Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại cương Luận Câu Xá

Đại cương Luận Câu Xá

Tác giả: Thích Thiện Siêu. Năm xuất bản: 2006. Số trang: 676.

Chương 12: 4. Phẩm phân biệt Nghiệp (Trang 346 - 411)


IV. PHẨM PHÂN BIỆT NGHIỆP
 
Trước đây phẩm Thế gian nói về kết quả đau khổ của mê lầm, nhưng đã có quả tất phải có nhân, nhân đây chính là hoặc và nghiệp. Hoặc chỉ cho phiền não, tức tâm hư vọng, nhận thức sai lầm sự lý của vũ trụ vạn hữu, sinh tâm đắm trước. [Vừa sai lầm và vừa đắm trước.Trong đó 2 nghĩa.Sai lầm là vô minh,đắm trước là tham ái.] Rồi từ sự sai lầm đắm trước đó, khởi lên những tác vi nơi thân, nói năng nơi miệng, đó là nghiệp. Đối với kết quả được thành tựu, chính nghiệp là nguyên nhân trực tiếp, còn hoặc là trợ duyên gián tiếp. Vì nếu có phiền não mà không khởi nghiệp thì cũng không thể chiêu cảm quả báo.
[Cho nên giờ đây chúng ta làm sao thì làm nghĩ  sao thì nghĩ,nếu tham,sân,si,cứ để cho nó  ở trong bụng luôn đừng có hiện ra ngoài thì  thôi,không ai bắt bỏ tù mình hết đâu,ưng lấy của người ta hết sức nhưng chỉ để trong bụng thôi đừng thò tay lấy thì không ai bắt mình ở tù được.Cho nên có hoặc mà không có nghiệp thì không chiêu quả báo.Có nghiệp thì mới chiêu quả báo.Nhưng mà khó lắm,khi đã có hoặc đầy bụng rồi thì nó tạo nghiệp chứ không ngồi yên được đâu.Chẳng hạn khi đang học đây mà vị nào chứa đầy cả bốn đạo thì khó học,khó tiếp thu lắm,tôi nói có đúng không?]
 Hoặc như hạt giống, nghiệp như đất, nước, phân, tro, môi trường. Có hạt giống mà không có môi trường đất nước, hạt giống không thể mọc thành cây. Bởi vậy, tiếp theo phẩm Thế gian, ở đây giảng phẩm Nghiệp.
Phẩm Nghiệp gồm 131 bài tụng, chia làm hai đoạn. Xem đồ biểu sau:

Đại cương Luận Câu Xá


[Cái này nên đọc cho kỹ vì trong này phân tích hay lắm bỏ qua thì thật tiếc.Học cho kỹ  sau này nói cho có căn bản hơn,chứ nói không có  căn bản nguy hiểm lắm.Bữa trước tôi cói trong tập báo,có  1 vị nào đó viết phê bình quyển lịch sử  Phật giáo Việt Nam,chỉ trích những chỗ sai lầm mà trong đó có nói 1 câu như thế này : Chính ngay trong kinh nguyên thủy đức Phật cũng đã nói rằng :Phật pháp tại thế gian bất lý thế  gian giác.Câu đó có đúng không? Không đúng,nếu trong khi biện luận với người ta mà nói như vậy, thì họ quật lại thì chết chắc.Nghe chưa.Kinh nguyên thủy nào mà lại nói Phật pháp tại thế  gian bất ly thế gian giác được ? Không nói vậy  được,đó là Lục Tổ nói.Anh em phải học kỹ,nếu ta đưa cái bài này nhờ Thầy chấm giúp cho tôi một chut.Đọc qua câu đó Thầy cũng làm lơ đi tức nhiên Thầy cũng phải xuống học cơ bản lại.
Trường hợp này nếu không để ý dễ vấp lắm.Thành phải lưu ý để sau này viết văn,nếu mình không nhớ rõ ràng thì nên nói rằng : Trong kinh Phật cũng nói rằng : Nói kinh chứ không biết kinh nào hay Pháp Bảo Đàn nói rằng : Pháp Bảo Đàn cũng là kinh.Nếu anh hỏi kinh nào để tôi đi tra đã thì không sao.Cái nào chưa rõ thì phải dùng cách chưa xác đinh,chứ đừng các quyết.Trong khi biện luận mà xác quyết là nguy hiểm lắm.Biện luận là cố moi móc nhau.Xác quyết mà sai đi 1 cái là đổ xuống
sông luôn.Tôi kể cho anh em nghe câu chuyện như  thế này: Xưa có ông ra 1 cái đề thi:
“Phật kinh tam thiên bộ,hà bộ vô Nam mô
Luận ngữ nhị thập thiên,hà thiên vô  tử viết”.
(Nghĩa là trong Phật kinh bộ, bộ nào không có  chữ Nam mô.Sách luận ngữ 20 thiên, thiên nào không có chữ tử viết).Ra cái đề thi vậy, anh em nghĩ sao, khó chứ đâu phải dễ.Ai ngồi giữa mà đếm bộ nào không có chứ Nam mô.Kinh Phật bộ nào không có chữ Nam mô.Làm sao mà nói cho ra được.Còn tử viết,trong luận ngữ cứ 1 câu có tử viết,hai ba câu có  tử viết,biết thiên nào không có chữ tử viết.Thấy chưa.Nhưng cũng có 1 cậu học trò,cậu đi thì nghĩ ra cách đối hay lắm.Nếu như bỏ giấy trắng thì Zero,nếu có viết được dầu không trúng lắm thì vẫn có được 1 điểm nên cậu ta viết:
Phật kinh tam thiên bộ,vô Nam mô hữu kỳ  bộ
Luận ngữ nhị thập thiên, vô tử viết hữu kỳ thiên.Nghĩa là Phật kinh 30 bộ không Nam mo cũng có bộ.Sách luận ngữ 20 thiên không có tử viết cũng có thiên.
Cũng có thiên không có tử viết.Thiên già  không biết miễn có thiên.Vậy mà vẫn được  điểm như thường.Đó là thông minh,không.Đó là  một cái mẹo rất hay.]

*
Đoạn I. THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP
Thuyết minh về thể tánh của nghiệp, là đề cập đến hai nghiệp, ba nghiệp và năm nghiệp.
Hai nghiệp là tư nghiệp và tư dĩ nghiệp. Chính sự hoạt động tư lự phân biệt trong nội tâm là tư nghiệp. Từ đó phát ra hành động nơi thân, nói năng nơi miệng, đó là tư dĩ nghiệp.
Ba nghiệp là từ hai nghiệp này chia ra: thân nghiệp, ngữ nghiệp tức tư dĩ nghiệp, và ý nghiệp tức tư nghiệp.
Năm nghiệp lại là từ ba nghiệp trên chia ra, tức là trong hai nghiệp thân và ngữ đều có hai loại biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Như biểu đồ dưới đây:

Đại cương Luận Câu Xá


Năm nghiệp như thế nào ? Bất luận là một việc gì, trước tiên ta suy nghĩ, tính toán về việc đó, đó là ý nghiệp. Khi sự tính toán được phát động ra nơi thân với những nét rõ rệt trông thấy được, đó là thân biểu nghiệp,nhưng trong khi đang khởi lên thân biểu nghiệp, bên trong vẫn có những năng lực vô hình, chiếu trong quy luật nhân quả  kích động thúc đẩy thân hành động hoặc không hành động, đó là thân vô biểu nghiệp, vì năng lực nầy tiềm ẩn khó trông thấy được. Ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp cũng tương tự như thế.
 Nhưng tại sao ngoài thân biểu nghiệp và ngữ biểu nghiệp lại thêm vô biểu nghiệp của thân và ngữ như thế?


 
  Chân lý đương nhiên trong vũ trụ, hễ đã có nhân thì có quả. Vậy khi tạo thân và ngữ biểu nghiệp, hoặc lành hoặc dữ, nó nhất định đưa đến kết quả hoặc khổ hoặc vui trong tương lai. Nhưng khi thân và ngữ biểu nghiệp đình chỉ và cũng chưa kết thành quả, trong khi đó, nếu không có cái gì tồn tại liên tục, để dẫn đến kết quả, thì sẽ mắc phải điều rất sai lầm là có tạo nghiệp nhân mà không thọ quả báo, hoặc nghiệp nhân đã tiêu mất mà vẫn có kết qủa, thì hóa ra không nhân cũng có quả. Thế nên biết, phải có năng lực vô hình tồn tại liên tục dẫn từ nhân đến quả, năng lực đó vô hình không thể thấy được, nên gọi là vô biểu nghiệp.
[Cũng là một phương diện để chứng minh rằng tam thế thực hữu pháp thể bằng hữu.Vì sao cố chứng minh vô biểu sắc ? Nếu không có  vô biểu sắc thì cái nghiệp không có.Mà nghiệp không có thì nhân quả không có.Khi nhơn quả  đã có tức nhiên nghiệp có mà nghiệp có  tức có vô biểu sắc.
Tát bà đa bộ cho hình sắc là thể của thân biểu nghiệp.Âm thanh là thể của ngữ  biểu nghiệp.Bởi thân biểu nghiệp tức chỉ cho động tác nơi thân thể.Mà động tác tức phải dựa vào hình sắc dài ngắn,sai biệt mới có được.]
 
Tiết I. THỂ TÍNH CỦA NGHIỆP
Năm nghiệp vừa kể trên lấy gì làm thể?
Ý nghiệp là sự hoạt động tư duy của nội tâm, cố nhiên lấy tư tâm sở làm thể. Còn thân và ngữ vô biểu nghiệp thì có sự tranh luận dị đồng.
Tát-bà-đa bộ cho hình sắc là thể của thân biểu nghiệp, âm thanh là thể của ngữ biểu nghiệp, bởi thân biểu nghiệp tức chỉ cho động tác nơi thân thể mà động tác tất phải dựa vào hình sắc dài ngắn... sai biệt mới có được. Nếu lìa hình sắc có dài ngắn... sai biệt thì không thể nào có động tác; ngữ biểu nghiệp tức chỉ cho tác động của ngôn ngữ, nếu lìa âm thanh thì không có tác động của ngôn ngữ.
[Nếu lìa âm thanh thì không có động tác của ngôn ngữ.Như ta đã biết,nói về sắc trần chứ  không phải sắc pháp,sắc pháp nghĩa nó rộng,sắc pháp  đối với tâm pháp.Như vậy sắc pháp gồm sác,thanh,hương,vị,xúc cũng đều là sắc pháp hết.Nhưng nơi sắc trần thì  khác với thanh trần,hương trần,vị trần.Sắc trần phạm vi nó hẹp.Sắc trần có hai thứ là hiển sắc và hình sắc.Hữu bộ cho rằng cái vô biểu nghiệp,vô biểu sắc đó là cái hình sắc, vì sao như thế ?Bởi vì chính cái thân hình này là có to,có cao,có rộng,có hẹp,chính do thân tứ đại này mà có tác giới,tức ở trước Tam sư,Thất chứng mà có tác lẽ,có hành động,có cử chỉ,có thọ giới,có tác giới mới thành vô tác giới thể.Như vậy cái vô tác giới thể đó do sắc thân tứ đại này mà có được,cho nên vô tác giới thể đó lấy sắc làm thể.Mà sắc đây không phải hiển sắc mà là hình sắc,nghĩa là cái hình con người anh cao 1m5, tôi cao 1m4, anh kia cao 1m6…anh cao 1m5 cũng lạy xuống đủ 3 lạy,bạch Tứ kiết-ma mới thành Cụ túc giới được.Tôi cao 1m2 tôi cũng lạy 3 lạy, bạch Tứ kiết-ma mới thành Cụ túc giới.Thành cái hình cao với thấp đều có sự hành vậy và nhờ đó mà lãnh thọ được giới pháp,mới thành được vô biểu giới thể.Như vậy vô biểu giới thể đó lấy cái hình sắc làm thể.Nhưng mà Kinh bộ lại bác.Ông nói anh nói vậy không phải,làm gì có hình sắc,làm gì có hình,hình là giả,hiển sắc mới là thật.Cục phấn này anh nói dài hay
ngắn.Thôi cho là ngắn,ngắn hơn cái trước.Anh lấy cái gì anh so sánh mà thấy ngắn.Phải chăng anh thấy cái màu trắng nó đi một đường ngắn như  vậy anh cho là ngắn à? Như vậy chính cái màu mới là thật chứ cái ngắn dài phụ thuộc nơi cái màu.Nếu chắp nó lên một khúc nữa,đưa cái màu trắng lên một chút nữa thì anh nói là dài,có cái dài đó là vì anh thấy cái vạch trắng anh nói là sai.Cũng như một người cầm 1 que lửa họ chậy rất nhanh,anh thấy 1 đường dài.Đường dài đó là 1 đường ánh sáng,từ nới ánh sáng mà co.Thế thì ánh sáng mới là thực,hình là giả.Hoặc anh cầm 1 đốm lửa anh quay thật nhanh,anh thấy vòng tròn,vậy cái vòng tròn đó,cái hình tròn thật hay ánh sáng tròn thật,thì cũng chỉ là ánh sáng tròn mà thôi,mà cái ánh sáng đó diễn dịch làm cho anh thấy 1 cái hình tròn.Thế cái hình không thực mà ánh sáng mới thật,Mà ánh sáng thuộc về biểu sắc.Thế anh nói lấy hình sắc làm thể của vô biểu,anh nói vậy không đúng.Tôi không chấp nhận được.Anh có lo lót cho tôi,tôi cũng không chấp nhận được.
Còn ông Chánh lượng bộ,ông nói:không.Tôi không nói hình sắc.Tôi nói do hành động,lấy hành động làm cái thể của vô biểu,thân nghiệp.Do ngôn ngữ  mà lấy thân biểu làm ngôn ngữ.Do hành động làm thể  của nghiệp,Anh nói mới đầu nghe cũng có lý,nghiệp là hành động.Vậy giờ do hành động,lấy hành động làm thể của vô biểu nghiệp,thì ông Hữu bộ lại bác.Ông nói hành động sao được,làm gì có hành động.Tất cả các pháp hữu vi đềusát na diệt.Sát na diệt thì hành động vào chỗ  nào ? Nó diệt trong từng sát na,mà sát na là  một cái gãy móng tay của kẻ lực sĩ là nhanh biết mấy.Một kẻ yếu yếu,người bịnh gãy còn  đang lâu,chứ còn lực sĩ nó gãy 1 cái thế  là 65 sát na.
Cứ sát na diệt sát na diệt hành động nó nằm nơi chỗ  nào mà gọi là lấy hành động.Cho nên ông bá,ông nói lấy hành động mà làm Vô  biểu nghiệp.
Hai ông bác qua bác lại,rồi ông Kinh bộ nói rằng:nói như các bạn cũng không đung.Lấy hành động làm vô  biểu nghiệp cũng không đúng,mà lấy tư tâm sở  làm thể của vô biểu nghiệp.
Ông Kinh bộ thì ngược lại,lấy tư tâm sở có khả năng vận động,gọi tắt là động thân tư.Chính cái đó là thể của thân biểu nghiệp và tư tâm sở có khả năng phát động ngôn ngữ gọi tắt là phát ngữ tư.Đó chính là thể của ngữ biểu nghiệp.Nghiệp có nghĩa là tạo ác.mà tạo tác là tư tâm sở,chính tư tâm sở đó dựa vào nơi thân phát hiện gọi là thân nghiệp,dựa nơi lời phát hiện gọi là ngữ nghiệp,dựa nơi ý phát hiện gọi là ý nghiệp.]
- Kinh bộ ngược lại, lấy tư tâm sở có khả năng khiến thân thể vận động, gọi tắc là động thân tư, chính cái đó là thể của thân biểu nghiệp, và tư tâm sở có khả năng phát động ngôn ngữ, gọi tắt là phát ngữ tư, đó chính là thể của ngữ biểu nghiệp. Nghiệp có nghĩa là tạo tác, mà tạo tác tức tư tâm sở. Chính tư tâm sở đó dựa nơi thân phát hiện gọi là thân nghiệp, dựa nơi lời phát hiện gọi là ngữ nghiệp, dựa nơi ý phát hiện gọi là ý nghiệp. Ba nghiệp sở dĩ khác nhau vì có thân, ngữ, ý khác nhau, chứ thật thể không ngoài tư tâm sở. [sCũng tư tâm sở hết,ở chỗ phát  động khác nhau mà có 3 nghiệp.]
Còn thân và ngữ vô biểu nghiệp, theo Tát-bà-đa bộ là thật pháp, lấy sắc thân do đại chủng tạo thành làm thể. Kinh bộ ngược lại, cho là giả pháp, dựa trên chủng tử của
tư tâm sở mà giả lập ra thôi. Đó là điểm tranh luận tối yếu của hai bộ với lý lẽ dưới đây:
Tát-bà-đa dẫn ra tám bằng chứng làm cơ sở cho lập nghĩa của mình nhưng đều không được Kinh bộ thừa nhận. Kinh bộ bác cũng đưa ra chủ trương của mình:
1. Bằng chứng Phật nói có ba loại sắc. (Hữu vô)
[Đây là của Hữu bộ họ dẫn để làm 8 cái bằng chứng này để họ chứng minh rằng vô biểu sắc là thật hữu,bởi vì Phật nói rõ ràng chứ không phải tôi bịa.Phật nói sao ? sao kêu đối là có đối ngại.Cái này nó ngại với cái kia và nó đối với cái nhãn thức,cho nên kêu đối.Có thấy.Thấy hắn được nên có đối là cái này nó đối ngại với cái kia,ngăn ngại với cái khác,kêu đối và nó đối với nhãn thức kêu bằng đối.Có thấy và có đối.]
Theo kinh Tạp A-hàm cuốn 13, sắc chia ra làm ba loại: Loại có thấy có đối như xanh, vàng, đỏ, trắng v.v... Loại không thấy có đối như năm căn và thanh, hương, vị, xúc chỉ có sự chướng ngại giữa nó với cái khác (hữu đối) chứ không thể thấy.
[Tỷ dụ như 5 căn của mình.5 căn đây là chỉ cho định sắc căn,chứ không phải phù trần căn,lỗ tai sờ sờ không thấy sao được.Đây là nói tịnh sắc căn,tức nhiên theo như khoa học bây giờ người ta nói là thần kinh hệ,thì cái đó không thấy được,Còn cái này là phù trân căn thì thấy được.Đây là 5 căn không thấy được,nhưng có đối ngại với cái khác.Hay tỷ dụ như thanh,hương,vị,xúc,sắc thì thấy được còn xúc không ? Không thấy  được nhưng có đối.Nếu hương mà ta bỏ  vào trong cái thùng đậy thật kỷ,hương không bay ra được. Hay khi đi ngang nghe chỗ nào                                                                     
mùi hôi quá, mình bịt lỗ mũi thì nó không vào được, nó chướng ngại nên không vào được. Thế nhưng không thấy mà có đối.]
Ngoài hai loại này, kinh còn nói đến không thấy không đối, rõ ràng loại này chỉ cho các sắc vô biểu, nếu không có sắc vô biểu thật, thì loại sắc không thấy không đối để chỉ cái gì. Kinh bộ không đồng ý, cho rằng sắc không thấy không đối là sắc của cảnh giới trong định, [cảnh giới trong định là cảnh giới của định tâm nó hiện lên, hiện lên trước định tâm chứ con mắt không thấy cũng không đối ngại với ai hết. Nó không đối ngại và mắt không thấy được chứ không phải thật có riêng.]
 2. Bằng chứng về sắc vô lậu, cảnh thấy nghe hay biết của phàm phu như năm căn, năm cảnh đều thuộc hữu lậu, nhưng trong kinh Tăng nhất A-hàm: ”Pháp vô lậu là thế nào?  Là đối với các sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại, nó không làm khởi lên tâm ái nhiễm, sân nhuế, cho đến đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, đó gọi là pháp vô lậu”. Như thế, ngoài sắc hữu lậu, kinh còn nói sắc vô  lậu, nếu không có sắc vô lậu, thì lấy gì để gọi là sắc vô lậu? Nhưng Kinh bộ cũng cho sắc này  cũng là sắc cảnh giới của định, do định vô lậu phát khởi, nên gọi là sắc vô lậu thế thôi.
3. Bằng chứng về phước nghiệp tăng trưởng, có bảy phước nghiệp:
(1). Bố thí cho người đi đường thuyền.
(2). Bố thí cho người đi bộ .
(3). Bố thí cho người bệnh tật.
(4). Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân .
(5). Bố thí vườn rừng.
(6). Bố thí cho người thường đi khất thực.
(7). Tùy thời bố thí.
(Bảy phước nghiệp này theo kinh nói có khác hơn). Kinh Trung A-hàm, phẩm Thế Gian Phước nói tiếp: “Kẻ thiện nam, tín nữ nào, khi đã tạo được bảy thứ phước thế gian đó, hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đó vẫn thường sinh, càng lúc càng thâm, càng lúc càng rộng”. Hữu bộ cho phước nghiệp thường tăng trưởng đó là vô biểu sắc thật có. [Ông Hữu bộ làm chứng, ông lấy câu kinh đó ông làm chứng, bởi câu kinh nói người nào có tạo cái phước đó ngũ cũng còn nó cứ tăng trưởng. Đi nó cũng cứ tăng trưởng, ngồi nó cũng tăng trưởng. Như vậy có cái vô biểu sắc nó tăng trưởng như vậy.] Nhưng Kinh bộ không nhất trí, bộ này cho đó là chỉ dựa trên chủng tử của tư tâm sở mà giả lập ra, chứ không thật có sắc vô biểu. Khi ta suy nghĩ về bố thí, suy nghĩ đó thật là hạt giống huân tập tồn tại trong ta. Về sau dù có khi khởi ác tâm, có khi khởi vô ký tâm, nhưng chủng tử đó vẫn âm thầm tương tục biến chuyển để đưa đến kết quả mà gọi là phước nghiệp tăng trưởng thế thôi, chứ không sắc gì gọi là sắc vô biểu cả.
4. Bằng chứng không làm mà vẫn thành nghiệp, như có người nuốn giết một kẻ khác, nhưng không tự tay giết, chỉ xúi bảo người khác giết. Khi người bị giết chết, thì người chủ mưu giết dù không tự tay giết cũng mắc ác nghiệp. Hữu
bộ cho cái ác nghiệp không tự làm mà vẫn thành này là vô biểu sắc thật có. [Vô biểu sắc chứ anh đâu có làm, anh xúc rồi anh ngồi anh đóng cửa lại thôi. Anh kia ở ngoài anh có đi giật thôi chứ anh đâu có đi làm, thật có, nhưng anh vẫn bị tội như thường.] Nhưng theo Kinh bộ đó chỉ là chủng tử của tư tâm sở, lấy tư tâm sở làm thể. Bởi chính trong khi mưu tính xúi bảo người khác giết đó, thì chủng tử của một niệm xúi giết dấy lên trong tâm và tiếp tục chuyển biến tăng trưởng cho đến khi người xúi bảo hoàn thành công việc giết chết kẻ mưu giết, khi ấy, người mưu tính xúi bảo mắc tội ác nghiệp sát sanh thế thôi, chứ không cần thật có một vô biểu sắc nào cả.
5. Bằng chứng sắc  pháp xứ, kinh Tạp A-hàm 13 nói: “Bí-sô nên biết, pháp thuộc ngoại xứ sẽ không nhiếp vào mười một xứ, nó không thấy không đối”. Theo đây, về pháp xứ sở, kinh nói đó là pháp không thấy không đối, chứ không nói vô sắc. Vậy nên nói pháp xứ không có nghĩa ngăn cấm sự tồn tại riêng biệt của vô biểu sắc. Nếu pháp xứ không phải là vô biểu sắc, cớ sao kinh không nói ngay là vô sắc mà chỉ nói là không thấy không đối. Như Kinh bộ lại vẫn cho sắc đó thuộc cảnh giới của định, và bác những điều trích dẫn của Hữu bộ không đủ để chứng minh sự thật có của sắc vô biểu được.
6. Bằng chứng là tám chi thánh đạo, trong tám chi thánh đạo, có ba chi thuộc sắc pháp, đó là chính ngữ, chính nghiệp và chính mạng. Người tu chính đạo, khi nhập chính định, thân không hoạt động nên không có chính nghiệp, miệng không nói năng nên không có chính ngữ, không đi khất thực nên không có chính mạng. Tuy        
trong định không có ba chi đó, nhưng vẫn phải thừa nhận người nhập định đó có đủ tám chi Thánh đạo, chính nhờ có sắc vô biểu của chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng trong khi nhập định. Nếu giả sử không có sắc vô biểu của ba chi đó, thì khi xuất định, ba chi đó từ đâu hiện ra? [Người nhập định đâu có cháng ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, ông có nói gì mà gọi chánh ngữ. Ông có đi khất thực đâu mà kêu chánh mạng, thân ông làm gì mà kêu chánh nghiệp. Không có 3 chi. Nếu không có sắc vô biểu của 3 chi đó thì khi xuất định 3 chi đó đâu mà tới, đâu mà hiện ra.] Vô lẽ người nhập định lại không có tám chi Thánh đạo như người không nhập định sao? [Vậy anh nhập định thua tôi đi chơi. Tôi đi chơi mà đủ 8 chi thánh đạo, còn anh nhập định 3 chi đó không có. Vậy ai nhập làm gì. Lý luận của ông như vậy đó. Hay lắm.] Nhưng Kinh bộ cũng không nhất trí, họ cho trong khi nhập định vẫn có chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng là do dựa nơi tư tâm sở mà giả lập, chứ không có thật thể. Trong định không có biểu nghiệp về chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng nhưng nhờ có tư tâm sở suy nghĩ về ba chi chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng đó, nên khi xuất định có ba chi đó xuất hiện, chứ không phải từ sắc vô biểu.
7. Bằng chứng về giới biệt giải thoát, khi một người thọ đắc giới biệt giải thoát, sau đó có lúc khởi ác tâm, vô ký tâm, thậm chí vô tâm, nhưng giới thể vẫn không mất. Hữu bộ cho giới thể không mất ấy là sắc vô biểu thật có. Nhưng Kinh bộ vẫn cho giới thể đó lấy tư tâm sở làm thể. Từ nơi tư chủng tử, có khả năng phòng phi chỉ ác, gọi đó là giới thể, dựa vào đó thành lập luật nghi biệt giải thoát, chứ chẳng có sắc vô biểu gì cả.  
8. Bằng chứng giới là bờ đê. Khi thọ giới xong, lấy giới làm bờ đê ngăn chận không cho nước tràn ra ao hồ, đã biết giới là bờ đê, tất nó có thật thể mới ngăn chận được, và có ngăn chận được mới gọi là bờ đê. Hữu bộ cho đó là sắc vô biểu thật có. Nhưng Kinh bộ vẫn cho tư tâm sở là thể có khả năng ngăn chận đó. Người thọ giới khi phát nguyện từ nay về sau quyết định không phạm điều tội ác, từ đó mỗi niệm mỗi niệm tiếp tục tự nhiên ngăn chận không cho phạm tội ác, đó gọi là bờ đê, chứ không có sắc vô biểu nào nào cả.
Tóm lại, Hữu bộ chủ trương ý nghiệp, lấy tư tâm sở làm thể, hình sắc và ngôn ngữ do tư tâm sở phát động dẫn sinh ra, gọi là thân biểu nghiệp và ngữ biểu nghiệp, đều thuộc sắc pháp. Thân biểu lấy hình sắc làm thể, ngữ biểu lấy âm thanh làm thể, rồi từ đó dẫn khởi ra một sắc pháp không thể biểu thị, không có đối ngại gọi là vô biểu sắc, hay vô biểu nghiệp, nó lấy sắc do đại chủng tạo làm thật thể. [Theo Hữu bộ thân và khẩu có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, ý nghiệp là không có biểu nghiệp, nó nằm lẫn vô trong nên không có biểu nghiệp.] Như vậy, theo Hữu bộ, biểu và vô biểu sắc đều có thật thể. Nhưng Kinh bộ ngược lại, luận Tỳ-bà-sa 122, 123 nói: “Biểu, vô biểu nghiệp đều không thật thể”. Thí dụ nhà sư ( Kinh bộ) nói: “Nghiệp thân, ngữ, ý đều chỉ là tư” (Biểu, vô biểu nghiệp, vô thật thể tính,thí dụ giả thuyết thân ngữ, ý, nghiệp giai thị nhất tư). Và theo Kinh bộ, tư chia ra bốn thứ: 1) Thẩm lự; 2) Quyết định; 3) Động thân; 4) Phát ngữ.  [Khi ta định làm gì trước tiên? Đó là ông xét. Đó là thẩm lự tư. Tiếp đó ta quyết                                                                        
định làm là làm bằng cách nào? Đó là quyết định tư. Cả hai đều thuộc về ý nghiệp. Từ hai tư đó có sự cử động nơi thân là động thân tư và phát ra ngôn ngữ là phát ngữ tư. Tức thân nghiệp và ngữ nghiệp.] Khi ta định làm gì, trước tiên suy xét (thẩm tư lự), tiếp đó quyết định làm, và làm bằng cách nào (quyết định tư), cả hai đều thuộc ý nghiệp; từ hai tư đó, có sự cử động thân (động thân tư) và phát ra ngôn ngữ (ngữ phát tư), tức thân nghiệp và ngữ nghiệp. Do đó, đủ biết thân biểu nghiệp, ngữ biểu nghiệp đều không có thật thể, hoàn toàn do tư tâm sở phát động. Đến như vô biểu nghiệp cũng vậy, không phải có một loại sắc thật có riêng biệt gọi là sắc vô biểu, mà chính do tư tâm sở huân tập thầm kín, tiếp tục chuyển biến mà hình thành, nó là giả có. Như vậy, vô biểu nghiệp hay vô biểu sắc không gì khác hơn là chủng tử của tư tâm sở vi tế tiềm tàng tiếp tục chuyển biến vậy. Xem đồ biểu: các nghiệp lấy gì làm thể, theo chủ trương của Hữu bộ và Kinh bộ sau:

Đại cương Luận Câu Xá

 
Về nghĩa của chủng tử tư tâm sở của Kinh bộ như thế nào ?
Như việc thọ giới, từ khi phát nguyện dứt bảy chi tội ác của thân, ngữ, nhưng chưa chính thức thọ giới, còn ở giai đoạn của hạnh vị, thì huân tập thành bảy chủng tử tư gia hạnh. Cho đến sau khi gặp thắng duyên (cơ duyên tốt), qua lần kiết-ma thứ ba xong, từ nơi chủng tử tư gia hạnh, huân tập thành chủng tử tư căn bản, từ đó, bảy chi chủng tử này cứ mỗi niệm tăng trưởng mãi đến khi gặp duyên xả giới mới mất. Về ác giới cũng vậy, lại cũng có nghĩa từ một chủng tử tư, sát-na sát-na, bảy chi công năng tăng trưởng. Đại thừa cũng chia xẻ nghĩa này, nhưng cho rằng tư chủng tử huân tập nơi thức thứ tám, thức thứ tám nắm giữ tư chủng tử đó. Trong khi đó Kinh bộ lại nói, tư chủng tử này hân tập nơi sắc tâm, và sắc tâm nắm giữ tư chủng tử, nếu lìa sắc tâm tư chủng tử không thể có được.
[Giờ nói sắc và vô biểu sắc, công năng có thế nào?
Sắc có công năng cảm dị thục quả.
Vô biểu sắc có 2 công năng: Năng phòng phi chỉ ác, năng cảm dị thục quả. Biểu nghiệp hay biểu sắc tức biểu nghiệp thiệp ác có công năng cảm dị thục quả, cảm lấy cái thân dị thục, nhơn thiện ác quả vô ký.
Phòng phi chỉ ác tức công năng đó ngấm ngầm tiềm ẩn bên trong. Tuy thế mặc dầu có công năng phòng phi chỉ ác. Cho nên mình mới xuất hiện ra sự phạm giới bên ngoài, chứ không có phòng phi chỉ ác bên trong chắc chắn mình cứ xuất hiện ra sự phạm giới bên ngoài mãi mãi. Công năng của nó đồng thời nó cũng có công năng cảm dị thục quả y như biểu nghiệp. Như vậy
trong này vô biểu nghiệp là quan trọng hơn cả cái biểu nghiệp nữa. Biểu nghiệp chỉ có làm rồi thì thôi cho nên gọi là tác giới. Tác giới là khi thọ giới  1 lần rồi thì thôi. Nội trong giờ đó anh thọ giờ đó thôi, sau không có nữa. Chứ đâu phải giờ nào anh cũng Tam sư thất chứng, ai ngồi mãi cho anh thị mãi đâu được. tuy vậy, mặc dầu, nhưng vô tác giới rồi còn tiếp tục mãi mãi. Sự tiếp tục mãi mãi đó nó co công năng phòng phi chỉ ác.]

TIẾT 2 : CÁC MẶT KHÁC CỦA NGHIỆP
Trong tiết này, luận văn trước hết nêu ra bốn loại là lọai có chấp thọ không chấp thọ, loại năm sự, loại tình phi tình, loại đại chủng đồng dị và sau mới nói đến tính chất hệ thuộc vào ba cõi, chín địa của nghiệp, nhưng ở đây, chỉ nói về loại sau hết, tức là tính chất hệ thuộc của nghiệp vào ba cõi, chín địa mà thôi.
 
*.VỀ TÁNH CHẤT CỦA NGHIỆP
Nghiệp có ba tính: thiện, ác, vô ký, song chỉ có hai tính thiện và ác mới là nghiệp, chứ vô ký tính không phải nghiệp. Do ý nghiệp thiện hay ác mà phát sinh ra thân biểu và vô biểu nghiệp, cũng như khẩu biểu và vô biểu nghiệp thiện hay ác. Nhưng ý nghiệp vô ký chỉ phát ra thân hoặc ngữ biểu nghiệp vô ký, chứ không có thân, ngữ vô biểu nghiệp. Tại sao vậy? Vì tính vô ký chẳng phải lành dữ, thế lực của nó quá yếu không thể chiêu cảm được kết quả như nghiệp thiện hay ác, vì vậy, chỉ có thân, ngữ biểu nghiệp vô ký. Chứ không có vô biểu vô ký.
[Vô ký có vô biểu gì đâu có. Chỉ có vô biểu nghiệp bên trong, nghĩa là thiện luật nghi, biệt giả thoát luật nghi, chỉ có
vô biểu thiện phòng phi chỉ ác. Nếu ác luật nghi thì có vô biểu ác. Nó cứ thúc làm ác hoài. Như có cái hút thuốc luật nghi. Nó cứ ở trong mình thúc thúc mình hút hoài thôi. Luật nghi mà nói luật nghi thì khó nghe một chút.]
Nhưng sao gọi là thiện ác vô ký ?
Luận Tỳ-bà-sa 51 nói: “Nếu pháp không chiêu cảm quả khả ái, lạc thọ thì gọi là thiện, còn nếu chiêu cảm quả không khả ái, khổ thọ thì gọi là ác, nếu khác với cả hai sự đó thì gọi là vô ký”.
[Giờ nói qua định nghĩa thiện ác.
Sao gọi là thiện? Là nếu điều đó mà nó chiêu cảm được cái quả khả ái, lạc thọ, vui nó chiêu cảm ra 1 cái thân đẹp đẽ vô cùng, ai ngó cũng thích hết vậy gọi là thiện. Nếu nó cảm ra một cái xấu xa (bất khả ai là khổ ác) pháp đó chiêu cảm ra một cái (ác xấu).
Nghĩa thứ hai.]
Luận Câu-xá 15 nói: “Nghiệp an ổn hay chiêu cảm được quả báo khả ái và Niết-bàn, [Khả ai rồi mà còn Niết-bàn nữa. Khả ái mới trong vòng hữu lậu thành ở đây có 2 nghĩa khả ái mà hướng tới Niết-bàn nữa. Còn khả ái mà không hướng tới Niết-bàn, anh cứ đi chơi mãi, anh thích đi du lịch mãi, thì không kêu là thiện được. cho nên trong khả ái đó mà có hướng tới Niết-bàn  nữa mới kêu thiện,] tạm thời và vĩnh viễn xa lìa thống khổ gọi là thiện.” [Nghĩa là quả báo khả ái trong khi mình được thân tốt đẹp, không đau không ốm, đây là cái quả báo khả ái tạm thời xa lìa sự khổ mà được an vui. Và kết quả khả ái như Niết-bàn                                                       
là khả ái vĩnh viễn an vui và cũng xa lìa cái khổ vĩnh viễn.] nghiệp không an ổn hay chiêu cảm quả báo bất khả ái, gọi là ác; còn nghiệp trái với hai tính trên gọi là vô ký. Đây là căn cứ sự cảm quả để phân biệt thiện, ác, vô ký tính”.
Luận Câu-xá 13: ‘’Lại căn cứ vào nguyên do để chia ba tính thiện, ác, vô ký; mỗi tính đều có bốn thứ là: thắng nghĩa, tự tính, tương ưng, đẳng khởi”.
  Bốn thứ thiện
1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ Niết-bàn rất an ổn, vĩnh viễn, bặt dứt dấu vết thống khổ. Thắng nghĩa có nghĩa là tuyệt vời, tuyệt đối. [đó là Niết-bàn.]
[Không có cái vui nào bằng Niết-bàn hết. Tột đỉnh, đó thắng nghĩa thiện.]
2. Tự tính thiện: Tức chỉ cho năm tâm sở tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, có tự thể là thiện, chứ không nhờ cái khác mới có như tương ưng và đẳng khởi thiện.
[Như vậy trong này anh em nên biết chẳng những vô tham, vô sân, vô si là tự thánh thiện mà chính cái tàm cái quí cũng là tự thánh thiện. Cho nên ở đời nếu không có tàm quí thì sụp đổ hết. con người mà không có tàm quý thì không thành con người chi hết. Do đó hai cái đức tàm quý quan trọng vô cùng. Mà vô tàm vô quý thì không thành con người. Nó đồng nghĩa với tự tánh ác.]
3. Tương ưng thiện: Tức những tâm sở nhờ tương ưng với năm tâm sở tự tính thiện ở trên mà thành, chứ tự thể nó không phải là thiện.
[Nó nhờ bên cái kia, đi chung với 5 tâm sở trên mà thành thiện, chứ tánh nó không phải thiện.Tỷ dụ xúc tác, thọ, tưởng, tư thì có thiện có ác gì đâu. Ngũ biến hành ngũ biến cảnh đâu có thiện ác gì đâu có.Nhưng nó đi với thiện thành thiện, đi với ác thành ác. Thành thử ra cái đó gọi là tương ưng.]
4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thân, ngữ thiện nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tính thiện và tương ưng thiện mà khởi lên.
Thân ngữ biểu nghiệp của mình, thân làm việc gì, miệng nói điều gì. Chính trong khi thân miệng nói điều gì đó, do có tự tánh thiện và tương ưng thiện nó hợp lực với nhau mà phát ra nơi câu nói của mình, nơi hành động của mình, thì cái đó gọi là đẳng khởi. Đẳng khởi là 2 thứ bình đẳng ngang nhau mà nó khởi lên cái điều đó. Chữ đẳng khởi này cũng có nghĩa như thế này nữa . Đẳng khởi, có cái nhơn đẳng khởi. Khi hồi mới nói thiện tự tánh thiện và tương ưng thiện cùng nhau bình đẳng khởi ra cái điều nơi thân ngữ, đó là đẳng khởi thiện. Bây giờ nói cái nhơn đẳng khởi nay tức là tam tư bình đẳng pháp khởi. Tam tư là gì? Tam tư là thẩm lự tư, quyết định tư là phát động tư. Trên đó tuy có nói động thân tư và phát ngữ tư, nhưng động thân tư và phát ngữ tư cũng coi như 2 cái xuất hiện bên ngoài mà thôi. Nói chung lại là phát động tư. Tam tư là gì? Là thẩm lượng tư, quyết định tư, và phát động tư, Ba cái tư đó cùng nhau bình đẳng phát khởi cái điều đó goi là bình đẳng khởi thiện. Đẳng khởi cái điều tốt đó là đẳng khởi thiện.Thứ hai là sát na đẳng khởi. Tức là Dữ bỉ tác nghiệp, đồng thời nhỉ khởi duy tâm tâm sở.Đây gọi là sát na đẳng khởi.
Đẳng khởi này cốt chỉ cái tâm tâm sở cùng 1 lúc khởi lên trong khi tác nghiệp. Trong khi tác nghiệp đó mà có cả tâm tâm
sở cùng lúc khởi lên trong lúc tác nghiệp thì cũng gọi là đẳng khởi:Sát na đẳng khởi.
          Hết thiện rồi ác.]
 
¨ Bốn thứ ác
1. Thắng nghĩa ác: Chỉ sinh tử, và sinh tử tự tính rất là khổ, xấu ác cùng cực.
2. Tự tính ác : Chỉ năm tâm sở: vô tàm, vô quý, tham, sân, si; vì tự thể nó là ác, chứ không phải chờ tương ưng, đẳng khởi mới thành ác.
3. Tương ưng ác : Chỉ các tâm tâm sở mà tự tính không phải ác, nhưng và tương ưng với năm tâm sở tự tính ác mà thành.
4. Đẳng khởi ác: Chỉ thân, ngữ ác nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tính ác và tương ưng ác mà khởi lên.
 
[5. Nhơn đẳng khởi và sát na đẳng khởi.]
Vô ký tính chỉ có thắng nghĩa vô ký, tức chỉ cho hư không vô vi và phi trạch diệt vô vi.
 
[Trong 3 thứ vô vi đó chỉ có trạch diệt vô vi là thiện mà thôi còn phi trạch diệt vô vi vì sao mà vô ký? Bởi vì phi trạch diệt nó thiếu duyên thành vô vi, chứ không phải vô vi thật,không có tác dụng gì hết. Tỷ dụ như anh ưa hết sức nhưng không có chi để anh tham, thì lòng tham tự nhiên nó chết đi thành vô vi. Vô vi đó mà thiện với ai. Hai nữa là hư không. Hư không chỉ có ính không chướng ngại mà gọi là hư không. Mà                                 
cũng không có chi lạ, toàn thiện hết cho nên đó là cái vô ký, vô ký đó không phải là vô ký bình thường.]
 Vì thể của hai vô vi này là thường trú, nên gọi là thắng nghĩa, nhưng nó không phải là cái chứng đắc của đạo nên không được gọi là thiện mà chỉ gọi là vô ký. Ngoài ra, trong 46 tâm sở, thứ nào cũng thông cả hai hoặc ba tính, nhưng không có thứ nào thuần là vô ký, nên không lập tự tính vô ký, và đã không có tự tính vô ký thì cũng không có tương ưng và đẳng khởi vô ký.
Nếu lại lấy giới và địa để phân biệt năm nghiệp vừa nêu trên thì sẽ thấy ý nghiệp thiện và vô ký ở cả ba cõi, chín địa đều có; còn ác nghiệp chỉ giới hạn ở cõi Dục; thiện vô biểu thông cả hai cõi Dục và Sắc. Ac vô biểu chỉ giới hạn ở cõi Dục. Thân, ngữ thiện biểu nghiệp thông cả cõi Dục và Sơ thiền, còn ác biểu nghiệp chỉ giới hạn ở cõi Dục. Tính vô phú vô ký chỉ giới hạn ở Sơ thiền.
 
BIỂU ĐỒ NGHIỆP PHÂN BIỆT THEO GIỚI ĐỊA

Đại cương Luận Câu Xá

[Địa và giới hai chữ trong luật thường hay nói nhất nhắc nhở nhất.Địa là gì? Giới là gì? Giới là tam giới. Địa là cửu địa.Đoạn hoặc cũng nói nơi tam giới cửu địa.Quán Tứ đế cũng nói tam giới cửu địa. Tam giới là dục sắc giới và vô sắc giới.Đó là giới. Mà trong tam giới chia là cửu địa. Ngũ thú tạp cư địa, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền ,tứ thiền, không vô biên, thức vô biên,vô sở hữu, phi phi tưởng, đó là cửu địa. Cho nên đoạn tư hoặc là ta căn cứ cửu đụa để mà nói chuyện đoạn.
Biểu đồ nghiệp phân biệt theo giới địa.
Tỷ dụ như nghiệp mà nghiệp thiện, ác , vô ký. Ba cõi đều có hết, Thiện vô ký thì từ cõi dục lên cõi vô sắc cũng có thiện. Như ác chỉ có cõi dục thôi, còn lên sắc giới và vô sắc giới không có ác. May không ? May chứ, ông sắc giới ông ở trên đầu mình, nếu ông đập lộn mà trúng đầu mình mình cũng chết.Vì sao ông sắc giới và vô sắc giới không ác ? Là vì ở trong định. Có phải không ? Tứ thiền tứ định luôn luôn ở trong định chứ ác chỗ nào ? Ai chạy đi chơi mà ác. Ở trong định sao kêu ác được. Đó là nghiệp nói chung. Giờ nói biểu nghiệp. Vậy biểu nghiệp thiện ở cõi dục cõi sơ thiền đều có. Hữu phú vô ký chỉ có ở sơ thiền, còn mình đây thiện, ác và vô ký chứ không có hữu phú. Trường hợp hữu phú vô ký có 1 trường hợp như thế này ? Trong kinh Trường A Hàm có câu chuyện : Ngài Mã Thắng Tỳ-kheo một hôm nọ ngài đi lên hỏi ông trời Đại phạm để làm gì ? Ông ngó quanh để chứng tỏ xưa nay mình là Đại phạm thiên, cai quản thống lãnh hết tất cả không có điều gì là mình không biết, bây giờ nói không biết thì dị quá. Nên ông giả đò nói quanh co. Nói loanh quanh xong rồi ông dắt tat Mã Thắng Tỳ-kheo ra nói : Khi hồi Ngài hỏi tôi sở dĩ tôi nói vậy, là

 
vì tôi cũng sợ nói ra thì xấu hổ.Thưa Ngài tôi cũng không biết,Ngài về hỏi đức Phật chứ tôi ông biết được ! Vậy là siểm cuống.( Hữu phú vô ký).]
 
Ý nghĩa biểu nghiệp vô biểu nghiệp
 
[Trước khi đi vào tiết 3 này , tôi nói thêm về Vô lậu luật nghi vô biểu một chút nữa. Vô lậu tức vô đạo, đạo cọng giới. Vô lậu còn gọi là vô lậu đạo. Chẳng hạn như ngộ lý Tứ đế là vô lậu, ngộ lẽ vô thường là vô lậu. Khi tâm ngộ được giữa cái biết giải thoát luật nghi và định cọng giới đạo cọng giới hay là biệt biệt giải thoát giới, định cọng giới , đạo cọng giới nó có phân biệt là : bên biệt giải thoát luật giới ta biết rằng có 2 thứ giới. Là một thứ chế giới và một thứ già giới- hay là nói tánh giới và già giới hay nói tánh tội và già tội cũng được. Biệt giải thoát luật nghi khi nói đắc giới là thành tựu 2 thứ đó.Cả chế giới cả già giới. Và chỉ thành tựu trong hiện tại mà thôi. Nghĩa là chỉ thành tựu trong hiện tại mà thội, thành tựu vói cái thiên còn đường tồn tại đây và đối với các sự vật, cái đối tượng mà mình thọ thành cái giới pháp. Tỷ dụ : Làm sao mà không được cái giới bất sát sanh.Là có mình đây và có chúng sinh đó hiện trước mắt đó mà mình không biết thành bất sát sinh. Còn chúng sinh nó chết 100 năm rồi bây giờ đối với nó nói tôi không sát sinh,nhưng anh chết 100 năm rồi thì có còn kêu không sát được không ? Không được. Cho nen giới biệt giải thoát chỉ đắc trong hiện tại.Bởi cái giới giả thoát nó lấy vào 7 tội ở thân tam khẩu tứ mà làm bằng nên khi xử trị theo trong luật Tứ phần trong biết giải thoát căn cứ trong 7 tội đó mà xử. Thân anh có phạm không ? Khẩu anh có phạm không ? Rồi căn cứ vào thân phạm,khẩu phạm mà ta truy ra anh cố ý phạm hay vô tình phạm.Nếu anh có suy nghĩ trong bụng anh muốn giết mà anh không giết thì                                            
thôi, đại chúng làm sao mà kết cái tội Ba la di cho anh được. Anh muốn trộm trên 5 tiền mà anh cứ nghĩ trong bụng thôi anh không có lấy tay mà lấy trên 5 tiền thì đại chúng cũng không kết tội Ba la di cho anh được đâu. Tức nhiên là phải căn cứ vào nơi thân khẩu trong hiện tại thì mới đắc cái giới biệt giải thoát đó.Có thể nói rằng cái giới biệt giải thoát là trước hết căn cứ vào nơi thân và khẩu 7 tội mà qui định. Thành tựu hay không thành tựu.Đắc giới hay phá giới. Cho nên nó chỉ có trong hiện tại thôi còn định cọng giới và đạo cọng giới là chỉ có đắc ở nơi tánh tội, nơi chế giới chứ không đắt nơi già giới,đắt căn bản chế giới chứ không đắc nơi già giới. Hai nữa là nó thông cả 3 đời, bởi vì bên tâm, tâm là cả quá khứ hiện tại cả vị lai. Ngồi đây nhưng mà suốt cả quá khứ hiện tại vị lai. Tâm đã suốt quá khứ hiện tại vị lai cho nên trong định cọng giới là sắc giới. Hai cái giới đó có sự khác biệt nhau. Một sự khác biệt thứ ba nữa là định cọng giới, đạo  cọng giới là cái giới tùy tâm chuyển. Còn biệt giải thoát luật nghi giới là cái giới không tùy tâm chuyển, không chuyển theo tâm, bởi vì sao ? Bởi khi đã tác pháp Kiết ma thọ đắc giới thể thì giới thể đó dầu nằm ngủ cũng còn, dầu khởi ác niệm cũng còn, dầu không nhớ gì cũng còn cho đến khi chết, cho đến khi xã giới. Hay cho đến khi pham trọng tội thì hắn không còn thôi, còn không thì nó cứ còn mãi mãi. Cái tâm dầu có thay đổi, có cái ác nhưng cái giới về biệt giải thoát mình đã thụ đắc rồi vẫn còn, cho nên gọi là không tùy tâm chuyển, không chuyển theo tâm. Còn định cọng giới và đạo cọng giới là cái giới tùy tâm chuyển là cái giới chuyển theo tâm. Khi nào có nhập định thì có giới còn xuất định thì thôi. Có nhập đạo nhập định thì có giới, còn anh xuất định không kiến đạo nữa thì thôi,là cái giới đó cũng đi theo cái đó luôn cho nên cái tâm anh có định thì có giới, không định thì không giới. Có đạo thì có giới, không đạo                                                                 
thì không giới. Cho nên gọi là tùy tâm chuyển-giới chuyển theo tâm-giữa biệt giải thoát định cọng giới và đạo cọng giới có sự khác nhau như thế đó.]
 
 
TIẾT 3. Ý NGHĨA BIỂU NGHIỆP VÔ BIỂU NGHIỆP
Tướng trạng biểu - vô biểu nghiệp như thế nào ? Vô biểu có ba:
1. Luật nghi vô biểu: Thuộc thiện, lại chia làm ba:
a. Biệt giải thoát luật nghi vô biểu:  Thành tựu do sự dứt trừ từng tội nơi thân và ngữ.
b. Tịnh lự luật nghi vô biểu: Cũng gọi là “định cộng giới” nhờ nhập định, tự nhiên rời bỏ các tội lỗi nơi thân và ngữ. Vô biểu này phát sinh trong khi nhập định, khi xuất định thì mất.
c. Vô lậu luật nghi vô biểu: Còn gọi là “đạo cộng giới” Khi thiện tâm vô lậu khởi lên, tự nhiên lìa bỏ các tội lỗi nơi thân, ngữ. Nó phát sinh ngay khi thiện tâm vô lậu phát sinh, và diệt mất ngay khi thiện tâm vô lậu diệt.
2. Bất luật nghi vô biểu: Thuộc ác.
3. Phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu: Ở giữa hai thứ trên.
Biệt giải thoát luật nghi có tám thứ: Bí-sô, Bí-sô-ni, Chính học, Cần sách, Cần sách nữ, Cận sự nam, Cận sự nữ và Cận trụ luật nghi. Nhưng thực chất chỉ có bốn : Bí-sô, Cần sách, Cận sự và Cận trụ. Vì lìa Bí-sô không thể có Bí-sô ni, lìa Cần sách không thể có Cần sách nữ và Chính học. Lìa Cận sự không thể có Cận trụ luật nghi.
Trong tám biệt giải thoát luật nghi, Cận trụ, Cận sự nam, Cận sự nữ thuộc giới tại gia. Còn năm thứ kia thuộc về giới xuất gia. Lại nữa, cận trụ luật nghi là giới chỉ thọ trong một ngày một đêm, qua khỏi một ngày một đêm gọi là đêm hết (dạ tận) giới tự nhiên xả, cò bảy thứ kia là giới thọ suốt đời.Về giới Cận trụ, theo Kinh bộ, không những chỉ thọ trong một ngày đêm là có thể thọ trong nhiều ngày đêm.
Hỏi: Luật nghi và bất luật nghi vô biểu nghiệp phải chăng đều do biểu nghiệp sinh hay không do biểu nghiệp sinh ?
Đáp: Do biểu nghiệp sinh cũng có, không do biểu nghiệp sinh cũng có. Xem biểu đồ dưới đây sẽ rõ:
Đại cương Luận Câu Xá

Hỏi: Vô biểu ấy làm sao thành tựu được ? Như thế nào là xả bỏ?
Đáp: Trong ba thứ luật nghi: Biệt giải thoát, tịnh lự và vô lậu. Trước nói về biệt giải thoát luật nghi. Câu-xá ký 14
nói “ Luật nghi biệt giải thoát do người khác dạy mà được thàh tựu”. Nghĩa là nhờ sự truyền dạy của người khác mà đắc giới. Có hai cách:
1. Từ cá nhân Tăng-già (Tăng-già bổ-đặc-già-la).  [Sát thủ thú (Bút ga la) là nhận lấy các cõi, là 1 cái khi nó hết làm người, làm trời, làm địa ngục, làm súc sanh, làm trời, rồi làm người- từng thú từng thú, thường thường nó đi thủ cái cái thú đó.Gọi là sát thủ thú.(Bút ga la) là hữu tình. Khi ta nói hữu tình chứ không nói anh là người hay la súc sinh,là trời…ta nói hữu tình la Bút ga la.Tăng già Bút ga la là tăng già hữu tình. Khi nói Tăng già hữu tình như vậy là 1 vị thôi mà thọ đắc giới cận sư … truyền ngũ giới ( 1 thầy truyền là đủ), truyền bát qua trai giới thì 1 thầy trên là đủ,truyền Sa di, Sa di ni giới 1 thầy truyền đủ gọi là Tăng già Bố đặc già la. Nhưng mà trong Câu-xá quang ký 14 nói : Cần sách,cần sách nữ từ nơi 2 vị tăng mà thọ. Nghĩa là Sa di và Sa di ni phải 2 vị tăng mà thọ.Còn Cận sự,Cận sự nữ,Bát quan trai giới cần 1 vị Tăng đắc mà thôi, mà thọ đắc,đó là giới Cận sự, Cận sự nữ, Cận trú, Cần sách, Cần sách nữ. Câu-xá Quang ký 14 nói : “ Cần sách, Cần sách nữ từ nơi 2 vị Tăng mà thọ đắc ; Cận sự, Cận sự nữ, Cận trú chỉ từ một vị Tăng mà thọ đắc”.]
2. Từ Tăng già (Tăng chúng, bốn người trở lên) mà thọ đắc. Đó là giới Bí-sô, Bí-sô-ni và Chính học, phải từ nơi năm vị hoặc mười vị Tăng mà thọ đắc.
[Tăng già đắc là chúng có 4 người rồi.Đây là giới từ Tăng già đắc, phi cá nhân. Khi nói nghĩa Tăng già là chúng rồi chứ không phải cá nhân. Cho nên trong cái giới pháp, anh em phân biệt mấy chữ này.
Đại đức tăng, chư Đại đức, Đại đức. Đại đức tăng là chỉ cho tổng thể hay nói đai Đại tăng là chỉ cho đẳng thể. Ông thị giới 80 năm cũng y như ông mới thọ, y như nhau.Ở trong cái tổng thể đều là Đại đức tăng hết. Còn chư Đại đức tức cá nhân mà nhiều cá nhân. Cho nên khi thuyết giới ta hỏi : Kim vấn chư Đại đức thị trung thanh tịnh phủ ? Tôi hỏi các Đại đức trong đó có Đại đức nào thanh tịnh không ? Ai chưa thanh tịnh nói lên. Chứ không phải hỏi toàn thể ? Chứ không phải hỏi : Kim vấn Đại đức tăng thị trung thanh tịnh phủ có được không ? Không được. Đại đức tăng cái thể thanh tịnh rồi chứ không bàn cãi chi hết.Ta hỏi là chữ trong đó có anh thanh tịnh chứ có anh không thanh tịnh. Vì thế ta hỏi Đại đức tăng chứ không hỏi chư Đại đức.Còn khi dùng chữ Đại đức là đối diện với 1 người. Phải phân biệt cho rõ. Chư Đại đức tăng. Sao chư Đại đức tăng được ? Đã tăng thì không chủ.Họ hay nói nhầm lắm.]  
Nếu nói rộng về sự duyên đắc giới Cụ túc, thì có sự bất đồng giữa bốn bộ luật, năm bộ luận.
Sự bất đồng trong bốn bộ luật:
a. Luật Thập Tụng nêu mười duyên đắc giới.
b. Luật Tứ Phần nêu năm duyên.
c. Luật Tăng Kỳ nêu bốn duyên.
d. Luật Ngũ Phần nêu năm duyên.
Sự bất đồng trong năm bộ luận:
a. Luận Tỳ-ni mẫu, năm duyên.
b. Luận Ma-đắc-lặc-già, mười duyên .
c. Luận Thiện Kiến, tám duyên.
d. Luận Tát-bà-đa, bảy duyên.
e. Luận Minh Liễu, bảy duyên.
Giữa các thuyết dị đồng đó, Câu-xá chọn Thập Tụng luật nêu mười duyên đắc giới:
 
          [Như ta biết 10 chuyện đắc giới là đắc giới gì ?
  Có 3 loại giới : Biệt biệt giải thoát giới, định cọng giới và đạo cọng giới.10 duyên đắc giới đó là để đắc biệt biệt giải thoát giới chư không phải đắc định cọng giới và đạo cọng giới.Định cọng giới và Đạo cọng giới bây giờ đây ta mới nói tới.Tịnh lự luật nghi vô biểu cũng gọi là định cọng giới vô biểu khi nhập định hữu lậu vị chí.]
1. Tự nhiên đắc: Trường hợp Phật và Độc giác do vô sư trí ngộ đạo tự nhiên đắc giới.
2. Kiến đế đắc: Còn gọi là nhập chính tính ly sinh, trường hợp năm Tỳ-kheo Kiều-trần-như, thấy lý Tứ đế mà đắc giới.
3. Thiện tai đắc: Trường hợp Da-xá, do Phật bảo: “Thiện lai Tỷ kheo”(Ehi Bikkhu) mà đắc giới.
4. Tự thệ đắc: Tức trường hợp Đại Ca-diếp do tin và phát lời thệ rằng : ”Phật là Đại sư của mình” mà đắc giới.
5. Luận nghị đắc: Hoặc gọi là ”đáp vấn” tức trường hợp chú bé bảy tuổi Tô-đà-di, nhân Phật hỏi: ”Nhà ngươi ở đâu ?” Chú bé đáp: ”Ba cõi không nhà (tam giới vô gia)”, câu đáp làm vừa ý Phật, nên dù tuổi chưa đủ hai mươi, Phật vẫn cho phép Tăng kiết ma thọ Cụ túc cho.
6. Thọ trọng pháp: Tức trường hợp Đại Sanh Chủ thọ tám kỉnh pháp mà đắc giới.
7. Khiển sứ đắc: trường hợp Pháp Thọ Tỷ-kheo-ni. Muốn đến giữa Tăng thọ giới nhưng vì tướng mạo đoan nghiêm sợ đi đường bất trắc, Phật sai sứ đến truyền giới cho.
8. Biên ngũ đắc: Do bốn người làm Tăng chúng và vị trì luật làm người thứ năm để Kiết ma ( trì luật vi đệ ngũ nhân), tức trường hợp ở nơi không đủ mười vị Tăng kiết ma truyền giới.
9. Kiết-ma đắc: Hoặc còn gọi do thập chúng, tức trường hợp ở nơi đủ mười Tăng kiềt-ma truyền giới, nhiều hơn không ngại.
10. Tam quy đắc: Còn gọi là tam ngữ đắc, tức trường hợp nhóm sáu mươi người hiền (lục thập hiền bộ). Tuy nhiên, đối với tam ngữ đắc này, Luật Thập Tụng 60 nói: “Nếu khi Phật chưa chế pháp bạch tứ kiết ma, người nào quy mạng về Phật, xướng ba lần: Tôi theo Phật xuất gia, người đó đã khéo thọ đắc Cụ túc giới. Nhưng nếu sau khi Phật đã chế pháp bạch tứ kiết ma, thì xướng ba lần xuất gia không gọi là đắc Cụ túc giới”. Luận Hữu bộ nói: ”Tam ngữ đắc, tam quy đắc, chỉ trong thời gian tám năm sau Phật thành đạo thì được, còn sau tám năm đó thì không thể đắc giới”.
[Chỗ này có chỗ dị đồng. Trong Tứ phân luật có câu :chư thập nhị niên trung vị vô sự tăng viết.Phật có nói 4 bài kệ Phật thuyết.Những bài kệ đó là Phật nói vào trong ư thập nhị niên trung vị vô sự tằng thuyết.Trong 12 năm sau khi Phật thành đạo các vị tăng chưa xảy ra việc gì hết, chưa có lộn xộn, chưa có làm chi lôi thôi hết. Cho nên Phật chỉ nói mấy câu kệ đó và theo đó tu là được.Trong đó nói 12 năm mới bắt đầu thuyết giới. Còn       
trong này nói tám năm.Trong này có nhiều thuyết lắm.Lịch sử thật sự hình cũng không biết sách viết chỗ nào.]
Trong mười cách đắc giới trên, tám cách sau có đủ biểu, vô biểu nghiệp, còn hai cách trước chỉ có vô biểu nghiệp.
Tịnh lự luật nghi vô biểu cũng gọi là định cộng giới vô biểu. Khi nhập định hữu lậu vị, chí, trung gian, căn bản hay cận phần  thì liền có vô biểu cùng định tâm phát sinh.
Vô lậu luật nghi vô biểu cũng gọi là đạo cộng giới, cũng vậy, khi nhập định vô lậu vị chí, trung gian hay căn bản, hễ pháp vô lậu xuất hiện, thì cùng lúc xa lìa xác tội lỗi nơi thân, ngữ, nên tự nhiên phát sinh vô biểu.
Tịnh lự và vô lậu luật nghi không cần nhờ bởi người khác truyền thọ, nên không có biểu nghiệp.
Trong ba thứ luật nghi trên, biệt giải thoát là giới không chuyển theo tâm (bất tùy tâm chuyển), nghĩa là khi đã đắc giới rồi, sau đó, dù tâm có thay đổi, lúc ác, lúc vô ký hoặc vô tâm, nhưng không xả giới hì giới thể vẫn tồn tại không mất. Ngược lại, định cộng giới và đạo cọng giới là giới chuyển theo tâm (tùy tâm chuyển) (1), hễ tâm nhập định thì có, xuất định thì mất.
 

(1) Cõi sắc và vô sắc chia ra tám địa (bốn thiền, bốn định), mỗi địa đều có căn bản định và cận phần định. Khi dứt hết tư hoặc của cõi dục, chính thức được định sơ thiền, đó gọi là sơ thiền căn bản định, nhưng khi mới phục được tư hoặc của cõi dục, chỉ phát sinh thiền định tương tự gần với căn bản định, đó gọi là sơ thiền cận phần định. Nhị thiền cho đến phi phi tưởng mỗi địa cũng đều có căn bản và cận phần định như thế. Nhưng cận phần định của sơ thiền là từ dục giới tán địa bước lên sắc giới định địa, đó là điểm khác với các phần định kia,  nên cận phần định sơ thiền được mang tên riêng là vị chí định hay vị đắc định thay vì gọi cận phần định. Trung gian định cũng gọi là trung gian thiền, trung gian tịnh lự. Sơ thiền còn có cả tâm sở tầm và từ, Nhị thiền trở nên đều dứt hết tầm từ. Nhưng khi sắp ra khỏi sơ thiền và chưa lên nhị thiền, thì đã vứt bỏ tầm chỉ còn từ (vô tầm duy tứ địa),chính tại đây gọi là trung gian định, ở chót sơ thiền và đại phạm thiên vương thường trụ thiền định này.  
 
Từ cõi dục giới trở lên tu thiền định, trước tiên phải phá trừ cái dục để bước lên sơ thiền. Khi lên Sơ thiền thì phải qua vị chí định. Anh vị chí đình này cũng là anh cận phần. Cận phần là sao ? Nó có một cái phần gần gũi với Sơ thiền nên gọi là cận phần. Chưa được Sơ thiền hẳn mà nó có 1 phần gần gũi thôi gọi là cận phận. Bởi từ dưới lên trên 4 thiền, 4 định, mỗi thiền mỗi định đều có căn bản và cận phần. Cận phần rồi lên căn bản ( có 8 cái như thế).Từ dục giới mà tu thiền định sắp bước lên Sơ thiền thì phải qua vị chí định. Vị chí định tức là định tướng được phát khởi do đoạn hoặc tương tự như Sơ thiền căn bản định, chứ chưa thiệt là Sơ thiền căn bản định.Qua đây xong rồi mới bước lên được cái gọi là Sơ thiền căn bản định. Đó là cận phần. Từ Sơ thiền căn bản định này, muốn đi lên nhị thừa phải qua 2 bậc. Một bên gọi là trung gian định hay trung gian thiền rồi thêm một bậc nữa là cận phần.Qua 2 bậc đó rồi mới lên Nhị thiền căn bản định. Nhị thiền căn bản định muốn lên Tam thiền thì phải lên cận phần đã tức là tu thiền định của nơi này để đoạn trừ cái hoặc chuẩn bị bước qua Tam thiền. Tương tự có được cái định giống Tam thiền chứ chưa hẳn là Tam thiền cho nên gọi là cận phần ( phần gần gũi với Tam thiền). Vậy là lên Tam thiền căn bản định. Căn bản đó mới đi ngang cận phần để lên Tứ thiền,Tứ thiền muốn đi lên Không vô biên thì đi ngang qua cận phần. Cận phần căn bản rồi lên Không vô biên xứ, lên cận phần rồi lên Thức vô biên xứ. rồi lên cận phần rồi lên Vô sở hữu xứ, rồi lên cận phần , rồi lên Phi phi tưởng xứ. Trong này có chữ vị chí              
trung gian cận phần căn bản, đủ cả 4 chữ. Nó đi tuần tự như vậy đó. Đã nói cận phần thì cận phần hết, chứ tại sao lại có lọt anh trung gian vào đây rồi lại lọt anh vị chí vào vì lẽ dục giới ta gọi là tán địa. Tứ thiền, Tứ không ta gọi là định địa. Bởi ở dục giới này cái tâm nó rong ruổi cả ngày không yên. Nên gọi là tán địa.Ở cái địa mà trong loạn tâm, trong tán tâm chứ không phải ở trong định tâm gọi là tán địa
          Còn 4 thiền 4 định là ở trong định tâm, cho nên gọi là định địa. Phân biệt 2 cái tán địa và định địa là như vậy. Từ tán địa bước lên định địa nó có 1 sự khó khăn, cho nên thay vì ở đây gọi cận phần thì ta gọi vị chí. Đổi cái danh từ vì đặc biệt từ tán địa bước lên định địa có tính cách đặc biệt cho nên ta đổi chữ cận phần thành chữ vị chí định. Còn trên đó từ Sơ thiền trở lên Không vô biên toàn trong định địa cả cho nên ta gọi là cận phần thôi chứ không gọi vị chí . Nhưng sở dĩ chỗ này có thêm trung gian thiền tức chỗ này của Đại phạm thiên ở, Đại phạm thiên tu cái thiền này, thì các địa cũng có chia ra làm 3 : Hữu tầm hữu từ địa, vô tầm vô từ địa. Hữu tầm hữu từ địa này tức là dục giới Sơ thiền. Trung gian này vô tầm như từ địa. Còn từ đây trở lên là vô tầm vô từ địa. Cho nên họ có chia ra nhiều cách như vậy. Do đó ở đây mới thêm trung gian.Trung gian để cho khi anh có vô tầm chi từ,bỏ từ bước lên cận phần mới lên vô tầm vô từ được. Có khác 1 chút ở đó. Dưới này từ tán địa lên định địa, cho nên để chữ cận phần thành vị chí. Rồi từ nơi vô tầm nhi từ địa từ nơi hữu tầm hữu địa mà muốn lên vô tầm vô từ địa ( Nhị thiền) thì phải đi ngang vô tầm nhi từ địa, có trung gian như vậy.
          Cho nên nói Tịnh lự đắc. Cái gì gọi là Tịnh lự đắc ? Thường bên này là Pháp tướng cho nên ta mới phân biệt cho rõ. Anh nhập
định mà nhập định gì ? Tôi nhập định Sơ thiền. Còn anh nhập định gì ? Cận phần Nhị thiền. Còn anh nhập định gì ? Tôi nhập định Tam thiền. Còn nói nhập định chung chung như vậy không được. Giờ này khi nhập định hữu lậu vị chí hay là trung gian hay la cận phần hay là căn bản. Khi nhập vào các định đó thì tự nhiên thân khẩu, ý được thanh tịnh mà gọi là định cọng giới hay là tịnh lự cọng giới.
          Bây giờ nói thêm về Vô lậu luật nghi vô biểu. Vô lậu tức là vô đạo, đạo cọng giới. Vô lậu còn được gọi là vô lậu đạo. Khi tâm ngộ được lý Tứ đế thì tự nhiên xa lìa cái tôi quá phi của nơi thân, khẩu, ý mà thành ra đắc giới. Ngộ lẽ vô thường, trí nhập được nơi vô thường vô ngã thì lìa xa cái quá phi của thân khẩu ý mà thành ra đắc giới. Cho nên gọi đó là vô lậu. Vô lậu luật nghi là vậy. Giữa biệt giải thoát luật nghi và định cọng giới, đạo cọng giới hay là biệt giải thoát giới, định cọng giới, đạo cọng giới nó có phân biệt là : bên biệt giải thoát luật giới có 2 thứ giới. Một là chế giới và hai là già giới hoặc nói tánh giới và già giới hay nói tánh tội và già tội cũng được. Biệt giải thoát luật nghi khi nói đắc giới là thành tựu 2 thứ đó. Cả chế giới và già giới, nó chỉ thành tựu trong hiện tại mà thôi- nghĩa là chỉ thành tựu trong hiện tại, thành tựu với cái thân còn đương tồn tại đây và đối với sự vật, cái đối tượng mà mình thọ thành cái giới pháp đó. Tỷ dụ : Làm sao mà không được cái giới bất sat sanh ? Là có mình đây và có chung sinh đó, hiện trước mắt mà mình khong biết thành bất sát sanh. Còn chúng sinh họ chết 100 năm rồi, bây giờ đối với họ nói tôi không sát sanh. Nhưng anh đó chết 100 năm rồi thế con gọi là không sát sanh được không ? Cho nên giới biệt giải thoát chỉ đắc trong hiện tại . Bởi cái giới giải thoát nó lấy vào 7 tội ở thân tam, khẩu tứ mà làm bằng.Nên khi xử tự   
theo trong luật Tứ phần, trong biệt giải thoát căn cứ trong 7 tội đó mà xử. Thân anh có phạm không ? Khẩu anh có phạm không ? Rồi căn cứ vào thân phạm khẩu phạm mà ta truy ra anh cố ý phạm hay vô tình phạm. Nếu anh có suy trong Nếu anh có suy nghĩ trong bụng anh muốn giết mà anh không giết thì thôi, đại chúng làm sao mà kết cái tội Ba la di cho anh được. Anh muốn trộm trên 5 tiền mà anh cứ nghĩ trong bụng thôi anh không có lấy tay mà lấy trên 5 tiền thì đại chúng cũng không kết tội Ba la di cho anh được đâu. Tức nhiên là phải căn cứ vào nơi thân khẩu trong hiện tại thì mới đắc cái giới biệt giải thoát đó.Có thể nói rằng cái giới biệt giải thoát là trước hết căn cứ vào nơi thân và khẩu 7 tội mà qui định. Thành tựu hay không thành tựu.Đắc giới hay phá giới. Cho nên nó chỉ có trong hiện tại thôi còn định cọng giới và đạo cọng giới là chỉ có đắc ở nơi tánh tội, nơi chế giới chứ không đắt nơi già giới,đắt căn bản chế giới chứ không đắc nơi già giới. Hai nữa là nó thông cả 3 đời, bởi vì bên tâm, tâm là cả quá khứ hiện tại cả vị lai. Ngồi đây nhưng mà suốt cả quá khứ hiện tại vị lai. Tâm đã suốt quá khứ hiện tại vị lai cho nên trong định cọng giới là sắc giới. Hai cái giới đó có sự khác biệt nhau. Một sự khác biệt thứ ba nữa là định cọng giới, đạo  cọng giới là cái giới tùy tâm chuyển. Còn biệt giải thoát luật nghi giới là cái giới không tùy tâm chuyển, không chuyển theo tâm, bởi vì sao ? Bởi khi đã tác pháp Kiết ma thọ đắc giới thể thì giới thể đó dầu nằm ngủ cũng còn, dầu khởi ác niệm cũng còn, dầu không nhớ gì cũng còn cho đến khi chết, cho đến khi xã giới. Hay cho đến khi pham trọng tội thì hắn không còn thôi, còn không thì nó cứ còn mãi mãi. Cái tâm dầu có thay đổi, có cái ác nhưng cái giới về biệt giải thoát mình đã thụ đắc rồi vẫn còn, cho nên gọi là không tùy tâm chuyển, không chuyển theo tâm. Còn định cọng giới và đạo cọng giới là cái giới tùy tâm chuyển là cái giới chuyển theo tâm. Khi nào có nhập
định thì có giới còn xuất định thì thôi. Có nhập đạo nhập định thì có giới, còn anh xuất định không kiến đạo nữa thì thôi. Cho nên cái tâm anh có định thì có giới, không định thì không giới. Có đạo thì có giới, không đạo thì không giới. Cho nên gọi là tùy tâm chuyển.Giữa biệt giải thoát định cọng giới và đạo cọng giới có sự khác nhau như vậy.]
 
Lại, ba luật nghi đều có công năng phòng phi chỉ ác, nhưng cách thức đạt được khác nhau. Biệt giải thoát chỉ ở tán tâm vị và loài người thành đạt được qua cả ba giai đoạn gia hạnh, căn bản và hậu khởi.
 
[Gia hạnh là trong khi mới móng tâm nghĩ và sửa soạn làm, căn bản là trong khi làm mà việc đó đã kết quả đã hoàn thành rồi. Chớ còn anh giết mới ngất ngư cũng chưa thành căn bản. Vì thế cho nên nếu như mà phạm tội sát mà chưa chết mà họ xử tội cách khác. Mà chết rồi họ xử tội cách khác. Nếu  ngày mai ngày mốt chết nhưng ngày nay anh đập người ta do cái nhơn đó đưa tới các hậu quả ngày mai ngày mốt chết thì người ta coi cũng như chuyện anh đập người ta chết.Chính cái khi công việc hoàn thành thì gọi là căn bản rồi sau khi căn bản nó có tâm hối hận thì cái tội nó khác. Tâm hoan hỷ rồi đập, xẻ thịt còn cười nữa, uống rượu ha hả nữa thì cái đó khác. Cái đó là thuộc về hậu khởi.Hậu khởi tức là hành động sát đạo dâm sau khi cái căn bản đã thành tựu rồi thì thuộc về hậu khởi. Có 3 giai đoạn như vậy, Thì cái giải thoát luật nghi chỉ từ tán tâm vị mà đắc và từ loài người là bởi vì đây cũng như căn cứ trong tứ phần luật giải thích thì nói cái giới Ba la di sát sinh là chỉ nhắm đối tượng về loài người mà thôi ; còn sát súc sinh kêu khinh tội chứ không nhằm vào trong tội Ba la di. Còn theo tình thần Đại thừa căn cứ trên lòng từ bi mà nói rộng ra đối với tất cả sinh mạng của
chúng sinh mà nếu như nói giết thì nói làm tổn thương cái lòng từ bi cho nên kết nó vào 1 tội. Bồ-tát giới đặt giới bất sát sanh lên hàng đầu. Còn trong Tỳ- kheo giới đặt bất sát sanh xuống hàng thứ 3 là vì lẽ đó. Thành đối tượng đây là đối tượng người và tán vị.Tán tâm vị là mình có suy nghĩ muốn giết.]
 
 Chẳng hạn, về việc sát sinh, trước tiên móng lên ý nghĩ sát sinh, hoặc chuẩn bị dụng cụ để giết, đó là gia hạnh nghiệp đạo. Khi chính thức giết và người, vật bị giết chết hẳn, đó là căn bản nghiệp đạo. Sau khi giết xong, chẳng những không hối hận, lại còn thích thú đắc ý, do đó vô biểu nghiệp sát tiếp tục không dứt, đó là hậu khởi nghiệp đạo. Khi thọ đắc giới, đối với ba cách hay ba giai đoạn sát sinh có thể thề dứt bỏ không làm. Như vậy là biệt giải thoát giới từ ba cách hay ba giai đoạn đó mà đạt được. Nhưng tịnh lự và vô lậu luật nghi lại khác, chỉ do định tâm mà đạt thành, khi tâm nhập định thì có, khi xuất định thì mất. Vì vậy, hai luật nghi này chỉ đắc thành ở căn bản nghiệp đạo, chứ không đắc thành từ gia hạnh và hậu khởi.
Lại nữa, đối với bất cứ chúng sinh nào và bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào và bất cứ vì lẽ gì, thọ trì cấm giới, quyết dứt bảy chi tội của thân ngữ đối với đối tượng đó, mới gọi là đắc giới. Nếu chỉ dứt tội lỗi theo năm sự hạn định sau đây, thì chỉ gọi là diệu hạnh, chứ không thể gọi là giới. Năm hạn định là :
a. Hữu tình định: Tức thề rằng ta chỉ lìa sự giết đối với loại hữu tình này chứ không đối với loài khác.
[Ta chỉ ăn thịt heo chứ không ăn cá. Như có mấy cái đạo bên kia , tỷ như đạo thờ bò họ không ăn thịt bò, thứ chi họ cũng                    
ăn hết. thờ heo thì họ không ăn thịt heo. Kỵ ăn thịt heo chứ gì cũng ăn được.]
b. Chỉ định: Tức thề ta chỉ giữ cấm giới không giết hoặc không trộm… chứ không phải giữ cả bảy chi cấm giới.
[Trong 7 chi cấm giới bà giữ cho trọn thì mới đắc giới chứ còn anh lựa 1 vài cái dễ dễ anh giữ còn mấy cái khó khó anh để lại cho người khác thì đắc hay không đắc? Thì cũng không gọi là đắc giới.]
c. Xứ định: Chỉ lìa sát sinh ở chỗ này chứ không phải ở chỗ khác.
[Tôi chỉ lìa sát sanh ở Sài Gòn thôi, còn ra Huế thì cứ sát]
d. Thời định: Tức chỉ lìa sát sinh trong thời gian này, chứ không phải ở thời gian khác.
[Cái này nó cũng y như tam nguyệt trai, ăn chay trong 3 tháng thôi còn mấy tháng khác thì không. Nhưng ăn chay nó không nằm trong cái giới này. Còn trong giới thì không thể như thế. Nếu trong giới mà anh chỉ giới hạn thời gian như vậy anh phải tận hình thọ chứ anh chỉ giới hạn thời gian, tôi chỉ giữ 7 chi giới đó trong khi tôi lên đến 20 tuổi thời tôi không giữ nữa, vậy là không được.
Hay là tôi chỉ giữ trong khi tôi đang đau nằm liệt giường liệt chiếu, còn khi mạnh tôi không giữ nữa. Vậy cũng không thành giới.]
đ. Duyên định: Tức như thề lìa mọi sự sát sinh, trừ vì lý do chiến đấu.
[Tôi chỉ là gọi là giữ giới không sát sanh, nhưng anh đừng đập, đập tôi nhất định tôi đập lại. Anh giết tôi thì tôi giết                                               
lại. Đó tức là có duyên sự tôi mới giữ giới, giữ giới theo duyên sự, chứ không phải giữ luôn luôn. Như vậy chỉ gọi diệu hạnh chứ không phải giới.]
Hỏi: Còn bất luận nghi vô biểu (ác giới) làm sao đắc thành ?
Đáp: Do hai lý do: 1. Làm; 2. Thề làm.
Làm: Như trường hợp sinh vào nhà bất luật nghi, như nhà thợ săn, đồ tể…, lúc thơ ấu có mục kích việc làm ác, tự nhiên tập nhiễm suy tư theo thói ác đó, nhưng chưa nhúng tay làm thì chưa thành ác giới, đến khi nhúng tay làm tức liền thành ác giới vô biểu.
Thề làm: [ Thề cái đó quan trọng. Nhưng nên biết rằng đây ta nói các luật vô nghi biểu. Chứ không phải nói biểu.] Như trường hợp không sinh vào nhà ác giới, nhưng do thấy việc ác như sát sinh, trộm cắp… có lợi lộc nhiều, bèn thệ nguyện suốt đời làm các việc đó để nuôi sống. Ngay khi thệ nguyện như vậy liền thành ác giới vô biểu, dù chưa nhúng tay làm.
Tuy vậy, theo Hữu bộ, dù làm hay thề làm cũng phải đối với tất cả chúng sinh, suốt đời, và đủ cả bảy chi, mới thành ác giới vô biểu, nếu không, chỉ thành sự ác ở chặng giữa là phi luật nghi phi bất luật nghi mà thôi. Ngược lại, theo Kinh bộ, dù không đủ cả bảy chi, không suốt đời, không đối với tất cả chúng sinh, nhưng nếu làm hoặc thề làm điều ác, vẫn thành bất luật nghi vô biểu (ác giới vô biểu).
Hỏi: Còn phi luật nghi phi bất luật nghi do thế nào mà đắc thành?
[Chữ phi luật nghi phi bất luật nghi trong này tức ta nói phi thiện phi ác cũng không phải thiện hẳn, cũng không phải ác hẳn.]
Đáp: Phi luật nghi phi bất luật nghi (phi thiện phi ác giới) đắc thành từ ba phương diện.
Do ruộng phước: Tức đối với người có phước đức thường bố thí, cúng dường hoa quả, vườn cây…, hoặc ngược lại, đánh mắng làm tổn thương…, khi rời khỏi sự làm thiện hoặc làm ác như vây, liền đắc thành phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu.
Do thọ lảnh: Tức thề làm. Như tự thề: “Hễ chưa lễ Phật thì chưa ăn”, khi vừa phát lời thề như vậy, liền đắc thành phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu.
Do làm: Tức sau khi phát thiện tâm (lễ Phật) hay phát ác tâm (đánh mắng) một cách hăng hái, đưa đến hành động, thì ngay khi hành động liền đắc thành phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu.
Tóm lại, luật nghi và bất luật nghi vô biểu không nhất thiết do biểu nghiệp dẫn đầu. Như tịnh lự và vô lậu luật nghi là hai giới tùy tâm chuyển, chỉ có vô biểu chứ không có biểu nghiệp. Biệt giải thoát luật nghi nếu từ người khác thọ đắc, thì chắc chắn có biểu nghiệp rồi mới thành vô biểu nghiệp. Nếu trường hợp tự nhiên đắc, kiến đế đắc, không từ người khác thọ đắc, thì chỉ có vô biểu mà không có biểu nghiệp. Còn bất luật nghi vô biểu, nếu tự mình làm, thì trước hết do biểu nghiệp rồi mới thành vô biểu nghiệp, nhưng nếu do người khác làm, thì không do biểu nghiệp cũng vẫn thành vô biểu nghiệp.   
[Từ người khác thọ đắc: Tức thọ tam qui ngũ giới hay Cụ tức giới. Từ tam sư thất chứng, từ người khác truyền cho, từ người khác thọ đắc. Tức nhiên khi đã từ người khác thọ đắc thì thọ biểu nghiệp rồi có vô biểu nghiệp.
Viễn thành vô biểu nghiệp: Đây là trường hợp vị tiên nhơn mà họ phát cái ý hung dữ, họ cho phép thần thông họ làm cho cái đối tượng bị khổ hay được vui. Thành họ không phát động ra ngoài nhưng do căn ý của họ mà làm cho người khác; cũng tỷ dụ ngài thôi miên, họ không đụng chi tới người khác hết, họ ngồi họ ngó thôi, nhưng người đó phải theo họ.]
Hỏi: Trên đã nói sự duyên đắc thiện giới, ác giới (luật nghi, bất luật nghi), vậy xả thiện giới, ác giới như thế nào?
Trước hãy nói về xả biệt giải thoát giới.
[Thọ mới khó chứ xã cũng như từ trên cây tụt xuống đất. Cho nên trong kinh nói đắc giới khó mà xã giới thì dễ lắm. Có người hỏi tại sao khi đắc giới phải mời cho đủ Tam sư Thất chứng? Khi xã chỉ có 1 người. Tôi bữa nay xã giới rồi nghe, vậy là rồi. Sao dễ vậy? khi đắc thì phải Tam sư thất chứng, có nghi lễ đàng hoàng, bách Tứ kiết ma đủ thứ, còn xã thì nói một câu vậy là xong. Là bởi vì đắc giới nó cũng như trèo cây, xã giới cũng như tuột xuống là tuột luôn, không nói chi hết. vì thế xã khỏi cần học.]
 Như đã biết, biệt giải thoát có tám thứ, trong đó trừ giới cận trú, còn bảy giới kia đều do bốn duyên xả:
1. Cố ý xả giới.      
2. Mệnh chung.
3. Nam nữ căn cùng xuất hiện.   
4. Đoạn thiện căn.
Giới cận trụ ngoài bốn duyên trên còn thêm một duyên nữa là mãn một ngày đêm, vì giới này chỉ thọ một ngày đêm, hễ hết hạn thì giới tự nhiên xả.
Về việc xả giới này, Kinh bộ có quan điểm: “Bốn trọng giới sát, đạo, dâm, vọng là giới đoạn đầu, rất nặng, hễ phạm một trong bốn giới ấy, thì tất cả giới xuất gia đều mất”. Hữu bộ trái lại, cho rằng giả sử phạm một trong bốn trọng giới đó, cũng không hẳn mất hết giới xuất gia, nếu biết chân thành sám hối, thề không tái phạm và hộ trì các giới còn lại. Luận chủ theo Kinh bộ.
Hỏi: Xả tịnh lự luật nghi thế nào?
Đáp: Có ba duyên xả:
1. Dịch địa: Tức đổi vị trí, như từ hạ địa sinh lên thượng địa thì xả giới tại hạ địa, từ thượng địa sinh xuống hạ địa thì xả giới thượng địa, vì định cộng giới hữu lậu luôn luôn ràng buộc theo giới và địa vậy.
2. Thối chuyển: Lúc đầu được thắng định, sau sinh phiền não, mất thắng định nên giới cũng mất.
3. Mạng chung:
Hỏi: Xả vô lậu luật nghi như thế nào ?
Đáp: Do ba duyên xả:
a. Được quả: Khi chứng được quả vị cao hơn, thì vô lậu đạo của quả vị thấp không còn nên giới cũng mất.  
b. Luyện căn: Trước là độn căn, nhờ luyện tập trở nên lợi căn, nên giới của độn căn cũng mất, và phát sinh giới lợi căn.  
c. Bị thối chuyển: Khi quả vị bị thối thất thì giới cũng mất theo luôn.
Hỏi: Xả bất luật nghi thế nào ?
Đáp: Do ba duyên xả: 1. Chết; 2. Nam nữ căn cùng xuất hiện; 3. Thọ đắc thiện giới.
Hỏi: Xả phi luật nghi phi bất luật nghi thế nào ?
Đáp: Do sáu duyên xả:
1. Tâm thể làm chấm dứt, như thề trong một thời gian nào làm thiện hoặc làm ác, nhưng đến nửa chừng hối hận, thề bỏ lời thề trước đó đi, thì giới cũng liền xả.
2. Do thế lực chấm dứt, tức do thế lực của lòng tin thanh tịnh dẫn sinh vô biểu thiện, do thế lực của phiền não dẫn sinh vô biểu ác, như sức bay của mũi tên, đến ngang độ nào đó thì rơi xuống. Cũng thế, đến độ nào đó thì giới xả.
3. Tác nghiệp chấm dứt, vô biểu vốn do tác nghiệp thiện ác tạo thành, nếu khi lời thề còn, nhưng tác nghiệp chấm dứt, thì giới cũng xả.
4. Sự vật chấm dứt, như bố thí phòng xá, cầu,vườn, hoặc đặt lưới bẫy... Khi những thứ này hư hoại thì giới cũng xả.
5. Thọ mạng chấm dứt.
6. Thiện căn chấm dứt.
[Tôi tuy bận rộn nhiều Phật sự, nhưng thỉnh thoảng cũng có đọc thơ thiền. Trong đó có những câu thơ tôi thấy các vị thiền sư cũng có khi hay lấy ý thơ của các vị Thiền sư tiền bối rồi tác vào để tạo thanh thơ của mình. Ở đây tôi xin góp ý với anh em một vài câu thơ thiền đó. Lẽ tất nhiên thiền sư góp ý không phải do sự chứng ngộ mà đây là do chỗ hiểu thôi. Như các vị có đọc bài kệ của ngài Không Lộ thiền sư trong đó có câu gọi là :Trạch đắc long xà địa khả cư ? Dã tình chung nhật lac vô dư, hữu thời trực thướng cô phong đảnh, trường khiếu nhất thanh hàn thái hư.
                    Chọn chỗ đáng nương, đất rắn rồng,
                    Tình quê suốt buổi mãi vui rong
                    Có khi lên thẳng đầu non quạnh
                    Huýt một hơi dài lạnh cõi không.
                    (Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát dịch)
 
          Đây là một bài thơ rất nổi tiếng, rất hùng hồn, rất khi tiết. Hú một tiếng mà lạnh cả bầu trời không phải là vừa đâu ; mình cũng biết chỗ của Ngài vậy.Nhưng câu này nó cũng lấy ý 1 bài thơ của một vị thiền sư ở Trung Quốc. Các ngài này là Đồng An Sát và Chiêu Huyền thiền sư, trong 2 vị đó có 1 vị, giờ tôi nhớ không chính xác lắm, có làm như thế này :
                    Trạch đắc u thâm lạc dã tình,
                    Chung niên vô tống diệc vô nghinh,
                    Hữu thời trực thướng cao phong đỉnh,
                    Nguyệt hạ phi vân tiếu nhất thanh.
          Nghĩa là :  Lựa được chỗ u thâm vui được tình quê
Suốt cả năm không đưa cũng không rước,
                    Có lúc đi thẳng lên đỉnh núi cao,
                    Ở dưới trăng vẹt mây cười một tiếng.
          Thường thường các ngài Tổ của mình hay lặp lại, nối đuôi các bài kệ của các vị Tổ sư bên Tàu, Cho nên mình cũng nên hiểu cái gốc tích. Tỷ dụ như có câu thơ của ngài Quảng Nghiêm mà ta thường ca ngợi. Bài thơ này có tinh thần hào khí lắm :
                    Da tịch mới bàn câu tịch diệt
                    Được vô sinh sau mới nói vô sinh ?
                    Làm trai có chi xung trời ấy
                    Chớ hướng Như Lai hành xứ hành.
Bài thơ này lấy ý câu :Trượng phu tự hữu xung thiên chí
                                   Mạc hướng Như Lai hành xứ hành.
 
của thiền sư Đồng An Sát, Thập huyền đàm.
          Ngài Quảng Nghiêm lại đổi thành.
                    Nam nhi tự hữu xung thiên chí
                    Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.
                             
(Nam nhi tự có chí xông trời đất
                    Đừng có bước theo dấu ( chân) Như Lai.
          Mới nói nghe anh hùng vô cùng. Nam nhi tự hữu xung thiên chí. Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.Nam nhi tự có chí xông trời đất, đừng đi theo bước chân của Như Lai. Nói anh đừng đi theo thì được nếu mình đừng đi theo là tầm bậy rồi.Mình phải đi theo chứ không thể không đi theo được. Nhất là các vị nói đó tuy nói không nhưng đã đi theo rồi là bởi vì sao? Chính đức Phật đã nói :” các ngươi hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Câu nói này nằm
trong ý nghĩa đó. Đó là người mở lối để cho mình nói câu Hưu hướng Như-lai hành xứ hành. Nếu Ngài không mở lối thì không sao nói câu đó, mà Ngài đã mở lối như vậy thì dầu có nói Hưu hướng Như-lai hành xứ hành chứ kỳ thật dã hành trên đó rồi. Hành trên cái tinh thần đó rồi.]
Một câu thơ nữa của ngài Đạo Hạnh:
          Tác hữu trần sa hữu
          Vi không nhất thiết không
          Hữu không như thủy nguyệt
          Vật trước hữu vi không.
                    Tạo có, mảy may có
                    Làm không, tất cả không
                    Có không như trăng nước
                    Chớ vướng có không không.
          (Thiền Uyển Tập Anh, Lê Mạnh Thát dịch)
Ngài Huyền Quang dịch là:
          Có thì có mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không.
Ngẫm xem bóng nguyệt dòng sông
Ai hay không có có không là gì.
Bóng nguyệt dòng sông thì có, nhưng lặn tìm mãi cũng không ra.
Nhưng theo tinh thần của Đại thừa đổi cái danh từ vì đặc biệt từ tán địa bước lên định địa có tính cách đặc biệt cho nên ta đổi chữ cận phần thành chữ vị chí định. Còn trên đó tư sơ thiền trở lên không vô biên toàn trong định địa cả cho nên ta gọi là cận phần thôi chứ không gọi vị chí. Nhưng sở dĩ chỗ                                           
này có thêm trung gian thiền tức chỗ này của Đại thừa theo tinh thần bất nhị tức diễn tả về tam không. Vật trước hữu không không vật trước ngã pháp hay là vật trươc ngũ uẩn là vật trước hữu. Nhưng mà ngã pháp không cho nên ngã cũng không pháp cũng không là không thứ hai cũng vật trước cái không đó. Chữ không thứ ba là sao? Ngã không pháp không là bên là tức không. Phi tưởng sứ phi miễn cưỡng sử phi vi không cố có biết không? Không.

Đoạn 2 :  Các loại nghiệp được nói trong các Kinh
Trên đã nói thể tính của nghiệp, đoạn này nói về các loại nghiệp được nói trong các kinh. Câu-xá Luận 15 nêu mười một thứ nghiệp:
1. Tam tính nghiệp: Tức ba nghiệp thiện, ác, vô ký. 
2. Phước thảy ba nghiệp: Tức là phước nghiệp (nghiệp lành) ở cõi Dục, phi phước nghiệp (nghiệp ác) ở cõi Dục, bất động nghiệp ở cõi Sắc và Vô sắc.
[Trong này có 3 nghiệp. Sao gọi là 3 nghiệp? 1. Phước nghiệp. 2. Phi phước nghiệp. 3. Bất động nghiệp.
1+2. Ở cõi dục giới; 3. Ở sắc và vô sắc vì trên đó họ tu thiền định, họ ở trong định tâm.]
3. Tam thọ nghiệp: Tức nghiệp thuận theo lạc thọ  ở cõi Dục và ở cõi Sơ, Nhị, Tam thiền; nghiệp thuận theo khổ thọ là nghiệp bất thiện ở cõi Dục; nghiệp thuận theo bất khổ bất lạc thọ ở từ Tam thiên lên đến trời Hữu đảnh.
[Trên chó cõi sắc có cõi trời sắc cứu kính. Sắc cứu kính là sao? Nghĩa là cùng tột của cõi sắc. Trên chóp của cõi phi phi tưởng có cõi trời Hữu đãnh. Hữu đãnh là sao? Hữu là tam hữu. Đãnh là chóp của tam hữu nên gọi là hữu đãnh. Thiện lạc thọ thì ở cõi dục, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền bởi 3 cõi này còn có lạc. Tam thiền là ly hỷ diệu lạc cho nên nhị thiền ly hỷ, tam thiền ly hủ diệu lạc. Sơ thiền là ly sanh hỷ lạc. Nhị thiền còn hỷ là định sanh hỷ lạc, còn hỷ. Cho nên cái lạc ngang tam thiền thôi. Vì vậy cho nên cái khổ thọ lạc là chỉ nói ngang tam thiền, khổ thọ ở dục giới còn lạc thọ là chỉ đến ngang tam thiền chứ còn tam thiền trở lên ta gọi là bất khổ bất lạc thọ. Khổ thọ dục giới, lạc thọ đến ngang tam thiền, không khổ không lạc thọ từ tứ thiền trở lên.]
 
4. Tam thời nghiệp: Thời kỳ nghiệp thọ quả báo có hiện tại và vị lai, và thuận thứ thọ, thuận hậu thọ. Về điểm này có ba chủ trương khác nhau:
a. Nhà bốn nghiệp: Chủ trương có thuận hiện nghiệp là hiện tại tạo nghiệp, hiện tại thọ quả. Thuận sinh nghiệp hiện tại tạo nghiệp, đời kế thọ quả. Thuận hậu nghiệp, hiện tại tạo nghiệp, đời thứ ba trở đi mới thọ quả. Thuận bất định nghiệp, hiện tại tạo nghiệp, nhưng thời kỳ thọ quả không nhất định.
b. Nhà năm nghiệp: Chủ trương ngoài ba cách thọ quả báo trên. Riêng thuận bất định nghiệp lại chia ra có quả báo nhất định, thời hạn thọ quả báo không nhất định, và quả báo cùng thời hạn thọ quả báo đều nhất định.
c. Nhà tám nghiệp: Căn cứ bốn nghiệp nói trên, chia mỗi nghiệp ra làm hai thứ mà thành tám nghiệp. Xem đồ biểu :
[Cái này hay lắm.Giờ đây hiểu ra sao về các cái báo trên?
- Thời định báo định.Cuối năm này thi mãn khóa phải không? Vậy thời có định không? Định rõ ràng. Mà thi mãn khóa ai đâuk? Có người đậu chắc chắn. Vậy là báo định thời định.Nêu như cuối năm này thi chắc chắn ra trường nhưng có anh chưa biết có đậu hay không đậu. Vậy là thời định nhưng báo bất định. Rõ rang như vậy đó.
Đại cương Luận Câu Xá


Thuận hiện nghiệp tức là cái nghiệp thọ quả báo trong đời hiện tại. Vậy là thời định. Nhưng quả báo đó thọ ra sao thì chưa biết.Cái quả báo đó nhất định không thể qua thuận sanh nghiệp, không để qua đời sau, nhất định thọ trong đời này thôi.Nghĩa là anh mắc tội đó nhất định anh phải ở tù thôi, ở tù nội trong tháng này thôi,chưa biết dù nặng hay nhẹ,chưa biết.Anh tạo cái nghiệp đó nhất định phả thọ trong cái thời hiện tại, đó là thời định. Báo bất định là chưa biết anh thọ ngang tới đâu, nặng nghẹ như thế nào? Đó là thời định báo bất định. Rồi còn báo định thời bất định:tưc quả báo đó nhất định phải chịu kết quả như thế đó,nhưng cái thời chưa biết ngang đâu ra xử, ngang đâu anh phải chịu cái điều đó,là thời bất định. Báo định thời bât định.Tỷ dụ tôi bây giờ không mở thi thì thôi nhưng mở thi là đậu 100% là Báo định.Nhưng hỏi khi nào anh đậu thì tôi chưa biết. Báo định thời bất định.] 

 
Đối với ba chủ trương trên, luận Câu-xá 15 nói, “Ba nghiệp thuận hiện pháp thọ là định, cộng thêm nghiệp thuận bất định thành bốn, thuyết này đúng hơn”. Trong chỉ rõ thời gian thọ quả định bất định, chính là giải thích bốn nghiệp tướng của kinh đã nói vậy. Như vậy đủ thấy luận chủ Thế Thân chấp nhận thuyết bốn nghiệp. Nhưng trong bốn nghiệp đó, nghiệp nào dẫn đến quả tổng báo gọi là dẫn nghiệp ? Nghiệp nào dẫn đến quả riêng mà gọi là mãn nghiệp ? Theo luận Tỳ-bà-sa 114n có ba thuyết:
(1) Hai nghiệp thuận sinh thọ, thuận hậu thọ, có đủ cả dẫn nghiệp, mãn nghiệp; còn hai nghiệp thuận hiện thọ, thuận bất định thọ thì chỉ giới hạn nơi mãn nghiệp.
[Thuyết này họ nói như thế này: Thuận sanh thọ là sao? Là đời này là dẫn nghiệp rồi. Giờ chỉ nói mãn nghiệp thôi.]
(2) Ba nghiệp thuận sinh thọ, thuận hậu thọ, và thuận bất định thọ có đủ cả dẫn nghiệp, mãn nghiệp, còn nghiệp thuận hiện thọ chỉ giới hạn ở mãn nghiệp.
[Giới hạn ở mãn nghiệp là gì? Tỷ dụ. Trong cái thuận hiện thọ là giới hạn ở mãn nghiệp, tại sao không nói dẫn nghiệp? Là vì sờ sờ con người đó rồi dẫn gì nữa. Cái nghiệp đâu từ trước dẫn anh làm con người, giờ dẫn gì nữa. Bây giờ chỉ nói anh là con người mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, vui hay sướng là nói mãn nghiệp thôi, chứ không nói dẫn nghiệp nữa.]
(3) Bốn nghiệp đều có đủ cả dẫn nghiệp, mãn nghiệp, luận Tỳ-bà-sa 2 đồng với thuyết này.
5. Thân tâm thọ nghiệp: Tức nghiệp do thân tho, nghiệp do tâm thọ. Nghiệp do tâm thọ là nghiệp thọ quả
báo (dị thục) tương ưng với đệ lục ý thức. Như thiện nghiệp ở từ trung gian định của Sắc giới đến cõi trời Hữu Đảnh, nó chỉ chiêu cảm do tâm lãnh thọ.
[Từ trung gian định mà tới cõi trời Hữu đỉnh thì cái nghiệp trong đó chỉ do tâm hành và do tâm thọ. Bởi vì trong tâm định tâm làm thôi cho nên không nói thân thọ. Nghiệp do thân thọ là nghiệp chiêu cảm dị thục do thân lãnh thọ, như ác nghiệp ở cõi Dục (tán địa do thân thọ).]
6. Ba nghiệp khúc trược uế: Tức do siểm khúc phát sinh ra nghiệp thân ngữ ý gọi là nghiệp; do sân phát sinh ba nghiệp gọi la uế nghiệp. Do tham phát sinh ra nghiệp thân ngữ ý gọi là trược nghiệp.            
7. Hắc bạch nghiệp: Gồm hắc hắc nghiệp là nghiệp ác thọ quả báo ác ở cõi Dục; bạch bạch nghiệp là nghiệp lành thọ quả lành ở cõi Sắc; hắc bạch hắc bạch nghiệp là nghiệp lành dữ xen lộn nhau thọ quả báo khả ái phi khả ái xen lộn ở cõi Dục.                           
8. Tam mâu-ni nghiệp: Ba nghiệp mâu-ni và ba nghiệp thanh tịnh như biểu đồ:
Ba nghiệp mâu ni     Ba nghiệp thanh tịnh      Ba nghiệp
- Thân mâu-ni  (.....)                            Thân thanh tịnh       (.....) Thân
- Ngữ mâu-ni   (.....)                            Ngữ thanh tịnh         (.....) Ngữ
- Ý mâu-ni       (.....)                            Ý thanh tịnh (.....) Ý
Mâu-ni tiếng Phạn là Muni, tàu dịch là tịch mặc, có nghĩa là phiền não dứt sạch, vắng lặng. Hàng thánh giả vô học dứt sạch mọi phiền não, nên thân nghiệp được gọi là thân mâu-ni, ngữ nghiệp được gọi là ngữ mâu-ni, ý
nghiệp được gọi là ý mâu-ni. Thân ngữ ý đều thành diệu hạnh, nên gọi là thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh. Diệu hạnh thông cả hai loại thiện hữu lậu, thiện vô lậu, vì tạm thời và vĩnh viễn nó xa lìa mọi ác hạnh phiền não cấu uế.
9. Ba ác hạnh: Tức ba ác hạnh và ba diệu hạnh. Ba ác hạnh là hết thảy ba nghiệp ác của thân, ngữ, ý; ba diệu hạnh là hết thảy ba nghiệp lành của thân, ngữ, ý. Trong đó, ý ác hạnh và ý diệu hạnh không những nhiếp trọn ý nghiệp thiện ác mà ý ác hạnh còn nhiếp luôn cả tham, sân, tà kiến, ý diệu hạnh còn nhiếp luôn cả vô tham, vô sân, chính kiến. Xem biểu đồ sau:
a.  Ba ác hạnh:                           Ba nghiệp
     Thân ác hạnh   ...................  Thân nghiệp
     Ngữ ác hạnh    ...................  Ngữ nghiệp
     Ý ác hạnh        .................... Ý nghiệp và tham, sân,
                                                  tà kiến.
b. Ba diệu hạnh:                         Ba nghiệp
     Thân diệu hạnh                     ....................  Thân nghiệp
     Ngữ diệu hạnh .....................           Ngữ nghiệp
     Ý diệu hạnh     .....................           Ý nghiệp và vô tham,
                                                  Vô sân, chính kiến.
  10. Mười nghiệp đạo: Có hai loại: mười ác nghiệp đạo và mười thiện nghiệp đạo:

Đại cương Luận Câu Xá
Tất cả việc lành dữ phát động ở thân, ngữ, ý đều kinh qua ba giai đoạn gia hạnh, căn bản và hậu khởi (Kinh Ưu-bà-tắc Bồ-tát Giới, phẩm nghiệp nói là phương tiện trang nghiêm, căn bản, thành dĩ. [Tôi dẫn vào đây để cho thấy đó là sự so sánh. Trong này nói gia hạnh căn bản hậu khởi. Còn trong kinh đó nơi phương tiện trang nghiêm căm bản và thành dĩ. Kinh Phạm võng Bồ-tát giới thì như cái vị năng tụng biết sát nhân, sát duyên, sát pháp, sát nghiệp. Tôi dẫn để so sánh.] (Kinh Phạm võng Bồ-tát giới nói là sát nhân, sát duyên, sát pháp, sát nghiệp ).
Gia hạnh là tiền phương tiện; căn bản là ngay lúc sự việc hoàn thành; hậu khởi là những hành động kế tiếp sau đó như bắt thú, lột da, xẻ thịt... Trong ba phần gia hạnh, căn bản, hậu khởi đó, chỉ phần căn bản mới gọi nghiệp đạo. [Còn hậu khởi là phụ thuộc, nên gọi là nghiệp đạo. Còn gia hạnh thì anh giả cho thiệt hung đến ngang lưng, rồi sau đó anh đè nhè nhẹ thì làm sao thành ác nghiệp, thành sát được. vậy là chỉ có căn bản mới thành nghiệp đạo.]
Luận Câu-xá 16 nói: “Về bất thiện, thân ác nghiệp đạo trừ một phần của thân ác hạnh không kể vào, đó là các thân nghiệp ác thuộc gia hạnh và hậu khởi, và các nghiệp như uống rượu, đánh, trói... vì những việc này không thô bạo rõ rệt bằng những thân ác hạnh làm kẻ khác mất mạng, mất của, mất vợ, mà như Phật dạy, đặc biệt phải xa lánh.  [Phải lánh xa 4 trọng tội. Bốn trọng tội đó        
mới là ác đạo. Nhưng ác nghiệp đạo là chỉ cái căn bản không phải chỉ gia hạnh và hậu khởi.]
Chỉ mấy việc ác chính làm kẻ khác mất mạng, mất của... mới gọi là nghiệp đạo. Ngữ ác nghiệp đạo không kể những ngữ ác hành thuộc gia hạnh, hậu khởi và khinh vi. Ý ác nghiệp đạo không kể những ý ác hạnh thuộc tư duy ác và lòng tham nhẹ... Về thiện, thân thiện nghiệp đạo trừ một phần của thân diệu hạnh không kể vào, đó là thân thiện nghiệp thuộc gia hạnh, hậu khởi và các việc khác như bố thí, cúng dường, lìa uống rượu... Ngữ thiện nghiệp đạo, trừ một phần của ngữ diệu hạnh như ái ngữ, thật ngữ... không kể vào. Ý thiện nghiệp đạo, trừ một phần của ý diệu hạnh như các tư duy thiện không kể vào.
[Tỷ dụ như giờ đây, theo như trong giới Tỳ-kheo, mình nói giới vọng ngữ Ba la di, đó chỉ là giới vị đắc vị đắc, vị chứng vị chứng thì mới thành lập giới vọng ngữ.Trong Ba la di chỉ có cái đó mới thành lập giới vọng ngữ, đại vọng ngữ vị đắc vị đắc,vị chứng vị chứng, chứ chưa có chi cả mà nói: Ôi chao khi hôm tôi thấy đức Phật, Ngài về Ngài sờ trên đầu tôi,Ngài biểu rằng con gắng mà tu, mai mốt thì Ta cho đậu. Ngài đâu có nói lác lác vậy.
          Dẫn chứng Phật về sờ đầu, cũng là vị đắc vị đức vị chứng vị chứng,hay là mình chưa chứng quả A-la-hán mà nói tôi đã có thần thông phép lạ rồi. Giờ tôi ngồi như vậy nhưng các vị nghĩ gì tôi đều biết hết.
          Sao gọi là nghiệp đạo.
          Nghiệp như ta đã biết.Thể của nghiệp là tư.Nếu không có tư tức nhiên là không có tác ý giết, không có tâm giết thì không thành nghiệp. Trong Nikaya nói điều đó.Cho nên tư là thể của                            
nghiệp,tư là nghiệp.Nó mà phát ra nơi ngữ là thân nghiệp khẩu nghiệp.Đó là nói về nghiệp,nhưng cái thân nghiệp khẩu nghiệp đồng thời cũng gọi là nghiệp đạo,bởi vì sao? Bởi vì đồng thời nó là cái chỗ đi của tư tâm sở, chổ đi qua của tư tâm sở. Đạo là đường,nó là đường của tư tâm sở đi qua.Nếu không có nó thì tư tâm sở cũng không có đường mà đi để mà ra phá thiên hạ. Trong có cái tư tấm ở muốn giết hết sức, nhưng không có cái thân thì lấy gì mà giết.Không có đường thì nó cũng nằm một chỗ đành chịu thôi, nó không phá ai được hết. Muốn thọ giới không có thân lấy gì mà thọ, không có cái miệng lấy gì mà thọ. Mấy ông câm điếc có thọ được không? Nếu ông nghe được tiếng nói, hiểu được tiếng nói thì ông có thể thọ được Bồ-tát giới chứ còn Tỳ-kheo giới thì chưa. Đó là nghiệp, nghiệp đạo.
  Lại nữa nghiệp,nghiệp đạo này chỉ về căn bản. Do đó sát nghiệp đạo chỉ vè căn bản chứ không phải chỉ gia hạnh cũng như hậu khởi. Vọng nghiệp đạo chỉ về căn bản không chi gia hạnh, không phải chỉ hậu khởi.]
Hỏi: Vì sao chỉ căn cứ vào phần căn bản để lập nghiệp đạo ?
Đạo là đường đi. Trong 10 ác nghiệp, tham, sân, tà kiến là đường đi của tư tâm sở. Ba nghiệp thân, bốn nghiệp ngữ tự nó là nghiệp và cũng là đường đi của tư nghiệp (ý nghiệp), nên gọi là nghiệp đạo, hoặc gọi đủ là nghiệp nghiệp đạo. Nghĩa của 10 thiện nghiệp đạo cũng chiếu theo đó để hiểu.
Hỏi: Mười điều lành, mười điều ác làm sao trở thành nghiệp đạo ?
Trước nói mười điều ác trở thành nghiệp đạo:
1. Thành nghiệp đạo sát sinh do đủ năm duyên:
a. Có tâm muốn giết.
b. Đối tượng là loại hữu tình.
2. Tưởng đó là loại hữu tình.
a. Dùng sức giết.
b. Không giết lầm.
3. Thành lập đạo không cho mà lấy (trộm) do đủ năm duyên:
a. Móng tâm lấy cắp.
b. Đối với tài vật của kẻ khác.
c. Tưởng đó là tài vật của kẻ khác.
d. Dùng sức lấy.
đ. Không phải lấy lầm đem về làm của mình.
4. Thành nghiệp đạo tà dâm có đủ bốn duyên:
a. Đối với không phải cảnh (vợ, hầu) mà làm việc không đáng làm.
b. Đối với không phải nơi (đạo) mà làm việc không đáng làm.
c. Đối với không phải chỗ mà làm việc không đáng làm.
d. Đối với phi thời mà làm việc không đáng làm.
5. Thành nghiệp đạo vọng ngữ (hư cuống ngữ) do đủ bốn duyên:
a. Tâm ô nhiễm.
b. Tư tưởng và phát ngôn trái với điều luật nói.
c. Người bị lừa hiểu rõ điều được nghe.
d. Người nói dối biết rõ người nói dối.
6. Thành nghiệp đạo hai lưỡi (ly gián ngữ) do đủ bốn duyên:
a. Tâm ô nhiễm.     
b. Phát lời nói hại kẻ khác.
c. Người nghe hiểu rõ.
d. Người nói biết rõ mình nói hai lưỡi.
7. Thành nghiệp đạo nói thô ác (ác khẩu) do đủ bốn duyên:
a. Tâm ô nhiễm.
b. Phát lời cộc cằn, thô bạo, chửi mắng kẻ khác.
c. Người nghe hiểu rõ.
d. Người nói biết rõ mình nói thô ác.
8. Thành nghiệp đạo nói thêu diệt (ỷ ngữ, tạp uế ngữ) do có đủ hai duyên:
a. Tâm ô nhiễm.
b. Phát lời tà vạy, thêu dệt vẽ vời, dua nịnh, tạo các từ khúc sai trái dâm ô.
Phạm vi ỷ ngữ rất rộng, trừ ba thứ hư cuống ngữ, thô các ngữ, ly gián ngữ, tất cả ngôn từ điên đảo, tà vạy, phát ra với tâm ô nhiễm đều thuộc loại ỷ ngữ này. 
9. Thành nghiệp đạo tham, do đối với tài vật của người khác sinh lòng tham, mong cầu nghĩ tưởng làm sao vật đó thuộc về mình, chứ không còn thuộc người khác.
10. Thành nghiệp đạo sân, do đối với loại hữu tình, sinh lòng giận giữ, muốn làm hại.
11. Thành nghiệp đạo tà kiến, do mê lầm bài bác lý nhân quả chính đáng, và chấp theo nhân quả tà vạy.
Hỏi: Trên đã nói đến 10 nghiệp đạo ác, còn thành tựu 10 nghiệp đạo thiện như thế nào ?
Đây nói về người cần sách thọ giới Cụ túc. Khi lên giới đàn, lễ đại Tăng, phát lời thành thật thỉnh Thân giáo sư truyền giới, cho đến xong lần kiết-ma thứ ba, ngay ở sát-na này thành tựu 10 nghiệp đạo thiện.
Hỏi: Dựa vào tâm nào để thành tựu mười nghiệp đạo thiện và ác ấy ?
Gia hạnh của mười nghiệp đạo ác do ba căn bất thiện là tham, sân, si mà phát sinh. Nhưng rốt cuộc, chính thức thành nghiệp đạo thì là do tâm sân nhuế mà thành nghiệp đạo sát sinh; do tham dục mà thành nghiệp đạo trộm cắp, tà dâm; do cả tham, sân, si mà thành hư cuống ngữ, ly gián ngữ tạp uế ngữ ; do sân nhuế mà thành thô ác ngữ, do tham phiền não mà thành nghiệp đạo tham; do sân phiền  não mà thành nghiệp đạo sân; do si phiền não mà thành nghiệp đạo tà kiến.
Còn mười nghiệp đạo thiện, luận Câu-xá 16 nói: “Các nghiệp đạo thiện vô luận là gia hạnh, căn bản, hay hậu khởi                                                              
đều từ ba thiện căn vô tham, vô sân, vô si mà khởi phát, mà là thiện tâm tất nhiên tương ưng với ba thiện căn.”
11. Ba tà hạnh: Tức tà ngữ (nói lời tà), tà nghiệp (hành động tà), tà mạng (nuôi sống tà). Tà ngữ là ngữ nghiệp do sân và si phát sinh. Tà nghiệp là thân nghiệp do sân và tham phát sinh. Tà mạng là thân ngữ nghiệp do tham và si phát sinh.
Hỏi: Tại sao ngoài tà ngữ, tà nghiệp còn lập thêm tà mạng nữa?
Luận Bà-sa 16 nói: “Như trong ngữ nghiệp tạo bất thiện nghiệp, nếu do lòng tham mà phát khởi thì gọi là tà ngữ, cũng gọi là tà mạng, vì trong đó gồm có mục đích nuôi sống nữa. Nếu do tâm sân si mà phát  khởi, thì chỉ gọi là tà ngữ, chứ không gọi là tà mạng, bởi không vì mục đích nuôi sống. Và thân nghiệp đạo bất thiện cũng vậy, nếu do lòng tham phát khởi, thì gọi là tà nghiệp, cũng gọi là tà mạng; nhưng nếu do sân si mà phát khởi, chỉ gọi là tà nghiệp chứ không gọi là tà mạng”.
Lại hỏi: Nếu vậy thì sao Phật lại dạy riêng hai thứ chính mạng và tà mạng?
Vì tà mạng là cuống hoặc lòng người, vi tế khó nhận thấy, cũng khó trừ cho sạch được. Như thế, lối nuôi sống tà vạy là hành vi khó cấm chế, nên Phật nêu riêng ra để nhắc nhở cần phải cố gắng sống theo lối sống chính mạng.
Ngoài mười một loại nghiệp nói trên, Luận Câu-xá 17 còn đề cập đến hai thứ dẫn nghiệp và mãn nghiệp.
Dẫn nghiệp là nghiệp dẫn đến quả báo chung (cựu dịch là tổng báo nghiệp), mãn nghiệp là nghiệp dẫn đến quả báo riêng (cựu dịch: biệt báo nghiệp).Ví như loài người tuy không đồng nhau về cơ thể, trai, gái, lớn, bé, mập, gầy, xấu, đẹp cao, lùn, mạnh, yếu; về trí tuệ sáng, tối, nhanh, chậm; về tính tình lành, dữ, nhiều tham, sân, si, mạn, ít tham, sân, si, mạn; cho đến sang, hèn, thọ, yểu; cuộc đời suông sẻ hay gặp khó khăn... nhưng vẫn đồng nhất dưới dạng con người chứ không phải trời, hay thú vật. Nguyên nhân đưa đến kết quả đồng nhất đó gọi là dẫn nghiệp. Còn mọi sự bất đồng về cơ thể, trí tuệ, tính tình giữa người này với người khác, gọi đó là biệt báo, và nguyên nhân đưa đến biệt báo ấy gọi là mãn nghiệp.Vậy, nhân nghiệp thiện hay nghiệp ác mà phải sinh đến cõi lành hay cõi dữ, đó là do dẫn nghiệp; tuy đồng sinh ra ở cõi lành hay cõi dữ, nhưng từ cơ thể đến tính tình không ai giống ai đó là do mãn nghiệp.
Hỏi: Nhưng dẫn nghiệp ấy đều do nhiều nghiệp hợp lại hay chỉ do một nghiệp dẫn sinh đến cõi này hay cõi khác? Và chỉ dẫn sinh ra một đời hay nhiều đời? 
Luận Câu-xá 17 giải thích: “Nhất nghiệp dẫn nhất sinh, đa nghiệp năng viên mãn”. (do một nghiệp dẫn sinh một đời, do nhiều nghiệp làm cho trọn vẹn). Như người thợ vẽ phát họa hình dáng một đồ hình tổng quát, một con người hay một con trâu chẳng hạn, phát họa đó dụ cho dẫn nghiệp; lại từ trên đồ hình đó, tô vẽ thêm đủ các bộ phận, màu sắc đầy là dụ cho mãn nghiệp. 
Tóm lại, nghiệp có nhiều thứ, nhưng không ngoài ba thứ thân, ngữ, ý hoặc thiện, hoặc ác, hoặc trung dung, thuộc hữu lậu hay thuộc vô lậu. Nghiệp thiện hữu lậu, tính nó ít nhiều mùi vị bất lương, vị ngã trong đó. Còn thiện vô lậu, trái lại, hoàn toàn thanh tịnh, thoát hẳn mùi vị bất lương, vị ngã. Đó là diệu thiện.
Nay đây, nói nguyên nhân của mê không những chỉ ba nghiệp ác, mà cũng gồm luôn cả ba nghiệp thiện hữu lậu, vì nó là nguyên nhân trực tiếp chiêu cảm quả báo tốt lành trong cõi người, cõi trời. Nhưng đồng thời nó cũng là trợ duyên tiến lên thiện vô lậu, mở đường cho sự giác ngộ, nên không thể xem thường được.

 
.Phụ lục phẩm nghiệp
Theo Tân Thượng tọa bộ như ngài Phật Minh (Buddhaghosa), căn cứ trên ba điểm là thời gian, công dụng,và quả báo nặng nhẹ để phân loại các nghiệp như sau:
1. Căn cứ trên thời gian
a. Cấp hiệu nghiệp: Nghiệp chỉ thọ quả báo ngay trong đời này, nếu vì một tha lực nào đó ngăn chặn không thể thọ quả báo thì nghiệp đó không còn hiệu lực nữa. Như người thợ săn bắn mũi tên đến con vật, nhưng không trúng thì mũi tên đó coi như bỏ, con vật không bị thương.
b. Hoản hiệu nghiệp: Nghiệp sẽ thọ quả báo vào đời sau, nếu đời sau vì một tha lực nào đó mà nghiệp bị ngăn cản không thực hiện được thì nghiệp ấy vĩnh viễn không thực hiện được.
c. Vô định kỳ hiệu nghiệp: Nghiệp sẽ thọ quả báo vào bất cứ lúc nào trong tương lai, trừ khi người đó chứng được Niết-bàn trước khi thọ quả báo thì nghiệp ấy trở thành vô hiệu. Đây cũng tương tự định nghiệp được nói trên.
d. Vô hiệu nghiệp hay Dĩ hữu nghiệp: Đây là chỉ chung cả ba nghiệp trên, mà hoặc vì tự nó bạt nhược, không thể sinh kết quả, hoặc bị nghiệp lực khác mạnh hơn làm tiêu hủy thì trở thành vô hiệu.
2. Căn cứ trên công dụng: Tức về mặt hành tướng, chia nghiệp ra làm bốn thứ:
a. Năng sinh nghiệp: Đây chỉ cho hữu chi trong mười hai nhân duyên. Nó tiềm ẩn chờ cơ hội thuận hay nghịch mà  phát sinh quả hay không phát sinh quả. Nghiệp này có tính chất như hoãn hiệu nghiệp trên kia.
b. Năng tiêu nghiệp: Nghiệp này làm cho năng sinh và năng trì nghiệp dù thiện dù ác, đều bị thủ tiêu.
c. Năng hủy nghiệp : Nghiệp này còn mạnh hơn năng tiêu nghiệp. Nó đủ sức nhổ  tận gốc rễ các nghiệp đang phát hiện hay sẽ phát hiện.
3. Căn cứ trên quả báo nặng nhẹ: Chia ra bốn thứ:
a. Cực trọng nghiệp: Nghiệp rất mạnh, rất nặng, đủ sức lôi cuốn các nghiệp khác theo nó về thiện hay về ác, nên nó có thể bao hàm bốn tính chất năng sinh, năng trì, năng tiêu, năng hủy nghiệp trên kia.
b. Cận tử nghiệp: Là nghiệp có tính chất quyết định cho sự thọ sinh đời sau hiện lên trong khi sắp chết. Một người có cực trọng nghiệp tự nhiên đã quyết định sự thọ sinh đời sau vào cảnh khổ hay vui, nhưng nếu cực trọng nghiệp này không có, thì kẻ sắp chết, trong giờ phút đó bất cứ nghiệp gì hiện lên, nghiệp ấy đủ khả năng quyết định sự thọ sanh về sau của người đó.
c. Tập quán nghiệp: Nghiệp do sự tập quán liên tục về ngôn ngữ, hành động, suy tư, nó yếu hơn cận tử nghiệp, nhưng nếu chiến thắng các nghiệp khác thì nó trở thành cận tử nghiệp.
d. Tích lũy nghiệp: Là nghiệp tich lũy từ vô thỉ mà mỗi hữu tình đều có đủ toàn bộ trong mình. Có thể gọi nó là con chó săn thuộc vô định kỳ hiệu nghiệp. Nếu không có những nghiệp mới làm thay đổi, thì tích lũy nghiệp này sẵn sàng hiện lên trong giờ sắp chết và trở thành cận tử nghiệp. Phi kẻ trí khó lòng nhận rõ được nó, nên các nhà Tân Thượng tọa bộ ví nó như một hòn đá được người ngu ném đi, mà dù khi chưa ném, hòn đá cũng đã vẫn ném rồi, nghĩa là tự nó rơi xuống, không cần đợi ném rơi.
Du-già tông còn căn cứ trên các điểm dị, đồng tự biến, cộng biến mà chia ra có cọng nghiệp và bất cộng nghiệp (biệt nghiệp). Như mọi người tương đồng tạo
nghiệp đưa đến kết qủa hiện thành một thế giới, một xã hội tương đồng, hoặc như mười người chung sức dựng lên một ngôi nhà, đó là cộng báo do cộng nghiệp, tức do công sức đồng nhau của mọi người trong đó tạo ra. Đó là cộng nghiệp. Tuy nhiên, trong cùng một thế giới, một xã hội, hay một ngôi nhà, nhưng mỗi người có mỗi cơ thể, mỗi thái độ tâm lý, tình cảm khác nhau, hoặc mỗi người làm mỗi nghề, tập mỗi việc khác nhau để đưa đến mỗi đời sống không giống nhau. Đó gọi là bất cộng nghiệp và bất cộng báo (biệt nghiệp, biệt báo). Nhưng hai thứ cộng nghiệp và bất cộng nghiệp này cũng luôn gắn liền nhau nên lại diễn ra nghiệp cộng trung bất cộng
[Tỷ dụ mình ngồi học trong lớp tức là cọng, nhưng có người thì nghe,người thì ngủ gục, có người thì viết chứ không phải ai cũng như ai hết đâu(là bất cọng) là cọng trung bất cọng. Rồi bất cọng trung cọng trung mỗi người làm việc mỗi khác nhau như vậy, người ngồi thẳng người ngồi nghiêng, mặc kệ nhưng cùng chung để tạo thành cái lớp. Như vậy gọi là bất cọng trung cọng.Từ đó suy ra cọng nghiệp bất cọng nghiệp, cọng báo bất cọng báo nó gắn liền lại với nhau. Một cái đám đất không thuộc của ai hết, nó thuộc tất cả chung sinh cọng nghiệp này của trên cõi đất này. Tuy nhiên khi cái dân tộc đó chiếm được thị nói là của tôi, dân tọc kia nó chiếm thì nói là của họ, ai xâm chiếm đến thì ta đánh liền gọi là cọng trung bât cọng. Rồi bất cọng trung cọng, tỷ dụ như cái thân của mình,của mình chứ không phải của ai hết gọi là bất cọng. Mặc dầu vậy nhưng cái thân của tôi nếu có đầy đủ hai mắt hai mũi đẹp đẹp thì các anh cũng ưa nhìn phải không.Chứ còn con mắt xẹo lên xẹo xuống mũi vích vích chắc các anh cũng ngó lơ .Thành cái đó là bất
cọng trung cọng, cũng là thế giới của anh đâu phải của tôi gọi là bất cọng trung cọng.Vì lẽ đó cho nên đừng nói tôi làm tôi chịu, tôi phạm giới tôi chịu, không dính chi đến anh. Đâu phải vậy. Tuy không dính chi đến tôi thật, anh làm anh chịu lấy,nhưng anh ở cộng đồng với tôi, anh làm tức tôi cũng chịu một phần nào trong đó chứ, vô lý một mình anh chịu không. Vậy là bất cọng trung cọng chứ sao nữa.Diễn ra là rộng nghĩa lắm.
Như cùng ở chung trong một ngôi nhà, rủi bị bão, nhà bị sập, có người chết, có người gãy tay, có người u đầu... nhưng có người bình yên vô sự, kiểu như nói “đồng sàng dị mộng”. Và nghiệp bất cộng trung cộng, như trong ngôi nhà đó có một người tập tính uống rượu, nói khùng, gây gỗ, thậm chí châm lửa đốt nhà, và người đó bị chết thiêu, như vậy là nghiệp riêng  người đó làm, người đó chịu, nhưng những người khác ở cùng nhà cũng phải chịu họa lây. Đó là bất cộng trung cộng.
[Chừ đi qua phẩm Ngủ nghỉ. Phẩm này nếu tỉnh táo thì đọc Phẩm Tùy miên, còn nếu mơ mơ màng màng thì đọc là Tùy miên ngang. Đây là một danh từ khác.]
*
*      *
/20
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »