TOÁT YỂU KINH TRƯỜNG A-HÀM
I. Tổng quan
Trường A-hàm gồm 22 quyển, tổng cộng 30 kinh, có thể chia thành 4 phần:
A. Phần 1
Gồm cỏ 4 kinh, thuộc thể loại kinh Bổn sự, kể về sự tích quá khứ của chư Phật và các đệ từ.
1. Kinh Đại Bổn Duyên 6
Đức Phật kể về sự tích của sáu Đức Phật quá khứ và đến Đức Thích-ca là thứ 7. Kinh có thể được chia thành ba phần:
a) Từ đầu... cho đến đoạn ‘Kẻ trí nào nghe đến nhom duyên đó mà không vui mừng, sanh tâm ưa muốn!Lược thuật về số kiếp, danh tánh, chủng tộc, quốc gia, phụ mẫu, các đại đệ tử, thị giả, các hội thuyết pháp của Phật Tì-bà-thi, Thi-khí, Tì-xá-phù, Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp và Thích-ca Mâu-ni.
b) Đoạn tiếp theo... cho đến ‘Nói xong bài kệ, bỗng nhiên biến mất’: Tường thuật chi tiết sự tích Phật Tỳ-bà-thi, từ Đâu-suất giáng thần, đản sanh, hiện thọ dục lạc, xuất du bốn cửa thành, xuất gia, thành đạo, thuyết pháp, thuyết giới và nhập Niết-bàn.
__________________
6 Tương đương Pali: D.14. Mahanpadanasutta
c) Đoạn còn lại: Đức Thích Tôn xuất hiện trên Tịnh cư thiên (Suddhãvãsa). Đây là Thánh địa của các Thánh giả Bất hoàn (Anãgamĩ). Các vị Bất hoàn trong năm tầng Tịnh cư thiên lần lượt đến gặp Đức Thích Tôn. Các vị này đều là đệ tử của sáu vị Như Lai trong quá khứ, sau khi chết ở Dục giới, họ tái sanh lên đây và sẽ nhập Niết-bàn tại đây, không trờ lại Dục giói nữa. Đức Phật tự thân biết được nhân duyên quá khứ của chư Phật và cũng do các vị này kể lại.
Cứ mỗi nhân duyên, mỗi sự kiện, kinh lại đúc kết bàng câu ‘pháp thường của chư Phật là như vậy’, xác định đó là pháp tính như thị.
2. Kinh Du Hành 7
Ghi lại hành trình cuối đời của Đức Thế Tôn, khởi hành từ thành La-duyệt, qua nhiều quốc gia, đến điểm cuối cùng là rừng Sa- la, nơi Phật nhập Niết-bàn. Kinh được chia thành ba phần lớn:
a) Khởi đi từ thành La-duyệt (Rặịagaha, tức thành Vương-xá) cho đến thành Tỳ-xá-li (Vesalĩ), nơi khu vườn của kỳ nữ Am-ba-bà- lê. Phần này có những nội dung chính sau đây:
+ Tại thành Vương-xá, nhân sự kiện quốc vương Ma-kiệt-đà A-xà-thế muốn đem quân chinh phạt nước Bạt-kỳ, lệnh cho đại thần Vũ-xá đến tham vấn Đức Phật xem Ngài có chỉ dạy gì không, Đức Thế Tôn đã dạy 7 pháp làm hung thịnh quốc gia, đó là: 1. Thường nhóm họp bàn nhũng sự việc chân chính; 2. Vua tôi hòa thuận, trên dưới kính nhường nhau; 3. Nhân dân thường tôn trọng pháp luật, hiểu điều cấm kỵ, chẳng trái lễ độ; 4. Người dân hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận sư trưởng; 5. Người dân thường tôn trọng tông miếu, kính nể quỷ thần; 6. Người dân giữ gìn khuê môn trinh chính, thanh khiết, không bậy bạ, cho đến sự vui đùa. nói nărvg cũng không tà vạy; 7. Nhân dân tôn thờ Sa-môn, kính người trì giới và thân cận ủng hộ, chẳng biếng nhác.
____________________
7. Tương Đương Pali: D.16. MahaparinibbanaSutta; D.17. MahasudassanaSutta
Nhân đó, Đức Phật dạy các pháp bất thối cho sự hòa hiệp và hưng thịnh của Tăng già, gồm:
- Bày pháp bất thối:
1. Thường hội họp luận bàn nghĩa lý chân chính; 2. Trên dưới hòa đồng, kính thuận không trái; 3. Trọng pháp, hiểu điều cấm kỵ, không trái quy chế; 4. Nếu có Tỳ-kheo nào có năng lực hộ chúng, có nhiều tri thức, nên được kính thờ; 5. Niệm hộ tâm ý, lấy sự hiếu kính làm đầu; 6. Tịnh tu phạm hạnh, không chạy theo trạng thái dục; 7 Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi.
- Bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không tổn giảm:
1. Ưa ít việc, không ưa nhiều việc; 2. Ưa yên lặng, không ưa nói nhiều; 3. Bớt sự ngủ nghỉ, tâm không hôn muội; 4. Không tụ họp nói việc vô ích; 5. Không tự khen ngợi khi mình thiếu đức; 6. Không kết bè bạn với người xấu ác; 7. Ưa ở một mình nơi chỗ nhàn tịnh, núi rừng.
- Bảy pháp khác làm cho Chảnh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm:
1. Cỏ tín tâm, tin Đức Như Lai, Chí chân, Chánh giác, đủ mười đức hiệu; 2. Có tàm, biết hổ với điều thiếu sót của mình; 3. Có quý, biết thẹn với việc ác mình đã làm; 4. Đa văn, những điều đã được thọ trì đều tốt ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, nghĩa và vị thâm áo, thanh tịnh không bẩn, phạm hạnh đầy đủ; 5. Siêng năng cần khổ, bỏ ác tu lành, chuyên tâm tập luyện mãi không ngừng; 6. Điều đã học tập được, ghi nhớ mãi không quên; 7. Tu tập trí tuệ, biết pháp sanh diệt, hướng đến Hiền Thánh, dứt hết gốc khổ.
- Bảy pháp khác làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
1. Kính Phật; 2. Kính Pháp; 3. Kính Tăng; 4. Kính giới luật; 5 Kính thiền định; 6. Kính thuận cha mẹ; 7. Kính pháp không buông lung.
- Bảy pháp khác làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tôn:
1. Quán thân bất tịnh; 2. Quán đồ ăn bất tịnh; 3. Chẳng mê đắm thế gian; 4. Thường suy niệm về sự chết; 5. Suy niệm về vô thường; 6. Suy niệm về vô thường tức khổ; 7. Suy niệm khổ tửc vô ngã.
- Bảy pháp khác làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tôn:
1. Tu về niệm giác ý, nhàn tịnh, vô dục, xuất ly, vô vi; 2. Tu về pháp giác ý; 3. Tu về tinh tấn giác ý; 4. Tu về hỷ giác ý; 5. Tu về ỷ giác ý; 6. Tu về định giác ý; 7. Tu về hộ giác ý.
- Sáu pháp bất thối làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tôn:
1. Thân thường hành xử từ ái, không hại chúng sanh; 2. Miệng nói nhân từ, không diễn lời dữ; 3. Ý niệm từ tâm, không ôm lòng thêm bớt; 4. Được vật lợi dưỡng hợp lẽ, chia cùng chúng hưởng, bình đang như nhau; 5. Giữ giới Thánh Hiền không để khuyết lậu, cũng không cấu uế, nhất định không dao động; 6. Thấy đạo Thánh Hiền để dứt hết thống khổ.
- Sáu pháp bất thối làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
1. Niệm Phật; 2. Niệm Pháp; 3. Niệm Tăng; 4. Niệm Giới; 5. Niệm Thí; 6. Niệm Thiên. Sáu niệm ấy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
+ Tại Ba-lăng-phất (tức Hoa Thị Thành sau này), dạy cho các cư sĩ:
Năm pháp suy hao cùa người phạm giới: 1. cầu tài lợi không được toại nguyện; 2. Dầu có được tài lợi, ngày mồi hao mòn; 3. Bất cứ đến đâu cũng không được mọi người kính nể; 4. Tiếng xấu đồn khắp thiên hạ; 5. Thân hoại mệnh chung sa vào địa ngục.
- Năm công đức cùa người giữ giới: 1. cầu gì đều được như nguyện; 2. Tài sản đã có thi thêm mãi không hao sút; 3. ở đâu cũng được mọi người kính mến; 4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ; 5. Thân hoại mệnh chung được sanh lên cõi trời.
+ Từ Bạt-kỳ đến thôn Câu-lị, dạy bốn pháp thâm diệu cho các Tỳ-kheo: Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ và Thánh giải thoát.
+ Từ thôn Câu-lị đến thôn Na-đà, dạy về bốn pháp bất hoại tín: Tin Phật, Pháp, Tăng, Giới.
+ Từ Na-đà đến Tỳ-xá-ly.
- Tại đây, kỹ nữ Am-bà-bà-lê quy y Tam bảo và dâng cúng vườn xoài. Đoạn kinh cho thấy không gì đánh đổi được niềm tin và sự kính trọng, nhất là cơ hội cúng dường Thế Tôn nơi bà.
Ghi chú: Cũng trong phần này, Đức Phật huyền ký về sự hưng thịnh cùa Hoa tử thành (Pătaliputta), mà theo sự thực lịch sử sau này là kinh đô của Đại đế A-dục, trung tâm từ đó Phật pháp được lan tỏa sang các nước và khắp thế giới.
b) Từ làng Trúc Lâm cho đến sông Câu-tôn.
- Tại làng Trúc Lâm, Đức Phật cùng A-nan trải qua mùa an cư cuối cùng. Trong lúc an cư, thân Phật nhuốm bệnh, khắp cả mình đều đau, và Phật có thể nhập Niết-bàn, khiến A-nan “lo sợ, lúng túng, hoang mang, không biết làm cách nào”. Phật tự nghĩ vì không có các đệ tử và chưa có lời di giáo, nên Ngài đã vận dụng sức tinh cần lưu lại thọ mạng. Sau đó, ít nhất ba lần Thế Tôn tỏ những dấu hiệu dự báo Phật sắp Niết-bàn, nhưng A-nan không nhận thấy nên không thỉnh Phật trụ thế. Ma Ba-tuần nhân cơ họi đó đã thỉnh cầu Phật nhập Niết-bàn và Thế Tôn hứa khả.
- Kết thúc mùa an cư cuối cùng, Phật bảo A-nan cùng đến Hương tháp. Tại đây, Phật cho gọi tất cả các Tỳ-kheo có mặt lân cận đến và cho biết: Ngài do 37 phẩm trợ đạo mà tự thân tác chứng,
thành Tối chánh giác, và các pháp đó được nói trong 12 bộ kinh. Rồi Ngài thông báo ba tháng sau Thế Tôn Niết-bàn. Từ đây, Thế Tôn tiếp tục hành trình, đến thôn Am-bà-là dạy về Tam vô lậu học; đến các thôn Chiêm-bà, Kiển-trà, Bà-lệ-bà và thành Phụ di, dạy Bốn đại giáo pháp; từ Phụ di đến thành Bà-la, thọ bữa cúng dường cuối cùng của Thuần-đà (Cunda), rồi Phật đi đến tắm trong dòng sông Câu-tôn (Kakutthã hay Kakutthã).
c) Từ sông Câu-tôn, Phật lại vượt qua sông Hi-liên (Hirannavati) rồi đến rừng Sa-la (Yamakasãlã), thành Câu-thi (Kusinãrã), vùng đất của dòng họ Mạt-la (Malla).
Phần này tường thuật nhũng ngày và giờ cuối cùng của Đức Thế Tôn. Trước hết thuyết pháp độ cho dân chúng Mạt-la, nhận nguời đệ từ cuối cùng là Phạm chí Tu-đạt; ngay trong đêm Thể Tôn Niết-bàn, ông chứng quả A-la-hán và nhập diệt trước Phật; nói những pháp hy hữu của A-nan; chỉ bốn Thánh tích là nơi Phật Đản sanh, thành Đạo, chuyển Pháp luân và nhập Niết-bàn, nếu ai tưởng nhớ và chiêm bái bốn Thánh tích này sẽ được phước báo sanh lên cối trời, trừ người chứng đạo; và những di giáo tối hậu.
Đoạn cuối cùng là phần ghi chép cách thức làm lễ trà tỳ và cúng dường xá-lợi Phật.
3. Kinh Điển Tôn 8
Kinh có thể chia thành hai phần chính:
a) Nhạc thần Ban-giá-dực (Paíĩcasikha) tường thuật một buổi luận nghị của Phạm thiên vương với Đế-thích tại trời Đao-lợi (Tãvatimsa) cho Đức Thế Tôn nghe. Trong buổi luận nghị này, Thích-đề-hoàn nhân nói cho chư Thiên nghe về tám pháp Vô đẳng nơi một vị Phật. Tám pháp Vô đẳng là tám điều như thực (yathãbhucca) chỉ có thể tìm thấy nơi một vị Phật chứ không thể có nơi nào khác.
___________________
8 Tương đương Pali: D.19. MahagovindaSutta.
b) Buổi luận nghị quần tiên được tiếp tục với sự tham dự của Phạm thiên vương. Phạm thiên vương kể cho chư Thiên Đao-lợi nghe về một tiền thân của Phật. Theo đó, trong quá khứ, Đức Phật từng làm đại thần có tên gọi Điển Tôn, giáo hóa cả bảy vị vua của bảy quốc gia, sau xuất gia tu đạo, thực tập Bốn tâm vô lượng, đem đến nhiều lợi ích cho nhiều người.
Đức Phật xác nhận tiền thân của mình. Tuy nhiên, Đức Phật cũng nói, khi sống thế tục, Đại Điển Tôn làm được lợi ích cho nhiều người, và sau khi xuất gia cũng làm lợi ích cho nhiều người; nhưng sự tu tập và giáo hóa ấy chưa phải là đạo cứu cánh, còn phải chịu tái sanh, chịu khổ của sanh tử mặc dù có thể dẫn đến tái sanh lên cõi Phạm thiên. Chỉ đến nay, Đức Thích Tôn mới đạt đến đạo cứu cánh giải thoát và cũng khai thị cho thế gian đạo cứu cánh ấy, dẫn đến an ổn Niết-bàn.
4. Kinh Xà-ni-sa 9
Bản kinh được phát khởi từ nghi vấn của Tôn giả A-nan về các đệ tử tại gia đã qua đời tại Ma-kiệt-đà, trong đó có vua Bình-sa (Bimbisãra), không được Thế Tôn thọ ký.
Tên kinh Xà-ni-sa, được phiên âm từ tiếng Phạn Janesa, có nghĩa là người đã chiến thắng hay đoạn sạch kiết sử (thắng kiết sử), là bậc tôn quý trong loài người. Bản kinh cho biết, một Ưu-bà-tắc, nhờ có lòng tin kiên cố và nhất tâm niệm Phật mà trở thành người tôn quý đó, sau khi mạng chung được tái sanh lên trời Đao-lợi làm con trai của Tỳ-sa-môn Thiên vương (Vessavana), chứng quả Tu- đà-hoàn, không còn đọa vào ác thú, chỉ sanh lại bảy lần thì dứt hết gốc khổ.
Xà-ni-sa chính là tiền thân của Bình-sa vương. Ông từ trời Đao-lợi xuống hầu Đức Phật và kể lại đại hội quần tiên trên trời Đao-lợi. ở đó, Phạm thiên trình bày cho chư Thiên nghe các pháp
_________________
9 Tương đương Pali: D.18. JanavasabhasSutta.
vi diệu đã được Đức Phật thuyết là Tứ niệm xứ, Thất định cụ, Tứ thần túc và Ba con đường tất cho chư Thiên và loài người hướng đen ngôi Chánh giác.
B. Phần 2
Gồm có 15 kinh, trình bày những giáo lý và phương pháp tu tập căn bản; phản ánh quan điểm về giai cấp, cho biết nguồn gốc của loài người và tổ chức xã hội loài người...
5. Kỉnh Tiểu Duyên 10
Kinh gồm hai phần. Phần đầu là những lý luận sắc bén của Đức Thế Tôn tỏ rõ sự bình đắng giữa mọi người trong xã hội. Phần sau là dẫn chứng lịch sử phát triển xã hội loài người để chứng minh cho lý luận đó.
Bắt đầu từ chuyện có hai thanh niên thuộc dòng dõi Bà-la-môn là Bà-tất-tra (Vãsettha) và Bà-la-đọa (Bhãradhbãka) xuất gia theo Phật học đạo. Hai thanh niên này bị gia đình và xã hội lên tiếng chỉ trích, bởi những người Bà-la-môn quan niệm rằng: “Dòng Bà-la- môn ta tối cao bậc nhất, các dòng khác thấp hèn. Dòng ta trắng trẻo, các dòng khác đen điu. Dòng Bà-la-môn ta xuất xứ từ Phạm thiên, từ miệng Phạm thiên sanh ra, ở ngay trong hiện tại mà được thanh tịnh giải, về sau cũng thanh tịnh”, nên không thể ở chung với những giai cấp thấp hèn khác, không nên xuất gia tu học theo Sa-môn Cù- đàm. Nhân đó, Phật nói rõ sự bình đẳng giữa con người trong xã hội và cho biết khởi nguyên của con người và sự hình thành giai cấp trong xã hội loài người.
Theo đó, xã hội phân chia giai cấp do quá trình phát triển của con người và xã hội loài người, chứ không phải do thần linh hay thưọng đế an bài, quy định. Khởi thủy xã hội loài người không có giai cấp và sống chung an lạc. Về sau, trong quá trình phát triển, loài
__________________
10 Tương đương Pāli: D.27. AgaññaSutta
người bắt đầu biết phân biệt, phân chia... và xã hội nguyên thủy trở nên rối loạn. Hàng loạt các vấn đề xã hội hình thành như tư hữu, địa chủ, chính quyền, tôn giáo... ra đời.
Đức Phật khẳng định: “Trong Chánh đạo vô thượng của Ta, không cần kể dòng dõi, không ỷ vào tâm kiêu mạn ngô ngã. Pháp thế tục cần thứ đó. Pháp của Ta không phải vậy. Nếu có Sa-môn hay Bà- la-môn nào tự thị chủng tộc, ôm lòng kiêu mạn thì ở trong giáo pháp Ta trọn không chứng đắc vô thượng. Nếu hay khước tù' chủng tánh, trừ bỏ tâm kiêu mạn, thì mới có thể chứng được đạo quả Vô thượng trong giáo pháp Ta, mới kham lãnh thọ được Chánh pháp. Người đời gớm ghét kẻ hạ lưu, còn giáo pháp Ta không thế”. Phật quan niệm: “Bậc nhất trên tất cả Trời và Người là những ai đầy đủ Minh và Hành, đầy đủ Trí tuệ và Giới đức”.
Kinh Tiểu duyên có thể được xem như một bản lịch sử khởi nguyên của loài người và xã hội loài người, với những khái niệm sơ khai nhất về tổ chức cộng đồng xã hội.
6. Kinh Chuyển Luân thánh vương tu hành 11
Bản kinh được mở đầu bằng lời khuyên các Tỳ-kheo: “Hãy tự thắp sáng; thắp sáng trong Chánh pháp, chớ đừng thắp sáng ở nơi khác; hãy tự mình nương tựa nơi mình, nương tựa nơi Chánh pháp, chớ đừng nương tựa vào một nơi nào khác”. Sự tự thắp sáng và tự nương tựa đó chính là nỗ lực thực hành Bốn phương pháp quán niệm (Tứ niệm xứ), con đường diệt trừ mọi tham ưu ở đời.
Sở dĩ phải tìm nơi nương tựa vững chắc cho cuộc đời mình bằng sự thực hành pháp thiện bởi đó là pháp hưng thịnh, còn thế gian không có gì bền chắc để nương tựa. Đức Phật cho thấy thế gian hưng thịnh và thoái hóa luân chuyển không ngừng. Sự hưng thịnh hay thoái hóa đó tùy thuộc vào con người thực hành mười nghiệp thiện hay mười nghiệp bất thiện.
_________________
11 Tương đương Pāli: D.26. CakkavattiSutta
Trong quá khứ, xã hội loài người đã từng hưởng cảnh thái bình hưng thịnh dưới chế độ cùa vua Kiên cố Niệm (DaỊhameni), nhờ ông vua này cai trị bằng Chánh pháp, tôn trọng giá trị đạo đức. Xã hội hưng thịnh như vậy truyền được bảy đời. Từ đời thứ bảy trở đi, vua không theo pháp cũ, chính trị bất công khiến thiên hạ oán thán, quốc độ kém sút, nhân dân điêu linh. Kể từ đó, xã hội suy thoái, tuổi thọ giảm dần do điều ác ngày càng tăng, từ tuổi thọ tám vạn giảm xuống còn mười tuổi. Bấy giờ xã hội rơi vào cảnh tương tàn khốc liệt nhất, mỗi cành cây cọng cỏ đều trở thành binh khí chém giết nhau, không kể thân sơ.
Khi ấy, những kẻ có trí, tìm lánh vào rừng sâu, nương ở hang hố, trong bảy ngày lòng quá sợ hãi mà phát lời từ thiện rằng: ‘Ngươi không hại ta, ta không hại ngươi’. Họ nhờ ăn cỏ cây mà sống còn. Sau khi những người chém giết nhau đã chết hết sạch, những người tỵ nạn này trở lại đồng bằng, họ gặp nhau, mừng mừng, tủi tủi, rồi tư duy, khuyến khích nhau làm điều thiện. Cứ làm một điều thiện tuổi thọ lại tăng lên, cho đến khi giá trị đạo đức được phục hồi, con người sống bằng mười nghiệp thiện, hiếu dưỡng cha mẹ, tôn trọng sư trưởng, chánh kiến... thì tuổi thọ tăng lên đến tám vạn. Bấy giờ có Đức Phật Di-lặc (Metteyya) ra đời. Xã hội lại thái bình, hưng thịnh, như đã từng hưng thịnh dưới thời vua Kiên cố Niệm.
7. Kinh Tệ-íú 12
Bản kinh tường thuật một cuộc tranh luận rất sôi nổi giữa Đồng tử Ca-diếp (Kumãra-Kassapa) với Bà-la-môn Tệ-tú (Pāyāsi).
Bà-la-môn Tệ-tú là người có tà kiến, chủ trương thuyết hư vô (natthivāda). ổng cho rằng: “Không có thế giới khác. Không có loài hóa sanh. Không có quả báo của tội phước”. Đây là một trong những dị kiến thuộc trường phái chấp đoạn, chủ trương thuyết đoạn
____________________
12. Tương đương Pāli: D. 23. PāyāsiSutta.
diệt, hư vô thuyết, một trong những luận thuyết ngoại đạo ở Ấn Độ cổ. Trường phái này chủ trương, ngoài thế giới ta đang sống, không có thế giới nào khác, không có cõi trời hay địa ngục. Đe bảo vệ quan điểm của mình, Tệ-tú đã đưa ra tám luận cứ được xem là cụ thế, mà ông đã từng thí nghiệm và quan sát nhưng không có một dấu hiệu nào cho thấy có thế giới khác hay có linh hồn. Đồng tử Ca-diếp cũng đưa ra hàng loạt hình ảnh thí dụ minh chứng cho thấy những thí nghiệm của Tệ-tú là không có cơ sở và sai lầm. Tệ-tú bị khuất phục bởi những lý luận sắc bén của Ca-diếp, nhung vẫn không dám từ bỏ quan điểm của mình, cái quan điểm đã từng làm ông nổi tiếng với đầy đủ danh văn lợi dưỡng. Ca-diếp lại đưa ra những hình ảnh thí dụ khác để Tệ-tú thấy rằng sự cố chấp ấy hoàn toàn không có lợi ích và ngu xuẩn.
Cuối cùng, Tệ-tú quy y Tam bảo.
8. Kinh Tán-đà-na 13
Tán-đà-na (Sandhāna) là một cư sĩ thâm tín Tam bảo, sống tại thành Vương-xá. Trong một lần đi đến Kỳ-xà-quật để hầu Phật, ông đã ghé thăm khu vườn Ô-tam-bà-lị (Udumbarikā), ngoài thành Vương-xá, nơi có một nhóm du sĩ ngoại đạo do Phạm chí Ni-câu-đà (Nĩgodha) dần đầu. Nhóm du sĩ này đang tụ họp nói chuyện phiếm cho hết ngày, nhưng khi thấy Tán-đà-na đi đến thì bảo nhau im lặng, ra vẻ tu hành. Phạm chí Ni-câu-đà tỏ thái độ bất kính và chỉ trích Đức Phật, đồng thời thách thức luận chiến với Phật. Ngay lúc ấy, Đức Phật xuất hiện. Ni-câu-đà muốn biết Đức Phật đã chỉ dạy cho các đệ tử những gì để đi đến an lạc, nhưng Thế Tôn đã từ chối trả lời, bởi với sở tri và sở hành của Ni-câu-đà và đệ tử của ông không thể hiểu được giáo lý của Phật, nhưng nếu họ muoñ, Đức Phật sẽ chỉ rõ về pháp khổ hạnh mà họ đang tu tập.
Đúc Phật trình bày rõ ràng chi tiết về những pháp tu khổ hạnh
_________________
13. Tương đương Pāli:D.25. UdumbarikaSutta
ép xác khác nhau mà các đạo sĩ khổ hạnh thực hành, có những pháp tu hết sức kỳ dị. Rồi Đức Phật hỏi Ni-câu-đà có phải chăng đó là nhũng pháp tu mà ông cho rằng thanh tịnh? Ni-câu-đà xác nhận. Nhưng Đức Phật lại chỉ cho thấy nhũng điểm cấu uế, bất tịnh trong những pháp tu khổ hạnh mà mọi người đang kính phục ấy. Đó là dù hành khổ hạnh đến đâu mà động lực tu hành được thúc đẩy bởi danh văn lợi dưỡng, bởi tâm niệm tham lam, tật đố, tà kiến, kiêu mạn, xảo ngụy, khen mình chê người, cố chấp... thì không được coi là thanh tịnh. Phật lại chỉ ra những ưu điểm trong lối tu khổ hạnh ấy, đó là sự tu tập khổ hạnh không bị chi phối bởi tham lam, sân hận, xảo quyệt v.v... Tuy nhiên, những pháp tu khố hạnh đó vẫn chưa phải là chắc thật. Khổ hạnh chắc thật là tu tập thiện pháp, phát triến bốn tâm vô lượng... Và nhũng pháp Đức Phật dạy cho các đệ tử còn cao hơn vậy.
Ket thúc bản kinh, Đức Phật nói với Phạm chí Ni-câu-đà rằng, Ngài không phải đến đế tranh luận hơn thua và cũng không thuyết pháp vì lợi dưỡng. Ngài chỉ nêu lên thiện pháp cho những ai muốn thực hành an lạc. Và trong khi 500 Phạm chí đang lắng lòng nghe pháp thì ma Ba-tuần muốn phá tâm ý thiện của họ, Đức Phật biết được nên đã nương hư không, dẫn theo cư sĩ Tán-đà-na bay về trú xứ.
9. Kinh Chúng Tập 14
Thế Tôn đang hoằng pháp tại thành Ba-bà và nghỉ đêm nơi vườn Am-bà của Xà-đầu. Đêm ấy trăng tròn, Thế Tôn cùng với các Tỳ-kheo ngồi quây quần bên nhau giữa trời trăng lồng lộng và Thế Tôn đã thuyết pháp đến khuya, nhưng các Tỷ-kheo vẫn còn tinh tấn nghe pháp, nên Ngài bảo Tôn giả Xá-lợi-phất tiếp tục trò chuyện với các huynh đệ, để Thế Tôn nghỉ một lát.
Bất đầu từ sự kiện có một Ni-kiền-tử trong thành Ba-bà vừa tạ thế, các đệ tử chia ra làm hai nhóm, luôn luôn tranh chấp nhau, Xá-
_________________________
14 Tương đương Pāli: D.33. SaṇgītiSutta.
lợi-phất đề nghị các Tỳ-kheo phải kết tập pháp luật để ngăn ngừa sự tranh cãi, khiến cho phạm hạnh tồn tại lâu dài làm lợi ích cho số đông, cho chư Thiên và nhân loại được an lạc. Và Xá-lợi-phất lần lượt kết tập giáo nghĩa mà Phật đã thuyết, từ nhóm một pháp đến nhóm mười pháp.
Bản kinh tổng họyp đại bộ phận giáo nghĩa mà Phật đã thuyết, và đó là những pháp môn hành trì căn bản đưa đến giải thoát, giác ngộ.
10. Kinh Thập Thượng [15]
Kinh này cũng do Xá-lợi-phất thuyết vào ngày Tăng bố-tát. Nội dung bản kinh cũng tập đại bộ phận giáo nghĩa căn bản Phật đã thuyết, hình thức kết tập cũng tương tự kinh Chúng Tập, nhưng ở đây, mỗi pháp số được sắp xếp theo mười khoa mục như sau:
Thành pháp (dhammo bahukãro, pháp đem lại nhiều lợi ích); Tu pháp (bhãvitabbo, cần phải tu tập); Giác pháp (parinneyyo, cần được nhận thức toàn diện); Diệt pháp (pahãtabbo, cần phải loại trừ); Thối pháp (hãnabhãgiyo, dẫn đến thoái hóa); Tăng pháp (visesabhãgiyo, dẫn đến sự thăng tiến); Nan giải pháp (duppativijjho, khó lý giải, khó thế nhập); Sanh pháp (uppãdetabbo, cần phải làm cho phát sanh); Tri pháp (abhiníĩeyyo, cần được chứng tri); Chúng pháp (sacchikãtabbo, cần được chứng nghiệm).
Đức Phật vì các Tỳ-kheo thuyết từ một thành pháp, một tu pháp, một giác pháp, một diệt pháp, một chứng pháp; rồi hai thành pháp, hai tu pháp, hai giác pháp, hai diệt pháp, hai chứng pháp'; cho đến mười thành pháp, mười tu pháp, mười giác pháp, mười diệt pháp, mười chứng pháp; tương tự như kinh Thập Thượng.
15 Tương đương Pãli: D. 34. DaSuttaraSutta.
16 Không có Pãli tương đương.
12 Kinh Tam Tụ [17]
Đức Phật vì các Tỳ-kheo biện biệt rõ 3 tụ pháp hướng đến ác thủ, thiện thú và Niết-bàn. Bắt đầu từ mỗi tụ có một pháp, cho đến mỗi tụ có mười pháp.
Với những gì Đức Phật dạy trong kinh này, chúng ta chỉ cần quán sát đời sống tu tập của mình hằng ngày, mình sẽ biết ngay là mình đang hướng đến tụ nào, là ác thú? thiện thú? hay Niết-bàn?
13. Kinh Đại Duyên Phương Tiện [18]
Diễn nói thâm nghĩa giáo lý duyên khởi. Xuất phát từ nhận xét của Tôn giả A-nan, cho rằng lý duyên khởi rất dễ hiểu. Đức Phật không đồng tình với nhận xét ấy, rồi Ngài giải thích cặn kẽ các chi phần nhân duyên theo từng mối quan hệ. Kinh có thể được chia làm sáu phần.
a) Duyên khởi mười hai chi: Sự vận hành hay tập thành một khối đại hoạn, sự tập khởi của khối đau khổ toàn diện trên tẩm thân ngũ uẩn này, cũng là kiếp sống này, bắt đầu từ vô minh đến già chết, gồm có mười hai chi, nên trường hợp này được gọi là 'duyên khởi mười hai chi
b) Duyên khởi năm chi: Mối quan hệ dẫn đến tranh cãi, gây ra vô số tội ác, bất an cho xã hội và khổ đau ứong hiện tại. Mối quan hệ nằm tập trung nơi ái, từ ái đến già chết có năm chi, nên mối quan hệ này được gọi là ‘duyên khới năm chiLấy ái làm gốc, phát sanh ra chín tâm lý: ái, cầu, lợi, dụng, dục, trước, tật, thủ, hộ. Kinh ghi: “Nhân tham ái mà có tìm cầu, nhân tìm cầu mà đắc lợi, nhân đắc lợi mà thọ dụng, nhân thọ dụng mà tham muốn, nhân tham muốn mà đắm trước, nhân đắm trước mà tật đố, nhân tật đố mà quản thủ, nhân quản thủ mà bảo hộ. Này A-nan! Do bảo hộ nêh mới có dao gậy, tranh cãi, gây vô số điều ác”.
[17] Không có Pãli tương đương.
18Tương đương Pãli: D. 15. MahãnidãnaSutta.
b) Duyên khởi bảy chi: Từ xúc đến già chết có bảy chi nên gọi tên như vậy. Vòng duyên khởi này lấy xúc làm khởi điểm. Xúc có hai loại, hữu đối xúc và tăng ngữ xúc. Hữu đối xúc là những xúc chạm vật chất, dẫn đến đắm nhiễm ngũ dục. Tăng ngữ xúc còn gọi là tâm xúc, là những xúc chạm tâm lý, dẫn đến sự hình thành các tưởng hay khái niệm, là cơ sở của các kiến chấp.
d) Duyên khởi mười chi: Giải thích sự đưa đến tái sanh, tập trên quan hệ thức và danh sắc. ở đây, thức là kết sanh thức, tức thức lúc đi tái sanh, khởi đầu một sự sống mới. Vòng quay này có mười chi, nên gọi là duyên khởi mười chi.
e) Quan hệ duyên khởi dẫn đến chấp ngã: Theo tuệ giác của Phật, quan niệm về một cái ngã hình thành từ cảm thọ và sắc. Bằng những kinh nghiệm thực tế hoặc kinh nghiệm thiền định nào đó, người ta cho rằng cảm thọ này là có thật, hay sắc này là đệ nhất thù thắng, từ đó phát sanh những ý niệm hay kiến chấp về ngã.
f) Quan hệ dẫn đến chấp ngã tồn tại theo giới địa: Có bảy trú xứ của thức và hai nhập xứ mà chúng sanh cho rằng đó là giới địa của mình. Bảy trú xứ của thức là cõi Trời, Người, Quang âm, Biến tịnh, Không xứ, Thức xứ và Vô sở hữu xứ. Hai nhập là Vô tưởng nhập và Phi tưởng phi vô tưởng nhập. Tất cả giới địa này là thế gian. Có tám cấp bậc giải thoát của thức mà cuối cùng là Diệt tận định.
14. Kinh Thích Đề-hoàn-nhân vấn 19
Thích Đề-hoàn-nhân (Sakka devãnam Inda), vua cùa các cõi trời, phát khởi thiện tâm vi diệu, muốn đến thăm Phật. Trong cuộc viếng thăm này, Đế-thích đã nêu lên những mối nghi ngờ và được Đức Thế Tôn giải đáp. Kinh có thể được chia thành ba phần.
a) Nhạc thần Ban-giá-dực được sai đến trước để trổi nhạc cúng dường, tán thán Phật. Với cây đàn lưu ly trong tay và giọng hát của
__________________
19 tương đương Pāli:D. 21.SakkapañhaSutta.
mình, Ban-giá-dực đã tấu lên khúc tình ca không dài, không ngắn, buồn và thương uyển chuyển, làm rung động lòng người. Khúc nhạc Ban-giá-dực tấu lên hàm đủ các ý nghĩa, nói lên sự trói buộc của dục, cũng nói về phạm hạnh, cũng nói đến Sa-môn và cũng nói đến Niết-bàn. Ban-giá-dực tấu lên khúc tình ca ấy, có thể nói, như là một cách bày tỏ lời cầu nguyện cho cuộc tình duyên thương thầm nhớ trộm của mình (Cuối bản kinh chúng ta sẽ thấy lời cầu nguyện của Ban-giá-dực được như ý). Sau khi tấu nhạc, Ban-giá-dực trình cho Phật biết ý muốn hầu Thế Tôn của Đế-thích và chư Thiên Đao-lợi.
b) Đế-thích và chư Thiên Đao-lợi cùng vào hang đá đảnh lễ Thế Tôn. Tại đây, Đế-thích nêu lên một câu hỏi là vì lý do nào mà chư Thiên, loài người, càn-thát-bà, a-tu-la và các chúng sanh khác thường xuyên tranh chấp, thù địch nhau? Đức Phật dẫn chuỗi nhân duyên từ tham lam tật đố đến điệu hý là nguyên do dẫn đến tranh chấp, hận thù. Phật dạy: “Chỉ duyên điệu hý làm gốc; nhân điệu hý, duyên điệu hý; điệu hý làm nguyên thủ, từ đó có tưởng. Từ tưởng có dục. Từ dục có yêu ghét. Từ yêu ghét có tham lam tật đố. Do tham lam tật đổ, chúng sanh tàn hại lẫn nhau”. Điệu hý tức là xu hướng bất đồng.
Tiếp theo, Đế-thích hỏi con đường dập tắt điệu hý, tức cũng là hỏi làm sao diệt trừ sự tranh chấp, hận thù. Đức Phật dạy tuần tự tu tập từ chính hành nơi thân, khấu, ý; y nơi các thọ đáng thân cận và không nên thân cận mà thành tựu phòng hộ bằng giới luật nghi; y nơi các căn mà tu tập căn luật nghi. Đó là con đường dập tắt sự tranh chấp và hận thù.
c) Sau khi những hoài nghi được giải đáp, Đe-thích trình bày với Đức Thế Tôn rằng ông đã từng tham vấn nhiều nơi về những vấn đề này nhưng không được trả lời. Đế-thích cũng cho biết cảm giác hỷ lạc hạnh phúc sau khi nghe Phật thuyết pháp so với cảm giác hỷ lạc khi đánh thắng chư Thiên a-tu-la. Hai niềm hỷ lạc hoàn toàn trái ngược nhau, một bên đến từ nghe Chánh pháp, một bên do chiến thắng trong đấu tranh hận thù. Đức Phật hỏi Đe-thích đối với niềm hỷ lạc, cảm nghiệm lạc mà ông có hiện nay, trong đó muốn tìm
Cầu những kết quả công đức gì? Đe-thích trả lời: trong hỷ lạc, cảm nghiệm lạc, muốn tìm cầu năm kết quả công đức, mà cuối cùng là Niết-bàn giải thoát.
15. Kinh A-nậu-di20
Bản kinh cho biết mục đích tu học theo Phật pháp là đạt được cứu cánh giài thoát chứ không phải tìm cầu thần thông biến hóa. Nhưng nếu “ai tu hành phạm hạnh theo Pháp mà Ta (Phật) giảng dạy thì có thể hiện thần túc chứ không phải không thể; pháp ấy dẫn đến xuất ly, không phải không thể xuất ly”.
Tỳ-kheo Thiện Tú (Sunakkhatta) hoàn tục vì hai lẽ: Thế Tôn không thị hiện thần thông và không nói về khởi nguyên của thế giới.
Phật cho Thiện Tú biết: Dù Như Lai hiện hay không thị hiện thần thông, khởi nguyên thế giới được hay không được thuyết, pháp mà Phật thuyết có mục đích là chân chính dẫn đến diệt khổ. Dù nói như vậy, nhưng vì lòng thương tưởng, Đức Thế Tôn đã dùng vô số phương tiện hiển thị thần thông, như tiên liệu về cái chết của các ngoại đạo Ni-kiền-tử Giá-la-lâu (Acela Kaịãrama), Cứu-la-đế (Korakkhattiya) và trường hợp Phạm chí Ba-lê-tử không dám đi gặp Phật. Tỳ-kheo Thiện Tú vì ngu si nên không nhận ra được những mật ý của Phật.
Đối với vấn đề khởi nguyên của vũ trụ, trong bản kinh này, Đức Phật có đề cập đến bốn thuyết, đó là: bởi Phạm thiên sáng tạo, bởi sự đọa lạc của chư Thiên Hý tiểu và chư Thiên Ý phẫn, và vô nhân luận. Nhung những vấn đề này không liên quan đến phạm hạnh giải thoát khổ đau nên Đức Phật không quan tâm.
Cuối bản kinh, Phật tái khẳng định: khi đệ tử'Phật chứng nhập giải thoát thanh tịnh, vị ấy thấy tất cả đều thanh tịnh, chứ không phải thấy tất cả đều bất tịnh như ngoại đạo chỉ trích.
_________________
20 Tương đương Pāli:D.24. PāthikaSutta.
16. Kinh Thiện Sanh 21
Kinh chỉ dạy những nguyên tắc cơ bản làm người và cách đối nhân xử thế.
Theo lời dạy của người cha trước khi chết, mỗi buổi sáng Thiện Sanh ra khu vườn công cộng lễ bái sáu phương, nhưng không hiểu được ý nghĩa. Đức Phật bèn giảng dạy cho Thiện Sanh ý nghĩa của lễ lạy sáu phương theo pháp Hiền Thánh. Đó là những nguyên tắc giữ gìn tư cách đạo đức của bản thân và mối quan hệ đạo đức, luân lý của cá nhân đối với gia đình, xã hội.
Đối với bản thân, cần phải tránh xa bốn hành vi xấu ác: giết, trộm, tà dâm, và nói dối; tránh bốn trường hợp xúi làm việc xấu: do tham lam, do sân hận, do ngu si, do sợ hãi; và tránh sáu nguyên nhân tổn thất tài sản: 1. đam mê rượu chè; 2. cờ bạc; 3. phóng đãng; 4. đam mê kỹ nhạc; 5. kết bạn người ác; 6. biếng lười.
Đối với bạn bè, cần phải biết phân biệt bốn hạng kẻ thù mà như người thân, đó là: hạng úy phục, hạng mỹ ngôn, hạng kính thuận, hạng ác hữu; bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở, đó là: ngăn làm việc quấy, thương yêu, giúp đỡ, đồng sự.
Ý nghĩa sáu phương chính là mối quan hệ của bản thân đối với gia đình và xã hội: Phương Đông là cha mẹ; phương Nam là sư trưởng; phương Tây là thê thiếp; phương Bắc là bạn bè thân thích; phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn; phương dưới là tôi tớ. Trong các mối quan hệ này, Phật dạy ai cũng phải lo tròn bổn phận và trách nhiệm của mình: Con giữ tròn bổn phận làm con; cha mẹ làm tròn trách nhiệm của cha mẹ; chồng làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của chồng, vợ làm tròn bổn phận của vợ... mỗi bên đều làm tròn bổn phận trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, thì bản thân, gia đình và xã hội được an lạc, thịnh vượng.
______________________
21. Tương đương Pāli: D.31. SiṅgālaSutta.
17. Kinh Thanh Tịnh 22
Sau mùa an cư, Sa-di Châu-na từ nước Ba-ba đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Miến-kỳ để hầu thăm Tôn giả A-nan và tường thuật lại sự kiện có Ni-kiền-tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe, họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau, không còn phân biệt trên dưới, tìm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau (nhu đã được tường thuật trong kinh Chúng Tập). Tôn giả A-nan dẫn Chauna đến chỗ Thế Tôn và kể lại sự kiện này. Nhân đó, Thế Tôn nói về những trường hợp dẫn đến sự hòa hợp hay tranh chấp trong nội bộ của một giáo đoàn.
Theo đó, có bốn trường họp là pháp hoàn hảo hay không hoàn hảo và đệ tử hành trì hay không hành trì, tùy thuộc vào mối quan hệ này mà dẫn đến sự bền vững hay gây chia rẽ của giáo đoàn. Trường họp pháp luật chân chính được khéo thuyết giảng và đệ tử khéo hành trì thì giáo đoàn vững mạnh lâu dài.
Mặt khác, khi có vị Đạo sư xuất thế, Pháp của vị ấy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chơn yếu, lại được lun bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ; sau khi diệt độ, các đệ tử y pháp tu hành, tự chứng ngộ, rồi công bố rộng rãi thì giáo đoàn sẽ đứng vững.
Tiếp theo là tình trạng hưng suy của giáo đoàn tùy thuộc vào phạm hạnh đầy đủ hay chưa đầy đủ. Trường hợp phạm hạnh đầy đủ là: Đạo sư danh tiếng, hàng đệ tử trưởng lão đã chứng ngộ lại còn có thể công bố pháp rộng rãi, lần lượt, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều có thực chứng như vậy, và đời sống vật chất không thiếu thốn.
Phần còn lại của kinh gồm hai phần:
____________________
22. Tương đương Pāli: D.29. PāsādikaSutta
a) Pháp lạc:
Phật đã tự thân tác chứng bốn niệm xứ, bốn thần túc, bốn ý đoạn, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám đạo Hiền Thánh. Đó là pháp dẫn đến an lạc. Trên nền tảng đó, Phật khuyên “các Tỳ- kheo hãy cùng hòa hiệp chớ sanh tranh chấp, cùng theo học một Thầy, cũng như nước và sữa hòa một, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự thắp sáng cho mình, nhanh chóng được an lạc”. Đối với giới luật, Đức Thế Tôn quy định về y áo, thực phẩm, chỗ ở và thuốc thang cho Tỳ-kheo sống một đời sống tri túc mà thôi. Đời sống an lạc mà đệ tử Phật mong cầu là những an lạc không bị chi phối bởi ngũ dục, năm triền cái; là hiện pháp lạc trú do chứng đắc bốn thiền, là lạc vô lậu do chứng bốn Thánh quả, là lạc do ái tận giải thoát của A-la-hán với chín điều bất hành.
b) Diệt trừ tà kiến:
Tà kiến được nói ở đây là những luận thuyết về quá khứ tối sơ và về tương mạt kiếp. Đối với quá khứ hoặc tương lai không có gì là Phật không thấy, không biết, nhưng nếu không ích lợi thiết thực, không dẫn đến ly dục tịch tịnh, Niết-bàn thì Phật không ký thuyết, tức không nói về các pháp ấy. Phật chi nói những gi ích lợi thiết thực, vì dẫn đến chứng ngộ; nghĩa là người nghe có thể tự chứng nghiệm chân lý ấy bằng sự giác ngộ của mình. Do đó, Phật khuyên các Tỳ-kheo hãy diệt trừ những tà kiến ấy bằng cách “tu ba hành đối với bốn niệm xứ”.
18. Kinh Tự Hoan Hỷ 23
Xá-lợi-phất nhớ nghĩ những lời Phật dạy về tổng tướng của các pháp, phân biệt pháp đen, pháp trắng, hai phàn đối trị nhau, rồi chế pháp (37 bồ-đề phần), xứ pháp (12 xứ)... tự nhớ nghĩ như vậy mà sanh tâm hoan hỷ, rồi tuyên bố: Trong quá khứ, hiện tại, vị lai,
________________
23. Tương đương Pāli:D.28. SamapasādaniyaSutta
không có Sa-môn, Bà-la-môn nào có trí tuệ, thần túc có thể sánh ngang với Phật. Tuyên bố như vậy được gọi là sư từ hống.
Đức Phật ấn chứng lời tuyên bố đó. Đồng thời, Ngài cho biết chư Phật đã chứng ngộ pháp như vậy, thuyết pháp như vậy, là pháp tính tự nhiên, không có gì để phải nói xứng đáng được tán thán nhiều hơn hay tán thán ít hơn.
19. Kinh Đại Hội24
Chư Thiên, Rồng, Quỷ, Thần, A-tu-la, Ca-lâu-la, Chần-đà-la, Ma-hầu-la-già, Nhân và Phi nhân... đại tập hội. Đức Phật vì họ thuyết pháp, khiến cho ai nấy đều được lợi ích, xa lìa trần cấu...
Bản kinh liệt kê hầu hét tên của các thần linh được tín ngưỡng thời Phật hoặc sau đó. Đây có thể được xem như là bản kinh chứa mầm mong tư tưởng Mật giáo, làm cơ sở cho Mật giáo phát triển sau này.
C. Phần 3
Gồm có 10 kinh, chủ yểu tường thuật những sự kiện Đức Phật luận nạn với các dị học, ngoại đạo.
20. Kinh A-ma-trú 25
Kinh nói về trường hợp Đức Thế Tôn hàng phục ngoại đạo A-ma-trú và thầy của y, Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la.
Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la (Pokkharasãtỉ) là người giỏi xem tướng đại nhân, rành nghi lễ tế tự, có năm trăm đệ tử, trong đó có người đệ tử trẻ tuổi rất xuất sắc là A-ma-trú (Ambattha), cũng đã có được năm trăm học trò nhu thầy mình. Phất-già-ĩa-sa-la từ lâu đã nghe đồn về Đức Phật, nên lần này, khi nghe tin Đức Phật cùng với
______________________
24 Tương đương Pāli: D. 20. MahāsamayaSutta.
25 Tương đương Pāli: D.3. AmbaṭṭhaSutta
đại chúng Tỳ-kheo đang đến hoằng pháp trong làng của mình thì muốn đến thăm viếng để xác định lời đồn. Ông sai đệ tử A-ma-trú đến trước để xem xét có phải Thế Tôn thật sự có ba mươi hai tướng của bậc đại nhân hay không.
A-ma-trú vâng lời thầy ra đi với tâm đầy ngạo mạn, tự thị về chủng tộc huyết thống cũng như giai cấp và trình độ học vấn của mình. Y tỏ ra bất kính với Đức Thế Tôn ngay từ khi mới diện kiến và mở đầu cuộc đàm luận. Thế nhưng, sau đó, Đức Phật dẫn giải cho thấy y chỉ là con cháu của một nữ tỳ dòng họ Thích. Với sự thực lịch sử của dòng họ mình, A-ma-trú mất hết khí ngạo mạn lúc đầu.
Tiếp đến, Phật nói thế gian phân chia giai cấp, cho Sát-lợi là hon hết, nhưng trong pháp luật của Phật thì chỉ những người nào có đủ Minh và Hành mới là người tối thắng trên cả trời và người. Con đường thành tựu Minh và Hành là xả tục xuất gia, thành tựu giới, thành tựu căn luật nghi, sống tri túc, tu tập chánh niệm chánh tri, đoạn trù' năm triền cái, lần lượt chứng Sơ thiền cho đến Tứ thiền, và tiếp theo là các thắng trí: thần túc thông, thiên nhĩ thông, tha tâm trí, túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí, biết rõ “sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa”.
Phật cho biết, những du sĩ ngoại đạo tu tập những phương pháp chỉ dẫn đến thối thất Minh Hành chứ không bao giờ dẫn đến thành tựu Minh Hành, cho dù vậy, thầy trò A-ma-trú vẫn không làm được như những du sĩ kia, vậy mà lại ngông cuồng, ngạo mạn, tự thị về sở tri, sở hành của mình. Đồng thời, Phật nêu gương các tiên nhân cổ đại, những người sáng lập kinh thơ, tán tụng... mà các Bà-la-môn đang ngày đêm tụng tập để trở thành những tiên nhân như họ, để được sống chung với Phạm thiên. Thế nhưng, sẽ chẳng bao giờ trở thành tiên nhân bằng vào cách tụng đọc hay thuật lại lời của tiên nhân.
Đến đây, A-ma-trú hoàn toàn bị khuất phục, bao nhiêu kiêu mạn đều rơi rụng. Y trở về và thuật lại buổi đàm luận với Thế Tôn,
thầy y nghe xong nổi giận đá y té ngửa. Sau đó, Bà-la-môn Phất-già- sa-la thân hành đi gặp Phật, phát khởi tín tâm, thọ trì tam quy, ngũ giới, làm cư sĩ tại gia.
21. Kinh Phạm Động 26
Kinh có thể được chia thành hai phần lớn. Phần đầu nói về thái độ của Phật trước những lời khen chê. Phần sau, cũng là phần trọng tâm của kinh, nói về 62 học thuyết ngoại đạo.
a) Có hai thầy trò Phạm chí, nhóm tu ngoại đạo là Thiện Niệm (Suppiya) và Phạm-ma-đạt (Brahmadatta) đi theo sau Phật và các Tỳ-kheo trên con đường đến Trúc thôn. Một người chê bai Phật bằng đủ mọi cách; một người ngợi khen Phật cũng bằng đủ mọi cách. Các Tỳ-kheo tập hợp tại giảng đường bàn luận về sự kiện này. Phật dạy các Tỳ-kheo không hoan hỷ khi được tán thán, cũng không ưu sầu khi bị chê bai. Sự khen chê của hai thầy trò kia chỉ do ảnh hưởng bởi ba nguyên nhân: xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt và thân cận dị biệt.
Ngoại đạo tán thán, khen ngợi Phật, Pháp, Tăng là chỉ khen ngợi về giới, mà cũng chỉ là những giới điều bình thường, chứ không thấy được giới giải thoát để khen ngợi, tán thán. Theo Đức Phật, đó là những điều nhỏ nhặt, không phải là mục đích cứu cánh của đạo Phật. Mục đích cứu cánh của đạo Phật là thành tựu trí tuệ vô lậu, vượt thắng tham, sân, si, chế ngự các dục, đoạn trừ các dục, sống hoàn toàn xả ly, vô thủ, vô ngã và chứng đắc Niết-bàn, hạnh phúc tối hậu ngay trong hiện tại. Đó là mới là điều đáng được chư Thiên và loài người tán thán.
Thái độ đúng đắn trước những lời khen chê là^phải dùng trí tuệ, chánh tri kiến để xem xét những lời khen chê ấy có đúng là sự thật hay không, xảy ra với chúng ta hay không, mà không nên phiền não hay vui mừng.
____________________
26 Tương đương Pāli: D.1. Brahmajāla Sutta
b) Tiếp theo, Đức Phật trình bày 62 luận thuyết về vũ trụ và nhân sanh đương thời. Những luận thuyết này căn cứ trên hai phần thời gian: quá khứ tối sơ, gọi là bản kiếp bản kiến (pubbantakappikã), và tương lai mạt kiếp, gọi là mạt kiếp mạt kiến (aparantakappikã), cụ thể như sau:
+ Bản kiếp bản kiến: gồm có 18 luận thuyết:
- 4 thường trú luận (sassatavãda), chủ trương ngã và thế giới là thường hằng, bất biến.
- 4 bán thường trú luận (ekaccasassatavãda), bản ngã và thế giới một phần thường trú và một phần không thường trú, chịu biến dịch. Tức duy chỉ Brahman (Thượng đế) là thường hằng bất biến, ngoài ra đều chịu biến dịch.
- 4 hữu biên vô biên luận (antănantavăda), tự ngã và thế giới là hữu biên, vô biên, vừa hữu vừa vô biên và không phải hữu biên, không phải vô biên.
- 4 ngụy biện luận (anarãvikkhepavãda), hỏi một đường đáp một nẻo.
- 2 vô nhân luận hay ngẫu nhiên luận (adhicca- samuppannavãdà), thé giới này do ngẫu nhiên, không bởi nguyên nhân nào cả, xuất hiện từ hư vô.
+ Mạt kiếp mạt kiến (aparantakappikã), gồm có 44 luận thuyết:
-16 hữu tưởng luận (sannĩvãda): đời sau có tưởng đồng thời có sắc (hữu hình), hoặc không sắc (vô hình), có biên (hữu hạn), hay không có biên (vô hạn), thuần lạc, hay thuần khổ, tưởng cục bộ hay tưởng vô lượng, v.v...
- 8 vỏ tưởng luận (asannĩvãda), đời sau có sắc, không có tưởng, v.v...
- 8 phi tưởng phi phi tưởng luận (nevasanhĩnãsanmvăda), đời sau không phải có tưởng cũng không phải không có tưởng, v.v...
- 7 đoạn diệt luận (ucchedavãda), cho rằng chúng sanh hoàn toàn đoạn diệt, vô thường.
- 5 hiện tại Niết-bàn luận (ditthadhammanibbãnavăda), năm dục là Niết-bàn trong hiện tại, hoặc Sơ thiền, cho đến Tứ thiền, là Niết-bàn trong hiện tại.
Cuối bản kinh, Phật cho biết tất cả những luận thuyết trên hình thành từ những cảm thọ, tùy thuộc vào trình độ các cảm thọ mà có những luận thuyết khác nhau. Đức Phật biết tất cả những luận thuyết đó nhưng không vướng mắc. Bản kinh thâu tóm hết tất cả các luận thuyết thời bấy giờ, thời quá khứ và cả tương lai nên kinh có tên là Phạm Võng: tấm lưới Phạm thiên, tấm lưới tư tưởng, tôn giáo bao trùm cả thiên hạ. Kinh ghi: “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, mỗi người tùy theo sở kiến mà nói; tất cả đều gồm trong sáu mươi hai kiến. Mỗi người tùy ý thuyết; thảy đều y trên đó, ở trong đó, chừng ấy không hon. Cũng như người chài khéo, bằng tấm lưới dày mắc giăng trên ao nhỏ, nên biết, hết thảy các loài thủy tộc trong ao đều lọt vào lưới, không chỗ tránh thoát, chừng ấy không hơn. Cũng vậy, các Sa-môn, Bà-la-môn, y bản kiếp bản kiến, mạt kiếp mạt kiến, với nhiều thuyết khác nhau, tất cả thuộc vào sáu mươi hai kiến, chùng ấy không hơn”.
Bản kinh chứa đụng nhiều khía cạnh triết học và tôn giáo, rất cần thiết và bổ ích cho những ai muốn đi sâu vào lĩnh vực này.
22. Kinh Chủng Đức 27
Đức Phật ở tại Anga cùng với 1.250 Tỳ-kheo du hành trong nhân gian, đến nghỉ đêm trong thành Campã, bên bờ hồ Gaggarã.
Trong thành Campã có Bà-la-môn tên Sonadanda (Chủng Đức), là một người danh tiếng, được nhiều người kính trọng, có phước tướng, có trí tuệ, đa văn và rất giỏi hùng biện. Ông đến thăm
_____________________
27 Tương đương Pāli: D.4. SoṇadaṇḍdaSutta
viếng và luận bàn về năm pháp thành tựu một Bà-la-môn với Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn lần lượt loại bỏ ba pháp đầu là huyết thống, tụng thuộc kinh điển và dung mạo đoan chính trong tiêu chuẩn của Bà-la-môn, chỉ để lại hai pháp là giới đầy đủ và trí tuệ thông suốt, tức là đầy đủ Minh và Hành. Bà-la-môn Sonadanda chấp nhận sự loại bỏ ấy và đồng ý với Đức Thế Tôn rằng chỉ cần có đầy đủ Minh và Hành thì bất cứ người nào cũng trở nên cao quý. Điều này đã khiến cho năm trăm Bà-la-môn tùy tùng bất mãn, nhưng với uy tín và đức độ của Sonadanda và đặc biệt là khả năng nhiếp hóa của Đức Thế Tôn, cuối cùng tất cả đều quy thuận. Bà-la-môn Sonadanda quy y Tam bảo và trọ tri năm giới, làm một cư sĩ tại gia của Phật.
Bản kinh cho thấy tư tưởng bình đẳng tuyệt đối, không có giai cấp trong loài người cùng một dòng máu đỏ và nước mắt cùng mặn. Qua đó, Đức Phật trình bày những tiêu chuẩn và giá trị đạo đức cao quý mà mỗi con người ai cũng có thể đạt được bằng sự nỗ lực của bản thân mình, ớ đây, thêm một lần nữa Đức Phật khẳng định Giới - Định - Tuệ là con đường duy nhất thành tựu nhân cách giải thoát vượt hẳn trời người của giáo lý Phật đà.
23. Kinh Cứu-la-đàn-đầu 28
Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu chuẩn bị tổ chức đại lễ tế tự với nhiều bò và dê, nhưng sau khi diện kiến Đức Thế Tôn, hỏi về thể thức tế tự, Đức Phật vì ông ta nói về ba loại tế tự, 16 tế cụ, giảng về công đức của sự quy y, giữ giới, từ tâm và xuất gia tu đạo, khiến cho Cứu-la-đàn-đầu tỉnh ngộ, thả hết bò và dê, xin quy y Tam bảo.
Phật kể một chuyện tiền thân của Ngài. Trong tiền thân đó, Ngài làm quốc vương hiền minh, khiến cho quốc dân an cư lạc nghiệp, bằng biện pháp kinh tế: cấp vốn cho người đi buôn, cấp' bò, bê, thóc giống cho người làm ruộng; tạo điều kiện cho dân chuyên tu nghề nghiệp của mình. Khi đất nước giàu mạnh, vua tổ chức đại tế đàn.
______________________
28 Tương đương Pāli: D.5. Kūṭadanta-Sutta
Bản kinh cho biết quan điểm của Phật giáo về vấn đề cúng tế. Theo đó, tế đàn có ý nghĩa, mang lại kết quả thiết thực nhất là không giết bò, dê và các chúng sanh; chỉ dùng bơ, sữa, dầu mè, mật, đường đen, đường mía, tức là tổ chức đàn chay. Do đó, tất cả những hình thức cúng tế bằng cách giết hại chúng sanh đều trái với tinh thần Phật giáo. Cách tế đàn đưa đến phước báo cao nhất là từ bố thí cho Tăng, cho đến tự mình tu tập, thành tựu giới, đắc bốn thiền, các thắng trí, cho đến chứng đắc ba minh, lậu tận giải thoát. Đây là tế đàn ít tốn kém nhất mà thành tựu kết quả cao nhất.
24. Kinh Kiên cố29
Cư sĩ Kiên cố (Kevatta) xin Phật cho phép các Tỳ-kheo hiển thị thần thông. Đức Phật từ chối và nói rằng, Ngài chỉ dạy cho các đệ tử tĩnh lự tu đạo, có công đức thì che giấu, có tội lỗi thì phát lộ, chứ không bao giờ dạy các đệ tử hiển thị thần thông.
Phật nêu lên ba loại thần thông, một là Thần biến thị đạo (,iddhipãtihãriya), là hiện các phép thần thông biến hóa như một thân thành nhiều thân, đi trong hư không như chim, đi xuyên qua vách đá...; hai là Ký tâm thị đạo (ădesanãpătihãriya), đọc rõ tâm của người khác, biết rõ người đang nghĩ gì; và ba là Giáo giới thị đạo (anusãsanĩpãtihãriya), giáo dục, dạy người xấu trở thành tốt, biến kẻ hung ác thành người thiện. Trong ba loại thần thông đó, Phật chỉ nhận Giáo hóa (giới) thị đạo là sự thị hiện thần thông phép lạ kỳ diệu nhất. Dù cho có bao nhiêu thần thông đi nữa cũng không thể biến một tên tướng cướp thành một Tỳ-kheo chứng quả A-na-hàm, nhưng bằng phương pháp giáo dục, tức Giáo giới thị đạo, Đức Phật đã làm được điều đó như chúng ta thấy trong trường hợp của tướng cướp Chuỗi ngón tay.
Rồi Phật cho biết có chứng các thần thông cũng không ích lợi gì. Phật kể chuyện một Tỳ-kheo chứng phép thần thông, bay lên
______________________
29 Tương đương Pāli: D.11. KevaṭṭaSutta.
khắp các tầng trời để hỏi một câu hỏi: bốn đại này khi diệt tận thì trở về đâu, nhưng không một vị trời nào biết câu trả lời. Cuối cùng, Tỳ-kheo gặp Phạm thiên, tức Thượng đế toàn trí, toàn năng, ông này không trả lời trực tiếp, mà lại tuyên bố: “Ta là Đại Phạm, là đấng Vô Năng Thắng, thống lãnh một nghìn thế giới, phú quý, tôn quý, hào quý, hoàn toàn được tự tại, có khả năng tạo hóa mọi vật, là cha mẹ của chúng sanh”, cũng không biết câu trả lời, nhưng ông biết chắc chắn có một người biết câu trả lời và khuyên Tỳ-kheo nên đến gặp: Đó chính là Đức Phật, thầy của Tỳ-kheo đang ở tinh xá Kỳ-viên!
Tỳ-kheo trở về tinh xá Kỳ-viên, đảnh lễ Đức Thế Tôn và đặt câu hỏi. Phật dùng ngụ ngôn, như con chim ưng của người đi biển thả ra tìm bờ, nếu không tìm được bờ, nó sẽ quay trở lại thuyền. Tỳ-kheo này cũng như vậy, đi khắp nơi không tìm được lời đáp mới trở về tìm Phật.
Một người biết tìm đường trở về với Phật cũng là một sự thể hiện thần thông rồi đó!
25. Kinh Lõa Hình Phạm Chí30
Một Phạm chí lõa hình họ là Ca-diệp gặp Phật và hỏi: “Nếu có người nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy thì lời này có phải xuyên tạc Đức Phật không?”.
Phật nói đó là lời phỉ báng Ngài, không phải là lời chân thật, bởi vì đối với trường họp thọ báo với hai thú hướng, thiện thú hoặc ác thủ, cửa pháp tu khổ hạnh, Đức Phật thấy hết biết hết, thì làm sao Ngài chê bai, chỉ trích được? Đối với khổ hạnh, Đức Phật không hoàn toàn chỉ trích.
Bản kinh cho biết cách phân biệt, tỷ giảo những pháp gì đồng nhất và không đồng nhất giữa Phật giáo và các giáo phái khác để hiếu
_______________________
30 Tương đương Pāli: D. 8. KassapasihanādaSutta
những điều Phật nói mà không xuyên tạc. Cách phân biệt, tỷ giảo đó là dựa vào Bảy giác chi, đó là cách y cứ trên sự hành tì dẫn đến kết quả thiết thực ngay trong hiện tại.
Ca-diệp đồng ý rằng bằng vào cách thực hành đó, người tu hành tự thấy mình, biết mình và biết lời Phật dạy là đúng sự thật, nhưng ông vẫn cho khổ hạnh cởi bỏ y phục... là pháp hành chân chính của Sa-môn, Bà-la-môn. Đức Phật nói, bằng vô số phương tiện làm khổ thân này những người ấy không đầy đủ giới, không đầy đủ kiến, không thể siêng tu, cũng không phát triển rộng lớn, và người phụ nữ cũng biết được pháp đó, là khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, ‘bằng vô số phương tiện làm khổ mình. Nhưng không biết rằng tâm ấy là tâm có nhuế, hay tầm không có nhuế; tâm có hận hay tâm không có hận; tâm có hại hay tâm không có hại. Cho nên, người có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất chính là người chứng đắc ba minh, diệt trừ các si mê tối tăm, sanh ánh sáng trí tuệ, đạt lậu tận trí.
Cuối cùng, Ca-diệp phát tín tâm, xuất gia, thọ cụ túc, một thời gian sau thì chứng A-la-hán.
26. Kinh Tam Mình 31
Tam minh ở đây chỉ cho Tam minh Bà-la-môn, Pāli gọi là tevijja-brāhmaṇa, Bà-la-môn tinh thông ba bộ Ve da, không phải Tam minh trong Phật giáo.
Hai thanh niên Bà-la-môn là Bà-tất-tra (Vāseṭṭha) và Phả-la- đọa (Bhāradvāja) tranh luận với nhau về con đường nào chân chính dẫn lên Phạm thiên, theo Bà-la-môn Phất-già-sa-la (Pokkharavāti) hay Đa-xá-lê (Tārukkha) là con đường đúng. Mỗi người đều bảo vệ quan điểm của mình. Cuối cùng, họ đề nghị đến tham khảo ý kiến của Phật và nhờ Ngài phân định.
__________________
31 Tương đương Pāli: D.13. TevijjaSutta.
Đức Phật đã giảng giải cho hai thanh niên Bà-la-môn rằng không thể đi đến thiên đường, sống chung với Phạm thiên bằng cách cầu nguyện, tán tụng hay hy vọng được cứu rỗi. Cũng như dòng sông Aciravati nước đầy tràn bờ, cỏ một người đến và muốn qua bên kia sông vì công việc, nhưng người ấy chỉ đứng trên bờ bên này kêu bờ bên kia và nói: “Bờ bên kia hãy lại đây! Bờ bên kia hãy lại đây!”. Có thể nào vì người ấy kêu gọi bờ bên kia, vì cầu khẩn, vì hy vọng, vì tán thán mà bờ bên kia của sông Aciravati sẽ tiến gần đến bờ bên này không? Chúng ta cũng không thể lên thiên đường bằng cách cầu nguyện và hy vọng.
Rồi Đức Phật lần theo truyền thuyết để chỉ cho hai thanh niên thấy những đạo sĩ tối thượng cổ, những người đã sáng lập nên tín ngưỡng Phạm thiên nhưng được xác định là tất cả các vị ấy chưa ai từng thấy Phạm thiên, mặc dù họ là những người tinh thông Tam minh và soạn các thi tụng tập thành Thánh điển Vệ-đà. Đực Phật nói, dù cho những Bà-la-môn niên cao lạp trưởng, những bậc tôn sư và đại tôn sư thông thuộc các bộ Thánh điển, tinh thông ba tập Vệ-đà, nhưng đời sổng chấp trước, mê đắm, bị trói buộc bởi sự trói buộc của dục lạc - tóc là sống trái với tâm tư và phẩm chất của đấng Phạm thiên - thì không thể sau khi thân hoại mạng chung sẽ cộng trú với Phạm thiên. Những bậc lãnh đạo tôn giáo mà không thể về bên Phạm thiên thì làm sao dẫn dắt tín đồ của họ về với Phạm thiên? Những người này “khi ngồi với sự tự tín, thật sự đang bị chìm trong bùn lầy, và khi đang chìm trong bùn lầy phải sống trong thất vọng, lầm tưởng rằng đã đến cảnh giới an lạc hơn. Do vậy, đối với những người Bà-la- môn tinh thông Vệ-đà, sự tinh thông ấy được gọi là bãi sa mạc không có nước, sự tinh thông ấy cũng được gọi là rừng rậm không có đường lối, sự tinh thông ấy cũng được gọi là sự bất hạnh”:'
Cuối cùng, hai thanh niên hỏi Phật về con đường chân chính dẫn đến cộng trú với Phạm thiên. Đức Phật dạy chỉ có thể đi đến thiên đường, sống chung với Phạm thiên bằng cách sống với tâm tư tương ứng với tâm tư, phẩm chất của Phạm thiên. Phẩm chất của
Phạm thiên là gì? Là “không dục ái, không sân hận, không ô nhiễm, và tự tại”, tức phải sống bằng bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả.
27.Kinh Sa-môn Quả 32
A-xà-thế (Ajâtasattu) trước đây từng nghe lời xúi giục của Đe- bà-đạt-đa (Devadatta) đã giết cha để cướp ngôi. Sau khi Đề-bà-đạt- đa bị quả báo hiện tiền rơi vào địa ngục, A-xà-thế bắt đầu hối hận và lòng bất an. Ông tùng đi tham vấn tâm lý với các Lục sư ngoại đạo, nhưng chưa cởi bỏ được gánh nặng trong lòng. Vào một đêm trăng sáng, lòng ông cảm thấy bất an hơn và tham vấn các đại thẩn tả hữu nên làm một cái gì đó để khỏa lấp sự trống vắng, cô đơn và hối hận chăng? Mỗi người tùy theo sở thích của mình đưa ra lời đề nghị khác nhau. Bấy giờ, y sĩ Kỳ-bà đề nghị vua đến tham kiến Đức Phật hiện đang CU' ngụ tại vườn Xoài nhà ông. Vua nhận lời.
A-xà-thế từng nghe nói giáo đoàn của Phật có tới 1.250 người, nhưng khi đến nơi ông thấy không gian tịch mịch đến nỗi nghe được cả tiếng thở của con muỗi thì lòng vô cùng kinh sợ, lông tóc dựng đứng. Kẻ bạo chúa hung hãn đến bao nhiêu cũng khiếp đảm run sợ trước hư vô tĩnh lặng!
Diện kiến Phật, vua tường thuật những cuộc hội kiến với các tông chủ tôn sư ngoại đạo, ai nấy đều đề cao mình, chê bai người khác, nhưng đối với câu hỏi của vua nêu thì trả lòi lung tung, lạc đề. Nhóm Lục sư ngoại đạo gồm có:
1. Phất-lan Ca diếp (Pūraṇa-kassapa), chủ trương thuyết phi nghiệp hay vô tác (akiriyavāda), hành vi thiện hay ác không mang lại kết quả báo ứng gì.
2. Mạt-già-lê Câu-xá-lị (Makkhali-Gosāla), chủ trương đoạn diệt luận (ucchedavāda), không có đời sau, không có linh hồn các thứ.
_____________________
32 Tương đương Pāli: D.2. SamññaphalaSutta.
3. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (Ajita-Kesakambala), chủ trương đoạn diệt luận (ucchedavāda).
4. Bà-phù-đà Già-chiên-na (Pakudha- Kaccāyana), chủ trương thuyết luân hồi tịnh hóa.
5. Tán-nhã-di Tì-la-lê-phất (Sañjaya Balatthiputta), theo xu hướng hoài nghi, ngụy biện luận (amarāvikkhepika), trả lời vấn đề uốn lượn như lươn trườn.
6. Ni-kiền Thân Tử (Nigantha-Nāta-putta), không nêu chủ trương gì mà chỉ khẳng định “Tôi là bậc Nhất thiết trí” thấy tất cả, biết tất cả.
Rồi vua hỏi Phật: Ket quả thiết thực hiện tại của Sa-mônlà gì?
Phật nêu hai trường hợp, một là nô bộc của vua, hai là thần dân của vua; nếu hai người ấy xuất gia học đạo thì vua còn xem và đối xử họ như nô bộc và thần dân nữa hay không? Vua đáp: Không, mà trái lại còn kính trọng.
Phật nói, đó là kết quả đầu tiên và hiện tại của Sa-môn, nhưng đó là kết quả bình thường. Sa-môn còn có kết quả vi diệu hon, đó là, từ khi có Phật xuất thế, thiện gia nam tử phát tín tâm xuất gia, cho đến chứng đắc tam minh, diệt trừ các tối tăm, phát sanh ánh sáng đại trí, gọi là lậu tận trí chứng, chi tiết như trong kinh A-ma-trú.
Sau thời pháp, A-xà-thế tinh ngộ, ăn năn sám hối. Phật nhận sự sám hối và quy y cho ông trở thành đệ tử tại gia.
28. Kinh Bố-tra-bà-lâu 33
Phạm chí Bố-tra-bà-lâu (Poṭṭhapāda) thuật lại Phật nghe về cuộc tranh luận vừa xảy ra giữa các Sa-môn, Bà-la-môn, xoay quanh ba vấn đề:
_________________
33 Tương đương Pāli: D.9. PoṭṭhapādaSutta.
-
Con người phát sanh tưởng không do nhân gì duyên gì. Tưởng có đến, có đi. Đến thì tưởng sanh. Đi thì tưởng diệt.
-
Do mạng, có tưởng sanh; do mạng, cỏ tưởng diệt. Tưởng kia đi, đến. Đến thì tưởng sanh. Đi thì tưởng diệt.
-
Các thuyết nói trước đó không đúng sự thật. Có vị đại quỷ thần, có uy lực lớn, mang tưởng đi, mang tưởng đến. Khi vị ấy mang tuởng đi thì tưởng diệt. Khi vị ấy mang tưởng đến thi tường sanh.
Phật cho rằng các luận thuyết trên đều có chỗ sai lầm. Bởi, tưởng có nhân duyên để sanh và cũng có nhân duyên để diệt, tùy theo cấp bậc thiền định của hành giả, từ thấp đến cao. Chẳng hạn, diệt tưởng về dục sẽ phát sanh tưởng về hỷ và lạc, chứng Sơ thiền; diệt tưởng Sơ thiền diệt thì tưởng Tam thiền sanh... cho đến nhập định tưởng thọ diệt.
Từ vấn đề tưởng liên quan đến vấn đề tự ngã. Do những kinh nghiệm hay tưởng sai biệt mà có những quan niệm về tự ngã khác nhau, ở đây, có chủ trương thân tứ đại Dục giới, hoặc thân Dục giới thiên, hoặc sắc, Vô sắc giới thiên là tự ngã. Phật nói, vấn đề này chỉ biết rõ nếu ‘có thể biết được tưởng sanh, tưởng diệt’.
Phạm chí Bố-tra-bà-lâu hỏi ông có thể biết được tưởng sanh và tưởng diệt của con người không? Phật đáp: ‘Rất khó! Vì sao? Vì ông có kiến giải khác, tập hành khác, nhẫn khác, thọ khác’.
Từ kiến giải khác, tập hành khác, nhẫn khác, thọ khác mà có những điều Đức Phật thuyết, có điều không. Những điều Phật không nói được liệt kê vào 14 vô ký thuyết. Đó là những vấn đề bao gồm ngã, thế gian là thường hay vô thường... Những vấn đề này là đề tài tranh luận giữa các tôn giáo thời Phật tại thế và bây giờ vẫn còn. Ngoại đạo và cả đệ tử của Phật thường kích bác hay bất mãn vì Phật không trả lời vấn đề.
Phật nói: ‘Các vấn đề ngã và thể gian là thường hay vô thường... là những câu hỏi Ta không trả lời. Vì sao? Vì không phù hợp ý
nghĩa, không phù họp pháp, không phải phạm hạnh, không phải vô dục, không phải vô vi, không phải tịch diệt, không phải chỉ tức, không phải Chánh giác, không phải Sa-môn, không phải Niết-bàn’.
Đoạn tiếp theo, Phật nói về vấn đề cái gì thực và cái gì hư dối, ô nhiễm và thanh tịnh. Cuối buổi pháp thoại, Bố-tra-bà-lâu xin xuất gia. Chẳng bao lâu, ông chứng quả A-la-hán.
29. Kinh Lộ-già 34
Bản kinh cho biết quan điểm của Đức Phật về tự độ và độ tha, đồng thời cho biết tư cách của một vị Pháp sư; người Phật tử phải biết phân biệt đâu là vị Pháp sư đáng bị chỉ trích và đâu là vị Pháp sư đáng được tôn kính, tạo điều kiện cho họ hoằng pháp.
Bà-la-môn Lộ-già (Lohicca) thỉnh Phật và Tăng về nhà cúng dường, nhưng lại có ác kiến này: “Các Sa-môn, Bà-la-môn đã tự mình chứng đắc thiện pháp rồi, không nên thuyết pháp cho người khác. Việc ấy chỉ là pháp tham ác. Như phá ngục cũ lại xây ngục mới”.
Người thợ hớt tóc được Lộ-già sai đến chỗ Phật để báo giờ. Ông này thuật lại quan điểm của Lộ-già với Phật, và thỉnh cầu Phật dứt trừ ác kiến cho chủ của mình.
Sau khi thọ thực xong, Phật thuyết pháp, hỏi lại Bà-la-môn Lộ- già về quan điểm đã được thuật. Bà-la-môn xác nhận ông có quan điểm đó.
Trước hết, Phật nêu có ba hạng tôn sư ở đời đáng bị chỉ trích:
Hạng thử nhất, đạo nghiệp chưa thành mà lại đi thuyết pháp. Người ấy không được đệ tử tôn kính, thầy trò chỉ nương nhau để sống mà thôi. Hạng thầy này hoàn toàn chưa chứng được pháp thiện cũng chưa diệt được phiền não mà lại đi thuyết pháp, chẳng khác nào phá ngục cũ mà xây ngục mới. Đó là pháp tham, ô trược, xấu xa.
________________
34 Tương đương Pảli: D. 12. LohiccaSutta
Hạng thứ hai, tuy chứng đắc một ít pháp thượng nhân, nhưng đạo nghiệp vẫn chưa thành tựu mà lại đi thuyết pháp cho đệ tử. Các đệ tử ấy không cung kính phụng thờ, nhưng lại chỉ nương tựa, cùng sống chung với nhau mà thôi. Hạng người này chẳng khác nào xoa lưng cho người khác. Đó là pháp tham, ô trược, xấu xa.
Hạng thứ ba, tuy đầy đủ pháp thượng nhân, nhưng đạo nghiệp chưa thành tựu hoàn toàn, lợi mình chưa thành, lại đi thuyết pháp. Hạng người này chẳng khác nào bỏ cỏ ruộng mình mà đi cày ruộng cho người khác. Đó là pháp tham, ô trược, xấu xa.
Nhưng có hạng tôn sư bậc nhất ở thế gian chẳng thể khuynh động, đó là Như Lai, Chí Chân, Đẳng chánh giác, chứng đắc ba minh, diệt trừ vô minh, sanh trí tuệ minh, trừ bỏ các tối tăm, phát sanh ánh sáng đại pháp; gọi là lậu tận trí chứng. Hạng tôn sư ấy thuyết pháp để dẫn ngưòi chứng đắc bốn Thánh quả. Ai ngăn vị ấy thuyết pháp, cản người nghe pháp vị ấy thuyết, người này có tâm bất thiện, sẽ tái sanh vào cõi khố. Cũng như vua Ba-tư-nặc xuất tài sản vương gia mà chu cấp cho người khác; ai cản trở vua làm việc này là bất thiện. Cũng như Bà-la-môn muốn xuất của cải riêng của mình để cung cấp cho người; ai cản trở, người ấy bất thiện. Người có tâm bất thiện tất sẽ đọa đường dữ.
Sau bài pháp, Lộ-già từ bỏ ác kiến.
D. Phần 4
Có 1 kinh, tức kinh 30, kinh Thế Ký, tường thuật về tướng trạng, kiếp số, thành hoại của thế giới mà lục đạo chúng sanh đang sống.
Kinh chia làm 12 phẩm:
1. Phẩm Diêm-phù-đề:
Một mặt trời, một mặt trăng vận hành khắp quanh bốn thiên hạ... là một thế giới. Như vậy trong hệ mặt trời của chúng ta đang sống có bốn châu mang tên Nam thiệm bộ châu, Đông thắng thần châu, Bắc câu lô châu và Tây ngưu hóa châu.
Một ngàn thế giới như vậy gom lại gọi là Tiếu thiên thế giới. Một ngàn Tiểu thiên thế giới gọi là Trung thiên thế giới. Một ngàn Trung thiên thế giới gọi là Đại thiên thế giới. Đại thiên thế giới là một thế giới lớn có ba lần ngàn thế giới, gọi Tam thiên đại thiên thế giới. Đó là phạm vi một cõi Phật.
Với mỗi châu, kinh mô tả chi tiết hình dáng, diện tích, khí hậu, sản vật, con người. Vị trí của các châu này đều lấy núi Tu-di làm tâm điếm. Phẩm này chính yếu miêu tả châu Diêm-phù-đề, tức Nam thiệm bộ châu, châu trái đất chúng ta.
2. Phẩm uẩt-đan-viết:
Miêu tả châu uất-đan-viết, tức Bắc câu lô châu. Châu này có cơ cấu sinh hoạt xã hội khác hẳn ba châu kia. Mọi điều kiện tự nhiên đều thù thắng, cho nên người dân cõi này không phải khổ vì cơm ăn áo mặc, mọi thứ đều tự nhiên có đủ. Nhân dân cõi này chắng thọ thập thiện nhưng toàn bộ hành vi của họ tự nhiên hợp với thập thiện, khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi lành. Nhân dân cõi này không lệ thuộc sự tham luyến, cũng không cất chứa, thọ mạng ngàn tuổi, và bằng nhau, không ai hơn ai kém.
3. Phấm Chuyến luân Thánh vương:
Chuyển luân Thánh vương xuất hiện trong châu Diêm-phù, rồi chinh phục luôn cả ba châu kia và thống trị cả bốn châu thiên hạ. Chi tiết về thành lập đại đế quốc này, với đời sống sung túc thịnh vượng, như được kể trong kinh Chuyển Luân Vương nói về vua Đại Thiện Kiến (Mahãsudassana).
4. Phẩm Địa ngục:
Bên ngoài bốn châu thiên hạ có tám ngàn thiên hạ bao quanh. Rồi bao quanh tám ngàn thiên hạ là biển lớn, bao quanh biển lớn là núi Đại kim cang, bên ngoài núi Đại kim cang có một núi Đại kim cang lớn hơn. Giữa hai núi này là một cảnh giới mù mịt, tối tăm; mặt trời, mặt trăng, các vị thần, trời dù có uy lực cũng không thể dùng ánh sáng soi chiếu đến đó được.
ở nơi đó có tám địa ngục lớn, mỗi địa ngục lớn có muời sáu địa ngục nhỏ.
Phẩm này miêu tả những nỗi thống khổ của chúng sanh trong địa ngục.
5. Phẩm Long điểu:
Phẩm này nói về các loại rồng và quái điểu.
Trong kinh điển, từ rồng, tiếng Phạn là nãga, thường chỉ các loại rắn lớn như mãng xà hay rắn thần, có khi chỉ loại voi có thân hình to lớn. Ta cũng có thể xem các loại rồng hay nãga này là các khủng long cổ đại. Chúng được chia làm bốn loại: loại sanh từ trứng, sanh từ bào thai, sanh từ nơi ẩm thấp, và sanh ra từ hóa sanh. Các loại rồng này đều sống dưới đáy biến.
Các quái điều cũng sanh từ trứng, từ bào thai, từ ẩm thấp, và từ hóa sanh, gọi là bốn loài Kim sí điểu. Kim sí điểu là chim cánh vàng. Chúng sống ở bờ biển phía Bắc, trên một đại thụ. Thực phẩm của các quái điểu cánh vàng là rồng. Quái điểu thai sanh chỉ có thể bắt loại rồng thai sanh mà ăn thịt; quái điểu sanh bằng trứng thì bắt loại rồng sanh bằng trứng mà ăn thịt...
6. Phẩm A-tu-Ia:
Phẩm này nói về các loài A-tu-la.
A-tu-la sống trong đáy biển lớn ở phía Bắc của núi Tu-di. Trong các kinh khác thường nói loài A-tu-la ưa đánh nhau với Thiên Đe- thích, lúc vua A-tu-la nổi giận thì lấy tay che mặt trăng khiến sanh ra hiện tượng nhật thực hay nguyệt thực.
7. Tứ thiên vương:
Bốn góc núi Tu-di là Tứ thiên vương, ta thường quen gọi là Hộ thế Tứ thiên vương, bởi bốn vị Thiên vương này phát nguyện hộ trì thế gian và ngăn chặn không cho quân A-tu-la tấn công trời Đao-lợi.
8. Phẩm Đao-lị thiên:
Trên đỉnh núi chúa Tu-di là trời Đao-lị, tức Tam thập tam thiên, là cõi trời thứ hai thuộc Dục giới, được ngự trị bởi 33 vị Thiên vương mà đứng đầu là Thiên Đế-thích.
9. Phẩm Tam tai:
Kinh nói ở thế gian có ba thứ tai kiếp, đó là tai kiếp về lửa, tai kiếp về nước và tai kiếp gió.
- Tai kiếp lửa
Đến một lúc nào đó, trên thế gian mọi người hết thảy đều tu thiền và đắc Nhị thiền, sanh lên trời Quang âm. Tất cả chúng sanh, từ địa ngục cho đến trời Sơ thiền, đều dần sanh lên trời Quang âm hết. Khi ấy, từ Sơ thiền trở xuống không còn một chúng sanh nào, bấy giờ tai kiếp bắt đầu. Bấy giờ, trái đất bị hâm nóng bởi một mặt trời cho đến bảy mặt trời, mà nguyên nhân là do một trận đại cuồng phong làm thay đổi quỹ đạo mặt trời, khiến cho nhiều mặt trời xuất hiện. Khi bảy mặt trời đồng xuất hiện thì trái đất bốc cháy, cháy cho đến trời Sơ thiền, nhung không lên được trời Nhị thiền. Sau khi cháy rụi hết, một thời lâu dài về sau, trái đất hình thành trở lại, những chúng sanh trước đã sanh lên trời Quang âm nay sanh trở lại thế gian, bắt đầu một chu kỳ hình thành xã hội loài người mới.
- Tai kiếp do bởi nước
Tiến trình hủy diệt như tai kiếp bởi lửa, nhưng tai kiếp này nước ngập luôn cả trời Nhị thiền, tất cả chúng sanh làm lành đều sanh lên trời Tam thiền hoặc cao hơn. Cho đến khi trái đất phục hồi, chúng sanh từ Tam thiền hoặc các cõi khác sẽ sanịi trở lại.
- Tai kiếp bởi gió
Như hai tai kiếp trước, nhưng tai kiếp gió hủy diệt luôn cõi trời Tam thiền. Các chúng sanh lần lượt tái sanh lên Tứ thiền, rồi trở lại sau khi thế giới phục hồi.
10. Phẩm Chiến đấu:
Tường thuật các cuộc giao tranh giữa chư Thiên Đao-lợi và A-tu-la.
Bấy giờ, chư Thiên cùng chủng A-tu-la chiến đấu với nhau và chư Thiên đắc thắng, bắt vua A-tu-la trói lại với năm chỗ trói, mang về Thiện pháp đường. Khi vua A-tu-la khởi niệm muốn ở lại cung trời Đao-lợi để hưởng dục lạc thì năm chỗ trói tự mở, nhưng khi khởi niệm muốn quay về cung điện cũ thì năm chỗ trói liền buộc lại chặt hơn.
Kinh nói: ‘Chấp thủ ngã là bị trói. Chấp ta và của ta là sự trói buộc của Ma’.
Bởi vì dục vọng mà chư Thiên và A-tu-la cứ đánh nhau hoài.
11. Phẩm Ba trung kiếp:
Có ba trung kiếp. Một là kiếp đao binh, hai là kiếp đói kém, ba là kiếp tật dịch.
- Kiếp đao binh
Tuổi thọ con người vốn từ bốn vạn tuổi, sau đó giảm dần, nay chỉ còn trăm tuổi, nhưng rồi sẽ giảm xuống chỉ còn mười tuổi.
Sau khi tuổi thọ con người chỉ còn lại mười tuổi, mọi thứ thực phẩm và y phục trên thế gian đều biến mất hết, con người ôm lòng hận thù, độc ác, đao binh nổi lên. Trong vòng bảy ngày có sự nổi lên của kiếp đao kiếm, bất cứ cỏ cây, ngói, đá mà con người cầm trong tay đều trở thành vũ khí giết nhau, nên gọi là kiếp đao binh.
- Kiếp đói kém
Khi con người phần nhiều làm việc phi pháp, tà kiến điên đảo, làm mười nghiệp ác thì trời không mưa, làm cho trăm thứ cỏ cây chết khô, ngũ cốc không thành, chúng sanh không còn gì để ăn, vì vậy mà gọi là kiếp đói kém. Trong kiếp đói kém, ngũ cốc được gieo trồng cũng biến thành cỏ cây, con người ăn bông cỏ mà tồn tại.
- Kiếp bệnh tật
Trong kiếp này con người tu hành Chánh pháp, nhưng có quỷ thần thế giới khác xâm nhập não hại dân chúng. Khi ấy, con người trong kiếp tật dịch sau khi thân hoại mạng chung đều sanh lên cõi trời.
Bản kinh có nhiều chi tiết bất nhất với nhũng kinh khác, tuy nhiên dấu ấn vô thường, biến dịch vẫn là nguyên lý bất di dịch trong tất cả mọi sự hữu, bên cạnh đó, sự thăng tiến hay thoái hóa của thời đại vẫn do sự tu tập hay buông lung của con người.
12. Phẩm Thế bản duvên:
Nội dung phẩm này tương đương với kinh Tiểu Duyên, đặc biệt chú trọng vào sự phát sanh và tiến hóa của con người và xã hội loài người, từ khởi thủy cho đến thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni của chúng ta.
II. Vài đặc điểm của Trường A-hàm
1. Quan niệm về Đức Phật
Đức Phật trong Kinh tạng A-hàm nói chung, Trường A-hàm nói riêng, được coi là Đức Phật lịch sử, bởi tính chất nguyên thủy của các bộ kinh này. Theo kinh Đại Bon Duyên, pháp thường của chư Phật trong ba đời đều có một sứ mạng cao cả và duy nhất là “cứu độ chúng sanh khỏi sanh, già, bệnh, chết”. Đe thực hiện được lý tưởng này, chư Phật phải giáo hóa cho tất cả chúng sanh đều được giác ngộ như quý Ngài, tức là điều mà Đại thừa nói: “khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật chi tri kiến”. Đó là điều tất yếu. Vói lý tưởng đó, ngay từ khi chư Phật nhập thai đã thực hiện hạnh nguyện độ sanh: “Bồ-íát từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khiến tâm mẹ lúc nào cũng thanh tịnh, không có các dục tường, không bị lửa dục thiêu đốt”; cho đến phút cuối cùng trước lúc nhập Niết-bàn, quý Ngài củng chỉ vì mục đích đó, làm chỗ nương tựa cho tất cả chúng sanh thoát khỏi sanh tủ' luân hồi: “Này A-nan, ngươi chớ nghĩ sau khi Ta diệt độ,
các nguơi mất chỗ nương tựa, không ai che chở. Chớ có quan niệm như vậy. Nên biết những Kinh và Giới mà Ta đã dạy từ khi thành đạo đến nay là chỗ nương tựa, che chở các ngươi đó”.
Kinh Đại Bổn Duyên còn cho biết khi Bồ-tát từ cõi trời Đâu- suất giáng thần vào thai mẹ, thì ánh sáng rực rỡ soi khắp thế gian, khiến cho chúng sanh trong chốn u minh được trông thấy nhau: “Đức Bồ-tát Tỳ-bà-thi từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, do hông phải mà vào, chánh niệm không tán loạn. Ngay lúc ấy cõi đất rung chuyển; ánh sáng rực rỡ soi khắp thế gian; nhũng chỗ mặt trời mặt trăng không soi tới cũng đều mong nhờ chiếu sáng. Chúng sanh chốn u minh nhờ đó được trông thấy lẫn nhau và tự biết mình hiện đang sanh ở chỗ nào...”.
Đọc lại đoạn kinh này trong bối cảnh xã hội ngày nay mới thấy thấm thìa! Rõ ràng không phải chỉ chúng sanh trong cõi u minh từ lâu đã không được nhìn thấy mặt nhau, mà ngay trong thế giới hiện đại của chúng ta, giữa thanh thiên bạch nhật, người ta vẫn không nhìn thấy nhau, dù vẫn đối mặt hằng ngày. Đon giản là ai cũng chỉ thấy mình, thấy quyền lợi, địa vị, quyền lực... nên đã mờ mắt!
Như vậy, Đức Phật ra đời là để mở con “mắt tuệ” cho chúng sanh. Ngài là bậc “Chí nhân, Đang chánh giác, Minh Hạnh Túc, đầy đủ thập hiệu, tối thắng giữa chư Thiên và loài Người”.
2. Tư tưởng tự do, bình đăng
Lịch sử đấu tranh của nhân loại kéo dài dai dẳng, từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ thể chế chính trị này qua thể chế chính trị khác, cũng không ra ngoài mục đích khát vọng tự do, bình đăng và dân chủ. Đức Phật là nhà cách mạng đầu tiêrHrong phong trào đòi quyền tự do và bình đẳng đó. Bằng trí tuệ giác ngộ và lòng từ bi, Ngài đã cất lên tiếng nói nhân bản chưa từng được biết đến trong lịch sử loài người thời bấy giờ: “Chánh đạo vô thượng của Ta không cần kể dòng dõi, không ỷ vào tâm kiêu mạn ngô ngã. Pháp thế tục cần thứ đó. Pháp của Ta không phải vậy. Nếu có Sa-
môn hay Bà-la-môn nào tự thị chủng tộc, ôm lòng kiêu mạn thì ở trong giáo pháp Ta trọn không chứng đắc vô thượng. Neu hay khước từ chủng tánh, trừ bỏ tâm kiêu mạn, thì mới có thể chứng được đạo quả vô thượng trong giáo pháp Ta, mới kham lãnh thọ được Chánh pháp. Người đời gớm ghét kẻ hạ lưu, còn giáo pháp ta không thế” (Kinh Tiểu Duyên).
Đức Phật là nhà cách mạng, giải phóng giai cấp và tuyên ngôn dân chủ đầu tiên trong lịch sử đấu tranh giai cấp. Ngài cho rằng, con người ở bất kỳ giai cấp nào, địa vị nào, cũng có người xấu, người tốt. Không cứ tri thức là lương thiện, mà dân đen thất học là bất lương. Bốn chủng tánh hình thành bốn giai cấp thời đó, ngày nay ta có thể hiểu gồm mọi giai tầng của xã hội, Đức Phật nói: “Bốn chủng tánh gồm cả người lành người dữ; được người trí khen, cũng bị người trí chê”. Một người trở nên cao thượng, có đạo đức, được tôn quý, chưa hẳn vì người đó xuất thân trong một gia đình cao quý, có địa vị quyền lực, càng không phải vì người đó được cho ăn học ở những trường lớp có tiếng, có nhiều bằng cấp, học vị, lại càng không phải vì người đó có dung mạo đẹp đẽ như người mẫu. Bởi vì, dù người đó có hội đủ ba tiêu chuẩn trên, nhưng đời sống của người đó buông lung, không giới hạnh, không có trí tuệ, tham nhũng, không có năng lực quản lý... thì làm sao được xem là có đạo đức, đáng được cung kính? Cho nên, theo Đức Phật, con người có quyền tự do và quyết định phẩm giá của mình. Và một người trở nên cao thượng, đạo đức, đáng được tôn quý, khi người ấy có đầy đủ giới hạnh và trí tuệ: “Ai đầy đủ giới và tuệ, Ta gọi người đó là Tỳ-kheo” (Kinh Chủng Đức).
Đạo Phật xác định con người là trung tâm điểm của xã hội loài người. Trên thế giới này không có gì tự nhiên sanh ra hay từ hư không rơi xuống, mà đều do năng lực hoạt động của con người tạo thành. Năng lực hoạt động của con người tạo tác chi phối tất cả. Tất cả khổ hay vui, tiến hóa hay thoái hóa, là đều do con người dã man hay văn minh.
3. Quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng, tế tự
Kinh Phạm Động cho biết, xã hội thời Đức Phật có tới 62 trường phái tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng nhân loại luôn luận bàn về quá khứ tối sơ (tức khởi nguyên của vũ trụ), hay luận bàn về tương lai, hoặc luận bàn về quá khứ tối sơ và tương lai, nhằm thỏa mãn những thắc mắc, hoài nghi về thế giới và con người. 62 trường phái dị học như tấm lưới bủa khắp tất cả tư tưởng của nhân loại. Đức Phật nói, đối với 62 học thuyết đó, Ngài đều có kinh nghiệm và biết một cách như thật rằng nó phát sinh từ kinh nghiệm của cảm thọ và chấp thủ cảm thọ. Các bậc tôn sư của các trường phái dị học có những cảm thọ do sự xúc chạm qua sáu xứ, nghĩa là họ có kinh nghiệm nhờ tư duy, thẩm sát và thiền định. Nhưng “do duyên với những cảm thọ mà tham ái phát khởi, do duyên với tham ái mà thủ phát khởi, do duyên với thủ mà hữu phát khởi, do duyên với hữu mà sanh phát khỏi, do duyên với sanh mà già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não phát khỏri”. Cho nên, những tư tưởng triết học đó, dù được kinh nghiệm từ tâm linh, vẫn lẩn quẩn trong vòng tư duy hữu ngã, không đưa đến an lạc, giác ngộ giải thoát, vẫn chìm đấm trong tham dục và khổ đau cho mình, cho người.
Đức Phật khi mới xuất gia học đạo cũng có những kinh nghiệm đó. Nhưng Ngài đã không dừng lại, bằng lòng và thỏa mãn với những kinh nghiệm đó. Ngài đã như thật liễu tri sự tập khởi, sự diệt trừ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sáu chỗ xuất xứ, vượt thắng mọi kinh nghiệm trên, xả ly tất cả và chứng đắc Niểt-bàn tối hậu. Những lý thuyết, phương pháp tu tập của Phật giáo đều xuất phát từ kinh nghiệm thực chứng, chỉ thấy và chỉ nói những sự thật mà sự vật có, không thêm không bớt.
Kinh số 26 cho thấy Đức Phật không chấp nhận những tín ngưỡng và hành động không phát sinh từ sự hiểu biết như thật, luôn tin theo. Đạo Phật không công nhận những kết quả của tín ngưỡng mê mờ, mê tín. Kinh Cứu-la-đàn-đầu phản ánh quan điểm tế tụ của Phật giáo. Theo đó, đạo Phật không chấp nhận hành động giết hại chúng sanh để cúng tế cầu phước.
4. Phương pháp hành trì
Kinh Du Hành được mở đầu bằng một sự kiện lịch sử rất đáng nhớ. Đó là thất bại của A-xà-thế, quốc vương Ma-kiệt-đà, trong cuộc chinh phạt quốc gia Bạt-kỳ, khi bỏ qua lời cảnh cáo của Đức Thế Tôn. Bấy giờ Đức Phật đang ở trong vương quốc Ma-kiệt-đà, do đó, trước khi đem quân chinh phạt, A-xà-thế đã cho đại thần Vũ- xá đến tư vấn chính trị xem Ngài có chỉ dạy gì không, Đức Phật chỉ cho thấy Bạt-kỳ là một quốc gia bất khả xâm phạm, nhưng A-xà-thế * đã không đủ bình tĩnh để nghe lời can gián ấy, nên đã chuốc lấy thất bại. Bạt-kỳ đã xây dựng một đất nước vững mạnh, với nền kinh tế, chính trị, giáo dục, xã hội... được thiết lập trên “bảy pháp bất thối”, đó là: 1. Nhân dân thường nhóm họp bàn những sự việc chân chính; 2. Vua tôi hòa thuận, trên dưới kính nhường nhau; 3. Nhân dân thường tôn trọng pháp luật, hiếu điều cấm kỵ, chẳng trái lễ độ; 4. Người dân biết hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận sư trưởng, thầy cô giáo; 5. Nhân dân thường tôn trọng tông miếu, kính nể quỷ thần; 6. Người dân giữ gìn khuê môn trinh chính, thanh khiết, không bậy bạ, cho đến sự vui đùa, nói năng cũng không tà vạy; 7. Người dân tôn thờ Sa-môn, kính người trì giới và thân cận ủng hộ, chẳng biếng nhác.
Vói “bảy pháp bất thối” này, bất cứ một quốc gia, một tổ chức nào cũng có thể trở nên giàu mạnh, vững chắc bất khả xâm phạm. Đó là một tổ chức lý tưởng. Đối với tổ chức Phật giáo cũng không ngoại lệ. Đức Phật nói, muốn cho Chánh pháp trường tồn, không bị suy thoái, cách duy nhất mà các thầy phải làm đó là nỗ lực tu tập “bảy pháp bất thối”: 1. Thường hội họp luận bàn nghĩa lý chân chính; 2. Trên dưói hòa đồng, kính thuận không trái; 3. Trọng pháp, hiểu điều cấm kỵ, không trái quy chế; 4. Neu có Tỳ-kheo nào có năng lực hộ chúng, có nhiều tri thức, nên được kính thờ; 5. Niệm hộ tâm ý, lấy sự hiếu kính làm đầu; 6. Tịnh tu phạm hạnh, không chạy theo trạng thái dục; 7. Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi.
Mục đích tối hậu của đời sống Phật giáo là giác ngộ giải thoát.
Không có chất liệu của giải thoát thì đạo Phật chỉ còn là một hình thức khô cứng và không có ích gì cho cuộc đời. Những lời dạy của Đức Phật là những bài thực tập, là những phương pháp hành trì, là những nghệ thuật sống nhằm chế tác chất liệu tự do, thảnh thơi và giải thoát đó. Cho nên, học Phật không phải để chất chứa tri thức mà là để sống. “Bảy pháp bất thối” gói gọn tất cả những lời dạy, những pháp hành mà Đức Phật đúc kết trong suốt 49 năm giáo dục, hoang pháp. “Chúng Tăng còn có điều gì cần ở Ta nữa?”. Đó lời quở trách của Đức Như Lai trong những giây phút cuối đời khi A-nan xin Ngài di giáo. Ngài ân cần khuyên bảo: “Hãy tự mình thắp sáng, thắp sáng nơi Pháp, chớ thấp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nuơng tựa nơi Pháp, chớ nương tựa nơi khác”. Tự mình nương tựa và nương tựa nơi Pháp đó chính [à thực hành Tứ niệm xứ. “Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có ai có thể tu hành pháp này, người đó là đệ tử chân thật của Ta, là bậc nhất hữu học” (Kinh Du Hành).
III. Kết luận
Nêu lên vài đặc điếm của Trường A-hàm là đế góp phần nhận thức thế giới, nhân sanh quan của Phật giáo vô cùng phong phú; Kinh tạng Phật giáo là cả kho tàng văn hóa, tri thức, triết học, xã hội... của nhân loại. Nhung đó không phải là cứu cánh của Phật giáo. Cứu cánh của Phật giáo là giúp con người “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc”. Trường A-hàm dù không nhiều kinh, nhung đầy đủ nhũng phương pháp thực tập và hành trì chuyển hóa nội tâm để đạt được mục đích cứu cánh đó, nhất là xây dựng nhận thức mới về tín ngưỡng, tôn giáo, giúp con người thoát khỏi những định kiến, những cố chấp kéo dài qua nhiều thế hệ, gây không biết bao nhiêu khố đau, phiền não cho mình và cho người. '
Cuối cùng, “Từ trời đất đến người vật, không có cái gì sanh ra mà không kết thúc. Muốn các pháp hữu vi không bị biến dịch, thì không thể nào được. Trước đây Ta đã từng dạy ân ái là vô thường, có hội hiệp tất có chia ly. Thân này không phải cùa mình, mạng này không ở lâu được” (Kinh Du Hành).