KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN BÁ KINH A-HÀM
I. Nguồn gốc
Tất cả kinh điển Phật giáo, dù là Đại thừa hay Tiểu thừa, Nam truyền hay Bắc truyền, đều có chung một nguồn gốc là lưu xuất từ kim khẩu, từ trí tuệ giác ngộ và giải thoát của Đức Thế Tôn. Cuộc đời của Đức Phật gắn liền với sự nghiệp giáo dục hoang pháp suốt 49 năm, cho đến khi Niết-bàn, Ngài vẫn ân cần di giáo các Tỳ-kheo và còn ân cần hỏi han các thầy có chỗ nào chưa hiểu về giáo pháp hay không. Những bài pháp thoại ấy được các thầy Tỳ- kheo học thuộc lòng và trì tụng mỗi ngày. Đó chính là Kinh tạng.
Khoảng bốn tháng sau khi Phật Niết-bàn, Đại đệ từ Ca-diếp (Mahã-kãáyapa) sợ ràng nhũng pháp thoại và giới luật Phật đã chế định sẽ bị quên mất và mai một dần, nên ngài liền nghĩ đến việc cần phải kết tập pháp tạng để cho Chánh pháp trụ ở đời làm lợi ích chúng sanh. Bấy giờ, Tôn giả Ca-diếp bèn mời vua A-xà-thế (Ạịãtasatru) làm đàn việt, tiến hành kết tập kinh điển vào ngày 27 tháng 6 tại hang Tất-ba-la (Sapta-parna-guhã), ngoại ô thành Vương-xá (Rãjagrha), với sự tham dự cùa 500 vị A-la-hán. Ngài Ca-diếp làm Thượng thủ, trước tiên mời ngài Ưu-ba-ly (Upãli) kết tập Luật tạng, tụng đi tụng lại đến 80 lần, sau này biên tập thành Luật Bát Thập Tụng. Kế đó, mời ngài A-nan (Ãnanda) kết tập Kinh tạng, sau này biên tập thành các
bộ A-hàm. Những sách như Tứ phần luật 54, Di-sa-tắc Ngũ phần luật 30, Ma-ha Tăng-kỳ luật 32, Thiện kiến luật 1, v.v... đều ghi nhận kinh A-hàm được hình thành thành bốn bộ [1] từ đó.
II. Tên gọi
Vì sao những lời Phật dạy sau khi được kết tập lại gọi là A-hàm? Căn cứ vào bài tựa kinh Trường A-hàm của ngài Tăng Triệu, thì chữ A-hàm, nguyên tiếng Phạn là Ãgama, có nghĩa là Pháp quy, tức là nơi quy thú của muôn pháp. Các luận như Du-già sư địa luận quyên 58, Dị bộ tông luân luận thuật ký, Thành duy thức luận thuật ký quyển 4, Câu-xá luận quang ký quyển 28, Huyền ứng âm nghĩa quyển 23 và 25, Du-già luận ký quyển 6, Tuệ lâm âm nghĩa quyên 18, 26, 51, Hy lân âm nghĩa quyển 8, Viên giác kinh đại sớ sao quyển 4 v.v... đều giải thích chữ Ãgama có nghĩa là giáo thuyết được truyền thừa, tức là tuyển tập những lời dạy của Đức Phật trong suốt 49 năm hoằng pháp của Ngài thành một hệ thống để truyền thừa cho thế hệ tương lai.
Như vậy, A-hàm là tên gọi chung những pháp thoại được nói bởi Đức Phật và đệ tử của Ngài, rồi được trao truyền cho nhau để làm y chỉ thực hành đời sống phạm hạnh giải thoát.
III. Phân bộ
Phẩm Tự của kinh Tăng nhất A-hàm cho chúng ta biết nguyên do vì sao lại phân chia những lời dạy của Đức Phật thành ra bốn bộ: “Ngài A-nan nói, Khế kinh nay sẽ chia làm bốn đoạn, trước tiên là Tăng nhất, hai là Trung, ba là Trường đa anh lạc, bốn là Tạp kinh”.
[1] Có thuyết nói đến 5 bộ, như Thiện kiến luậtĩỳ-bà-sa quyển 1, ĐạiA-la-hán Nan-đề Mật-đa-la Sờ Thuyết Pháp Trụ Kỷ..., gổm: Trường, Trung, Tãng thuật-đa (Tương ưng), Ương-quật-đa-la (Tâng nhất) và Khuất-đà-ca (Tạp loại). Ngũ phẩn luật quyển 30, Ma-ha Tăng-kỳ luật quyển 32, Tứ phán luật quyển 54, Phân biệt công đức luận quyển 1, đã đem bộ Khuất-đà-ca trong 5 bộ A-hàm xếp vào trong Tạp tạng. 5 bộ A-hàm này tương đương với 5 bộ Thánh điển Nikãyã: Dĩgha-nikãya, Majjhima-n'ikãya, Saniyutta-nikàya, Anguttara-nikãya, Khuddaka-nikãya.
Luận Phân biệt công đức còn giải thích: “Do vì văn nghĩa lộn xộn nên phải lấy sự lý theo nhau, theo thứ tự lớn nhỏ, lấy một làm đầu tiên, theo thứ tự đến mười; một, hai, ba theo sự tăng lên, cho nên gọi là Tăng nhất. Trung là không lớn không nhỏ, không dài không ngắn. Trường là nói về sự việc từ xa xưa trải qua nhiều kiếp. Tạp là các kinh khó tụng khó nhớ, liên hệ việc nhiều, dễ làm cho người ta quên”. Luật Ngũ phần cũng nói: “Ngài Ca-diếp hỏi tất cả Tu-đa-la xong, trong chúng nói rằng: Đây là kinh dài, nay tập thành một bộ, gọi là Trường A-hàm. Đây là kinh không dài không ngắn, nay tập thành một bộ, gọi là Trung A-hàm. Đây là kinh nói cho các Ưu-bà- tắc, ưu-bà-di, Thiên tử, Thiên nữ nghe, nay tập thành một bộ, gọi là Tạp A-hàm. Đây là kinh trình bày từ một pháp đến mười một pháp, nay tập thành một bộ gọi là Tăng nhất A-hàm
IV. Vị trí
Trong ngôi nhà Phật pháp, kinh A-hàm nói riêng, Tam tạng Thánh điển Kinh, Luật, Luận nói chung, thuộc về Pháp bảo, một trong Ba ngôi báu mà trọn đời người Phật từ nương tựa, y chỉ, làm hành trang trên đường tìm về bến giác. Kinh Trường A-hàm nói: ‘Ai thấy pháp là thấy Phật’. Như vậy, Pháp chính là Phật. Đức Phật có vị trí cao cả như thế nào giữa Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-Ia-môn... thì Kinh tạng cũng có vị trí như vậy.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển Phật pháp, để phù hợp căn cơ và nhu cầu xã hội, đòi hỏi có những tên gọi và vị trí cần thiết. Cho nên, trong Tam tạng thánh điển, kinh A-hàm thuộc Kinh tạng. Trong Năm thời truyền giáo, kinh này thuộc thời thứ hai, Lộc Uyển thời. Trong Tám giáo, kinh này thuộc Tiệm giáo.
Bốn bộ A-hàm được xếp đầu tiên trong Tam tạng kinh đien và được gọi A-hàm bộ. Trong ĐTK/ĐCTT hiện đang lun hành, bộ A-hàm được đánh số thứ tự Tập một và Tập hai, có 151 đề mục kinh, trong đó gồm trọn bốn bộ A-hàm và những biệt dịch của kinh này.
V. Sự truyền bá
A. Tại Ân Độ
Như chúng ta đều biết, những lời Đức Phật dạy trong suốt cuộc đời Ngài đều được các học trò ghi chép bằng trí nhớ thuộc lòng và truyền cho nhau bằng miệng. Ngay cả trong lần đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất, kỳ kết tập và cho ra đời bốn bộ A-hàm, cũng bằng hình thức ấy, nghĩa là được đọc tụng thuộc lòng toàn bộ. Sự truyền bá theo hình thức này kéo dài đến mấy trăm năm sau, trải qua thêm ba lần kết tập kinh điển nữa mới được ghi chép thành văn bản. Lần kết tập thứ hai vào khoảng sau Phật nhập diệt 100 năm, với sự tham dự của 700 vị A-la-hán, gọi là “Thất bách kết tập”, trong đó có những trưởng lão từng sống với Đức Thế Tôn, như ngài Nhất Thiết Khứ (Sabbakãmin) 136 tuổi hạ, Ly-bà-đa (Revata) 120 tuổi hạ, Tam-phù-đà (Sambhũta) và Da-xá (Yaáa) đều 110 tuổi hạ[2].
Đại hội kết tập lần thứ ba diễn ra khoảng thời gian sau Phật Niết-bàn 218 năm, tức là 325 năm trước Tây lịch. Đại hội lần này do Hoàng đế A-dục (Asoka) đề xướng và bảo trợ. Đại hội trải qua 9 tháng thì hoàn tất, do Trưởng lão Mục-kiền-liên-tử Đế-tu (Maudgaliputra Tisya) làm chủ tọa, 999 vị Tỳ-kheo A-la-hán tham dự, nên gọi là cuộc kết tập của 1.000 vị La-hán[3].
Khoảng 400 năm sau Phật Niết-bàn, tại thành Ca-thấp-di-la (Kasmĩra) nước Kiền-đà-la (Gandhàra) thuộc miền Tây bắc Ẩn Độ, dưới triều vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska), đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư được triệu tập, dưới sự chủ trì của Tôn giả Thế Hữu (Vasumitra) và Hiếp Tôn giả (Parsva). Lần này, kinh điển chính thức được ghi thành văn, và ngữ văn thánh điển được dùng là tiếng Phạn, gồm có bốn bộ A-hàm, Luật tạng và Luận tạng[4]. Trong khi đó,
[2] Theo Ngủ phân luật, ĐTK/ĐCTT, N° 1421, tr. 192a-194b.
[3] Theo Thiện kiến luật Tỳ-bà-sa, quyển I - II, ĐTK/ĐCTT, N° 1462, tr.678b - 684.
[4] Theo Đại Đường Tây Vức ký, quyển 3, ĐTK/ĐCTT, N° 2087, tr.886b.
tại Tích Lan, làng Aluvihata, vào khoảng năm 83 Tây lịch, một đại hội kết tập kinh điển cũng được triệu tập dưới sự chù trì của Thượng tọa La-hi-da cùng với 500 vị Tỳ-kheo, và Tam tạng cũng được biên chép thành văn bản bằng ngữ văn thánh điển Pãli, đó chính là tạng Nikãya hiện đang lưu hành.
Cần nói thêm rằng, vào lần kết tập kinh điển lần thứ nhất, trong khi 500 A-la-hán đang kết tập kinh điển bên trong hang Thất diệp, thì một số lượng lớn các Tỳ-kheo còn lại bên ngoài, gồm nhiều A-la-hán và chưa A-la-hán, có lẽ gấp nhiều lần bên trong, cũng tiến hành kết tập kinh điển, do Vaspa, một trong 5 vị Tỳ-kheo đầu tiên (5 anh em ông Kiều Trần Như) chủ trì. Theo Công đức luận thì đại hội bên ngoài đã kết tập hầu hết và không bỏ sót một pháp thoại nào của Đức Phật. Đây có thể xem như là manh nha của sự phân phái. Đến kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai trở đi thì sự phân chia bộ phái trở nên rõ rệt và rất nhiều bộ phái ra đời, bộ phái nào cũng có ba tạng thánh điển của mình. Theo Tây Tạng truyền thuyết, Đại chúng bộ (Mahãsahghika) phát triển ở địa phương Maharastra, ngữ văn thánh điển là Maharastra; Thượng tọa bộ (Ãrya-sthavira- nikãya) lấy Ụịayana làm trung tâm, ngữ văn thánh điển là Paisaci; Chính lượng bộ (Sammatĩya) phát triển ở một dãy Surasena, ngữ văn thánh điến là Apabhramsa; Thuyết hữu bộ (Sarvãsti-vãdin) thịnh lên ở Kasmira và Gandhara, ngữ văn thánh điển là Samkrta. Ngữ văn Paisaci chính là ngữ văn Pãli; thời A-dục vương, ngữ văn này là của Phật giáo dãy Ụịayana. Bốn bộ A-hàm truyền vào Trung Quốc chưa biết đích xác xuất phát từ bộ phái nào, nhưng chắc chắn ngữ văn thánh điển là tiếng Phạn. Một số khảo cổ gần đây ở Đôn Hoàng đã chứng minh được điều này.
Theo Luận Phân biệt công đức, bốn bộ A-hàm Hán dịch đều được truyền từ Đại chúng bộ, hoặc nói Tăng nhất A-hàm từ Đại chúng bộ; Trung A-hàm, Tạp A-hàm từ Nhất thiết hữu bộ; Trường A-hàm từ Hóa địa bộ.
B. Tại Trung Quốc
Trong quá trình phân chia bộ phái, ngẫu nhiên các bộ A-hàm cùng với các kinh điển Đại thừa đều tập trung về phía Bắc Ấn Độ, và ngữ văn thánh điển là Phạn văn. Rồi từ đó, băng qua giữa vùng Á-tế-á mà truyền vào các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng, Mông Cổ... ở đây, vì bốn bộ A-hàm mà chúng ta sử dụng được dịch từ Hán tạng, nên nói sự truyền thừa kinh này ở Trung Quốc.
Khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, không phải một lúc có đủ Tam tạng kinh điển, vì những Tỳ-kheo hành đạo thường đơn thân độc mã mà không hề có một sự tổ chức và sắp xếp nào. Họ cứ đi, và đến địa phương nào, họ học ngôn ngữ của địa phương đó, rồi dịch những kinh mà họ thuộc hoặc mang theo ra tiếng bản địa. Những kinh được dịch đầu tiên ở Trung Quốc là kinh Tứ thập nhị chương, kinh Pháp cú, kế đến là các kinh rải rác trong các bộ A-hàm.
Theo học giả Lương Khải Siêu, khoảng 100 năm của thời kỳ đầu, các nhà phiên dịch như An Thế Cao, Chi Khiêm, Pháp Hộ, Pháp Cự đều phiên dịch từ các bản kinh lẻ tẻ (đơn bản) trong các bộ A-hàm. Những kinh này hiện nay được xếp vào mục Biệt dịch. Cho đến đời Đông Tấn bắt đầu có những bản dịch đầy đủ trọn bộ các kinh A-hàm. Đầu tiên là Tăng nhất A-hàm, rồi Trung A-hàm, kế đến Trường A-hàm và cuối cùng là Tạp A-hàm, được dịch suốt khoảng thời gian 60 năm mới hoàn thành.
Tăng nhất A-hàm được Cù-đàm Tăng-già-đề-bà dịch vào đời Đông Tấn (niên hiệu Kiến Nguyên thứ 21, 385 Tây lịch).
Trung A-hàm được Tăng-già-đề-bà và Tăng-già-la-xoa dịch vào năm 398 Tây lịch với sự trợ dịch của Đạo Từ.
Trường A-hàm được Phật-đà-da-xá dịch vào năm 413 Tầy lịch với sự trợ dịch của Trúc Phật Niệm và Đạo Hàm.
Tạp A-hàm được cầu-na-bạt-đà-la dịch vào năm 435 Tây lịch với sự trợ dịch của Pháp Dũng.
Như vậy, mãi đến năm 443 Tây lịch, tức gần một ngàn năm sau Phật Niết-bàn, bốn bộ A-hàm mới được dịch sang tiếng Hán một cách khá đầy đủ. Nhưng không hiếu sao, quá trình phiên dịch ấy đã không lưu lại bản Phạn ngữ?!
Thực ra, kinh A-hàm, cũng như các kinh khác, có rất nhiều bản dịch khác nhau. Đó là do hoàn cảnh đất nước Trung Hoa rộng lớn, chiến tranh cát cứ khắp nơi đã gây trở ngại cho sự đi lại, đồng thời các vị cao tăng đi truyền kinh không xuất phát từ một nơi, không ở chung một nước, nên không có sự liên hệ và biết việc làm của nhau. Vì vậy, một bản kinh có nhiều người dịch, và tày theo kinh văn mà họ mang theo (thuộc bộ phái nào) hoặc thuộc lòng, mà cùng một kinh có bản dài bản ngắn, có bản đủ bản thiếu... Rất tiếc, tình trạng dịch kinh này vẫn còn tiếp diễn tại Việt Nam ta hiện nay.
C. Tại Việt Nam
Theo học giả Trí Siêu Lê Mạnh Thát. Phật giáo du nhập vào Việt Nam có thể nói là sớm hơn Trung Quốc. Công trình phiên dịch kinh Phật từ tiếng Phạn sang tiếng Việt (hoặc tiếng Hán?) cũng có thể nói là hình thành sớm lắm. Xem truyện Thiền sư Khương Tăng Hội sang nước Đông Ngô truyền đạo bên Tàu thời Tam quốc thì đủ biết. Sử liệu cho thấy, từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam cho đến lúc nó phát triển khá mạnh vào thế kỷ thứ 2, thứ 3 Tây lịch, với trung tâm Phật giáo Luy Lâu, thì lúc ấy chúng ta đã dịch được Lục độ tập kinh sang tiếng Việt, rồi từ bản tiếng Việt này lại được dịch ra tiếng Hán. Nhưng không hiểu vì sao việc làm giá trị và đáng tự hào dân tộc đó lại không được tiếp tục và giữ gìn! Hay đã bị xóa sạch vết tích sau một ngàn năm Bắc thuộc?
Khi đất nước giành lại quyền tự chủ, mà trong đó công lao của các Thiền sư, Phật tử không phải ít, Phật giáo nước nhà lại được hưng thịnh. Các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần đều có những Thiền sư làm rạng ngời trang sử bởi những đóng góp dụng nước và giữ nước (Khai quốc - Trấn quốc); có những ông vua được nuôi dạy ở
trong chùa, làm cho nước nhà hết sức hưng thịnh. Bấy giờ, những vị vua mộ Phật đã cho người qua Trung Quốc thỉnh Tam tạng kinh điển về Việt Nam, đồng thời cũng cho người sao chép lại. Sử chép vua Lê Long Đĩnh cũng có sai người đi qua bên Tàu thỉnh Đại tạng kinh đem về nước ta. Cho nên, Tam tạng kinh điển mà Việt Nam có hồi bấy giờ là Tam tạng chữ Hán. Tăng Ni ờ Việt Nam trong quá khứ, và bây giờ vẫn còn, dạy cho Tăng chúng và Phật tử cũng căn cứ vào bản Hán mà dạy. Một số kinh sách được diễn ra chữ Nôm, nhung rất ít.
Đến khi chừ Quốc ngữ ra đời, một số chư tôn đức tiền bối đã phiên dịch một số kinh ra tiếng Việt, nhưng công việc ấy hoàn toàn tự phát, và không có hệ thống, thấy kinh nào thích hợp cho Tăng Ni, Phật tử hành trì tu học thì dịch, và hầu hết thiên về kinh điển Đại thừa.
Mãi đến năm 1990, Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam chính thức được thành lập; năm sau, 1991, Giáo hội khởi đầu ấn hành bộ Trường A-hàm và Trường bộ kinh, mở đầu Đại tạng kinh bằng tiếng Việt (có tổ chức và hệ thống). Đen nay, Giáo hội đã hoàn tất công trình dịch thuật bốn bộ A-hàm và nhiều kinh khác. Riêng bốn bộ A-hàm đã được in đầy đủ, kỹ thuật in và chất liệu giấy cũng khá. Tuy nhiên, các bản dịch bộ A-hàm này còn vụng về và thiếu chú thích, trong tương lai cần có bản tân tu.
Mới đây, một công trình nghiên cứu và dịch thuật bộ A-hàm có thể nói là nghiêm túc và khoa học nhất trong lịch sử phiên dịch Kinh tạng Việt Nam, đó là Trường A-hàm, Trung A-hàm cùa Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ và TạpA-hàm, Tăng nhất A-hàm do Thượng tọa Thích Đức Thắng, Hòa thượng Thích Tuệ Sỳ hiệu chú, đã được in ấn thành một bộ gọi là Tiểu tạng Thanh văn, rất giá trị!
VI. Kết luận
Kinh A-hàm thuộc hệ thống Phật giáo Bắc truyền và xưa nay không được chú trọng, bởi nó bị xem là kinh điển Tiểu thừa. Thật ra, như bốn bộ Nikaya của Phật giáo Nam truyền, bốn bộ A-hàm chứa đựng những lời dạy của Đức Phật còn mang tính nguyên sơ nhất. Rất tiếc là công trình gìn giữ đã không được trọn vẹn, vì thời gian khẩu truyền kéo dài quá lâu. Luận Phân biệt công đức, quyển thượng, ghi rằng: “Tăng nhất A-hàm vốn có 100 sự, A-nan đem truyền cho Ưu-đa-la, 12 năm sau, A-nan nhập Niết-bàn. Các thầy Tỳ-kheo sau này chỉ thích tập tọa thiền, bỏ phế phúng tụng, do đó kinh này mất 90 sự. Các pháp sư trao cho nhau bằng miệng, không nghe nói đến văn tự biên chép, lúc ấy chỉ truyền hết 11 sự mà thôi. Từ đó thừa kế nhau chính là văn bản này”. Một kinh Tăng nhất A-hàm như thế thì các kinh khác không sao tránh khỏi sự mất mát, sai lạc.
Phần lớn kinh Phật đều là tác phấm văn học. A-hàm tuy không tránh khỏi, nhưng so với các kinh khác thì A-hàm mang ít tính văn học hơn, mà mang đậm tính thật thà chất phác. Vì thế, dù không dám cho rằng mỗi câu mỗi chữ của A-hàm đều là lời Phật nói, nhưng nó hàm chứa nhiều và thuần túy lời Phật dạy mà các kinh khác không bì kịp. Đó là lý do chúng ta học kinh A-hàm, khoan nói đến ý nghĩa sâu xa của nó, mà phải qua đây chúng ta mới hiếu được những giáo lý căn bản nhất của Phật dạy và hệ kinh điển Đại thừa.