TOÁT YẾU
KINH TĂNG NHẤT A-HÀM
A. Tiểu dẫn:
Kinh Tăng nhất A-hàm, Phạn Ekottarikāgama, lúc đầu do Sa- môn Đàm-ma-nan-đề (Dharmānandī , người nước Đâu-khư-lặc) đọc thuộc lòng bằng tiếng Phạn, Trúc Phật Niệm truyền dịch sang tiếng Hán, Đàm Tung nhuận bút, vào niên hiệu Kiến Nguyên thứ 21, triều Phù Tần (385 Tây lịch), và chỉ có 41 quyển, phân làm hai phần thượng, hạ. Trong đó, phần đầu tương đối đầy đủ, nhưng 15 quyển cuối, mỗi phẩm hầu hết mất phần kệ tụng. Do đó, ngài Đạo An và Pháp Hòa đã khảo chính lại; hai thầy Tăng Lược và Tăng Mậu phụ giúp coi lại những chỗ thiếu sót. Tuy vậy, toàn bộ bản dịch vẫn chưa được hoàn thiện, nên sau này ngài Tăng-già-đề-bà (Sarṃghadeva, người nước Kế Tân) hiệu đính thêm một lần nữa (khoảng 391-397 Tây lịch, đời Đông Tấn), thành ra bản hiện hành đang được lưu giữ trong ĐTK/ĐCTT, gồm 51 quyển, và đề tên dịch giả là ‘Đông Tấn, Cù-đàm Tăng-già-đề-bà dịch’.
B. Nội dung:
Nội dung của kinh này lần lượt trình bày các pháp môn tu tập căn bản từ một pháp đến mười một pháp, gồm 52 phẩm, 472 kinh, đại ý như sau:
I. Phẩm Tựa
Có 1 kinh. Phẩm này cho biết diễn biến của đại hội kiết tập kinh điển lần thứ nhất.
Sau khi Phật Niết-bàn vào ngày rằm tháng 2 năm 544 trước Tây lịch, Đại đệ tử Ca-diếp (Mahā-kāśyapa) sợ rằng những pháp thoại và giới luật Phật đã chế định sẽ bị quên mất và mai một dần, nên Ngài liền nghĩ đến việc cần phải kết tập Pháp tạng để cho Chánh pháp trụ ở đời làm lợi ích chúng sanh, bèn mời vua A-xà-thế (Ajātaśatru) làm đàn việt, bắt đầu đại hội kết tập vào ngày 27 tháng 6 tại hang Tất-ba-la (Sapta-parṇa-guhā), ngoại ô thành Vương xá (Rājagrha), với sự tham dự của 500 vị A-la-hán. Ngài Đại Ca- diếp làm thượng thù, trước tiên mời ngài Ưu-ba-ly (Upāli) kết tập Luật tạng, tụng đi tụng lại đến 80 lần, sau này biên tập thành Luật Bát Thập Tụng. Ke đó, mời ngài A-nan (Ānanda) kết tập kinh tạng, sau này biên tập thành các bộ A-hàm (Theo Tứ phần luật quyển 54, Di Sa Tắc Ngũ phần luật quyển 30, Ma Ha Tăng Kỳ luật quyển 32, Thiện kiến luật quyển 1...).
Tuy nhiên, phấm Tựa của Tăng nhất A-hàm cho thấy, số người dự đại hội kết tập không chỉ là 500 vị, mà gồm cả bốn chúng, với số lượng lên đến tám vạn bốn ngàn, và đều là những bậc đã đạt được tâm giải thoát, chứng A-la-hán. Đồng thời, từ Phạm thiên xuống đến Đế-thích, các vị Hộ thế Tứ thiên vưong, chư Thiên, Bồ-tát Di-lặc, cùng hàng ức Bồ-tát không kế hết cũng đều vân tập tham dự đại hội này. Điều này cho thấy kinh này được truyền thừa bởi những bộ phái Phật giáo Phát triển nên ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng Đại thừa, chí ít là ở trong phẩm này.
Ngài A-nan lúc đầu không dám nhận trọng trách biên tập lại tạng Kinh, nhưng nhờ sự động viên của Tôn giả Ca-diếp, cũng như Bồ-tát Di-lặc và đại chúng, nên đã nhận lời. Trước hết, A-nan khẳng định trong quá khứ, chư Phật đã từng phân giáo phập thành ba tạng, Kinh, Luật, Luận, về Kinh được phân thành bốn bộ: Tăng nhất, Trung, Trường và cuối cùng là Tạp.
Về vị trí của Tăng nhắt A-hàm, A-nan nói: “Tăng nhất A-hàm chính là các pháp, các pháp chính là Tăng nhất A-hàm, chỉ là một,
không có hai”. Điều này không phải đề cao Tăng nhất A-hàm, mà chứng tỏ Phật pháp có tính chất tương tức, nhất quán, thuần một vị. A-nan còn nói, chỉ một bài kệ trong Tăng nhất A-hàm cũng xuất sanh ba mươi bảy phẩm và các pháp, đó là:
‘Chớ làm các điều ác
Vâng làm các điều lành
Tự thanh tịnh tâm ý
Là lời chư Phật dạy
Rồi A-nan giải thích, “Sở dĩ như vậy là vì, chớ làm các điều ác, đó là gốc rễ cùa các pháp, từ đó xuất sanh tất cả các pháp thiện. Do sanh pháp thiện, nên tâm ý thanh tịnh. Cho nên, bạch Ca-diếp, thân, khẩu, ý hành của chư Phật Thế Tôn thường tu thanh tịnh”.
Kết thúc đại hội, A-nan đem Tăng nhất này trao cho Tỳ-kheo Ưu-đa-la, vì trong vô lượng kiếp trước, Tỳ-kheo này đã phúng tụng, đọc thuộc pháp của 7 đời chư Phật; còn Bồ-tát Di-Lặc nói rằng trong Hiền kiếp, chư vị Bồ-tát cùng chư Thiên v.v... sẽ lưu bố kinh này.
II. Phẩm 1 pháp
Có 13 phẩm, 109 kinh.
1. Phẩm Thập niệm
Thập niệm là: 1. Niệm Phật, 2. Niệm Pháp, 3. Niệm Tăng, 4. Niệm Giới, 5. Niệm Thí, 6. Niệm Thiên. 7. Niệm Hưu tức, 8. Niệm Hơi thở, 9. Niệm Thân, 10. Niệm Sự chết.
Phẩm này gồm 10 kinh, mỗi kinh giới thiệù một pháp môn tu, từ niệm Phật cho đến niệm Tử thi. Đức Phật dạy: “Hãy tu hành một pháp. Hãy quảng bá một pháp. Các ngươi sẽ được thần thông, bỏ các loạn tưởng, nhanh chóng được quả Sa-môn, tự thân đạt đến Niết-bàn. Một pháp ấy là gì? Đó là niệm Phật”. Tương tự như vậy đối với pháp môn niệm Pháp,... cho đến niệm Sự chết.
2. Phẩm Quảng diễn
Gồm 10 kinh, giải thích phấm Thập niệm.
- Niệm Phật:
Thế nào là tu hành niệm Phật? Thế Tôn giải thích: “Nếu có Tỳ-kheo nào chánh thân, chánh ý, ngồi bắt tréo chân, cột niệm ở trước, chuyên tinh niệm Phật, không có niệm tưởng nào khác. Quán hình của Như Lai, mắt không hề rời. Trong khi mắt không rời, niệm tưởng công đức Như Lai”.
Đoạn kinh trên nêu rõ ba phương pháp niệm Phật cơ bản là: Trì danh niệm Phật, Quán tượng niệm Phật và Quán tường niệm Phật. Trong phương pháp thứ ba, tức nhớ nghĩ công đức của Như Lai, là quán tưởng như vầy: “Thể của Như Lai được thành tựu từ kim cương, đầy đủ mười lực, bốn vô sở úy, dõng mãnh giữa đại chúng. Gương mặt của Như Lai đoan chánh vô song, nhìn không chán mắt. Giới đức thành tựu giống như kim cương không thể phá hoại, trong sạch không tỳ vết như lưu ly. Tam-muội của Như Lai chưa từng sút giảm, đã tĩnh chỉ, vĩnh viễn tịch tĩnh, không có niệm khác. Các thứ tình kiêu mạn, ngang bướng đã vắng im, ý tham dục, tưởng sân hận, tâm ngu hoặc, mạn kết do dự, tất đều tận trừ. Huệ thân của Như Lai, trí không bờ đáy, không bị chướng ngại. Thân Như Lai, được thành tựu từ giải thoát, các cõi đã hết, không còn sanh phần đế nói ‘Ta sẽ đọa nơi sanh tử’. Thân Như Lai được vượt qua thành trì của tri kiến, biết căn cơ người khác đáng được độ hay không đáng được độ, chết đây sanh kia, xoay vần qua lại trong ngằn mé sanh tử, có người giải thoát, người không giải thoát, Như Lai thảy đều biết tất cả”.
- Niệm Pháp:
Thế nào là tu hành niệm Pháp? Là “trừ các dục ái, không còn trần lao, tâm khát ái vĩnh viễn không nổi lên nữa”. Bởi vì, “phàm Chánh pháp là ở nơi dục mà đạt đến vô dục, lìa các kết phược và các bệnh của triền cái. Pháp này giống như mùi các loại hương, không
có tỳ vết của niệm loạn tưởng”. Đó là tu hành niệm Pháp.
-Niệm Tăng:
Niệm Tăng là nhớ nghĩ “Thánh chúng của Như Lai thành tựu từ nghiệp lành, chất trực, thuận nghĩa, không có nghiệp tà, trên dưới hòa mục, pháp pháp thành tựu. Thánh chúng của Như Lai thành tựu giới, thành tựu tam-muội, thành tựu trí tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát. Thánh chúng ấy gồm có bốn đôi, tám hạng. Đó là Thánh chúng của Như Lai, xứng đáng được tùy thuận cung kính, thừa sự, lễ bái. Sở dĩ vậy là vì đó là ruộng phước của thế gian, ở trong chúng này đều cùng là pháp khí, cũng vì tự độ lại độ người khác đến đạo ba thừa”.
- Niệm Giới:
Niệm Giới “có nghĩa là dừng các điều ác. Giới hay thành đạo, khiến người hoan hỷ. Giới là anh lạc đeo thân, hiện những vẻ đẹp.
“Phàm cấm giới, giống như bình cát tường, mọi sở nguyện liền đạt được. Mọi pháp đạo phẩm đều do giới mà thành tựu. Như vậy, Tỳ-kheo thực hành cấm giới sẽ thành tựu quả báo lớn, các điều thiện đủ cả, được vị cam lồ, đến chỗ vô vi, liền được thần thông, trù’ các loạn tưởng, được quả Sa-môn, tự đến Niết-bàn. Cho nên, này các Tỳ-kheo, luôn phải tư duy không rời niệm Giới, liền sẽ được những thứ công đức thiện này”.
- Niệm Bố thí:
Tu tập bố thí thì phải “vĩnh viễn không có tâm hối hận, không mong đền đáp đế được thiện lợi”. Bố thí không những chỉ dùng tài vật, mà khi có người hại mình, “dùng tay đánh, đao trượng đập, gạch đá ném”, mình “cũng sẽ khởi lòng từ, không nổi sân hận”. Đó là vừa pháp thí, vừa vô úy thí.
- Niệm Thiên:
Niệm Thiên là nhớ nghĩ đến phước lạc của chư Thiên cõi trời,
thân phóng ánh sáng tỏa khắp mọi nơi, nên nỗ lực tu tập “thân, miệng, ý trong sạch, không tạo hạnh nhơ, thực hành giới” để thành tựu thân cõi trời kia.
- Niệm Hưu tức:
Hưu tức là tâm ý tưởng lắng đọng, chí tánh an nhàn, không nóng nảy; tâm hằng chuyên nhất, thích nơi vắng vẻ, thường tìm phương tiện nhập định tam-muội, thường niệm tưởng không ham tranh thẳng, dành chỗ trước trên. Thường nhớ nghĩ như vậy gọi là tu hành niệm hưu tức.
- Niệm Hơi thở:
Niệm hơi thở là một phần của niệm thân trong bốn lãnh vực quán niệm. “Tức là khi hơi thở dài, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang dài; nểu hơi thở lại ngắn, hãy quán biết hơi thở ta hiện đang ngắn...”.
Trong đời sống hàng ngày, ta thường để tâm rong ruổi theo ngoại cảnh bên ngoài, đắm chìm trong quên lãng, lâu ngày, ta trở nên xa lạ với chính mình. Thực tập quán niệm hơi thờ giúp ta ý thức được sự sống đang có mặt, đưa tâm trở về với thân, để tiếp xúc với sự sống trong giờ phút hiện tại, để đưa ta trở về với chính ta.
- Niệm Thân:
Niệm thân là quán sát từng bộ phận của cơ thể, “từ tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, mật, gan, phối, tim, lá lách, thận, ruột già, ruột non, bạch mô, bàng quang, phẩn, tiểu, dạ dày, dịch vị, nước mắt, đờm dãi, mủ, máu, mỡ, nước miếng, đầu lâu, não”. Quán chiếu như thế để thấy được tự tính duyên sanh vồ ngã của tự thân. Mỗi bộ phận trong cơ thể đều chứa đựng đầy đủ những dữ kiện về tự tính của vạn hữu trong vũ trụ. Do đó, hành giả có thế đạt tới cái thấy về tự tánh vũ trụ trong khi quán chiếu về tính duyên sanh của một sợi tóc!
- Niệm Sự chết:
“Chết là mất ở đây, sanh bên kia; qua lại các đường, sanh mạng trôi đi không dừng, các căn tan hoại, như khúc gỗ mục nát; mạng căn đoạn tuyệt, giòng họ chia lìa, không hình không tiếng, cũng không tướng mạo”. Như vậy là thực tập về niệm Sự chết. Bài tập này giúp hành giả thấy được tính chất vô thường và chắc chắn phải tàn hoại của cơ thể.
3. Phẩm Đệ tử
Đệ từ của Phật có vô số kể. Riêng chúng thường tùy bên Phật có 1.250 vị, đều A-la-hán lậu tận. Kinh này chỉ giới thiệu 100 vị tiêu biểu.
Phẩm này gồm 10 kinh. Mồi kinh giới thiệu 10 vị Tỳ-kheo đệ tử xuất sắc, mỗi vị có một sở trường, hay nói cách khác là đã thành tựu một pháp xuất chúng. Như “trí tuệ không cùng, giải tỏa các nghi, chính là Tỳ-kheo Xá-lợi-phất; thần túc nhẹ bay đến tận mười phương, chính là Tỳ-kheo Đại Mục-kiền-liên; dõng mãnh tinh tấn, cam chịu khổ hạnh, chính là Tỳ-kheo Nhị Thập ức; thực hành mười đầu-đà khó hành được, chính là Tỳ-kheo Đại Ca-diếp; đệ nhất thiên nhãn, thấy tận cõi mười phương, chính là Tỳ-kheo A-na-luật..
4. Phẩm Tỳ-kheo-ni
Gồm 5 kinh, giới thiệu 50 Tỳ-kheo-ni xuất sắc, thành tựu pháp đệ nhất. Như “Tỳ-kheo-ni đệ nhất trong hàng Thanh văn, xuất gia học đạo lâu, được quốc vương cung kính, chính là Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo Kiều-đàm-di; trí tuệ thông minh, chính là Tỳ-kheo-ni sấm- ma; thần túc đệ nhất, cảm đến các thần, chính là Tỳ-kheo-ni Uu-bát Hoa Sắc; thực hành pháp đầu đà với mười một điều hạn chế, chính là Tỳ-kheo-ni Cơ-lê-xá Cù-đàm-di; thiên nhãn đệ nhất, nhìn khắp không trở ngại, chính là Tỳ-kheo-ni Xa-câu-lê; tọa thiền nhập định, ý không phân tán, chính là Tỳ-kheo-ni Xa-ma; phân biệt nghĩa thú, diễn rộng đạo giáo, chính là Tỳ-kheo-ni Ba-đầu-lan-đồ-na...”.
5. Phẩm Thanh Tín Sĩ
Có 4 kinh, giới thiệu 40 vị nam cư sĩ xuất sắc trong hàng đệ tử tại gia của Phật. Như “Ưu-bà-tắc đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên nghe pháp dược mà chứng thành Hiền thánh, chính là thương khách Tam Quả; ừí tuệ đệ nhất, chính là gia chủ Chất-đa; thần đức đệ nhất, chính là Kiền-đề A-lam; hàng phục ngoại đạo, chính là gia chủ Quật-đa; thường nói pháp sâu, chính là gia chủ Ưu- ba-quật; thường tọa thiền tư duy, chính là Ha-xỉ A-la-bà; hàng phục bọn ma, chính là gia chủ Dũng Kiện; phước đức sung mãn, chính là gia chủ Xà-lợi; chủ đại đàn thí, chính là gia chủ Tu-đạt; thành tựu môn tộc, chính là gia chủ Mần-dật..
6. Phẩm Thanh Tín Nữ
Có 3 kinh, giới thiệu công đức và kết quả tu học của 30 vị nữ cư sĩ. Trong đó, “nữ Phật tử đệ nhất trong hàng đệ tử của Ta, người đầu tiên thọ trì đạo mà chứng quả, chính là nữ cư sĩ Nan-đà Nan-đà- bà-la; trí tuệ đệ nhất, chính là nữ cư sĩ Cửu-thọ-đa-la; thường thích tọa thiền, chính là nữ cư sĩ Tu-tỳ-da-nữ; huệ căn tỏ rõ, chính là nữ cư sĩ Tỳ-phù; kham năng nói pháp, chính là nữ cư sĩ Ương-kiệt-xà; khéo diễn nghĩa kinh, chính là nữ cư sĩ Bạt-đà-sa-la Tu-diệm-ma; hàng phục ngoại đạo, chính là nữ cư sĩ Bà-tu-đà; âm vang trong suốt, chính là nữ cư sĩ Vô Ưu; hay luận giải nhiều đề tài, chính là nữ cư sĩ Bà-la-đà; dõng mãnh tinh tấn, chính là nữ cư sĩ Tu-đầu..
7. Phẩm A-tu-la
A-tu-luân, tiếng Phạn là Asura, còn gọi là A-tu-la, A-tố-la, là một loại quỷ thần ưa gây chiến tranh, là một đường trong Lục đạo, một giới trong Thập giới.
Phẩm này có 10 kinh, và mặc dù là phẩm A-tu-luân, nhưng chỉ có một kinh mở đầu nói về A-tu-luân mà thôi.
Kinh nói, vua A-tu-luân dù có thần lực rất lớn, vẫn không thể nào xúc phạm được mặt trời, mặt trăng, bởi oai đức của mặt trời,
mặt trăng và chúng sanh cõi ấy cũng rất lớn, để dụ cho ma Ba-tuần không thể nào phá hoại được các Tỳ-kheo sống đúng như pháp. Ác ma Ba-tuần đó chính là sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp mịn màng, láng mướt, cực kỳ vi diệu lạ lùng, muốn làm mê loạn ý các Tỳ-kheo, luôn luôn rình cơ hội nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của các Tỳ-kheo để xâm nhập vào làm bại hoại thiện căn. Nhung các Tỳ-kheo tâm không nhiễm đắm, không gần sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp mịn màng, láng mướt, nên ác ma Ba-tuần ôm lòng sầu lo rút lui.
- Làm cho tiêu hóa thức ăn:
Đức Phật dạy: “Tỳ-kheo thường xuyên học như vầy: Thật là khó khăn khi nhận đồ hiến cúng của người. Nếu không thể tiêu hóa được thì sẽ rơi vào năm đường; không thể đến được đạo chánh chơn vô thượng. Cho nên cần phải chuyên tâm, để đạt được cái chưa đạt được, vượt qua cái chưa được vượt qua, chưa chứng đắc khiến cho chúng. Cho nên, này các Tỳ-kheo, chưa được tín thí không khởi tưởng niệm, đã có tín thí thì hãy làm cho tiêu hóa, không khởi nhiễm đắm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học như vậy”.
- Trăng thu vằng vặc chiếu:
Đó là Như Lai, A-la-hán, Ghánh đẳng giác, người mà khi xuất hiện ở thế gian thì: đem đến nhiều lợi cho Trời Người, sẽ xuất hiện con đường xuất thế, liền có ánh sáng trí tuệ, vô minh tối tăm liền tiêu diệt, ba mươi bảy phẩm trợ đạo xuất hiện; Trời Người liền được thấm nhuần ánh sáng, liền có lòng tin đối với giới, văn, thí, tuệ, như trăng tròn chiếu khắp tất cả...
8. Phẩm Con một
Có 10 kinh.
Nội dung kinh mở đầu và kinh số 2 là tựa đề của phẩm. Hai kinh này lấy ví dụ người mẹ chỉ có một đứa con duy nhất, trong lòng tin tưởng, hằng nghĩ phải dạy dỗ làm sao cho nó trở' thành người;
nếu sống đời tại gia, phải nuôi dạy nó thành người có khuôn phép mẫu mực như những đệ tử tại gia của Đức Phật đã chứng ngộ; nếu nó xuất gia thì phải thành tựu như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên.
Vì người Phật tử tại gia có niềm tin đối với Tam bảo như thể, nên Phật dạy các Tỳ-kheo “nên chuyên tâm khéo nhớ: Hãy đạt được cái chưa đạt được. Hãy thu hoạch cái chưa thu hoạch. Hãy chứng cái chưa chứng. Sở dĩ như vậy, này các Tỳ-kheo, vì sức nặng của tín thí thật khó có thể tiêu được, khiến cho con người không đến được đạo. Cho nên, này các Tỳ-kheo, chớ sanh ý tưởng nhiễm đắm. Đã sanh rồi thì hãy diệt trừ”.
Phật thương tưởng và mong muốn chúng sanh giác ngộ cũng như người mẹ thương con, mong con mình nên người.
- Không một pháp nào nhanh nhạy hơn tâm:
Các kinh từ số 3 đến số 6 cho biết tất cả các pháp đều do tâm tạo. Tâm niệm ác đưa chúng sanh xuống địa ngục; tâm niệm thiện đưa chúng sanh lên cõi trời, nhanh chóng như co duỗi cánh tay. Không một pháp nào nhanh nhạy hơn tâm. Giống như vượn khỉ, tâm không chuyên định, buông cái này, chụp lấy kia. Tâm cũng như vậy, tưởng trước và tưởng sau bất đồng. Vì tâm luân chuyển nhanh nhạy mà không có phương tiện nào bắt chước được, cho nên, người phàm phu không thể quán sát tâm ý. Vì vậy, hãy luôn luôn hàng phục tâm ý khiến hướng theo đường thiện.
- Huyền hoặc người đời:
Kinh số 7 và 8, Phật cho biết “không thấy một pháp nào tối thắng, tối diệu, nó huyền hoặc người đời khiến không đi đến nơi vĩnh viễn tịch tĩnh, trói buộc vào lao ngục không giải thoát được như người nam thấy sắc của người nữ, hay người nữ thấy sắc của người nam”. Vì vậy, “hãy trừ các sắc, chớ khởi ý tưởng đắm trước”.
- Quán bất tịnh tưởng:
Hai kinh còn lại dạy nỗ lực đoạn trừ năm triền cái bằng cách
thường chuyên tâm quán bất tịnh tưởng. Bởi do tịnh tưởng mà không có dục, dục liền khởi, khởi rồi thì tăng trưởng; không có sân nhuế, sân nhuế liền khởi, khởi rồi thì tăng trường; không có thùy miên, thùy miên liền khởi, khởi rồi thì tăng trưởng; không có trạo cử, trạo cử liền khởi, khởi rồi thì tăng trưởng; không có nghi, nghi liền khởi, khởi rồi thì tăng trưởng.
9. Phẩm Hộ tâm
Có 10 kinh.
Hộ tâm là giữ gìn tâm ý, không để cho nó phóng túng buông lung, tức là không phóng dật. Không phóng dật giữa đại chúng đã đành mà ngay khi ở một mình, độc cư cũng phải khéo léo thủ hộ tâm mình. Kinh số 1 và 2 dạy điều này.
Phật dạy: “Hãy hành một pháp, truyền rộng một pháp, đó là pháp không phóng dật”. Phóng dật (pramãda) là trạng thái tâm phóng túng theo dục vọng, không tinh cần tu tập pháp lành, mặc tình để cho dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu sanh khỏi. Ngược lại là không phóng dật (apramãda), tức nỗ lực phòng hộ tâm, ngăn ngừa các pháp ác, tinh chuyên tu tập pháp lành, thường thủ hộ tâm khỏi pháp hữu lậu.
- Thực tập từ tám đoi với đàn việt:
Tỳ-kheo phải niệm ân thí chủ, bởi thí chủ cung kính các Tỳ- kheo như con hiếu thuận với cha mẹ, là người bảo hộ đời sống cho các Tỳ-kheo thành tựu các thứ nghĩa. Cho nên, Tỳ-kheo phải có tâm từ đối với đàn-việt, niệm ân thí chủ, bằng cách nỗ lực “thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành từ”, để “khiến cho vật sở thí của đàn-việt kia trọn không bị phế bỏ. được quả lớn, thành tựu phước hựu lớn, có danh xưng lớn, truyền khắp thế gian, pháp vị cam lồ”.
- Sở thí rộng rãi:
Đó là gia chủ Tu-đạt (Cấp-cô-độc), ông ưa thích bố thí bậc nhất. Đàn-việt thí chủ mà thừa sự, cúng dường các bậc đa văn, tinh tấn trì giới, cũng giống như người lạc lối được chỉ đường.
- Tạo phước không mệt mỏi:
Đức Phật khuyên các Phật tử cũng như các Tỳ-kheo nên tu tạo phước đức bằng cách bố thí cúng dường. Pháp bố thí cúng dường có phước báo rất thù thắng. Chính Đức Phật đã nhờ pháp này mà thành tựu phước đức, rồi “dùng sức lớn phước đức hàng phục ma oán, mọi trần cấu đều tiêu, không uế nhiễm, liền thành đạo Vô thượng Chánh chơn. Cho nên, “này các Tỳ-kheo, hãy tạo phước chớ mệt mỏi”, “hãy chuyên tinh tâm ý niệm tường đến các gốc lành”.
- Bố thí bình đẳng:
Đức Phật khen ông Cấp-cô-độc đã bố thí bằng tâm của Bồ-tát, ‘không nghĩ là đây nên cho, đây không nên cho; cũng lại không nghĩ là đây nên cho nhiều, đây nên cho ít’.
- Điểu đáng sợ là vô phước:
Vô phước là nguồn gốc của khổ, sầu lo, khổ não, không thể kể hết, không có gì yêu thích.
- Công đức phước nghiệp là quản ma khiếp sợ:
Phật dùng sức lớn phước đức hàng phục ma oán, mọi trần cấu đều tiêu, không uể nhiễm, liền thành đạo vô thượng chánh chơn.
10. Phẩm Bất đãi
Có 10 kinh.
Bất đãi là không lười biếng, tức dõng mãnh tinh tấn. Dõng mãnh tinh tấn hủy diệt tham dục, sân nhuế, ngu si, xan tham...
- Dấu hiệu nhận biết người chứng đắc A-na-hàm:
Đức Phật dạy: “Hãy diệt một pháp, Ta sẽ xác chứng các ngươi thành A-na-hàm. Một pháp gì? Tham dục (sân nhuế, ngu si, xan tham). Này các Tỳ-kheo, hãy diệt tham dục (sân nhuế, ngu si, xan tham), Ta sẽ xác chứng các ngươi đắc A-na-hàm”.
A-na-hàm là quả vị thứ 3 trong bốn quả Thánh (Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán). Bốn đạo quả này do hủy diệt kiến hoặc và tu hoặc trong 3 cõi (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) mà thành. Kiến hoặc của 3 cõi là 10 sử: tham, sân, si, mạn, nghi (những tính xấu bẩm sanh) và thân kiến, biên kiến, giới thủ, kiến thủ, tà kiến (những nhận thức sai lầm). Tu hoặc của cõi Dục là tham, sân, si, mạn (có 9 bậc, là nặng, vừa, nhẹ, lại nhân nặng, vừa, nhẹ); của 2 cõi Sắc và Vô sắc là tham, si, mạn (cũng có 9 bậc, là nặng, vừa, nhẹ, lại nhân nặng, vừa, nhẹ). Theo các kinh luận, người nào trong đời này mà hủy diệt hết cả 9 bậc tu hoặc của cõi Dục thì mới thành A-na-hàm. Nhưng ở đây, Đức Phật nói người nào hủy diệt được tham dục thì Ngài tác chứng cho vị ấy chứng đắc A-na-hàm. Điều này có mâu thuẫn với các kinh luận khác không? Thực ra thì không có gi mâu thuẫn! Bởi không có trường hợp một Tỳ-kheo đã hủy diệt hoàn toàn tâm tham dục mà còn sân, si, mạn...
- Không hàng phục tâm thì chịu khô báo:
Tâm này không thể hàng phục, khó có được thời cơ thích nghi, thì chịu các báo khổ; ngược lại khi tâm đã dễ dàng điều phục, dễ thích nghi, tiếp nhận các điều thiện, thì được quả báo thiện. Cho nên, “hãy phân biệt tâm, hãy tư duy tâm; hãy khéo niệm tưởng các gốc rễ thiện”.
- Vì lợi dưỡng mà nói dối:
Đức Thế Tôn nhìn thấy tâm niệm một người ở trong chúng không vì sự ăn uống mà nói lời hư dối, nhung vào một lúc khác, người ấy sanh tâm đắm nhiễm, niệm tưởng tài vật, nên ở trong đại chúng nói hư dối. Đức Phật cành giác “sự đắm nhiễm tài vật thật là khó bỏ, khiến người rơi vào trong ba đường dư, không đến được chồ vô vi. Cho nên, này các Tỳ-kheo, đã sanh tâm này rồi thì hãy xả ly. Giả sử chưa sanh, chớ để khởi tâm nhiễm đắm tài vật”. Đe-bà- đạt-đa (Devadatta) là bài học ví dụ. Ông là người “chuyên đấm lợi dưỡng, sau khi tạo tội ngũ nghịch, thân hoại mạng chung sẽ sanh
vào đường dữ, sẽ trải qua một kiếp chịu tội, không thể chữa trị”, cho dù Đề-bà-đạt-đa đã đắc Tứ thiền và có thần thông.
Phật còn cho biết, có người ‘thà bị mất mạng chứ không nói dối ỏ' trong chúng’. Nhung khi tham đắm lợi dưỡng rồi thì không bỏ được, kết quả rơi vào ba đưòng ác.
11. Phẩm Nhất nhập đạo
Có 10 kinh.
Nhất nhập đạo là con đường chỉ có một lối vào. Phật nói “có con đường chỉ một lối vào, làm thanh tịnh các hành của chúng sanh, trừ bỏ sầu ưu, không còn mọi bức não, được trí tuệ lớn, thành tựu sự chứng đắc Niết-bàn. Đó là hãy diệt trừ năm triền cái, tư duy Bốn niệm xứ”. Rồi Thế Tôn giải thích: Con đường đỏ chính là Bát Chánh đạo. Một lối vào là chỉ cho tâm chuyên nhất. Năm triền cái phải diệt trừ là tham dục, sân nhuế, trạo cử, thùy miên, nghi. Bốn niệm xứ là bốn lãnh vực quán niệm thân, thọ, tâm và pháp.
Như vậy, nhất nhập đạo được hiếu một cách tống quát là chuyên tâm thẳng tiến đến giải thoát bằng con đường 37 phẩm.
Trong phấm này, bản kinh số 01 ghi chép đầy chi tiết phương pháp thực tập thiền Tứ niệm xứ, một phép tu căn bản và quý báu của người học thiền.
- Ganh ghét đưa đến hủy diệt sự sống:
Ganh ghét, đố kỵ đối với đồng phạm hạnh là con đường đưa đến sự hoại diệt nhanh chóng. Do đó, “nên tu hành từ nhẫn, thân hành từ, khẩu hành từ, ý hành từ”. .
- Chăm sóc cho người bệnh là chăm sóc Phật:
Phật dạy: “Ai chăm sóc bệnh nhân, là người ấy đã chăm sóc Ta. Ai khán hộ bệnh nhân, là người ấy đã khán hộ Ta. Vì sao vậy? Ta nay muốn đích thân khán hộ người tật bệnh”.
Chăm sóc bệnh là “sự bố thí không gì vượt qua, tối thượng trên cả sự bố thí cho chư thiên, thế gian, Sa-môn, Bà-la-môn. Hành thí này mới đích thật là thí, được quả báo lớn, được công đức lớn, tiếng đồn vang khắp, được pháp vị cam lồ”.
- Mười hai hạnh đầu-đà:
Phật nói ai tán thán 12 hạnh đầu-đà là tán thán Phật, ai bài báng 12 hạnh đầu-đà là bài báng Phật. Mười hai hạnh đầu-đà là: 1. A-lan-nhã (suốt đời chỉ sống trong rừng); 2. Suốt đời khất thực (suốt đời chi khất thực, không ăn tại nhà tín thí mời); 3. Chi ăn trong một lần ngồi; 4. Khất thực theo thứ tự từng nhà; 5. Suốt đời sống dưới gốc cây; 6. Suốt đời sống giữa trời trống; 7. Suốt đời ở nơi ừống vắng; 7. Suốt đời khoác y năm mảnh (y phấn tảo, vải lượm từ đống rác); 8. Suốt đời chỉ giữ ba y; 9. Suốt đời chỉ sống tại bãi tha ma; 10. Suốt đời chỉ ăn lượng một bát; 11. Suốt đời ăn đúng ngọ; 12. Suốt đời sống theo hạnh đầu-đà.
Đức Phật ca ngợi Tôn giả Đại Ca-diếp là người đã “làm nhiều lợi ích và độ người vô lượng; rộng đến tất cả trời người được độ.
Đức Phật nhấn mạnh: “Nếu hạnh đầu-đà này còn ở thế gian thì pháp của Ta cũng sẽ tồn tại lâu ở thế gian. Nếu pháp mà tồn tại ở đời thì thiên đạo sẽ tăng, ba đường dữ liền giảm, cũng thành tựu Tu-đà- hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, và đạo ba thừa đều còn ở đời”.
- Danh văn, lợi dưỡng là pháp chướng ngăn Thánh đạo:
“Lợi dưỡng rất nặng, làm cho con người không đến được đạo Vô thượng Chánh chơn”, như Đề-bà-đạt-đa ngày nào cũng “nhận lấy năm trăm chõ thức ăn cúng dường của vương tử Bà-la-lưu-chi (A-xà-thế)” nên “mới khởi lên ác ngũ nghịch, thân hoại mạng chung sanh vào trong địa ngục Đại A-tỳ”; như Tỳ-kheo “Sư-lợi-la tham lợi dưỡng nên đã tạo ra việc sát sanh vô lượng, để thân hoại mạng chung sanh vào trong địa ngục”. Vì vậy, các Tỳ-kheo phải luôn quán chiếu, nếu “tâm lợi dưỡng chưa sanh, chế ngự nó đừng cho sanh. Tâm này đã sanh tìm cách diệt”.
12. Phẩm Lợi dưỡng
Có 7 kinh.
Phẩm này cho biết sự nguy hiểm của lợi dưỡng (xem lại các kinh có liên quan đến lợi dưỡng trong các phẩm trên). Có Tỳ-kheo bỏ đạo vì tham lợi dưỡng, như Tỳ-kheo Tu-la-đà, vốn hành hạnh đầu-đà, nhưng sau đó vì tham lợi duỡng, thường nhận sự cúng dường thức ăn trăm vị cung cấp hằng ngày của quốc vương Bồ-hô, rồi đắm nhiễm, dần dần bỏ hạnh A-luyện-nhã, cho đến “bỏ ba y, trờ về làm cư sĩ, giết bò, sát sanh không thể kể hết; khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục”. Cho nên, phải biết rằng “lợi dưỡng thật là nặng, làm cho con người không đến được đạo Vô thượng Chánh chơn. Nếu lợi dưỡng chưa sanh, hãy chế ngự chớ để nó sanh; đã sanh rồi tìm cách khiển diệt”. Chúng sanh vì chìm đắm trong vị ngọt của dục nên sa đọa vào đường ác. Do đó, nếu ai diệt được dục Đức Phật sẽ xác chứng cho người ấy “thành quả thần thông, các lậu diệt tận”.
- Dấu hiệu chứng quả thần thông:
Đó là người đã diệt tận vị ngọt của dục. Đức Phật nói: “Này các Tỳ-kheo, hãy diệt vị ngọt của dục này, Ta xác chứng các ngươi thành quả thần thông, các lậu diệt tận”.
Thần thông, đối với Phật giáo, không phải là để bay vượn trên trời, mà đối với các vị ngọt của dục, tâm không hề vướng mắc.
- Thân bệnh nhưng tâm không bệnh:
“Dù thân có bệnh nhưng đừng để tâm bệnh”. Chấp thân năm uẩn là thật ngã, là ta và của ta, đến khi sắc thân hoại diệt thì sanh ưu sầu, khổ não, đó là bệnh cả thân lẫn tâm. Biết năm uẩn là giả, là không phải ta và của ta, thì dù thân có bệnh, tâm không hề bệnh.
- Thanh tịnh không phải nhờ thức ăn:
Có một Bà-la-môn suốt đời ăn trái cây để nuôi mạng sống, trong khi đó Thế Tôn ăn cơm và thức ăn, nên ông tự thị cho rằng ông thanh tịnh hơn Phật.
Phật quán sát biết tâm ông ta nghĩ như vậy, liền dạy: ‘Chúng sanh nào mà tâm bị dính 21 kết, thì nên quán sát rằng người đó chắc chắn sẽ đọa vào địa ngục’. Hai mươi mốt kết là: sân, nhuế, thùy miên, trạo cử, nghi, nộ, kỵ, não, tật, tắng, vô tàm, vô quý, huyễn, gian, ngụy, tránh, kiêu, mạn, đố, tăng thượng mạn, tham.
Giống như một tấm dạ trắng đã mục nát, dù có muốn nhuộm thành màu xanh, vàng... cũng không được. Tâm mà bị 21 kết này nhuộm dính rồi, thì dù có ăn chay cũng không thành Phật được.
Nhưng nếu, “Tỳ-kheo, đệ tử Hiền Thánh tâm được giải thoát, dù có ăn lúa gạo tốt nhất, các loại thức ăn ngon lành nhiều như Tu- di, thì rốt cuộc cũng không có tội. Vì sao vậy? Vì không dục, ái diệt tận, không sân, hết nhuế, không ngu si, ngu si đã diệt tận. Đó gọi là Tỳ-kheo trong Tỳ-kheo, bên trong đã tắm rửa sạch sẽ rồi”.
- Tam bảo là ruộng phước điền tối thượng:
Thích Đe-hoàn nhân, vua các cõi trời muốn tìm cầu phước báu tối thượng nên đến hỏi Phật bố thí cúng dường cho ai thí được phước nhiều nhất.
Đức Phật cho biết củng dường Tam bảo có phước không thể kể.
- Điều trị bệnh bằng thiền định:
Tôn giả Tu-bồ-đề đang dùng định lực để điều trị thân bệnh rất trầm trọng thì Thích Đề-hoàn nhân cùng chư thiên đến thăm bệnh.
Bấy giờ Thích Đe-hoàn nhân hỏi Tôn giả bệnh do đâu mà có? Tôn giả thi thiết pháp Không: ‘Pháp pháp tự sanh, pháp pháp tự diệt, pháp pháp động nhau, pháp pháp tự dùng’.
‘Pháp có thể sanh pháp, pháp đen dùng pháp trắng để trị, pháp trắng dùng pháp đen để trị. Này Thiên Đe-thích, bệnh tham dục dùng bất tịnh để trị. Bệnh sân nhuế dùng tâm từ để trị. Bệnh ngu si dùng trí tuệ để trị. Như vậy, Thích Đe-hoàn nhân, tất cả mọi sở hữu đều quy
về không, không ngã, không Nhân, không thọ, không mạng, không sĩ, không phu, không hình, không tượng, không nam, không nữ’.
Quán như vậy thỉ bệnh tự nhiên lành.
13. Phẩm Năm giới
Có 10 kinh.
Phẩm Năm giới đáng ra phải xếp vào trong phẩm Năm pháp, nhưng vì các kinh trong phẩm này chỉ nói một giới, có lẽ vì thế mà xếp vào phấm Một pháp.
Năm giới là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Nếu giữ gìn năm giới thì được sanh cõi trời, cõi người, hưởng phước báo vô lượng. Kiiông giữ năm giới thì bị đọa vào ba đường ác.
- Sát sanh: tuổi thọ ngan ngủi
Nếu có người nào có ý thích sát sanh, liền bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh vào cõi người thì thọ mạng ngắn ngủi. Vì sao vậy? Vì họ đã dút sanh mạng kẻ khác.
Ngược lại, người nào suốt đời không sát sanh thì sẽ được hưởng phuớc cõi người, hưởng phước cõi trời, có thể chứng đắc Niết-bàn.
- Trộm cắp: bần cùng, nghèo túng
Kẻ trộm cướp cũng nhận lấy quả báo rơi vào ba đường ác, nếu sanh trở lại cõi người thì rất là nghèo túng, áo không đủ che thân, ăn không đầy miệng. Vì vậy, chớ nên trộm cướp mà nên thực hành bố thí, “người nào hành bố thí rộng rãi, trong đời hiện tại được sắc đẹp, được sức khỏe, được đầy đủ tất cả; tương lai cõi trời, cõi người, hưởng phước vô lượng”.
- Tà dâm: khuê môn bất hạnh
Tác hại của đời sống “dâm dật vô độ, thích xâm phạm vợ người” là “bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; nếu sanh vào cõi
người thì khuê môn dâm loạn”. Ngược lại, “người nào trinh khiết, không tà dâm, thân thể hương khiết, cũng không có tưởng tà vạy, sẽ hường được phước cõi người, cõi trời”.
- Nói dổi: hơi miệng hôi hám
Mở miệng nghe mùi hôi, làm người chán ghét lánh xa, đó là hậu quả của lời nói dối, nói thêu dệt, gây tranh cãi phải quấy. “Người nào không nói dối, thì hơi miệng thơm tho, tiếng tốt đồn xa”.
- Uống rượu: ngu si, mất trí
Cuồng si, ngu muội, không biết chân ngụy, chẳng có trí tuệ là kết quả của người có tâm ham uống rượu, sử dụng ma túy. Còn “người nào không uống rượu, sanh ra liền thông minh, không có ngu muội, biết rộng kinh sách, ý không lầm lẫn”.
Thấy rõ lợi ích của việc giữ năm giới và tác hại của đời sống buông lung không giữ giới, người Phật tử nỗ lực tu tập, phát nguyện trọn đời quy y Tam bảo và giữ gìn năm cấm giới.
III. Phẩm 2 pháp
Có 6 phẩm, 65 kinh.
1. Phẩm Hữu vô
Có 10 kinh.
Hữu vô là hai chủ thuyết của ngoại đạo, tức là hai thuyết hữu kiến và vô kiến. Đức Phật dạy, có “hai kiến này không nên tập hành, không nên đọc tụng, nên lìa bỏ tất cả”.
Hữu kiến, tiếng Phạn astiva-nisrita, còn gọi là thường kiến, chấp thường, là nhận thức sai lầm, cho rằng vạn vật giữa thế gian đều tồn tại vĩnh hằng, không thay đổi, có thật thể, ngã thể thường tồn. Như cho rằng con người mãi mãi sanh làm người, súc sanh mãi mãi làm súc sanh, người giàu thì giàu mãi, kẻ nghèo thì cứ bần cùng hoài, không thay đổi. Kinh ghi: “Thế nào là hữu kiến? Thấy dục có thật; thấy sắc có thật; thấy vô sắc có thật”.
Vô kiến, Phạn uccheda-drsti, tức đoạn kiến, ngược lại với hữu kiến, phủ định nhân quả, chủ trương không có quả báo thiện ác, chết là hết.
Cả hai nhận thức này đều là tà kiến, cho nên cần phải xả bỏ, đoạn trừ.
- Pháp thí thắng mọi thí:
Có hai thí là pháp thí, tài thí. Trên hết trong bố thí không gì hơn pháp thí.
- Pháp nghiệp trên hết mọi nghiệp:
Sự nghiệp của người tu là tu bồi phẩm chất đạo đức, thừa tự gia tài Pháp bảo của Như Lai, chứ không phải mưu cầu sản nghiệp chùa to, Phật lớn.
Phật nói: “Có pháp nghiệp, có tài nghiệp. Trên hết trong các nghiệp, không gì hon pháp nghiệp”.
- Thi ân bằng pháp:
“Có hai ân là pháp ân, tài ân. Trên hết trong các ân, không gì hơn pháp ân”.
- Nhận diện người ngu:
Có hai cách để nhận diện người ngu, đó là: “với người ngu những việc không thể làm xong mà vẫn làm, nhũng việc làm sắp xong thì chán bỏ”.
Nguợc lại, người trí cũng có hai cách để nhận diện, “những việc không thể làm xong được thì không làm, nhQng việc làm sắp xong, cũng không chán bỏ”. Phật khuyên “hãy gạt bỏ hai tướng của người ngu; hãy nương hai tướng của người trí mà tu hành”.
- Lễ kính Như Lai:
Có hai pháp “mà bên trong tự tư duy”, thường tu tập, thì đó
là cách để thể hiện sự cung kính Như Lai, cung kính Pháp, chùa, tháp của Đức Như Lai. Hai pháp đó là tu tập “trí tuệ và diệt tận lậu hoặc”; tu tập “có lực và đạt được tâm vô úy”, nhận thức rằng “Như Lai không đồng đẳng với người thế gian. Như Lai có đại từ, đại bi, thương tưởng mười phương”.
- Tu tập chỉ, quán:
Thiền chỉ, thiền quán là hai nhân, hai duyên khởi lên chánh kiến.
2. Phẩm Hỏa diệt
Có 10 kinh.
- Niềm vui hỏa diệt:
Hỏa diệt là lửa đã tắt. Đó là ngọn lửa tham dục. Ngọn lửa tham dục đã tắt thì hưởng được cái niềm vui hỏa diệt. Đối với người xuất gia, không có niềm vui nào bằng niềm “vui do tịch tĩnh, cái vui Thiện thệ, cái vui của Sa-môn, cái vui Niết-bàn”. Niềm vui này có mặt nhờ sự quán chiếu và “hiểu rõ dâm dục như hầm lửa, giống như bộ xương, đống thịt, mật bôi dao bén, trái xum xuê làm cành gãy, mắc nợ không lâu phải trả; cũng như rừng kiếm, như thuốc độc hại”. Do “biết chỗ nổi dậy của lửa dâm” nên “có thể vượt qua được dục lưu, hữu lưu, kiến lưu, vô minh lưu”, đạt đến Niết-bàn. Đây gọi là “hỏa diệt”
Tôn giả Nan-đà là người “đẹp trai, các căn tịch tĩnh”, hưởng trọn niềm vui “hỏa diệt” ấy. Đức Thế Tôn khen ngợi: “Tỳ-kheo đoan chính đẹp đẽ không ai hơn Tv-kheo Nan-đà. Có các trầm lặng bạc cũng chính là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có dục tâm cũng là Tỳ- kheo Nan-đà. Không có sân nhuế cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Không có ngu si cũng là Tỳ-kheo Nan-đà. Thành A-la-hán cũng là Tỳ- kheo Nan-đà”.
Sự kiện thiên hạ đồn đãi Tôn giả Nan-đà hoàn tục khiến vua Ba-tu-nặc buồn rầu phải thân chinh đi tìm hiểu sự thật cho thấy
ảnh hường của Tăng đoàn Phật giáo đối với đời sống chính trị xã hội Ẩn Độ thời bấy giờ to lớn biết bao!
- Hai loại Niet-bàn:
Có hai loại Niết-bàn giới: Hữu du Niết-bàn và Vô dư Niết-bàn.
Tỳ-kheo đã diệt năm hạ phần kiết sử thì chứng Hữu dư Niết- bàn; đã diệt tận hữu lậu thành vô lậu, ý giải thoát, trí tuệ giải thoát, tự thân tác chứng mà tự vui thú, biết như thật rằng, ‘Sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, những việc cần là đã làm xong, không còn tái sanh đời sau nữa’, thì chứng Vô dư Niết-bàn.
- Hai hạng người xuất gia:
+ Hạng xuất gia như quạ và heo
* Hạng người như quạ:
Có một hạng người “ở nơi vắng vẻ, thường tập hành dâm dục, tạo các ác hành; sau đó tự biết hổ thẹn, hối lỗi với người, vì bị những vị đồng phạm hạnh thấy mà chê trách”, giống như quạ, “thường xuyên bị khổ vì đói, bèn ăn đồ bất tịnh, sau đó quẹt mỏ, sợ có các loài chim khác thấy nói rằng quạ này ăn đồ bất tịnh”.
* Hạng người như heo:
Hạng xuất gia giống như loài heo là thường “ở nơi vắng vẻ, lâu dài tập hành dâm dục, tạo các ác hành, cũng không hổ thẹn, lại không hối lỗi. Đối với người thì tự khen mình, cống cao, tụ’ đắc, nói rằng ‘Tôi có được ngũ dục tự vui chơi, còn nhũng người kia không có được ngũ dục’. Người đó tạo ác mà không biết hổ thẹn”, giống như loài heo, “thường ăn đồ bất tịnh, nằm chỗ bất tịnh, chạy theo chân các con heo khác”.
+ Hạng xuất gia như lừa và bò
* Hạng người như lừa:
Là hạng xuất gia tuy mang hình thức Sa-môn nhưng tâm
chẳng phải Sa-môn, thường chạy theo ngũ dục, đắm chìm trong danh văn, lợi dưỡng, vậy mà tự xưng mình là Tỳ-kheo, là thượng tọa, hòa thượng... chẳng khác nào giống lừa, “vào trong bầy bò mà tụ xung: ‘Tôi cũng là bò! Tôi cũng là bò!’. Nhưng hai lỗ tai của nó xem ra lại không giống bò, sừng cũng không giống, đuôi cũng không giống, âm thanh đều khác”. Hạng người xuất gia này cũng như vậy, dù được tôn xưng với bất kỳ danh vị nào, họ cũng chẳng phải là Sa-môn.
* Hạng người như bò:
Chỉ những người nào xuất gia, “cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, vì lòng tin kiên cố”, biết giữ gìn, hộ trì các “căn tịch định, ăn uống biết tiết chế, kinh hành cả ngày chưa từng lìa bỏ, ý nghĩ đến pháp 37 đạo phẩm”, không bị ngũ dục chi phối, không chạy theo danh văn, lợi dưỡng, phẩm trạch, chức vị... thì mới xứng danh Sa- môn đệ nhất, đến bất cứ nơi nào cũng được các đồng phạm hạnh kính mến, cúng dường. Cũng như bò tốt vào trong đàn bò, tự nhiên sống chung với bầy đàn, không cần tự xưng đồng loại cũng tự biết. Đức Thể Tôn nói: “Này các Tỳ-kheo, hãy học như bò, chớ giống như lừa”.
- Thiện và bất thiện:
Thiện hành là 10 nghiệp thiện: không sát sanh, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không loạn đấu kiạ đây, không tham của người, không sân nhuế, có chánh kiến. Ngược lại là bất thiện.
- Tà và chánh:
Tà là tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
Chánh là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
- Pháp đuốc sáng:
Diệt tận tham dâm, sân nhuế, ngu si bằng Bát Chánh đạo là pháp đuốc sáng.
- Hai lực:
Đó là nhẫn lực và tư duy lực. Đức Phật nhờ “có nhẫn lực, tư duy lực này, nên liền có thể hàng phục chúng ma, thành đạo Vô thượng Chánh chơn ngồi nơi đạo tràng”.
- Thiên nhãn không có gì đế cho là lạ:
Đức Phật khuyên tu cấm giới, đừng tham chứng các thứ thần thông, vì thần thông như Phạm thiên Thiên Nhãn, nhìn thấy cả nghìn thế giới, cũng không ích lợi gì, chắng có gì kỳ lạ. Chỉ có con mắt trí tuệ vô thượng mới là mục đích cứu cánh của người tu hành. Bằng cách nào để đạt được mục đích đó? “Hãy giữ giới cấm không một mảy may khuyết thất, và cũng nên từ bỏ kết sử kiêu mạn, chớ chấp ngô, ngã, sanh tưởng đắm nhiễm”. “Giữ gìn đầy đủ cấm giới dần dần sẽ đạt được sạch hết các kết sử”.
3. Phẩm An-ban
Có 11 kinh.
An-ban (ānāpāṇa) tức là quán niệm hơi thở ra vào (xem lại phẩm Quảng diễn, phần niệm hơi thở). Đức Thế Tôn dạy pháp này cho La-vân (Rāhula, La-hầu-la), người “tu hành pháp này, có tâm tưởng sầu iru đều sẽ trừ diệt hết”. La-vân thực tập và chứng quả A-la- hán. Đức Phật khen ngợi: “Trong những vị đắc A-la-hán, không có ai bằng La-vân. Luận về người các hữu lậu đã dút cũng là Tỳ-kheo La-vân. Luận về người trì giới cấm cũng là Tỳ-kheo La-vân”.
- Hai hạng người khó được gặp ở đời:
Đó là Như Lai và Chuyển luân vương.
Đó là Bích-chi Phât và A-la-hán lâu tân đê tử của Như Lai.
- Hai pháp phiền não:
Thế gian có hai pháp thật là phiền não. Đó là “tạo các gốc rễ ác, khởi lên các oán hiềm; và lại không tạo hạnh lành, gốc của các đức”. Do đó, chúng ta phải “giác tri pháp phiền não và cũng nên giác tri pháp không phiền não. Các pháp phiền não thì hãy đoạn trừ, pháp không phiền não thì nên tu hành”.
- Tà kiến và chánh kiến:
Tà kiến như những hạt giống đắng. Hạt đắng đem trồng nơi đất tốt thì sanh ra mầm đắng cũng như xưa, vì vốn là hạt giống của cây đắng. Tà kiến cũng vậy, những gì được làm bởi thân hành, khẩu hành, ý hành, những gì hướng đến, nhũng gì nghĩ đến, cùng các hành ác khác, tất cả đều không đáng quý, vì tà kiến là bất thiện.
Chánh kiến như những hạt giống quả ngọt. Hạt giống quả ngọt mà đem trồng ở đất tốt thì sanh ra quả càng ngon ngọt hơn. Chánh kiến chúng sanh cũng lại nhu vậy. Những gì được nghĩ đến, hướng đến, cùng các hành khác, tất cả đều đáng quý kính, là những điều mà người thế gian đáng ham thích.
- Ái dục không hề nhàm chán:
Nếu “chúng sanh khơi dậy tưởng ái dục, liền sanh dục ái, rồi tập hành ngày đêm không hề nhàm chán”, đó là nguyên nhân của đời sống đọa lạc, như Chuyển luân Thánh vương tên là Đảnh Sanh, vốn cai trị châu Diêm-phù-đề, sau xâm chiếm và cai trị bốn châu thiên hạ, vậy mà lòng tham vẫn chưa đủ, ông còn khởi tưởng chiếm đoạt Thiên Đế-thích, để một mình làm vua chư Thiên. Ngay khi ý tưởng đó khởi lên liền tự đọa lạc, nhận lấy cái chếĩ. Trước khi chết, ông để lại lời trối rằng: “Vua Đảnh Sanh thống lãnh bốn châu thiên hạ không biết đủ và nhàm tởm, lại đến Tam thập tam thiên, ở tại đó trải qua hàng trăm nghìn năm mà ý còn sanh tham, muốn hại Thiên đế, nên tự đọa lạc, liền nhận lấy cái chết”.
Phật dạy: “Tâm tham dục hưng khởi hướng đến, niệm tưởng càng tăng gấp bội, ở trong ái dục mà không biết đủ và nhàm tởm. Muốn' cầu biết đủ và nhàm tởm thì phải cầu từ trong trí tuệ Thánh hiền”.
- Nhìn người ác như ngắm trăng cuối tháng:
Kẻ ác tri thức “giống như trăng cuối tháng, ngày đêm xoay vần, nó chỉ có giảm chứ không có đầy”. Người ác tri thức “trải qua ngày đêm, dần dần không có tín, không có giới, không có văn, không có thí, không có trí tuệ”, cho nên, khi “thân hoại mạng chung, sanh vào trong địa ngục”.
- Nhìn người thiện như ngắm trăng đầu tháng:
Ngược lại, người thiện tri thức “giống như mặt trăng đầu tháng, trải qua ngày đêm, ánh sáng dần tăng lên, từ từ tròn đầy, cho đến ngày mười lăm là sung mãn đầy đủ, tất cả chúng sanh không ai là không thấy”. Người “thiện tri thức, trải qua ngày đêm, tăng thêm tín, giới, văn, thí, trí tuệ. Vì họ nhờ tăng thêm tín, giới, văn, thí, trí tuệ, nên thiện tri thức lúc bấy giờ thân hoại mạng chung, sanh lên trời, cõi lành”.
- Pháp của ác tri thức:
Người ác tri thức sẽ hành pháp ác tri thức. Pháp ác tri thức là dựa vào hoàn cảnh xuất thân, ỷ vào dòng họ mình, ỷ vào tam-muội đã đạt, ỷ vào trí tuệ, ỷ vào vật cúng dường sung mãn mà tự cổng cao, chê bai người khác. Đó gọi là người ác tri thức, hành tà nghiệp.
- Pháp của thiện tri thức:
Ngược lại, người thiện tri thức hành pháp thiện tri thức, không bao giờ tự nghĩ rằng mình sanh ra trong dòng hào tộc, còn các Tỳ- kheo khác xuất thân ti tiện; tự mình giữ giới nhưng không tự cống cao, không chê bai người khác; thành tựu tam-muội, trí tuệ và mặc dù được sự cúng dường nồng hậu nhưng cũng không tự cống cao, không chê bai người khác.
Phật khuyên, “hãy tránh xa pháp ác tri thức, và nhớ hãy cùng tu hành pháp thiện tri thức”.
- Người mù:
Người mù không phải là người không có mắt mà là ‘người không thấy đời này đời sau, không phân biệt được thiện ác, không thấy Bát Chánh đạo’.
4. Phẩm Tàm Quỹ
Có 10 kinh.
- Hai pháp thù hộ thế gian:
Đó là tàm và quý. Tàm (hrĩ) là tự thấy xấu hổ với lỗi lầm của mình; quý (apatrãpya) là thấy hố thẹn với người khác. Tàm quý, nói một cách đơn giản là cảm thấy xấu hổ, hổ thẹn với những lỗi lầm của mình đã gây ra. Đây là hai trạng thái tâm lý (hai tâm sở) thiện lành, rất cần thiết đối với tất cả mọi người, và vô cùng quan trọng đối với người tu. Bởi khi một người không tự biết xấu hổ với những hành động lỗi lầm mà mình đã gây ra thì người đó không có cơ hội để phát triển tâm linh, không việc xấu nào lại không làm. Đức Thế Tôn nhận định đây là “hai pháp tinh diệu thủ hộ thế gian. Nếu không có hai pháp này, thì thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; sẽ cùng với lục súc heo, gà, chó, ngựa, dê... cùng một loại”.
- Hãy là người thừa tự Pháp, chớ nên là kẻ thừa tự tài vật:
Đức Phật nói, đối với người tham đắm tài vật, Ngài rất lấy làm xấu hổ, bởi vì “đệ tử của Như Lai tham đắm lợi dưỡng, không thực hành nơi Pháp, không phân biệt Pháp, hủy báng tời dạy Thế Tôn, không thuận Chánh pháp. Đã hủy báng lời dạy Thế Tôn, sẽ không còn đến được đạo Niết-bàn”.
Đệ tử của Phật hãy nghĩ đến thừa tự Pháp, cung kính Pháp, không tham tài vật thì Như Lai không lấy làm xấu hổ.
Tham đắm tài vật, không thừa tự Pháp thì có ba điều đáng xấu hổ:
-
Thể Tôn thường ưa nơi tịch tĩnh, nhưng các Tỳ-kheo không học điều này;
-
Thế Tôn dạy, các ngươi hãy diệt pháp này, nhưng các Tỳ-kheo lại không diệt pháp này;
-
Khởi niệm loạn tưởng, ý không chuyên nhất (không có chánh niệm).
Thừa tự Pháp, không tham đắm tài vật thì có ba điều đáng khen:
-
Ưa nơi tịch tĩnh;
-
Thế Tôn dạy, các ngươi hãy diệt pháp này, các Tỳ-kheo liền diệt pháp này;
-
Không lười biếng, không loạn, những điều đáng làm thì tu hành, những điều không đáng làm thì không làm.
- Cách thức sử dụng tài sản:
Vì vậy, chớ nên tham đắm và cất giữ tài vật, nên học cách sử dụng đồng tiền và của cải một cách có ý nghĩa. Bởi thế gian cỏ người keo kiệt đến nỗi có tài sản mà không cho cha mẹ bà con, không biết bố thí cúng dường, luôn cất giấu bo bo, để rồi “bị vua tước đoạt, hoặc bị giặc trộm, hoặc bị lừa thiêu, nước cuốn, phân tán chỗ khác, lợi kia không được hưởng”. Đó là hạng người mình phải “nghĩ tưởng tránh xa”. Chỉ nên học theo hạng ngứời làm mọi công sức để tạo ra của cải, rồi đem của cải ấy “bố thí cho chúng sanh, phụng dưỡng cho cha mẹ, nô tỳ, vợ con, cũng chu cấp rộng rãi cho Sa-môn, Bà-la-môn, tạo ra các thứ công đức, gieo trồng phước cõi trời”.
- Sa-môn và Bà-la-môn:
Người không dục, không nhuế,
Xả ngu, không có si;
Lậu tận A-la-hán,
Đó gọi là Bà-la-môn.
Người không dục, không nhuế,
Bỏ ngu, không có si;
Do bỏ tụ kết sử,
Đó gọi Bà-la-môn.
Người không dục, không nhuế,
Xả ngu, không có si;
Do đoạn mạn ngô, ngã,
Đó gọi Bà-la-môn.
Nếu ai muốn biết pháp,
Những gì Chánh giác nói;
Chí thành tự quy y,
Toi tôn không gì hơn.
Ta không nói Bà-la-môn,
Người rành biết chú thuật;
Nói rằng sanh Phạm thiên,
Đây vẫn chưa lìa trói.
Không trói, không đường sanh,
Hay thoát tất cả kết;
Không còn nói phước trời,
Tức Sa-môn, Bà-la-môn.
- Phật chế ngự voi say:
A-xà-thế nghe lời xúi giục của Đề-bà-đạt-đa, cho voi say hại Phật. Phật chế ngự nó bàng bài kệ:
Sân nhuế sanh địa ngục
Cũng sanh thân rắn rít
Cho nên phải trừ sân
Chớ thọ thân này lại.
- Mặc y đẹp bị Phật quở:
Tỳ-kheo Nan-đà mặc y phục đẹp với màu sắc làm hoa mắt người, mang giày dép da viền vàng, lại tô vẽ hai mắt, nên bị Thế Tôn quở trách.
- Phật độ Nan-đà:
Phật dùng phương tiện đưa Nan-đà lên cõi trời, rồi đưa xuống địa ngục, sau nói hai pháp tu thiền chỉ và thiền quán. Nan-đà tỉnh ngộ tu tập, đắc quả A-la-hán.
- Đảnh lễ Thế Tôn:
Lễ Như Lai là thường dũng mãnh tinh tấn tu tập và thực hành ái kính bình đẳng.
- Hai hạng người hủy bảng Như Lai:
Có hai hạng người ở trong chúng sẽ hủy báng Như Lai, đó là hạng phi pháp nói pháp, pháp nói phi pháp.
- Hai hạng người được phước vô lượng:
Có hai hạng người được phước vô lượng,'đó là người biết khen ngợi điều đáng khen ngợi và người biết không khen ngợi điều không đáng khen ngợi. Ngược lại là hai hạng người có tội, tức điều đáng khen ngợi mà phỉ báng, điều đáng phỉ báng lại
5. Phẩm Khuyển thinh
Có 11 kinh.
Sau khi giác ngộ, Đức Thế Tôn thấy pháp mà Ngài đạt được “rất sâu khó hiểu khó rõ, khó có thể giác tri, không thể tư duy; pháp tịch tĩnh vi diệu, được giác tri bởi người trí, được phân biệt nghĩa lý, tu tập không chán, liền được hoan hỷ. Nếu Ta nói pháp vi diệu này cho mọi người, họ sẽ không tin nhận, cũng không phụng hành; không những uổng công vô ích mà còn bị tổn giảm nữa”. Do đó Ngài định vào Niết-bàn. Phạm thiên thấy vậy liền thỉnh cầu Thế Tôn diễn nói pháp mầu. Sau ba lần thưa thỉnh, Đức Phật quán chiếu nhân duyên của chúng sanh, thấy có người có khả năng kham nhận pháp, Ngài nhận lời Phạm thiên khuyến thỉnh, vận chuyển bánh xe Pháp.
- Từ bỏ hai cực đoan:
Trong lần chuyển vận bánh xe Pháp đầu tiên, Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo không nên vướng mắc vào hai cực đoan là tham đắm dục lạc và hành pháp phàm phu hạ tiện, mà nên thực tập con đường trung đạo. Đó là con đường Thánh gồm 8 thành phần.
- Đoạn tận ái:
Bằng cách quán chiếu tánh Không của vạn pháp để thấy được thực tướng vô thường, vô ngã của chúng nhằm đoạn tận ái dục, tâm được giải thoát, cho đến chỗ cứu cánh an ổn, không có mọi tai hoạn, được trời người tôn kính.
- Hạng người không còn sợ hãi:
Thế gian có hai hạng không còn sợ hãi, đó là sư tử và A-la-hán lậu tận.
- Hai pháp khiến người không cỏ trí tuệ:
Có hai pháp không có trí tuệ, đó là không ưa hỏi người hơn mình và ham ngủ.
Ngược lại, nếu ai thích hỏi nghĩa nơi người hơn mình và không ham ngủ nghỉ thì khiến cho người có trí tuệ.
- Hai pháp khiến người bần tiện:
Có hai pháp khiến người bần tiện, nghèo khổ, đó là ngăn cản người bố thí và tự mình không bố thí.
Ngược lại là hai pháp khiến người phú quý, đó là thấy người cho vật người khác thì hoan hỷ trợ giúp và tự minh cũng thích bố thí.
- Hai pháp khiến sanh vào nhà bần tiện:
Có hai pháp khiến sanh vào nhà bần tiện, đó là bất hiếu và không thừa sự người hơn mình.
Ngược lại là hai pháp khiển người sanh vào nhà hào tộc là cung kính cha mẹ, anh em, giòng họ và đem những gì mình có được ra bố thí.
- Hai địa vị:
+ Địa vị trai tráng: Dù tuổi tám mươi hay chín mươi, nhưng không đình chỉ dâm dục, tạo các ác hạnh, thì tuy già cả mà ở địa vị trai tráng.
+ Địa vị già cả: Tuổi tuy mới hai mươi, nhung không tập hành dâm dục, không tạo ác hành, thì tuy trẻ mà ở vào địa vị trưởng lão.
6. Phẩm Thiện tri thức
Có 13 kinh.
Thiện tri thức (Phạn kalyãnamitra) là người chính trực, có đức hạnh, có thể giúp đỡ, chia sẻ với người khác trên bước đường hoàn thiện nhân cách và thăng tiến tâm linh. Đức Phậtvkhuyên nên gần gũi thiện tri thức, đừng tập theo ác hành, phải tin vào ác nghiệp. Vì gần gũi thiện tri thức, tín được tăng trưởng; văn, thí, trí huệ. hết thảy đều tăng trưởng. Neu gần gũi thiện tri thức, thì không tập theo các ác hành. Ngược lại, nếu gần ác tri thức, sẽ không có tín, không có giới, văn, thí, trí tuệ.
- Tiền thân đời trước thi hài còn đây:
Tỳ-kheo Đàm-ma-lưu-chi trong khi nhập định thấy tiền thân làm thân cá dài bảy trăm do tuần, ở trong biển lớn. Tức thì, ông rời tĩnh thất, trong khoảnh khắc như lực sĩ trong khoảng co duỗi cánh tay, đến biển lớn, đi kinh hành trên xác chết cũ. Nhân đây, Phật kể lại chuyện tiền thân cho biết nguyên nhân Đàm-ma-liru chi trong vô số kiếp thường làm súc sanh, thọ thân sau cùng là thân cá dài bảy trăm do-tuần trong đại dương. Từ đó mạng chung sanh đến chốn ' này, theo hầu thiện tri thức, thuờng gần gũi thiện tri thức, tập các pháp lành, các căn thông lợi.
- Người như sư tử, người như dê:
+ Người như sư tử: Được cúng dường, không nhiễm trước, không có dục ý, không khởi các tưởng; không được cúng dường, không khởi loạn niệm, không tâm tăng giảm.
+ Người như dê: Được cúng dường, khởi tâm nhiễm trước, sanh tâm ái dục, không biết đạo xuất yếu, cống cao; không được củng dường, sanh tâm ganh tỵ, chê bai người được cúng.
- Sống gần bên Phật:
Đó là người biết đền ơn. “Nếu có chúng sanh biết báo đáp, người này đáng kính, ân nhỏ còn không quên huống chi ân lớn. Cho dù người đó cách chốn này ngàn do tuần, trăm ngàn do tuần mà không là xa, cũng như gần Ta không khác”.
Ngược lại, người không biết báo đáp, ân lớn còn quên huống chi ân nhỏ, người đó chẳng gần Phật, dù đang hầu hạ bên Phật.
Lười biếng là kho:Hằng sa các Như Lai, ứng cúng, Đẳng chánh giác, thời quá khứ, đều do dõng mãnh mà được thành Phật.
- Siêng tu chỉ, quán:
Khi Bồ-tát ngồi dưới bóng thọ vương, trước tiên tư duy pháp chỉ và quán. Nếu Bồ-tát ma-ha-tát đã đắc chỉ rồi, bèn có thể hàng phục được các ma oán. Nếu Bồ-tát đạt được quán rồi, ngay sau đó liền đạt được ba ba minh, thành Vô thượng Chí chân, Đẳng chánh giác.
- Pháp tu của A-lan-nhã:
Tỳ-kheo A-lan-nhã sống nơi nhàn tĩnh, không sống trong chúng, cũng phải học pháp cung kính và phát tâm hoan hỷ, đồng thời phải thường tinh tấn (vì ở một mình thường dễ buông lung).
- Hai hạng người khó thuyết pháp cho họ:
Đó là người không có niềm tin và người keo kiệt.
- Hai hạng người xứng đáng cúng dường:
Đó là cha và mẹ. Cúng dường cho cha và mẹ có công đức rất lớn; cha và mẹ là hai người mà chúng ta không bao giờ báo ơn hết được.
- Công phu quét rác:
Đó là công phu mà Thế Tôn dạy cho Châu-lợi Bàn-đặc. “Dính kết là bẩn. Trí huệ là trừ. Nay ta có thể dùng chổi trí huệ quét dính kết này”.
- Hai pháp không ai mong đợi:
Có hai pháp mà người đời không mong đợi, đó là oán tang hội và ái biệt ly.
IV. Phẩm 3 pháp
Có 4 phẩm, 40 kinh.
1. Phẩm Tam bảo
Có 10 kinh.
Tam bảo là ba bậc tối tôn, tối thượng nhất trong trời người, cho nên nếu có chúng sanh nào tự quy y Tam bảo thì có được ba đức lớn
nhất, hưởng phước trời trong loài người. Sau khi quy y Tam bảo rồi, giữ gìn năm giới, tạo lập ba phước nghiệp là bố thí, bình đẳng và tư duy thiện pháp thì chắc chắn sanh thiên. Tam bảo là nơi an ổn nhất để chúng sanh nương tựa. Một khi tâm đã an trú nơi Tam bảo rồi thì không còn lay động, được bất thối chuyển.
- Ba phước nghiệp:
Đó là bố thí, trì giới và tu tập Thánh đạo.
- Ba nguyên nhân thọ thai:
Cha mẹ hội hợp, người mẹ trong chu kỳ có thể mang thai và thần thức đến.
- Ba chỗ không di động:
Đó là Phật, Pháp và Tăng. Hãy khuyến khích, an lập người mình yêu thương trong ba chỗ đó.
- Xuống tới địa ngục còn chưa thức tỉnh:
Đó là trường hợp của Tỳ-kheo Cù-ba-li. ông phỉ báng hai Tôn giả Mục-kiền-liên và Xá-lợi-phất nên bị đọa địa ngục. Tôn giả Mục- kiền-liên thương tình xuống địa ngục thuyết pháp để cứu độ, nhưng người này si mê trầm trọng, nghiệp lực sâu dày, vừa thấy Tôn giả lại khởi ác ngữ, khiến tội càng thêm nặng, không phương cứu chữa.
- Bu pháp đưa tới hiện pháp lạc trú:
1. Phòng hộ căn môn; 2. Ăn uống tiết độ; 3. Tinh cần tỉnh giác.
Ai thành tựu ba pháp này thì ngay hiện tại hoặc chứng chánh trí (tức A-la-hán) hoặc đắc A-na-hàm.
- Ba thứ bệnh nặng:
Có ba thứ bệnh nặng là tham dục, sân nhuế và ngu si. Tham dục thì trị bằng thuốc bất tịnh. Sân nhuế thì trị bằng thuốc tù tâm. Ngu si thì trị bằng thuốc trí tuệ.
- Ba thứ không chắc thật:
Có ba thứ không chắc thật là: Thân không chắc thật, mạng không chắc thật và tài không chắc thật. Tỳ-kheo hãy tìm cầu cái chắc thật, đùng tìm cầu cái không chắc thật.
2. Phẩm Ba cúng dườmg
Có 10 kinh.
Kinh cho biết có ba hạng người xứng đáng được người đời cúng dường là Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác, đệ tử của Đức Như Lai, A-la-hán lậu tận, và Chuyển luân Thánh vương. Đồng thời cho biết Tam bảo là nơi gieo trồng công đức, thiện căn không thể cùng tận, đua dần đến Niết-bàn giới.
- Ba loại cảm thọ:
Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ không khổ không lạc. Cảm thọ lạc kia là sứ giả của ái dục. Cảm thọ khổ kia là sứ giả của sân nhuế sai khiến. Cảm thọ không khổ không lạc kia là sứ giả của si.
- Ba thứ che khuất là tốt nhất:
Có ba sự che khuất là tốt nhất, đó người nữ, chú thuật Bà-la- môn và tà kiến; có ba sự hiển lộ thì tốt, đó là mặt trời, mặt trăng và Pháp ngữ của Như Lai.
- Ba tướng của pháp hữu vi:
Các pháp hữu vi có ba tướng: Sanh khởi, thay đổi và diệt tận.
- Ba dấu hiệu nhận biết người ngu:
Người ngu có ba đặc tính hay ba dấu hiệu: ĐÌều không nên tư duy mà cứ tư duy, điều không nên luận thuyết mà cứ luận thuyết, điều không nên làm mà cứ làm. Ngược lại là dấu hiệu nhận biết người trí.
- Tam vô lậu học:
Do không được giác tri, không được thấy, không được nghe ba pháp Giới - Định - Tuệ, nên trải qua sanh tử luân hồi.
- Ba pháp người đời tham muốn:
Người đời luôn mong muốn tìm cầu và ưa thích trẻ hoài không già, mạnh hoài không bệnh, sống hoài không chết. Nhưng sự thật thì, có trẻ song cũng phải già, có khỏe song rồi cũng bệnh, tuy có sống lâu song rồi cũng phải chết. Cho nên, Tỳ-kheo nên biết để cầu Niết-bàn, không già, không bệnh, không chết.
- Ba pháp quấn chặt khiến rơi vào địa ngục:
Khi Như Lai không xuất hiện ở đời chủng sanh sẽ rơi vào địa ngục, do ba sự: tham dục, ngủ nghỉ, trạo cử. Trong đó, người nữ vào địa ngục nhiều hon người nam, do người nữ bị ba sự quấn chặt: tâm ghen tỵ, ưa ngủ nghỉ, tham dục nặng nề.
- Ba pháp không hề biết chán đủ:
Đó là tham dục, uống rượu, ngủ nghỉ.
3. Phẩm Địa chủ
Có 10 kinh.
Vua Ba-tư-nặc rất hoan hỷ vì được cúng dường Phật cùng Tăng đoàn suốt ba tháng. Ông cũng từng nghe Phật phân biệt về sự bố thí, mà theo đó, cúng dường Phật và Thánh tăng thì phước báo vô lượng vô biên, nên ông cảm thấy thỏa mãn và cho rằng ‘công đức hiện tại đã làm xong’.
Đức Phật dạy, ‘làm phước không bao giờ nhàm chán’. Rồi nhân đó kể chuyện tiền thân của mình.
Trong quá khứ lâu xa, có vị vua tên Địa Chủ. Vị vua này từng phát tâm trọn đời cúng dường Phật Đăng Quang và vô lượng Thánh chúng, trải qua bảy vạn năm, cho đến khi giáo pháp của Như Lai Đăng Quang truyền lại bị diệt tận, sau đó vị vua này mới diệt độ.
Vị vua Địa Chủ ấy chính là tiền thân của Đức Phật. Đức Phật cho biết, bấy giờ bao công đức có được đều đem cầu hưởng phước báo lành trong sanh tử mà không cầu giải thoát và dù công đức vô lượng vô biên như thế, trải qua bao nhiêu kiếp triền miên sanh tử đã hưởng hết phước, không còn mảy may nào.
Do đó, Đức Phật kết luận: Những gì được làm bởi thân, khẩu, ý đều để cầu giải thoát, chớ cầu hưởng phước nghiệp ở trong sanh tử.
- Không thuyết, không phái không biết thuyết:
Thích Đề-hoàn nhân tham vấn Tôn giả Bà-câu-lư. Tôn giả Bà- câu-lư là người đã chứng quả A-la-hán, nhưng quán thấy chủng loại chúng sanh khó có thể hiểu biết, thế giới có nhiều quốc độ không giống nhau, thảy đều chấp trước ngã sở, phi ngã sở, nên im lặng không thuyết pháp.
- Nghệ thuật lên dây đàn:
Xem kinh 123 của Trung A-hàm.
- Như nhà nông chỉ thu mà không trồng:
Trường giả Sa-đề, một người giàu có lại không con cái, nhưng tham lam keo kiệt, không dám ăn, không dám mặc, sau khi chết bị vua trưng thu tài sản.
Phật cho biết, Sa-đề đã hưởng hết phước và vì không tạo phước mới nên sau khi mạng chung đã sanh vào địa ngục. Phước mà Sa-đề có là nhờ trong quá khứ ông bố thí cho một vị Bích-chi Phật, dù sau khi bố thí ông cảm thấy tiếc. Hiện tại, Sa-đề chỉ hưởng phước cũ mà không tạo phước mới, nên thân hoại mạng chung sanh vào địa ngục Thể khốc.
- Ba loại hương:
Có ba loại hương, hương ngược gió, hương xuôi gió, và hương vừa ngược gió vừa xuôi gió, đó là hương giới, hương văn và hương thí.
- Tham đắm lợi dưỡng:
Đó là Đe-bà-đạt-đa, tham danh, tham lợi gây nên không biết bao nhiều điều tội ác. Đức Phật khuyên chớ nên gần ác tri thức như Đầ- bà-đạt-đa, vì người này không có Giới, Định, Tuệ của Thánh hiền.
- Ba bất thiện căn:
Ba bất thiện căn là tham, sân, si. Ai có ba gốc rễ bất thiện này sẽ bị đọa ba đường dữ. Vô tham, vô sân, vô si là ba thiện căn. Ai có ba thiện căn sẽ sanh vào chỗ lành.
- Phân biệt ba tụ:
Ba tụ là chánh, tà và thiện. Chánh tụ là có chánh kiến cho đến có chánh định. Tà tụ là tà kiến cho đến tà định. Thiện tụ là ba thiện căn vô tham, vô sân, vô si.
4. Phẩm Cao tràng
Có 10 kinh.
Cao tràng là lá cờ của Thiên Đế-thích. Thần dân nước trời mà có sợ hãi thì hãy nhìn lá cờ này liền hết sợ hãi.
Phật lấy truyền thuyết này để dạy các đệ tử. Kinh nói, nếu Tỳ- kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di nào mà có sự sợ hãi thì nên niệm Tam bảo, sợ hãi ấy liền tự tiêu diệt. Kinh ghi: ‘Thích Đề-hoàn nhân còn có dâm, nộ, si. Song dân trời Tam thập tam niệm tưởng chủ mình mà hết sợ hãi, huống chi Như Lai không còn có tâm dục, nộ, si, nên niệm tưởng đến mà có sợ hãi sao?'. Cho nên, ‘hãy niệm tam tôn: Phật, Pháp và Thánh chúng’, rằng ‘Đây là Như Lai Chí chơn, Đẳng chánh giác, Minh hạnh tóc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật Thế Tôn’.
- Hàng phục ác quỷ Tỳ-sa:
Đức Phật hàng phục ác quỷ Tỳ-sa, cứu nhân dân Bạt-kỳ thoát khỏi nạn hiến tế mỗi ngày một mạng người cho ác quỷ. Bản kinh
phản ánh tín ngưỡng đa thần giáo của người dân Ân Độ, kể tên một số vị thần mà ngày nay chúng ta có thể tìm thấy trong tín ngưỡng của Mật giáo.
- Vua trong ba cõi:
Những người thuộc dòng họ Thích yêu cầu Phật trở lại làm vua. Đức Phật nói ngôi vị đế vương nào có ý nghĩa gì? Được rồi sau lại mất. Chỉ có ngôi vị giác ngộ là tối thắng không cùng tận, không gì có thể chiến thắng và chiếm đoạt được.
- Chút đất dính trên đầu móng tay:
Đức Phật lấy một ít đất bỏ lên móng tay, đưa cho các Tỳ-kheo thấy, rồi nói: “Nếu có sắc chỉ nhiều ngần ấy mà thường hằng tồn tại ở thế gian thì đời sống phạm hạnh này không được thiết lập cho mục đích chân chánh diệt khổ”. Cho nên, Tỳ-kheo hãy quán năm uẩn vô thường, khổ, vô ngã. Chính nhờ năm uấn vô thường, vô ngã cho nên phạm hạnh mới được thành lập để diệt tận gốc khổ.
Đoạn Phật kể chuyện tiền thân, từng làm Chuyển luân Thánh vương, giàu có và uy vũ tột cùng. Phước báo ấy là nhờ vào sự bố thí, thực hành nhân từ và tự thủ hộ. Nhưng rồi tất cả phuớc ấy đều đã hết, tất cả không có gì là ta và của ta.
Kết luận: ‘Những gì là sắc, hoặc quá khứ, tương lai, hiện tại, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc tốt hoặc xấu, hoặc xa hoặc gần, sắc này chẳng phải của ta, ta không phải của sắc này’.
- Ba sự giáo hóa:
+ Thần túc giáo hóa: Biến hiện ra nhiều hình rồi hợp lại một, hoặc hiện hoặc ẩn; đi qua vách đá mà không gì chướng ngại; bay vào hư không; đi trên mặt nước; đi xuống dưới nước...
+ Ức niệm giáo hóa, còn gọi là ký tâm thị đạo: Biết được tâm niệm của người; đọc được ý người khác đang nghĩ gì.
+ Thuyết pháp giáo hóa, còn gọi là giáo giới thị đạo: Giảng dạy các Tỳ-kheo điều gì nên làm, điều gì không nên làm.
- Ba ngày trai:
Mỗi nửa đầu tháng có ba ngày trai là mồng tám, mười bốn và rằm. Trong những ngày này, nếu ai làm việc lành, hiếu thuận cha mẹ, giữ giới Bát quan trai thì được thiên thần hộ vệ, phước báo tăng trưởng.
- Ba sự được phước vô lượng:
Đó là kính tin Tam bảo, bố thí rộng rãi và giữ giới phạm hạnh.
- Ba kết:
Là thân kiến, giới cấm thủ kiến và nghi. Có ba kết này trói buộc chúng sanh, khiến không thể từ bờ này đến bờ kia.
- Ba tam-muội:
Là không tam-muội, Vô tướng tam-muội và Vô nguyện tam-muội.
+ Không là quán tất cả các pháp đều là không hư.
+ Vô tướng là đối với tất cả các pháp tất cả đều không tưởng niệm gì, cũng không có gì được thấy.
+ Vô nguyện là đổi với tất cả các pháp cũng không mong cầu.
V. Phẩm 4 pháp
Có 7 phẩm, 61 kinh.
1. Phẩm Tứ đế
Có 10 kinh.
Tứ diệu đé là nội dung thực tập mà Đức Thế Tôn đã hướng dẫn cho các Tỳ-kheo trong suốt cuộc đời hoằng pháp của Ngài. Đó là giáo lý nền tảng, căn bản của Phật giáo. Chúng sanh do không giác
tri Bốn sự thật này nên sống chết xoay vần mãi trong năm nẻo. Đức Phật do đạt được Tứ diệu đế nên từ bờ này đến bờ kia, đoạn trừ cội gốc sanh tử, như thực biết rằng không còn tái sanh nữa.
- Tứ dự lưu chi:
Bốn pháp đưa chúng sanh dự vào dòng Thánh: thân cận thiện sĩ, thính văn chánh pháp, như lý tác ý và pháp tùy pháp hành.
- Bốn pháp Vị tằng hữu:
Thứ nhất, chúng sanh dù đắm nhiễm, nhưng khi Phật nói pháp không đắm nhiễm chúng cũng vâng lãnh, thọ trì.
Thứ hai, chúng sanh luân chuyển không dừng trong năm nẻo, nhưng khi Phật thuyết pháp chúng cũng vâng nghe.
Thứ ba, chúng sanh thường ôm lòng kiêu mạn, nhưng khi Phật thuyết pháp chúng cũng vâng lãnh, tâm không xa lìa.
Thứ tư, chúng sanh bị vô minh che kín, nhưng khi Phật thuyết pháp, chúng cũng vâng lãnh mà không quên mất.
- Gánh nặng:
Năm uẩn là gánh nặng, người mang gánh nặng là chúng sanh, ái trước là nhân duyên gánh gặng, ái diệt thì gánh nặng buông xuống.
- Bốn loại sanh:
+ Loại sanh từ trứng: như gà, chim...
+ Loại sanh từ thai: như người, trâu, bò...
+ Loại sanh từ ẩm thấp: như con trùng sanh từ trong thịt rữa, trong thây chết, trong nhà xí...
+ Loại sanh từ hóa: như các loại trời, địa ngục, ngạ quỷ...
- Bốn hạng người:
1. Người có kết sử tiềm phục, bên trong có kết sử mà không
biết như thật có (có nhiễm ô, nhưng không như thực biết rằng ta bên trong có nhiễm ô);
2. Người có kết sử tiềm phục, bên trong có kết sử mà biết như thật có;
3. Người không có kết sử tiềm phục, bên trong không có kết sử mà không biết như thật là không có;
4. Người không có kết sử tiềm phục; bên trong không kết sử mà biết như thật là không có.
Trong đó, hạng người thứ nhất và thứ ba là hạ liệt, thấp kém; hạng thứ hai và thứ tư là tối ưu, đệ nhất.
- Như bốn loại trái cây:
Đức Phật dùng hình ảnh bốn loại trái cây chín, sống, chín mà giống sống, sống mà giống chín để ví dụ cho bốn hạng người:
- Sống mà giống chín: Hạng người giả trang thiền tướng, bề ngoài ra vẻ tu hành, bên trong không có chính hạnh; giống Sa-môn mà chẳng phải Sa-môn, bại hoại Chánh pháp.
- Chín mà giống sống: Hạng người bề ngoài có vẻ quê mùa, cử chỉ vụng về, nhưng rất siêng tu học, thường giữ giới luật, thấy điều phi pháp tí ti cũng sợ hãi.
- Sống mà giống sống: Hạng người thô tháo, không giữ cấm giới, không biết lễ tiết, oai nghi, tham đắm sắc dục, phạm vào cấm giới, bại hoại Chánh pháp.
- Chín mà giống chín: Hạng người giữ gìn cấm giới, không mất oai nghi, thường tu thiện pháp, thực tâm tu hành.
- Rơi vào vùng bão:
Kẻ phá giới như loài chim đâm mình vào gió lốc xoáy, đầu, não, lông cánh, sẽ mỗi thứ mỗi nơi.
- Bốn loài chim:
Thế gian có bốn loài chim, thế gian có bốn hạng người.
+ Loài chim hình đẹp mà tiếng không hay: Hạng người xinh đẹp mà không có đạo đức.
+ Loài chim tiếng hay mà hình xấu: Hạng người trông quê mùa mà đạo đức, phạm hạnh.
+ Loài chim hình xấu mà tiếng cũng dở: Hạng người ngu si lại không học, phạm giới.
+ Loài chim hình đẹp tiếng lại hay: Đẹp người đẹp nết.
- Bốn hạng Tỳ-kheo:
+ Tỳ-kheo như trời có sấm mà không mưa: Học thông kinh luận, thông suốt Kinh tạng, nhưng không rộng nói pháp cho người khác.
+ Tỳ-kheo như trời mưa mà không sấm: Không thông suốt kinh luận, không học rộng nghe nhiều, không tụng tập kinh điến, nhưng tu tất cả pháp thiện không mảy may để mất, thường theo thiện tri thức, thích nói pháp cho người.
+ Tỳ-kheo như trời không mưa cũng lại không sấm: Không tu cũng không học, cũng không biết thuyết pháp.
+ Tỳ-kheo như trời có mưa lại có sấm: Học rộng, nghe nhiều, tu tập thiện pháp, giảng dạy khuyến khích người khác tu học.
2. Phẩm Bốn ý đoạn
Có 10 kinh.
Bốn ý đoạn, Phạn catvãri prahănãni, tức là Bốn chánh cần. Cần có nghĩa là siêng năng, tinh tấn; đoạn nghía là cắt đứt, diệt trừ những điều chướng ngại đời sống tu tập như tâm lý lười biếng, kiêu mạn... Bốn chánh cần tức là bốn phương pháp nỗ lực siêng năng đoạn trừ các điều xấu ác và làm phát sanh các điều thiện, đó là:
- Pháp tệ ác chưa sanh, tìm cầu phương tiện khiến không cho sanh, tâm không rời xa, hằng muốn khiến nó không sanh;
- Pháp tệ ác đã sanh, tìm cầu phương tiện khiến diệt, tâm không xa lìa, hằng muốn khiến diệt;
- Pháp thiện chưa sanh, tìm cầu phương tiện khiến sanh;
- Pháp thiện đã sanh, tìm cầu phương tiện khiến tăng nhiều, không để thoái thất, tu hành đầy đủ, tâm ý không quên.
Bốn pháp này là “chỗ nương tựa của tất cả các pháp thiện”, cũng giống như núi sông, vách đá, trăm cỏ, ngũ cốc... đều nương trên đất mà được tăng trưởng lớn mạnh. “Trong những ánh sáng tinh tủ, ánh sáng mặt trăng là tối thượng đệ nhất, ở đây cũng như vậy, trong những công đức thiện của 37 pháp đạo phẩm, hành không phóng dật là đệ nhất tối tôn tối quý. Không phóng dật, Tỳ-kheo tu bốn ý đoạn, tu nhiều bốn ý đoạn”.
- Bốn hạng người:
Thế gian có 4 hạng người:
+ Hạng người trước tối sau sáng (sanh ra trong hoàn cảnh khó khăn mà biết học tập để vươn lên thành người có đạo đức, biết kính tin Tam bảo);
+ Hạng người trước sáng sau tối (sanh ra trong gia đình giàu có mà không lo học hành, rèn luyện phấm chất đạo đức, quy y Tam bảo, chi tập tành theo thói ăn chơi, sa đọa);
+ Hạng người trước tối sau tối (sanh ra đã nghèo khó lại còn chấp giữ tà kiến, phỉ báng Tam bảo);
+ Hạng người trước sáng sau sáng (gia đình giàu có lại biết kính tin Tam bảo, siêng tu bố thí, cúng dường).
- Như Lai cũng phải có sanh, già, bệnh, chết:
Bản kinh in đậm dấu ấn vô thường trên thân thế Thế Tôn trong
những tháng cuối cùng thị hiện giữa thế gian. Người đời luôn mong ước được trẻ mãi không già, mạnh hoài không bệnh, sống hoài không chết và ái ân đoàn tụ, nhưng sự thật thì không như ý muốn. Chư thiên, người đời cho đến Chuyển luân Thánh vương, chư Phật Thế Tôn cũng không thoát khỏi quy luật ấy. Cho nên, Đúc Phật khuyên các Tỳ-kheo hãy nỗ lực tu tập bốn pháp: Giới, Định, Tuệ và Giải thoát của Hiền Thánh để đạt Niết-bàn, không còn tái sanh nữa.
- Mạng người như nắm tuyết:
Pháp của thân người giống như nắm tuyết, tất sẽ tan chảy. Cũng như nắm đất, rồi cũng vỡ vụn, không thế giữ lâu; cũng như quáng nắng, huyễn hóa, hư nguỵ không thật; cũng như nắm tay không, dùng để gạt con nít.
Có bốn điều rất sợ hãi, sẽ mang đến thân này không thể ngăn che được, cũng không thể dùng ngôn ngữ, chú thuật, thuốc men, phù thư để có thể trừ khử. Một là già làm bại hoại tráng niên khiến không nhan sắc. Hai là bệnh làm bại hoại hết người không bệnh. Ba là chết làm bại hoại hết mạng căn. Bốn là vật hữu thường trở về vô thường.
Già, bệnh, chết, vô thựờng như 4 ngọn núi lớn, từ bốn phương dồn ép đến chúng sanh, không thể dùng sức gì ngăn cản được.
- Bốn pháp ấn :
Là vô thường, khổ, vô ngã, và Niết-bàn tịch tĩnh.
- Bốn biện tài:
Là pháp mà Tôn giả Xá-lợi-phất chứng được sau khi xuất gia nửa tháng: nghĩa biện tài, pháp biện tài, ứng biện tài và tự biện tài.
- Thắm tình huynh đệ:
Tôn giả Mục-kiền-liên thọ nghiệp báo cuối cùng, bị ngoại đạo vây đánh cho đến thân thể nát nhừ. Sau khi thọ nghiệp, Mục-kiền- liên dùng thần túc bay về tu viện để từ giã Xá-lợi-phất trước khi vào Niết-bàn.
Tại đây, Tôn giả Xá-lợi-phất cũng xin vào Niết-bàn trước Thế Tôn.
Thế rồi, hai Tôn giả trước sau đều vào Niết-bàn truúc Đức Thế Tôn.
- Vô trụ Niết-bàn:
Bà-ca-lê là một người có tín giải thoát, nhung vẫn chưa được lậu tận, thân lại mang bệnh lâu ngày. Vì không muốn chịu khổ thân bệnh thêm nữa nên muốn tụ sát. Trong khi toan cầm dao đâm vào ngực, thì niệm tưởng công đức Như Lai, lại nghĩ mình trong pháp Như Lai chưa được chúng đắc mà đã mạng chung, ngay đó thiền quán về năm uẩn và thấy sự thật tất cả các pháp có sanh đều có tử. Thấy vậy rồi liền được tâm giải thoát, khỏi lậu hoặc. Bấy giờ Bà-ca- lê nhập Niết-bàn mà không cần phải tự sát.
Tệ ma Ba-tuần dùng thần lực tìm kiếm xem thần thức Bà-lê-ca đang ở đâu nhưng không cách nào tìm được. Các Tỳ-kheo cũng muốn biết. Thế Tôn dạy: “Thần thức Tỳ-kheo Bà-ca-lê không còn trụ vào bất cứ đâu. Thiện gia nam tử kia đã Bát Niết-bàn (Vô trụ xứ Niết-bàn).
3. Phẩm Đẳng thú Tứ đế
Có 10 kinh.
Đẳng thú Tứ đế là cùng hướng đến tu học pháp Tứ diệu đế, đó là pháp mà chư Phật thường nói, các Thánh đệ tử cũng bằng vô số phương tiện để quán sát pháp này, phân biệt ý nghĩa, quảng diễn cho mọi người. Tỳ-kheo Xá-lợi-phất là cha mẹ sanh ra chúng sanh, Tỳ- kheo Mục-kiền-liên là người nuôi dưỡng cho lớn khôn. Sở dĩ như vậy là vì Tỳ-kheo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã vì mọi người nói pháp yếu, thành tựu Tứ đế.
- Tiếng rống sư tử:
Chỉ ờ trong Phật pháp mới có đệ nhất Sa-môn, đệ nhị Sa-môn, đệ tam Sa-môn, đệ tứ Sa-môn, không có Sa-môn nào nữa vượt khỏi trên đây, thù thắng hơn đây. Tuyên bố như vậy được gọi là ‘rống tiếng rống sư tử’. Vì sao?
Bởi VÌ chỉ có trong Phật pháp mới chỉ ra đầy đủ các nguyên nhân của khổ đau, nguyên nhân của các ngã kiến, dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ, tất cả đều do ái mà sanh. Từ đó, Phật chỉ ra con đường để diệt khổ, nhổ tận gốc rễ của ái. Nội dung được nói như vậy là chân thật, là không hư dối, vì vậy mà gọi là ‘tiếng rống sư tử’.
- Hoan hỷ bố thỉ:
Bấy giờ, gia nghiệp của cư sĩ Cấp-cô-độc bị khánh kiệt, nhưng vẫn thường hành bố thí, tuy nhiên thực phẩm bố thí có phần kém chất lượng, do vậy ông không xứng ý. Đức Phật khuyên rằng, bố thí dù ngon hay dở, nhiều hay ít không quan trọng, quan trọng nhất là ở chỗ dụng tâm có chí thành hay không, và đặc biệt là đừng khởi tuởng đắm trước.
Rồi Phật kể chuyện tiền thân. Trong quá khứ, Ngài từng làm Phạm chí tên Tỳ-la-ma, giàu có vô cùng, bố thí rộng khắp, nhưng rồi không có sự bố thí nào có công đức bằng tự thân tu tập, quy y Tam bảo và có lòng từ đối với chúng sanh.
- Như mặt trời trên không:
Như mặt trời mới mọc, Như Lai ra đời trừ bỏ bóng tối, không nơi nào là không chiếu sáng.
- Bốn cách bố thí:
Bố thí bình đẳng, không đắm trước, không vì mình mà vì để thành đạo Vô thượng Chánh chơn, hành Bồ-tát đạo.
- Bốn vô sở úy :
Bốn pháp vô sở úy của Như Lai, đó là: Chánh giác vô úy, lậu vĩnh tận vô úy, thuyết chướng pháp vô úy và thuyết xuất đạo vô úy.
- Bốn hạng người đệ nhất:
Bốn hạng người đệ nhất trong chúng, đó là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo- ni, Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đa văn.
- Bốn tâm vô lượng:
Có bốn loài chim cánh vàng và bốn loài rồng thường ăn thịt lẫn nhau, nhưng khi Như Lai xuất hiện thì chúng không thể ăn thịt nhau được nữa. Vì sao? Vì Như Lai thực hành Bốn tâm vô lượng từ, bi, hỷ, xả.
- Bốn cách bố thí công đức vô lượng:
Bố thí đúng lúc, tự tay bố thí, bố thí trong sạch, bố thí vi diệu là bốn pháp bố thí công đức vô lượng.
- Bốn hạng người đáng kính:
Có bốn hạng người đáng kính, đáng quý, là ruộng phước thế gian, đó là hạng người tùy tín, tùy pháp, thân chứng và kiến đạo.
4. Phẩm Thanh văn
Có 7 kinh.
- Quy y Tam bảo được miễn thuế:
Trong thành La-duyệt có hai chị em trưởng giả Bạt-đề và Nan-đà, giàu cỏ vô cùng nhưng tham lam keo kiệt, lại chăng có niềm tin nhân quả, luân hồi. Bấy giờ 4 Đại Thanh văn là Đại Mục-kiền-liên, Ma-ha Ca-diếp, A-na-luật và Tân-đầu-lô bèn dùng phương tiện giáo hóa cho hai chị em phát tâm quy y Tam bảo và thọ giữ năm giới.
Em của Bạt-đề và Nan-đà là trưởng giả Ưu-bà-ca-ni, vốn là bạn thân của A-xà-thế, đem chuyện anh và chị mình đã được Phật giáo hóa kể cho vua nghe, vua hoan hỷ ban hành sắc lệnh toàn dân: những nhà thờ Phật đều khỏi đóng thuế.
- Bốn kết sử:
Bốn thứ kết che khuất tâm người khiến không khai mở là: dục, sân, si và lợi dưỡng, cũng giống như mặt trời, mặt trăng bị mây, bụi, khói hay A-tu-la che khuất, khiến không phóng ánh sáng được.
- Chỗ Như Lai ngồi:
Thế Tôn trải qua một mùa đông rất lạnh mà Ngài chỉ dùng đệm cỏ và y áo rất mỏng manh.
Bấy giờ, con trai của trưởng giả Thủ đến thăm Thế Tôn, ân cần hỏi thăm, trời rét buốt như vậy Thế Tôn có ngủ được không? Đức Phật cho biết Ngài ngủ rất ngon, nhung con trai trưởng giả Thủ không tin, vì trời quá lạnh, mà Thế Tôn ở trong miếu hoang, dùng đệm cỏ, y áo mỏng manh.
Đức Phật hỏi, nếu ở trong nhà chăn êm, nệm ấm, có lò sưởi, có ngọc nữ hầu hạ, nhưng dục vọng, dâm, nộ, si khởi lên thì có ngủ ngon được không?
Trong khi đó, chỗ Thế Tôn ngồi là Bốn sự thật, Bốn tâm vô lượng, Bốn thần túc. Chỗ ấy rất ấm, nên Như Lai ngủ rất ngon với đệm cỏ, y áo mỏng manh.
- A-la-hán không đến cũng không đi:
Bà-la-môn Lộc Đầu có biệt tài gõ vào đầu lâu thì biết đầu lâu đó là nam hay nữ, vì sao mà chết, sau khi chết tái sanh về đâu. Nhưng khi Như Lai đưa đầu lâu của Tỳ-kheo-ni Ưu-đà-diên cho ông gõ thì ông chẳng phân biệt được. Vì sao? Vì người ấy đã đắc quả A-la-hán, đã nhập vào trong Vô dư Niết-bàn, không còn trú xứ nào để có thế gọi là đến hay đi.
- Phân biệt Chánh pháp:
Có bốn cách để thẩm định điều được nói, được hành trì có đúng là Chánh pháp hay không, đó là, phải đối chiếu những điều ấy trong Kinh, Luật, Luận và Giới. Sau khi đối chiếu, thấy tương ung thi hãy hoan hỷ phụng hành.
- Bốn pháp trước khổ sau vui:
1. Tu tập phạm hạnh, trước khổ sau vui; 2. Tụng kinh, trước
khổ sau vui; 3. Tọa thiền, trước khổ sau vui; 4. Quán sổ tức, trước khổ sau vui.
- Bốn quả Sa-môn:
1. Sa-môn như hoa hoàng lam: người diệt trừ ba kết sử, thành Tu-đà-hoàn.
2. Sa-môn như hoa phân-đà-lợi: người ba kết đã diệt; dâm, nộ, si mỏng, thành Tư-đà-hàm.
3. Sa-môn nhu nhuyến: người đoạn năm hạ phần kết, thành A-na-hàm.
4. Sa-môn nhu nhuyến trong nhu nhuyến: người diệt tận hữu lậu, thành vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ở trong hiện pháp tự thân tác chứng, tự du hí, biết như thật rằng, ‘Sanh tử đã tận, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh đời sau’.
5. Phẩm Khổ Lạc
Phẩm này có 10 kinh, trình bày những pháp liên quan đến trạng thái khổ hay lạc của chúng sanh.
- Bốn hạng người ở thế gian:
1. Hạng người trước khổ, sau vui (chi cho những người sanh ra trong hoàn cảnh nghèo khó nhưng biết tu tập, tin nhân quả, biết quy y Tam bảo...);
2. Hạng người trước vui, sau khổ (chỉ cho những người sanh ra trong gia đình giàu có nhưng không biết tu tập bố thí, tà kiến, không tin nhân quả, không tin Tam bảo..
3. Hạng người trước khổ, sau khổ (sanh ra trong hoàn cảnh nghèo khổ mà còn không biết tu tập, chấp giữ tà kiến, không tin nhân quả báo ứng, không tin Tam bảo..
4. Hạng người trước vui, sau vui (sanh ra trong gia cảnh giàu có lại biết quy kính Tam bảo, biết bố thí, cúng dường, siêng làm từ thiện.. .)•
- Bốn hạng người ở thế gian:
1. Người thân vui tâm không vui: phàm phu tạo phước và hưởng phước, không thiếu thổn vật chất, nhưng không thoát ba đường ác.
2. Tâm vui thân không vui: A-la-hán không tạo công đức, chỉ có tâm giải thoát là an vui, còn đời sống vật chất thì thiếu thốn.
3. Thân cũng không vui, tâm cũng không vui: phàm phu không tạo phước, không tạo công đức, không tu tập, thân cũng khổ mà tâm cũng khổ, chết đọa đường ác.
4. Thân cũng vui, tâm cũng vui: A-la-hán tạo công đức, phước trí nhị nghiêm.
- Phạm thiên có bon phước lớn:
1. Xây tháp; 2. Tu sửa chùa cũ; 3. Tạo sự hòa họp Thánh chúng; 4. Khuyến thỉnh chuvển Pháp luân.
- Bốn loại thức ăn:
Bốn loại thức ăn nuôi lớn chúng sanh là: đoàn thực, xúc thực, niệm thực và thức thực.
- Bốn biện tài:
Bốn loại biện tài là nghĩa biện, pháp biện, từ biện và ứng biện. Tôn giả Ma-ha Câu-hy-la được Phật khen là đệ nhất vô ngại giải, thành tựu bốn biện tài này.
- Bốn sự không thê nghĩ bàn:
Có bốn sự không thể nghĩ bàn, đó là: chúng sanh không thể nghĩ bàn, thế giới không thể nghĩ bàn, quốc độ của loài rồng không thể nghĩ bàn và cảnh giới Phật không thể nghĩ bàn.
- Bốn loại thần túc:
Có bốn loại thần túc: Tự tại tam-muội hành tận thần túc, tâm tam-muội hành tận thần túc, tinh tấn tam-muội hành tận thần túc và giới tam-muội hành tận thần túc.
- Bốn pháp sanh khởi ái:
Có bốn nguyên nhân khiến ái sanh khởi, đó là y phục, thức ăn, chỗ nằm, thuốc men. Đây chì cho bốn sự nhu cầu cuộc sống của Tỳ- kheo. Neu Tỳ-kheo quá chú trọng đến bốn sự này tất chướng ngại đường tu học.
- Muôn sông đều về biển:
Như bốn con sông lớn đều đổ vào biển cả, tất cả bốn chủng tánh (tức bốn giai cấp) sau khi xuất gia đều là con của Như Lai, đều xuôi về Niết-bàn.
- Bốn loại tâm:
Từ, bi, hỷ, xả được gọi là Bốn tâm vô lượng, cũng gọi là Tứ Phạm trụ, bởi ai thực hành bốn tâm này tất được cộng trú với Phạm thiên.
6. Phẩm Tu-đà
Có 3 kinh.
Tu-đà là Sa-di mới 7 tuổi, nhưng do khéo trả lời các câu hỏi mà đắc giới cụ túc, là trường họp thọ cụ túc trẻ tuổi nhất và cũng là trường họp duy nhất trong lịch sử Phật giáo.
- Tuổi trẻ ở ngôi trưởng lão:
Khi Phật đang thuyết pháp, Sa-di Tu-ma-na mới 8 tuổi, ngồi kiết-già, chú tâm lắng nghe, trong khi đó có một Tỳ-kheo trưởng lão lại ngồi ngủ gục. Phật cho biết, Tỳ-kheo này không có lòng cung kính đối với Phật, Pháp và Thánh chúng, trong quá khứ đã làm thân rồng, kiếp này sau khi mạng chung cũng sanh vào đó; còn Sa-di Tu- ma-na, nay mai sẽ đạt được 4 thần túc, đắc pháp bốn đế, được tự tại trong bốn thiền, khéo tu bốn ý đoạn, vì có lòng cung kính đổi với Phật, Pháp và Tăng.
- Bốn pháp thu nhiếp lòng người:
Tu-ma-đề trong quá khứ đã từng tu 4 pháp bố thí, ái kính, lợi
người, đồng lợi (Tứ nhiếp pháp), nên nay được pháp nhãn thanh tịnh, lại có công đức khiến tám vạn bốn nghìn người đều được pháp nhãn thanh tịnh.
7. Phẩm Tăng thượng
Có 11 kinh.
- Làm sao đế khi sống một mình trong rừng vắng mà không sợ hãi?
+ Những ai thân hành bất tịnh, miệng hành bất tịnh, ý hành bất tịnh, mạng hành bất tịnh mà sống nơi vắng vẻ, không người thì chỉ luống nhọc công, sẽ sợ hãi kinh khiếp.
+ Những ai khen mình chê người, ham cầu lợi dưỡng, biếng nhác, hay quên, ý loạn không định, ngu si tăm tối... mà sống một mình, nơi vắng vẻ thì vẫn cũng uổng công vô ích, sẽ sợ hãi kinh khiếp và tiếp tục nuôi dưỡng pháp ác mà thôi.
+ Đức Thế Tôn, thân, miệng, ý, mạng hành thanh tịnh, an trú trong bốn thiền, thành tựu tam minh, lậu tận giải thoát, cho nên sống hiện pháp lạc trú. Dù vậy, Như Lai vẫn thích sống nơi yên tĩnh không người.
- Không thuyết pháp cho người hung dữ, bị Phật quở trách
Vua Ưu-điền nước Kosambĩ hỏi pháp một Tỳ-kheo nhung vị này không đáp. Đức Phật hỏi lý do, Tỳ-kheo này đáp do quán thấy tâm vua hung bạo, thiếu lòng từ, lại kiêu mạn, mà giáo pháp vi diệu không thể thuyết cho người ác.
Lý do Tỳ-kheo đưa ra bị Phật quở trách. Bấy giờ Thể Tôn dạy: ‘Neu y cũ rách cần phải giặt mới sạch. Dục tâm cực thịnh cần nên quán tưởng bất tịnh, sau đó bèn trừ được. Nếu tâm giận thịnh thì dùng tâm từ trừ đi. u ám ngu si thì dùng pháp mười hai duyên sau đó trừ hết (...). Ngay lửa dù cực mạnh vẫn có thể diệt được, huống nữa là người’!
Rồi Phật sách tấn Tỳ-kheo hãy thuyết pháp khuyên dạy mọi người: cung kính Phật, cầu pháp đề học, giữ giới để tu và thừa sự cúng dường Tăng chúng.
- Bổn sự hành trì:
+ Hành trì khổ chứng trí chậm, do nhiều tham dục và năm căn tín, tấn, niệm, định tuệ căn chậm lụt.
+ Hành trì khố chứng trí nhanh, do ít tham dục và năm căn lanh lợi.
+ Hành trì lạc chứng trí chậm, do ít dục, năm căn không thiếu sót.
+ Hành trì lạc chứng trí nhanh, do không dục, năm căn lại lanh lợi.
- Trốn đâu cho thoát chết?
Có bốn Bà-la-môn tu hành đã chứng đắc ngũ thông, cùng nhau bàn chuyện dùng thần túc để trốn thần chết. Song, khi mạng tận nghiệp đến, người bay lên không trung, người lặn xuống biển, người chui vào lòng núi, người chui xuống đất, rốt cuộc không thoát chểt được. Nhân sự kiện này, Đức Thế Tôn dạy:
‘Muốn được khỏi chết, nên tư duy bốn pháp: Chư hành vô thường, các hành là khổ, các pháp vô ngã, Niết-bàn diệt tận’.
- Bốn khu vườn Chánh pháp:
Trên trời Tam thập tam có bốn vườn cảnh để chư thiên vui chơi hưởng ngũ dục không cùng tận. Cũng vậy, trong Chánh pháp của Như Lai cũng có bốn khu vườn để chúng sanh vui chơi giải thoát, đó là vườn Từ, Bi, Hỷ, Xả; lại có bốn khu vườn khác để hàng Thanh văn tắm rửa, dạo chơi trong ấy, dứt hết hữu lậu, thành tựu vô lậu, không còn trần cấu, đó là bốn vườn thiền, từ Sơ thiền đến Tứ thiền.
- Bốn con rắn độc:
Có một người muốn sống an ổn, muốn tìm vui không tìm khổ... Người ấy bị vua bắt nuôi bốn con rắn độc, nên sợ quá bỏ
chạy, nhưng không biết chạy đi đường nào. Vua sai năm người cầm dao đuổi theo, rồi lại sai sáu oan gia rượt đuổi lấy mạng, người đó sợ quá chạy vào xóm vắng, xóm ấy lại có nhiều cướp; túng quẫn, người ấy cứ chạy tới phía trước, lại gặp con sông lớn, vừa sâu vừa rộng, chẳng có cầu đò. Trong lúc cùng đường, người ấy gom góp cây cỏ bó lại làm bè qua sông. Rồi thì với ý chí kiên định, người ấy qua đến bờ bên kia.
Phật kết luận: Bốn rắn độc là bốn đại, năm người cầm dao là năm uẩn, sáu oan gia là sáu cảnh (ái dục), xóm vắng là sáu xứ bên trong (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sông lớn là bốn lộc lưu (dục bộc lưu, hữu bộc lưu, vô minh bộc lưu, kiến bộc lưu), bè lớn là Tám Thánh đạo, bờ này là thân kiến, bờ kia là Niét-bàn.
- Bốn pháp sanh trong loài người:
Thân, miệng, ý và mạng thanh tịnh.
- Bốn pháp sanh trong địa ngục:
Thân, miệng, ý và mạng không thanh tịnh.
- Bốn pháp sanh cõi trời:
Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
- Bốn pháp vào Niết-bàn:
Tứ thiền, từ Sơ thiền đến Tứ thiền.
- Bốn pháp Hiền Thánh:
Đó là giới luật Hiền Thánh, tam-muội Hiền Thánh, trí tuệ Hiền Thánh, giải thoát Hiền Thánh.
Trong kinh này, Đức Thế Tôn tường thuật^chi tiết quá trình tu tập sáu năm khổ hạnh vô cùng gian khổ, sự gian khố không thế nào diễn tả bằng lời, nhưng không đạt được kết quả gì.
Cuối cùng, Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh, thực hành bốn pháp
Hiền Thánh. Đức Thế Tôn kể: ‘Bấy giờ, tâm ý Ta cởi bỏ tham dục, trừ các ác pháp, có tầm có tứ, nhập Sơ thiền... cho đến chứng đắc tam minh, thành đạo Vô thượng Chánh chơn’.
- Bốn bộc lưu:
+ Dục bộc lưu: năm dục sắc, thanh, hương, vị, xúc.
+ Hữu bộc lưu: dục hữu, sắc hữu, vô sấc hữu.
+ Kiến bộc lưu: chấp thế gian là thường, vô thường, hữu biên, vô biên...
+ Vô minh bộc lưu: không biết, không thấy không tin, tâm ý tham dục, bị ngũ triền cái trói buộc, không thấy biết Tứ diệu đế...
Những ai chìm vào bốn dòng thác lũ này thì chẳng thể đắc đạo.
- Thi tụng kinh:
Đệ tử Tôn giả Mục-iiên và đệ tử Tôn giả A-nan, hai người thi tụng kinh xem ai tụng hay hơn.
Phật khuyên: “Từ nay về sau chớ nên tranh tụng, chớ có tâm hơn thua. Vì sao thế ? Hãy nghĩ hàng phục tất cả mọi người. Neu Tỳ-kheo có tâm hơn thua, tâm tranh tụng nhau mà cùng cạnh tranh thì phải lấy pháp luật mà trị. Tỳ-kheo, vì thế hãy tự tu hành”.
VI. Phẩm 5 pháp
Có 5 phẩm, 47 kinh.
1. Phẩm Thiện tụ
Có 12 kinh.
Thiện tụ tức là nhóm nhũng điều thiện lành, những pháp thiện đưa đến an vui, giải thoát. Có rất nhiều nhtjm thiện như thế, nhung trong phẩm 5 pháp này, thiện tụ được nói đến là năm căn: tín, tấn, niệm, định, tuệ. Vì sao? “Vì đây là tụ lớn nhất, là vi diệu trong các tụ. Nếu ai không hành pháp này thì không thành tựu Tu-đà-hoàn,
Tu-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán, Bích-chi Phật và Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác. Nếu ai đạt được năm căn này liền có bốn quả, đạo ba thừa. Nói về tụ thiện, năm căn này là trên hết”.
Ngược lại thiện tụ là bất thiện tụ. Đó chính là năm triền cái: tham dục, sân hận, thụy miên, trạo cử và nghi. “Có năm triền cái, liền có phần súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Các pháp bất thiện đều do đây phát sanh”. Do đó, Tỳ-kheo “hãy trừ năm kết sử, tu hành năm căn”.
- Lạy Phật có năm công đức:
Thừa sự, lạy Phật có năm công đức. Một là xinh đẹp, hai là tiếng hay, ba là lắm tiền nhiều của, bốn là sanh nhà trưởng giả, năm là chết sanh lên trời hoặc các cõi lành.
- Tạo tội sanh địa ngục:
Những nỗi thống khổ trong địa ngục tất cả đều do chúng sanh không biết tu tập, tự tạo tự chịu báo. Vua Diêm-la còn mong muốn thoát khỏi địa ngục để được sanh làm nguời, được xuất gia học đạo, huống chi bây giờ chúng ta đang được thân người, há không lo tu hành các pháp thiện lành sao?
- Rằm tháng Bảy, ngày Tăng tự tứ:
Ngày rằm tháng Bảy là ngày thọ tuế, Đức Phật cùng làm lễ đối thú phát lồ, cũng ba lần hỏi: ‘Đối với mọi người, Như Lai không có lỗi gì chăng? Thân, miệng, ý cũng không có phạm chăng?’.
Đọc bản kinh này mới thấy ý nghĩa quan trọng của quy chế sinh hoạt Tăng-già; mỗi nửa tháng tụng giới một lần, sau ba tháng an cư đối thú phát lồ sám hối, ngay cả Đức Phật còn thực hành, người xuất gia ngày nay có thể xao nhãng và làm lấy lệ hay sao?
- Năm tướng suy hao:
Trên trời Tam thập tam, nếu thiên tử có năm tướng suy hao xuất hiện thì biết phước trời đã hết, sắp mạng chung. Có một thiên tử quán sát thấy mình sau khi mạng bị đọa vào loài súc sanh, làm
thân heo, nên vô cùng khổ não, đấm ngực than khóc. Khi ấy, Thích Đề-hoàn nhân khuyên ông hướng về vườn Trúc viên, nơi Phật đang ngụ để phát nguyện quy y Tam bảo, nhờ đó mà thoát ba đường dữ. Vị thiên tử nọ y lời hướng về Thế Tôn làm lễ tự quy, sau mạng chung sanh vào nhà trưởng giả giàu có ở thành La-duyệt. Nhờ nhân duyên quy y Tam bảo, và cũng nhờ Thích Đề-hoàn nhân thường âm thầm nhắc nhở, nên vị thiên tử này sớm gặp được Phật, nhớ lại tiền thân, xuất gia học đạo, được làm Sa-môn ở tuổi Sa-di.
- Năm việc không thể được:
1. Phàm vật phải tận, muốn cho không tận, điều này không thể được.
2. Phàm vật phải diệt, muốn cho không diệt, điều này không thể được.
3. Phàm pháp phải già, muốn cho không già, điều này không thể được.
4. Phàm pháp phải bệnh, muốn cho không bệnh, điều này không thể được.
5. Phàm pháp phải chết, muốn cho không chết, điều này không thể được.
Đây là năm cái gai nhọn đâm vào tâm ý, khiến cho ưu sầu, khổ não, không phải riêng một mình ai, mà cho tất mọi chúng sanh. Cho nên: “Đừng vì pháp mộng huyễn khởi sầu ưu, đừng vì pháp bọt nổi cùng vốc tuyết mà khởi sầu ưu”.
- Năm pháp khiến bệnh không lành:
1. Không chọn đồ ăn thức uống; 2. Không tùy thời ăn; 3. Không uống thuốc; 4. Nhiều ưu sầu, nóng giận; 5. Khqpg thương người nuôi bệnh.
Ngược lại, nếu có năm pháp này thì bệnh mau lành: 1. Biết lựa thức ăn; 2. Ăn đúng lúc; 3. uống thuốc; 4. Trong lòng không sầu un;
Thường khởi từ tâm, thương người nuôi.
- Năm pháp cho người nuôi bệnh:
+ Người biết nuôi bệnh: 1. Phân biệt thuốc hay; 2. Không biếng nhác, thức trước ngủ sau; 3. Thường nói chuyện, ít ngủ nghỉ; 4. Dùng pháp cung dưỡng, không ham ăn uống; 5. Chịu khó vì người bệnh nói pháp. Nuôi bệnh như vậy thì nguời bệnh sẽ mau lành.
+ Người không biết nuôi bệnh: 1. Không phân biệt thuốc hay; 2. Biếng nhác; 3. Thường ưa sân hận; 4. Ham ngủ và ăn nhiều, không cho bệnh nhân ăn đúng pháp; 5. Không trò chuyện trao đổi. Nuôi bệnh như vậy thì bệnh nhân ngày một nặng thêm.
- Bố thí có năm công đức:
1. Tiếng tốt đồn khắp; 2. Đi đâu cũng không sợ hãi; 3. Mọi người cung kính; 4. Mạng chung sanh đường lành, lên trời hoặc làm người, trời người đều tôn quý; 5. Thành tựu trí tuệ.
- Năm cách để bố thí:
1. Bố thí mạng sống (ban cho tuổi thọ, không sát sanh), 2. Bố thí sắc (cống hiến nghệ thuật), 3. Bố thí niềm vui, 4. Bố thí sức khỏe, 5. Bố thí biện tài (ban cho sự sáng suốt).
- Bố thí đúng thời:
1. Thí cho người lỡ đường; 2. Thí cho người đi xa; 3. Thí cho người bệnh; 4. Thí cho lúc thiếu; 5. Mùa mới thu hoạch, trước cúng cho người tu.
2. Phẩm Ngũ vương
Có 10 kinh.
Ngũ vương là 5 vua nước lớn sống cùng thời với Đức Phật, đó là vua Ba-tư-nặc, Tỳ-sa, Ưu-điền, Ác Sanh và ưu-đa-diên.
Bấy giờ năm vua nhóm họp, bàn về năm tính chất của dục. Có vua cho sắc là tối thượng, có vua cho hương là tối thượng... Vua Ba-tư-nặc đề nghị đến hỏi Thế Tôn.
Khi ấy Thế Tôn đang ngự tại vườn Cấp-cô-độc. Thế Tôn dạy, mỗi vua đều đúng theo từng trường hợp. Người đắm sắc thì cho sắc là tối thượng, nhìn hoài không biết chán; người đắm thanh thì cho thanh là tối thượng, nghe hoài không chán...
Rồi Đức Phật vì năm ông vua này phân tích cho thấy năm dục có vị ngọt, nhưng đồng thời cũng có sự nguy hại, do đó phải tìm cách giải thoát khỏi năm dục.
- Năm hạng Tỳ-kheo:
1. Vừa thấy nữ sắc đã bỏ đạo, như chiến sĩ vừa lâm trận thấy gió bụi liền sanh lòng sợ hãi.
2. Gần gũi nữ sắc liền bỏ đạo, như chiến sĩ lâm trận thấy cờ xí liền sanh lòng sợ hãi.
3. Xúc chạm nữ sắc liền bỏ đạo, như chiến sĩ lâm trận thấy cung tên liền sanh lòng sợ hãi.
4. Xúc chạm nữ liền khởi dục tưởng, nhưng chưa bỏ đạo, như chiến sĩ lâm ừận lòng không sợ hãi nhưng bị quân địch bắt, hoặc bị giết.
5. Dù thấy nữ sắc, dù gần gũi nữ sắc, dù xúc chạm nữ sắc... lòng không khởi dục, thường quán bất tịnh, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, như người chiến sĩ phá tan quân thù.
Kinh ghi: ‘Hãy quán sát dâm bất tịnh hạnh là ô uế, để trừ bỏ sắc dục’.
- Năm trường hợp quét đất không có công đức:
Không biết gió ngược, không biết giỏ xuôi, không dồn đống, không hốt bỏ, quét không sạch.
- Năm trường hợp quét đất có công đức:
Biết gió ngược, gió xuôi, dồn đống, hốt bỏ không đế cho dư sót, khiến cho đất thật sạch sẽ.
- Năm trường hợp quét tháp có công đức:
Dùng nước rưới trước khi quét, lượm bỏ gạch đá, san bằng mặt đất, giữ ý khi quét, hốt bỏ rác dơ.
- Năm trường hợp quét tháp không có công đức:
Không rưới nước trước khi quét, không lượm bỏ gạch đá, không san bằng mặt đất, không chú ý khi quét, không hốt bỏ rác bẩn.
- Thường đi du lịch có năm trở ngại:
Không tụng giáo pháp, pháp đã tụng bị quên, không định ý, tam-muội đã được sẽ mất, nghe pháp nhưng không thể hành trì. Cho nên, các Tỳ-kheo không nên đi du lịch nhiều.
- Ở một chỗ có năm điểu không tốt:
1. Ý tham đắm phòng xá, sợ nguời chiếm chùa; 2. Ý tham đắm tài sản; 3. Tích tụ nhiều tài sản như cư sĩ; 4. Tham luyến Phật tử, sợ người khác thân quen; 5. Thường qua lại với cư sĩ. Cho nên, Tỳ- kheo không nên ở một chỗ hoài.
- Không ở hoài một chỗ thì có năm điều lợi:
1. Không tham đắm nhà cửa; 2. Không tham đắm đồ đạc; 3. Không tích chứa nhiều của cải; 4. Không dính mắc với người thân; 5. Không qua lại với cư sĩ. Cho nên, Tỳ-kheo hãy học như vậy, đừng ở hoài một chỗ.
- Năm pháp thường suy niệm:
1. Thà đem thân nhảy vào lửa chứ không cùng giao du với người nữ. Vì lửa đốt tuy khổ vẫn không bằng giao du với người nữ bị đọa vào địa ngục.2.
Thà đưa thân chịu kiếm bén, chứ không vì không có giới mà nhận người cung kính. Vì nỗi đau này chỉ trong chốc lát, còn sự thống khổ địa ngục thì không thể tả xiết.
3. Với người phá giới, thà lấy lá sắt nóng quấn lên thân mình chớ không nhận y phục của người. Vì nỗi đau này chi trong chốc lát, còn nồi thống khổ địa ngục không thể tả xiết.
4. Thà nuốt viên sắt nóng, chớ không nên không có giới mà nhận người cúng dường. Vì nuốt viên sắt nóng, đau khổ chỉ trong chốc lát, còn nỗi thống khổ địa ngục không thể tả xiết.
5. Chẳng có phạm hạnh thì thà nằm trên giường sắt chớ không nên không giới mà nhận tín thí của người khác. Vì nằm trên giường sắt nóng chỉ đau đớn trong chốc lát, còn nỗi thống khổ địa ngục không thể tả xiết.
3. Phẩm Đẳng kiến
Có 10 kinh.
Đẳng kiến được hiểu là Chánh kiến (samyag-drsti). Trong phẩm này, Chánh kiến là thấy 5 uẩn vô thường, khổ, không, vô ngã.
- Tư duy về năm uẩn:
Tỳ-kheo muốn thành tựu Thánh quả phải tư duy về nãm thủ uẩn là khổ, không, vô ngã.
- Bóng mát của thân tộc hơn người ngoài:
Bản kinh tường thuật chi tiết nhân duyên vua Tì-lưu-li tiêu diệt dòng họ Thích. Đây là bài học vô cùng quan trọng đối với hàng Phật tử tại gia. Nên nhớ, khi Đức Phật còn tại thế, gia tộc của Ngài bị tàn sát mà Ngài đành chịu, vì nhân quả đã đến hồi chịu báo, thì ngày hôm nay, không có lý do gì chúng ta gây tạo nghiệp bất thiện đến khi nhận quả báo khổ đau lại cầu xin Phật gia hộ cho tai qua nạn khỏi.
Phật dạy các người nữ họ Thích còn sót lại:
“Các pháp đều phải ly tan. Có hội ngộ thì có biệt ly. Các cô nên biết, năm thủ uẩn này đều phải chịu các não khổ đau này, rơi
trong năm đường. Phàm nhận thân năm uẩn tất phải chịu hành báo này. Đã có hành báo, tất phải thọ thai. Đã thọ thai phần, lại phải chịu báo khổ vui. Neu ai không có năm thủ uấn, tất không thọ nhận hình hài nữa. Nếu không thọ nhận hình hài thì không có sanh. Vì không có sanh nên không có già. Vì không có già nên không có bệnh. Vì không có bệnh nên không có chết. Vì không có chết nên không có khổ não của hội ngộ, biệt ly. Cho nên, các cô phải nghĩ đến sự biến đối thành bại của năm uẩn này. Vì sao vậy? Vì biết năm uẩn là biết năm dục. Biết năm dục là biết pháp ái, biết pháp ái là biết pháp đắm nhiễm. Biết các việc này rồi, không còn thọ thai. Vì không thọ thai, không còn sanh, già, bệnh, chết”.
- Không đâu hơn cõi người:
Kinh cho biết, đổi với chư thiên, cõi người là cõi lành. Vì sao? Vì chư Phật Thế Tôn đều xuất hiện ở cõi người. Neu sanh ở cõi người mà sanh vào nhà chánh kiến, thân cận thiện tri thức, có tín căn, được xuất gia học đạo thi đạt được Niết-bàn. Đó là thiện lợi nhất mà loài người có được.
- Năm pháp hủy nhục Sa-môn:
Một là tóc trên đầu dài. Hai là móng tay dài. Ba là y áo dơ bẩn. Bốn là không biết thời nghi. Năm là bàn nói nhiều.
- Năm hạng người không thể chữa trị:
Dua nịnh, gian tà, ác khẩu, ganh ghét, và hạng người không báo đáp.
- Năm sự trói buộc:
Không có sự trói buộc nào chặt bằng năm dục, nhưng vẫn không chặt bằng sự trói buộc cùa Ma, đó là năm kết sử. Cho nên, hãy tìm cầu phương tiện đế đoạn trừ năm kết sử.
- Diệt tận cái gì?
Phật trả lời câu hỏi của Tôn giả A-nan, rằng nói diệt tận là diệt tận cái gì? Đó là diệt tận năm thủ uẩn, vô dục, vô tác.
- Thưong hải tang điển:
Bà-la-môn Sanh Lậu đảnh lễ và hỏi Thế Tôn vì cớ sao mà có cảnh thương hải tang điền? Xưa có thành quách nhân dân mà nay chỉ là bãi đất hoang?
Thế Tôn nói, tất cả đều do hành nghiệp của chúng sanh phi pháp, tàn bạo, tham lam, tà kiến.
4. Phẩm Tà tụ
Có 10 kinh.
Tà tụ là nhóm bất thiện. Bất thiện là nhận thức và hành động sai lầm, không phù hợp với chánh pháp, không đưa đến giải thoát. Có rất nhiều nhóm bất thiện. Phẩm này chỉ đề cập nhóm 5 bất thiện, như 5 tà kiến, 5 triền cái...
- Cách nhận biết một người đang ở trong nhóm tà:
Nên cười mà không cười, lúc nên hoan hỷ mà không hoan hỷ, nên khởi lòng từ mà không khởi lòng từ, làm ác mà không hổ thẹn, nghe lời thiện của người mà không để ý.
Ngược lại nhóm tà là nhóm chánh. Người nào trong trường hợp: Nên cười thì cười, nên hoan hỷ thì hoan hỷ, nên khởi lòng từ thì khởi lòng từ, đáng hổ thì hổ, nghe lời thiện liền chú ý. Nên biết người này đã ở trong nhóm chánh.
- Như Lai xuất hiện ở đời vì 5 việc:
Chuyển Pháp luân, độ cha mẹ, khiến người không tin kiến lập lòng tin, chưa phát ý bồ-đề khiến phát tâm bồ-đề, thọ ký cho Phật tương lai.
- Năm sự vật đem cho không được phước:
Lấy đao thí cho người, lấy độc thí cho người, đem bò hoang thí cho người, đem dâm nữ thí cho người, tạo miếu thờ thần.
Tạo miếu thờ thần đã không có phước, thì người đi lễ lạy miếu thần càng không có được chút phước báo nào!
Năm sự vật đem cho thì được phước lớn là: Tạo lập công viên, trồng rừng cây, bắc cầu đò, làm thuyền lớn đưa người qua sông, và lập dựng nhà cửa, nơi ở cho quá khú và tương lai. Những người làm công tác từ thiện phải học theo 5 điều này mà làm!
- Năm sức mạnh của nữ giới:
Người nữ có năm sức mạnh để dựa vào đó mà xem thường chồng, đó là sắc đẹp, giòng họ, ruộng vườn, con cái và tiết hạnh. Nhưng người đàn ông chỉ cần có một thứ sức mạnh, đó là giàu sang, thì đủ phù lấp hết sức mạnh của người nữ.
- Năm sức mạnh của ma:
Thiên ma Ba-tuần cũng vậy, có năm sức mạnh để trói buộc chúng sanh, đó là sắc, thanh, hương, vị và xúc. Tuy nhiên, Thánh đệ tử của Như Lai chỉ cần một thứ sức mạnh là đủ để thắng sức mạnh của ma Ba-tuần, đó là sức mạnh không phóng dật. Cho nên, hãy niệm tưởng tu hành không phóng dật.
- Năm ước muốn của người nữ:
Muốn sanh trong nhà hào quý, được gả vào nhà giàu sang, chồng nghe lời, có con cái và nắm quyền trong nhà.
Cũng vậy, Tỳ-kheo có năm sự đáng ước muốn, đó là cấm giới, đa văn, thành tựu tam-muội, trí tuệ và giải thoát.
- Năm trường hợp không nên lễ người:
Người ở trong tháp, người ở trong đại chúng, người ở giữa đường, người đang ốm đau nằm trên giường và người đang ăn.
Ngược lại là năm trường hợp làm lễ đúng thời.
- Tắm nước nóng trị trúng gió:
Phật ngự tại Ca-lan-đàn, thành La-duyệt. Bấy giờ Phật bị trúng gió, cần nước nóng để tắm, nên sai thị giả Ưu-đầu-bàn vào thành xin. Nhân việc xin nước, Tôn giả Ưu-đầu-bàn độ một người tà kiến, không tin Tam bảo, lại thờ Thần ngũ đạo. Ông này nhờ cúng dường nước nóng cho Phật mà suốt sáu mươi kiếp không đọa đường ác, sau được xuất học đạo, thành Bích-chi Phật. Nhân đó, Phật dạy hãy thường nhớ việc lo nước tắm cho chúng Tăng.
- Người nữ có năm điều bất thiện:
Một là bất thiện bởi ô uể, hai là nói hai lưỡi, ba là ganh ghét, bốn là sân nhuế, năm là không biết báo đáp.
- Ngũ uân giai không:
Phật trú tại Ca-lan-đà, thành La-duyệt. Bấy giờ, Tỳ-kheo Đa- kỳ-xa và A-nan vào thành khất thực. Khi ấy có một người nữ xinh đẹp xuất hiện, Tỳ-kheo Đa-kỳ-xa liền bị tán tâm, loạn tưởng, nên gọi Tôn giả A-nan thuyết pháp để lấy lại chánh niệm. Tôn giả A-nan lập tức thuyết pháp, đồng thời Đa-kỳ-xa ghi nhớ lời Phật, quán nguồn gốc của dục: Dục từ tứ đại chăng? Từ năm uấn chăng? Tôn giả liền thấy rõ tham dục chỉ có từ tư tưởng. Từ đó, Đa-kỳ-xa tiếp tục thiền quán về năm uẩn và thấy ngũ uẩn giai không, lập tức thành A-la-hán.
5. Phẩm Thỉnh pháp
Có 5 kinh.
- Nghe pháp có được 5 công đức:
Chưa từng nghe nay được nghe; điều đã được nghe, tụng đọc lại; kiến giải không tà lệch; không có hồ nghi; hiểu nghĩa sâu xa.
- Làm nhà tắm có 5 công đức:
Một trừ gió, hai khỏi bệnh, ba trừ bụi nhơ, bốn thân thể nhẹ nhàng, năm được mập trắng.
- Bố thí tăm xỉa răng cũng có 5 công đức:
Một trừ gió, hai trừ nước dãi, ba sanh tạng được tiêu, bốn trong miệng không hôi, năm mắt được trong sạch.
- Năm nghề bất thiện:
Người làm nghề đồ tể, trộm cắp, mua rẻ bán đắt, lừa dối người đời, không cầu Chánh pháp... Nhũng nghề này chắc chắn đọa vào đường ác, đọa địa ngục, nếu ữở lại nhân gian thì tuổi thọ ngắn ngủi.
- Pho tượng Phật đầu tiên:
Thích Đề-hoàn nhân mời Phật lên cõi trời 33 thuyết pháp cho Thánh mẫu Ma-da, các vua Ưu-điền, Ba-tư-nặc vì nhớ Đức Thế Tôn mà phát bệnh có nguy cơ mất mạng, các quan đại thần vì không muốn mất vua nên đã nghĩ ra cách tạc tượng Phật cho vua chiêm ngưỡng. Pho tượng đầu tiên trong lịch sử tạo hình tượng Phật được tạc bằng gỗ chiên-đàn ngưu đầu, cao năm thước. Pho tượng thứ hai do vua Ba-tư- nặc chỉ đạo chế tác bằng vàng ròng tử-ma, cũng cao năm thước.
VII. Phẩm 6 pháp
Có 2 phẩm, 22 kinh.
1. Phẩm Sáu trọng pháp
Gồm 10 kinh.
Sáu trọng pháp chính là sáu pháp hòa kỉnh (lục hòa kỉnh). Một là, thân hòa đồng trú: biểu hiện thân nghiệp từ ái đối với đồng phạm hạnh, trước công chúng cũng như nơi kín đáo. Hai là, giới hòa đồng tu: có các giới cấm không hủ, không bại, cực kỳ hoàn hảo, không sứt, không thủng, được bậc trí quý trọng, lại muốn đem giới này được phân bố cho người khác cũng đồng một vị. Ba là, lợi hòa đồng quân: được các thứ lợi lộc đúng pháp thì nên chia cho các phạm hạnh cùng hưởng, không tưởng tiếc rẻ. Bốn là, kiến hòa đồng giải: chánh kiến của Hiền Thánh dẫn đến xuất yếu; có kiến giải như vậy, và muốn các vị phạm
hạnh đồng tu cùng đồng pháp này. Năm là, ý hòa đồng duyệt: ý hành từ niệm, lòng luôn vui vẻ. Sáu là, khẩu hòa vô tranh: khẩu hành từ niệm, luôn luôn ái ngữ. Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo phải thường xuyên suy niệm và sống trong tinh thần sáu trọng pháp này.
- Sự hình thành con người:
Con người do sáu giới, thụ bấm tinh khí của cha mẹ mà sanh ra. Sáu giới đó là địa, thủy, hỏa, phong, không và thức giới. Thân người thụ bẩm tinh khí này mà sanh sáu nhập, đó là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý nhập. Sáu nhập này nhờ cha mẹ mà có được. Y nơi sáu nhập mà có sáu thức thân, tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý thức. “Nếu có Tỳ-kheo nào hiểu sáu giới, sáu nhập, sáu thức này, có thể vượt qua sáu Dục giới thiên, tái sanh sắc giới. Nếu ở nơi ấy mạng chung sẽ sanh vào chốn này, thông minh tài cao, ngay trên hiện thân dứt sạch kết sử, đạt đến Niết-bàn”.
- Bố thí có sáu đức:
+ Đàn-việt thí chủ thành tựu ba công đức: Thành tựu tín căn, thành tựu giới đức, thành tựu pháp nghe.
+ Vật được thí thành tiai ba công đức: Thành tựu sắc, thành tựu vị, thành tựu hương.
- Sáu phép thần thông:
Tỳ-kheo thành tựu 6 pháp này, trở thành người xứng đáng được cung kính, được tôn trọng, là phước điền vô thượng của thế gian: Thần túc thông, thiên nhĩ thanh tịnh, tha tâm thông, túc mạng thông, thiên nhãn thông, diệt tận hữu lậu.
- Sáu pháp dẫn vào địa ngục:
Khởi tâm hại người, vui mừng khi khởi tâm hại người, dạy bảo người khác hại người, vui mừng khi dạy bảo người khác hại người, hại người được thì vui mừng, không hại được thì ưu sầu.
- Sáu pháp sanh thiên:
Thân giới đầy đủ, khẩu giới đầy đủ, ý giới đầy đủ, mạng căn thanh tịnh, không tâm giết hại, không tâm ganh ghét.
- Sáu pháp dẫn đến Niết-bàn:
ở đây nói sáu pháp hòa kỉnh, tức sáu trọng pháp đã nói ở kinh số 1 của phẩm này.
2. Phẩm Lực
Phẩm này có 12 kinh.
- Sáu loại sức mạnh phàm thường:
1. Trẻ con dùng tiếng khóc làm sức mạnh; 2. Người nữ dùng sân hận làm sức mạnh; 3. Sa-môn, Bà-la-môn dùng nhẫn nhục làm sức mạnh; 4. Quốc vương dùng kiêu ngạo làm sức mạnh, dùng thế lực cường hào để nói chuyện; 5. A-la-hán dùng sự tinh chuyên làm sức mạnh; 6. Chư Phật Thế Tôn thành tựu đại từ bi, dùng đại bi làm sức mạnh để làm lợi khắp chúng sanh.
- Diệt sáu nội ngoại xứ:
Tư duy về tưởng vô thường, phát triển tưởng vô thường, để diệt trừ sáu nội ngoại xứ (sáu căn, sáu trần), đoạn hết ái Dục giới, ái sắc giới, ái Vô sắc giới, cũng đoạn vô minh, kiêu mạn.
- Sáu pháp không bao giờ nhàm chán:
Bố thí, giáo giới, nhẫn nhục, thuyết pháp thuyết nghĩa, giúp đỡ chúng sanh, và cầu đạo Vô thượng Chánh chơn.
VIII. Phẩm 7 pháp
Có 3 phẩm, 25 kinh.
1. Phẩm Đẳng pháp
Phẩm này gồm 10 kinh.
Hầu hết có nội dung tương đương với các kinh Trung A-hàm, phẩm Bảy pháp.
2. Phẩm Thất nhật
Có 10 kinh.
Kinh Thất nhật tương đương với kinh số 8 cùng tên của Trung A-hàm, nói thế gian này sẽ đến ngày có 7 mặt trời xuất hiện, tất cả đều bị tiêu diệt hết: “Khi bảy mặt trời xuất hiện, không còn dấu vết ánh sáng mặt trời, mặt trăng và tinh tú. Khi ấy mặt trời mặt trăng đã diệt, không còn ngày và đêm. Này Tỳ-kheo, đó gọi là vì quả báo nên đưa đến tan rã này”. Sau đó, thế giới này hình thành trở lại. Tất cả sự thành và hoại ấy đều do nghiệp cảm của chúng sanh gây tạo nên.
- Bảy pháp bất thối:
Đây là bảy pháp để xây dựng một hội chúng bền vững, chúng ta cần phải quan tâm và áp dụng để củng cố sức mạnh của Giáo hội.
- Bảy kết sử:
Tham dục, sân hận, kiêu mạn, ngu si, nghi ngờ, tà kiến, tham đắm thế gian. Do bảy sử này mà có ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Sử tham dục, dùng niệm giác chi để trị. Sử sân hận, dùng trạch pháp giác chi để trị. Sử tà kiến, dùng tinh tấn giác chi để trị. Sử tham đắm thế gian, dùng hỷ giác chi để trị. Sử kiêu mạn dùng khinh an giác chi để trị. Sử nghi, dùng định giác chi để trị. Sử vô minh, dùng xả giác chi để trị.
- Bảy hạng người đáng kính, đáng thờ:
Đó là những người thực hành từ, bi, hỷ, xả, không, vô tướng và vô nguyện.
- Nếu biết còn sống 7 ngày nữa sẽ chết, bạn sẽ làm gì?
Một người tham lam keo kiệt, không có tâm huệ thí, chỉ hưởng phước cũ, không tạo thêm phước mới, người ấy đã đoạn hết căn lành, khi mạng chung chắc chắn sanh vào địa ngục.
Dầu vậy, khi biết chỉ còn sống 7 ngày mà có thể cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo, thì tuy không tránh được cái chết, nhưng tránh khỏi tội đọa địa ngục.
- Bảy pháp làm thanh tịnh các lậu:
Hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi thấy, hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi thân cận, hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi viễn ly, hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi ngu lạc, hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi oai nghi, hoặc có hữu lậu được đoạn trừ bởi tư duy.
- Bảy việc tăng thêm công đức:
Xây chùa nơi chưa có, củng giường ghế cho chùa mới xây, cúng dường phẩm vật cho chư Tăng, cúng áo che mưa cho chư Táng, cúng dường thuốc trị bệnh cho chư Tăng, đào giếng nơi hoang dã, làm nhà ừọ dọc đường cho người qua lại có chỗ dừng chân nghỉ ngơi.
3. Phẩm Chớ sợ
Có 5 kinh.
- Không có gì phải sợ:
Khi đã biết mình dự vào dòng Thánh rồi, tức đã đoạn trừ ba kết sử rồi, thì không còn gì sợ hãi, dù cái chết có đến bất ngờ.
Có một Bà-la-môn trong vòng 7 ngày chết 7 đứa con, cảm nhận vô thường khố não, bèn tìm đến Tôn giả Na-già-bà-la để tâm sự. Tôn giả Na-già-bà-la thuyết pháp, khiến Bà-la-môn phát tâm xuất gia. Tôn giả khuyên ông “chớ có lò nghĩ nhiều về sự khổ não của thế gian, mà phải quán sát trong lỗ chân lông này, tìm phương tiện thành tựu bốn đế”. Bà-la-môn thực hành, thành tựu A-la-hán.
IX. Phẩm 8 pháp
Có 2 phẩm, 20 kinh.
1. Phẩm Tám nạn
Có 10 kinh.
Tám nạn, Phạn astãv aksariãh, là 8 điều thống khổ nhất của chúng sanh phàm phu không nghe, không biết thời tiết mà pháp được thuyết. Đó là ở trong địa ngục; ở trong loài súc sanh; ở trong loài ngạ quỷ; ở cõi trời Trường thọ; ở biên địa, phỉ báng Hiền Thánh, tạo các tà nghiệp; ở trung tâm đất nước, nhung sáu căn không đầy đủ, cũng lại không phân biệt được pháp thiện ác; chúng sanh mang tâm thức tà kiến, cho rằng không có người cho, không có vật bố thí, không có người nhận, không có quả báo thiện ác, không có đời này, đời sau, cũng không có cha mẹ, đời không có Sa-môn, Bà-la-môn nào thành tựu được A-la-hán, tự thân chứng ngộ mà an trú; và nạn thứ tám sanh vào thời không có Phật ra đời.
Một khi đã rơi vào một trong tám nạn rồi thì khó mà được giải thoát. Vì vậy, muốn lìa 8 địa ngục lớn và 16 địa ngục nhỏ, phải tìm cầu phương tiện tu học Bát Chánh đạo.
- Tám địa ngục lớn:
Một địa ngục Hoàn hoạt, hai địa ngục Hắc thằng, ba địa ngục Đẳng hại, bốn địa ngục Thế khốc, năm địa ngục Đại thế khốc, sáu địa ngục A-tỳ, bảy địa ngục Viêm, tám địa ngục Đại viêm.
Tất cả các địa ngục đều do chúng sanh tạo tội mà cảm ứng nên.
- Tám pháp Vị tằng hữu trong Chánh pháp của Phật:
1. Đầy đủ giới luật, không có hành phóng dật, nhiỊ biển cả kia rất sâu và rộng.
2. Có bốn chủng tánh, như biển lớn kia, bốn sông lớn đều đổ vào biển mà cùng một vị, không còn có tên khác.
3. Cấm giới được chế lập lần lượt tiếp nối nhau, không vượt thứ tự.
4. Cùng một vị, đó là vị tám phẩm đạo Hiền Thánh.
5. Sung mãn mọi pháp khác nhau: Đó là bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chánh đạo.
6. Có các loại châu báu như: Niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi, xả giác chi.
7. Các chúng sanh cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia học đạo, ở trong Vô dư Niểt-bàn giới mà diệt độ; nhưng pháp Ta không có tăng giảm.
8. Có định kim cang, có định diệt tận, định nhất thiết quang minh, định vô sanh, các loại định không thể tính hết.
- Tám nhân duyên gây chan động trời đất:
1. Bão lớn, đại hồng thủy, núi lửa phun.
2. Bồ-tát từ cung trời Đâu-suất giáng thần vào trong thai mẹ.
3. Bồ-tát giáng thần ra khỏi thai mẹ.
4. Bồ-tát xuất gia học đạo, thành Vô thượng Chánh chơn, Đẳng chánh giác.
5. Như Lai nhập Vô dư Niết-bàn giới mà diệt độ.
6. Tỳ-kheo có thần túc lớn, tâm được tự tại, tùy ý hành vô số biến hóa.
7. Chư thiên có thần túc lớn, thần đức vô lượng mạng chung.
8. Chiến tranh thế giới bùng nổ.
- Tám điều bậc đại nhân thường niệm:
Tức Bát đại nhân giác: trì giới, tri túc, ít dục, viễn ly, thiền định, bất phóng dật, trí tuệ, đa văn.
- Tám chúng:
Chúng Sát-lợi, chúng Bà-la-môn, chúng Trưởng giả, chúng Tứ thiên vương, chúng trời Tam thập tam, chúng Ma, chúng Phạm thiên.
- Tám chúng Hiền Thánh:
Hướng A-la-hán, đắc A-la-hán; hướng A-na-hàm, đắc A-na- hàm; hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm; hướng Tu-đà-hoàn, đắc Tu-đà-hoàn.
- Tám cách bố thí có công đức lớn:
Bố thí đúng thời; bố thí trong sạch; tự tay ban phát; thệ nguyện bố thí, không tâm kiêu; bố thí giải thoát; bố thí cầu tịch diệt, không cầu sanh thiên; bố thí cầu ruộng tốt, không bố thí nơi đất hoang; đem công đức này bố thí cho chúng sanh, không tự vì mình.
2. Phẩm Mã Huyết Thiên Tử hỏi về Bát Chánh đạo
Có 10 kinh.
- Có thể bằng đi bộ đe đi đến tận cùng thế giới này không?
Đó là câu hỏi của Thiên tử Mã Huyết. Đức Phật trả lời, cho dù dùng thần túc cực kỳ nhanh nhạy, bằng đôi đi bàng vận tốc của ánh sáng, từ kiếp này sang kiếp khác cho đến trăm kiếp, ông cũríg không thể nào đi đến chỗ tận cùng của thế giới. Nhung, nương vào Bát Chánh đạo thì đạt đến chỗ tận cùng biên tế sanh tử. Kinh ghi: “Hằng sa chư Phật trong quá khứ đã đạt đến chỗ tận cùng của thế giới, tất cả đều bằng tám phẩm đạo Hiền Thánh này để đạt cứu cánh thế giới. Giả sử chư Phật trong tuơng lai mà xuất hiện, cũng sẽ bằng tám phẩm đạo Hiền Thánh này để đạt đến chỗ tận cùng biên tế”.
- Bát quan trai giới:
Tu giới Bát quan trai phải nên phát nguyện. Văn phát nguyện như sau: “Nay con bằng trai pháp tám quan này sẽ không đọa địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cũng không rơi vào nơi tám nạn, không ở biên địa, không rơi vào nơi tệ ác, không theo tri thức ác; con phụng sự cha mẹ chân chánh không có tà kiến, sanh vào trung bộ, được nghe pháp thiện, tư duy phân biệt, thành tựu pháp tùy pháp; đem công đức trai pháp này nhiếp lấy pháp lành của tất cả chúng sanh; đem công đức này bố thí cho họ giúp cho người kia thành đạo Vô thượng Chánh chơn; đem phước của thệ nguyện này bố thí để thành tựu ba thừa khiến cho không bị thối lui giữa chừng. Lại đem trai pháp tám quan này để học Phật đạo, Bích-chi Phật đạo, A-la-hán đạo. Những người học Chánh pháp ớ các thế giới cũng đều tập theo nghiệp này. Giả sử trong tương lai, khi Phật Di-lặc xuất hiện ở đời, Như Lai Chí chơn Đẳng chánh giác, người nào gặp hội kia thì sẽ được độ ngay. Khi Phật Di-lặc xuất hiện ở đời, có ba hội Thanh văn. Hội đầu có chín mươi sáu ức chúng Tỳ-kheo. Hội thứ hai có chín mươi bốn ức chúng Tỳ-kheo. Hội thứ ba có chín mươi hai ức chúng Tỳ-kheo, đều là A-la-hán các lậu đã sạch. Cũng gặp vua cùng giáo thọ sư của đất nước kia”.
Không phát thệ nguyện, thì trọn không thành Phật đạo. Phước của thệ nguyện không thể ghi kể, dẫn đến chỗ cam lồ diệt tận. Cho nên, dù chỉ tu một ngày một đêm hai mươi bốn giờ cũng nên phát nguyện.
- Nguồn gốc của Niết-bàn:
Là Bát Chánh đạo. Như khúc gỗ không vướng bờ này, không vướng bờ kia, không chim giữa dòng, không bị tấp lên bờ, không bị người vớt, không bị phi nhân vớt, không bị dòng nước xoáy, không bị mục rã, nó sẽ trôi dần đến biển. Cũng vậy, các Tỳ-kheo không đắm bờ này, không đắm bờ kia, không chìm giữa dòng, không tấp lên bờ. không bị người bắt giữ, không bị phi nhân bắt giữ, cũng không bị nước xoáy, cũng không bị mục rã, dần dần các ngươi sẽ xuôi đến Niết-bàn.
- Bỏ gốc mang cành:
Như có người ra khỏi làng xóm, tay cầm búa bén, đi đến cây lớn, ý mong muốn trước hết là mong cây lớn, nhưng khi kịp đến cây kia thì chỉ mang cành lá trở về. Cũng vậy, Tỳ-kheo vướng vào danh văn, lợi dưỡng, khen mình chê người... thì không đạt được sở nguyện cao cả của người xuất gia.
X. Phẩm 9 pháp
Có 2 phẩm, 18 kinh.
1. Phẩm Chín chỗ chúng sanh cư trú
Phẩm này có 11 kinh. Bản kinh mở đầu nói có chín chỗ mà chúng sanh đã ở, đang ở và sẽ ở. Chín chỗ đó là: cõi Trời, cõi Người, cõi trời Phạm-ca-di, cõi trời Quang Âm, cõi trời Biến Tịnh, cõi trời Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Bất dụng xứ và cõi trời Hữu tưởng vô tưởng. Sở dĩ có 9 nơi này là do các loài chúng sanh căn tánh khó lường, tánh hạnh mỗi mỗi khác nhau nên mới có 9 nơi cư trú, 9 nơi thần thức dừng trụ. Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo phải nồ lực tu tập, tìm phương tiện để xa lìa chín nơi này.
- Bổ thí thành tựu được 9 pháp:
+ Người bố thí được thành tựu ba pháp: thành tựu lòng tin, thệ nguyện và không sát sanb;
+ Vật được thí thành tựu ba pháp: thành tựu sắc, hương, vị;
+ Người nhận thí thành tựu ba pháp: thành tựu giới, trí tuệ, chánh định.
Do bố thí thành tựu được 9 pháp này, cho nên người muốn cầu được phước báo lớn, đến chỗ cam lồ thì nên thực hành bố thí.
- Chín dấu hiệu nhận diện Tỳ-kheo xấu: '
Sắc mặt cứng cỏi, không hạ mình, tâm tham, bỏn sẻn, chóng quên, lười suy nghĩ, che giấu việc dâm, không biết đền ơn, tâm niệm không xả ly.
- Như chim khổng tước:
Chim khổng tước hình dáng xinh đẹp, tiếng kêu trong suốt, bước khoan thai, đi đúng lúc, ăn uống điều độ, thường nghĩ biết đủ, niệm không phân tán, ít ngủ nghỉ, lại cũng ít ham muốn, biết đền trả.
Cũng vậy, Tỳ-kheo hiền thiện tướng mạo xinh đẹp, tiếng nói trong suốt, bước khoan thai, hành đúng lúc, ăn uống có điều độ, thường nghĩ biết đủ, niệm không phân tán, ít ngủ nghỉ, ít ham muốn, biết đền trả.
- Người nữ có 9 cách ràng buộc người nam:
Ca, múa, đàn, hát, cười, khóc, thường tìm cách thích hợp, tự dùng nhan sắc hình dung, huyễn thuật mê hoặc.
- Chín hạng người được lìa khổ nạn:
Đó là người hướng A-la-hán, đắc A-la-hán, hướng A-na-hàm, đắc A-na-hàm, hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm, hướng Tu-đà- hoàn, đắc Tu-đà-hoàn và hạng phàm phu đang hướng đến Tu-đà- hoàn đạo.
Chín hạng người này đáng kính, đáng quý, cúng dường họ thì được phước.
- Thế gian này có chín hạng người qua lại:
Một, đoán biết ý nghĩ của người; hai, nghe rồi mới biết; ba, xem tướng sau đó mới biết; bốn, quán sát nghĩa lý sau đó mới biết; năm, sau khi nghe văn cú của người kia rồi mới nhận biết; sáu, theo nghĩa và văn mà biết; bảy, không biết nghĩa không biết vị; tám, học ở sức thần túc tư duy; chín, nghĩa được nhận rất ít.
2. Phẩm Mã vương
Có 7 kinh.
Mã vương là Ngựa chúa, một trong những tiền thân của Đức Phật. Trong tiền thân là Ngựa chúa, vào những ngày tu Bát quan
trai, Ngài thường qua lại trong biển cả để cứu độ những người gặp nạn thoát khỏi sự cám dỗ của quỷ nữ La-sát. Ngài nói, người nữ thường có 9 điều xấu, vì vậy đã xuất gia thì đừng bao giờ để tâm ý bị trói buộc nơi người nữ.
- Chín pháp chướng ngăn Thánh đạo:
Đó là gần gũi ác tri thức; không có việc làm thường ưa đi dạo; thường bị tai họa; ưa cất chứa tài vật, tham đắm y bát; thường nói nhiều lời dối gạt, trống rỗng; ý tán loạn không định; không có trí tuệ; không hiểu nghĩa thú và không tùy thời nghe chỉ dạy.
Ngược lại, nếu Tỳ-kheo nào không bị vướng mắc vào chín pháp trên thì ở trong hiện pháp được nhiều lợi ích.
- Không vì cơm áo xuất gia:
ở nơi nào mà thiện tăng trưởng, pháp ác tiêu diệt thì ở, dù ở đó vật chất có thiếu thốn. Ngược lại, dù vật chất đầy đủ tiện nghi, nhung thiện pháp ngày một tổn giảm, ác pháp ngày một tăng, thì nên rời bỏ nơi ấy mà đi.
Đối với bốn sự cúng dường phải luôn nhớ nghĩ đến hạnh sống thiểu dục tri túc. Người xuất gia phải quán chiếu 4 loại thức ăn của thế gian (là đoàn thực, xúc thực, niệm thực, thức thực) và 5 loại thức ăn của xuất thế gian (thiền thực, nguyện thực, niệm thực, bát giải thoát thực, hỷ thực). Trong 9 loại thức ăn đó, người xuất gia phải chuyên nghĩ, nhớ trù' bỏ bổn loại thức ăn thế gian, tìm cách thành tựu năm loại thức ăn xuất thế gian.
XI. Phẩm 10 pháp
Có 3 phẩm, 26 kinh.
1. Phẩm Kết cấm
Phẩm này có 10 kinh.
Kết cấm tức là kết tập cấm giới. Kinh mở đầu riêu lên mười công đức, mà vì mười
công đức, mà vì mười công đức này, Như Lai kết cấm giới cho các Tỳ-kheo, đó là: thừa sự Thánh chúng; hòa hợp thuận thảo với nhau; an ổn Thánh chúng; hàng phục người ác; khiến các Tỳ-kheo biết tàm, quý, không bị não loạn; người không tin khiến lập lòng tin; người đã tin khiến tăng thêm bội phần; ở trong hiện pháp được dứt sạch hữu lậu, cũng khiến cho hữu lậu đời sau thảy đều trừ sạch; khiến Chánh pháp trụ đời lâu dài và thường suy nghĩ phải có cách gì để chánh pháp tồn tại lâu dài.
Mười công đức này đirợc xem là mười nguyên nhân hay mười lý do khiến Phật kết cấm giới. Xét lại các giới điều Đức Phật đã chế, quả thật chúng đưa đến thành tựu mười công đức kể trên, nếu được áp dụng một cách triệt đế trong đời sống tu tập.
- Mười chỗ Thánh Hiền cư trú:
Năm sự đã trừ (tức 5 kết sử); thành tựu sáu sự (lục hòa); hằng hộ một sự (hằng thủ hộ tâm); hộ trì chúng bốn bộ (bốn thần túc); quán sát các sự yếu kém; bình đắng thân cận; chánh hướng vô lậu; thân hành khinh an; tâm khéo giải thoát; tuệ giải thoát.
- Mười lực của Như Lai:
-
Biết rõ đây là xứ, biết rõ như thật là phi xứ.
-
Biết rõ xứ sở, biết rõ tùy thuộc vào nhân duyên nào mà các chúng sanh thọ lãnh quả báo ấy.
-
Biết rõ thế giới sai biệt, giới sai biệt, xứ sai biệt, biết rõ như thật.
-
Biết rõ như thật giải thoát sai biệt, vô lượng giải thoát.
-
Biết rõ trí tuệ nhiều hay ít của chúng sanh.
-
Biết rõ những điều suy nghĩ trong tâm của chúng sanh.
-
Biết rõ tận cùng tất cả con đường mà tâm hướng đến.
-
Nhớ lại vô sổ đời trước.
-
Biết định hướng sống chết của chúng sanh.
-
Biết rõ các lậu đã diệt tận.
- Mười niệm:
Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng Tỳ-kheo, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm tịch tĩnh, niệm an-ban, niệm thân, niệm sự chết.
- Mười điều tai hại khi đi vào cung của vua:
Tỳ-kheo thân cận với chính quyền sẽ phạm 10 điều phi pháp, dễ chuốc lấy cơ hiềm, khi: vua bị mưu sát, nội cung mất tài sản, công chúa chửa hoang, vua mắc bệnh nặng, đại thần tranh chấp, hai nước đánh nhau, vua không huệ thí, thu thuế phi pháp, dân chúng bị dịch bệnh. Khi mười việc này xảy ra thì mọi người đều đố lỗi cho Tỳ-kheo.
- Mười điều khiến ngôi vua không tồn tại lâu dài:
Tham lam keo kiệt, tham nhũng, không chịu nghe can gián, bắt oan nhân dân, tuyển dụng thần tá phi pháp, tham sắc đẹp, uống rượu, ưa ca múa, mang nhiều tật bệnh, không tin tri thức.
- Mười điều không tăng trưởng thiện căn:
-
Tỳ-kheo không trì cấm giới.
-
Không thừa sự Phật, không tin lời nói chân thật.
-
Không thừa sự Pháp, các giới luật bị khuyết thủng.
-
Không thừa sự Thánh chúng, tâm ý hằng tự ti, không tin lời dạy của chúng.
-
Tham đắm lợi dưỡng.
-
Không học hỏi nhiều, không siêng năng đọc tụng, ôn tập.
-
Không tùng sự theo thiện tri thức, thường tùng sự theo ác tri thức.
-
Ưa bận rộn công việc, không thích tọa thiền.
-
Ham học thế tục, không học tập Chánh pháp.
-
Không ưa tu phạm hạnh, tham đắm bất tịnh.
- Mười luận cứ bất khả xâm phạm:
-
Hết thảy chúng sanh do thức ăn mà tồn tại; không thức ăn thì chết.
-
Các pháp, mà nói tổng quát, gồm Danh và sắc, do nhân duyên sanh.
-
Có ba thọ là khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ.
-
Tứ diệu đế.
-
Năm căn.
-
Sáu trọng pháp.
-
Bảy y chỉ xứ của thần thức.
-
Tám pháp thế gian.
-
Chúi chỗ chúng sanh ở.
-
Mười niệm.
Với mười luận cứ trên, “ngoại đạo dị học mà nghe những lời này, còn chưa dám nhìn kỹ vào sắc mặt, huống nữa là trả lời. Tỳ- kheo nào hiểu rõ được nghĩa này, ở ngay trong hiện pháp, là người tối tôn đệ nhất”.
- Pháp tu mười tưởng:
Tưởng xương trắng, tưởng bầm tím, tưởng sình chương, tưởng ăn không tiêu, tưởng huyết, tưởng nhai cắn, tưởng thường vô thường, tưởng tham thực, tưởng sự chết, tưởng tất cả thế gian không có gì lạc.
2. Phẩm Thiện Ác
Có 10 kinh.
- Mười pháp sanh nẻo dữ:
Sát sanh, trộm cướp, dâm dật, nói dối, ỷ ngữ, ác khẩu, hai lưỡi, gây đấu loạn đây kia, tật đố, sân hận, khơi dậy tà kiến.
- Mười pháp sanh cõi trời:
Không sát sanh, không trộm cướp, không dâm dật, không nói dối, không ỷ ngữ, không ác khấu, không hai lưỡi gây đấu loạn đây kia, không tật đố, không sân hận, không khơi dậy tà ken.
- Mười pháp đến Niết-bàn:
Đó là mười niệm. Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng Tỳ-kheo, niệm Thiên, niệm giới, niệm thí, niệm chỉ tức, niệm an-ban, niệm thân, niệm sự chết.
- Luận bàn mười sự công đức:
Tinh cần, thiểu dục, tri túc, có tâm dũng mãnh, đa văn mà có thể nói pháp cho người, không sợ hãi, giới luật đầy đủ, tam muội thành tựu, trí tuệ thành tựu, giải thoát thành tựu, giải thoát tri kiến thành tựu.
3. Phẩm Thập bất thiện
Phẩm này có 6 kinh.
- Mười nghiệp bất thiện:
-
Tạo nghiệp sát sanh là gieo trồng hành vi dẫn đến địa ngục, ngạ quỷ, sủc sanh; nếu sanh trở lại loài người phải chịu quả báo yểu mạng.
-
Trộm cắp thì gieo trọng tội của ba nẻo dữ; nếu sanh trong loài người, thường gặp phải nghèo khốn, ăn không đủ no miệng, áo không đủ che thân.
-
Tà dâm gieo ba nẻo dữ; khi sanh trong loài người, gia đình không trinh khiết.
-
Nói dối, gieo tội địa ngục; khi sanh trong loài người, bị người khinh khi, lời nói không được tin, bị người coi rẻ.
-
Nói hai lưỡi, gieo tội ba ác đạo; giả sử sanh trong loài người, tâm thường không định, thường mang ưư sầu.
-
Nói lời thô ác, gieo tội ba ác đạo; nếu sanh trong loài người làm người xấu xí, thường bị mắng nhiếc.
7. Nói lời gây đấu loạn đây kia, gieo tội ba ác đạo; giả sử sanh trong loài người, phần nhiều bị thù ghét, người thân ly tán.
8. Tật đố, gieo tội ba ác đạo; nếu sanh trong loài người, thiếu thốn y phục.
9. Khởi tâm ác hại gieo tội ba ác đạo; giả sử sanh trong loài người thường ổồ nhiều điều hư dối, không hiểu chí lý, tâm loạn không định.
10. Tà kiến, gieo ba ác đạo; nếu sanh trong loài người, chỉ ở chỗ biên địa, không sanh vào chỗ trung ương, không gặp Tam tôn, nghĩa lý của đạo pháp; hoặc phải điếc, mù, câm ngọng, thân hình không ngay, không hiểu pháp thiện, thường theo pháp ác.
- Chánh pháp tồn tại ỉâu dài:
Sau khi Như Lai diệt độ, Chánh pháp sẽ tồn tại ở đời này bao lâu?
Trả lời: Sau khi Ta diệt độ, Pháp sẽ tồn tại lâu. Thọ mạng cùa Như Lai cũng cực kỳ lâu dài. Sở dĩ như vậy, vì nhục thân tuy vào diệt độ, nhưng Pháp thân vẫn tồn tại.
- Đức Phật tương lai:
Đức Phật tương lai có tên là Di-lặc. Các đệ tử được hóa độ bởi Phật Di-lặc đều là đệ tử của Phật Thích-ca, do sự giáo hóa của Phật Thích-ca được lưư lại mà dứt sạch các lậu.
XII. Phẩm 11 pháp
Có 4 phẩm, 39 kinh.
1. Phẩm Chăn trâu
Phẩm này có 10 kinh.
- Mười một cách chăn trâu đúng pháp:
1. Biết sắc; 2. Biết phân biệt tướng; 3. cần vuốt chải thì vuốt chải; 4. Che đậy vết thương lở; 5. Tùy thời xông khói; 6. Biết ruộng
tốt chỗ có nhiều cỏ; 7. Biết chỗ qua sông; 8. Biết yêu mến bò; 9. Phân biệt thời nghi; 10. Biết tính hạnh, khi vắt sữa thi biết chừa lại, 11. Tùy thời chăm sóc con bò đang được dùng.
Tỳ-kheo cũng vậy, chăn con trâu tâm, cũng có 11 cách làm tăng trưởng lợi ích trên con đường học đạo:
-
Tỳ-kheo biết sắc bốn đại, và cũng biết sắc do bốn đại tạo.
-
Tỳ-kheo biết tướng ngu, biết tướng trí; biết như thật.
-
Tỳ-kheo khi khởi tâm niệm dục tường, liền biết xả ly, không thân cận, vĩnh viễn không có dục tưởng. Khi sân tưởng, hại tưởng, các tưởng ác bất thiện khởi lên, liền biết xả ly, không thân cận, vĩnh viễn không có sân tưởng các thứ.
-
Tỳ-kheo khi mất thấy sắc mà không khởi sắc tưởng, cũng không nhiễm trước, mà làm thanh tịnh nhãn căn; trừ khử các pháp ác bất thiện, sầu ưu, tâm không tham đắm, ở trong đó mà thủ hộ nhãn căn. Cũng vậy, Tỳ-kheo khi tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết trơn láng, ý biết pháp mà không khởi thức tưởng, cũng không nhiễm trước, mà thanh tịnh ý căn.
-
Tỳ-kheo nói lại cho người khác pháp mà mình đã từng nghe.
-
Tỳ-kheo như thật biết tám phẩm đạo Hiền Thánh.
-
Tỳ-kheo nghe Pháp bảo mà Như Lai đã nói, trong tâm liền yêu quý.
-
Tỳ-kheo đối với 12 bộ kinh biết lựa chọn mà hành. Đó là, Khế kinh, Kỳ-dạ, Thọ quyết, Kệ, Nhân duyên, Bản mạt, Phương đẳng, Thí dụ, Sanh kinh, Thuyết, Quảng phổ, Vị tằng hữu pháp.
-
Tỳ-kheo biết bốn niệm xứ.
-
Tỳ-kheo có Bà-la-môn, ưu-bà-tắc, là những người có tín tâm, đến thỉnh. Tỳ-kheo không tham ăn uống, có thể biết đủ mà dùng lại.
11. Tỳ-kheo hằng với thiện hành bởi thân, miệng, ý đối với các Tỳ-kheo trưởng lão. Như vậy, Tỳ-kheo tùy thời cung phụng các Tỳ-kheo trưởng lão.
Phật dạy, “Nếu ai thành tựu được 11 pháp, ở trong hiện pháp được nhiều lợi ích”. Ngược lại, nếu không thành tựu 11 pháp trên thì “trọn không thể ở trong pháp được nhiều lợi ích”.
- Mười một pháp thành tựu:
Thành tựu giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, các căn vắng lặng, ăn uống biết vừa đủ, thường tu hành cộng pháp, biết phương tiện, phân biệt nghĩa thú, không đắm trước lợi dưỡng.
Hoặc ờ chỗ vắng, đi khất thực, ngồi một chỗ, ngày ăn một bữa, ăn chính ngọ, không lựa chọn nhà ăn, giữ ba y, ngồi dưới cội cây, ngồi chỗ vắng, chỗ trống, mặc y cũ vá, ngồi nơi gò mả.
Nếu ai tu tập mười một pháp này chắc chắn thành một trong hai quả: A-na-hàm hoặc A-la-hán.
-Pháp nào theo pháp ấy:
Căn nguyên của chúng sanh theo loại mà về với nhau. Ác đi theo ác, thiện đi theo thiện. Căn nguyên chúng sanh trong quá khứ, tương lai, cũng đều như vậy, theo loại mà đi với nhau. Như tịnh thì tương ưng với tịnh; bất tịnh tương ưng với bất tịnh. Cho nên, Tỳ- kheo, hãy cùng tương ưng với tịnh, xả ly bất tịnh.
- A-la-hán không bao giờ phạm giới:
Mọi người tưởng rằng đã chứng năm phép thần thông là đắc quả A-la-hán; nhưng người chứng năm phép thần thông vẫn còn phạm giới, nên suy diễn A-la-hán vẫn còn điều bất toàn. Nhận thức này hoàn toàn sai lầm.
Thế gian không có vị A-la-hán nào mà lại cởi bỏ pháp phục trở về đời sống bạch y.
A-la-hán có sáu phép thần thông, đệ tử của Như Lai, đắc lậu tận thông, tức thì ở ngay trong Niết-bàn giới vô dư mà Bát Niết-bàn, hoàn toàn thanh tịnh.
- Mười một pháp của A-la-hán:
A-la-hán lậu tận không bao giờ cởi bỏ pháp phục trở lại đời sống bạch y. A-la-hán lậu tận không bao giờ tập theo hạnh bất tịnh. A-la-hán lậu tận không bao giờ sát sanh. A-la-hán lậu tận không bao giờ trộm cắp. A-la-hán lậu tận ăn mà không bao giờ cất giữ đồ thừa. A-la-hán lậu tận không bao giờ nói dối. A-la-hán lậu tận không bao giờ hùa theo phe đảng. A-la-hán lậu tận không bao * giờ phun lời hung dữ. A-la-hán lậu tận không bao giờ có hồ nghi.
A-la-hán lậu tận không bao giờ sợ hãi. A-la-hán lậu tận không bao giờ nhận ai khác làm Thầy và cũng không bao giờ nhập thai trở lại.
2. Phẩm Lễ Tam bảo
Có 10 kinh.
Phẩm này chỉ dẫn cách thức lễ lạy Tam bảo, đồng thời cho biết lễ lạy Tam bảo “thì được phước lâu dài vô lượng, phước không hạn lượng, mãi mãi”.
- Mười một cách lễ Phật:
1. Khởi tâm dõng mãnh; 2. Giữ ý không tán loạn vì thường nhất tâm; 3. Ý không tán loạn vì ghi nhớ chuyên tâm pháp Chỉ; 4. Ý không tán loạn vì ghi nhớ chuyên tâm pháp Quán; 5. Các niệm hằng dứt vì nhập chánh định; 6. Ý biết vô lượng vì có trí tuệ; 7. Ý khó quán sát do hình tướng Như Lai; 8. Ý vắng lặng trạm nhiên vì oai nghi Như Lai; 9. Ý không chạy nhảy vì danh xưn^Như Lai; 10. Ý không tưởng tượng do sắc tướng Như Lai; 11. Phạm âm khó bì kịp do âm hưởng nhu nhuyến.
- Mười một công đức lễ Pháp:
. Trừ tâm kiêu mạn, 2. Trừ tưởng khát ái, 3. Trừ dục, 4. Đoạn dứt dòng sanh tử thâm sâu, 5. Được pháp bình đẳng, 6. Đoạn dứt các đường ác, 7. Đưa đến chỗ lành, 8. Đoạn dứt lưới ái, 9. Đi từ hữu vi đến vô vi, 1. Chiếu sáng khắp nơi, 11. Chắc chắn đếnNiết-bàn.
- Mười một công đức lễ Tăng
1. Thành tựu Chánh pháp; 2. Trên dưới hòa hợp; 3. Thành tựu các pháp; 4. Thành tựu giới; 5. Thành tựu chánh định; 6. Thành tựu trí tuệ; 7. Thành tựu giải thoát; 8. Thành tựu giải thoát tri kiến; 9. Hay hộ trì Tam bảo; 10. Hay hàng phục ngoại đạo dị học; 11. Là bạn tốt, ruộng phước cho tất cả chúng sanh.
Đó là những phương pháp mà người Phật tử, cũng như người xuất gia cần phải tu tập, quán chiếu, ghi nhớ khi hành trì lễ lạy Tam bảo.
3. Phẩm Phi thường
Có 10 kinh.
- Nước mắt nhiều hon bon biến:
Chúng sanh ở trong sanh tử, nước mắt, thân thể hủy hoại, máu chảy nhiều hơn nước trong bốn biển. Do đó, “nên tư duy về tưởng vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường. Đã tư duy vô thường, lưu bố rộng tưởng vô thường thì sẽ đoạn sạch hết dục ái, sắc ái, vô sắc ái, vô minh, kiêu mạn thảy đều trừ hết”.
- Tâm hoang dã, tâm cấu uế:
Tâm hồ nghi đối với Như Lai, tâm hồ nghi đối với Chánh pháp, tâm hồ nghi đối với Thánh Tăng, phạm cấm giới mà không tự mình sám hối, tâm ý bất định mà tu phạm hạnh.
- Tâm trói buộc:
Biếng nhác, tham ngủ, trạo cử, căn môn bất định, thích ở thành thị.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni có năm tệ và năm kết của tâm này mà
không được đoạn trừ, với Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni ấy ngày đêm pháp thiện đoạn tuyệt chứ không tăng trướng.
Nếu có người trì giới đầy đủ thì bấy giờ Tỳ-kheo phạm giới giảm thiểu, Chánh pháp hưng thịnh, phi pháp suy giảm. Do đó, “thà thường ngủ nghỉ chứ không ở trong lúc tỉnh táo mà tư duy loạn tưởng, phạm giới, phá hoại Thánh chúng”, khiến sau khi thân hoại mạng chung rơi vào trong ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh...
- Thuê người thờ Phật:
Trướng giả Cấp-cô-độc lấy vàng cho các con nếu chúng chịu quy y Tam bảo, rồi ông hỏi Phật: “Nếu có ai xuất tài vật thuê người thờ Phật, người ấy được phước như thế nào?”.
Đức Phật nói: “Công đức quy y Phật, Pháp, Tăng không thế lường hết được. Những ai tự quy y Phật, Pháp, Chúng, phước đức đều như vậy”.
4. Phẩm Đại Ái Đạo Bát Niết-bàn
Đây là phấm cuối của Tăng nhất A-hàm, gồm có 9 kinh, tường thuật sự kiện Di mẫu của Phật, tức Tỳ-kheo-ni Đại Ái Đạo cùng 500 Tỳ-kheo-ni nhập Niết-bàn.
Lúc này Di mẫu đã 120 tuổi. Chúng nữ lưu nhờ bà mà được dự vào Tăng đoàn. Trước lúc Niết-bàn, bà còn xin Thế Tôn cho Ni chúng được tụng giới riêng.
Đức Phật đích thân cúng dường xá lợi Di mẫu. Ngài nói: “Cha mẹ sanh con, cho con nhiều lợi ích, ân trọng dưỡng nuôi, bú mớm ẵm bồng, cần phải báo ân, không được không báo ân. Chư Thiên nên biết, chư Phật quá khứ, thân mẫu sanh thàrìh đều diệt độ trước, sau đó chư Phật Thế Tôn đều tự cúng dường trà tỳ xá-lợi. Giả sử chư Phật Thế Tôn ở tương lai, thân mẫu sanh thành cũng diệt độ trước, sau đó chư Phật đều tự cúng dường. Do phương tiện này biết
Như Lai nên tự cúng dường cha mẹ, chẳng phải Trời, Rồng, Quỷ thần làm được”. Đức Phật còn như thế, chúng ta lại bỏ mặc cha mẹ không phụng thờ, cúng dường sao?
- Đâu phải nhi nữ thường tình:
Tỳ-kheo-ni Bà-đà bậc nhất trong hàng Thanh văn của Phật, tụ nhớ túc mạng trong vô số đòi. Bà là vợ của Tôn giả Ma-ha Ca-diếp. Bà nói: "Tôi vì bị vô ứí che lấp, cúng dường sáu vị Như Lai để cầu mong làm thân nữ. Vì nhân duyên đó, tôi cười cho những việc trải qua trước kia”.
- Kiếp số lâu dài:
Như một thành trì bằng sắt, dài rộng cao một do-tuần, trong đó chứa đầy hạt cải, không chừa một lỗ hổng. Giả sử có một người, một trăm năm đến lấy đi một hạt cải. Cho đến khi hạt cải trong thành bằng sắt ấy hết hẳn, mà một kiếp vẫn không thế tính kể hết.
- Năm công đức nghe pháp:
Nghe được pháp chua từng nghe; nghe rồi thì ghi nhớ; trừ dẹp hoài nghi; cũng không tà kiến; hiểu pháp sâu thẳm.
- Người bố thí có năm công đức:
Danh tiếng đồn xa, không có điều gì sợ hãi, nhiều người yêu mến, tâm hoan hỷ, sanh lên cõi trời.
- Cúng dường cho người trì giới:
Bố thí cho súc sanh mà phước ấy còn khó lường, huống chi bố thí cho người. Nhưng bố thí cho người trì giới, phước ấy không thể iường.
- Mạng người mong manh:
Trong vũ trụ bao la, thời gian vô cùng tận, có những thế giới thọ mạng vô thủy vô chung, thì ở cõi người này, thọ mạng tuy nói trăm năm, so với cái vô cùng tận, thì đời người bất quá chỉ dài chưa đầy hơi thở ra vào. Vậy mà trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy con
người lại gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi, gây ra không biết bao nhiêu khổ đau cho nhau, thật là uổng phí một kiếp người.
Phật cho biết, càng về sau, xã hội loài người đạo đức ngày càng suy đồi.
III. Kết luận
Đến đây, hẳn các bạn đã có được một khối luợng pháp số đáng kể trong cẩm nang học Phật của mình! Từ một pháp đến mười một pháp, 472 kinh, kinh nào cũng mang những pháp số đầy ý nghĩa, như Nhất nhập đạo, Tàm Quý, Tam bảo, Tứ đế, Ngũ giới, Lục hòa, Thất giác chi, Bát Chánh đạo, Chín chỗ chúng sanh ở, Mười nghiệp lành, Mười một cách lễ Phật... Những pháp số đó lại là những pháp môn tu tập rất căn bản mà chúng ta có thể thực tập trong đời sống hàng ngày và thấy ngay được giá trị an lạc, hạnh phúc ừong giờ phút hiện tại.
Đọc xong Tăng nhất A-hàm, chúng ta phát hiện rất nhiều điều chưa hợp lý trong sự sắp xếp, phân chia thứ tự và ý nghĩa của kinh theo pháp số và chủ đề của từng phẩm. Tuy nhiên, điều này sẽ được làm sáng tỏ trong một công trình nghiên cứu khác, ở đây, chúng tôi chỉ giới thiệu kinh, mà sự giới thiệu ấy chủ yếu là để người học có thể hình dung được các kinh A-hàm nói cái gì; qua đó người học có cơ hội đọc lại nguyên bản để tìm kiếm và bổ túc cho hành trang tu học của mình.
Chương trình giới thiệu kinh bộ A-hàm đến Tăng nhất A-hàm là tạm dừng lại. Thật còn nhiều điều để bàn, để mổ xẻ, phân tích, đối chiếu với Kinh tạng Nam truyền, để liên hệ với kinh điển Đại thừa. Song, tất cả những vấn đề ấy đang còn chờ đợi những công trình nghiên cứu khác của chư tôn đức, của các bậc thức giả và sẽ được giới thiệu trong một chương trình khác. Dù đó là việc rất cần, nhung không phải là mục đích cứu cánh của người học Phật. Chúng tôi hy vọng sau một thời gian dài đi cùng kinh bộ A-hàm, cái đọng lại trong lòng của mỗi học viên là niềm tin tịnh tín với Tam bảo và Bồ- đề tâm lớn mạnh với chí nguyện: “Hãy đạt được cái chưa đạt được. Hãy thu hoạch cái chưa thu hoạch. Hãy chứng cái chưa chứng”.