LUẬN BẢN
I. PHẨM PHÂN BIỆT GIỚI
A. BA PHẦN CỦA LUẬN
Trừ phẩm Phá ngã, Luận có 600 bài tụng và văn trường hàng, gồm trong chín phẩm 29 quyển, được chia làm ba phần: phần Tự, phần Chính tông và phần Lưu thông.
[trong 9 phẩm này có nhấn mạnh đến cụm từ, trừ phẩm phá ngã. Phá ngã, có chỗ để phần đó như một tác phẩm riêng, chư nó không dính dáng gì đến câu-xá, nên có nhà phiên dịch thì không dịch chung với câu-xá. Do đó phẩm Phá ngã đặt riêng ra ngoài và ở đây tôi cũng không giảng, mặc dầu chỗ khác trong văn thích thì có.
Luận có 600 bài tụng và văn trường hàng. Sau bài tụng phần nhiều các ngài bên Trung Hoa xưa hay tụng lắm, cho nên trong Kinh sở dĩ có nhiều kệ nhiều như trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni kệ, mở đầu nói ít câu là có kệ liền. Thời đại đó là thời đại sính văn kệ lắm. Còn trường hàng là giải thích. Lối văn đó như nhà học giả Lương Khải Siêu cho là, các tiểu thuyết Trung Hoa thời đó và sau nó, ảnh hưởng lối văn này rất nhiều. Tiểu thuyết Trung Hoa họ viết từng hồi. Mỗi hồi bắt đầu bằng 4 câu văn vần, sau đó họ mới viết văn xuôi. Chứ trước đây không có lối văn vần này. Đó là ảnh hưởng theo lối văn của Phật giáo. Giải thích bài tụng đó là văn trường hàng gồm 9 phẩm 29 cuốn chia 3 phần: Phần tựa, Chánh tông và lưu thông.]
Phần Tự, từ câu "Chư nhất thiết chủng chư minh diệt" cho đến hết ba bài tụng thất ngôn đầu sách và văn trường hàng.
- Phần Chính tông, từ câu "Hữu lậu vô lậu pháp" cho đến hết 600 bài tụng căn bản và văn trường hàng.
- Phần Lưu thông, từ câu "Ca-thấp-di-la nghĩa lý thành" cho đến hết bài tụng thất ngôn cuối sách.
[Phần tựa ít chỉ có 3 bài đầu và phần Lưu thông chỉ có 4 bài tụng sau chót. Còn tất cả dều là chánh tông hết.]
Ở đây, lược giảng luận này chỉ dựa vào văn trường hàng để lần lượt giải thích một số bài tụng chủ yếu trích trong 600 bài tụng căn bản và các bài tụng thất ngôn ở đầu và cuối sách mà thôi.
[Để anh em thấy rõ trong Đại Cương Câu-xá Luận này là vậy. Dựa theo văn trường hàng rồi giải thích một số bài tụng chủ yếu chứ không phải giải thích hết. Nếu giải thích cho đủ thì coi như dịch giải cả bộ luận. Ở đây tôi chỉ giải thích một số phẩm chủ yếu mà thôi. Cho nên tôi đặt chứ Đại Cương đầu sách là đủ.]
B. PHẦN TỰA (có 4 tiết)
w TIẾT 1 : QUY KÍNH VÀ PHÁT KHỞI
Quy kính bậc hữu đức và phát khởi phần Chính tông như thế nào ? Tụng đáp :
Nguyên văn Hán
"Chư nhất thiết chủng chư minh diệt,
Bạt chúng sinh xuất sinh tử nê,
Kính lễ như thị như lý sư,
Đối pháp tạng luận ngã đương thuyết".(I)
Các đấng đã diệt trừ nhất thiết chủng minh và chư minh, cứu vớt chúng sanh ra khỏi bùn sinh tử. Kính lễ bậc thầy Như lý như thế, tôi sẽ nói luận Đối pháp tạng.
[Nghĩa đen câu ấy là vậy. Thường thường các ngài luận sư mỗi khi làm luận đều có bài kính đức Phật trước. Bài kính lễ trước, thứ nhất là cầu Tam Bảo gia bị. Thứ hai là không bao giờ quên ơn Tam Bảo. Thứ ba là chứng tỏ việc làm của mình luôn luôn thuận với Tam Bảo, tương ưng với Tam Bảo và thứ tư là để cho người đọc sinh lòng tin, người học thấy người luận chủ trong khi làm luận hướng về Tam Bảo, cầu nguyện Tam Bảo gia bị, tức biết rằng vị làm luận đó không phải tự ý, hoặc để cầu danh, cầu lợi, tự ý hung ức phân biệt, đem cái riêng tư của mình ra mà làm. Họ thực tâm làm với mục đích để phát huy chánh pháp, làm cho chánh pháp cửu trụ và lợi lạc quần sanh, việc làm này không bao giờ xa rời Phật, không quên Phật, gắn bó với Phật, không quên ơn Phật nên sự cầu nguyện kính lễ đầu tiên của các vị luận sư là như thế.
Trong bài kính lễ này, phân tích giải thích ý nghĩa của nó ra là như vầy: Trong câu tụng đầu là phần qui kính. Câu thứ 4 là phần phát khởi. Chữ chư ở đây là chỉ các đức Phật, ý nói
ý nói các đức Phật chứ không phải chỉ một đức Phật, mà là chỉ chung cho hết thảy tam thế Phật cho nên gọi là chư.]
* Giải thích
Trong bài tụng này, ba câu đầu là phần quy kính, câu thứ tư là phần phát khởi.
Chư: Chỉ các đức Phật.
Nhất thiết chủng chư minh diệt : Hai chữ "minh diệt" gồm tán thán hai phương diện: nhất thiết chủng minh diệt và chư minh diệt. Vì minh (sự mờ ám) chứ không phải minh sáng có hai thứ:
1. Nhất thiết chủng minh : tức liệt tuệ. Liệt tuệ này đối với sự lý không hiểu biết rõ ràng, nó thường làm cho tư tưởng chúng ta hôn ám. Đối với sự vật, lẽ ra chúng ta có thể hiểu biết trọn vẹn, nhưng vì không có trí tuệ viên mãn cao thượng, nên chúng ta không hiểu, hoặc hiểu biết mù mờ. Sở dĩ như thế vì chính liệt tuệ làm chướng ngại.
2. Chư minh : tức phiền não. Phiền não chính là động cơ làm nhiễu loạn thân tâm, khiến chúng ta mờ ám đối với tất cả sự lý.
Nhất thiết chủng minh còn được gọi là "bất nhiễm ô vô tri"; chư minh còn được gọi là "nhiễm ô vô tri". Sự khác nhau giữa bất nhiễm ô vô tri và nhiễm ô vô tri như thế nào ?
[Trước hết tôi nói nhất thiết chủng chư munh diệt. Nhất thiết chủng chư minh và chư minh (chư minh ăn liền 2 nghĩa). Minh là mờ, mà mờ có hai thứ mờ. Nhất thiết chủng minh là lấy liệt tuệ
làm thể. Liệt tuệ là sao? Tức là trí tuệ rất yếu kém. Sự vật gì cũng biết một cách lờ mờ và phiến diện, cục bộ không biết được rõ ràng, biết một cách toàn diện đúng đắn cho nên gọi là liệt tuệ, nghĩa là cái tuệ yếu kém. Chữ liệt tuệ đó là thể của vô minh, hay nói cách khác liệt tức vô minh. Khi ta nói vô minh không cón nghĩa là tối lù mù, không biết gì hết, biết nhưng mà không sáng. Có biết chứ không phải như cục đá, cục đất không biết gì cả. có biết nhưng biết không đúng, biết lờ mờ, biết cục bộ, phiến diện, không toàn thể cho nên gọi là vô minh hay gọi là liệt tuệ, cái biết ở đây vì sao gọi là Nhất Thiết chủng? là bởi, đối với tất cả sự vật, chủng chủng tánh, chủng chủng tướng, tánh tướng rất nhiều cho nên gọi là Nhất Thiết chủng. Đối với những sự vật Nhất thiết chủng như thế mà biết lờ mờ cái nào cũng biết nhưng không cái nào đúng hết nên gọi là Nhất thiết chủng minh. Vì đối tượng có nhiều mà biết cái lờ mờ cho nên gọi là Nhất thiết chủng minh.Cái này cũng ám chỉ tập khí hay là sở chi chướng .Sở chi chướng là cái trí tuệ lờ mờ, nó làm chướng ngại cảnh sở tri, làm cho cảnh sở tri không phát hiện ra được, không tỏa rạng ra được. Hoặc giả chính cái sở tri làm chướng ngại. Lại có người cắt nghĩa cái sở tri là chướng, nhưng cắt nghĩa cho đúng là nó làm chướng cảnh sở tri. Cũng có người cắt nghĩa khác, vì sở tri chướng là cái cảnh sở tri làm chướng. Tỷ dụ như thế này, mình biết một cái gì đó thì cái đó là cái sở tri. Nhưng mình chấp chặt nơi cái biết đó , giữ chặt lấy nó tức nhiên mình bị cái sở tri đó làm chướng cho cái hiểu biết trọn vẹn nên gọi là sở tri chướng. Hiểu biết chưa trọn vẹn là vì chấp tất cả sự vật đều có thật thể, đều có thật tánh,có ngã nên nó làm chướng cho cảnh sở tri hoặc giả chấp cái biết sở tri nào đó, giữ chặt lấy nó mà không biết thêm nữa, gọi là sở tri chướng. Có hai cách cắt nghĩa như vậy cần phải nhớ.
Nhưng cái nghĩa nó làm chướng cảnh sở tri là nghĩa chính xác nhất. Vậy cái gì làm chướng cảnh sở tri? Chính là cái liệt tuệ. Cái cảnh sở tri của chúng ta là như vậy. Lý đáng anh có một cái trí tuệ vững vàng, cao thượng, sáng suốt biết rõ tường tận thì đằng này cái trí tuệ của anh nó lờ mờ, yếu kém quá, thành đối với cảnh sở tri đó nó bị chướng ngại, không thấy rõ được nên gọi là sở tri chướng. Còn phiền não ở đây là phiền não chướng có nghĩa khác. Chính cái phiền não nó làm chướng. Phiền não đó nó làm chướng ngại cho cái chứng Niết-bàn. Diệt được sở tri chướng thì chứng được Bồ-đề. Bồ-đề và Niết-bàn, hai chữ đi chung, nó diễn tả cảnh chứng ngộ quả vị Phật một cách trọn vẹn. Trong hàng Thanh văn phần nhiều nói chứng Niết-bàn chứ ít nói chứng Bồ-đề. Vì lẽ trong hành Thanh văn mới diệt được phiền não chướng chứ chưa nói đến diệt cái sở tri chướng, cho nên chỉ nói chứng Niết-bàn, ít nói chứng Bồ-đề.
Nhất thiết chủng minh còn gọi là bất nhiễm ô vô tri. Chư minh còn được gọi nhiễm ô vô tri. Sự khác nhau giữa bất nhiễm ô vô tri và nhiễm ô vô tri là như thế nào? Giờ đây nói Nhât thiết chủng minh mà gọi bất nhiễm ô vô tri là sao? Bởi vì đối với tất cả cảnh tướng sự vật nhận thức một cách lờ mờ, như vậy thì nó chỉ là vô tri. Nhưng cái vô tri đó không tạo nghiệp, không làm ác, nên gọi là bất nhiễm ô. Nó không đắm trước, chẳng qua vì không biết rõ mà thôi, chứ khôngtham gia không giận gì nó, không ngã mạn cống cao, không phiền não chi với nó hết, nên gọi là bất nhiễm ô. Bất nhiễm ô mà vô tri vì lẽ lờ mờ chứ không thấy rõ. Còn bên kia nhiễm ô vô tri là vì phiền não, chính là vì cái không những không thấy rõ mà còn tham đắm mê say, hành động những điều
sai trái theo với nó, nên gọi cái phiền não đó là nhiễm ô vô tri. Làm một việc mà mình khồn biết lại còn đối theo cái nhiễm ô nơi đó nữa. Ví dụ: Đối với một thỏi vàng giả như vậy mà mình nói là vàng thật, đó là vô tri. Nhưng vô tri đó không nhiễm ô. Anh nói vàng thật thì nói chứ không đưa tay ra lấy. Còn anh nhiễm ô là khi anh nói vàng thật rồi, anh đưa tay ăn cắp bỏ vào túi thì gọi là nhiễm ô vô tri. Vì lẽ đó nên trên kia gọi là bất nhiễm ô là vì vậy. Mặc dầu vàng thật mà anh nói vàng giả, đó là nói sai vô tri, nhưng anh không đưa tay lấy gọi là bất nhiễm ô. Còn anh nhiễm ô chẳng những anh không hiểu rõ nó mà anh còn đưa tay lấy, đắm trước theo nó nên gọi là nhiễm ô. Đó là phiền não.]
Tính chất của tâm có hai cách chia: chia làm ba tính thì có thiện, ác và vô ký; chia làm hai tính thì có nhiễm ô và bất nhiễm ô. Nhiễm ô chính là tính ác và hữu phú vô ký trong ba tính; bất nhiễm ô là tính thiện và vô phú vô ký trong ba tính. Nhất thiết chủng minh là tính thiện vì là liệt tuệ, nhưng có một phần vô ký, nên gọi là nhiễm ô vô tri. Chư minh tức phiền não, tính chất là ác và cũng có một phần vô ký, nên gọi là nhiễm ô vô tri. Đức Phật đã diệt trừ tất cả liệt tuệ, tức dứt hết nhất thiết chủng minh, chứng đắc trí tuệ vô thượng viên mãn, hiểu biết cùng tột các pháp một cách như thật, nên thành tựu trí đức. Ngài lại đoạn trừ tất cả phiền não, tức dứt hết chư minh nên thành tựu đoạn đức. Trí đức, đoạn đức là phần tự lợi.
[Tôi nói thêm chữ vô tri. Vô tri này cũng là vô minh, nhất thiết chủng minh này cũng là vô minh. Tùy tánh cách từng nơi mà tên gọi khác nhau. Nên chỗ khác ở trong thân, kiến hoặc, tư hoặc gọi là si thì cũng là vô minh: Thâm sân si thì si
đó cũng là vô minh. Chữ vô minh có nơi cắt nghĩa là áo tưởng hay mê tưởng. Nó có 3 loại:
- ảo tưởng về nhận thức hay vọng thức hay thức điên đảo.
- ảo tưởng về tư tưởng hay vọng tưởng hay tưởng điên đảo.
- ảo tưởng về quan điểm hay vọng kiến (kiến điên đảo).
Chữ vô minh có nhiều mặt nhìn, nhìn mặt nào cũng tối tăm hết.
Đức Phật có 3 đức: Trí đức, đoạn đức và ân đức. Hai phần vừa rồi là trí đức và đoạn đức. (Đoạn là đoạn phiền não , mà trí là được nhất trí, đoạn vô minh. Đoạn vô minh thì chứng được Nhất thiết trí. Đoạn phiền não thì chứng được đoạn đức, Niết-bàn.]
Bạt chúng sinh xuất sanh tử nê : Chúng sinh bị chìm đắm trong sinh tử thật khó ra khỏi, như người bị sa trong bùn lầy, nên gọi là bùn sinh tử. Đức Phật thương xót truyền trao Chính pháp để cứu độ. Đó là đức lợi tha của Ngài, nói cách khác, Ngài là ân nhân của chúng sinh, đã thành tựu được ân đức.
Kính lễ như thị Như lý sư : Đức Phật khéo léo nói pháp đúng như lý để cứu vớt chúng sinh. Ngôn giáo như lý ấy nhằm chỉ cho chúng sinh sự thật không điên đảo; lại hợp lý, hợp thời, hợp cơ, làm lợi lạc hữu tình. Vì vậy, để nhớ ân Phật, để chứng tỏ việc làm không quên gốc và để cầu Phật trợ lực cho việc tạo luận được viên mãn, hợp lý, hợp thời, hợp cơ như Phật, nên cúi đầu đảnh lễ bậc thầy như lý và đầy đủ ba đức như thế.
[Chữ như lý và như nhị, hai chữ nó có 2 nghĩa. Bậc thầy như lý và đầy 3 đức như nhị. Đức Phật dậy chúng sinh không
ngoài hai cách. Đó là giáo thọ và giáo giới. Sao gọi là giáo thọ? Giáo thọ tức Ngài khai thị giáo nghĩa, chỉ rõ chân lý cho chúng sinh được nhận thức, được thấu hiểu cho đúng đắn. Còn giáo giới là Ngài đặt ra những qui luật , hướng dẫn chúng sinh, cải tạo hành vi. Bên kia là khai thị giáo pháp để cải tạo trí thức thì gọi là giáo thọ. Bên này là thiết chế giới luật để cải tạo hành vi gọi là giáo giới, hay nói cách khác, Kinh và Luật, hay Pháp và Luật. Trong Nikaya Phật nói rằng: Ta để lại Pháp và Luật cho các ngươi. Đó là Thầy của các ngươi. Chữ Pháp đó là giáo thọ, chữ Luật đó là giáo giới.
Vậy chữ Pháp là để cải tạo trí thức, Luật là để cải tạo hành vi nên gọi là giáo thọ và sgiáo giới. Phật chỉ dậy 2 cách đó thôi nên Ngài nói: Ta để lại cho các ngưới Pháp và Luật. Đó là Pháp tạng và Luật tạng. Còn sau này gọi là Luật tạng bất quá là các chữ pháp mà thôi, chữ Luật tạng không có tính cách gì khác hơn mà là giáo (dạy) một cách đúng như lý. Vậy bằng cách nào mà ngộ đúng được như lý? Đúng như lý tức là một lối dạy mà không vướng, không mắc phải ba cái tính điên đảo. Một là nhân đảo. Sao gọi là nhân đảo? Ví như người ta tham thì cần dạy cho pháp quán Bất tịnh để cho họ bớt tham, nhưng không dạy như vậy mà lại dạy họ quán pháp Nhơn duyên. Ngược lại là người ngu si nhiều đáng lý dạy cho họ pháp quán Nhơn duyên, không dạy như vậy mà lại dạy pháp quán bất tịnh. Như vậy là nhân đảo. Khi cho đệ tử quán các pháp mà không đúng căn cơ của họ thì tu hành khó lắm. Quán không hợp thì sẽ không có kết quả.
Ngày xưa có 2 vị đệ tử tại gia nghe vị Tỳ-kheo kia dạy cho pháp môn quán để tu hành. Tu một thời gian lâu mà không có kết quả, bèn đến trình bày với đức Phật. Họ nói: Bạch Thế Tôn,
con là đệ tử của các ngài, lâu này con có nhờ vị Tỳ-kheo kia dạy cho một pháp môn để tu mà không biết sao, ngài dạy như thế nào mà tu mãi tu hoài không thấy kết quả chi cả. Phật hỏi: Ông Tỳ-kheo dạy cho ông tu pháp gì? Bạch Phật, vị Tỳ-kheo dạy con tu quán bất tịnh. Phật hỏi: Vậy ông làm nghề gì? Dạ thưa, con làm nghề thợ rèn. Rồi một bữa khác có người vào yết kiến Phật. Phật hỏi: Ai vữ cho con tu? Dạ vị Tỳ-kheo vẽ cho con tu. Nhưng con tu mãi tu hoài mà không tinh tấn chi hết. Phật hỏi: Vậy vị Tỳ-kheo vẽ ông tu pháp môn gì? Dạ vị ấy vẽ con tu quán Sổ tức (niệm hơi thở). Vậy con là nghề gì? Dạ con làm nghề thợ giặt. Phật nghĩ, lẽ ra làm nghề thợ giặt thì phải dạy quán bất tịnh thì mới mau thành, bởi hàng ngày phải tiếp xúc với sự dơ bẩn như vậy thì quán bất tịnh mới mau tiến bộ chứ. Còn cái anh thợ rèn, hằng ngày anh lo thổi ống bệ, thổi bệ thì phải thụt ống bệ kéo lên để xuống, như vậy thì thuận theo cái hởi thở ra vào nên phải quán Sổ tức thì mới mau thành được. Ông Tỳ-kheo này dạy 2 vị cơ sĩ quán lộn mất rồi. Vậy gọi là nhân đảo. Giờ Phật không có dạy cái nhân điên đảo đó gọi là như lý.
Thứ hai là Pháp đảo. Đáng ra người chấp hữu thì nên đem cái không pháp mà dạy cho họ. Đáng ra người chấp vô thì nên đem cái chấp hữu mà dạy cho họ, chứ người chấp vô lại đem cái không pháp mà dạy thì họ sẽ hư mất. Vì vậy trong cách thuyết giáo của mình có 2 mặt. Một mặt lý và một mặt sự. Nếu anh đã nói lý quá rồi mà bây giờ đem lý dạy cho anh nữa, thì anh sẽ bay bổng lên trời mây, không thấy gì hết, đi hỏng chân hỏng cẳng, thì đó là điều không tốt. Có nhiều người học Kim Cang rồi nói: Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo bất năng kiến Như Lai nên trong lễ Phật đản,năm kia một hôm mọi người đều treo cờ kết hoa đèn, thì có một anh Phật
tử anh không treo đèn, treo cờ kết hoa gì hết. Đã không treo mà anh lại còn nói: Phật đản treo cờ kết hoa làm gì? Thờ Phật làm gì? Các anh treo đèn, thờ Phật là các anh hành tà đạo hết. Ngài đã từng dạy: Đừng lấy sắc thấy Ta, dùng âm thanh mà nghe ta, mà tìm Ta. Thế mà bây giờ cứ bày Phật ra thờ, treo đèn, kết hoa là các anh hành tà đạo hết. Họ vốn là người học lý mà đem Kim Cang dạy cho họ thì thật nguy khốn. Dạy mà không khéo thì đưa họ đi vào chỗ hư không, đưa họ đi vào cái không kiến, đi vào đoạn kiến. Còn ngược lại, đối với người chấp sự tướng, đụng cái gì họ chấp cái nấy. Họ cúng 5 đồng cũng bắt ghi tên cho họ ký, còn đưa cúng âm thầm thì không chịu. Phải treo cái bảng ghi thật to tên tôi thì mới cúng vào lạy Phật ở trong chánh điện thì họ bảo để tôi lạy trước, còn nếu đứng sau mọi người mà lạy thì tôi không lạy đâu. Với người đã chấp tướng như vậy, nếu đem cái tướng mà dạy cho họ thì chắc chắn càng thêm cái nghiệp, cái chất tướng của họ lên mà thôi. Đó là pháp đảo,tức là đem cái pháp đặt không đúng chỗ vậy.
Thứ ba là thời đảo, người căn cơ đã thuần thục thì chúng ta nên nói cho họ pháp môn thuần tịnh để họ nghe, nhưng lại không nói để cho qua cái thời khắc đó thì gọi là quá thời, tức là cái thời căn cơ thuần thục đáng ra nên nói cho họ nghe thì lại để cho nó trôi qua mà không nói. Ngược lại có người chưa biết gì cả, căn cơ còn thấp mà cứ bắt người ta phải nghe pháp thượng thừa, đó là nghịch thời. Thời chưa đến mà đã nói đó là thời đảo. Đức Phật thuyết pháp không vướng vào ba cái thời đó nên gọi là Như lý thuyết pháp. Như lý thuyết pháp bằng 2 cách là giáo thọ và giáo giới. Đó là 2 cách mà đức Phật áp dụng để độ sanh.
Tóm lại, giáo thọ là nói về Pháp, giáo giới là nói về Luật. Phật dạy: Phật và Luật, Ta đã dạy cho các ngươi rồi đó là hai
chữ mà Phật đã nói cho các đệ tử của Ngài biết mà trọng tạ Nikaya còn ghi lại.]
Đối pháp tạng luận ngã đương thuyết : Câu này là phần phát khởi. Lý do ở đây kính lễ Phật là gì ? Là để nói luận Câu-xá, tức Đối pháp tạng.
[Chứ không phải lạy Phật như vậy để cầu Ngài cho tôi trúng số độc đắc đâu. Lạy như vậy là để mong Ngài gia hộ cho tôi viết đối pháp tạng. Cho nên lạy Phật cũng nhiều người lạy lắm, nhưng mục đích lạy của mỗi người một khác.
Giờ đấy tôi nói đến Danh và thể của Đối pháp.]
w TIẾT 2 : Danh thể pháp của đối pháp
Đối pháp là gì ? Thể của nó ra sao ? Tụng đáp :
"Tịnh tuệ tùy hành danh đối pháp,
Cập năng đắc thử chư tuệ luận".
* Dịch nghĩa
Tịnh tuệ, tùy hành gọi là Đối pháp, và các tuệ các luận có công năng đưa đến tịnh tuệ và tùy hành ấy cũng đều gọi là Đối pháp.
[Đối pháp này có 2 phần. Một phần là sở đối và một phần là năng đối. Sở đối là gì? Sở đối là Tứ đế và Niết-bàn hay gọi bằng cách khác là pháp tương pháp và thắng nghĩa pháp. Thắng nghĩa pháp là chỉ cho Niết-bàn. Chữ nghĩa có
nghĩa là chân thật. Chữ thắng có nghĩa là vô hậu. Pháp chân thật vô lậu đó là gì? Đó là Niết-bàn. Còn Tứ đế là pháp tướng pháp, là pháp về pháp tướng. Ta có thể phân biệt: Khổ, tập, diệt, đọa, trong đó còn đang hữu vi hữu lậu, chưa phải hoàn toàn vô hậu hết nên gọi là pháp tướng. Đó là nói về sở đối. Còn năng đối là gì? Năng đối có 4 cái: 1. Tịnh tuệ, 2. Tùy hành, 3. Chư huệ, 4. Chư luận. Hai thứ này còn có một danh từ nữa là sở đối pháp. Sở đối pháp tức là chữ năng, trong mình thường hay dùng chữ sở là bị, chữ năng là khả năng. Cái pháp vị đối và pháp năng đối. Cũng y như mình nói con mắt bị thấy và con mắt hay thấy. Một cái bị và một cái năng. Vậy cái pháp bị đối là gì? Tức là Tứ đế, Niết-bàn hoặc gọi cách khác là pháp tướng pháp, thắng nghĩa pháp. Pháp tướng pháp là chỉ cho Tứ đế, thắng nghĩa pháp là chỉ cho Niết-bàn. Còn năng đối là gì? Là tịnh huệ, là tùy hành, là các huệ, là các luận. Lấy cái này mà đổi quán cái kia, lấy 4 cái này để đổi quán 4 Tứ đế và để đôi hướng tới Niết-bàn. Lấy cái tịnh huệ, tùy hành, các huệ các luận để đối lý quán tứ đế và đối hướng Niết-bàn. Cho nên 4 thứ này gọi là pháp năng đối. Tịnh huệ có nghĩa là huệ vô lậu nên gọi là tịnh. Trí tuệ vô lậu gọi là tịnh. Trí tuệ biết các pháp, không còn vướng mắc phiền não ngã chấp trong đó gọi là huệ vô lậu.
Trước hết tôi nói về tinh huệ. Tịnh huệ hay trí tuệ thanh tịnh là chỉ chung cái trí tuệ mà biết được Tứ đế và ngộ được Niết-bàn, trí tuệ nó không vướng mắc gì phiền não mà ngã chấp thì trí tuệ đó là trí tuệ vô lậu gọi là tịnh huệ. Nhưng tịnh huệ đó không khởi lên đơn độc mà khi khởi lên thì nó có những tâm sở tùy theo với nó nữa, chứ nó không phải khởi lên đơn độc 1 mình mà thôi cho nên gọi là tùy hành.]
* Giải thích
Chữ Đối có hai nghĩa, đối quán và đối hướng. Đối quán là tâm và cảnh đối nhau, tức đem tâm chủ quan quan sát cảnh khách quan. Đối hướng là nhân và quả đối nhau, tức từ nguyên nhân này hướng đến kết quả kia để tiến bước tu hành.
Chữ Pháp có hai nghĩa: nhậm trì tự tính và quỹ sinh vật giải. Bất cứ một tồn tại nào, hữu hình hay vô hình, hiện tượng cụ thể hay tư duy trừu tượng, đều có tự tính riêng, không mảy may lẫn lộn. Nhờ nó giữ gìn khuôn khổ, quy cách nhất định của nó, nên khi tiếp xúc nó, ta biết đó là vật gì. Đó là nghĩa quỹ sinh vật giải. Nhưng chữ Pháp ở đây được nói là lý pháp: Khổ, Tập, Diệt, Đạo và quả pháp: Niết-bàn. Lý pháp Tứ đế là tính và tướng của tất cả pháp, nên được gọi là "pháp tướng pháp"; quả pháp Niết-bàn có tính là thiện, là thường nên gọi là thắng; và vì có thật thể nên gọi là nghĩa; gọi chung là Thắng nghĩa pháp.
Nhưng cái khả năng đối quán lý Tứ đế và đối hướng quả Niết-bàn ấy như thế nào ? Tụng đáp:
"Tịnh tuệ tùy hành danh đối pháp
Cập năng đắc thử chư tuệ luận".(II)
Đây là hai câu nêu lên thể của đối pháp. Thể ấy có hai: 1. Thắng nghĩa đối pháp thuộc vô lậu (tức câu: Tịnh
huệ tùy hành danh đối pháp). 2. Thế tục đối pháp thuộc hữu lậu (tức câu: Cập năng đắc thử chư tuệ luận).
Tịnh tuệ: Trí tuệ vô lậu thanh tịnh, có thể giản trạch sự lý các pháp một cách rõ ràng.
Tùy hành: Tâm, tâm sở, đắc, tứ tướng hữu vi (sinh, trụ, dị, diệt) và vô biểu sắc tương ứng với tịnh tuệ mà sinh khởi. Tịnh tuệ ví như chủ; tùy hành ví như tớ. Khi chủ dấy khởi thì tớ cũng dấy theo. Bộ phận tôi tớ ấy được gọi là tùy hành. Tịnh tuệ và tùy hành được gọi chung là Thắng nghĩa đối pháp.
Nhưng không phải chỉ tịnh tuệ và tùy hành mới được gọi là đối pháp, mà các phương tiện tư lương cần có như các tuệ và các luận để đạt tịnh tuệ ấy cũng gọi là đối pháp, đó là thế tục đối pháp.
[Như vậy những cái tâm, tâm sở với những cái đắc (được) và bốn tướng hữu vi mà khởi cùng với nó (tâm, tâm sở đó) và vô biểu sắc tương ưng với tịnh huệ, gọi chung là tùy hành (tùy hành thường đi theo với tịnh huệ). Chữ hành là đi theo, khởi theo. Còn huệ là huệ trí thanh tịnh. Những tâm, tâm sở này khởi theo cái trí tuệ thanh tịnh đó thì gọi là tùy hành. Thường thì tâm sở này má khởi theo tùy hành thì đó là tâm gì? Tức là phải thiện tâm là phải huệ tâm sở, là phải tư tâm sở, thiện tâm sở chứ không phải ác tâm sở mà đi theo với cái tịnh huệ này được. Thêm nữa, đã là pháp hữu vi (tùy hành là pháp hữu vi) cộng chung với 4 tướng hữ vị là sanh, trụ, dị, diệt nữa và cái đắc ( bởi cái tịnh huệ tùy hành khởi lên) như vậy nó đắc cái gì? Nó đắc nó ngộ được lý Tứ đế, chứ không phải không có cái đắc không. Sở dĩ trong này gọi đắc và bốn tướng hữu vi là bởi theo
Hữu bộ, họ cho các bất tương ưng hành pháp đều có thực thể hết. Cho nên đắc cũng là pháo có thực thể, mà cái sanh tướng cũng là một cái có thật thể và trụ tướng, dị tướng, diệt tướng cũng là cái có thật thể. Nếu pháp sanh đó chưa tới nơi anh này thì anh không sanh ra được. Cái pháp trụ đó mà chưa tới nơi anh, không dính nơi anh thì anh không trụ được, cái pháp dị đó chưa tới nơi anh thì anh không diệt được. Bởi họ cho tướng đó là tướng hữu vi. Anh nào còn mang 4 tướng sanh, trụ, di, diệt thì gọi là tướng hữu vi. Cái đắc khởi lên với tịnh huệ, vói cái vô biểu sắc tương ưng với tịnh huệ.
Nhưng không phải tịnh huệ và tùy hành mới được gọi là đối pháp, [Không phải chỉ hai cái đó mới gọi là đối pháp, nghĩa là không phải hai thứ đó mới là đối quán lý Tứ đế và đối hướng Niết-bàn. Không phải chỉ có hai thứ đó thôi đâu.] mà các phương tiện từ lương cần có các huệ và các luận để đạt tịnh huệ ấy cũng gọi là đối pháp. Đó là thế tục đối pháp. Ở đây các huệ là gì? Là sanh đắc huệ, văn huệ, tư huệ, tu huệ; còn các luận là chỉ cho luận Lục túc và luận Phát trí, được liệt kê dưới đây:
– Tập Dị Môn Túc luận (Sangtiparyaya-
pada), thời Phật, Xá-lợi-phất tạo, Huyền Trang dịch, 20 cuốn.
– Pháp Uẩn Túc luận (Dharma-Skandha-
pada), thời Phật, Mục-kiền-liên tạo, Huyền Trang dịch, 12 cuốn.
– Thi Thiết Túc Luận (Prajnapati-pada), thời Phật, ca-chiên-diên tạo, Huyền Trang đem về chưa dịch.
* Lục Túc
– Thức Thân Túc luận (Vijnanakaya-pada),
100 năm sau Phật Nb, Đề-bà-thiết-na tạo, Huyền Trang dịch, 16 cuốn.
– Phẩm Loại Túc luận (Prakarama-pada),
300 năm sau Niết-bàn, Thế Hữu tạo, Huyền Trang dịch, 18 cuốn.
-
Giới Thân Túc luận (Dhatukaya-pada), 300 năm sau Niết-bàn, Thế Hữu tạo, Huyền Trang dịch, 3 cuốn.
-
Phát Trí luận (Jnanaprasthana), 300 năm sau Niết-bàn, Ca-đa-diễn-ni Tử tạo, Huyền Trang dịch, 20 cuốn.
Lục túc là sáu bộ luận làm chân; Phát trí là bộ luận làm thân, nên cũng gọi là Thân luận. Bởi do luận Phát Trí mà Hữu bộ bộc phát, tách khỏi bộ phái mẹ là Thượng tọa bộ.
[Bây giờ tôi nói về các tuệ. Các huệ sanh đắc tuệ, văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ. Các tuệ có 4 thứ: trước hết là sanh đắc tuệ. Sanh đắc tuệ là cái trí tuệ thọ trì được giáo pháp tam tạng. Chẳng hạn như chúng ta nghe giảng đây mà có cái trí tuệ hiểu được, nhớ được những lời giáo pháp như vậy gọi là sanh đắc tuệ. Nếu không sanh đắc tuệ thì không có trí tuệ khi bẩm sinh. Nhờ có trí tuệ ấy mói nghe lọt được giáo pháp.
Văn tuệ: Văn tuệ là trí tuệ có được trong khi tu Ngũ đình tâm quán. Tư tuệ là trí tuệ có được trong khi tu tứ Niệm xứ. Và tư tuệ là trí tuệ có được trong khi tu 4 hạnh.
Bây giờ tôi tóm lại các tuệ. Các tuệ là sanh đắc huệ, văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Nếu không có tuệ này thì làm sao có cái tùy hành trên được. Không có tuệ này thì làm sao có trí tuệ thanh tịnh kia được. Phải có tuệ này mới đưa đến trí tuệ thanh tịnh tịnh
tuệ trên. Nếu không có trí tuệ tư lương này thì trí tuệ kia làm sao có được. Nhưng nếu có trí tuện mà không có phương tiện bên ngoài giúp đỡ vào, tức không có các bộ luận giảng giải đạo lý thì trí tuện của anh cùng nằm một đống, không phát sinh phát hiện ra được. Cho nên phải có những thứ tư lương để giúp cho 4 cái tuệ đó được phát triển. Các luận đó là gì? Là Lục túc và Phát trí.
Nói tóm lại, Lục túc và Phát trí đó thuộc về thế tục và đối pháp. Bởi các tuệ và các lục còn thuộc về thế tục dối pháp. Vì sao? Bởi những thứ này đi lên tới thắng nghĩa rồi bỏ rơi lại chứ không mang theo nữa, nên gọi là thế tục. Nhưng khi lên trên tịnh tuệ thì cái tuệ đó không bỏ rơi, tuệ khi đó là một cái tuệ cùng tột, thanh tịnh, ngộ rõ cái lý Tứ đế, tuệ khi đó là cái tuệ viên mãn, chứ không có bỏ rơi. Cho nên cái tuệ đó thuộc về thắng nghĩa. Còn cái đích là các tuệ và các luận là thế tục đối pháp. Bởi vì đến một mức nào đó thì bỏ rơi nó đi. Ví như giờ đây mình cần kinh sách để học, chứ mai mốt thuộc rồi mang nó đi theo làm gì. Bây giờ còn tu Ngũ đình tâm quán, tu Tứ niệm xứ, tu Tứ gia hạnh, chứ khi mình ngộ đượ Niết-bàn rồi thì mấy thứ đó đem theo làm gì. Cho nên những thứ đó bị bỏ rơi lại hết. Vì vậy, những thứ đó gọi là thế tục. Nhưng thế tục đó không có không được, không có thì không lấy gì giúp cho tịnh tuệ được thành tựu. Cho nên nó cũng được gọi là đối pháp. Mà đối pháp là năng đối pháp, còn sở đối pháplà Tứ đế và Niết-bàn. Lục túc là 6 bộ luận làm chân. Bởi do luận Phát trí mà Hữu bộ bộc phát, tách khỏi bộ phái mẹ là Thượng tọa bộ. Sao gọi là Lục túc? Sao gọi là thân luận? 6 bộ kia coi như 6 chân ( túc là chân). Bộ luận Phát trí dựa trên 6 bộ đó mà phát triển ra. Nhưng khi phát triển lên rồi thì cái lý nghĩa của trong bộ Phát trí lại phong phú, còn
cái lý nghĩa của Lục túc hơi hẹp hòi, nhỏ thì nhỏ như chân, còn bên kia to thì to như cái thân. Cho nên bộ Phát trí gọi là Thân luận, mà 6 bộ kia gọi là Túc luận.
Như ta đã biết, lịch sử của Hữu bộ được truyền bá đến Càn-đà-ra rồi đên Ca-thấp-di-la. Trong khi nó được truyền bá ra nhưng chưa hệ thống giáo lý một cách đầy đủ, cho đến khi bộ phát trí ra đời, thì giáo lý của Hữu bộ lúc đó mới đầy đủ. Cho nên tuy nói 20 bộ nhưng sách vở của các bộ phái đều mất tiêu đâu hết, không còn tìm thấy dấu vết nữa. Duy chỉ có sách vở của Hữu bộ đang còn, đó là Phát trí và Lục túc. Bên Thượng tọa bộ cũng được 7 bộ. Tức nhiên Thượng tọa bộ là bộ mẹ và Hữu bộ là bộ con. Như vậy Thượng tọa bộ còn được 7 bộ và Hữu bộ cũng còn được 7 bộ. Trong Thượng tọa bộ thì những bộ con luận lý không được đầy đủ hoặc giả là không có gì đặc sắc nên đã tiêu mất khi nào không biết, duy chỉ còn mấy bộ luận bên Hữu bộ mà thôi. Còn Đại chúng bộ nó có tư tưởng cấp tiến cho nên tư tưởng trong Đại chúng bộ sao này nó hòa nhập vào trong các kinh luận Đại thừa hết. Đại chúng bộ cũng không còn bộ luận nào. Cũng không rõ ngày xưa bên Đại chúng bộ có làm bộ luận nào không thì mình không biết! Kinh bộ thì nay còn 1 bộ là Thành Thật luận. Thành Thật luận cũng ra đời sau Ngài Thế Thân. Ngoài ra các bộ khác bây giờ không còn nữa. Không còn hay họ không làm mình cũng không hiểu. Bây giờ chỉ còn bô Hữu bộ. Từ đó mà biết cái sức truyền bá của Hữu bộ và lý nghĩa của Hữu bộ có giá trị nhất định nào đó nên mới cong tồn tại cho đến bây giờ, trong khi các bộ khác thì mất hết.]
Các tuệ và các luận không phải là đối pháp của thắng nghĩa vô lậu, mà là phương tiện tư lương cần có để đạt thắng nghĩa đối pháp, cho nên gọi chúng là thế tục đối
pháp. Hai loại thắng nghĩa và thế tục đối pháp này nếu phân tích tỉ mỉ thì có bốn loại :
1. Tự tính đối pháp : tức tịnh tuệ (tuệ tâm sở).
2. Tùy hành đối pháp : tức quyến thuộc của tịnh tuệ (các tâm sở cùng khởi).
3. Phương tiện đối pháp : tức bốn tuệ hữu lậu (sinh đắc tuệ, văn tuệ, tư tuệ, tu tuệ).
4. Tư lương đối pháp : Tức các luận (lục túc, phát trí).
Trên đây chỉ mới giải thích khái quát về tụng văn, còn thể của tùy hành, tức là tâm, tâm sở, đắc, bốn tướng hữu vi và vô biểu sắc của đạo cọng giới tương ưng với tịnh tuệ như thế nào ? Bởi vì tịnh tuệ không thể sinh khởi một mình mà còn phải có tâm vương, tâm sở... cùng khởi theo nữa. Xem bản đồ biểu dưới đây:
TÙY HÀNH (bốn nhóm) :
1. Sắc pháp: đạo cọng giới vô biểu.
[Có 3 loại giới: việc giải thoát giới thì cũng có hữu biểu sắc và vô biểu sắc. Đạo cọng giới có vô biểu sắc. Định cọng giới có vô biểu sắc.
Nhưng trong này ta chỉ nói cái sắc của Đạo cọng giới mà thôi chứ không nói cái sắc của Biệt giải thoát và Định cọng giới. Vì lẽ đây là nói về tuệ, anh giới không dính gì vô đây, cho nên không nói Vô biểu sắc của Biệt giải thoát giới. Hai nữa đây là nói về tuệ, anh định không dính gì vô đây, cho nên không nói cái Định cọng giới vô biểu mà chỉ nói Đạo cọng giới vô biểu tức là nói về cái tuệ nhận thức được đạo lý Tứ đế mà phát sinh nhận
thức, ngộ được thì tự nhiên giới thể được thanh tịnh nên gọi là Đạo cọng giới. Nói về tuệ vì lẽ đó.]
2. Tâm pháp: Đệ lục ý thức.
3. Tâm sở pháp:
a. Chín đại địa pháp: thọ, tưởng, tư, xúc, dục, niệm, tác ý, thắng giải, tam-ma-địa.
b. Mười đại thiện địa pháp: tín, cần, hành, xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, bất hại, khinh an.
c. Hai bất định địa pháp: tầm, tứ.
[Trong Câu-Xá lố phân loại câu sở này có khác hơn Duy thức. Duy Thức tỷ dụ như là nói đưa cho cái xúc tác ý, thọ, tưởng, tư về biến hành tâm sở, mà dục thắng giải định niệm tuệ thuộc biệt cảnh tâm sở. Nhưng ông này ông đưa cho cái Đại địa pháp là tưởng tư, xúc, dục, niệm, tác ý, thắng giải, tam-ma-địa, ông nói qua cách khác.
Nhưng cái tâm sở mà khởi lên với tịnh tuệ là gì? Là thọ, tưởng, tư, xúc, dục tức nhiên là 5 tâm sơ biến hành luôn luôn, khi nào tâm khởi đều có hết, cho nên gọi là tâm sở biến hành. Bất cứ khi nào hễ tâm vương, tâm sở khởi lên đều có 5 tâm sở ấy cùng khởi, đó là 5 biến hành. Rồi dục, thắng giải, niệm định là 4 tâm sở biệt cảnh cũng cùng khởi với tịnh tuệ đó cho nên đưa nó vào đây. Rồi đại thiên địa pháp nữa. Trong đại thiên địa pháp thì có tín, có cần, xả (xả đây là thuộc về hành ấm). Có hai loại. Xả là hành uẩn xả và xả thọ. Đối cảnh gì mà mình nhận thấy vui gọi
là lạc thọ. Khi mình cảm giác khổ thì gọi là khổ thọ. Đối với cảnh mà mình dửng dưng, không khổ không lạc gì cả thì gọi là xả thọ. Còn xả thuộc hành uẩn này thì thuộc thiện tâm sở. Xả đây có tính cách là phóng xả, buôn bỏ, không chấp trước thuộc về thiện, chứ không thuộc về vô ký như anh xả kia. Do đó người ta phân biệt xả thọ để tránh cái lầm lẫn ở bên hành uẩn xả. Hành uẩn xả tức tránh hiểu lầm chữ xả thọ bên kia. Đó là một từ chứ không phải hai từ. Tàm quí vô tham. Vô tham, vô sân, vô si, bất hại, khinh an thì dễ hiểu rồi nhưng khó tu.]
4. Tâm bất tương ưng hành pháp: đắc, sinh, trụ, dị, diệt.
w TIẾT 3 : Giải thích chữ tạng
Từ Đối pháp đã giải thích, còn Đối pháp tạng là gì ? Tụng đáp:
* Hán văn:
Nhiếp bỉ thắng nghĩa y bỉ cố
Thử lập Đối pháp Câu-xá danh.(III)
* Dịch nghĩa:
Vừa thâu (nhiếp) thắng nghĩa kia, vừa căn cứ vào đó. Vì thế bản luận được mệnh danh là "Đối pháp tạng".
[Sao gọi là tạng? Tạng có 2 nghĩa: Vừa thâu nhiếp thắng nghĩa kia (nhiếp bỉ thắng nghĩa) y bỉ cố là vừa căn cứ vào đó (hai nghĩa). Câu-Xá luận tức là Đối pháp tạng luận. Câu-Xá là
kosa. Kosa là tạng vì hai nghĩa này chi nên gọi là Câu-Xá hay là Đối pháp tạng. Một là vừa thâu nhiếp thắng nghĩa kia, hai là vừa căn cứ vào đó.]
Như vậy, chữ tạng có hai nghĩa:
1. Năng nhiếp: Luận này bao hàm, thâu chứa giáo nghĩa đặc thù (thắng nghĩa) của đối pháp như đã được thuyết minh trong các luận Lục Túc và Phát Trí, nên gọi là tạng.
[Giáo lý trong Lục túc, Phát trí là tất nhiên trong đó có những giáo nghĩa chưa đúng hẳn, chưa phải thắng nghĩa, mà có cái thứ giáo nghĩa đúng thì gọi là thắng nghĩa, những cái nghĩa thù thắng đặc biệt, những cái nghĩa rất sai trong Lục túc, Phát trí thì nó được thu vào trong này hết cho nên gọi là tạng.]
Ví như cái hầm, cái kho, có công năng chứa giữ các giống lúa và tài sản. [Cho nên ta kêu kho, ta kêu hầm. Còn không chứa gì cả thì ai kêu kho ai kêu hầm làm gì.]
2. Sở y: Giáo nghĩa Đối pháp được thuyết minh trong các luận Lục Túc và Phát Trí là chỗ dựa, là nơi căn cứ cho luận này, mặc dù có vài chỗ bị bài bác nhưng nguyên văn vẫn là chỗ dựa. Ví như cái bao đựng gươm là chỗ dựa của gươm, nên gọi là bao gươm. Có 2 nghĩa:
Nếu căn cứ nghĩa năng nhiếp thì "Đối pháp tạng" là chỉ riêng cho luận này. Theo văn pháp Sanskrit, đây là giải thích tập hợp danh từ theo luật y chủ thích (Tat-purusa). Nhưng nếu cứ theo nghĩa sở y thì "Đối pháp tạng" cũng chỉ chung cho các luận Lục Túc và Phát Trí chứ không riêng cho luận này... Đây là giải tập hợp danh từ theo luật hữu
tài thích (Bahuvrihi). [Mấy chữ này là từ mới nhất phải không? Ra chợ Bến Thành hỏi mua cũng không có đâu, tìm không ra chữ này đâu! Y chủ thích và hữu tài thích là chữ mới nhất.
Văn phạm Sauskrit rắc rối lắm. Đây là văn phạm Sauskrit, ngữ pháp Sauskrit. Trong Sauskrit ngoài bát chuyển thanh qua còn có lục ly hợp thích. Sao gọi là ly? Ly là ví như anh kia nằm đó, anh này nằm đây, không có dính chi nhau hết, hay từ này nằm đây từ kia nằm kia không dính gì nhau gọi là ly. Nhưng bây giờ đem chung vào một chỗ gọi là hợp. Nhưng khi đem chung vào một chỗ thì có nghĩa gì? Những danh từ nào có 2 từ trở lên thì mới dùng phương pháp này cắt nghĩa nó, để giải thích nó. Còn một từ thì khỏi nói. Ví như từ núi, sông không đi vào chỗ này. Khi nào có 2 từ trở lên thì người ta dùng 6 cách này để tìm hiểu cái nghĩa lý của nó, coi nó hướng về đâu? Nó hướng như thế nào nên gọi là lục ly hiệp thích. Nói cách khác là 6 cách giải thích danh từ.
1. Y chủ thích: Tỷ dụ như nói nhãn thức y chủ thích vì 2 từ. vì sao gọi là y chủ thích? Vì sao kêu nhãn thức? tức cái thức dựa nơi nhãn căn phát sinh ra cho nên gọi là nhãn thức. Như vậy trong đó nhãn căn là chủ nhãn thức là phụ. Nhãn căn là sở y, nhãn thức là năng y. Y nói nhãn căn phát ra nhãn thức, y nơi chủ mà có, mà xuất hiện ra, gọi là y chủ thích. Trong luật nhiều khi họ để nhãn thức, y chủ thích thôi, mình muốn hiểu dao thì hiểu, mặc kệ mình. Thích nương nơi nhãn căn tức nhãn chi thức là cái thức của nhãn, chứ không phải thức của nhĩ, của tỷ. Đó gọi là y chủ thích. Nhưng như ta biết nhãn thức phải nương nơi nhãn căn và sắc trần mới khởi lên. Tại sao luôn luôn nói nhãn thức mà không nói sắc thức. Nói sắc thức cũng được nhưng không trọn vẹn. Vì sao? Vì
nhãn là sở y bất cọng (sở y riêng). Cái thức đó chỉ nương nơi nhãn căn chứ không nương nơi đâu hết. Cái nhãn căn là cái sở y riêng không chung với cái nào hết, cho nên ta nói nhãn thức là nó cố định vào đó rồi, chứ nói sắc thức là cái sắc nó cộng y, là chỗ nương chung. Một cái sắc đó mà anh cũng nhìn, tôi cũng nhìn, anh cũng nương vào đó, tôi cũng nương vào đó, chứ đâu phải một mình anh nương được thôi, tôi không nương được. Còn cái nhãn căn của tôi chỉ tôi nương, nhãn căn của anh chỉ anh nương, chứ tôi không nương cái căn của anh được, mà anh cũng không nương cái căn của tôi được. Anh không mượn cái nhãn căn của tôi để anh nhìn thấy được. Ví dụ như anh đi chợ Bến Thành cho tôi mượn một chút nhãn căn của anh để tôi nhìn có được không ? không được. Vì ta luôn luôn gọi là nhãn thức chứ ta không gọi là sắc thức, mặc dầu phải có căn có trần mới ra thức.
2. Trì nghiệp thích : Như tạng thức. Bên kia ta thấy nhãn thức, nhãn là riêng, thức là riêng. Còn bên này là tạng thức, tạng là công năng chứa nhóm mà thức là một thật thể. Thật thể đây nó có công năng chứa nhóm, nó có công dụng chứa nhóm, mà sự chứa nhóm đó là cái nghiệp của nó. Tỷ dụ như cái tay hay đánh, thì cái đánh là nghiệp của tay. Giờ cái thức hay chứa nhóm ta gọi là tạng thức, như vậy gọi là trì nghiệp. Thức là thể, nghiệp là nghiệp dụng. Do cái nghiệp dụng đó mà chấp trì có cái nghiệp dụng đó cho nên gọi là nghiệp thức. Nghiệp thức đây cũng có nghĩa là tạng biệt thức. Thứ nữa cái này cũng gọi là đồng y thích.
3. Hữu tài thích : Hữu tài thích là sao? Tài là của, hữu là có của. Giải thích theo cái nghĩa có của như giác giả. Sao gọi giác giả ? là bởi có sự giác ngộ. Con người có sự giác ngộ gọi là giác giả (có của).
Câu-xá luận là bộ luận có đối, nó chứa cái đối pháp tạng của Lục túc và Phát trí trong đó nên gọi là Hữu tài hoặc như Duy thức luận là cái luận có cái lý Duy thức trong đó. Hữu duy thức chi luận là cái luận có lý Duy thức trong đó nên gọi là Duy thức luận, đó là thuộc về hữu tài. Hữu tài thích như giác giả. Duy thức luận Câu-xá hữu giác chi giả, hữu Duy thức chi luận hữu đối pháp chi luận.
Hữu giác giả là con người có sự giác ngộ . Hữu Duy thức chi luận là bộ luận có cái lý Duy thức. Câu-xá là bộ luận có cái đối pháp trong đó, ấy là Hữu tài. Hữu tài là nó có chứa cái có của nó.
4. Tương vi thích. Tương vi là trái nhau. Ví dụ quán về vũ trụ. Vũ là không gian, trụ là thời gian, gọi chung một danh từ là vũ trụ. Hai từ không gian và thời gian nằm chung một chỗ mà cứ quay lưng lại với nhau nên gọi là tương vi. Tương vi là trái nhau gọi là tương vi thích.
5. Lân cận thích. Ví dụ như nói thầy đó ở đâu ? thầy ở chùa Quán Âm. Do nơi chỗ ở gần đó mà cắt nghĩa thầy chứ không có gì hết. Hoặc nói anh người ở đâu ? tôi người Sài Gòn. Tôi người Sài Gòn nhưng không thật ở Sài Gòn mà ở tận Thủ Thiêm. Dựa vào chỗ gần nhau đó mà cắt nghĩa mà đặt danh từ. Đó gọi là lân cận.
6. Đới số thích. Như 5 uẩn, 12 xứ, 18 giới. Mỗi danh từ nó mang một con số trong đó. Đới số là mang con số trong đó nên gọi là đới số.
* TIẾT 4: Ý nói và người nói
Danh từ Đối pháp tạng đã giải thích xong. Song, vì sao cần phải có Đối pháp ? Và trước đó đã có ai đề cập đến chưa ? Tụng đáp:
Nhược ly trạch pháp định vô dư,
Năng diệt chư hoặc thắng phương tiện.
Do hoặc thế gian phiêu hữu hải,
Nhân thử truyền Phật thuyết Đối pháp.
* Dịch nghĩa:
Nếu lìa trạch pháp thì nhất định không còn phương tiện thù thắng nào có khả năng diệt trừ mê hoặc. Do mê hoặc mà thế gian trôi nổi trong biển hữu. vì vậy mà truyền thuyết cho rằng chính Phật đã nói Đối pháp.
* Giải thích:
- Trạch pháp: Là trí tuệ, vì trí tuệ có khả năng giản trạch các pháp, cũng có nghĩa của chữ Đối pháp nói trên.
[Chữ trạch pháp, chữ đối pháp, chữ trí tuệ thì trí tuệ là thể, trạch pháp đối pháp là dụng. Cho nên nói trí tuệ cũng có nghĩa trạch pháp đối pháp, mà đối pháp cũng có nghĩa trí tuệ, bởi vì dụng bất lý thể. Phải hiểu 3 danh từ đó thông đồng với nhau.]
- Chư hoặc: Phiền não làm phát sinh và tăng trưởng các nghiệp, chính là loại phiền não mê lý và mê sự, chỉ có địa vị Kiến đạo và Tu đạo mới đoạn trừ được.
-Thế gian: Có hai nghĩa là hữu tình thế gian và khí thế gian. Ở đây đề cập đến hữu tình thế gian, tức chúng sinh trong thế giới mê vọng.
- Hữu hải: Biển sinh tử của ba cõi. Sự xoay vần trong ba cõi, nhân quả không mất, nên gọi là Tam hữu. [Chữ hữu gọi là nhân quả không mất nên goi là hữu. Chỗ khác cắt nghĩa hữu này là hữu cụ. Thế nào goik là hữu và hữu cụ. Chữ này hơi khó hiểu một chút. Hữu là quả còn hữu cụ là nhơn. Cái để làm ra hữu gọi là hữu cụ. Như vậy cái nghĩa cũng là nhơn quả chứ không có chi hết. Nhơn quả không mất gọi là hữu. Hữu, hữu cụ mấy chỗ khác họ định nghĩa như vậy.] Chúng sinh sống và chết trong đó nên gọi là biển sinh tử.
Đoạn này ý nói, nếu lìa trí tuệ có công năng giản trạch các pháp, quyết định không có cách nào khác hơn để đoạn trừ phiền não. Nếu phiền não chưa đoạn trừ thì sức mạnh của nó làm cho chúng sinh trôi lăn trong biển sinh tử ba cõi. Ở đây, vì muốn chúng sinh đạt được trí tuệ vô lậu có công năng biện biệt các pháp để dứt trừ phiền não, ra khỏi biển sinh tử nên nói Đối pháp.
[Trên kia là cắt nghĩa đối pháp tạng. Bây giờ vì lý do gì mà nói đối pháp tạng? là vì để cho chúng sinh có được một cái trí tuệ, biết giảng trách các pháp. Mà giảng trạch các pháp vì mục đích gì? Giảng trạch các pháp là để đoạn trừ mê hoặc. Mà có đoạn trừ mê hoặc thì mới thoát ly ra khỏi biển tam hữu.]
Song, Đối pháp này trước đã có ai nói chưa ? Có. Đức Phật đã nói rải rác trong các kinh. Về sau các đệ tử kết tập thành Kinh tạng truyền lại cho đời. Chẳng hạn vào khoảng 300 năm sau Phật, có ngài Đạt-ma-đa-la (Dharmatrata, Hán dịch là Pháp Cứu) kết tập những bài tụng rải rác của Phật nói về vô thường thành phẩm Vô thường, về không, vô ngã thành phẩm Không, Vô ngã.
[Nếu tương lai các vị trích trong 5 bộ Nikàya ra những câu nào, đoạn nào mà nói về vô thường cho nó về một phẩm, câu nào nói về vo ngã cho nó về một phẩm, câu nào nói về khổ cho nó lại một phẩm. đó cũng gọi là Đối pháp tạng. Để tổng quát lại tất cả các nghĩa Phật nói rải rác về trong các kinh, ví dụ để cho thấy rõ cái nghĩ vô thường đủ các khía cạnh, đủ các nghĩa lý, mà chỗ này thì Ngài nói một phần, chỗ khác Ngài nói một phần. Như vậy cũng gọi là A-tỳ-đạt-ma Đối pháp tạng. Vậy cũng gọi là Đối pháp. Đó cũng đem cái trí giản trạch lựa chọn sắp đặt để cho cái nghĩa còn uẩn khuất trong đó được rõ ràng hơn gọi là Đối pháp. Hiểu sâu chữ Đối pháp là như vậy. Nhưng lấy cái gì làm Đối pháp? Tức lấy cái trí tuệ vô lậu mới có khả năng làm Đối pháp. Như tôi đã nói: Trí tuệ là thể mà Đối pháp hay trạch pháp là dụng. Vì vậy trong kinh Tăng nhất tăng 1 pháp đến 11 pháp mà tôi đã nói là do Tăng đoàn sắp đặt lại cũng coi như là một cái dạng Đối pháp. Bởi Ngài nói đâu phải là Ngài nói hết một loạt là nhất pháp rồi đến nhị pháp... và sang năm Ngài nói tam pháp và sang năm nữa Ngài nói tứ pháp đâu. Nhưng về sau này Tăng đoàn của Ngài sắp lại, sự sắp lại đó cũng có nghĩa là Đối pháp. Tức là dùng cái trí hiểu biết của mình mà sắp đặt lời Phật dạy theo một hệ thống có qui củ, để cho nghĩa nó được rõ ràng hơn lên, đó cũng gọi là Đối pháp.
Như vậy là Phần Tựa gồm ba bài tụng:
1. Chư nhất thiết chủng chư minh diệt
Bạt chúng sinh xuất sinh tử nê
Kính lễ như thị như lý sư
Đối pháp tạng luận ngã đương huyết.
2. Tịnh tuệ tùy hành danh đối pháp
Cập năng đắc thử chư tuệ luận
3. Nhược ly trạch pháp định vô dư,
Năng diệt chư hoặc thắng phương tiện.
Do hoặc thế gian phiêu hữu hải,
Nhân thử truyền Phật thuyết Đối tạng.
Nhân thử truyền Phật thuyết đối pháp. Chữ truyền là truyền thuyết này trong luận Câu-Xá ngài Thế Thân hay dùng lắm. Bởi Hữu bộ cũng tin Đối pháp do Phật nói. Cũng như Thượng tọa bộ là bộ mẹ của Hữu bộ, họ cũng tin là Đối pháp do Phật nói, nhưng các bộ khác không tin và ngài Thế Thân cũng không tin. Cho nên ngài nói là truyền thuyết. người ta truyền đó là do Phật nói nghĩa là không tin hẳn đó là do Phật nói . Chữ truyền thuyết là vậy, để thấy thái độ của ngài Thế Thân và của Hữu bộ có sự bất đồng đó. Vì có sự bất đồng cho nên ngài Thế Thân qua học luận A-tỳ ở Ca-tỳ-đát-na rồi về. Từ đó họ cho ngài là người phản bội Hữu bộ. Sau này ngài dùng chữ truyền thuyết là với ý đó. Vì ngài không tin nên nói truyền thuyết,
Bài tụng này nói về các pháp. Trong kinh mà nói chữ các pháp như vậy là nói cái dụng và cái thể của đối pháp. Vì Giới phẩm là nói về hữu lậu và vô lậu pháp, tức chỉ về các pháp. Còn phẩm Căn là nói cái tác dụng của cai hữu lậu vô lậu, thể dụng
các pháp. Thể tức phẩm 1 là phẩm Giới. Dụng là phẩm hai tức phẩm Căn. Trong hai phẩm này là nói tổng quát hữu lậu và vô lậu. Qua đó chúng ta thấy bố cục của luận này chặt chẽ vô cùng. Hai phẩm này có thể dụng các pháp. 6 phẩm sau là nói quả mê lầm và nhân duyên của mê lầm là phẩm Thế gian và Nghiệp. Ba phẩm tiếp đó là nói về phẩm Hiền Thánh là quả của giác ngộ, Tuệ là nhơn của giác ngộ và Định phẩm là duyên của giác ngộ. Tuy gọi phân biệt nhơn quả có 6 phẩm như vậy, nhưng rốt cuộc trong đó nói cái gì? Chủ yếu 6 phẩm đó nói lý Tứ đế chứ không có gì khác. Lý Tứ đế nói như thế nào? Nói về Thế gian tức Khổ đế. Nói về nghiệp hoặc tức nói Tập đế. Nói về Hiền Thánh tức Diệt đế và nói về Tuệ định tức Đạo đế, để nhìn rõ cách trình bày của Câu-Xá luận là như vậy.
Nhưng trước khi giảng lý Tứ đế thì ngài đưa ra hai phẩm. Một phẩm giới nói về thể của cá pháp Hữu lậu vô lậu và phẩm Căn nói về tác dụng của hữu lậu vô lậu. Trình bày của luận là như vậy đó.]
*
* *