VII. PHẨM PHÂN BIỆT TRÍ
Phẩm Hiền Thánh đã nói rõ quả vị vô lậu, giác ngộ. Còn nhân duyên vô lậu dẫn đến kết quả đó chính là trí tuệ và thiền định. Trí tuệ là thân nhân, thiền định là sơ duyên, nên trí tuệ được phân biệt giảng giải trước trong phẩm Trí này. Đặc sắc của trí là tính quyết định đối với sự lý các pháp, đặc sắc của tuệ là tính phân biệt rõ ràng sự lý các pháp. [Trí có nghĩa khác, tuệ có nghĩa khác. Đi chung nhưng nếu phân tích kỷ mỗi cái đó cái đặc riêng.] Tuy nhiên trí và tuệ cũng cùng một thể, nên có khi nói trí, có khi nói tuệ mà nghĩa cũng như nhau. Vì vậy trong bản dịch cũ để là phẩm Phân biệt Tuệ. Chẳng những thế, trí hoặc tụê còn được gọi bằng nhiều tên tùy theo tác dụng đặc thù của nó như quán, nhẫn, kiến, quang, minh, giác, phương tiện v.v... cho đến chính kiến, chính tư duy, trạch pháp v.v... trong 37 đạo phẩm. Tu hành cố nhiên cần có trí tuệ mới khỏi bị lạc đường mà giác ngộ cũng cần có trí tuệ mới tràn đầy viên mãn. Kinh A-hàm nói: “ Minh (trí) vi nhất thiết thiện pháp chi căn bản”. Do đó, kế tiếp phẩm Hiền Thánh tất phải là phẩm Trí Tuệ. Phẩm Trí này gồm 61 bài tụng, chia ra hai đọan lớn: I. Nói về các trí sai biệt gồm 33 bài tụng. II. Nói về công đức do Trí thành đạt được gồm hai mươi tám bài tụng.

Đoạn I. CÁC TRÍ SAI BIỆT ( gồm bốn tiết)
¨ Tiết I: NHẪN, TRÍ, KIẾN SAI BIỆT
Chữ nhẫn của phẩm này là trí tuệ. Muốn rõ trí tuệ trước tiên hãy biện biệt nhẫn, trí, kiến. Vì ba thứ này đều lấy tuệ tâm sở làm thể, như xưa nay từng nói: “Thể đồng mà dụng khác”. Thể đồng là ba thứ đều là tuệ tâm sở trong Đại địa pháp, nhưng vì tác dụng bất đồng mà lập ra nhẫn, trí, kiến. Khi tuệ tâm sở với công dụng suy đạt tầm cầu thì gọi là kiến, với công dụng quyết đoán thì gọi là trí, với công dụng suy đạt nhẫn khả (chấp nhận) thì gọi là nhẫn. Vì vậy cùng là tuệ mà có khi nhẫn chứ không phải trí, có khi trí mà không phải kiến, có khi cả trí và kiến mà không phải nhẫn. Trường hợp có nhẫn mà không có trí như trong phẩm trước đây nói đến tám nhẫn đối với tám đế của cõi Dục và hai cõi trên, như khổ pháp trí nhẫn, khổ loại trí nhẫn. [Chữ nhẫn này mới tin nhận thôi, tin nhận điều đó, chấp nhận điều đó, không chống trái điều đó, chứ chưa đi sâu vào.] Vì sao? Vì trong khi nhẫn khởi lên, những điều nghi hoặc chính nó phải đoạn trừ, thì chưa đoạn trừ được, nghĩa là nó
chưa đạt đến mức quyết đoán trước đối cảnh vậy.
[Nó cũng như trường hợp khi nói gì với ai: anh có chịu nghe không? Có chịu nghe không? Nếu anh chịu nghe là nhẫn. Còn anh không chịu nghe nói gì anh cũng lúc lắc đầu là anh không nhẫn, anh có chịu nghe không? Chịu, khi đó nói mới nghe, thì lần lần mới tới. Cho nên nhẫn đi đầu là vậy đó.]
Luận Tỳ-bà-sa 95 nói:” Tại sao Vô lậu nhẫn (chỉ tám nhẫn thuộc Kiến đạo vị, chứ không phải nhẫn vị trong Tứ gia hạnh, hay là nhẫn nhục, an thọ khổ nhẫn) . [Chữ nhẫn này nó có nhiều trường hợp. Trong này ta nêu lên 3 trường hợp: Trường hợp cái nhẫn thuộc về trí, chứ không phải thuộc về tình. Thuộc về trí là nó ở trong cái khổ pháp trí nhẫn, khổ loại trí nhẫn, chứ nó không phải ở trong cái noãn đãnh nhẫn thế đệ nhất, tức không phải chữ nhẫn trong trí gia hạnh. Chữ nhẫn này ở trong khổ pháp trí nhẫn, khổ loại trí nhẫn, chứ cái nhẫn đây không phải ở tỏng cái noãn đãnh nhẫn thế đệ nhất, không phải nằm trong trí gia hạnh đó, mà nó cũng không phải có nghĩa khổ của cái nhẫn như nhẫn nhục, nhẫn nhục là chịu đựng, chịu cái sự nhục nhã, hay kiên nhẫn. Kiên nhẫn có nghĩa là chịu kiên trì như vậy, chấp nhận kiên trì như vậy, không phải vậy, đây là thuộc về trí nhẫn, còn bên kia nó thuộc về tính tình. Chữ nhẫn thuộc về nhẫn nhục thuộc tánh tình chứ không phải trí tuệ, còn nhẫn đậy thuộc trí tuệ, nó khác nhau.] Chỉ gọi là nhẫn mà không phải là trí? Đáp: Vì vô lậu nhẫn đối với đế lý sở quán tuy nhẫn mà chưa quyết, quán mà chưa thẩm xét, tầm cầu mà chưa rốt ráo, tư sát mà chưa biết rõ, hiện quán mà chưa thuần thục, chỉ có công dụng gia hạnh không ngừng, nên chỉ gọi là nhẫn, không gọi là trí”.
Trái lại, tận trí, vô sinh trí như sẽ nói dưới đây, là hai thứ trí được khởi lên ở vô học vị, nó chỉ gọi là trí mà không gọi là kiến. Vì hai trí này có khả năng quyết đoạn đối cảnh không còn phải suy đạt tìm cầu nữa. Ngoài ra, tất cả vô lậu tuệ như tám trí của Hữu học vị (đó là khổ pháp trí, khổ loại trí v.v...) và chính kiến của Vô học vị, đều có cả tính chất trí và kiến mà không phải là nhẫn. Vì các vô lậu tuệ này đã dứt hết nghi hoặc chính nó phải dứt (trí), lại có tính suy đạt tìm cầu (kiến) và vì đã qua khỏi giai đoạn ban đầu của sự thấy (sơ kiến) nên không gọi là nhẫn.
[Đến khi đã trí rồi thì không gọi là nhẫn nữa. Tận trí là sanh tử khi đó là hoàn thành rồi, không có nhẫn gì nữa hết, khi đó là nghe rõ ràng rồi, không có chịu nghe không hay không chịu nghe không, không có chuyện đó nữa, khi đó là hiểu rõ ràng rồi, đi sâu và thấm rồi.]
Trên đây là phân biệt về vô lậu tuệ, còn hữu lậu tuệ thế nào? Tất cả hữu lậu tuệ đều nhiếp thuộc về trí, vì kẻ phàm phu từ vô thỉ có tâm thường quan sát đối cảnh nên chính đó là trí, không thế gọi là nhẫn, vì nhẫn có nghĩa là đối với lý Tứ đế từ trước chưa thấy nay mới bắt đầu thấy (sáng kiến), trong khi đó, đối cảnh của kẻ phàm phu là cảnh thường được thấy luôn, chứ không phải nay mới bắt đầu thấy, nên các hữu lậu tuệ của phàm phu không thể gọi là nhẫn.
[Tất nhiên cái hữu lậu thường ngày là việc mình tiếp xúc không có chi mà nhẫn hết, chuyện rõ ràng như vậy không có chi mà nhẫn hết. Ví dụ như nói anh ăn cơm không? Ăn. Anh biết uống không? Biết, không có chi mà nhẫn hết, cho nên chỉ có trí chứ
không có nhẫn. Mà đây nhẫn là bởi vì đối với lý Tứ đế nó lạ quá, tại sao cuộc đởi này ta cũng sung sướng đủ mọi thứ cả, giờ nói đời là đau khổ, lạ quá. Họ chưa hề nghe chuyện đó, nhưng mà bây giờ họ chịu nghe được, vậy kêu là nhẫn, chứ còn chuyện phàm phu hàng ngày không có gì lạ lùng hết, cứ gặp đâu biết nấy, không có chỉ lạ gọi là nhẫn. Còn nói vô ngã thì ai ta cũng nói tôi, ta cả, rõ ràng chuyên sờ sờ ra đó, có tôi, tôi mới làm việc đó, có tôi, tôi mới làm việc kia, giờ đây nói vô ngã, chuyện lạ đời qua. Đối với chuyện lạ đời như vậy mà chịu nghe, đó là nhẫn, chứ còn chuyện phàm phu hàng ngày có chi lạ đâu mà phải nhẫn, cứ nghe là biết thế thôi, không trải qua các giai đoạn nhẫn nữa, nghe là biết thôi, nhưng là biết chuyện tầm thường, biết chuyện phàm phu cho nên gọi là thế tục trí. Biết chuyện trong cái vòng hữu lậu cho nên gọi là thế tục trí, chứ không phải so nơi cái khổ Pháp trí, khổ Pháp loại trí được, Tận trí vô sanh được, chứ đừng nghe nói trí trí mà so sánh trí phàm phu cũng như Phật hay sao? Không phải.]
Chỉ có trí vô lậu của Thánh ở địa vị kiến đạo bắt đầu thấy lý Tứ đế mới gọi là nhẫn. [Mà nếu không nhẫn này thì không đi vào kiến đạo được.] Và trong các hữu lậu tuệ gồm có cả sáu kiến là năm thứ kiến ô nhiễm như thân, biên, tà, kiến, giới, cộng với một thứ chính kiến hữu lậu, chúng đều có tính suy đạt tìm cầu, nên chúng cũng thuộc về kiến.
[Cái ngũ tà kiến, ngũ ô nhiễm kiến và thế gian chánh kiến (ngũ tà kiến, thế gian chánh kiến, hữu học chánh kiến, vô học chánh kiến). Giờ đây ngũ tà kiến là một, thế gian chánh kiến là hai, tức nhiên là chánh kiến thế gian. Sao gọi là thế gian chánh kiến? Thấy được lý nhân quả của thế gian nên kêu chánh kiến. Chánh kiến nhưng mà chánh kiến trong vòng hữu lậu gọi là thế gian chánh kiến, cái đó cũng gọi là kiến.]
Luận Bà-sa 44 nói:” Hỏi: Các vô lậu nhẫn (chỉ tám nhẫn) tại sao không phải trí? Đáp: Đối với lý Tứ đế chưa từng thấy nay mới bắt đầu thấy, bắt đầu nhẫn (chấp nhận chứ không chống đối hay thấy ngược lại) chứ chưa quán sát kỹ càng nhiều lần. Cần phải cùng loại liên tục quán sát lý Tứ đế nhiều lần đến thuần thục, mới gọi là trí”.
[Cùng loại liên tục là cùng loại thấy Tứ đế, cùng loại đó liên tục mà quán sát, chứ không phải bữa nay anh thấy lý Tứ đế quán lý Tứ đế, mai anh ra thấy cái hoa đẹp anh quán cái hoa đẹp không phải cùng loại liên tục.]
[Mười trí sai biệt nói tổng quát là gì? 1. Thế tục trí, 2. Phát trí, 3. Loại trí, 4. Khổ trí, 5. Tập trí, 6. Diệt trí, 7. Đạo trí, 8. Tận trí, 9. Vô sanh trí, 10. Tha tâm trí.]
Trí tuệ gồm có hai loại: Trí hữu lậu và vô lậu. Trí hữu lậu là trí còn mang tính chất phiền não hữu lậu xấu xa, không có khả năng dứt các phiền não (hoặc) mê lý mà chỉ là thứ trí tuệ phổ thông biết đến những cảnh vật thế tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên cũng gọi là trí thế tục. biết đến những cảnh vật thế tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên cũng gọi là trí thế tục.
[Sao gọi Thế tục trí? Có hai nghĩa nên gọi thế tục trí. Là cái trí biết thông thường, còn trong hữu lậu gọi thế tục trí. Hai nữa là cái trí đó còn bị đối trị (nghĩa là còn bị cái trí cao hơn đối trị) nên kêu hữu lậu trí hay kêu thế tục trí (còn bị đối trị kêu thế tục trí), biết đến những cảnh vật thế tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên cũng gọi là trí thế tục.]
Trái lại trí vô lậu là trí tuẹ thanh tịnh, không nhơ bẩn ngoài mọi thứ phiền não xấu xa. Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên.
Loại trí là trí cùng loại tương tự với Pháp trí, có khả năng biết lý Tứ đế của hai cõi trên ngang qua lý Tứ đế của cõi Dục, hoặc nói cách khác là biết lý Tứ đế của hai cõi trên theo cách loại suy với trí biết lý Tứ đế của cõi Dục, do đó có khả năng dứt mọi phiền não do mê lý Tứ đế của hai cõi trên khởi lên. Từ Pháp trí và Loại trí lại cùng hai trí trong hai cách quán lý Tứ đế, và quán mỗi đế thì thành mỗi trí nên phát sinh ra 4 trí nữa là Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Đạo trí chúng có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên. Từ sáu trí là Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo thuộc Hữu học vị trên đây tiến lên tại Vô học vị phát khởi hai trí là Tận trí và Vô sanh trí. Bậc Thánh giả vô học tự biết rằng: ta đã biết Khổ, ta đã dứt Tập, ta đã chứng Diệt, ta đã tu Đạo( ngã dĩ tri Khổ, ngã dĩ đoạn Tập, ngã dĩ chứng Diệt, ngã dĩ tu Đạo), đó gọi là Tận trí, tức là trí biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế.
[Mỗi đế có 4 cái gộp chung 16 hành tướng, 16 hành tướng đó đến đây đã nói hết rồi, không còn gì phải biết nữa, không còn gì phải tu nữa, không còn gì phải vứt nữa, không còn gì phải chứng nữa nên gọi là tận trí.]
Nói cách khác, ngay trong khi dứt hết tư hoặc phẩm thứ chín của cõi Hữu đảnh (chót cõi trời Vô sắc) thì tất cả mọi phiền não của ba cõi đều tiêu sạch, bước lên địa vị Vô
học, và phát khởi sáu trí Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo, đấy gọi là Tận trí. Vô sinh trí là đối với tác dụng biết, dứt, chứng, tu, thành được phi trạch diệt. [Phi trạch diệt là sao? Không cần phải dùng trí tuệ để lựa chọn dứt trừ nữa cho nên gọi là phi trạch diệt. Còn trạch diệt là cần dùng đến trí tuệ lựa chọn để dứt trừ nên kêu trạch diệt. Thành tận trí là thuộc về trạch diệt vô vị. Vì trạch diệt mà còn vô sanh trí thuộc về phi trạch diệt, nghĩa là sao?] Phi trạch diệt không cần dùng trí tuệ mà nó tự diệt kêu phi trạch diệt, gọi là vô sinh. Trí quán thấy được lý vô sinh đó, gọi là vô sinh trí. Nói cách khác, bậc Thánh vô học sau khi đã biết: ta đã biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo; bây giờ còn biết thêm: ta đã biết Khổ, không còn phải biết nữa; ta đã dứt Tập, không còn phải dứt nữa; ta đã chứng Diệt, không còn phải chứng nữa; ta đã tu Đạo, không còn phải tu nữa.
[Sau này nó có thêm một cái nữa, chứ trước đó là ta đã dứt Khổ chứ chưa có cái là không còn phải dứt nữa, không thêm câu thứ hai nữa. Ta đã biết Khổ không còn phải biết nữa, trước ta đã biết Khổ chứ chưa có câu thứ hai là không còn phải biết nữa. Ta đã dứt Tập, chỉ ngang chừng nấy, tới đây thêm một câu nữa, không còn phải dứt nữa, Trước là Tận trí ta đã chứng diệt chứ bây giờ thêm một câu nữa, không còn phải chứng nữa, trước ta đã tu đạo bây giờ thêm một câu nữa không còn phải tu nữa. Cái câu không còn phải biết, không còn phải dứt, không còn phải chứng, không còn phải tu, đó là thuộc phi trạch diệt, thuộc vô sánh trí cứ trước mới biết ta đã dứt Khổ, biết ngang chừng nấy thôi. Bây giờ biết một cách trọn vẹn hơn là không còn phải dứt nữa, quyết đoán như vậy. Cái tận trí vô sanh trí này nó tương đương như bên kia giải thoát và giải thoát tri kiến để mà hiểu qua chữ bên đó.]
Cái trí tuệ có được nhờ biết rõ hành tướng vô sinh (không còn biết, dứt, chứng, tu nữa) đó, gọi là vô sinh trí. Tuy nhiên bậc Vô học A-la-hán có hạng độn căn, có hạng lợi căn. Hạng độn căn còn bị thối thất, không thể phát khởi vô sinh trí, hạng lợi căn bất động tính, không còn bị thối thất mới có thể phát khởi vô sinh trí.
Ngoài chín trí (trí thế tục, pháp, loại, khổ, tập, diệt, đạo, tận, vô sinh) nói trên, còn có tha tâm trí là trí biết tâm niệm kẻ khác, được thành tựu do bốn trí: pháp trí, loại trí, đạo trí (vô lậu) và thế tục trí (hữu lậu) nói trên. Tuy biết tâm niệm kẻ khác, nhưng tâm niệm kẻ khác ở trong cấp bực đồng loại mà thôi.Vì vậy tha tâm trí ở bậc dưới không thể biết tâm niệm kẻ ở bậc trên, tha tâm trí của kẻ độn căn không thể biết tâm niệm của kẻ lợi căn, chỉ biết tâm niệm hiện tại chứ không thể biêt tâm niệm quá khứ vị lai, và tha tâm trí thuộc pháp trí không biết được loại trí, loại trí không biết pháp trí. Ví như hai người ở cùng một chỗ, một người trông trời, một người ngó đất, hai người hướng đến hai nẻo, không thể thấy mặt nhau.
Tóm lại, trừ hai trí hữu lậu và vô lậu mà tuần tự phải chia nó ra mười trí: thế tục trí, pháp trí, loại trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tha tâm trí, tận trí, vô sinh trí. Mười trí này bao gồm tất cả trí.
Hỏi: Tại sao hữu lậu trí, vô lậu trí lại chia ra mười trí?
Đáp: “Do bảy duyên cớ, lập hai làm mười. Bảy duyên cớ là:
1. Do tự tính nên lập thế tục trí. Vì thế tục trí là pháp hữu lậu thế tục không thể lấy trí thắng nghĩa vô lậu làm tự tính của nó.
2. Do đối trị mà lập ra pháp trí, loại trí. Vì hai trí này có khả năng đối trị phiền não của cõi Dục và hai cõi trên.
3. Do hành tướng khác biệt lập ra khổ trí, tập trí. Vì cảnh sở duyên của hai trí này là tướng nhân quả của thế gian tuy không khác biệt, nhưng hành tướng năng duyên của hai trí lại không đồng nhau. Với trí duyên Khổ đế thì có bốn hành tướng phi thường, khổ, không, phi ngã. Với trí duyên Tập đế thì có bốn hành tướng: nhân, tập, sinh, duyên; nên phải lập hai trí khác nhau.
4. Do hành tướng và cảnh lập ra diệt trí, đạo trí. Vì về hành tướng năng duyên của hai trí này không đồng nhau. Với trí duyên Diệt đế thì có bốn hành tướng: diệt, tịnh, diệu, ly. Với trí duyên Đạo đế thì có bốn hành tướng: đạo, như, hành, xuất; nên lập ra hai trí riêng nhau.
5. Do gia hạnh mà lập ra tha tâm trí. Vì tha tâm không phải chỉ biết tha tâm mà không biết tâm sở kẻ khác, chẳng qua lúc tu gia hạnh mục đích chỉ muốn tha tâm, nhưng đến lúc gia hạnh thành tựu cuũng biết luôn tâm sở người khác. Như vậy theo lẽ trí này còn có thể gọi là trí tha tâm sở, nhưng đây chỉ căn cứ lúc tu gia hạnh nên chỉ gọi là tha tâm trí.
6. Do việc đã thành biệt lập ra tận trí, vì với bậc Thánh vô học còn được xưng là việc cần làm đã làm xong (sở tác dĩ biện) tức là làm xong việc biết Khổ, dứt Tập,
chứng Diệt, tu Đạo, và tất cả sự nghiệp cần làm để đưa đến giải thoát đạo. Trí này là trí khởi lên đầu tiên của bậc vô học.
7. Do nhân viên mãn lập ra vô sanh trí, vì vô sanh trí là tột đỉnh trong tất cả trí, nó cũng đồng loại với tất cả Thánh đạo, gồm kiến đạo, tu đạo, vô học đạo, tận trí mà được phát sinh. Tận trí phát sinh, tuy lấy Thánh đạo gồm kiến đạo, tu đạo làm nhân, nhưng chưa lấy vô học làm nhân, nên với tận trí không gọi là do nhân viên mãn. Vô sinh trí lấy cả vô học Thánh đạo làm nhân nên gọi là do nhân viên mãn, tức do vô học Thánh đạo là cái nhân viên mãn cho vô sinh trí được phát sinh.
Tiết 3: HÀNH TƯỚNG CỦA MƯỜI TRÍ
Trong mười trí, pháp trí duyên Tứ đế của cõi Dục hiện ra 16 hành tướng, loại trí duyên Tứ đế của hai cõi trên cũng hiện ra 16 hành tướng. 16 hành tướng như đã nói ở trong phẩm Hiền Thánh. Trí thế tục duyên khắp tất cả pháp môn nó vừa hiện ra 16 hành tướng lại vừa có cả hành tướng, tự tướng, cộng tướng.
[Tự tướng là tướng riêng, cọng tướng là tướng chung. Tỷ dụ mỗi cái mỗi cái nó có một cái hành tướng riêng gọi là tướng. Anh có hành tướng riêng của anh, anh này có hành tướng riêng của anh này, anh kia có cái hành tướng riêng của anh kia cho nên anh này mặt khác anh kia mặt khác. Đó là tự tướng. Nhưng khi nói về sanh, lão, bịnh, tử thì đã có sanh rồi thì phải có chết, anh này đã có sanh rồi thì có chết, anh kia có sanh rồi thì có chết giống như nhau, không ai hơn ai hết, đó là cọng tướng
(tướng chung). Cũng như nói sắc thân tứ đại tuy có ông lớn ông nhỏ, ông béo ông gầy, ông đen ông trắng khác nhau, nhưng nói chung lại đem tứ đại ra cân thì anh nào cũng y như nhau hết, chứ anh đen có thêm một đại và anh trắng bớt đi một địa không, không có việc đó, đó là cọng tướng. Khi nghĩ đến cọng tướng như vậy tức nhiên nó sẽ được hòa thuận nhiều hơn là đánh lộn.]
Chẳng hạn như ở noãn, đỉnh, nhẫn vị, đối với Tứ đế tu 16 hành tướng, lên đến thượng phẩm nhẫn và thế đệ nhất vị thì chỉ tu quán một hành tướng khổ của Khổ đế. Ở vị ngũ đình tâm, biệt tướng niệm trú, tổng tướng niệm trú thì quán cả tự tướng và cộng tướng các pháp. Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, thì chỉ quán bốn hành tướng theo mỗi đế riêng của mình. Tha tâm trí, nếu thuộc vô lậu thì nhiếp vào đạo đế duyên quán bốn hành tướng của Đạo đế; nếu thuộc tính hữu lậu thì chỉ duyên đến tự tướng riêng của tâm hoặc tâm sở mà thôi. Còn tận trí và vô sinh trí thì trong 16 hành tướng, trừ hai hành tướng không và vô ngã, còn lại 14 hành tướng (ảnh tượng năng duyên). Vì sao? Vì sau khi khởi lên tận trí vô sinh trí quán lý Tứ đế, tức đã bước vào hậu đắc trí với sự chứng ngộ theo hai hành tướng, vô thường, khổ của Khổ đế mà nói như vậy: sự sinh tử của ta đã chấm dứt (ngã sinh dĩ tận); duyên theo bốn hành tướng của Đạo đế mà nói như vậy: phạm hạnh đã thành lập vững chắc trọn vẹn (phạm hạnh dĩ lập); duyên theo bốn hành tướng của Diệt đế mà nói như vầy: việc cần làm đã làm xong (sở tác dĩ biện); [cho nên 4 câu đó trong Nikaya là 4 câu để chứng tỏ rằng đã lên đến bậc vô học, tận trí vô sanh trí đây – 4 câu đó mỗi câu duyên mỗi đế, có 4 câu khác nhau] duyên theo bốn
hành tướng của Tập đế mà nói như vầy: không còn chịu thân sau (bất thọ hậu hữu). Chữ Ta trong câu “sự sinh tử của ta đã chấm dứt”, nó thuộc về thế tục, trái hẳn với hành tướng không và vô ngã, nên ở trong quán trí lúc bấy giờ không có hai hành tướng không và vô ngã, chỉ khởi lên hai hành tướng vô thường và khổ.
Hỏi: “Hành tướng vô ngã trái hẳn với ngã, nên không khởi lúc đó, còn hành tướng “không” đâu có trái hẳn với ngã mà lúc đó cũng không khởi lên?” [Bởi vì lúc đó nói rằng sự sanh tử của ta đã chấm dứt, đã có ta làm sao không có hành tướng không? Vậy hành tướng không vẫn có sao lại không có?]
Đáp: Hành tướng “không” vốn để đối trị kiến chấp ngã sở, hành tướng vô ngã vốn để đối trị kiến chấp ngã. Kiến chấp ngã và kiến chấp ngã sở tuy khác nhau, nhưng đồng lấy ngã làm tự thể. Vì vậy trong quán trí lậu tận trí vô sinh trí phát khởi, không có hai hành tướng không và vô ngã.
Hỏi: Trí tuệ quán lý Tứ đế với 16 hành tướng, sao gọi là hành tướng?
Tụng đáp: “Hành tướng hữu thập lục, thử thể duy thị tuệ”. Nghĩa là hành tướng thật sự có mười sáu tự thể của nó chỉ là tuệ. Theo đây, tuệ là tự thể của mười sáu hành tướng, nhân vì tuệ trong khi quán cảnh lý Tứ đế phát hiện ra các hành tướng đó.
[Sở dĩ có hành tướng đó là nhờ huệ phát hiện nó ra chứ còn lấy con mắt phàm phu mà ngó thì không có hành tướng đó. Cái
trí thế tục mà ngó thì không thấy các hành tướng đó, mà lắng cái huệ để quán sát thì thấy 4 cái hành tướng đó của mỗi đế.]
Và chỉ tuệ có khả năng giản trạch nên những ảnh tượng do khả năng giản trạch của tuệ mà có đó, được gọi là hành tướng. Còn sự hiểu biết của tâm tâm sở khác không có khả năng giản trạch, không được gọi là hành tướng. Thành Duy Thức Lược Sớ nói: “ Hữu thật ngoại cảnh vi sở duyên cảnh, dĩ ảnh tượng vi hành tướng, năng duyên tâm vi sự, tuy lập ảnh tượng thuộc chi năng duyên”. Nghĩa là thật có ngoại cảnh làm cảnh sở duyên, lấy ảnh tượng làm hành tướng, tâm năng duyên làm sự thể (tự thể), tuy lập ra ảnh tượng nhưng nó thuộc về năng duyên (chứ không thuộc cảnh sở duyên). [Thành thử cái hành tướng này thuộc về năng duyên chứ không thuộc về sở duyên. Đừng có hiểu lầm cái pháp nào cũng có hành tướng. Nó thuộc năng duyên chứ không thuộc sở duyên.]
Như vậy mười sáu hành tướng của Tứ đế là 16 ảnh tượng do tuệ quán sát, giản trạch mà phát hiện, nên gọi là hành tướng năng duyên. Lại Câu-xá Tụng Ký nói: “Ngôn sở hành cảnh tướng hữu biệt giả: Khổ Thánh đế hữu tứ hành tướng v.v...” Vậy thì cảnh tướng sở hành tức là sở duyên cũng gọi là hành tướng. Tu mười sáu hành tướng để đối trị mười sáu bệnh vọng chấp. Quán bốn hành tướng vô thường, khổ, vô ngã của Khổ đế đối trị bốn vọng chấp là chấp thường, chấp lạc, chấp ngã sở (các sở hữu của ta), chấp ngã. Quán bốn hành tướng nhân, tập, sinh, duyên của Tập đế để đối trị bốn vọng chấp của ngoại đạo là vô nhân luận, nhất nhân luận, thường nhân luận, năng sinh luận. Quán bốn hành
tướng diệt, tịnh, diệu, ly của Diệt đế để đối trị bốn vọng chấp sinh cõi trời Tự tại là Niết-bàn, tự thể sẳn giải thoát, Niết-bàn là hoại diệt như bị bùa chú, giải thoát rồi vẫn sanh tử. Quán bốn hành tướng đạo, như, hành, xuất của Đạo đế để đối trị bốn vọng chấp là không có đạo giải thoát, khổ hạnh là chính đạo giải thoát, không tu đạo mà vẫn thanh tịnh và chấp Thánh đạo không có khả năng giải thoát.
Tiết IV: CÁC ĐỊA VỊ THÀNH TỰU TRÍ TUỆ
NHIỀU ÍT KHÁC NHAU
1. Từ phàm phu đến các hành giả Tam hiền (ngũ đình tâm, biệt tướng niệm, tổng tướng niệm), Tứ thiện căn (noãn, đỉnh, nhẫn, thế đệ nhất), và vị Thánh giả mới bắt đấu sinh khởi tâm khổ pháp trí nhẫn trong 15 tâm thuộc Kiến đạo vị, tất cả chỉ thành tưụ một trí là trí thế tục. Vị Thánh ở Kiến đạo vị mới khởi sinh đầu tiên tâm khổ pháp trí nhẫn, tâm này tuy là vô lậu song chỉ mới là nhẫn mà không phải trí. Nên trong mười trí, vị Thánh này cũng chỉ mới thành tựu được trí thế tục.
2. Vị Thánh ở Kiến đạo vị, khi khởi sinh tâm thứ hai tức là khổ pháp trí, thì thành tựu được ba trí, đó là thế tục trí, pháp trí, khổ trí. Ở đây pháp trí, khổ trí cùng một thể, nhưng đối tượng khác nhau nên chia làm hai.
3. Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi sinh tâm thứ tư là khổ loại trí, thời thành tựu được bốn trí, đó là tha tâm trí, pháp trí, khổ trí, loại trí.
4. Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ sáu là tập pháp trí thời thành tựu được năm trí đó là thế tục trí, khổ trí, tập trí, loại trí.
5. Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ mười là diệt pháp trí, thời thành tựu được sáu trí, đó là cộng thêm diệt trí vào năm trí vừa nêu trên.
6. Vị Thánh ở Kiến đạo vị khi khởi sinh tâm thứ mười bốn là đạo pháp trí, thời thành tựu được bảy trí, đó là cộng thêm đạo trí vào sáu trí vừa nêu. Những địa vị Thánh nêu trên đều ở Kiến đạo.
7. Vị Thánh ở Tu đạo vị khi chưa hoàn thành dứt hết tu hoặc cõi Dục cũng thành tựu được bảy trí, đó là thế tục trí, pháp trí, khổ trí, loại trí, tập trí, diệt trí, đạo trí. Nếu ở địa vị phàm phu đoạn trừ tu hoặc cõi Dục mà được vào Kiến đạo thì được thành tựu tha tâm trí.
8. Vị Thánh hoàn toàn dứt hết tư hoặc cõi Dục thời thành tựu được tám trí, đó cộng thêm tha tâm trí vào bảy trí vừa nêu. Hai bậc Thánh ở số 7, 8 thuộc tu đạo.
9. Vị Thánh độn căn thời giải thoát vô học đạo, thành tựu được chín trí, đó là trong mười trí trừ vô sinh trí.
10. Vị Thánh lợi căn bất thời giải thoát ở vô học vị thành tựu đủ cả mười trí. VÌ vô sinh trí là tột đỉnh trong mười trí. Bắt đầu từ thế tục trí theo thiện pháp hữu lậu thế gian, lần lần tu tập phát sinh vô lậu khổ pháp trí nhẫn cuối cùng mới phát sinh vô sinh trí. Cho nên vô sinh trí ở học vị chỉ có bậc A-la-hán lợi căn bất thời giải thoát mới thành đạt được.
Đoạn 2. Công đức do trí thành đạt (gồm hai tiết)
Tiết I: Công đức đặc biệt (bất cộng)
Tiết này nói đến công đức do trí thành được gồm có hai loại.
a. Công đức đặc biệt không chung cùng.
b. Công đức phổ thông chung cùng.
Công đức của Phật là đặc biệt, các vị thánh khác và phàm phu không chung cùng có được, nên gọi là bất cọng. Công đức bất cọng có 18 thứ: 10 lực, 4 vô úy, 3 niệm trụ và Đại bi tâm.
Mười lực: Lực nghĩa là trí thể chứng vững chắc không còn bị lay chuyển.
[Trí đã thành rồi, trí một cách vững chắc, không bị lay chuyển đó là lực, cũng như ngũ căn, ngũ lực, tín, tấn, niệm, định, huệ cũng nó mà trong ngũ lực cũng nó, nhưng lực nó có sức mạnh hơn không lay chuyển, chữ lực đây cũng vậy.]
1/ Xứ phi xứ trí lực: Xứ có nghĩa là hợp đạo lý, phi xứ có nghĩa là phi hợp đạo lý: Trí tuệ Phật mà thật thể là mười trí vừa nói trên biết rõ việc gì hợp lý, không hợp lý.
[Tỷ dụ như nói rằng tu cái nhơn vô lậu thì được chứng quả giải thoát vô lậu, nói vậy là hợp lý. Còn nói anh tu cho mệt đi nữa đến khi chết cũng làm ma như tôi, nói như vậy là phi đạo lý. Xứ phi xứ là vậy.]
2/ Nghiệp báo trí lực: Trí biết rõ nghiệp nhân như vậỵ sẽ cảm quả báo như vậy. Trí này lấy tám trí trong mười trí trên làm thể (10 trí trừ diệt trí, đạo trí còn 8), [biết chúng sinh tạo nhơn như vậy thì nghiệp quả như vậy.]
3/ Tịnh lự giải thoát đẳng trí lực: Trí biết đúng thật về các thiền định giải thoát, nó lấy chín trí trong mười trí làm thể (10 trí trừ diệt trí còn 9).
[Nghĩa là 10 cái lực này lấy 10 trí trên làm thể, hoặc lấy cái trí này hoặc lấy trí khác, khác nhau như Thập lực (học rồi). Nhưng giờ tôi xin hỏi các vị một chuyện trong thập lực có túc trú trí lực là gì? Rồi Túc mạng trí, Sanh tử trí lực? Ở chỗ khác gọi là Thiên nhãn thông, Lậu tận thông, tức Lậu tận minh. Vậy thì trong ngũ thông, trong lục thông ta gọi là gì? Là Thiên nhãn thông, Thiên nhĩ thông, Thần túc thông, Tha tâm thông, Túc mạng thông là Lậu tận thông. Trong lục thông cũng có Túc mạng thông, rồi cũng có Thiên nhãn thông, rồi cũng có Lậu tận thông. Vậy người chứng lục thông cũng có 3 cái thông đó. Còn đức Phật dưới cội Bồ - đề, ngài nói chứng tam minh cũng chứng 3 cái đó có khác chi nhau. Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh nó khác chi nhau? Khác không? Không khác à? Vậy đức Phật cũng như tôi, có lục thông rồi, tôi có 3 thứ đó. Thông chứ chưa minh, giữa thông và minh cắt nghĩa ra làm sao?
Trí Độ luận quyển 2 nói: Trực tri túc mạng sự danh thông – Biết chẳng biết ngay cái Túc mạng như vậy gọi là thông. Tri quá nhơn duyên hành nghiệp danh minh – Biết cái nhơn duyên hành nghiệp làm như thế nào, biết đời trước mình làm ông nọ ông kia, đời trước nữa làm bà nọ bà kia, đó gọi là minh. Trực tri tử thử sanh bỉ danh thông. Biết thẳng về cái việc chết đây sanh đó, biết
cái lý do vì sao sanh, nguyên nhân sao mà sanh? Hạnh nhân sao mà lại chết đây sanh đó. Đó gọi là minh. Trực tận kiết sử bất tri cánh sanh bất sanh – nghĩa là biết biết sử hết nhưng không biết còn sanh nữa hay không sanh nữa, biết ngang chừng đó rồi thôi, chứ không biết có sanh nữa không? Mù mịt. Như vậy thì gọi là thông, biết nó hết rồi và biết chắc chắn không sanh nữa.]
4/ Căn thượng hạ trí lực: Trí biết rõ căn tánh cao thấp chúng sinh như ngũ căn, ngũ lực v.v... Trí này lấy chín trí làm thể ( 10 trí trừ diệt trí còn 9 ).
5/ Chủng chủng thắng giải trí lực: Trí biết rõ tâm niệm mừng vui, quyết đoán của chúng sinh. Nó lấy chín trí làm thể (10 trí trừ diệt trí còn 9).
6/ Chủng chủng giới trí lực: Trí biết mọi tính loại sai khác của chúng sinh. Nó lấy chín trí làm thể (10 trí trừ diệt trí còn 9).
7/ Biến thủ hành trí lực: Tất cả các pháp hành đều đưa đến quả, chỉ Phật mới biết rõ. Trí này lấy chín trí hoặc mười trí làm thể nếu là duyên theo cảnh đưa đến hoặc bị đưa đến.
8/ Túc trú tùy niệm trí lực: Trí biết rõ những đời quá khứ của mình.
9/ Túc trú sinh tử trí lực: Trí biết rõ chúng sinh chết chổ này sanh chổ nọ, lấy túc trí làm thể.
Lậu tận trí lực: Trí chứng nhập Niết - bàn trạch diệt. Nó lấy sáu trí làm thể (10 trí trừ 4 trí khổ, tập, đạo, tha tâm) hoặc mười trí làm thể, nếu duyên cảnh lậu tận hoặc thành đạt ngay trong thân lậu tận. Mười trí trên đều gọi là lực, vì đối tất cả mọi điều Phật đều biết một cách rõ ràng,
tự tại không bị ngăn ngại. Vì Phật đã dứt sạch mọi tập khí phiền não nên đối với điều gì Phật muốn biết là biết rõ. Do đó gọi là lực.
Bốn vô úy: Chính đẳng giác vô úy (như lực đầu trong mười lực), lậu tận vô úy (như lực 10), nói pháp chướng đạo vô úy (như lực 7), nói pháp diệt tận khổ vô úy (như lực 7).
Khi Phật tuyên bố việc này, nếu ai vấn nạn, Phật đều giải thích không chút sợ sệt, bởi Phật trọn đủ mười trí mà được.
Ba niệm trụ: Phật luôn an niệm chánh niệm chánh tri, khi duyên cảnh thuận không sinh tâm hoan hỷ, khi duyên cảnh nghịch không sinh tâm lo buồn, khi duyên cảnh không thuận không nghịch không sinh tâm hoan hỷ và lo buồn. Ba niệm trụ này đều lấy niệm và tuệ làm thể. Nó thuộc xứ phi xứ trí lực.
[Trong sự giải thích ta nói rõ gặp cảnh thuận nghịch là cảnh gì? Là cảnh khi đức Phật thuyết pháp mà hàng đệ tử chăm chỉ nghe, chăm chỉ tu hành, Phật cũng an niệm trong chánh định, chánh trí chứ không phải vì cái đó mà Phật sinh cái tâm vui mừng. Mà nếu trong khi thuyết pháp mà các hàng đệ tử lơ là, không nghe, hoặc không có tâm cung kính với Phật thì Phật cũng an niệm trong chánh niệm, chánh trí, chứ không vì vậy mà sanh cái tâm buồn, đối với cảnh trung dung cũng như thế, nên gọi đó là tam niêm.]
Đại bi: Trong đây Đại bi khác với bi. Đại bi lấy trí thế tục làm thể, vì nó duyên đến chúng sinh đau khổ trong ba cõi khởi lên.
[Đó là chỗ học cần suy nghĩ. Như vậy, khi đức Phật hiện sanh ra cõi thế gian này thuyết pháp cho chúng ta là người lấy cái đại bi tâm, mà đại bi tâm lấy cái thế tục trí làm thể. Nghĩa là cái trí duyên cảnh thế tục, chứ không phải duyên cái cảnh tự giác thánh trí của Phật. Trong cảnh thánh trí tự giác của Phật có ông nào tham, đâu có. Có ông nào đập lộn, đâu có. Có ông nào móc túi, đâu có. Đó là cảnh thế tục thì Phật duyên nơi cảnh thế tục, căn cơ của chúng sinh đó để thuyết giáp cho chúng sinh. Cho nên đây lấy thế tục trí làm thể. Nhưng lẽ tất nhiên thế tục trí này là hậu đắc trí, hậu đắc thế tục trí chứ không phải tục trí như phàm phu. Phàm phu như mình thì không ra cái nghĩa đại bi. Mà đây là đại bi của Phật thôi, chứ còn đây mình nói duyên cái cảnh khổ chúng sinh thì mình cũng thế tục trí thì đâu gọi đại bi được.]
Đủ năm nghĩa sau đây nên gọi là đại:
1. Tư lương đại: Nhờ đại phước đức, đại trí tuệ làm tư lương mới thành được.
2. Hành tướng đại: Vì có năng lực dứt ba khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) cho chúng sinh.
3. Sở duyên đại: Duyên khắp tất cả chúng sinh trong ba cõi.
4. Bình đẳng đại: Làm lợi ích tất cả chúng sinh không phân biệt thân sơ.
5. Thượng phẩm đại: Ở phẩm bậc cao nhất không còn tâm bi sánh bằng. Nên đem đại bi tâm này so sánh với bi tâm khác có tám sự bất đồng.
5.1.Tự tính bất đồng, đại bi lấy không si, tức trí tuệ làm thể, còn bi lấy không sân làm thể.
5.2. Hành tướng bất đồng, đại bi dứt được ba khổ, còn bi chỉ dứt được khổ khổ.
5.3 Sở duyên bất đồng, đại bi duyên khắp ba cõi, còn bi chỉ riêng cõi Dục.
5.4. Y tha bất đồng, đại bi nương nơi đệ tứ thiền, còn bi nương nơi cả bốn thiền.
5.5. Y thân bất đồng, đại bi nương nơi Phật thân, còn bi nương nơi thân nhị thừa.
5.6. Chứng đắc bất đồng, đại bi do lìa khỏi lậu hoặc cõi Hữu đỉnh mà chứng đắc, còn bi do lìa khỏi lậu hoặc ở cõi Dục mà chứng đắc.
5.7. Cứu tế bất đồng, đại bi thành tựu việc cứu tế thật sự, còn bi chỉ hy vọng làm việc cứu tế.
5.8. Ai mẫn bất đồng, đại bi thương xót bình đẳng cùng khắp, còn bi chỉ cưú giúp được nỗi khổ ở cõi Dục.
Mười tám pháp trên chỉ Phật có được sau khi Ngài đạt được tận trí thành đạo, chứ không ai có được, cho nên nói là bất cọng, không chung.
Tiết 2: Công đức (Công đức chung)
Trong công đức chung này có thứ chung với hàng Thánh, có thứ chung với phàm phu. Nghĩa là Phật có công đức này thì hàng Thánh và phàm phu cũng đều có được. Có ba thứ chung với hàng Thánh Thanh văn:
1. Hạnh vô tránh, lấy tục trí làm thể. Đây là cái hạnh khiến kẻ khác không vì duyên với thân mình mà sinh lòng tham giận v.v... Hàng Thánh vô học quán thấy chúng sinh bị khổ là do phiền não, rồi tự nhìn lại thân ta đã ở hàng phước điền tối thắng, thế mà nếu có kẻ khác duyên vào thân ta sinh phiền não tham, giận v.v... thì đó là điều thật đáng đau xót. Nhờ suy nghĩ như vậy phát sinh trí tuệ duyên vô tránh. Khi trí này phát sinh thì khiến cho kẻ khác không còn duyên nơi thân mình sinh ra tham, giận nữa.
2. Nguyện trí: Trước có nguyện sau mới dẫn sinh ra diệu trí. Khi vị Bất động A-la-hán muốn phát khởi nguyện trí này, thì trước phát lòng thành khẩn mong muốn biết đến cảnh giới cần biết, rồi tiếp tục cố gắng thuận nghịch ra vào bốn thiền, bốn Vô sắc định nhờ đó dẫn sinh thánh trí đúng như sở nguyện, đối với cảnh giới cần biết, thì biết được rõ ràng, đúng như thật.
Bốn vô ngại giải: Pháp vô ngại giải, hiểu một cách quyết đoán, về ngôn giáo năng thuyên; nghĩa vô ngại giải, hiểu một cách quyết đoán về nghĩa lý sở thuyên. Từ vô ngại giải, hiểu một cách quyết đoán về các loại ngôn từ cú pháp; biện vô ngại giải, hiểu một cách quyết đoán những ngôn thuyết phù hợp chính lý định tuệ khởi lên ngôn thuyết đó. Bốn vô ngại giải cũng lấy trí làm thể.
Ba công đức trên trong hàng Thanh văn cũng có, nhưng không rốt ráo thanh tịnh bằng Phật.
Những công đức mà hàng phàm phu cùng có được như Phật là sáu thông, bốn tịnh lự, bốn vô sắc, tám đẳng chỉ, ba
tam ma địa, bốn vô lượng tâm, tám giải thóat, tám thắng xứ, mười biến xứ v.v...
Tóm lại, nguyên nhân của giác ngộ không ngoài những trí có khả năng thành tựu và những công đức được thành tựu từ trí. Như vậy trí tuệ đối với kết quả giác ngộ thật là chính yếu. Trí tuệ do từ sức gia hạnh hữu lậu dần dần phát đạt cho đến tận trí vô sinh trí, bèn chứng được các Thánh vị trong bốn hướng, bốn quả, cho nên nói trí tuệ là nguyên nhân gần của Thánh vị giác ngộ.