, đêm nay có Thiên tử, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Đứng một bên, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy nói lên bài lệ này trước mặt Ta:
5) “Đây là rừng Kỳ Viên,
Chỗ ở đấng Pháp Vương,
Khiến tâm con hoan hỷ.
Nghiệp, minh và tâm pháp,
Giới và tối thắng mạng,
Chính những diệu pháp ấy,
Khiến chúng sanh thanh tịnh,
Không phải vì dòng họ,
Không phải vì tài sản.
Do vậy bậc Hiền giả,
Thấy lợi ích chính mình,
Chánh giác sát tâm pháp,
Như vậy được thanh tịnh.
Như ngài Xá-lợi-phất,
Tuệ, giới và tịch tịnh,
Tỷ-kheo đến bờ giác,
Ở đây là tối thượng”.
7) Được nghe nói như vậy, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
– Bạch Thế Tôn, có phải vị Thiên tử ấy là Anàthapindika? Gia chủ Anàthapindika hết dạ tín thành đối với Tôn giả Sàriputta?
8) – Lành thay! Lành thay! Này Ànanda, cho đến những gì có thể đạt được nhờ suy diễn, này Ànanda, Ông đã đạt được. Này Ànanda, Anàthapindika là vị Thiên tử ấy.