Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tổng Quan Bốn Bộ A Hàm

Tổng Quan Bốn Bộ A Hàm

Tác giả: Biên soạn Thích Nguyên Hùng. Năm xuất bản: 2014. Số trang: 448.

Chương 5: Toát Yếu Kinh Trung A - Hàm (Trang 77 - 296)

TOÁT YẾU KINH TRUNG A-HÀM
I. Tổng quan
Nội dung bàn Hán dịch kinh TrungA-hàm gồm 5 tụng, 18 phẩm, 222 kinh, khoảng 514.825 chữ, (chữ Hán, xem bài tựa của Đạo Từ trong Xuất Tam Tạng kỷ tập, quyển 9). Bản dịch Việt ngữ cũng giữ nguyên bố cục ấy. Năm tụng ở đây được hiểu là năm ngày tụng kinh. Mỗi ngày tụng được bao nhiêu kinh thì đặt thành một tụng. Tụng như vậy không có chủ đề, mà chủ đề nằm nơi mỗi phẩm.
A. Ngày đầu tiên tụng 5 phẩm rưỡi
Có 64 kinh.
a) Phẩm Bảy pháp
Có 10 kinh, là những kinh có nội dung theo danh mục pháp số, mà pháp số được nói ở đây là 7 pháp, như 7 thiện pháp, 7 tiến trình tu hành giải thoát, 7 phương pháp phòng hộ tâm, 7 phương pháp đoạn trừ lậu hoặc...
1. Kinh Thiện Pháp 35
Bảy bước thành công
Bảy pháp cần và đủ để trở thành một Tỳ-kheơ hoằng pháp.
Tỳ-kheo nào thành tựu 7 pháp này tất được hoan hỷ, an lạc trong pháp Hiền Thánh, thẳng tiến đến lậu tận, 7 pháp đó là: biết
_________________
35 Tương đương Pāli: A.VII.64. Dhammaū Sutta

pháp, biết nghĩa, biết thời, biết tiết độ, biết mình, biết chúng hội và biết sự hơn kém của người.
  • Biết pháp là biết thể loại của 12 bộ kinh: chính kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ-tha, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sanh xứ, quảng giải, vị tằng hữu và thuyết nghĩa.
  • Biết nghĩa là hiểu được ý nghĩa của kinh muốn nói cái gì, biết phân biệt giáo pháp này với giáo pháp kia.
  • Biết thời là biết sử dụng thời gian thích hợp cho sự tu học, thời nào nên tu phương pháp thấp, thời nào nên tu phương pháp cao, thời nào nên tu phương pháp xả...
  • Biết tiết độ là biết tiết độ trong việc ăn, uống, đi, đứng, ngồi, nằm, nói năng, im lặng, giảm bớt ngủ nghỉ, tu tập chánh trí.
  • Biết mình là tự biết mình có mức độ ấy tín, giới, thí, tuệ, biện, A-hàm và sở đắc.
  • Biết chúng hội là biết đây là chúng hội Sát-lỵ, đây là Bà-la- môn, đây là chúng hội Cư sĩ, đây là chúng hội Sa-môn. ở nơi các chúng hội ấy, ta nên đi như vậy, đứng như vậy, ngồi như vậy, nói như vậy, im lặng như vậy.
  • Biết sự hơn kém của người là biết đối tượng mình đang tiếp xúc có tín hay không tín, có giới hay không giới...
2. Kinh Trú Độ Thọ [36]
Lộ trình tu tập đi qua bảv bước
Kinh lấy hình ảnh cây Trú độ trên cõi trời 33 từ khi thay lá đến khi nở hoa tròn đầy, trải qua 7 giai đoạn, để dụ cho lộ trình tu học của một Tỳ-kheo từ khi xuất gia đến chứng quả giải thoát hoàn toàn, cũng trải qua 7 giai đoạn: có ý định xuất gia, xuất gia, ehứng Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền và A-la-hán lậu tận giải thoát.
 

[36] Tương đương Páli: A. VII. 65. Pãrichattaka Suna.
 
3. Kinh Thành Dụ 37
Thành trì vững chắc của người tu
Như vương thành ở biên giới nhờ thành tựu 7 điều kiện và 4 thứ lương thực sung túc nên không bị ngoại địch đánh phá, dân chúng an cư lạc nghiệp; cũng vậy, Tỳ-kheo thành tựu 7 thiện pháp và 4 tăng thượng tâm không bị ma vương lung lạc, cũng không theo pháp ác bất thiện, không bị ô nhiễm bởi phiền não, không còn thọ sanh trở lại. Bảy thiện pháp là: tín kiên cố, tàm, quý, tinh tấn, học rộng nghe nhiều, chánh niệm, trí tuệ. Bốn tăng thượng tâm ở đây là tứ thiền, từ Sơ thiền đến Tứ thiền.
4. Kinh Thủy Dụ 38
Bảy tình trạng song của chúng sanh
Đức Phật giảng về 7 tình trạng người ở dưới nước để dụ cho 7 hạng người trong thế gian. Trong thế gian có 7 hạng người:
1. Người bị pháp bất thiện che lấp, bị nhiễm bởi nhiễm ô, thọ quả báo của ác pháp, tạo gốc rễ sanh tử. Đó là hạng người nằm mãi duới nước.
2. Người đã làm trỗi lên tín tâm nơi thiện pháp, trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, tu tập thiện pháp, nhưng sau đó lại mất tín tâm, không kiên cố, mất sự trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, không kiên cố. Đó là hạng người ngoi lên rồi chìm lại xuống nước.
3. Người đã trỗi tín tâm nơi thiện pháp, trì giới, bố thí, đa văn, trí tuệ, tu tập thiện pháp. Người đó về sau tín tâm vẫn kiên cố, chắc chắn không mất, trì giới, bố thí đa văn, trí tuệ đều kiên cố, không mất. Đó là hạng người ngoi lên khỏi nước rồi trụ.
4. Người chúng quả Tu-đà-hoàn. Đó là hạng ngừời ngoi lên khỏi nước rồi lại trụ, trụ rồi nhìn quanh.
_______________________
37. Tương đương Pāli: A. VII. 63. Nagara Sutta.
38.Tương đương Pāli: A. VII. 15. Udakupam
5. Người chứng quả Tư-đà-hàm. Đó là người ngoi lên rồi trụ, trụ rồi nhìn quanh, nhìn rồi lội qua.
6. Người chứng quả A-na-hàm. Đó là người chìm trong nước ngoi lên rồi trụ, trụ rồi nhìn quanh, nhìn quanh rồi đi qua, đi qua rồi đến bờ bên kia.
7. Người chứng quả A-la-hán. Đó là người chìm trong nước, ngoi lên rồi trụ, trụ rồi nhìn quanh, nhìn rồi đi qua, qua rồi đến bờ bên kia, đến bờ bên kia rồi gọi là người đứng trên bờ.
5. Kinh Mộc Tích Dụ 39
Thà ôm cây lửa mà chết...
Nói rằng, nếu muốn thành tựu phạm hạnh vô thượng thì thà ôm đống cây lớn đang phừng cháy hừng hẩy; thà để cho lực sĩ đem sợi dây thừng bằng lông cột siết bắp chân cho tới bứt da, bứt thịt, bứt gân, bút xuơng, bứt tới tủy mới thôi; thà để cho lực sĩ đem dao bén đã mài giũa chặt đứt ngang đùi; thà để cho lực sĩ đem lá đồng sắt đốt cháy hừng hực rồi quấn quanh thân thể; thà để lực sĩ đem kềm sắt nóng kéo cho hả miệng ra rồi đem viên sắt đã đốt cháy hừng hực quăng vào trong miệng, viên sắt nóng ấy đốt môi, đốt lưỡi, đốt lợi, đốt cổ, đốt tim, đốt bao tử và ruột, đốt bao tử và ruột rồi rơi xuống; thà để cho lực sĩ đem giường đồng hay sắt đốt cháy hừng hực rồi cưỡng bức phải nằm ngồi trên đỏ; thà để cho lực sĩ đem nồi lón bằng đồng hay sắt đốt cháy hừng hực rồi tóm giở ngược lên quăng vào trong nồi... chứ nhất định không thân cận người nữ, bởi dù bị các việc trên mà chết thì không phải do đó mà thân hoại mạng chung phải thẳng đến ác xứ hay sanh vào địa ngục, còn thân cận người nữ, phá giới thì chắc chắn sanh vào cõi xấu, đọa vào địa ngục.
6. Kinh Thiện Nhân Vãng40
__________________________
39Tương đương Pãli: A. VII. 68. Aggi.
40Tương đương Pãli: A. VII. 52. Purisagatì.

 
Vô dư Niết-bàn có thể đạt được ngay trong hiện tại
Tỳ-kheo thực hành ‘Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ’. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng. Tùy theo mức độ thực tập mà Tỳ-kheo đi đến một trong ba giai vị Trung Bát Niết-bàn, thứ tư là Sanh Bát Niết-bàn, thứ năm là Hành Bát Niết-bàn, thứ sáu là Vô hành Bát Niết-bàn, thứ bảy là Thượng lưu A-ca-nị-tráNiết-bàn. Đó là bảy nơi mà thiện nhân đi đến. Nhưng mục đích tối hậu của bậc thiện nhân là phải đạt được Vô dư Niết-bàn ngay trong hiện tại.
7. Kinh Thế Gian Phước41
Phước thế gian và phước xuất thế gian
Bảy phước thế gian là, đối với chúng Tăng, phát tín tâm cúng dường phòng xá, giường nằm, y phục, cúng cháo buổi sáng, thức ăn bữa trưa, cho người giúp việc làm vườn hoặc để sai bảo, và thường xuyên lui tới chu cấp những thứ cần thiết cho chư Tăng bất chấp mưa, tuyết lạnh lùng... để chư Tăng yên tâm tu học, thiền tọa. Neu thiện nam, tín nữ nào đã tạo được bảy loại phước thế gian này rồi, hoặc đi, hoặc đến, hoặc đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm, phước đức ấy thường xuyên phát sinh, càng lúc càng thêm, càng lúc càng rộng.
Bảy phước xuất thế gian là, nếu người thiện nam, tín nữ nghe Như Lai hoặc đệ tử Như Lai ở nơi nào, hoặc ở nơi nào đó sắp đến chỗ mình, nghe vậy liền sanh tâm hoan hỷ, trong lòng rất phấn khởi, rồi với tâm thanh tịnh, tự thân tới thăm viếng, lễ kính, cúng dường. Sau khi cúng dường, thọ pháp ba tự quy, đối với Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo mà thọ giới cấm. Đó là bảy phước xuất thế gian.
_________________
41 Không có Pali tương đương
Thiện gia nam nữ nào có tín tâm, nếu tạo được bảy loại phước thế gian và lại có bảy loại phước xuất thể gian, thì phước của người kia không thể tính được có ngần nào phước, có ngần nào kết quả của phước, có ngần nào phước báo. Chỉ có thể nói là không thể hạn, không thể lượng, và không thể biết được con số đại phước.
8. Kinh Thất Nhật42
Mục đích ra đời của Phật
Tất cả các hành đều vô thường, là pháp không tồn tại lâu dài, pháp chóng đổi thay, pháp không thể nương tựa, như thế gian này sẽ đến ngày hủy diệt, sẽ có lúc không mua, rồi đến lúc sẽ có hai cho đến bảy mặt trời xuất hiện, khiến cho tất cả đại địa; cây cỏ, sông ngoài, biển lớn... đều khô cạn, núi chúa Tu-di thảy đều phựt cháy bừng bừng, tạo thành một ngọn lửa rực rỡ... Các hành như vậy không nên tham đắm mà phải ghê sợ nhờm tởm, nên tìm sự xả ly, nên tìm giải thoát.
Đức Phật nói, những sự kiện như vậy chỉ có những người đã thấy sự thật mới tin được, và vì thương tưởng chúng sanh sẽ đến ngày tận thế, chìm trong biển lửa sanh tử luân hồi mà Ngài ra đời: “Ta nay đã làm lợi ích cho chính mình, cũng làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi cho mọi người, cảm thương thế gian, mong cầu nghĩa lợi lợi và thiện ích, mong cầu sự an ổn khoái lạc cho trời và người. Nay Ta thuyết pháp đã đạt được chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh. Do rốt ráo phạm hạnh, Ta nay đã lìa khỏi sanh, lão, bệnh, tử, khóc than, buồn rầu. Nay Ta đã được giải thoát mọi khổ não”.

9. Kinh Thất Xa [43]
Tất cả đều là hóa thành                                   '
Đây là bản kinh có nội dung vô cùng sâu sắc, giúp chúng ta
__________________
42. Tương đương Pali: A. VII. 62. Suriya

[43]  Tương đương Pâli: M. 24. Rathavinĩta-Sutta.
 

hiểu được những tư tưởng của kinh điển hệ Đại thừa. Bảy trạm xe gợi chúng ta liên tưởng đến phấm Hóa thành dụ trong kinh Pháp Hoa.
Kinh có thế chia thành hai phần:
- Tỳ-kheo xứng đáng được khen ngợi:
Sau mùa an cư, các Tỳ-kheo tập trung về tinh xá Trúc Lâm để hầu thăm Thế Tôn. Đức Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo trong khi an cư ở địa phương, có Tỳ-kheo nào được khen ngợi với những phẩm chất: thiểu dục, tri túc, độc cư, tinh tấn, chánh niệm, nhất tâm, trí tuệ, lậu tận, khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ? Các Tỳ-kheo đáp có Tôn giả Mãn Từ Tử là người được đại chúng khen ngợi như thế. Tôn giả Xá-lợi-phất nghe các Tỳ-kheo nói vậy thì mong muốn được diện kiến và thảo luận với Mãn Từ Tử.
- Cuộc đàm đạo giữa hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mãn Từ Tử:
Sau đó Đức Thế Tôn, cũng như Xá-lợi-phất và một số Tỳ- kheo đến tinh xá Kỳ-viên ở thành Xá-vệ. Tại đây, Xá-lợi-phất đã gặp Mãn Từ Tử và diễn ra cuộc đàm đạo mà nội dung cho thấy mục đích xuất gia tu hành phạm hạnh là để đạt được Vô dư Niết-bàn.
Để đạt được mục đích đó cần phải trải qua bảy giai đoạn:
- Giới thanh tịnh: Giữ trọn thanh tịnh các giới đã thọ.
- Tâm thanh tịnh: Tâm không còn cấu uế.
- Kiến thanh tịnh: Thấy sự thật của các hiện hữu là vô ngã.
- Nghi thanh tịnh: Thanh tịnh do vượt qua sự hoài nghi.
- Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh: Thanh tịnh do thấy và biết về đạo và phi đạo.
- Đạo tích tri kiến thanh tịnh: Thanh tịnh do thấy và biết về phương pháp hành trì.
- Đạo tích đoạn trí thanh tịnh: Thanh tịnh do tri kiến.
 
Tôn giả Mãn Từ Tử nêu lên cuộc du hành của vua Ba-tư-nặc từ Xá-vệ đén Sa-kê-đế, trải qua bảy trạm dừng chân, trước khi vào thành Sa-kê-đế, để ví dụ cho lộ trình giải thoát đi qua bảy bước thành tựu trước khi vào Vô thủ trước Niết-bàn. Mục tiêu chỗ đến của vua Ba-tư-nặc là Sa-kê-đế, không phải là các trạm dừng chân. Cũng vậy, mục tiêu của đời sống phạm hạnh là Vô dư Niết-bàn, mà không phải là giới thanh tịnh, tâm thanh tịnh... Tuy nhiên, do giới thanh tịnh cho nên tâm thanh tịnh; do tâm thanh tịnh cho nên kiến thanh tịnh; do kiến thanh tịnh cho nên nghi cái thanh tịnh; do nghi cái thanh tịnh cho nên đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; do đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh cho nên đạo tích tri kiến thanh tịnh; do đạo tích tri kiến thanh tịnh cho nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh; do đạo tích đoạn trí tịnh, cho nên Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn.
Bước đi không phải là nơi đến, nhưng mỗi bước đi đều cần thiết cho thành tựu nơi đến.
Kết thúc đoạn hội thoại, Tôn giả Mãn Từ Tử tán thán Xá-lợi- phất là vị đệ tử ngang hàng Thế Tôn. Với lời tán thán ấy, bản kinh cho thấy, Xá-lợi-phất đã cận kề quả vị Phật, đã vượt qua giới hạn của một A-la-hán Thanh văn đệ tử.
10. Kỉnh Lậu Tận 44
Đốt cháy phiền não nhờ Chảnh tư duy
Kinh gồm hai phần:
Phần đầu nói do tri, do kiến, tức là do Chánh tư duy mà các lậu bị diệt tận. Nếu không có Chánh tư duy, thì dục lậu chưa sanh sẽ phát sanh, đã sanh liền tăng trưởng; hữu lậu và vô minh lậu chưa sanh liền phát sanh, đã sanh liền tăng trưởng.
Phần tiếp theo nói có bảy sự đoạn trừ lậu, phiền não, pháp ưu sầu, là: do kiến, do hộ, do ly, dụng, nhẫn, trừ, do tư duy.
______________
44 tương đương Pali: M.2. Sabbasava-Sutta
- Lậu được đoạn do kiến: là do có Chánh tri kiến, thấy rõ thân ngũ uẩn và thế giới là vô thường, vô ngã. Thấy biết này sẽ dập tắt cái thấy hữu ngã làm dấy lên những tư duy liên hệ tự ngã, như: ‘Ta có đời quá khứ? Ta không có đời quá khứ...’. Chánh tri kiến này sẽ tắt tà kiến, giúp hành giả biết những gỉ cần tác ý, những gì không nên tác ý, đi đến thấy rõ sự thật của Tứ Thánh để, đoạn trừ ba kết là thân kiến, giới thủ, và nghi, chứng quả Tu-đà-hoàn.
- Lậu được đoạn do phòng hộ: Khi sắc căn tiếp xúc với sáu trần, nếu sáu căn được phòng hộ bằng Chánh tư duy thì sẽ có được cái thấy bất tịnh, dẫn đến không khởi tâm tham, sân, si, bứt rút, phiền não.
- Lậu được đoạn do ly: là xa lánh tất cả ác tri thức, ác bằng hữu, ác ngoại đạo, ác dị đạo, chòm xóm xấu, nơi cư trú xấu, hoặc Tỳ-kheo khi ở chung một chỗ với các đồng phạm hạnh khiến cho người không nghi ngờ mà sanh nghi ngờ.
- Lậu được đoạn do thọ dụng: khi thọ dụng tứ sự cúng dường, luôn niệm nghĩ tri túc và để phục vụ nhu cầu tu học, không vì thỏa mãn những nhu cầu lợi dưỡng, kiêu hãnh...
- Lậu được đoạn do nhẫn: tinh tấn đoạn trừ pháp ác, bất thiện... dù phải để cho thân thể, da, thịt, gân, xương, máu, tủy khô kiệt. Vì đạt được mục đích giải thoát, Tỳ-kheo phải chịu đựng sự đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, ruồi, bọ chét, chấy, dù gió hay nắng bức bách, bị lời dữ, bị đánh đập, cũng đều có thể nhẫn chịu được.
- Lậu được đoạn do trừ: đoạn trừ, loại bỏ, trừ khử các tâm tham dục, sân nhuế, hại.
- Lậu được đoạn do tư duy: tư duy bảy giác chi, từ niệm giác chi cho đến xả, y viễn ly, y vô dục, y diệt tận, thẳng đến xuất yếu.
b) Phẩm Nghiệp tương ung
Có 10 kinh, giải thích về nhân quả nghiệp báo (gồm 10 nghiệp thiện và 10 nghiệp ác), thời gian thọ báo, ảnh hưởng của nghiệp báo, tác động của sự tu tập và chuyển hóa của tâm lên nghiệp nhân đã tạo...

 
11. Kỉnh Diêm Dụ45
Có tu thì tội mới trừ
Nói con người tạo nghiệp như thế nào thi lãnh thọ quả báo của nó như thế. Do đó, nếu không có sự thực hành phạm hạnh, không thể diệt tận khổ; nhưng nếu có sự tu hành phạm hạnh thì có được sự diệt tận được khổ.
Bản kinh cho biết, mỗi chúng sanh đều có thế làm chủ đời sống (hay nói một cách dân gian là số mạng, vận mạng) của mình. Cuộc đời của mình khổ đau hay hạnh phúc đều tùy thuộc vào việc có tu tập pháp lành hay không tu tập pháp lành. Giả sử, trong trường hợp nào đó chúng ta trót đã gây tạo lỗi lầm, nếu không ăn năn sám hối thì chắc chắn phải thọ quả báo xấu ác ở địa ngục; nhưng nếu chúng ta biết ăn năn sám hối thì chỉ chịu chút ít khổ đau trong hiện tại mà thôi. Kinh phân biệt các trường hợp đó như sau:
- Người tạo nghiệp bất thiện mà không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, chắc chắn bị đọa địa ngục, giống như đem một lạng muối bỏ vào một chút nước, muối làm cho nước mặn không thể uống được; hoặc như người chủ nuôi dê nghèo hèn, không có thế lực, bị vua quan hay người có thế lực lớn chiếm đoạt dê, người chủ dê nghèo không thế đòi lại được, dù có lạy lục, van xin; hoặc như người nghèo, không có thế lực, thiểu nợ người chủ giàu có, bị chủ bắt trói.
- Người tạo nghiệp bất thiện mà có tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thì chỉ thọ chút ít quả khổ trong đời hiện tại, như đem chút ít muối bỏ vào sông Hằng, không thể làm cho nước sông Hằng mặn đi không uống được; hoặc như người chủ nuôi dê giàu có, có thế lực, người trộm dê nghèo hèn, tất bị chủ dê bắt trói, đoạt lại dê; hoặc như người có vô lirợng tài sản và thế lực rất lớn, dù có mắc nợ thì cũng không bị ai làm khó.
______________
45 Tương đương Pāli: A.III. 99. Loṇaphala.
12. Kinh Hòa-phá46
Tâm tịnh thì tội liền tiêu
Hòa-phá là một người thuộc dòng họ Thích, nhưng theo ngoại đạo Ni-kiền. Một hôm Hòa-phá đến giảng đường trong vườn Ni-câu- loại thăm viếng. Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi ông ta rằng nếu có một Tỳ-kheo thủ hộ thân, miệng, ý thì có trường hợp nào vị ấy nhân đó mà sanh khởi lậu bất thiện dẫn đến đời sau chăng? Hòa-phá trả lời có, đó là trường hợp Tỳ-kheo ở đời trước đã làm các hành vi bất thiện.
Đức Phật bằng thiên nhĩ thanh tịnh nghe được cuộc bàn luận ấy nên vào xể chiếu Ngài đến giảng đường và khai thị cho Hòa-phá. Đức Phật nói, giả sử có Tỳ-kheo thân hành bất thiện, khẩu hành bất thiện, ý hành bất thiện, do vô minh hành mà sanh lậu, nóng bức và ưu sầu, nhưng sau đó diệt trừ vô minh hành bất thiện, không tạo thêm những nghiệp mới, xả bỏ nghiệp cũ, ngay trong hiện tại này liền chứng được cứu cánh, không còn nóng bức, thường trụ không đổi, tức điều được nói là được thấy bởi Thánh tuệ, được biết bởi Thánh tuệ, thì Tỳ-kheo ấy không còn sanh khởi lậu bất thiện và dẫn đến đời sau nữa. Cũng như bóng do cây mà có, nếu đốn cây đến tận gốc rễ và đem đốt hết thành tro thì vĩnh viễn không còn bóng nữa. Cũng vậy, một người khi vô minh đã dứt hết, minh đã sanh khởi, người ấy sẽ được sáu hằng trụ, tức sáu căn không hỷ không ưu, xả cầu, vô vi, chánh niệm, chánh trí.
Sau buổi pháp thoại, Hòa-phá tỉnh ngộ, nói rằng mình xưa nay bị ngoại đạo phỉnh gạt, nay trở về nương tựa Tam bảo, làm một cư sĩ tại gia.
13. Kinh Độ47
Không có định mệnh
______________________
46 Tương đương Pali: A. IV. 195. Vappa
47 Tương đương Pali: AIII. 61. Tittha
Đức Phật nói có ba độ xứ (tức ba chủ trương, ba học thuyết) của ngoại đạo, khác chủng tánh, khác danh xưng, khác tông chỉ, khác học thuyết, mà dù cho người có trí tuệ khéo nhận lãnh, khéo ghi nhớ để nói cho người khác, nhưng cũng không thu hoạch được lợi ích gì.
Ba thuyết đó là: 1. Thuyết tiền định, cho rằng tất cả nguyên nhân đã định sẵn từ đời trước; 2. Thuyết tạo hóa, cho rằng tất nguyên nhân do Thượng đế biến hóa ra hay sáng tạo ra, tất cả đều do Thượng đế an bài; 3. Thuyết tự nhiên, không có nguyên nhân và điều kiện.
Đối với những người đã ôm giữ những kiến chấp như vậy, cho những luận thuyết đó là sự thật, thì rất khó giáo hóa. Kinh này Đức Phật chỉ cho cách dùng lý lẽ để khuất phục những người ôm giữ kiến chấp đó.
Rồi Đức Phật nói những pháp mà Ngài tự mình biết, tự mình giác ngộ, rồi thuyết giảng cho mọi người. Với pháp này, dù là Sa- môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm và cấc loài thể gian khác đều không thể khuất phục được, không thể làm cho cấu uế được, không thể chế phục được.
Pháp đó là sáu xứ (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ) và sáu giới (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức). Do hòa hiệp của sáu giới nên sanh thai mẹ. Nhân sáu giới mà có sáu xứ; nhân sáu xứ có xúc, nhân xúc mà có thọ. Neu ai có cảm thọ liền biết như thật về Khổ, biết về Khổ tập, biết về Khổ diệt, biết như thật về Khổ diệt đạo, tức thấu suốt Tứ diệu đế thì người đó tận trừ tất cả lậu, đã giải trừ các kết, có thể bằng chánh trí mà đoạn tận khổ biên.
14. Kinh La Vân 48
Tu là phái quán sát ba nghiệp
_______________________
48 Tương đương Pali: M.61. Rahulovada Sutta
Đức Thế Tôn đích thân giáo giới La-hầu-la. Có lẽ, lúc này Tôn giả La-hầu-la còn trẻ tuổi, ham chơi, nên Thế Tôn răn dạy: “Không được đùa giỡn và nói dối”, đồng thời khuyến tấn La-hầu-la phải quán sát ba nghiệp thân, khẩu, ý trước khi hành động, nói năng, suy nghĩ; nếu thấy lợi mình, lợi người, đó là nghiệp thiện nên làm; nếu hại mình, hại người, đó là bất thiện, không nên làm.
15. Kinh Tư49
Tu thì chuyển nghiệp
Nếu kẻ nào cố ý tạo nghiệp, kẻ ấy phải thọ lấy quả báo, hoặc thọ ngay trong đời hiện tại, hoặc thọ vào đời sau. Neu tạo nghiệp mà không cố ý, người ấy không nhất thiết phải thọ quả báo.
- Có ba nghiệp của thân là sát sanh, trộm cắp, tà dâm; bốn nghiệp của miệng là nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói lời phù phiếm; ba nghiệp của ý là tham dục, sân hận, si mê.
- Vị Thánh đệ tử xả bỏ nghiệp bất thiện của thân, tu thân thiện nghiệp; xả bỏ nghiệp bất thiện của miệng và ý, tu thiện nghiệp miệng và ý... cho đến tâm vị ấy đi đôi với từ, biến mãn một phương thành tựu và an trú, thì nếu trước kia nhân có ác tri thức, vì đã phóng dật mà tạo nghiệp bất thiện, nay những thứ ấy không thể lôi kéo, không thế làm bẩn, không còn đi theo nữa.
16. Kinh Già-lam 50
Tham sân si là nguồn gốc của nghiệp ác
Đức Phật du hóa tại thị trấn của những người Kãlãma (Già- lam) tên là Kesaputta, ở Kosala. Những người Già-lam không có tịnh trí để biết điều đã làm có tội hay không có tội, nên Phật dạy ba nghiệp tham, sân, si là nguyên nhân, là sự tập khởi, là căn bản, là duyên của tất cả các nghiệp:
__________________
49 Tương đuơng Pãli: A. X. 207-208.
50 Tương đương Pãli: A. III. 65. Kesaputtiyã.
“Này các người Già-lam, các nguời không có tịnh trí để biết điều đã làm có tội hay không có tội. Này các người Già-lam, nên biết các nghiệp có ba cái là nguyên nhân, là sự tập khởi, là căn bản, là duyên của nó. Nhũng gì là ba? Này các người Già-lam, tham là nhân, là tập, là bản, là duyên của các nghiệp. Này các người Già- lam, nhuế và si là nhân, là tập là bản, là duyên của các nghiệp”.
Người Già-lam cũng nêu lên câu hỏi, có những Sa-môn, Bà-la- môn hay tự đề cao mình mà chỉ trích những người khác, họ không biết ai tu thật ai tu giả? Đức Phật không trả lời trực tiếp mà nêu lên phẩm chất của một Thánh đệ tử đã đoạn trừ tham, sân, si, có tàm, có quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả, cho đến loài côn trùng...
Các người Già-lam tự biết, tự hiểu đâu là chân, đâu là ngụy, phát tâm quy y Tam bảo, thọ trì năm giới.
17. Kinh Gỉà-di-ni51
Không một ai có khả năng đưa mình đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời
Già-di-ni, con trời A-tư-la bạch Phật, các người Bà-la-môn tự cao, thờ chừng ấy trời, mà cho rằng, nếu có chúng sanh nào mạng chung, họ có thể làm cho chúng sanh đó tự do qua lại các thiện xứ, sanh lên cõi trời. Vậy thì, Thế Tôn là Pháp chủ, mong Thế Tôn cũng làm cho chúng sanh khi mạng chung đi đến thiện xứ, sanh lên cõi trời.
Nhân đó Phật nói quả báo của 10 nghiệp ác, 10 nghiệp thiện như đá, như dầu, chìm nổi khác nhau.
- Nếu một người suốt đời gây tạo mười nghiệp bất thiện, đến khi chết, mọi người tập trung cầu nguyện, van xin... cho người đó được sanh về thiện xứ, thì cũng giống như lấy tảng đá lớn ném xuống vực nước sâu rồi đúng trên bờ cầu nguyện, hy vọng cục đá
______________
51 Tương đương Pali: S.iv. 311
nổi lên, đó là điều không tưởng ! Cho nên, mười loại nghiệp đạo bất thiện vốn đen, có quả báo đen, tự nhiên đi thẳng xuống, chắc chắn đi đến ác xứ.
- Nếu một người suốt đời tu tập mười nghiệp thiện, đến khi chết, mọi người tập trung cầu nguyện, van xin... cho người đó đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục, thì cũng giống như người đem hũ dầu ném vào nước, hũ dầu bị võ' lặn chìm xuống nước, còn dầu nổi lên trên mặt nước, dù cho có cầu nguyện, van xin... dầu cũng không thể chìm được. Do đó, mười nghiệp đạo thiện là trắng, có quả báo trắng, tự nhiên thăng lên, chắc chắn đến thiện xứ.
18. Kinh Sư Tử52
Không phải sự chỉ trích nào cũng phi báng Đức Phật
“Này Sư Tử, nếu có ai nói như vầy: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem bất khả tác giảng cho mọi người’, người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói sự thật, người ấy nói đúng pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với như pháp không có sai lầm, cũng không bị chỉ trích. Vì sao vậy, này Sư Tử, có một sự kiện mà, nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không the hủy báng, khi nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác ấy nói cho người khác’.”
Đại thần Sư Tử, đệ tử Ni-kiền, đến thăm viếng Đức Phật để cúng dường lễ bái, dù các Ni-kiền không đồng ý, vì họ cho rằng gặp Phật sẽ không được may mắn; cúng dường lễ bái cũng sẽ không được may mắn.
Sau khi đến chồ Thế Tôn, đại thần Sư Tử fyỏi rằng, nếu có ai đó nói Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác giảng cho người khác, thì người đó có phỉ báng Phật? Có nói đúng sự thật không? Có nói đúng pháp chăng?
__________________
52 Tương đương Pāli: A.VIII. Sīha
Phật bảo rằng người đó không phỉ báng Phật, người đó nói đúng sự thật, nói đúng pháp. Bởi vì, sự thật, có những pháp Phật không làm và cũng không khuyến khích người khác làm. Rồi Phật vì đại thần Sư Tử trình bày tám trường hợp nên làm, không nên làm, pháp cần đoạn diệt, pháp cần kinh tởm, pháp luật cần thực hành, pháp hành khổ hạnh nên xa lánh, và pháp an ổn nên tu học.
Sau thời pháp thoại, đại thần Sư Tử từ bỏ ngoại đạo, xin quy y Tam bảo, làm người cư sĩ tại gia, thọ trì năm giới.
19. Kinh Ni-kiền 53
Sự khác biệt giữa quan niệm về nghiệp của ngoại đạo và của Phật giáo
1. Ngoại đạo Ni-kiền chủ trương thuyết định mệnh, cho rằng tất cả khổ lạc con người trong kiếp hiện tại là do nghiệp quá khứ; nghiệp quá khứ này có thể diệt bằng cách tu khổ hạnh, tu khổ hạnh và không tạo tác cái mới nữa, thì các nghiệp ấy dứt sạch.
Đức Phật phân tích cho các Ni-kiền thấy rằng, chủ trương thuyết định mệnh của họ chỉ họp ]ý (hợp lý thôi, chưa chắc đã đúng!) nếu họ có tịnh trí để biết rằng: ‘Trước kia ta có hay không có? Trước kia ta tạo ác hay không tạo ác? Ta chừng ấy khổ đã diệt tận, hay chừng ấy khổ chưa diệt tận; và nếu chừng ấy đã diệt tận thì sẽ diệt tận tất cả? Chính ngay trong đời hiện tại mà đoạn các pháp bất thiện và tạo tác các thiện pháp, tu tập và tác chứng chăng?’. Nhưng tất cả các Ni- kiền đều trả lời rằng họ không hề biết gì về những điều mà Thế Tôn trình bày. Điều này chứng tỏ, thuyết định mệnh hay thuyết nghiệp báo của ngoại đạo chỉ là tưởng tượng, hư tưởng, không tưởng, chứ không phải dựa vào cơ sở tự mình thấy biết, chứng nghiệm.
2. Đức Phật lại chỉ rõ, các ngoại đạo Ni-kiền khi cần hành kịch liệt thì cảm thọ khổ kịch liệt; khi không cần hành kịch liệt thì không
______________
53 Tươngđương Pãli: M. 101. DevadahaSutta.
cảm thọ khổ kịch liệt, như vậy không họp lý để nói khổ do nhân đã tạo đời trước, nhưng các ngoại đạo Ni-kiền vì si mê che lấp, bị si mê trói buộc, nên cứ nói tất cả cảm thọ khổ lạc đời này đều do nhân đã tạo từ trước.
3. Đức Phật tiếp tục khai sáng cho các ngoại đạo Ni-kiền: Lạc nghiệp báo, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành, mà chuyển thành khổ báo được; khổ báo nghiệp, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh cần hay nhân sự khổ hành mà chuyển thành lạc báo được; hiện pháp báo nghiệp, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh tấn và nhân sự khổ hành mà chuyển thành hậu sanh báo được; hậu sanh nghiệp báo, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển thành hiện pháp báo được; nghiệp không chín, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển thành quả báo chín; nghiệp báo chín, nghiệp ấy không thể nhân sự tinh cần và nhân sự khổ hành mà chuyển đổi thành khác đi được.
Vì vậy, sự nỗ lực của các Ni-kiền trong sự tu tập khổ hạnh là hư vọng, sự tinh cần ấy là trống rỗng, chẳng đạt được gì cả.
4. Chỉ trích năm điều đáng khiển trách, đáng ghê tởm của ngoại đạo Ni-kiền:
- Những điều khổ, lạc mà chúng sanh này cảm thọ đều do sự tạo tác trước kia.
- Chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do sự hội họp.
- Chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do định mạng.
- Chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do kiến.
- Chúng sanh lãnh thọ sự khổ vui đều do Tôn Hựu tạo (do Thượng đế an bài).
5. Nêu lên pháp mà Phật chứng ngộ, pháp đưa đến Niết-bàn, đó là: xả bỏ thân nghiệp bất thiện để tu thiện nghiệp nơi thân; xả bỏ khẩu, ý nghiệp bất thiện, tu thiện nghiệp nơi khẩu, ý... cho đến đoạn
 
trừ năm triền cái, rồi ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng Tứ thiền, thành tựu và an trụ, hướng thẳng đến lậu tận trí thông, chứng nhập Tứ diệu đế, tâm giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, tâm giải thoát vô minh lậu.
20. Kinh Ba-la-lao 54
Thế Tôn không phải là nhà huyễn thuật
Ba-la-lao Già-di-ni (Pãtaliya Gãmanĩ), thôn trưởng Pãtaliya, đến yết kiến Thể Tôn để lễ bái, cúng dường. Ba-la-lao có ba nghi ngờ.
Nghi ngờ thứ nhất là mặc dù nghe nhiều người nói Đức Thế Tôn biết huyễn thuật và là nhà huyễn thuật, và Đức Thế Tôn cũng xác nhận điều này, nhưng ông vẫn không tin. Thế Tôn bằng nhiều phương tiện diễn đạt cho Ba-la-lao thấy ràng, Ngài biết tất cả huyễn thuật nhưng không phải là nhà huyễn thuật; Ngài biết huyễn thuật, biết người huyễn thuật, biết quả báo của huyễn thuật, biết đoạn trừ huyễn thuật, cũng như biết sát sanh, biết người sát sanh, biết sự đoạn trừ sát sanh... Nếu ai nghĩ và nói rằng Thế Tôn biết huyễn thuật tức là nhà huyễn thuật, nếu người ấy không từ bỏ lời nói và ý nghĩ đó thì trong khoảnh khắc như co duỗi cánh tay, mạng chung sanh vào địa ngục, vì tội phỉ báng Như Lai.
Ba-la-lao nghe vậy vô cùng sợ hãi, ăn năn sám hối. Rồi ông lại nêu lên nghi vấn tiếp theo, rằng Thế Tôn có quan điểm như thế nào về nghiệp và nghiệp báo, khi có ngoại đạo chù trương: kẻ nào sát sanh, trộm cắp, nói dối... kẻ ấy nhất thiết thọ báo ngay trong đời này, nhân đó mà sanh ra ưu khổ? Đức Phật không trả lời trực tiếp mà nêu lên những ví dụ để Ba-la-lao tự hiểu vấn đề.
Cuối cùng, Ba-la-lao cho biết ông đã xây ¿lựng nhà cao cửa rộng để đón tiếp những Sa-môn, đạo sĩ. Có bốn đạo sĩ đã đến ở mà mỗi người chủ trương một thuyết trái ngược nhau, như thuyết đoạn
_______________
54 Tương đương Pāli: S.42.13. Pāṭali

diệt, thuyết vô tác dụng, và hai thuyết ngược lại. Ba-la-lao nghe rồi phân vân, hoài nghi, không biết ai đúng ai sai.
Đức Phật khuyên Ba-la-Iao chớ hoài nghi mà sanh ra phân vân và chỉ cho ông tu tập thiền định gọi là viễn ly, nhờ thiền định ấy sẽ có thể được chánh niệm, có thể đạt tới nhất tâm; như vậy, ở trong đời hiện tại ông sẽ đoạn trừ sự nghi hoặc, và được thăng tấn. Đức Phật chỉ dẫn cặn kẽ pháp tu thiền định cho Ba-la-lao.
Sau buổi pháp, Ba-la-lao viễn ly trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh, quy y Tam bảo, làm cư sĩ tại gia, ừọn đời giữ năm giới.
c) Phẩm Tương ưng Xá-lợi-phất
Gồm 11 kinh, chủ yếu do ngài Xá-lợi-phất nói, hoặc các việc có liên quan đến khả năng, đạo đức và trí tuệ của ngài. Qua đó, chúng ta thấy được nhân cách siêu việt của Tôn giả Xá-lợi-phất, bậc Tướng quân của Chánh pháp, bậc mà “tâm tư như mặt đất, nhận tất cả mọi thứ tịnh và bất tịnh, một cách bình đẳng”. Và cũng từ phẩm kinh này, chúng ta mới có được cái nhìn toàn diện về ngài trong kinh Duy-ma-cật, mới hiểu được những ẩn ý sâu xa mà cư sĩ Duy-ma- cật phát biểu.
21. Kinh Đẳng Tâm 55
Những kinh nghiệm hành thiền
Ghi lại sự kiện Tôn giả Xá-lợi-phất phân biệt nghĩa lý nội kết sử và ngoại kết sử cho các Tỳ-kheo.
Một vị thượng lưu A-na-hàm, sau khi đã đoạn trừ năm hạ phần kết, nhưng do vị ngọt trong cảm thọ lạc của các sắc giới tịnh lự, vị ấy lần lượt thác sanh từ cõi trời Phạm thiên của Sor thiền, cho tới khi thác sanh đến sắc cứu cánh của Tứ thiền ở đó mà nhập Niết-bàn. Đó là hạng người có nội kết sử, bậc A-na-hàm, không trờ lại cõi này nữa.
__________________
55 Tương đương Pãli: A. II. 4.5-6
Người tu tập các giới cấm, thủ hộ biệt giải thoát luật nghi, lại còn khéo thâu nhiếp các oai nghi lễ tiết, thấy những tội lỗi nhỏ nhặt cũng thường sanh tâm lo sợ, thọ trì học giới. Đó là người có ngoại kết sử, không phải A-na-hàm, sẽ còn trở lại thế gian này.
Một số đông chư Thiên đẳng tâm đến chỗ Thế Tôn thuật lại sự việc trên và mong Phật đến giảng đường chia sẻ niềm hoan hỷ của đại chúng. Phật nhận lời. Khi đến nơi, Ngài khen ngợi Xá-lợi- phất, đồng thời cho biết chư Thiên đẳng tâm trước kia khi còn là loài người, và hiện tại đã tu tập thiện tâm rất rộng, rất lớn, nên hoặc có mười hay hai mươi vị, hoặc ba mươi hay bốn mươi vị, hoặc năm mươi hay sáu mươi vị, cùng đứng trên đầu mũi dùi vẫn chẳng chướng ngại lẫn nhau. Do đó, nên học pháp tịch tĩnh, các căn tịch tĩnh, tâm ý tịch tĩnh, ba nghiệp thân, khẩu ý tịch tĩnh, hướng về Đấng Thế Tôn và các đồng phạm hạnh có trí. Các hàng dị học dối trá, luôn luôn suy tổn, vĩnh viễn lầm lạc, vì không được nghe diệu pháp như thế này.
22. Kinh Thành Tựu Giới56
Năm pháp thành tựu được mọi người kính trọng
Ngài Xá-lợi-phất nói nếu Tỳ-kheo nào thành tựu Giới, thành tựu Định, thành tựu Tuệ thì ngay trong đời hiện tại mà ra vào định tưởng thọ diệt, nếu không chứng được cứu cánh trí, khi thân hoại mạng chung, vượt qua khỏi trời Đoàn thục, sanh lên các cõi trời Ý sanh, tại các cõi ấy mà ra vào định tưởng tri diệt.
Tôn giả Xá-lợi-phất ba lần nói như vậy thì Ô-đà-di cũng ba lần bác bỏ, rằng nếu Tỳ-kheo sanh lên các cõi trời Ý sanh khác, mà ra vào định tưởng tri diệt, hoàn toàn không có trường hợp ấy. Tôn giả Xá- lợi-phất liền đến chỗ Thế Tôn, ô-đà-di cũng đến chỗ Thế Tôn. Tại đây, cả hai người đều ba lần tuyên bố lại lời nói của mình như trước.
_______________
56 Tương đương Pali: A.V. 166. Nirodha
Thế Tôn liền cật vấn Ô-đà-di và ngay đó, cái ngu si của Ô-đà- di lộ ra. Thế Tôn khiển trách Ô-đà-di là người không có khả năng luận bàn về A-tỳ-đàm thâm sâu, và khiển trách luôn Tôn giả A-nan, bởi A-nan đã bỏ mặc, không chiếu cố Xá-lợi-phất khi bị người khác cật vấn. Đó là hành động không có lòng từ, quay lưng lại với bậc Trưởng lão thượng tôn danh đức. Rồi Thế Tôn xác định lại lời nói của Xá-lợi-phất, và Ngài đi vào thiền thất.
Buổi chiều, Thế Tôn từ thiền thất đi ra, đến trước chúng Tỳ-kheo, trải chồ mà ngồi, rồi giảng về năm 5 pháp để một Tỳ-kheo được tôn trọng, kính mến. Năm pháp đó là: tu tập các cấm giới, học rộng nghe nhiều, có bốn tăng thượng tâm, chứng đắc như thật trí và dứt sạch các lậu.
Thế Tôn khen ngợi Xá-lợi-phất là người đã thành tựu năm pháp đó.
23. Kinh Trí[57]
Nam-mô Đại trí Xá-lợi-phất Tôn giả
Tỳ-kheo Hắc Xỉ thông báo cho Tôn giả Xá-lợi-Phất biết là Tỳ-kheo Mâu-lợi-phá-quần-nậu đã xả giới, bỏ đạo. Xá-lợi-phất hỏi Hắc Xỉ rằng Mâu-lợi-phá-quần-nậu có niềm vui trong giáo pháp không, Hắc Xỉ không trả lời mà hỏi ngược lại Xá-lợi-phất. Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời ngài không hề có sự nghi hoặc đối với giáo pháp và đối với những việc trong tương lai thì cũng không có gì do dự. Hắc Xỉ cho rằng Tôn giả Xá-lợi-phất tự tuyên bố chứng đắc trí và thưa lại với Thế Tôn.
Đức Phật cho gọi Xá-lợi-phất đến và ở giữa đại chúng, Ngài ấn chứng cho lời tuyên bố của Xá-lợi-phất là chân thật bằng cách gạn hỏi về pháp Duyên khởi, để cho đại chúng thấy >rằng, Xá-lợi-phất đã thấy pháp duyên khởi, tức đã chứng đắc trí. Sau khi gián tiếp ấn chứng cho Xá-lợi-phất, Thế Tôn vào thiền thất.
 

[57] Tương đương Pāli: s. XII. 32. Kaḷārakatthiya.
 
Thế Tôn đi rồi, Xá-lợi-phất lại rống tiếng rống của con sư tử, rằng ‘Nếu Đức Thế Tôn trong hai, ba, bốn ngày cho đến bảy ngày bảy đêm với những lời khác câu khác mà hỏi tôi về nghĩa này, thì tôi vẫn có thể trong hai, ba, bốn cho đến bảy ngày bảy đêm với những lời khác, câu khác mà trà lời Đức Thế Tôn về nghĩa ấy’.
Tỳ-kheo Hắc Xỉ lại thông báo với Thế Tôn sự kiện ấy. Thế Tôn lại ấn chứng: Tỳ-kheo Xá-lợi-phất đã thấu đạt sâu xa về pháp giới.
28 . Kinh Sư Tử Hổng58
Tiếng rống sư tử chúa cùa Xả-lợi-phat
Sau mùa an cư, Tôn giả Xá-lợi-phất đến đảnh lễ Thế Tôn và xin đi trú trong nhân gian. Khi vừa từ giã, có một Tỳ-kheo, có lẽ do bất mãn, đã vu khống Tôn giả Xá-lợi-phất khinh mạn ông ta. Phật cho gọi Xá-lợi-phất trở lại. Tôn giả A-nan biết Xá-lợi-phất lần này trở lại chắc chắn cất tiếng rống của sư tử, nên đã đi thông báo cho tất cả Tỳ-kheo trong tu viện Kỳ-viên vân tập tại giảng đường. Quả nhiên, khi Xá-lợi-phất trở lại, Ngài đã cất tiếng rống sư tử, rằng:
“Bạch Thế Tôn, như một con trâu gãy sùng, rất nhường nhịn, hiền lành, dễ sai khiến, dễ chế ngự. Nó từ thôn này đi đến thôn khác, từ xóm này đi đến xóm khác; những nơi nó đi qua, không có gì bị xâm phạm. Bạch Thế Tôn, con cũng vậy. Tâm con như con trâu gãy sừng, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn, vô biên, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Bạch Thế Tôn, nếu ai không có niệm thân trên thân thì người ấy mới khinh mạn một đồng phạm hạnh rồi đi trú trong nhân gian. Bạch Thế Tôn, con khéo có niệm thân trên thập, làm sao con lại khinh mạn một đồng phạm hạnh rồi đi trú trong nhân gian?”.
Bằng những hình ảnh sống động, Xá-lợi-phất tuyên bố như
_________________
58 Tương đương Pâli: A. IX. 11. Vuttha

thế, khiến Tỳ-kheo kia thấy được lỗi lầm, ăn năn sám hối. Phật bảo Xá-lợi-phất hãy nhận sự sám hối của Tỳ-kheo kia, nếu không đầu Tỳ-kheo kia sẽ vỡ thành bảy mảnh.
25. Kinh Thủy Dụ 59
Phương pháp diệt trừ hờn giận
Xá-lợi-phất nói chia sẻ với các Tỳ-kheo về 5 pháp kềm chế sự hờn giận. Khi một người nào đó làm cho mình hờn giận, nếu mình là người biết tu tập, thi phải tìm cách diệt trừ sự hờn giận đó. Sau đây là năm cách để diệt trừ hờn giận:
- Nếu có một người thân hành không thanh tịnh, nhung khẩu hành thanh tịnh, thì mình đừng nhìn vào thân hành của người đó mà chỉ chú ý đến khẩu hành, như Tỳ-kheo tu khổ hạnh, thọ trì y phấn tảo, thấy tấm vải vất bên đường, dù dơ bẩn nhưng sau khi quán sát thấy còn lành lặn, còn dùng được, thì nhặt lấy đem về giặt sạch để may y mà dùng. Thực hành như vậy mình sẽ trừ được sự hòm giận.
- Nếu một người khẩu hành không thanh tịnh nhưng thân hành thanh tịnh, thì mình đùng nhìn vào khẩu hành của người đó mà chỉ chú ý đến thân hành, như hồ nước bị rêu che phủ, chỉ cần khoát rêu ra, thì có thể khoan khoái tắm mát.
- Nếu một người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, nhưng tâm có chút thanh tịnh, thì chớ nên nghĩ đến thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, mà chỉ nên nghT đến tâm có chút thanh tịnh của người ấy, giống như người khát nước tìm thấy một ít nước trong lỗ chân trâu, không thể lấy tay, hay lá cây múc lấy uống mà chỉ còn cách duy nhất là cúi sát người xuống lỗ chân trâu mà uống để trừ đi cơn khát.
- Nếu một người mà thân, khẩu, ý cả ba đều không có chỗ nào thanh tịnh, thì người đó đang sống trong đau khổ, khi mạng chung
____________________
59 Tương đương Pāli: A.V.162. Āghātavinaya
nhất định bị đọa ác xứ. Nghĩ như vậy rồi mình nên khởi lòng thương xót, khởi niệm từ mẫn với người đó chứ không nên giận hờn, phải quán sát người đó như kẻ bộ hành nửa đường mắc bệnh, khốn đốn, héo hắt, cô độc, không bạn bè... phải khởi niệm thương xót cứu giúp người ấy, đừng để họ phải bị chết và đọa vào ác xứ.
- Còn nếu một người có thân, khẩu, ý thanh tịnh thì không có lý do gì để mình giận hờn người ấy. Người ấy như hồ nước đã trong lại ngọt, đáy sâu bằng phang... tha hồ cho mình tắm mát. Đó là bậc thiện tri thức, hãy thân cận gần gũi để được học hỏi.
26. Kinh Cù-ni-sư[60]
Pháp học của Tỳ-kheo
Cù-ni-sư sống một mình trong rừng nhưng vẫn buông lung, cười đùa kiêu ngạo, tháo động, không chánh niệm như khỉ vượn. Nhân có chút công việc, ông đến thành Vương-xá. Xong việc, ông đến tinh xá Trúc Lâm. Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất cùng với các Tỳ-kheo có chút Phật sự đang tập hợp tại giảng đường. Thấy Cù-ni- sư đi tới, Tôn giả Xá-lợi-phất dạy những điều sau đây cho các Tỳ- kheo: Đối với thầy Tỳ-kheo vô sự[61], sống ở nơi vô sự, cần phải:
- Học pháp kính trọng và và biết tùy thuận quán sát[62].
- Học hạnh không cười giỡn, không tháo động[63].
- Học hạnh không nói những đề tài súc sanh[64].
 

60 Tương đương Pãli: M. 69. GulissâniSutta.
61  Vô sựTỳ-kheo , tỳ kheo a-lan-nhã sõng tại a-lan-nhã (rừng). Pãli: ãraññaka-bhikku.
[62] Pãli: ãraññkena bhikkhunã saṃghagatena saṅghe viharante sabrahmacãrisu sagãravena bhavitabbaṃ sappatossena, “Tỳ-kheo a-lan-nhã (tu hạnh sống ở rừng), khi đến sống giữaTãng, cẩn phải tôn trọng, cung kính các đồng phạm hạnh."
63 Hán: bát điệu tiéu, bất táo nhiễu  Pãli:  anuddhata,  không trạo cử, acapala, không náo động.
[64] Hán: súc sinh luận  Pãli: tiracchãna-kathã, câu chuyện bàn vé các vấn đé từ vua chúa, trộm cướp cho đến chuyện sông biển, nam nử linh tinh; chuyện vỏ ích, trở ngại sự tu tập. Nhưng, đoạn này, trong bản Pãli tương đương: amukhararena bhavitabbaṃ avikiṇṇavãcena, không nên lắm lời, không nên nói tạp nhạp.
 
- Học không kiêu ngạo và ít nói năng.
- Học thủ hộ các căn.
- Học biết đủ trong sự ăn uống.
- Học tinh tấn không giải đãi.
- Học chánh niệm và chánh trí.
- Học biết thời và đúng thời; không đi vào thôn khất thực quá sớm, cũng chẳng trở về quá trễ.
- Học biết ngồi và ngồi đúng chỗ; không lấn chỗ ngồi của vị Trưởng lão, bị Tỳ-kheo nhỏ khiển trách[65].
- Học thảo luận về Luật và A-tì-đàm[66].
- Học thảo luận về tịch tĩnh giải thoát[67] và ly sắc[68] cho đến vô sắc định[69].
- Học thảo luận về lậu tận trí thông.
Khi Xá-lợi-phất dạy những lời trên xong, Tôn giả Mục-kiền- liên cũng ở trong đại chúng liền hỏi: “Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, chỉ những Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự mới nên học những pháp như vậy, chứ không phải là những Tỳ-kheo ở giữa người đời sao?”.   Xá-lợi-phất đáp: “Tỳ-kheo vô sự sống ở nơi vô sự  còn nên học những
pháp như vậy, huống gì là Tỳ-kheo sống giũa nhân gian?”.
27. Kỉnh Phạm ChíĐà-nhiên [70]
Vì ai mà tạo tội thì cũng phải đền tội
 

65 Pãli: there ca bhikkhũ nãnupakhajja niiĩdissãmi nave ca bhikkhũ na ãsanenơ patibãhissãmi, không chiếm chỗ ngói của các Ty-kheo Thượng tọa; không đuổhcác vị tân Tỳ-kheo khỏi chỗ ngói.
66 Luật, A-tì-đàm,  Pảli: abhivinaya, abhìdhamma, chi phần tinh nghĩa của luật (vinaya) và pháp (dhamma); không phải A-tì-đàm cùa Luận tạng.
[67] Hán: tức giải thoát ,Pãli: santa-vimokka.
68 Hán: ly sắc . Pãli: atikkamma rủpe, vượt qua sắc pháp.
69 Hán: nãi chí vô sắc định . Pãli: ãruppã tatthayogo karanĩyo, tu tập vé các vô sắc.
70 Tươngđương Pãli: M. 97.DhãnahịaniSutta.
 
Phạm chí Đà-nhiên là bạn cũ của Tôn giả Xá-lợi-phất, sống ở thành Vương-xá. Qua thông tin của một Tỳ-kheo, Tôn giả Xá- lợi-phất biết Đà-nhiên không tin Tam bảo, do đó, sau mùa an cư ở Xá-vệ, Tôn giả lên đường đến thành Vương-xá, đến nhà Phạm chí Đà-nhiên để giáo hóa người bạn cũ này.
Khi Tôn giả Xá-lợi-phất trách bạn sống giả dối, lường gạt, dựa thế vào vua để dối gạt Bà-la-môn, Cư sĩ; dựa thế Bà-la-môn, Cư sĩ đế dối gạt vua, thì Đà-nhiên biện hộ rằng: ông ta còn sống tại gia, lấy gia nghiệp làm bổn phận, còn phải lo cho mình được an ổn, cung cấp cha mẹ, săn sóc vợ con, cung cấp nô tỳ, phải nộp thuế cho vua, thờ tự thiên thần, cúng tế tổ tiên, và còn phải bố thí cho các Sa-môn, Bà-la-môn để sau này còn được sanh lên các cõi trời, mong được trường thọ, được quả báo an lạc, nên không thể sống đúng Chánh pháp được.
Tôn giả Xá-lợi-phất liền khai thị: Khi bị đọa vào địa ngục, người ta không thể nói rằng: tôi vì tổ tiên, cha mẹ, vợ con, nô tỳ, nộp thuế cho vua, cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn mà tạo các nghiệp ác, nên đừng hành hạ tôi. Đã tạo nghiệp ác là phải nhận chịu quả báo ác, không thể lấy bất kỳ lý do nào để biện hộ cho các nghiệp ác mình đã tạo để thoát khỏi tội báo. Cho nên, tạo nghiệp ác để lo chu cấp, nuôi dưỡng cha mẹ, vợ con... thì thà đừng lo chu cấp, nuôi dưỡng.
Vả lại, một thiện gia nam tử vẫn có thể như pháp, như nghiệp, như công đức mà làm ra tiền của, để tôn trọng kính phụng, hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc phước đức chớ chẳng gây nghiệp ác. Hơn nữa, người nào sống như pháp, như nghiệp, như công đức thì được mọi người tôn trọng, cung kính, thương yêu, phước đức ngày càng tăng trưởng, không hề bị giảm sút.
Sau thời pháp khai thị, Đà-nhiên thú nhận, thực chất ông vì người vợ xinh đẹp tên Đoan Chính mà đã buông lung, tạo quá nhiều ác nghiệp tội lỗi. Rồi ông xin quy y với Xá-lợi-phất, nhưng
Tôn giả Xá-lợi-phất bảo ông hãy quy với Phật. Từ đó, Phạm chí Đà- nhiên trở thành người cư sĩ tại gia thâm tín Tam bảo, thường xuyên đi nghe pháp, tu hành pháp thiện, về sau, ông mang bệnh nặng, Tôn giả Xá-lợi-phất đến thăm và giáo hóa cho ông thấy rõ sự hơn kém của các cảnh giới, từ địa ngục lên đến cõi trời Phạm thiên để Đà-nhiên phát tâm thú hướng. Khi biết Đà-nhiên ưa thích cõi Phạm thiên, Tôn giả Xá-lợi-phất dạy ông tu tập bốn Phạm trụ từ bi hỷ xả để được sanh lên đó.
Bà-la-môn Đà-nhiên do tu tập bốn Phạm trụ, đoạn dục, xà dục niệm, thân hoại mạng chung sanh lên cõi Phạm thiên.
28. Kinh Giáo Hóa Bệnh [71]
Nghe kinh lành bệnh
Cư sĩ Cấp-cô-độc bệnh nặng. Ông sai người giúp việc đến tinh xá Kỳ-viên thay ông đảnh lễ thăm hỏi Đức Thế Tôn và Tôn giả Xá- lợi-phất, đồng thời thỉnh cầu Xá-lợi-phất thương xót hạ cố đến nhà cho ông được gặp mặt. Sáng hôm sau, Tôn giả Xá-lợi-phất đến nhà Cấp-cô-độc; sau khi thăm hỏi, Ngài thuyết giảng về 10 thứ thượng tín của người đắc quả Tu-đà-hoàn (Cấp-cô-độc đã đắc quả này). Bài pháp mầu nhiệm này đã làm cho bệnh tình của Cấp-cô-độc thuyên giảm, bình phục như cũ, ông ngồi dậy và nói: “Thưa Tôn giả Xá- lợi-phất, khi con nghe xong bài pháp giáo hóa cho bệnh nhân ấy liền chấm dứt thống khổ, lại sanh khoái lạc vô cùng”.
10 thứ thượng tín là thành tựu niềm tin kiên cố, thiện giới, đa văn, huệ thí, thiện tuệ, chánh kiến, chánh tư duy, chánh giải thoát, chánh trí.
Sau khi bệnh tình thuyên giảm, Cấp-cô-đọc ngồi dậy, kể lại nhân duyên ông được biết đến Phật, được nghe Phật thuyết pháp, được thọ tam quy ngũ giới, rồi ông phát tâm thỉnh Phật về Xá-vệ
 

[71] Tương đương Pãli: M. 143. Anāthopiṇḍika Sutta.
 
giáo hóa, và nhân duyên ông mua khu rừng của thái tử Kỳ-đà, kiến tạo tinh xá Kỳ-viên cúng dường Phật và chúng Tăng.
Bản kinh cho thấy Phật pháp nhiệm mầu, trị lành cả tâm bệnh lẫn thân bệnh. Mặt khác, kinh cho thấy, có thân là có bệnh, và sự bệnh tật đó không trở ngại gì đến sự giác ngộ giải thoát. Cho nên, không thể nhìn vào sự bệnh tật mà vội vàng kết luận người ta thiếu tu hay nghiệp nặng.
29. Kinh Đại Cău-hy-la [72]
Trao đoi Phật pháp
Ghi lại cuộc trao đổi, chia sẻ Phật pháp giữa Tôn giả Xá-lợi- phất cùng Tôn giả Đại Câu-hy-la.
Xá-lợi-phất đặt vấn đề: Có điều kiện nào mà nhân điều kiện đó Tỳ-kheo thành tựu kiến, được chánh kiến, đối với pháp được bất hoại tịnh[73] và thể nhập Chánh pháp.
Đại Câu-hy-la trả lời: có, đó là Tỳ-kheo biết được những điều sau đây:
- Biết bất thiện là: Ác hành của thân, khẩu, ý.
- Biết căn của bất thiện là: Tham, sân, si.
- Biết thiện là: Diệu hành của thân, khẩu, ý.
- Biết căn của thiện là: Vô tham, vô sân, vô si.
- Biết như thật về thức ăn là: Có bốn loại thức ăn: Một là đoàn thực, thô và tế[74]; hai là xúc thực[75]; ba là ý tư thực[76]; bốn là thức thực[77].
 

[72] Tương đương Pãli: A. IX. 13, A. IX. 174.                                           
[73]  Bất hoại tịnh 'pỉllỳậS. Pảli: avecca-pasāda: bất động tín, bất hoại tín, hay chứng tịnh.
[74]  Đoàn thực thô tế , hay đoạn thực, thực phẩm vật chất.
Pàli: kabalinkāro āhāro oḷāriko vā sukkumo.
[75]  Nguyên-Hán: canh lạc thực ,thức ăn là sự xúc chạm, chi sự tiếp xúc giữa căn và cảnh.
Pãli: phasso āhāro.
[76]  Ý tư thực ít, hay hý luận thực, thức ăn là ý chí hy vọng. Pãli: manosañcetanā-āhāro
[77]Thức thực , thức ăn là thức. Pãli: viññāṇaṃ āhāro
 
- Biết như thật về tập của thức ăn là: Do ải mói có thức ăn.
- Biết như thật về diệt của thức ăn là: Ái diệt tức là thức ăn diệt.
- Biết như thật về diệt đạo của thức ăn là: Tám chi Thánh đạo.
- Biết như thật về lậu là: Có ba lậu là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu[78].
- Biết như thật về tập của lậu là: Do vô minh mới có lậu.
- Biết như thật về diệt của lậu là: Do vô minh diệt thì lậu diệt.
- Biết như thật về diệt đạo của lậu là: Tám chi Thánh đạo.
- Biết như thật về Khổ là: Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ, sở cầu bất đắc khổ, nói tóm lại năm thủ uẩn khổ.
- Biết như thật về Khổ tập là: Do già-chết mới có khổ.
- Khổ diệt là: Già-chết diệt tức khổ diệt.
- Khổ diệt đạo là: Tám chi Thánh đạo.
Tiếp theo là chuỗi liên hệ nhân duyên quả của mười hai chi phần nhân duyên, từ già chết cho đến vô minh. Mỗi chi phần đều được định nghĩa rõ ràng, cụ thể như sau:
- Già chết: người kia già cả, đầu bạc, răng rụng, sự cường tráng càng ngày càng suy giảm, thân còng, chân vẹo, cơ thể nặng nề, hơi thở đưa lên, chống gậy mà đi, thịt teo rút, da nhăn như cây gai, các căn rụng rời, nhan sắc xấu xỉ.
- Sanh: chúng sanh kia và tất cả chủng loại sai biệt của chúng sanh kia, đến lúc sanh thì sanh, đến lúc xuất thì xuất, đến lúc thành thì thành; khi phát khởi năm uẩn liền có mạng căn.
- Hữu: Có ba hữu là dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu.
 

[78] Ba lậu: dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu  Pāli: kāma-āsavā, bhava-āsavā, avijjā-āsavā.
 
- Thủ: có bốn thủ[79] là dục thủ, giới thủ, kiến thủ và ngã thủ.
- Ái: có ba ái là dục ái, sắc ái và vô sắc ái.
- Thọ: có ba thọ là lạc thọ, khổ thọ và bất lạc bất khổ thọ.
- Xúc: có ba xúc là lạc xúc, khổ xúc và bất lạc bất khổ xúc.
- Lục nhập hay sáu xứ: nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.
- Danh sắc. Bốn uẩn phi sắc[80] là danh. Bốn đại[81] và sắc do bốn đại tạo[82] là sắc.
- Thức. Có sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức.
- Hành. Có ba hành[83]: thân hành, khẩu hành và ý hành.
- Vô minh: không thấy Tứ đế, Duyên khởi...
Bản kinh cho thấy lộ trình thể nhập Chánh pháp, tức con đường thành tựu thánh trí, đạt đuợc giác ngộ giải thoát được bắt đầu từ những nấc thang căn bản, là thấy rõ được nhũng hành vi thiện và bất thiện, rồi tùng bước quán chiếu và thể nhập pháp Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, cho đến khi vô minh đã dứt, minh đã phát sanh, thì vị Tỳ-kheo không còn gì phải làm nữa; và Bát Thánh đạo chính là con đường xuyên suốt trên lộ trình đi đến giác ngộ giải thoát đó.
Trong kinh, Tôn giả Đại Câu-hy-la đã định nghĩa rõ ràng những khái niệm căn bản về thiện, bất thiện, cho đến pháp Tứ đế, Mười hai nhân duyên, những điều mà Tôn giả Xá-lợi-phất, Tướng quân của

__________________________
79 ”Hán:tứ thọ ,dục thù ,giới thủ , kiến thủ , nga thủ . Pāli : kāmupādānaṃ diưhupādānaṃ sĩlabbatupādanaṃ attavādupādānaṃ.
[80]  Tứ phi sắc ấm Pāli: cattāro arùpakkhandhā, gổm thọ, tưởng, hành và thức.
[81]  Tứ đại  Pāli: cattãro mahābhũtā.
82 Tứ đại tạo vi sắc Pāli: catumaṃ mahãbhùtãnaṃ upādāya rüpaṃ.
[83] Ba hành: thân hành , khẩu hành , ý hành .Pãli: tayo saṃkhāra.
 
Chánh pháp nằm lòng, nhưng khi nghe xong Ngài vô cùng hoan hỷ. Cuộc hội thoại diễn ra, không phải là cuộc trắc nghiệm kiến thức Phật học của nhau, mà là cách tụng tập lời Phật dạy, để ai nấy đều tận hưởng được pháp vị cam lộ. Đây mới là thái độ học Phật chân chính.
30. Kinh Tượng Tích Dụ [84]
Ai thay Duyên khởi là thấy Pháp, ai thấy Pháp là thấy Phật
Tôn giả Xá-lợi-phất giảng dạy cho các Tỳ-kheo về giáo lý Tứ diệu đế, đó là pháp thâu nhiếp vô lượng thiện pháp, là pháp tối thượng nhất, như dấu chân voi thâu nhiếp tất cả dấu chân của các con vật khác. Tứ diệu đế là Khổ thánh đế, Khổ tập, Khổ diệt và Khổ diệt đạo thánh đế.
Tuy nhiên, nội dung chính của bản kinh lại phân tích về năm thủ uẩn, nơi tập họp tất cả những nỗi khổ đau mà ta thường gọi là bát khổ: sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, oán ghét mà tụ hội là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khố.
Năm thủ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Bản kinh chỉ phân tích yếu tố sắc uẩn. sắc uẩn thì có nội sắc là thân thể con người, ngoại sắc là hoàn cảnh thế giới vật lý, bao gồm nội tứ đại và ngoại tứ đại.
Nội tứ đại, tức tứ đại bên trong cơ thể con người, bao gồm:
- Nội địa giới: những gì ở trong thân, được thâu nhiếp trong thân có tính chất cứng, như tóc, lông, móng, răng, da thô và mịn, thịt, gân, xương, tim, thận, gan, phổi, lá lách, ruột, bao tử, phẩn và những thứ khác tương tự như vậy ở trong thân.
Nội thủy giới: những gì là nước, thuộc về nước, ẩm ướt, bị chấp thủ bên trong, như mỡ, óc[85], nuớc mắt, mồ hôi, nước mũi, nước miếng, mủ, máu, tủy, nước dãi, nước tiểu, tắt cả những chất khác tương tự như vậy ở trong thân.
 

84 Tương đương Pãli: M. 28. Mahã-HatthipadopamaSutta.
[85] Hán: não căn  (chi tủy sống); bản Nguyên, Minh: chi nhãn  (con mắt có mỡ, hay mở nơi con mắt). Không tìm thấy tương đương trong bảng liệt kê cùa Pãli.
 
- Nội hỏa giới: những gì là lửa, có tính chất nóng, được chấp thủ trong thân, là thân nóng hấp, thân nóng bức, bứt rứt, ấm áp, và sự tiêu hóa ẩm thực, tất cả những chất khác tương tự như vậy ở trong thân.
- Nội phong giới: những gì là gió, thuộc tính chuyển động của gió, bị chấp thủ bên trong, là gió đi lên, gió đi xuống, gió trong bụng, gió ngang[86], gió co thắt lại, gió như dao cắt[87], gió nhảy lên, gió phi đạo, gió thổi qua tay chân, gió của hơi thở ra, gió của hơi thở vào, tất cả những chất khác tương tự như vậy ở trong thân.
Ngoại tứ đại là tất cả đất, nước, lửa, gió bên ngoài thân thể, là hoàn cảnh, môi trường, thế giới mà chúng ta đang sống. Tất cả đều là pháp vô thường, pháp cùng tận, pháp suy vong, pháp biến dịch. Các đại bên trong thân thể cũng vậy. Do đó, đối với sắc uẩn, không có gì để có thể nói là tôi, của tôi hay tôi là. Quán sát như thế, khi nội sắc gặp gỡ ngoại sắc, hay căn trần gặp gỡ, bấy giờ thức hiện khởi. Sự gặp gỡ của căn, trần và thức gọi là xúc, do xúc mà có cảm thọ, do có cảm thọ mà tưởng, tư, ái, thủ hiện khởi. Đó là dòng chảy của tập hợp các duyên. Các pháp được tập hợp từ nhân duyên, nên vô thường. Hành giả quán xúc là vô thường; rồi quán thọ, tưởng, hành, thức cũng là vô thường. Quán như vậy thì tâm được duyên nơi giới mà trụ, mà chỉ, mà hiệp, mà nhất tâm, mà định, mà không lay động. Khi đó, “giả sử có kẻ giặc cầm cưa hay dao bén, xẻ manh mún thân thể ta ra, mong sao nhân đó mà tâm ta không biến dịch, không nói năng hung dữ, sẽ khởi tâm thương xót đối với người đến xẻ manh mún thân thể ta ra; vì người đó mà tâm ta câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng thế với hai, ba, bốn phương, tứ duy, thượng hạ, biến mãn tất cả, tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không nhuế, không tránh, quảng đại, Vô biên, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ’.
 

86  Hành phong . Kinh 162 nói: hiếp phong. Pháp uẩn 21 (tr.503) cũng nói vậy. Có lẽ Pāli: koṭṭhāsayā vātā, mà Sớ giải nói: antānaṃ antovātā, gió từ bên này qua bên kia, tức gió ngang (hông).
87 Đao phong , gió lúc chết, rát như dao cắt.
 
Cuối bản kinh, Xá-lợi-phất nhắc lại lời Thế Tôn dạy: “Nếu ai thấy Duyên khởi tức thấy Pháp; nếu thấy Pháp tức thấy Duyên khởi’. Quán sát năm thủ uẩn là thấy Pháp, bởi năm thủ uẩn từ nhân duyên mà sanh.
31. Kinh Phân biệt Thánh đế 88
Tứ diệu đế là Chảnh pháp tối thượng
Đức Phật ở tại tinh xá Kỳ-viên[89], nói một cách tổng quát về Tứ diệu đế, pháp mà ba đời chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai đều công bố là Chánh pháp tối thượng, được thâu nhiếp toàn diện, được quán chiếu toàn diện, được phân biệt, được phơi mở, được mở bày, được thi thiết, được hiển thị, được thú hướng.
Đức Phật cho biết, Xá-lợi-phất nhu là sanh mẫu, sanh ra các đồng phạm hạnh, có khả năng giáo hóa toàn diện, quán sát toàn diện, phân biệt, phơi mở, mở bày, thi thiết, hiển thị, thú hướng pháp Tứ diệu để khi Đức Thế Tôn nói sơ lược. Còn Mục-kiền-liên như là dưỡng mẫu, trưởng dưỡng các đồng phạm hạnh.
Sau khi nói như vậy, Thế Tôn vào thiền thất tĩnh tọa. Tôn giả Xá- lợi-phất bấy giờ tuyên thuyết, thi thiết pháp Tứ diệu đế cho các Tỳ-kheo nghe, với những định nghĩa chuẩn mực, rõ ràng và hết sức chi tiết.
d) Phẩm VỊ tằng hữu pháp
Gồm 10 kinh, nói về pháp chưa từng có (tức những vấn đề đặc biệt kỳ diệu) mà chỉ Đức Phật và các đệ tử của Ngài mới có.
32. Kinh Vị Tằng Hữu Pháp [90]
Những điều chỉ có nơi một Đức Phật 
 

88 Tương đương Pãli: M. 141. Saccavibhariga Sutta.
89 Các bản Hán đều nói Phật tại Xá-vệ. Bản Pãli tương đương: tại Bãrãnasi (Ba-la-nại), trong Isipatane Migadãye, Chư tiên đọa xứ, vườn Lộc dã.
90Tương đương Pãli: M. 123. Acchariyabbhutơ-dhamma Sutta.
 
Tôn giả A-nan phát nguyện thọ trì pháp Vị tằng hữu cùa Đức Thế Tôn. Vị tằng hữu pháp là pháp hy hữu, hiếm có, chưa từng thấy ở nơi nào khác, ngoài Đức Thế Tôn. Cuộc đời của Đức Thế Tôn, từ khi phát tâm tu phạm hạnh, tái sanh lên cõi trời Đâu-suất, từ đó nhập vào thai mẹ, cho đến đản sanh, xuất gia, khổ hạnh, thành đạo, thuyết pháp, nhập Niết-bàn... đều là những pháp Vị tằng hữu. Tất cả những pháp ấy, Tôn giả A-nan đều phát nguyên thọ trì.
Lời phát nguyện thọ ừì pháp Vị tằng hữu của Đức Phật mà Tôn giả A-nan đọc lên như là một cách tuyên đọc tiểu sử Đức Phật.
33. Kinh Thị Giả91
Pháp Vị tằng hữu của A-nan
Suốt trong hai mươi năm đầu kể từ khi thành đạo, Đức Phật không có thị giả riêng, mà vị này hoặc vị kia thay nhau làm thị giả Ngài. Nhưng những vị này không xứng ý Ngài, đôi khi không vâng lời Ngài, có lúc ôm y bát cùa Ngài đi mất. Lần này, Thế Tôn đề nghị đại chúng cử cho Ngài một thị giả. Bấy giờ Thế Tôn đang ở trong căn nhà lá ở thành Vương-xá.
Khi Thế Tôn đề nghị như vậy thì Tôn giả Câu-lân-nhã tình nguyện xin được làm thị giả. Nhung Thế Tôn nói Tôn giả đã già rồi, chính thầy cũng cần có thị giả, thì làm sao giúp được Thế Tôn. Rồi tiếp theo các thượng tôn trưởng lão danh đức khác xin được làm thị giả, nhung Phật đều từ chối, vì quý thầy ấy đều đã lớn tuổi.
Bấy giờ, Tôn giả Mục-kiền-liên dùng thần lực biết được Thế Tôn muốn chọn Tôn giả A-nan làm thị giả, nên đã cùng với các Tỳ-kheo đến chỗ A-nan và nói rõ ý định đó của Thế Tôn. Lúc đầu, A-nan không dám nhận lời làm thị giả, nhưng sau khi nghe Tôn giả Mục-kiền-liên nói lợi ích của việc làm thị giả cho Thế Tôn, thì A-nan nhận lời với ba điều kiện:
________________
91. Chưa tìm thấy Pãli tương đương.
- Nguyện không đắp y của Thế Tôn, dù cũ hay mới.
- Nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Phật.
- Nguyện không gặp Thế Tôn phi thời.
Tôn giả Mục-kiền-liên trình bày với Thế Tôn về ba điều kiện của A-nan. Thế Tôn chấp nhận và khen rằng đó là pháp Vị tằng hữu của A-nan. Sau đó, Thế Tôn nói thêm về những pháp Vị tàng hữu của A-nan, như A-nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, biết lúc nào là thời nên đến gặp Như Lai, lúc nào không phải là thời đến gặp Như Lai...
34. Kinh Bạc-câu-la [92]
Pháp Vị tằng hữu của Bạc-câu-la
Kinh này nói về hạnh tri túc và những pháp Vị tằng hữu của Tôn giả Bạc-câu-la, sau khi Phật nhập Niết-bàn không bao lâu.
Bấy giờ Tôn giả Bạc-câu-la đang ở tại thành Vương-xá, trong Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa, một người bạn cũ cùa Tôn giả đến thăm và hỏi Tôn giả tu học trong Chánh pháp luật được bao lâu? Trong khoảng thời gian đó có khi nào khởi lên dục tưởng hay không? Nhân câu hởi này, Tôn giả Bạc-câu-la nói về đời sổng tu tập của mình, và được ghi nhận đó là pháp Vị tằng hữu của ngài.
- Xuất gia tu học tám mươi năm: chưa từng khởi cống cao, chưa tùng khởi dục tưởng.
- Thọ trì y phấn tảo suốt tám mươi năm: chưa từng vì vậy mà cống cao.
- Suốt tám mươi năm chưa tùng thọ y của người cư sĩ[93], chưa từng cắt may y, chưa từng nhờ người khác may hộ y, chưa từng dùng kim khâu y, chưa từng dùng kim khâu túi, dù là một sợi chỉ.
 

92 Tương đương Pãli: M. 124. Bakkula.
93 Tức nhận vải từ cư sĩ để may y.
 
- Khất thực suốt tám mươi năm: chưa từng vì vậy mà cống cao.
- Suốt tám mươi năm chưa hề nhận lời mời của cư sĩ, chưa hề khất thực vượt thứ tự[94], chưa hề khất thực nơi các nhà lớn để nhận các thứ đồ ăn loại cứng, loại mềm[95] rất dồi dào, rất tinh khiết và mỹ vị; chưa hề nhìn ngắm người nữ; ehưa hề vào khu vực Tỳ-kheo-ni, chưa hề cùng Tỳ-kheo-ni hỏi chuyện, cho đến cũng chưa hề nói chuyện giữa đường.
- Ở trong Chánh pháp luật này học đạo đã tám mươi năm, chưa hề nuôi Sa-di, chưa hề thuyết pháp cho bạch y; cho đến chưa hề nói cho họ chỉ bổn câu tụng.
- Tám mươi năm, chưa hề có bệnh, cho đến dù chỉ nhức đầu trong khoảng búng ngón tay; chưa hề uống thuốc, cho đến dù chi một quả ha-lê-lặc[96].
- Tám mươi năm qua, khi ngồi kiết già, chưa từng dựa vào vách hay dựa vào cây.
- Trong ba ngày đêm chứng đắc tam minh.
- Ngồi kiết-già nhập Niết-bàn.
Đó là pháp Vị tằng hữu của Tôn giả Bạc-câu-la.
35. Kinh A-tu-la [97]
Biển pháp bao la
Vua của loài vua A-tu-la là Bà-la-la[98] đến thăm Đức Thế Tôn khi Ngài đang trú tại Tì-lan-nhã 99 , trong vườn Hoàng lô[100].
 

94 Hán: siêu việt khất thực .Theo phép, khất thực phải đi lán lượt từng nhà, bất luận giàu hay nghèo.              '
[95]  Hán: thực đạm hầm tiêu , thức ăn cẩn phải nhai, và loại chỉ ngậm cho tiêu.
[96]  Ha-lê-lặc . Pāli: haritaka, loại quả dùng làm thuốc (Terminalia citrina).
97 Tương đương Pāli: A. VIII. 19. Pahārāda.
98 Bà-la-la A-tu-la vương , Pāli: Pahārāda-asurinda.
99 Tì-lan-nhã. Pāli: Verañjā, tên một thị trấn gần Sāvatthi.
[100] Hoàng lô viên, Pāli: Naḷerupucĩmarṇḍa, khu rừng gắn thị trấn Verañjā, phần lớn toàn cây pucimanda, một loại lao? (Aśdirachta Indica).
 
Các loài A-tu-la sống trong đại hải có những sự không suy thoái là tuổi thọ của A-tu-la, sắc tướng của A-tu-la, sự hoan lạc của A-tu-la, sức mạnh của A-tu-la. Đồng thời, trong đại hải các A-tu-la có tám pháp Vị tằng hữu, khiến cho các A-tu-la thấy vậy nên thích sống trong ấy.
Thế Tôn cũng trình bày trong Chánh pháp luật của Như Lai cũng có tám pháp Vị tằng hữu như trong đại hải, khiến cho các Tỳ- kheo thấy được bèn hoan lạc trong đó. Tám pháp đó là:
- Giống như đại hải, từ đáy lên trên, chu vi dần dần rộng hơn, nghiêng chênh chếch lên dần mãi tạo thành bờ biển. Nước trong ấy luôn luôn đầy, chưa từng chảy ra ngoài. Chánh pháp luật của Như Lai QŨng giống như vậy, dần dần thực hành, dần dần học tập, dần dần đoạn trừ và dần dần giáo hóa.
- Thủy triều trong đại hải chưa từng sai thời. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, những cấm giới được thi thiết cho Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di; các thiện nam tử ấy dù cho đến mạng chung cũng không phạm giới.
- Nước trong đại hải rất sâu không đáy, rộng không thấy bờ. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, các pháp rất sâu không đáy, rất rộng không thấy bờ.
- Giống như nước trong đại hải cùng một vị mặn. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, chỉ có một vị là vị vô dục, vị giác, vị tịch tĩnh và vị đạo.
- Đại hải có rất nhiều trân bảo, vô lượng đồ quý báu lạ mắt; đủ các loại đồ trân kỳ được chứa đầy trong đó. Tên của các trân bảo đó là vàng, bạc, thủy tinh, lưu ly, ma ni, trân châu, bích ngọc, bạch kha, loa bích, san hô, hổ phách, mã não, đồi mồi, đá đỏ, tuyền châu. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, có rất nhiều trân bảo, vô lượng đồ quý báu lạ mắt; đủ các loại đồ trân kỳ được chứa đầy trong đó. Những pháp trân bảo đó là: Bốn niệm xứ,
Bốn chính cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám chi.
- Đại hải là chỗ cư trú của các vị thần lớn. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, có các thần to lớn, là Thánh chúng, đều cư trú trong đó. Tên của các thần to lớn đó là: A-la-hán, Hướng A-la-hán, A-na-hàm, Hướng A-na-hàm, Tư-đà-hàm, Hướng Tư-đà- hàm, Tu-đà-hoàn, Hướng Tu-đà-hoàn.
- Giống như đại hải thanh tịnh không dung chứa tử thi, nếu có người mạng chung trong biển, thì qua một đêm, gió sẽ thổi tấp vào bờ. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như vậy, Thánh chúng thanh tịnh không dung chứa tử thi. Nếu có người nào không tinh tấn, sanh ra điều ác, phi phạm hạnh mà xưng là phạm hạnh, phi Sa-môn mà xưng là Sa-môn; người ấy dù ở trong Thánh chúng, nhưng cách Thánh chủng rất xa; Thánh chúng cũng lại cách người ấy rất xa.
- Đại hải thuộc về châu Diêm-phù có năm sông lớn, là Hằng- già, Diêu-vưu-na, Xa-lao-phù, A-di-la-ba-đề, Ma-xí. Tất cả đều chảy vào đại hải. Chánh pháp luật của Như Lai cũng giống như thế; thiện nam tử, thuộc dòng Sát-lị, dòng Bà-la-môn, dòng cư sĩ, dòng thợ thuyền, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo; người ấy bỏ tên cũ, có tên chung là Sa-môn.
Sau khi trình bày tám pháp Vị tằng hữu trong Chánh pháp luật của Như Lai, Thế Tôn hỏi vua A-tu-la thấy thế nào? Vua A-tu-la thưa: Tám pháp Vị tằng hữu có trong đại hải của con không bằng tám pháp Vị tằng hữu của Như Lai; không bằng một phần ngàn, một phần vạn; không thể so sánh, không thể ví dụ, không thể đếm, không thể kể, chỉ có tám pháp Vị tằng hữu của Thế Tôn là cao hơn cả, là tối thắng, là vi diệu, là tối thượng.
Rồi vua của A-tu-la quy y Tam bảo, thọ trì năm giới, trở thành Ưu-bà-tắc.
36. Kinh Địa Động [101]
Nguyên do động đất
Phật trú tại nước Kim cang[102], thành Viết-địa[103]. Bấy giờ cõi đất bị chấn động mạnh[104]. Khi cõi đất bị chấn động mạnh, bốn mặt gió lớn nổi lên, bốn phương sao chổi mọc; nhà cửa, tường vách, tất cả đều sụp đổ. Tôn giả A-nan sợ hãi, đến bạch Đức Thế Tôn và hỏi về nguyên do động đất. Thế Tôn dạy, có ba nguyên nhân dẫn đến động đất, đó là:
- Nguyên nhân thứ nhất: do thay đổi khí hậu. Bởi cõi đất này y chỉ trên nước, nước y chỉ trên gió, gió y vào hư không, cho nên khi trong hư không nổi lên gió lớn thì nước bị khuấy động, nước bị khuấy động thì xảy ra động đất.
- Nguyên nhân thứ hai: do Tỳ-kheo có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hưu, có đại oai thần, tâm tự tại như ý túc, khi vị này khởi lên ý tưởng nhỏ đối với đất, khởi ý tường vô lượng tưởng đối với nước[105]. Do nguyên nhân ấy nên đất tùy theo sở dục, tùy theo ý tưởng của vị ấy mà bị xoáy rồi lại xoáy, chấn động rồi lại chấn động.
- Nguyên nhân thứ ba là khi Như Lai sắp vào Niết-bàn.
Tiếp theo là những pháp Vị tằng hữu của Thế Tôn. Thế Tôn xuất hiện bất cứ nơi đâu đều khiến cho chúng sanh nơi đó hài lòng.
37. Kinh Chiêm-ba [106]
Phật không thuyết giới khi ừong chúng không thanh tịnh
 

101 Tương đương Pãli: A. VIII. 70. Bhũmicõla.
[102]   Kim cang . Pãli: Vajirã, không thấy địa danh này trong Pãli. Có lẽ là Vajjĩ.
No.125(42-5), tại Xá-vệ. Bản Pãli: tại Vesãli.
[103]   Viết địa . Pãli, có lẽ phiên âm cùa Vajjĩ (cũng dịch là Bạt-kỳ), tên chủng tộc, cũng lầ tên Vưong quốc; nhưng không tìm thấy tên thành tương đương.
[104]   Tham chiếu, D.16, biến cố xảy ra tại Cãpãla, sau khi Thế Tôn chấp thuận lời thỉnh cầu cùa Ma vương, Ngài xả bỏ thọ hành. Tham chiếu N°.1 (2), tr.15b và tt.
[105]   Có bốn tưởng: tiéu tưởng, đại tưởng, vô lượng tưởng, vô sở hữu tưởng (Tập dị 6. tr.492 a).
[106]   Tương đương Pãli: A.VIII. 20. Uposatha.
 
Phật trú tại Chiêm-ba, ở bên hồ Hằng-già[107].
Bấy giờ nhằm ngày rằm trăng tròn, là ngày bố-tát tụng giới, nhưng do trong đại chúng có người không thanh tịnh, nên Thế Tôn không thuyết giới. Nếu Đức Như Lai ở giữa chúng bất tịnh mà thuyết Biệt giải thoát thì đầu người không thanh tịnh kia sẽ vỡ thành bảy mảnh. Rồi Thế Tôn nói tám pháp Vị tằng hữu trong Chánh pháp luật như đã được nói trong kinh A-tu-la.
38. Kinh Úc-già trưởng giả 1[108]
Thay Phật lập tức tỉnh rượu
Trưởng giả úc-già[109] cùng với các thể nữ vui chơi. Ông uống rượu say túy lúy, rồi bỏ các thể nữ đi vào trong Đại Lâm. Bấy giờ Thế Tôn đang ngồi giữa rừng cây. Vừa trông thấy Thế Tôn, trường giả úc-già lập tức tỉnh rượu. Sau khi tỉnh rượu, ông đến đảnh lễ Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho ông nghe. Sau thời pháp thoại, trưởng giả úc-già thấy pháp và đắc pháp, giác ngộ pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi, vượt qua hoặc, không còn tôn sùng ai khác, không còn theo ai khác, không còn do dự, đã trụ nơi quả chứng, được vô sở úy đối với giáo pháp của Thế Tôn.
Từ đó, ông trở thành Ưu-bà-tắc giữ gìn phạm hạnh, thành tựu tám pháp Vị tằng hữu, được Thế Tôn khen ngợi giữa đại chúng. Tám pháp Vị tằng hữu mà úc-già trưởng giả có là:
Thấy Đức Phật rồi, lập tức tỉnh rượu.
 

[107]   Chiêm-ba, Hằng-già trì , Pãli: hồ sen Gaggarã ở Campã. Ngũ ẹhần 28 tr.180c): Chiêm- ba quốc, Hằng thủy biên.Tứ Phẩn 36 (tr.824a): Chiêm-ba quốc Già-già hà trắc. Nhưng, A. Viii. 20: trú tại Sãvatthi, trong giảng đường của bà Migãramãtu (Visakhã), khu vườn phía Đông.
108 À. VIII. 21. Ugga.
[109]   Úc-già Trưởng giả . Pàli: Ugga-gahapoti. Có hai vị cùng tên. Vị Trưởng già Ở Vesali
(Pãli: Ugga-gahapati Vesãlika), được tán thán trong kinh 39 sau. Theo nội dung, vị Ugga (Pâli: Ugga-gahapati Hatthigãmaka) của kinh này tại làng Hatthigãma, thuộc xứ Vajji và là người thuộc bộ tộc Vajji.
 
- Lần đầu tiên nghe Phật thuyết pháp, ngay nơi chỗ ngồi thấy được Bốn Thánh đế.
- Từ khi theo Đức Thế Tôn, trọn đời lấy phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới, chưa từng biết mình đã phạm giới.
- Vì giữ giới, ông phải cho người vợ cả theo ý muốn của bà ta, hoàn toàn không có lòng hối tiếc.
- Chưa từng có lần nào con khinh mạn các vị Tỳ-kheo thượng tôn Trưởng lão, trung hay hạ.
- Khi cúng thí cho đại chúng Tỳ-kheo, chưa từng có ý phân biệt.
- Tự có tịnh trí để biết Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, và Thánh chúng của Như Lai khéo thú hướng.
- Hoàn toàn không có một kiết sử nào còn trói buộc dẫn đến thác sanh vào bào thai, ừở lại thế gian này.
39. Kinh Úc-già trưởng giả 2 110
Pháp Vị tằng hữu của ủc-già trưởng giả
Trưởng giả úc-già tổ chức đại bố thí như sau: Đãi ăn cho những khách từ phương xa đến, đãi ăn cho các hành khách, các bệnh nhân và các người nuôi bệnh; thường dọn cháo, thường dọn cơm, cung cấp cho người trông nom Tăng viện; thường mời đại chúng gồm hai mươi vị Tỳ-kheo đến thọ thực, cứ mồi năm ngày đều có mời chúng Tỳ-kheo đến thọ thực.
Các thầy Tỳ-kheo thấy vậy, sợ rằng gia sảacủa úc-già khánh kiệt, nên đề nghị Tôn giả A-nan đại diện chúng Tăng đến khuyên úc-già nên dừng việc bố thí lại. ức-già cho biết, nếu ông có thí xả
_____________________
110 Không thấy Pali tương đương. Đây có lẽ Ugga-gahapi Vesalika, gia chủ Ugga, người Vesali
như thế, có huệ thí như thể, dù tất cả tài vật đều khô cạn, cũng chỉ làm cho ông mãn nguyện thôi. Giống như ý nguyện của Chuyển luân vương vậy.
Tôn giả A-nan hỏi thế nào là ý nguyện của Chuyển luân vương? úc-già nói, ở đời, người nghèo thì muốn no đủ, người no đủ thì muốn giàu, người giàu thì muốn giàu hơn... duy chỉ có Chuyển luân vương là muốn làm một thiện nam tử, có thể cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo để thành tựu phạm hạnh vô thượng, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu và an trụ, biết như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vũng, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
Đó là pháp Vị tằng hữu của trưởng giả úc-già, muốn thực hiện ý nguyện như ý nguyện của Chuyến luân vương. Tiếp theo, úc-già cho biết ông còn bảy pháp Vị tằng hữu nữa, như được nói trong kinh Trưởng giả úc-già (cùng tên) ở trên.
40.41. Kinh Thủ trưởng giả [111]
Bốn phương pháp thâu nhiếp lỏng người
Phật trú tại A-la-tì Già-la[112], trong Hòa lâm. Bấy giờ, thủ trường giả (Hattaka), cũng gọi là ÃỊavaka, con trai của vua xứ ÃỊavi, cùng với năm trăm đại trưởng giả đi đến chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật.
Thủ trưởng giả đã dùng bốn nhiếp sự (tứ nhiếp pháp) là bổ thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự mà Đức Thế Tôn đã dạy để nhiếp hộ đại chúng và quyến thuộc của mình. Đức Thế Tôn khen ngợi và nói rằng, trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, nếu có Sa-môn,
 

111 Tương đương Pãli: A. VIII. 23 (~41 )-24 (~40). Hatthaka.
112 A-la-tì Già-la . Pãli: trú ở ÃỊavi, trong miếu AggaỊava. AggaỊava là một ngôi miếu tại ÃỊavi, Phật thường dừng chân tại đây, và cũng tại đây Phật thiết lập một số điéu khoản trong giới bổn Tỳ-kheo. ÃỊavi là một thị trấn cách Sãvatthi 30 do-tuán.
 
Bà-la-môn nào bằng như pháp nhiếp hóa đại chúng, thì tất cả những sự nhiếp hóa ấy hoàn toàn ở trong bốn sự nhiếp này. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thủ trưởng giả cùng đại chúng nghe.
Sau thời pháp thoại, thủ trưởng giả trở về nhà, trên đường đi, gặp bất cứ ai ông cũng thuyết pháp cho nghe khiến thành tựu hoan hỷ. Rồi ông ngồi kiết già, tâm câu hữu với từ, biến mãn khắp tất cả. Đến gần sáng, Tỳ-sa-môn Đại thiên vương đến thăm và khen ngợi, nhưng vì tôn trọng định tâm và để thủ hộ định tâm của mình, thù trường giả không nói cũng không nhìn.
Thế Tôn khen ngợi thủ trưởng giả có 8 pháp Vị tằng hữu, đó là có thiểu dục, có tín, có tàm, có quý, có tinh tấn, có niệm, có định, có tuệ.
e) Phẩm Tập tưong ưng
Gồm 16 kinh, nói về những nguyên nhân đưa đến kết quả tương ưng, chẳng hạn do nhân tu tập đúng Chánh pháp nên được quả giải thoát, và ngược lại.
42. Kinh Hà Nghĩa [113]
Mục đích của sự giữ giới
Tôn giả A-nan hỏi Đức Thế Tôn giữ giới có mục đích gì?
Thế Tôn trả lời: Nhân trì giới mà được không hối hận, nhân không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được hỷ, nhân hỷ mà được chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân lạc mà được định, nhân định mà có tri kiến như thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát, nhân giải thoát mà cỏ giải thoát tri kiến, biết đúng như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
 

113 Tương đương Pãli: A. X. 1. Kimatthiya.
 
43. Kinh Bất Tư [114]
Như kinh Hà Nghĩa. Ai giữ giới, người ấy được sự không hối hận. Tính của các pháp vốn là như vậy, pháp tánh vốn vậy[115].
Cho nên, người tu học Phật pháp không cần mong cầu. Nếu thực hành đúng Chánh pháp thì kết quả tự nhiên thành tựu, như giữ giới thì được không hối hận... mà không cần phải mong sao mình không có sự hối hận.
44. Kinh Niệm [116]
Thắp sáng chánh niệm
Tỳ-kheo nào không chánh niệm, không chánh trí thì chánh niệm bị tổn hại. Nếu không chánh niệm, chánh trí thì bị tổn hại là việc thủ hộ các căn, thủ hộ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chi, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu không giải thoát thì làm tổn hại Niết-bàn.
Ngược lại, nếu có chánh niệm, chánh trí thì chánh niệm không bị tổn hại... chắc chắn dẫn đến giải thoát, Niết-bàn.
45.46. Kinh Tàm Quỷ [117]
Tỳ-kheo nào không tàm không quý thì làm tổn hại ái và kỉnh. Không có ái và kỉnh thì làm tổn hại tín. Không có tín thì làm tổn hại chánh tư duy. Không có chánh tư duy thì hệ quả nhu đã nói trong kinh Niệm (44 trên).
Tôn giả Xá-lợi-phất đưa ra ví dụ cho trường hợp này cũng như cây nào mà lớp vỏ ngoài tổn hại thỉ lớp vỏ trong cũng hư. vỏ trong hư, nên thân, lõi, nhánh, cành, hoa, lá chắc chắn thảy đều tàn rụi.
 

[114] Tương đương Pãli: A. X. 2. Cetanã.
115 Hán: pháp tự nhiên  Pãli: dhammatã esã, pháp tánh là như thế.
116 Tương đương Pãli: A. VIII. 81. Sơti.
117 'Tương đương Pãli: A. VIII. 81 .Sati.
 
Ngược lại, người nào biết tàm biết quý thì dẫn đến giải thoát liền đắc Niết-bàn. Cũng giống như cây nào mà vỏ ngoài không bị hư tổn thì vỏ trong không bị hư hại...
47.48. Kinh Giới [118]
Đề đừng hối hận
Thế Tôn nói Tỳ-kheo phạm giới tất làm tổn hại việc thủ hộ các căn. Giữ giới thì không hối hận, hân hoan, hỷ, an chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu không giải thoát thì làm tổn hại Niết-bàn.
Tôn giả Xá-lợi-phất dùng hình ảnh để giải thích điều được Thế Tôn nói như kinh Tàm Quỷ.
49.50. Kinh Cung Kính [119]
Thực hành hạnh cung kính
Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo nên thực hành hạnh cung kính và khéo quán sát, kính trọng các đồng phạm hạnh, nhờ vậy nên pháp oai nghi đầy đủ, học pháp đầy đủ, dẫn đến chuỗi thành tựu đầy đủ năm phần hương là giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Có giải thoát tri kiến thân đầy đủ nên Niết-bàn đầy đủ Niết-bàn.
Ngược lại, nếu không thực hành hạnh cung kính và khéo quán sát, kính trọng các đồng phạm hạnh thì sẽ không thể đạt được giải thoát Niết-bàn.
51. Kinh Bổn Tế[120]
Khởi nguyên của cõi Dục
Bổn tế (purimā koṭi) tức là biên tế tối sơ, giớrhạn thời gian về trước (tức khởi thủy).
 

118 Tương đương Pāli: A. X. 3. Sila; A. X. 4. Upanisā.
119 Tương đương Pāli: A. V. 21-22 Gārava.
120 Tương đương Pāli: A. X. 61-62, Ãhāra.
 
Kinh trình bày chuỗi duyên khởi hình thành hữu ái. Đó là do thân cận ác tri thức. Do thân cận ác tri thức mới có sự nghe pháp ác. Do nghe pháp ác nên sanh lòng bất tín. Sanh lòng bất tín rồi liền không chánh tư duy. Không chánh tư duy thì không chánh niệm chánh trí. Không chánh niệm chánh trí thì không thủ hộ các căn. Không thủ hộ các căn rồi liền có đủ ba ác hành. Đủ ba ác hành liền có đủ năm triền cái. Đủ năm triền cái rồi, liền có đủ vô minh. Có đủ vô minh rồi, liền đầy đủ hữu ái.
Ngược lại, thân cận thiện tri thức liền có đủ sự nghe điều thiện. Nghe điều thiện liền có đủ tín. Có đủ tín liền có đủ chánh tư duy. Có đủ chánh tư duy liền có đủ chánh niệm chánh trí. Có đủ chánh niệm chánh trí mới có đủ sự thủ hộ các căn. Có đủ sự thủ hộ các căn liền có đủ ba diệu hành. Có đủ ba diệu hành liền có đủ bốn niệm xứ. Có đủ bốn niệm xứ liền có đủ bảy giác chi. Có đủ bảy giác chi liền đầy đủ minh giải thoát. Như vậy, minh giải thoát này lần lượt được thành tựu toàn vẹn.
52.53. Kinh Thực [121]
Tương tự kinh Bon Te, nói người ác là thức ăn (= nhân duyên) của ác tri thức, cho đến vô minh là thức ăn của hữu ái, cũng giống như tất cả ao rạch, sông ngòi... là thức ăn của biển cả. Ngược lại, người thiện là thức ăn của thiện tri thức, cho đến bảy giác chi là thức ăn của minh giải thoát.
54. Kinh Tận Trí
Tri kiến như thật là tri kiến về Tứ diệu đế
Chứng đắc lậu tận là có tri, có kiến, chứ không phải không tri, không kiến. Có tri, có kiến tức là tri kiến như thật về Tứ diệu đế.


[121] Tương đương Pâli: A. X. 61-62, Àhãra.

“Có tri, có kiến, mới có chứng đắc lậu tận, chứ không phải không tri, không kiến. Thế nào là có tri, có kiến mới chứng đắc lậu tận? Tri kiến như thật về Khổ liền chứng đắc lậu tận. Tri kiến như thật về Khổ tập, tri kiến như thật về Khổ diệt và tri kiến như thật về Khố diệt đạo liền chứng đắc lậu tận”.
Phần còn lại tương tự các kinh 51, 52 và 53.
55. Kinh Niết-bàn
Đường đến Niết-bàn
Nói Niết-bàn có tập chứ không phải không tập, tức là có nhân duyên dẫn đến, chứ không phải tự nhiên mà được Niết-bàn. Tập của Niết-bàn là giải thoát. Giải thoát có được nhờ vô dục, yểm ly. Vô dục, yểm ly có được là nhờ thấy rõ Tứ diệu đế và pháp Duyên khởi. Nói cách khác, thấy Tứ đế và pháp Duyên khởi là cái nhân duyên cho sự chúng đắc Niết-bàn.
“Như vậy, duyên là vô minh có hành; duyên hành có thức; duyên thức có danh sắc; duyên danh sắc có sáu xứ; duyên sáu xứ có xúc; duyên xúc có thọ; duyên thọ có ái; duyên ái có thủ; duyên thủ có hữu; duyên hữu có sanh; duyên sanh có già chết; duyên già chết có khổ. Tập khổ mới có tín; tập tín mới có chánh tư duy; tập chánh tư duy mới có chánh niệm chánh trí; tập chánh niệm chánh trí mới có thủ hộ các căn, hộ trì giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Có tập giải thoát mới chứng đắc Niết-bàn”.
56. Kinh Di-hê 122
Nên nương tựa thầy tổ làu dài cho vững chãi
___________________________
122 Tương đương Pãli: A. ix.3. Meghiya.
Phật trú tại nước Ma-kiệt-đà, trong một cái hang trong rừng Mãng-nại[123], thôn Xà-đấu[124]. Bấy giờ, Tôn giả Di-hê[125] làm thị giả Phật. Tôn giả thấy có một khu đất bằng phẳng ở vườn xoài rất đẹp, gần bờ sông Kim-tì[126], nên muốn đến đó độc cư hành pháp đoạn trừ[127]. Thế Tôn thấy Di-hê chưa có khả năng sống độc cư, nên viện lý do không có ai làm thị giả cho Thế Tôn, để lưu giữ Di-hê ở gần Thế Tôn cho đến khi có Tỳ-kheo khác đến làm thị giả rồi đi, nhưng Di-hê ba lần xin phép, buộc Thế Tôn phải đồng ý.
Tôn giả Di-hê sau khi rời xa Thế Tôn đến độc cư ở vườn xoài chưa được bao lâu thì sanh khởi lên ba tâm niệm ác bất thiện là tâm niệm dục, tâm niệm nhuế và tâm niệm hại[128]. Khi ấy, Tôn giả trở về bên Thế Tôn và trình bày lại sự việc. Thế Tôn nhân đó dạy 5 pháp tu tập và 4 pháp quán để tâm giải thoát thuần thục.
Năm pháp là sống chung hòa hợp với thiện tri thức, tu tập cấm giới, nói điều đáng nói, thường hành tinh tấn và tu hành về trí tuệ. Bốn pháp quán là quán bất tịnh để đoạn trừ dục, tu tâm từ để đoạn trừ sân nhuế, quán sổ tức để đoạn trừ tâm niệm tán loạn, quán vô thường để đoạn trừ ngã mạn.
Bản kinh cho thấy, mặc dù độc cư và viễn ly là hạnh tu cần thiết cho người xuất gia muốn đạt được mục đích giải thoát, nhưng nếu xét thấy minh chưa có khả năng ấy thì trước tiên phải thân cận thiện sĩ, nương tựa vào đại chúng để được che chở và bảo hộ.
 

[123]   Mãng nại lâm tức khu rừng xoài. Pāli: ambavana.
[124]   Xà-đấu thôn . Pāli: Jantugāma, gần làng Calikā. Pāli: trú ở làng Calikā, trên núi Cālikapabbata. Phật an cư vào mùa mưa ở đây vào các năm thứ 13,18 và 19, sau khi thành đạo. Calikapabbata là một ngọn đói màu trắng nên vào những đêm tối người ta thấy nó hình như chuyển động.
[125]   Di-hê, Pāli: Meghiya.
126 Kim-tì . Pāli: Kimikālā.
[127] Hán: học đoạn. Pāli: (...) padhānatthikassa padhānāya, để (tu tập) tinh cán cho ai tinh cần.
Theo bản Hán, đọc pahāna (đoạn trừ) thay vì padhāna (tinh cần).
128 Dục niệm nhuế niệm hại niệm. Pāli: kāmavitakka, vyāpādavitakka, vihiusāvitakka, suy cẩu tham dục, suy cẩu sân hận, suy cáu bức hại.
 
57. Kinh Tức Vị Tỳ-kheo Thuyết[1]
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rùng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô- độc, dạy cho các Tỳ-kheo 5 pháp tu tập và bốn pháp quán như đã nói trong kinh Di-hê.
f) Phẩm Vương tương ưng 1
Gồm 14 kinh, trình bày về nhân cách, phước báo, sự trị nước an dân và xuất gia tu hành của Chuyển luân Thánh vương, phần lớn là tiền thân của Đức Phật Thích-ca (phẩm Thượng gồm 7 kinh).
58. Kinh Thất Bảo [2]
Bảy báu của Như Lai
Khi Chuyển luân vương ra đời thì có 7 báu xuất hiện ở thế gian, là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, cư sĩ báu và tướng quân báu. Còn lúc Như Lai ra đời, thì có bảy báu giác chi (thất giác chi) xuất hiện ở thế gian. Đó là niệm giác chi, trạch pháp giác chi, tinh tấn giác chi, hỷ giác chi, khinh an giác chi, định giác chi và xả giác chi.
59. Kinh Tam Thập Nhị Tướng [3]
Thế Tôn có 32 tướng tốt
Kinh trình bày 32 tướng tổt của bậc đại nhân. Nếu bậc đại nhân có đủ 32 tướng tốt này, thì chắc chắn có hai trường hợp, chân thật không hư dối xảy ra là, ở tại gia thì làm Chuyển luân vương, xuất gia thì thành bậc Chánh giác.
60. Kinh Tứ Châu [4]
Lòng tham không đáy
 

129  A. IX. I. Sambodhi.
[130]   s. 46.42. Cakkavatti.
[131]   Tương đương Pãli: D. 30. Lakkhana Suttanta.
[132]   Divyâvadãna.
 
Tôn giả A - nan suy nghĩ: "Người đời thật hiếm, ít ai có thể thỏa mãn đối với dục; ít ai có sự nhờm tởm, ghê sợ dục cho đến chết". Sau jgi suy nghĩ như vậy, Tôn giả trình bày với Đức Tế Tôn. Đức Thế Tôn đồng ý quan điểm đó, rồi kể chuyện tiền nhân.
Trong quá khứ, có vua tên gọi là Đảnh Sanh, có châu Diêm - phù giàu có, hoan lạc cùng cực, nhân dân đông đúc có bảy báu, đầy đủ một ngàn người con, và ở trong cung mưa báu bảy ngày dâng đến đầu gối, lại có châu Cù -đà-ni, có châu Phất-bà-tì-đà-đề, có châu Uất-đan-viết, đã được vào nhà Chánh pháp của chư Thiên, lại được Thiên Đế- thích nhường cho một nửa chỗ ngồi, vậy mà Đảnh sanh vẫn chưa thỏa mãn, còn nảy sinh ý nghĩ đuổi Thiê Đế-thích đi, cướp lấy phân nửa chỗ ngồi ấy mà làm vua loài trời và loài người, tự do tự tại.
Khi ý nghĩ đó vừa khởi lên  thì Đảnh sanh bị rơi xuống châu Diêm-phù, liền mất như ý túc, nhuốm bệnh, đau nguy kịch. Đến lúc chết, ông trăn trối với các Đại thần rằng: Vua Đảnh Sanh đã hưởng đầy đủ các đặc tính của năm thứ dục lạc, sắc, thanh, hương, vị, xúc; nhưng khi chết vẫn chưa thõa mãn.
Đức Phật xác nhận, trong tiền thân đó, Ngài có được lợi ích, cũng có làm lợi lạc cho mọi người, nhưng không rốt ráo phạm hạnh nên không thể thoát khỏi khổ đau. Chỉ có kiếp hiện tại, khi Ngài xuất hiện ở thê gian, là Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, Minh Hạnh Túc Tựu, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Thế Tôn, Ngài mới làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho người khác, cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời và vì người mà cầu nghĩa lợi và lợi ích, cầu an ổn khoái lạc đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh, lìa khỏi mọi khổ đau.
61. Kinh Ngưu Phẩm Dụ 133
Không có gì tồn tại mãi mãi.
____________________
133 Tương đương Pali: S. XXII.96. Gomaya
Một Tỳ-kheo tư duy, suy nghĩ như vầy: “Có sắc nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn chăng? Có thọ, tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biển, chỉ toàn có lạc, tồn tại vĩnh viễn chăng?”.
Sau khi suy nghĩ như vậy, Tỳ-kheo đến bạch Thế Tôn và được chỉ dạy: “Không có một sắc nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn; không có thọ, tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biến, chi toàn có lạc, tồn tại vĩnh viễn”. Rồi Phật kể chuyện tiền thân.
Trong quá khứ, nhờ tu bố thí, điều phục và thủ hộ các căn mà Đức Phật hưởng quả báo thù thắng ở cõi trời và cõi người, có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần; nhưng tất cả những gì sở hữu đều phải tiêu diệt, cả đến như ý túc cũng phải mất; không có một sắc nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn; không có thọ, tưởng, hành, thức nào thường trú, bất biến, hoàn toàn chỉ có lạc, tồn tại vĩnh viễn.
Rồi Thế Tôn chỉ dẫn cho Tỳ-kheo quán ngũ uẩn là pháp vô thường, khổ, biến dịch, để đạt được tri kiến như thật rằng: tất cả những cái ấy chẳng phải là ta, chắng phải là sở hữu của ta, ta phải là sở hữu của cái kia. Nhờ tri kiến này mà nhàm chán ngũ uẩn, do nhàm chán mà vô dục; do vô dục nên giải thoát; sau khi giải thoát thì biết là giải thoát, biết đúng như thật rằng: Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa.
Tỳ-kheo ấy sau khi tiếp nhận lời dạy của Thế Tôn, tinh tấn thực hành, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.
62. Kinh Tần-tì-sa-la vương nghinh Phật[134]
Nếu không có ‘Ta thì ‘Ai’thọ nhận quả báo?
Phật trú tại nước Ma-kiệt-đà cùng với một nghìn đệ tử, trong đó có ba anh em Tôn giả Ca-diép và những học trò của ba vị này
 

134 cf. Vinaya, Mahãvagga, v.1.22.
 
trước khi xuất gia theo Phật. Bấy giờ, vua xứ Ma-kiệt-đà là Tần-tì- sa-la[135] cùng vô số thuộc hạ nghe tin Phật và đại chúng đang ở trong nước mình thì kéo đén chỗ Phật. Đây có thể là lần diện kiến Đức Thế Tôn đầu tiên của vua quan xứ Ma-kiệt-đà.
Trong lần diện kiến này, vua quan xứ Ma-kiệt-đà phân vân không biết Tôn giả uất-tỳ-la Ca-diếp[136] là đệ tử của Phật, hay Phật là học trò của uất-tỳ-la Ca-diếp, bởi mọi người đều đã biết và xem Tôn giả là bậc Đại tôn sư, bậc Chân nhân Vô trước. Đức Thế Tôn biết tâm niệm đó của đại chúng, nên đã bảo Tôn giả uất-tỳ-la Ca-diếp hiển hiện Như ý túc cho chúng hội này được vui lòng và tin tưởng, nhưng mục đích là để mọi người biết ai là thầy, ai là học trò.
Những người xứ Ma-kiệt-đà sau khi thấy như vậy liền nghĩ không phải Sa-môn Cù-đàm theo uất-tỳ-la Ca-diếp học phạm hạnh mà chính uất-tỳ-la Ca-diếp theo Sa-môn Cù-đàm để học phạm hạnh. Thế Tôn biết tâm niệm của những người xứ Ma-kiệt-đà đã phát sanh niềm tin, liền thuyết pháp cho mọi người nghe, pháp thoại được nói theo thứ tự, từ thấp lên cao, cho đến năm uẩn là vô ngã.
Bấy giờ, người xứ Ma-kiệt-đà suy nghĩ: “Nếu như sắc là vô thường; thọ, tưởng, hành, thức là vô thường, thì ai làm, ai thọ nhận khổ, lạc?".
Đức Phật dạy: “Hàng phàm phu ngu si không học, thấy ngã là ngã mà đăm trước nơi ngã, nhưng thực ra không có ngã, không có ngã sở. Ngã vốn không, ngã sở vốn không; pháp khi sanh thì sanh, pháp khi diệt thì diệt; thảy đều do nhân duyên hội tụ mà sanh khổ. Nếu không có nhân duyên thì các khổ liền diệt. Chúng sanh do duyên tụ hội liên tục mà sanh các pháp. Như Lai sau'khí thấy chúng sanh liên tục sanh ra nên nói ‘có sanh có tử’. Ta bằng thiên nhãn
 

135  Ma-kiệt-đà vương Tần-tì-sa-la,  Pãlĩ:  Bimbisãra   Magadha-răja.
[136]   uất-tỳ-la Ca-diếp . Pãli: Uruvela-Kassapa, anh cả trong ba anh em, thuộc hàng tông sư của ngoại đạo bện tóc.
 
thanh tịnh hơn hẳn người thường, thấy như thật về chúng sanh này, lúc tử lúc sanh, hoặc đẹp hoặc xấu, hoặc diệu hoặc bất diệu, qua lại thiện xứ, hoặc bất thiện xứ, đều tùy theo nghiệp mà chúng sanh ấy đã tạo, và thấy đúng như thật”.
Sau thời pháp thoại, vua nước Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp sanh khởi và tám vạn chư Thiên, một vạn hai ngàn người xứ Ma-kiệt-đà xa lìa trần cấu, pháp nhãn về các pháp sanh khởi. Từ đó, Tần-tì-sa-la quy y Tam bảo, trở thành đệ tử Ưu- bà-tắc.
63. Kinh Tỳ-bà-lăng-kỳ [137]
Dấu xưa còn lại chon này
Phật trú tại nước Câu-tát-la[138]. Bấy giờ, Đức Thế Tôn và đại chúng Tỳ-kheo cùng đi trên đường; giữa đường, Ngài mỉm cười rạng rỡ, bởi Ngài thấy dấu tích, chỗ ngồi, mà khi xưa, trong quá khứ, tùng là giảng đường của Đức Ca-diếp Như Lai thuyết pháp cho các đệ tử. Tôn giả A-nan liền trải chỗ ngồi ngay nơi chỗ Thế Tôn Ca-diếp thuở xưa đã ngồi và thỉnh Thế Tôn thuyết pháp. Đức Phật liền ngồi xuống đó thuật lại sự kiện xảy ra tại nơi vùng đất này thời Phật Ca-diếp.
Thuở ấy, Phật Ca-diếp có một người đệ tử trung kiên làm thợ đồ gốm tên là Nan-đề-bà-la[139], quy y Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, không nghi ngờ Ba ngôi tôn quý, không nghi hoặc Khổ, Tập, Diệt, Đạo; có tín, có giới, học rộng, ưa bố thí, thành tựu trí tuệ; xa lìa sát sanh, đoạn trừ sự sát sanh, xả bỏ đao gậy, biết tàm, biết quý, có tâm từ bi, làm lợi ích tất cả cho đến loài côn trùng. Đối với tâm niệm sát sanh, vị ấy đã tịnh trừ...
 

[137]   cf. M. 81. Ghaṭīkāra Sutta.
138 Câu-tát-la .Pāli: Kosala.
139 Nan-đề-bà-la đào sư , theo đây Pāli có thể Ià Nandipāla. Nhưng bản Pāli tham chiếu: Ghaṭīkāra (thợ gốm).
 
Đức Phật Ca-diếp từng thụ thực ở nhà của Nan-đề-bà-la bằng cách tự phục vụ ừong khi anh vắng nhà, còn cha mẹ anh ta thì mù lòa, khiến cho anh có hỷ lạc suốt hai tuần, cha mẹ anh có hỷ lạc một tuần. Cũng có lần Đức Phật Ca-diếp rút tranh cỏ trên ngôi nhà nghèo của anh thợ gốm để lọp tịnh thất của Ngài. Sự kiện này khiến gia đình Nan-đề-bà- la hạnh phúc trong một thời gian dài. Đặc biệt, dù nhà Nan-đề-bà-la trống mái nhưng mưa nắng không lọt vào nhà. Thật là kỳ diệu!
Đức Phật cũng đã từ chối lời thỉnh cầu của vua Giáp-tỳ, khi vua thỉnh cầu Ngài cùng chúng Tăng an cư mùa mưa tại Ba-la-nại, vì Ngài đã nhận lời của anh thợ gốm Nan-đề-bà-la, an cư tại thôn Tì-bà-lăng-kỳ. Qua đó, Đức Phật Ca-diếp còn chỉ cho vua Giáp-tỳ thấy người thợ gốm vượt trội hơn nhà vua về nhiều phương diện, bởi vua có điều không nhẫn được, có điều không thích thú, nên tâm quá ưu sầu.
Nan-đề-bà-la có một người bạn thân là đồng tử Ưu-đa-la, con trai Bà-la-môn đại trưởng giả Vô Nhuế. Anh này không thích gần gũi những người xuất gia trọc đầu. Nhung trong một lần nghe lời Nan-đề-bà-la, Ưu-đa-la đã đến đảnh lễ Đức Phật Ca-diếp và được nghe pháp. Sau thời pháp thoại ấy, đồng tử Ưu-đa-la đã xuất gia. ưu-đa-la chính là tiền thân của Đức Thế Tôn.
Bản kinh cho thấy, người chứng đắc Thiên nhãn minh, đặc biệt là Túc mệnh minh, có thể thấy và nghe được ảnh tượng cũng như âm thanh đã diễn ra trong quá khứ xa xưa. Như vậy, phải chăng thiên nhiên hay pháp tánh có ghi lại các hình ảnh và âm thanh đó? Thực tế, thì những ảnh tượng và âm thanh đều được ghi lại trong tàng thức. Nhưng những ảnh tượng và âm thanh mà bậc giác ngộ nhìn thấy, nghe được không phải chỉ đơn giản là ảnh tượng và âm thanh của ký ức hay độc ảnh cảnh phản ánh trong tàng thức, mà diễn ra rõ ràng giữa thế giới, điều này cho phép chúng ta liên tưởng đến khả năng lun giữ hình ảnh và âm thanh của pháp tánh. Và điều này có thể hé mở cho một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, nhằm tái hiện thế giới thời khởi nguyên.
64. Kinh Thiên Sứ[140]
Tội này thiên sứ đã ghi
Tự làm tự chịu có gì oan đâu?
Đức Phật dạy, các chúng sanh tùy theo nghiệp của mình đã tạo mà thọ sanh vào các cảnh giới tương ứng. Nếu thân, khẩu, ý ác hành, không hiếu thảo với cha mẹ, không biết kính trọng Sa-môn, Bà-la- môn, không làm đúng như thật, không tạo phước nghiệp, không sợ tội đời sau, thì do nhân duyên ấy, khi thân hoại mạng chung, chắc chắn đi đến chỗ dữ, sanh vào địa ngục, sau khi đọa địa ngục sẽ bị Diêm vương trị tội với sự cật vấn của 5 thiên xứ. Còn chúng sanh nào thành tựu thân thiện hành, khẩu, ý thiện hành, không phỉ báng Thánh nhân, có Chánh kiến, thành tựu mười nghiệp lành, thì do nhân duyên đó, khi thân hoại mạng chung, chúng sanh này chắc chắn đi đến chỗ lành, sanh vào cõi trời.
Phần sau của kinh mô tả cảnh địa ngục mà chúng sanh phải chịu khổ trong đó, khổ đau đến nỗi vua Diêm vương cũng mong được nghe lời dạy của Phật để thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Bản kinh có giá trị thức tỉnh chúng ta phải nỗ lực tinh cần tu học để thoát khỏi nỗi khổ đau, nỗ lực xa lìa nghiệp ác và làm việc thiện.
B. Ngày thứ hai tụng 4 phẩm rưỡi
Gồm có 52 kinh.
g) Phẩm Vương tương ưng 2
Phẩm hạ, 7 kinh.
65. Kinh Ô Điểu Dụ [141]                                     >
Đời song bấn
 

[140]   Tương đương Pāli: M. 130. Devadūta Sutta.
[141]   Chưa tìm thấy Pāli tương đương.
 
Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa. Bấy giờ, có một Bà-la-môn muốn đi xem Chuyển luân vương thử châu báu, nhưng sau đó không đi mà vào rừng ngồi dưới một gốc cây. Tại đây, Bà-la-môn lần lượt gặp và trò chuyện với con rái cá, chim cứu-mộ[142], kên kên, chim ăn bả143 con sói, con quạ và con đười ươi.
Những con vật này khi đi đâu cũng sợ loài người, chỉ có đười ươi là không sợ. Mỗi con vật và đời sống của nó là một ví dụ cho một hạng Tỳ-kheo có đời sống tương ưng. Chắng hạn, Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống, vào buổi sáng sớm mang y ôm bát vào thôn khất thực mà không thủ hộ thân, không thủ hộ các căn, không an trụ chánh niệm, nhưng vị ấy lại thuyết pháp; những pháp hoặc do Phật thuyết, hoặc do Thanh-văn thuyết. Nhờ đó vị ấy được lợi, như được áo chăn, đồ ăn, thức uống, giường nệm, thuốc thang, đầy đủ các nhu cầu cho sự sống. Sau khi được lợi, vị ấy càng đấm trước xúc chạm mềm mại, không thấy tai họa, không thể xả bỏ, mặc tình thọ dụng. Tỳ-kheo ấy thực hành ác giới, thành tựu ác pháp, đứng sát bờ mé, trở nên tệ mạt, hủ bại, không phải phạm hạnh mà tự xung là phạm hạnh, không phải Sa-môn mà tự xung là Sa-môn... Đó là Tỳ- kheo sống như con rái cá, như con chim cứu-mộ...
Còn Tỳ-kheo nào nương vào thôn ấp mà sống, vào buổi sáng sớm mang y cầm bát vào thôn khất thực, khéo thù hộ thân, gìn giữ các căn, vững vàng chánh niệm. Từ thôn ấp khất thực rồi, ăn xong. Sau khi thu xếp y bát, rửa tay chân xong vắt ni-sư-đàn lên vai, đi đến nơi rừng vắng, hoặc đến dưới gốc cây, hoặc vào nhà trống, trải ni-sư-đàn mà ngồi kiết già, chính thân, chính nguyện, chuyên niệm hướng nội, đoạn trừ tham lam, muốn cho mình được tâm không não hại; thấy của cải và vật dụng sanh tồn của người khác không móng
 

142 Cứu-mộ điểu,   không rõ chim gi.
143 Thực thổ điểu, chim ăn đồ (do thú khác) ói ra.
khởi tâm tham lam mong sẽ được về mình. Đối với tâm tham lam vị ấy đã tịnh trừ. Cũng vậy, đối với sân nhuế, thùy miên, trạo hối, đoạn nghi, độ hoặc, ở trong thiện pháp không còn do dự... Cho đến Tỳ- kheo ấy chứng đắc thánh quả, như thật biết rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’. Đó là Tỳ-kheo có đời sống như đười ươi.
Rồi Đức Phật kết luận: Các Tỳ-kheo chớ sống nhu loài rái cá, chớ sống như chim cứu-mộ, chớ sống như kên kên, chớ sống như chim ăn bã, chớ sống như con sói, chớ sống như quạ, mà nên sống như đười ươi. Lý do vì sao? Bởi vì Bậc Vô trước chân nhân trong thế gian giống như đười ươi.
Đây là bản kinh vô cùng quan trọng mà mỗi người xuất gia cần phải nghiêm túc thọ trì, đọc tụng và chiêm nghiệm đời sổng của bản thân mình. Phải chăng chúng ta cũng đang thuyết pháp cho Phật tử? Cho các đồng phạm hạnh? Cho các Tỳ-kheo-ni? Và hơn một lần chúng ta đã lớn tiếng chỉ trích, mạ lỵ, huênh hoang... với các Tỳ- kheo khác? Nhưng đời sống của mình như thế nào? Như đười ươi? Hay cũng chỉ như con rái cá, kên kên, con quạ?
66. Kinh Thuyết Bản [144]
Nguyên thành Phật đạo
Một thời, Phật trú tại Ba-la-nại, trong vườn Lộc dã. Bấy giờ, các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường và nghị luận rằng: trong hàng cu sĩ tại gia, ai là người thù thắng nhất? Phải chăng là người có các Tỳ- kheo trì giới, diệu pháp, thành tựu oai nghi đến nhà thọ thực? Hay là người mà lợi lộc cứ tăng lên mỗi ngày, gấp trăm ngàn vạn lần?
Khi ấy, Tôn giả A-na-luật nói: Lợi lộc gấp trăm ngàn vạn lần thì có nghĩa gì? Giả sử có nhiều hơn nữa thì chỉ có điều này là chí yểu: nếu có một Tỳ-kheo trì giới diệu pháp, thành tựu oai nghi đến
 

144 cf. Theragāthā. 910-919.
 
 nhà thọ thực, chứ không phải ngày ngày lợi lộc càng tăng gấp trăm ngàn vạn lần. Rồi Tôn giả kế chuyện tiền thân của chính mình.
Thuở ấy, Tôn giả là một người nghèo khổ ở nước Ba-la-nại, sống bằng nghề lượm mót. Nhờ có nhân duyên cúng dường một bữa ăn cho Phật Bích-chi Vô Hoạn mà bảy lần được sanh lên trời, được làm Thiên vương; bảy lần tái sanh vào loài người lại làm bậc Nhân chủ; rồi được tái sanh vào dòng họ Thích, giàu có vô cùng; lại được xuất gia; sau khi xuất gia được vua chúa, vương thần, Bà-la-môn, cư sĩ và tất cả nhân dân thấy là tiếp đãi; bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo- ni, Ưu-bà-tắc và ưu-bà-di thấy thì kính trọng...
Tiếp theo, vào buổi chiều, Thế Tôn đến giảng đường, nói cho các Tỳ-kheo nghe nhân chuyện vị lai mà Phật thuyết pháp. Theo đó, thời gian lâu xa về sau, khi tuổi thọ con người đạt đến tám vạn tuổi sẽ có một vị Chuyến luân vương ra đời cai trị thiên hạ bằng Chánh pháp, khiến cho muôn dân an lạc, bố thí rộng khắp. Sau đó vua xuất gia tu học, thành tựu phạm hạnh. Vua ấy chính là Tôn giả A-di-đa[145], đệ tử của Phật hiện đang có mặt trong đại chúng.
Cũng trong khoảng thời gian lâu xa ở tương lai, lúc con người thọ tám vạn tuổi, sẽ có Phật Di-lặc ra đời, như Phật Thích-ca hôm nay chẳng khác. Phật Di-lặc ấy cũng chính là Tôn giả Di-lặc, đệ tử của Phật Thích-ca, hiện đang có mặt trong đại chúng.
Như vậy, trong bản kinh này, Đức Thế Tôn thọ ký cho hai người đệ tử, một sẽ thành vua là Tôn giả A-di-đa; một sẽ thành Phật là Tôn giả Di-lặc.
Điểm đáng chú ý là, khi Tôn giả A-di-đa phát nguyện làm vua tên Loa ở đời vị lai thì bị Thế Tôn khiển trách, cho là kẻ ngu si, vì
 

145 A-di-đa, Pãli:Ajita.Trong bản kinh này, A-di-đa (Ajita) và Di-lặc (Metteya) là hai nhân vật được thọ ký, một người làm vua và một người làm Phật.
 
trong biển sanh tử luân hồi, chỉ nên chết thêm một lần, sao lại mong một lần tái sanh nữa? Dù vậy, có lẽ pháp bổn như vậy, nên Thế Tôn đã thụ ký cho Tôn giả A-di-đa.
Trong khi đó, Tôn giả Di-lặc phát nguyện thành Phật ở đời vị lai thì được Thế Tôn khen ngợi là người đã phát tâm cực diệu, được Thế Tôn tặng cho tấm y dệt bằng sợi tơ vàng.
Đúc kết bản kinh, có hai điểm cần ghi nhớ: một là, sự quý báu nhất của đời người là được thân cận thiện sĩ, hay nói cách khác là được bố thí cúng dường cho người tu hành chân chính, giới hạnh trang nghiêm; hai là, cần phải phát tâm rộng lớn, ước muốn thành Phật để cứu độ chúng sanh.
67. Kinh Đại Thiên Nại Lâm [146]
Thiệu long thánh chủng
Đức Phật trú tại nước Tì-đà-đề cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đi đến Di-tát-la, trú trong rừng xoài của Đại Thiên[147].
Trong rừng xoài này, Thế Tôn đã thấy lại ảnh tượng quá khứ xa xưa, thời đại của Chuyển luân vương có tên gọi là Đại Thiên[148]. Đó là tiền thân của Đức Phật Thích-ca, người đầu tiên mở ra truyền thống trị vì đất nước bằng Chánh pháp rồi sau đó xuất gia tu đạo. Truyền thống ấy được tiếp nối đến đời con, đời cháu, từ dòng họ đến dòng họ, lần lượt có đến tám vạn bốn ngàn Chuyển luân vương, từng cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, học Tiên nhân vương, tu hành phạm hạnh, tại Di- tát-la, trú trong rừng xoài Đại Thiên.
 

146 Tương đương Pāli: M. 83. Makhādeva-Sutta.
147Tì-đà-để . Pāli: Videha, mà thủ phủ là Mithilā (Di-tát-la ). Đại thiên Nại lâm, là khu rừng xoài của Makhādeva (bản Hán đọc là Mahādeva), một vị vua trong thời quá khứ mà triều đại tiếp theo thuộc về Okkāka, tổ phụ cùa dòng họThích.
148 Đại Thiên Pāli: Makhādeva (hoặc viết Maghadeva).
 
Thuở ấy, tiền thân của Thế Tôn, Chuyển luân vương Đại Thiên tự làm lợi ích cho mình, cũng làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, vì trời và vì người mà cầu nghĩa lọi, lợi ích và an ổn khoái lạc. Nhưng Ngài thuyết pháp vẫn chưa đến chỗ rốt ráo, không rốt ráo bạch tịnh, không rốt ráo phạm hạnh. Vì không rốt ráo phạm hạnh, nên không thoát ly khỏi sự sanh, tuổi già, bệnh tật, sự chết, khóc than, áo não; cũng chưa thể thoát ra ngoài mọi khổ đau. Nay, Thế Tôn mới mở ra đúng truyền thống Chánh pháp, truyền thống thực hành phạm hạnh, thực hành Bát Thánh đạo, đưa đến Niết-bàn.
Thế Tôn dạy phải chuyển giao pháp kế thừa này lại, chớ để cho Phật pháp dứt đoạn. Đó là nhiệm vụ của mỗi chúng ta.
68. Kinh Đại Thiện Kiến [149]
Đất này, xưa kia từng là Tịnh độ
Phật trú tại thành Câu-thi[150], trú trong rừng Sa-la của Hòa-bạt- đơn lực sĩ[151]. Bấy giờ Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn.
Tôn giả A-nan ngỏ lời muốn Thế Tôn nhập Niết-bàn ờ những thành phố khác lớn hơn, còn thành Câu-thi này nhỏ bé quá, không xứng với Thế Tôn. Thế Tôn bảo A-nan chớ nên chê thành Câu-thi này là nhỏ bé, bởi trong quá khứ nó đã từng là Câu-thi vương thành, giàu có cùng tột, dân chúng đông đúc, và xinh đẹp như một Tịnh độ.
Quốc chủ của Câu-thi vương thành thuở ấy là Đại Thiện Kiến, cũng là tiền thân của Thế Tôn, đã từng tu tập Bốn tâm vô lượng, làm lợi ích cho mình và cho người, như được nói ữong các tiền thân trước.
Bản kinh tương đương một phần của kinh Du Hành, thuộc Trường A-hàm.
 

[149] Tương đương Pāli: D. 17. Mahāsudassana Suttanta.
150 Câu-thi thành . Pāli: Kusinārā.
151 Hòa-bạt-đơn lực sĩ . Pāli: Upavattana-Mallā, bộ tộc Mallā ở Upavattana.
 
Có một chi tiết cần chú ý thêm là, người thương yêu ta không phải là những người nói lời êm ái, dịu dàng đầy tính chất trữ tình, mà là người biết khuyên ta những lời này: Mạng người ngắn ngủi, rồi sẽ đi qua đời sau, nên phải tu phạm hạnh. Sự sống cũng có lúc chấm dứt. Nên biết, pháp ấy chắc chắn đến, không thể ái niệm, không thể hoan hỷ, hoại diệt tất cả, người đời gọi là ‘sự chết’. Cho nên, nếu có ái niệm, có dục đối với tài sản, vợ con... thì phải đoạn trừ, xả ly tất cả, cho đến lúc mạng chung vẫn chớ niệm tường.
69. Kinh Tam Thập Dụ [152]
Đẹp sao Thánh chúng này
Đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong vườn Ca-lan-đa, rừng Trúc, cùng an cư mùa mưa với đại chúng Tỳ-kheo. Bấy giờ nhằm ngày rằm thuyết giới. Thế Tôn nhập định quán tâm các Tỳ-kheo, thấy chúng Tỳ-kheo tĩnh tọa im lặng, rất im lặng, không có thụy miên vì đã dứt trừ ấm cái. Thế Tôn liền hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất ràng: Ai là người có thể kính trọng, phụng sự chúng Tỳ-kheo?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời: Chỉ có Đức Thế Tôn mới có thể phụng sự, kính trọng Pháp và chúng Tỳ-kheo, phụng sự bằng giới, bất phóng dật, bố thí và định. Chỉ cỏ Đức Thế Tôn mới có thể kính trọng, phụng sự mà thôi.
Thế Tôn xác định lời đó, rồi dùng 30 vật sở hữu cao quý của vua và đại thần dùng làm đồ trang sức, quyến thuộc để dụ cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni cũng dùng 30 pháp tu tập để trang nghiêm đời sống phạm hạnh của mình. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni dùng giới đức để làm đồ trang sức. Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào thành tựu giới đức để dùng làm đồ trang sức, thảy đều có thể xả bỏ điều ác, tu tập điều thiện.
 

[152] Chưa tìm thấy Pãli tương đương.
 
Bản kinh nêu rõ, đồ trang sức của Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni là giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến, mà không phải là những hào nhoáng bên ngoài như hạt chuỗi cườm, hay y áo được là ủi bóng loáng... Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni nào thành tựu việc quán tâm mình, khiến cho thân tâm tịch tịnh, vị ấy có thể kính trọng, phụng sự Thế Tôn, Pháp và chúng Tỳ-kheo, phụng sự bằng giới, bất phóng dật, bố thí và định, chứ không phải phụng sự Thế Tôn bằng cách xây chùa to, Phật lớn!
70. Kinh Chuyển Luân Vưong 153
Xem kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành, Trường A-hàm.
71. Kinh Tì-tứ 154
Xem kinh Tệ-tủ, Trường A-hàm.
h) Phẩm Trưcmg Thọ Vương
Gồm 15 kinh, gồm một số kinh nói về tiền thân của Phật Thích- ca, một số còn lại nói về giới luật hoặc liên quan:
72. Kinh Trường Thọ Vương Bổn Khởi[155]
Những kinh nghiệm tâm linh của Thế Tôn
Bấy giờ các Tỳ-kheo ở Câu-xá-di đã nhiều lần cãi vã nhau[156], mặc dù Thế Tôn đã nhắc nhở, khuyên các Tỳ-kheo hãy nên thực hành hạnh nhẫn nhục, bởi nhẫn nhục là pháp tối thượng.
 

[153]   Tương đương Pāli: D. 26. Gakkavatti sĩhanāda Suttanta.
154  Tương đương Pāli: D. 23. PāyāsiSuttanta
155 Tương đương Pāli: M. 128. UpakkilesaSutta.
[156]   Một cuộc tranh chấp lịch sử xảy ra tại đáy, được ghi lại trong hầu hết Luật tạng.
Tứ phẩn 43 (tr. 879b24): Kiển-độ 9 Câu-thiểm-di;Thập tụng 30 (tr. 214a21): Câu-xá-di pháp. Pāli, Mahāvagga X. Kosambakakkhandho, Vin.i. 336ff.
 
Rồi Đức Thế Tôn kể câu chuyện tiền thân, nêu cao hạnh nhẫn nhục của cha con vua Trường Thọ[157]. Quốc vương Trường Thọ bị vua Phạm-ma-đạt-đa nhiều lần đánh chiếm, nhưng không thắng nổi; cuối cùng vua Trường Thọ vì không muốn thấy cảnh chiến tranh làm hại sanh linh vô tội nên đã bỏ nước trốn đi, chấp nhận cảnh sống lưu vong; nhung rồi cũng bị vua Phạm-ma-đạt-đa bắt tử hình. Trước khi chết, Trường Thọ dặn con trai là đồng tử Trường Sanh hãy lấy lòng nhân từ mà đối xử với kẻ thù, đừng nên lấy oán trả oán. Đen khi Trường Sanh có cơ hội trả thù cho cha, cho nước, nhưng nhớ lời phụ vương, thực hành lòng nhân từ và nhẫn nhục, Trường Sanh đã không ra tay. Vua Phạm-ma-đạt-đa cảm mến ơn đức ấy, liền trao trả đất nước lại cho Trường Sanh, trở về bổn quốc.
Mặc dù Thế Tôn ba lần can gián và thuyết pháp như thế, các Tỳ- kheo ở Câu-xá-di vẫn cố chấp không vâng lời, khiến Thế Tôn không hài lòng, Ngài bèn dùng như ý túc cỡi hư không mà đi đến thôn Bà-la-lâu-la. Tại đây, Thế Tôn gặp Tôn giả Bà-cửu, người dòng họ Thích, tu tập rất tinh tấn và có pháp lạc. Thế Tôn thăm hỏi rồi thuyết pháp khiến cho Tôn giả được lợi.
Rồi Thế Tôn đến rừng Hộ tự. ở đây, cũng có một con voi chúa vừa thoát khỏi sự quấy rầy và phiền nhiễu của đám voi cha, voi mẹ, voi con lớn nhỏ. Thế Tôn đã nói một bài kệ diễn tả tâm trạng vui thích đòi sống độc cư của mình cũng như của voi chúa.
Từ rừng Hộ tự, Như Lai mang y cầm bát đi đến rừng Ban- na-mạn-xà-tự. Bấy giờ có ba thiện nam tử trú trong rừng Ban- na-mạn-xà-tự, là Tôn giả A-na-luật-đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la. Cả ba người đều sống theo một quy ước, mà sau này, Thế Tôn đã thuyết thành sáu pháp Lục hòa.
 

157 Câu-sa-la Quốc vương Trường Thọ. Chuyện tién thân này cũng được tim thấy trong bản Trường Thọ Vương kinh (No.161, tr. 386 - 388). Cí.Tứ phẩn 43 (tr. 880bl8); Pāli (Vin.i. tr. 342): Dī ghīti.
 
Tại đây, Thế Tôn đã giảng giải về cảnh giới của định cho cả ba Tôn giả nghe. Đó là những kinh nghiệm tâm linh mà Thế Tôn đã từng trải nghiệm và chứng đắc.
Bản kinh gợi cho người đọc một cảm giác buồn man mác. Bởi ngay khi Thế Tôn còn tại thế, đời sống của chúng Tăng đã có những xích mích dẫn đến tranh cãi mà ngay cả Thế Tôn can gián vẫn không dập tắt được. Thế mới thấy rõ bản chất vô minh, phiền não của chúng sanh cang cường đến dường nào! vẫn biết cuộc tranh chấp lịch sử này, sau đó, các Tỳ-kheo đã nhận hậu quả bị quần chúng Phật tử tẩy chay và đã ăn sám hối, nhưng vẫn để lại một ấn tượng không tốt đẹp trong pháp luật Thế Tôn, vốn thanh tịnh và hòa hợp như nước với sữa!
73. Kinh Thiên 158
Những tháng ngày tu tập của Thế Tôn
Đức Phật trú tại Chi-đề-sấu, trong rừng Thủy chử. Bấy giờ, Thế Tôn kể cho các Tỳ-kheo nghe đoạn đường tu tập của Thế Tôn thuở chưa đắc đạo giác ngộ.
Vì để có tri kiến cực kỳ minh tịnh, tri kiến về chư Thiên với tám sự lưu chuyển mà Thế Tôn sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần. Nhân sống cô độc tại nơi xa vắng, tâm không phóng dật, tu hành tinh cần, nên Thế Tôn đạt được ánh sáng, liền thấy hình sắc và cùng chư Thiên kia tụ hội, cùng chào hỏi nhau, cùng luận thuyết, cùng đối đáp, biết chư Thiên ấy có họ như vậy, tên như vậy, sanh như vậy; biết chư Thiên ấy ăn như vậy, thọ khổ lạc như vậy; biết chư Thiên ấy trường thọ như vậy, tồn tại lâu như vậy, mạng tận như vậy; biết chư Thiên ấy tạo nghiệp như vậy, đã chết nơi này và sanh nơi kia như vậy; biết chư Thiên ở trong nhũng cõi trời ấy; và cũng biết ờ cõi trời ấy Thế Tôn đã từng sanh vào.
_______________________
158 Tương đương Pāli: A.VIII. 64. Gayā
Thế Tôn biết được một cách chân chính tám hành này thì mới có thể nói một cách xác định đã chứng đắc; đồng thời Thế Tôn cũng biết rằng Ngài đã đắc đạo giác ngộ Vô thượng Chánh chơn, đối với Chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, Như Lai siêu việt lên trên.
74. Kỉnh Bát Niệm 159
Tám điểu suy niệm của bậc đại nhân
Tôn giả A-na-luật-đà suy niệm được bảy điều mà từ đó dẫn đến sự chứng đạo. Đó là, đạo chứng được từ vô dục, tri túc, viễn ly, tinh cần, chánh niệm, định tâm, trí tuệ.
Đức Thế Tôn bằng tha tâm trí biết được suy niệm ấy của Tôn giả A-na-luật-đà, Ngài xuất hiện trước mặt Tôn giả, khen ngợi, rồi nói thêm điều thứ tám mà bậc đại nhân suy niệm, đó là đạo chứng đắc từ chỗ không hý luận. Tiếp theo, Thế Tôn dạy Tôn giả phải tu để chứng đắc thêm Bốn tăng thượng tâm (tức Tứ thiền) thì sẽ sống an lạc ngay trong hiện tại, dễ được chứ không khó.
Sau đó, Thế Tôn bảo Tôn giả A-nan tập họp tất cả Tỳ-kheo hiện đang có mặt tại núi Ngạc rừng Bố, trong vườn Lộc dã, tụ tập ở giảng đường. Rồi ở giữa chúng Tỳ-kheo, Thế Tôn tuyên thuyết tám điều mà bậc đại nhân suy niệm.
Bản kinh có thể là tiền thân của kinh Bát Đại Nhân Giác do An Thế Cao soạn dịch, dù rằng có vài điếm bất đồng.
Cốt tủy của tám điều suy niệm (hay tám điều giác ngộ) vẫn là Giới - Định - Tuệ, ba môn học vô lậu, mà bất cứ pháp môn nào cũng cần phải tu tập.
Sự khác biệt một vài điều giữa kinh Bát Niệm này với kinh Bát Đại Nhân Giác có thể là do ảnh hưởng tư tường của Phật giáo Đại thừa. Tuy nhiên, cốt tủy của kinh vẫn không có gì sai khác.
______________________
159 Tương đương Pali: A.VIII. 30. Anuruddha
75. Kinh Tịnh Bất Động Đạo [160]
Tâm bất động
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu[161].
Bấy giờ, Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo phải quán chiếu các dục là vô thường, hư ngụy, giả dối, dù dục cùa đời này hay là dục của đời sau, hoặc sắc đời này hay sắc đời sau, tất cả đều là cảnh giới của ma, là miếng mồi của ma. Nhân những thứ ấy mới sanh ra vô lượng pháp ác bất thiện, tham lam, sân nhuế và đấu tranh, làm chướng ngại cho sự tu học của Thánh đệ tử.
Để diệt trừ pháp ác bất thiện, tham lam, sân nhuế và đấu tranh làm chướng ngại cho sự tu học, Tỳ-kheo phải thực hành tâm quảng đại, thành tựu và an trú, nhiếp phục thế gian, nhiếp trì tâm ấy, để đạt được tâm minh tịnh, tâm bất động, tuệ giải thoát; vị Tỳ-kheo cần phải quán chiếu những gì là sắc, tất cả những sắc ấy là bốn đại và bốn đại tạo thành. Bốn đại ấy là pháp vô thường, khổ và diệt; quán chiếu để thấy thế gian này là không, ngã không, ngã sở không, cái hữu thường không, cái hữu hằng không, cái trường tồn không, cái không biến dịch không... Thực rộng lớn như thế Tỳ-kheo chắc chắn chứng đắc Tịnh bất động đạo, Tịnh vô sở hữu xứ đạo, Tịnh vô tưởng xứ đạo và Vô dư Niết-bàn.
Bản kinh giới thiệu đích điểm cứu cứu cánh giải thoát của Phật giáo, đó là Vô dư Niết-bàn. Để đạt được đích điểm ấy, hành giả cần nỗ lực đoạn tận dục, đoạn trừ chấp trước ngã và ngã sở.
76. Kinh úc-gìà-chi-la [162]
Tứ niệm xứ, con đường tắt đi đến Niết-bàn
 

160 Tương đương Pāli: M. 106.āṇañfijasappāyaSutta.
161 Kiếm-ma-sắt-đàm Câu-lâu. Pāli: tại thị trấn Kammāsadhamma của người Kuru.
162 Chưa tìm thấy Pāli tương đương.
 
Đức Phật trú tại úc-già-chi-la, ở bên bờ hồ Hằng thủy. Bấy giờ, một Tỳ-kheo xin Thế Tôn thuyết pháp ngắn gọn để thầy đến một nơi xa vắng, sống độc cư và nỗ lực tu tập nhằm đạt được mục đích tối hậu của người xuất gia.
Đức Phật liền vì Tỳ-kheo ấy thuyết pháp, chỉ dẫn ngắn gọn về phương pháp thực hành Tứ niệm xứ, lần lượt tu tập Tứ thiền.
Thế Tôn khẳng định, nếu Tỳ-kheo tu tập như thế thì, hoặc sẽ chứng quả A-la-hán, hoặc nếu còn hữu dư thì chứng quả A-na-hàm.
Tỳ-kheo sau khi ghi nhận lời Phật dạy, đến nơi xa vắng, độc cư, thực hành tinh cần, không bao lâu chứng quả A-la-hán.
Bản kinh thêm một lần nữa khẳng định, dù Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp môn tu, thì Tứ niệm xứ vẫn là con đường duy nhất đi đến giải thoát, Niết-bàn. Bản kinh được nói trong trường hợp có thể vị Tỳ-kheo không đủ khả năng kham học tất cả các pháp, chỉ mong được nghe pháp yếu để thực hành mà thôi. Pháp yếu ấy phải ngan gọn, dễ hiểu. Và Thế Tôn đã nói pháp Tứ niệm xứ.
77. Kinh Sa-kê-để Tam Tộc Tánh Tử[163]
Xuất gia tu học không phải vì sợ không sống nổi giữa đời
Đức Phật trú tại Sa-kê-đế[164] trong rừng Thanh[165].
Bấy giờ ở Sa-kê-đế có ba thiện gia nam tử là Tôn giả A-na- luật-đà, Tôn giả Nan-đề và Tôn giả Kim-tì-la đều là thiếu niên mới xuất gia học đạo, cùng đến nhập Chánh pháp này không lâu. Cả ba Tôn giả đều là con nhà danh gia vọng tộc, sống trong nhung lụa, giàu sang tột bậc.
 

163 Tương đương Pāli: M. 68. Naḷakapana Sutta.
[164] Sa-kê-đế , Pāli: Sāketa, một thị trấn lớn của Kosala, cách Sāvatthi chừng bảy dặm.
165 Thanh lâm Pāli, có lẽ: Palāsavana. Bản Pāli: trú Kosala, thôn Nalapāna, rừng Palāsa.
 
Thế Tôn hỏi các Tỳ-kheo tu tập có an lạc không? Cả ba đều im lặng. Nhưng khi Thế Tôn hỏi đích danh từng vị thì ai nấy đều trả lời có an lạc.
Tất cả các đệ tử của Thế Tôn đều là những người xuất gia học đạo không phải vì sợ giặc cướp, không phải vì sợ nợ nần, không phải vì sợ khủng bố, không phải vì sợ bần cùng, cũng không phải vì sợ không sống được mà phải xuất gia học đạo, mà chỉ vì nhờm tởm sụ sanh, sự già, bệnh tật, sự chết, khóc lóc, sầu khổ, hoặc vì muốn đoạn tận khối khổ đau vĩ đại này nên xuất gia học đạo. Thế nhưng, sau khi xuất gia làm sao đạt được vô lượng thiện pháp? Thế Tôn dạy:
- Ly dục, ly pháp ác bất thiện chắc chắn sẽ đạt đến xả, lạc, vô thượng tịch tịnh.
- Lần lượt đoạn trừ các lậu cấu uế, là gốc của sự hữu trong tương lai, là sự phiền nhiệt, là nhân của khổ báo, của sanh, già, bệnh, chết.
Đức Thế Tôn vì mục đích sống an lạc ngay trong đời hiện tại, và vì thương xót chúng sanh đời sau mà sống nơi rừng vắng, trong núi sâu, dưới gốc cây, thích ở non cao, vắng bặt tiếng tăm, xa lánh, không có sự dữ, không có bóng người, tùy thuận tĩnh tọa.
Đệ tử xuất gia và tại gia của Thế Tôn có rất nhiều, rất nhiều người chứng Thánh quả. Nhưng không phải vì xu hướng của người mà nói, cũng chẳng phải vì lừa gạt người, cũng chẳng phải vì muốn vui lòng người mà khi đệ tử lâm chung, Như Lai ghi nhận vị này sẽ sanh chỗ này, vị kia sanh chỗ kia. Sờ dĩ Như Lai tuyên bố sự chứng đắc quả Thánh, hoặc sanh chỗ này, chỗ kia của các đệ tử là đế mọi người biết như thật rằng, nếu những ai thực hành đúng Chánh pháp thì chắc chắn có được lợi ích, có an lạc, giải thoát; và sự tuyên bố đó nhằm để mọi người noi theo, để phần nào sống trong sự an lạc thoải mái, chứ không phải vì danh văn, lợi dưỡng, hay được nổi tiếng.
78. Kinh Phạm Thiên Thỉnh Phật166
Ma vương không muốn Phật thuyết pháp
Bấy giờ có một vị trời ở cõi Phạm thiên khởi lên tà kiến, cho rằng cõi Phạm thiên là hằng hữu, thường hữu, là trường tồn, quan yếu, không hoại diệt, là chỗ xuất yếu, có đấng Tối thắng, Tối diệu, Tối thượng, chúa tể của muôn loài.
Thế Tôn biết vậy, liền nhập định, biến mất khỏi trần gian, hiện ra trước Phạm thiên và thiên chúng để thuyết pháp, khai thị cho Phạm thiên và thiên chúng dứt trù’ tà kiến.
Khi ấy, thiên ma Ba-tuần cũng xuất hiện ở trong chúng, chống đối, ngăn cản Thế Tôn thuyết pháp. Đức Phật biết rõ nên đã vạch mặt thiên ma, khiến nó xấu hố vụt biến mất.
Rồi theo sự thinh cầu của Phạm thiên, Thế Tôn bằng nhiều phương tiện thuyết pháp, khai thị... khiến cho thiên chúng tỏ ngộ bản chất của các pháp là vô thường, vô ngã.
79. Kinh Hữu Thắng Thiên [167]
Phân biệt đại tâm giải thoát với vô lượng tâm giải thoát
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Tiên Dư Tài Chủ[168] thỉnh mời Tôn giả A-na-luật-đà cùng với ba Tỳ-kheo khác đến tư gia để cúng dường. Tại đây, Tiên Dư Tài Chủ thưa hỏi Phật pháp về sự khác biệt giữa đại tâm giải thoát và vô lượng tâm giải thoát.
__________________
166 Tương đương Pali: M.49. Brahmanimantanika Sutta.
[167]Tương đương Pãli: M. 127. AnuruddhaSutta.
168Tiên DưTài Chủ ; Pãli có thể là Isidatta dhanapati (thương gia), nhưng không đổng với Pãli ở đây: Pañcakaṅga thapati (Ngũ Chi vật chù, xem kinh 179), một người thợ mộc cùa Pasenadi, vua xứ Kosala.
 
Tôn giả A-na-luật-đà phân biệt hai loại tâm giải thoát này khác nhau.
- Đại tâm giải thoát là tâm giải thoát có giới hạn, mặc dù được gọi là rộng lớn, đó là các tâm thuộc Tứ sắc định và Tứ không định.
- Vô lượng tâm giải thoát là tâm giải thoát không có giới hạn, biến mãn mười phương.
Nhân đây, Tôn giả A-na-luật-đà cũng giới thiệu về cảnh giới của Quang thiên, Tịnh quang thiên và Biến tịnh thiên.
80. Kinh Ca-hi-na [169]
Đức Phật may y cho đệ tử
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, ba y của Tôn giả A-na-luật-đà đã rách hết, nên nhờ Tôn giả A-nan nhờ các Tỳ-kheo may giúp y mới.
Tôn giả A-nan nhận lời đi nhờ các Tỳ kheo may y cho A-na- luật-đà. Thế Tôn biết được, ừách A-nan tại sao không nhờ Thế Tôn! Vậy là, Thế Tôn cùng với tám trăm Tỳ-kheo tập trung trong núi Sa- la-la nham[170] may y cho Tôn giả A-na-luật-đà, một sự kiện mà Thế Tôn nói là trong quá khứ và tương lai sau không bao giờ lặp lại.
Khi đó, Thế Tôn muốn làm thợ cả để may y cho Tôn giả A-na- luật-đà. Tôn giả Mục-kiền-liên liền đúng như pháp tác pháp yết-ma thỉnh Thế Tôn làm người may y, các vị Tỳ-kheo sẽ cùng nhau cắt rọc, khâu vá, may chung lại thành y. Khi may y xong, Thế Tôn bảo Tôn giả A-na-luật-đà nói pháp Ca-hi-na cho các Tỳ-kheo nghe.
 

[169]   Chưa tìm thấy Pãli tương đương, nhưng trong Luật Ngũ phân thì có sự kiện được nói đến trong kinh này.
[170]   Sa-la-la nham sơn . Có lẽ Pāli. Salaḷāgāra, tại đây Tôn giả Anuruddha đã thuyết kinh SalaỊāgāra-Sutta (A. vi, tr. 300) vé bốn satipaṭṭhāna cho các Tỳ kheo.
 
Tôn giả A-na-luật-đà liền nói pháp Ca-hi-na cho tám trăm Tỳ- kheo nghe, lộ trình tu tập tù khi phát tâm xuất gia cho đến lúc chứng tam minh, lục thông, đó được gọi là pháp Ca-hi-na.
Với những pháp Ca-hi-na đó, Tôn giả A-na-luật-đà hỏi đại chúng có ai nghi ngờ không? Neu có nghi ngờ, hãy nêu lên, Tôn giả sẽ trả lời. Tôn giả A-nan cũng yêu cầu đại chúng nếu có ai nghi ngờ về sự chứng đắc của Tôn giả A-na-luật-đà thì hãy nêu lên. Nhưng trong một thời gian dài, đại chúng đã bằng tâm mình mà biết được tâm của Tôn giả A-na-luật-đà, đúng như Tôn giả A-na-luật-đà nói: Ngài có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hưu, có đại oai thần.
Thế Tôn xác nhận pháp Ca-hi-na do Tôn giả A-na-luật-đà thuyết, khuyên các Tỳ-kheo ghi nhớ thọ trì, vì pháp Ca-hi-na cùng tương ưng với pháp, là căn bản phạm hạnh, đưa đến trí thông suốt, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.
Bản kinh trình bày pháp Câu-hi-na, pháp này có thể được tìm thấy ở những bản kinh khác, nhưng có lẽ không thể tìm ở nơi nào ra hình ảnh một đấng giáo chủ may y cho đệ tử. Ớ đây xin được không bàn luận mà để cho mọi người thọ trì pháp Ca-hi-na này chiêm nghiệm vậy!
81. Kinh Niệm Thân [171]
Kinh này là một phần của kinh Niệm Xứ (Tứ niệm xứ, gồm niệm thân, thọ, tâm và pháp). Xem kinh Niệm Xứ, số 98 ở dưới.
82. Kinh Chi-ly-di-lê [172]
Sự khác biệt giữa đắc thiền và đắc thánh quả
Đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
 

[171]   Tương đương Pāli: M. 119. KāyagatāsatiSutta.
172 Tương đương Pāli: A. VI. 60. Citta.
 
Bấy giờ, một số đông các Tỳ-kheo tụ tập tại giảng đường để thảo luận Phật pháp. Trong khi các Tỳ-kheo thượng tôn Trưởng lão đang thảo luận, thì Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử nói chen vào và không có thái độ tôn kính. Tôn giả Đại Câu-hi-la thấy vậy liền nhắc nhở Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử. Các Tỳ-kheo bạn thân của Tỳ- kheo Chất-đa-la Tượng Tử bênh vực cho ông ta, và xin Tôn giả Đại Câu-hi-la chớ quá nặng lời quở trách, bởi theo họ, Tỳ-kheo Chất-đa- la Tượng Tử là người có đức độ.
Tôn giả Đại Câu-hi-la cảnh báo các Tỳ-kheo chớ vội vàng đánh giá người khác là xứng đáng hay không xứng đáng một khi chưa biết tâm cửa người ấy. Bởi có một số người lúc ở trước Đức Thế Tôn và trước các đồng phạm hạnh thượng tôn Trưởng lão khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy khéo léo thủ hộ, nhưng sau đó, khi không còn ở trước Đức Thế Tôn và trước các đồng phạm hạnh thượng tôn Trưởng lão khả tàm, khả quý, khả ái, khả kính, thì người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Nhũng người này trước sau cũng bỏ đạo.
Quả nhiên, sau đó Tỳ-kheo Chất-đa-la Tượng Tử đã xả giới, bó đạo.
Tôn giả Đại Câu-hi-la còn cho biết, ngay cả những người chứng Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, hoặc được Vô tưởng tâm định rồi an trụ trong đó chứ không mong cầu thêm, không mong được những gì chưa được, thu hoạch những gì chưa thu hoạch, tác chứng những gì chưa tác chứng. Sau đó người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện. Người ấy thường cùng với bạch y tụ họp, cười cợt, cống cao, bàn tán ồn ào đủ chuyện rồi thì tâm sanh tham dục. Tâm sanh tham dục rồi thì thân nhiệt, tâm nhiệt. Thân nhiệt, tâm nhiệt rồi thì xả giới, bỏ đạo.
Từ đây cho thấy sự khác biệt giữa thiền định và quả chứng của Phật giáo với ngoại đạo. Thiền định của ngoại đạo chỉ chú trọng trên

sự định tâm, và tâm định ở đây chỉ là trạng thái tâm thức ngủ yên, như lớp cỏ bị tảng đá nè nén không có cơ hội phát triển. Nếu lấy tảng đá ra, cỏ sẽ IĨ1ỌC trở lại và phát triển rất nhanh chóng. Trong khi đó, thiền định của Phật giáo không đơn giản chỉ là sự định tâm vào một đối tượng, rồi an trú ở đó, mà luôn trong trạng thái tỉnh giác, hướng đến vô ngã, trú xả và đặc biệt quan trọng là hướng đến sự diệt tận lậu hoặc. Chỉ có sự diệt tận lậu hoặc mới đưa hành giả đến chỗ bất thối.
Bản kinh cho thấy sự tu tập là một quá trình nỗ lực, tinh tấn không dừng, cho đến khi diệt tận hoàn toàn lậu hoặc, biết rõ sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, thì việc cần làm mới được gọi là làm xong. Một khi chưa đi đến vị trí này, người xuất gia chớ bao giờ tự đắc, tự mãn... mà chướng ngăn thánh đạo!
83. Kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thùy Miên [173]
Thoát khỏi con ma ngủ
Đức Phật trú tại nước Bà-kì-sấu[174], ở rừng Bố trong núi Ngạc, trong vườn Lộc dã[175].
Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên ở tại nước Ma-kiệt-đà, trong làng Thiện tri thức[176. Lúc ấy, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên sống riêng một mình nơi yên tĩnh, ngồi tĩnh tọa tư duy nhưng mắc phải chứng buồn ngủ. Đức Thể Tôn bằng tha tâm trí biết được, liền đến chỉ cho Tôn giả phương pháp dứt trừ sự thụy miên (bị buồn ngủ chi phối), và dứt trừ trạo cử.
 

[173]   Tương đương Pāli: A. VII. 58. Pacala, (đoạn đầu).
[174]   Bà-kì-sấu . Pāli: Bhaggesu, giữa nhừng người Bhagga.
[175]   Ngạc sơn Bố lâm Lộc dã viên . Pảli: trong núi Cá sấu, rừng Khủng bố, chỗ nuôi hươu. Xem kinh 74.
176 Thiện tri thức thôn . Pāli: KallavāỊamuttagāma. Ngài Đại Mục-kiển-liên ở đây ngay sau khi vừa xuất gia. Kinh này được nói vào lúc này. Bảy ngày sau đó, Ngài đắc quà A-la-hán.
 
1. Những phương pháp diệt trừ thụy miên:
- Đề mục thiền quán nào gây buồn ngủ thì đừng tu tập.
- Đi tụng kinh.
- Đàm luận Phật pháp.
- Tư duy, suy niệm về pháp đã học.
- Dùng hai tay day (xoa) hai lỗ tai.
- Đi rửa mặt hay đi tắm cho mát.
- Ra khỏi thất hóng gió mát, ngắm cảnh, ngắm trăng, sao.
- Ra khỏi thất, đến chỗ đất trống đi kinh hành, thủ hộ các căn, tâm an trụ bên trong, khởi hậu tiền tưởng177.
- Bỏ con đường đang kinh hành, đến đầu con đường ấy, trải ni-sư-đàn, ngồi kiết già.
- Nếu làm tất cả các cách trên mà vẫn không hết buồn ngủ thì nên đi ngủ một chút, bằng cách nằm nghiêng hông bên phải, hai chân chồng lên nhau, nhưng phải khởi tưởng ánh sáng[178], lập chánh niệin chánh trí và luôn luôn khởi ý tưởng muốn trỗi dậy[179], và đùng ham lạc thú giường nệm, đùng ham lạc thú ngủ nghỉ, đừng ham tài lợi, đừng đắin trước danh dự.
ở đây, chúng ta thấy phương pháp giáo dục cũng như phương pháp tu tập của Đức Thế Tôn vô cùng cởi mở và linh hoạt, không gò bó, đóng khung và đòi hỏi quá mức ở người tu tập, mà chú trọng đến phương tiện, phương cách nào tối ưu nhất để người học đạt được kết quả cao nhất.
 2. Những phương pháp dứt trừ trạo cử:     
- Không nên tụ họp với người tại gia.
____________________
177 Hậu tiền tưởng , quán tưởng sau lưng như là trước mặt. Pali: pacchāpuresaññī
178 Minh tưởng  hay quang minh tưởng, lấy các loại ánh sáng để làm đề mục, tập trung tư tưởng trên đó. Pāli: ālokasaññā, để cập đến sau khi ngâm các ngôi sao không thành công.
179Dục khởi tưởng  Pāli: uṭṭhānasaññā.
 
- Ở núi rừng, dưới cây, chỗ an tĩnh không nhàn, núi cao, hang đá, vắng bặt âm thanh, viễn ly, không ác, không người, có thế tùy thuận mà tĩnh tọa.
- Khi đi khất thực hãy nhàm tởm lợi lộc, nhàm tởm sự cúng dường, cung kính.
- Không đi khất thực với tâm ý cao đại.
- Thuyết pháp đừng vì tranh luận.
- Thuyết pháp đừng nói to, nói mạnh, như sư tử. Khi thuyết pháp hãy hạ ý mà thuyết pháp, không ráng sức, tiêu diệt sức, dẹp bỏ sức, hãy thuyết pháp bằng sự không dùng cường lực, như sư tử[180].
Như vậy, nguyên nhân dẫn đến trạo cử là do tập khí ưa tụ họp chỗ đông người, nhiều chuyện, tâm ý cống cao và ưa tranh luận... Cho nên, việc tham gia giáo hội, giảng dạy, hoang pháp... sẽ chỉ thêm chướng ngại cho những ai chưa diệt trừ được trạo cử!
Thụy miên và trạo cử là hai trong số năm triền cái (dục, sân, thụy miên, trạo cử, nghi) che đậy thiện pháp, chướng ngăn thánh đạo, làm cho thiện căn không phát triển, là một chướng ngại lớn trong quá trinh thiền định. Chừng nào đè nén, diệt trừ được năm triền cái này hành giả mới có thể đi vào thiền định.
Cuối bản kinh, Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hỏi thế nào là một Tỳ-kheo lý tưởng? Đức Thế Tôn đáp: Là Tỳ-kheo không chấp thủ bất cứ cái gì ở trên đời này. Đây chính là chỗ cứu cánh, cứu cánh bạch tịnh, cứu cánh phạm hạnh và cứu cánh phạm hạnh cùng tột.
84. Kinh Vô Thích [181]
Những chiếc gai nhọn đâm vào người tu
Đức Phật trú Tì-xá-li, ở tại ngôi nhà sàn, bên bờ ao Di hầu.
 

180 No.47: hây như sư tử luận.
181 Tương đương Pãli: A. X. 72. Kanthaka.
 
Bấy giờ các bậc thượng tôn cũng ở gần ngôi nhà lá của Thế Tôn, nhưng rồi những người Lệ-xa thành Tì-xá-li phát đại như ý túc, khởi oai đức cùa bậc vua chúa, lớn tiếng rao truyền rồi ra khỏi thành Tì-xá-li, qua đến chỗ Phật cúng dường kính lễ, gây ồn ào, nên các thượng tôn Trưởng lão lặng lẽ đi chỗ khác, yên tĩnh, độc cư.
Thế Tôn khen ngợi các Đại đệ tử, rồi Thế Tôn nói bài kinh này. Đại ý, cuộc đời của người tu có những gai nhọn như sau: Âm thanh là gai nhọn đối với thiền. Phạm giới là gai nhọn đối với trì giới. Trang sức thân thể là gai nhọn đối với thủ hộ các căn. Tịnh tướng là gai nhọn đối với tu tập bất tịnh. Sân nhuế là gai nhọn đối với tu tập từ tâm. Uống rượu là gai nhọn đối với xa lìa uống rượu. Thấy nữ sắc là gai nhọn đối với phạm hạnh. Âm thanh là gai nhọn đối với nhập Sơ thiền. Tầm tứ là gai nhọn đối với nhập Nhị thiền. Hỷ là gai nhọn đối với nhập Tam thiền. Hơi thở ra, hơi thở vào là gai nhọn đối với nhập Tứ thiền, sắc tưởng là gai nhọn đối với nhập Không xứ. Không tưởng là gai nhọn đối với nhập Thức xứ. Thức tưởng là gai nhọn đối với nhập Vô sở hữu xứ. Tưởng và thọ là gai nhọn đối với nhập Tưởng thọ diệt định.
Nói tóm, có ba gai nhọn nguy hiểm nhất là gai nhọn tham dục, sân hận và si mê. Chỉ có bậc A-la-hán mới không bị những gai nhọn chích.
85. Kinh Chân Nhân [182]
Vị Tỳ-kheo lý tưởng
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Đức Phật gọi các Tỳ-lcheo lại và dạy về pháp chân nhân và pháp không phải chân nhân.
 

182 Tương đương Pãli: M. 113. Sappurisa Surta.
 
- Phi chân nhân là quý mình khinh người. Một người xuất gia mà tự hãnh về dòng dõi hào quý, đoan chính xinh đẹp, hùng biện, luận giỏi, quen thân với bậc trường lão, vua quan chính quyền, nổi tiếng, có phước lớn, được cúng nhiều, roi khinh khi người thì đó không phải là người xuất gia chân chính.
- Cho dù tụng kinh, trì Luật, học A-tỳ-đàm, thuộc làu A-hàm[183], học nhiều kinh sách; hoặc mặc y phấn tảo, nhiếp ba pháp phục, trì y bất mạn184; hoặc thường đi khất thực, cơm chỉ ngang bằng năm thăng, chỉ khất thực hạn cuộc nơi bảy nhà, chỉ ăn một bữa, quá giữa trưa không uống nước trái cây; hoặc ở chỗ rừng vắng sơn lâm, dưới gốc cây, hoặc ở núi cao hay nơi đất trống, hoặc nơi gò mả; hoặc chứng quả từ Sơ thiền đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ... mà quý mình khinh người thì cũng chẳng phải là chân chân.
- Chân nhân là không quý mình, không khinh người, nỗ lực đoạn trừ dâm, nộ, si, hướng đến sự chứng đắc chân đế.
Bản kinh ngắn gọn, giản dị nhưng vô cùng sâu sắc, cho thấy giá trị giải thoát hay giá trị phạm hạnh không đặt vào hình thức tu tập mà đặt vào hiệu quả của công phu đoạn trừ dâm, nộ, si hay tham ái và chấp thủ, đoạn trừ các kiết sử lậu hoặc, phát triển tâm và tuệ giải thoát.
Kinh Chân Nhân định hướng rõ mục đích của giáo dục Phật giáo, đó là giáo dục con người nỗ lực để tự chiến thắng mình chứ không phải nỗ lực để vượt trội hơn người khác. Đây là hướng giáo dục rất nhân bản, hòa bình, dập tắt tinh thần giáo dục cạnh tranh, đấu tranh dẫn đến xung đột, chiến tranh và khổ sầu.
Bản kinh cũng khẳng định rõ giá trị của người tu sĩ Phật giáo là hướng nội, tự tri, quyết tâm đoạn trừ các nhân tố gây ra khổ
 

183 Nguyên trong bản: A-hàm-mộ , thường chỉ chung Kinh tạng. Pāli: āgama.
184 Bất mạn y  Pāli: amāna-cīvara, y không kiêu mạn, hay amanāpa-cīvara, y xấu xí?
 
đau, chứ không phải đi vào thị phi, vì danh vọng, lợi dưỡng, hơn thua, được mất, tranh quyền lực, chức tước, phẩm vị...
86. Kinh Thuyết Xứ185
Nội dung tu học của một Tỳ-kheo trẻ
Đức Phật đến nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn cấp- cô-độc.
Bấy giờ Tôn giả A-nan dẫn các Tỳ-kheo niên thiếu đến gặp Đức Thế Tôn và hỏi phương pháp dạy dỗ những người xuất gia trẻ.
Đức Phật nói nên dạy cho những người xuất gia trẻ những bài pháp căn bản, như:
- Năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn. thọ, tưởng, hành và thức thủ uẩn.
- Sáu nội xứ: nhãn xứ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ.
- Sáu ngoại xứ: sắc xứ, thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ.
- Sáu thức thân: nhãn thức, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức.
- Sáu xúc thân: nhãn xúc, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xúc.
- Sáu thọ thân: nhãn thọ, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thọ.
- Sáu tưởng thân: nhãn tưởng, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tưởng.
- Sáu tư thân: nhãn tư, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tư.
- Sáu ái thân: nhãn ái, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ái.
- Sáu giới: địa giới, thủy, hỏa, phong, không, thức giới.
- Pháp nhân duyên khởi và pháp sanh khởi do nhân duyên khởi: ‘Nếu có cái này thì có cái kia, nếu không có cái này thì không có cái kia’.
- Bốn niệm xứ: quán thân như thân, quán tỉìọ, quán tâm, quán pháp như pháp.
_____________________
185 Tương đương Pâli: M. 148. Chachakka Sutta
- Bốn chính đoạn hay bốn chính cần: nỗ lực đoạn trừ pháp ác bất thiện đã sanh, nỗ lực ngăn ngừa pháp ác bất thiện chưa sanh, nỗ lực phát khởi thiện pháp chưa sanh, nỗ lực phát triển thiện pháp đã sanh.
- Bốn như ý túc: dục định, tinh tấn định, niệm định, tư duy định.
- Bốn thiền: từ Sơ thiền đến Tứ thiền.
- Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Tập, Diệt và Đạo thánh đế.
- Bốn tưởng: Tỳ-kheo có tiểu tưởng, có đại tưởng, có vô lượng tưởng, có vô sở hữu tưởng.
- Bốn tâm vô lượng: từ, bi, hỷ, xả.
- Bốn vô sắc: Tỳ-kheo đoạn trừ tất cả sắc tưởng, cho đến chứng đắc phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trụ.
- Bốn thánh chủng: hài lòng, tri túc về y phục, cơm nước, tọa cụ, thuốc men.
- Bốn quả Sa-môn: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, tối thượng A-la-hán quả.
- Năm thành thục giải thoát tưởng: tưởng về vô thường, tưởng vì vô thường cho nên khổ, tưởng khổ cho nên vô ngã, tưởng bất tịnh ố lộ, tưởng hết thảy thế gian không có gì đáng ái lạc.
- Năm giải thoát xứ.
- Năm căn: tín, tinh tấn, niệm, định và tuệ căn.
- Năm lực: tín, tinh tấn, niệm, định, tuệ lực.
- Năm xuất yếu giới[186]: thoát ly tham dục, sân nhuế, hại, sắc và hữu thân[187].
 

186 Năm xuất yếu hay xuất yếu giới , Pāli: pañca nissāraṇiyā dhātuyo, năm giới hạn cấn phải thoát ly; xem D. 33 Saṅgīti. Cf. Tập dj 14 (N° 1536, tr. 427b21).
187 Nguyên Hán: kỷ thân 3 ít: tự thân của mình. Đây nói vé hữu thân (kién), hay tát-ca-da (tà- kiến).Tập dị ibid.: hữu thân . Pāli: sakāya.
 
- Bảy tài sản: tín, giới, tàm, quý, văn, thí và tuệ tài.
- Bảy lực: tín, tinh tấn, tàm, quý, niệm, định, tuệ lực.
- Bảy giác chi: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả giác chi.
- Thánh đạo tám chi: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
Trên đây là những giáo lý căn bản và đầy đủ nhất được Thế Tôn trình bày một cách tổng quát, cô đọng nhung cũng đầy đủ về văn và nghĩa.
Cuối bản kinh, Tôn giả A-nan hỏi thêm về đảnh pháp và đảnh pháp thối. Thế Tôn chỉ dạy, đối với các pháp được liệt kê trên, nếu khéo quán sát, phân biệt về vô thường, khổ, không, phi ngã, dẫn đến phát sanh nhẫn, phát sanh lạc, phát sanh dục, tức mong cầu nghe, mong cầu niệm, mong cầu quán, thì gọi là đảnh pháp. Ngược lại, đổi với các pháp được liệt kê trên mà suy thoái, không tu thủ hộ, không tu tập tinh tấn, thì gọi là đảnh pháp thối.
i) Phẩm Uế
Gồm 10 kinh, phân biệt pháp uế và vô uế, thiện và bất thiện, khuyên Tỳ-kheo nên cầu pháp, chớ nên cầu tài thực.
87. Kinh uế Phẩm 188
Người hạ liệt và người tối thang
Đức Phật đến Bà-kì-sấu, ở trong núi Ngạc rừng Bố, vườn Lộc dã.      
Bấy giờ, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ-kheo, trong thế gian có bốn hạng người:
_______________________
188 Tương đương Pāli: M.5. Anaṅgana Sutta
a) Người có cấu uế mà không tụ biết mình có cấu uế.
b) Người không có cấu uế mà cũng không tự biết mình không có cấu uế.
c) Người có cấu uế mà tự biết mình có cấu uế.
d) Người không có cấu uế cũng tự biết mình không có cấu uế.
Hai hạng người đầu là hạng người hạ liệt trong các hạng người. Hai hạng người sau là hạng người tối thắng trong các hạng người.
Do nhân gì, duyên gì mà hai hạng ngirời đều có cấu uế làm bẩn tâm, mà một người được nói là tối hạ tiện và một người được coi là tối thắng? Và do nhân gì, duyên gì mà hai hạng người không có cấu uế, không làm bẩn tâm, nhưng một người được nói là tối hạ tiện và một người được coi là tối thắng?
- Một người bên trong thật có cấu uế mà không tự biết, thì người ấy không muốn đoạn trừ cấu uế, không cầu phương tiện, không tinh cần học, tương lai sẽ sanh vào chỗ bất thiện. Nên người này là hạ liệt.
- Nếu một người biết như thật rằng trong ta có cấu uế, thì người ấy muốn đoạn trừ cấu uế đó, cầu phương tiện và tinh cần học, tương lai sẽ sanh vào chỗ thiện. Nên người này dù có cấu uể mà vẫn được coi là tối thắng.
- Một người không biết như thật rằng trong ta không có cấu uế, thì người ấy không giữ gìn đuợc những pháp mắt thấy tai nghe. Do không giữ gìn được những pháp mắt thấy tai nghe, nó bị dục tâm ràng buộc, tương lai sẽ sanh chỗ bất thiện. Do' đó, người này dù không có cấu uế mà vẫn coi là hạ liệt.
Nếu một người biết như thật rằng trong ta không có cấu uế, thì người ấy giữ gìn được những pháp mắt thấy tai nghe. Do vì giữ gìn được những pháp mắt thấy tai nghe nên người ấy không bị dục
tâm ràng buộc, tương lai sẽ sanh vào chỗ thiện. Đây là hạng người tối thắng.
Tâm cấu uế là tâm có tham trước, sân hận, si mê, bao gồm các ác, bất thiện pháp, phẫn nộ, bất mãn, che giấu tội lỗi, tham danh, ưa hơn người, ua lợi dưỡng, mong được tôn kính cúng dường, gian ngụy, xảo trá, khi cuống, trạo cử, kiêu mạn, dao động, lắm lời, tạp thoại, không hộ trì các căn, không tiết độ ăn uống, không chú tâm cảnh giác, không tha thiết hạnh Sa-môn, không nhiệt thành tôn trọng pháp, ưa sống sung túc, biếng nhác, dẫn đầu về đọa lạc, chối bỏ trọng trách sống viễn ly, giải đãi không tinh tấn, lãng quên không chủ niệm, tán loại, liệt tuệ, đần độn...
Đây là những tâm cấu uế mà Tôn giả Xá-lợi-phất liệt kê. Một người hảo tâm xuất gia thì bằng mọi cách tẩy sạch các tâm cấu uế.
88. Kinh cầu Pháp [189]
Hãy là người thừa tự Pháp, đừng thừa tự tài vật
Đức Phật trú tại nước Câu-tát-la cùng đại chủng Tỳ-kheo, qua đến phía Bắc làng Ngũ sa-la[190], trong rừng Thi-nhiếp-hòa.
Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo hãy nên cầu Pháp, thừa tụ Pháp, mà không nên tìm cầu tài thực (tức đừng bao giờ tìm cầu cơm áo, sàng tọa, chỗ ở, mà hiểu rộng ra trong hoàn cảnh sống hiện nay là cả chùa chiền, tài sản...).
Thế Tôn thương tưởng các đệ tử, muốn các đệ tử nên hành cầu Pháp, chứ không hành cầu ẩm thực. Những ai hành cầu Pháp thì người ấy đã tự tốt đẹp mà Thế Tôn cũng được danh dự. Còn những ai hành cầu ẩm thực, không hành cầu Pháp, không những người ấy tự xấu xa, mà Thế Tôn cũng không được danh dự gì.
 

189 Tương đương Pāli: M. 3. Dhammadāyāda-Sutta.
190 Ngũ Sa-la . Pāli: Pañcasāla.
 
Đức Thế Tôn còn dạy, nếu bậc Tôn sư có pháp luật và thích sống viễn ly mà các đệ tử thượng, trung, hạ không thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó không ích gì cho mọi người. Nhưng nếu bậc Tôn sư có pháp luật và thích sống viễn ly mà các đệ tử thượng, trung, hạ cũng thích đời sống viễn ly, thì pháp luật đó có ích cho mọi người, mang lại an lạc cho mọi người, là vì thuơng xót thế gian, mong cầu sự thiện lợi và hữu ích, mong cầu an ổn khoái lạc cho loài trời và loài người.
Sau đó, Tôn giả Xá-lợi-phất giải thích bài pháp thoại của Đức Thế Tôn, nêu lên 3 pháp đáng chê và 3 pháp đáng khen; lại nói Trung đạo đoạn dục tham... làm cho tâm được an trú cho đến Niết-bàn.
89. Kinh Tỳ-kheo thỉnh [191]
Soi gương
Đức Phật trú tại tại thành Vương-xá, trong rùng Trúc, vườn Ca-lan-đa an cư mùa mưa cùng với đại chúng Tỳ-kheo.
Bấy giờ, Tôn giả Mục-kiền-liên giáo giới cho các Tỳ-kheo, giảng dạy về sự đắc thất khác nhau của người nói lời ngang ngược và người nói lời hiền lành.
Theo pháp, đến kỳ Tự tứ, Tỳ-kheo phải thỉnh cầu Tỳ-kheo khác chỉ lỗi cho mình. Nhung có Tỳ-kheo không được các đồng phạm hạnh nói tới, không chỉ giáo, không khiển trách, trái lại làm khó người ấy, bởi vì Tỳ-kheo này hay nói lời cộc cằn, mang bản tánh nói cộc, khiến các đồng phạm hạnh không ưa thích.
Người có bản tính nói cộc là người có ác dục và niệm tưởng dục[192], cỏ nhiễm và hành nhiễm[193], cố ý phú tàng, lường gạt dối
 

[191 ] Tương đương Pāli: M. 15.AnumānaSutta. Bản Pāli ghi nhận Thế Tôn ở tại vườn Nai.
192 Ác dục niệm dục . Pāli: pāpiccho hotipāpikānaṃ icchānaṃ vasaṃgato, là người có ác dục, bị chi phối bởi ác dục.
193 Nhiễm hành nhiễm , có lẽ Pāli: attukkaṃsako paravambhī , khen mình chê người.
 
trá, xan tham, tật đố, vô tàm, vô quý, sân tệ ác ý[194], nói lời phẫn nộ, cử tội Tỳ-kheo cử tội mình[195], khinh mạn Tỳ-kheo cử tội mình[196], phanh phui Tỳ-kheo cử tội mình[197], nói lảng ngoài đề để tránh né, che giấu và hờn giận, thù ghét phừng phực, bằng hữu ác, đồng bọn ác, vong ân, không biết ân. Đó là những tánh khí của người có bản tánh nói cộc.
Do đó, Tỳ-kheo phải luôn tự suy xét về mình, rằng nếu ai có ác dục, niệm dục thì mình không ưa thích người đó, cho nên nếu mình có ác dục, niệm dục thì người ta cũng chẳng ưa thích mình. Suy xét như vậy để không hành ác dục, không niệm dục. Đồng thời cũng phải thường xuyên suy xét mình có ác dục, niệm dục hay không có ác dục, niệm dục? Neu có, phải tìm cách đoạn trừ dục.
Một khi không hành ác dục, không niệm dục, không có những tính khí xấu nói trên, thì Tỳ-kheo được các đồng phạm hạnh thương mến, mình cũng cảm thấy rất an lạc, hoan hỷ, như soi gương không thấy khuôn mặt của mình có bụi bẩn.
90. Kinh Tri Pháp'[198]
Giảng sư chưa chắc đã là người biết Pháp
Đức Phật trú tại Câu-xá-di, trong vườn Cù-sư-la.
Bấy giờ, Tôn giả Chu-na[199] phân biệt cho các thầy Tỳ-kheo biết thế nào là người biết Pháp, thế nào là người không biết Pháp.
 

194 Sân tệ ác ý fljî p SI M; có lẽ Pãli: kodhahetu upanãhĩ, do nóng giận mà ôm lòng cừu hận. 
195 Ha Tỳ-kheo ha lựtb írs"ỉ. Pãli: codito codakena codakm patipphareti, bị nêu tội kích ngược lại người nêu tội.
196 HaTỳ-kheo khinh mạn động  từ nghịch  đảo = khinh mạn ha Tỳ kheo.
Pãli: codakam apasãdeti, khinh dẻ người nêu tội.
[197] Hán: ha Tỳ kheo phát lộ ;động từ nghịch đảo = phát lộ ha Tỳ kheo.
Pãli: codakassa paccãropeti: phản vấn ngưởi cử tội.
198 Tương đương Pâli: A. X. 24. Cunda.
199 Chu-na Pãli: Mãha-Cunda. Xem kinh số 196.
 
Theo đó, người biết Pháp không phải là người tuyên bố ‘Tôi biết các Pháp, những Pháp được biết ấy không có tham lam’, mà là người trong tâm thực sự không có tham lam, tranh tụng, nhuế hận, sân triền, phú kết, bòn sẻn, ganh tị, lừa dối, dua nịnh, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến; trong tâm người ấy ác dục, ác kiến không sanh và tồn tại.
91. Kinh Chu-na vẩn kiến 200
Làm sao ly tứ tướng?
Cũng tại trú xứ trên, Tôn giả Chu-na hỏi Đức Thế Tôn làm thế nào để các kiến chấp được tiêu diệt, được xả ly và khiến cho các tà kiến khác không tiếp diễn, không bị chấp thủ?
Các kiến chấp đã phát sanh trong cuộc đời gồm các chủ trương có thần ngã, có chúng sanh, có nhân, có thọ, có mạng, có thế gian.
Đức Thể Tôn trả lời, nếu muốn diệt trừ các kiến chấp ấy phải học pháp tiệm tổn, thực hành sự tiệm tổn và hiện pháp lạc trú. Công phu tiệm tổn bao gồm các việc:
- Ly dục, ly bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, chứng đắc bốn vô sắc giới định.
- Từ bỏ các tâm cấu uế dục, sân, sát hại, từ bỏ mười nghiệp bất thiện, năm triền cái, các tâm sở bất thiện như vô tàm, vô quý, bất tín, giải đãi, vô niệm, vô định, không đa văn.
- Phát tâm nghĩ muốn cầu học và thực hành thiện pháp.
Đức Thế Tôn nói không có gì là tuyệt đối và cố định giữa cuộc đời, pháp nào cũng có cách để đối trị. Cho nên, biết rõ các kiến chấp, tà kiến giũa cuộc đời phát sanh và tồn tại từ ác dục, bất thiện pháp thì đã có phi ác dục và thiện pháp đối lại. Nếu ác dục và bất thiện pháp dẫn chúng sanh đến chỗ bất thiện thì phi ác dục và thiện pháp dẫn chúng sanh đến Niết-bàn.
_____________
200 Tương đương Păli: M. 8. Sallekha Sutta
Bản kinh nêu lên vấn đề lớn cùa nhân loại, đó là các sở kiến về ngã luận và thế giới luận, những sở kiến dẫn đến khổ đau, tranh chấp, hận thù, chiến tranh, nhưng lại được Đức Thế Tôn giải quyết một cách rất đơn giản và rất tự tin, rất lạc quan, đó là: Người ác dục thì do phi ác dục mà nhập Niết-bàn.
92. Kinh Thanh Tịnh Bạch Liên Hoa Dụ [201]
Gần bùn mà chang hôi tanh mùi bùn
Đức Thế Tôn sanh ra và lớn lên trong cuộc đời, gần đời mà chăng hôi tanh mùi đời.
Giống như hoa sen xanh, hồng, đỏ, trắng sanh từ trong nước, lớn lên trong nước, vượt lên khỏi mặt nước, không bị dính nước. Cũng như thế, Như Lai sanh từ trong thế gian, lớn lên trong thế gian, tu hành vượt trên thế gian, không đắm trước pháp thế gian. Vì Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, vượt khỏi tất cả thế gian.
Bấy giờ, Thế Tôn dạy cho các Tỳ-kheo tu tập, sửa đổi ba nghiệp thân, khẩu, ý. Đức Thể Tôn nói: “Hoặc có pháp do nơi thân mà diệt trừ, không do nơi miệng mà diệt trừ. Hoặc có pháp do nơi miệng mà diệt trừ, không do nơi thân mà diệt trừ. Hoặc có pháp không do nơi thân và miệng diệt trừ nhưng do tuệ kiến để diệt trừ”.
- Nếu thân hành bất thiện thì phải sửa đổi hành vi nơi thân, chứ không thể sửa đổi nơi miệng mà thân hết hành bất thiện, tức người ta không thể sửa đổi thân hành bằng lời nói!
- Nếu khẩu hành bất thiện thì phải sửa đổi lời nói, khẩu hành thiện, chứ không phải sửa đổi thân hành mà lời nói trở nên thiện hành.
- Nếu tâm tham lam, tranh tụng, nhuế, hận, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, tật đố, lừa gạt, dua siểm, vô tàm, vô quý, ác dục, ác kiến... thì phải do tuệ kiến mới diệt trừ, mà không thể diệt trừ bằng thân hay miệng.
 

201 Chưa tìm thấy Páli tương đương.
 
Thế Tôn quán sát tâm người, biết người nào không tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ; người nào tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Nếu có thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ thì chắc chắn diệt trừ được tham lam và các ác pháp bất thiện.
93. Kinh Thủy Tịnh Phạm Chí202
Tu là gột rửa nội tâm
Đức Phật đến uất-tì-la, bên bờ sông Ni-liên-nhiên, ngồi dưới gốc cây A-đa-hòa-la Ni-câu-loại vào lúc mới thành đạo.
Bấy giờ, Đức Phật giới thiệu hai giai đoạn công phu giải thoát:
- Đoạn trừ cấu uế của tâm. Ở đây, Thế Tôn liệt kê có 21 thứ cấu uế làm bẩn tâm, chắc chắn dẫn đến ác xứ, sanh vào địa ngục. Đó là tà kiến, phi pháp dục, ác tham, tà pháp, tham, nhuế, thụy miên, trạo cử hối quá, nghi hoặc, sân triền, phú tàng, xan tham, tật đố, khi trá, dua siểm, vô tàm, vô quý, mạn, đại mạn, ngạo mạn, phóng dật.
Ví như cái áo bị bẩn, rất khó có thể giặt sạch và nhuộm thành màu như ý. Cũng vậy, nếu có hai mươi mốt thứ cấu uế làm bẩn tâm thì chắc chắn đi đến ác xứ, sanh vào địa ngục.
Cho nên, phải đoạn trừ cấu. Nếu 21 thứ cấu uế không làm bẩn tâm thì chắc chắn đi đến thiện xứ, sanh lên cõi ứời. Ví như cái áo trắng sạch, rất dễ dàng làm cho sạch hơn và nhuộm thành màu như ý.
- Khi tâm đã sạch cấu uế, vị ấy tu tập bốn tâm vô lượng, từ bi hỷ xả; rải bốn tâm này biến khắp mười phương, không kết, không oán, không giận, không tranh, rộng rãi bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu an trụ.
Đức Thế Tôn dạy, đây là phương pháp gột rửa nệi tâm chứ không phải gột rửa ngoại thân. Câu nói này vô cùng sâu sắc, chỉ rõ phương pháp tu tập của ngoại đạo bằng cách tắm mình trong các dòng sông được quan niệm là linh thiêng với hy vọng gột rửa tội lỗi là điều hết sức phi lý.
__________________
202 Tương đương Pãli: M. 7. Vatthũpama Sutta.
Cuối buổi pháp thoại, Bà-la-môn Thủy Tịnh quy Tam bảo.
94. Kinh Hắc Tỳ-kheo 203
ưa tranh cãi thì ai cũng chán
Đức Phật trú tại tại nước Xá-vệ, trong Đông viên, giảng đường Lộc mẫu.
Khi ấy, Hắc Tỳ-kheo, con bà Lộc Mầu, thường ưa tranh cãi, đi đến chỗ Phật. Nhân đó, Đức Phật dạy:
- Những người ưa tranh cãi, ác dục, phạm giới, vượt giới, sứt mẻ giới, làm rách giới, cấu uế giới, sân triền, phú kết, bỏn sẻn, tật đố, dua siểm, dối trá, vô tàm, vô quý, không tiếp đãi các vị đồng phạm hạnh, không quán các pháp, không tĩnh tọa... thì những người đó không có ái lạc, không có ái hỷ, không thể có ái niệm, không khiến cho có kính trọng, không khiến tu tập, không khiến nhiếp trì, không khiến xứng đáng là Sa-môn. không thể khiến được nhất ý, không khiến chứng đắc Niết-bàn.
Những người này dù có mong muốn các đồng phạm hạnh cung kính, cúng dường, đảnh lễ thì cũng chẳng được các đồng phạm hạnh cung kính, cúng dường, đảnh lễ.
- Ngược lại, những người không ưa tranh cãi, cho đến không có các tâm cấu uế kể trên, thì những người ấy có khả lạc, khả ái, khả hỷ, có thể khiến ái niệm, có thể khiến kính trọng, có thế khiến tu tập, có thể khiến nhiếp trì, có thể khiến xúng đáng là Sa-môn, có thể khiến được nhất ý, có thể khiến chúng đắc Niết-b^n.
Nhũng người này dù không mong cầu các đồng phạm hạnh cung kính, cúng dường, đảnh lễ, thì các đồng phạm hạnh cũng vẫn cúng dường, cung kính, lễ sự những người ấy.
___________________
203 Tương đương Păli: A. X. 87. Adhikarana
95. Kinh Trụ Pháp [204]
Giữ vững đường tu
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Thế Tôn dạy cho các thầy Tỳ-kheo về ba trường hợp đối với thiện pháp. Đó là, hoặc thối thất, hoặc đình trụ, hoặc tăng tiến.
Thiện pháp ở đây được kể đến là đốc tín, cấm giới, bác văn, bố thí, trí tuệ, biện tài, Thánh giáo và sở đắc. Đối với thiện pháp này, hành giả không duy trì, không tăng tiến mà ngày càng lui sụt thì trường hợp này gọi là thối thất; duy trì được gọi là đình trụ; và ngày càng tiến bộ, không lui sụt, không đứng lại một chỗ thì gọi là tăng tiến.
Tiếp theo, Thế Tôn dạy, Tỳ-kheo sẽ được nhiều lợi ích nếu thường xuyên quán chiếu để biết mình có hay không có các pháp bất thiện tham lam, sân nhuế tâm, thùy miên triền, trạo cử và cống cao, nghi hoặc, thân tránh, cấu uế tâm, bất tín, giải đãi, vô niệm, vô định, ác tuệ. Nếu có, Tỳ-kheo phải gấp rút tìm phương tiện học, hết sức tinh cần, chánh niệm, chánh trí, nhẫn... để diệt trừ, gấp rút như người bị lửa cháy đầu, cháy áo. Nếu không có, thì phải nỗ lực tìm phương tiện học... để không bị thối lui.
96. Kinh Vô [205]
Bản kinh này do Tôn giả Xá-lợi-phất giảng dạy cho các Tỳ- kheo. Nội dung tương tự kinh số 95, phân biệt hai trường hợp suy thoái tịnh pháp và tăng trưởng tịnh pháp. Tịnh phấp ở đây là những pháp đã được nghe Thế Tôn dạy.
 

2041]Tương đương Pãli: A. X. 17, 18 Nãtha.
[205]   Chưa tim thấy Pãli tương đương.
 
j) Phẩm Nhân
Gồm 10 kinh, chủ yếu giải thích ý nghĩa 12 nhân duyên.
97. Kinh Đại Nhân [206]
Không phải dễ hiếu giáo lý Duyên khởi
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan một mình tĩnh tọa tại một nơi vắng vẻ, tâm quán sát pháp duyên khởi và nhận thấy không có gì sâu sắc. Rồi vào lúc xế chiều, Tôn giả A-nan rời nơi tĩnh tọa qua đến chỗ Thế Tôn và trình bày ý nghĩ của mình.
Thế Tôn bảo ngài A-nan chớ nên khinh suất mà cho rằng pháp duyên khởi rất nông cạn, không có gì sâu sắc. Bởi “đối với duyên khởi này, vì không biết như thật, thấy như thật, không giác ngộ, không thấu triệt, nên khiến chúng sanh ấy dính móc nhau như khung cửi rối ren, như đám uẩn-mạn[207] mọc chằng chịt, tấp nập huyên náo, đi từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này, qua rồi lại, lại rồi qua, không thể ra khỏi vòng sanh tử”.
Rồi Thế Tôn giải thích mười hai chi phần nhân duyên theo từng mối quan hệ. Kinh có thể chia thành bốn phần:
Duyên khởi năm chi: Mối quan hệ này lấy ái làm gốc, từ ái mà duyên thủ, hữu, sanh, già chết, và buồn lo, khóc lóc, kho đau, áo não. Ái được xem như là đầu mối của toàn bộ khối khổ đau to lớn này (thuần đại khổ ấm). Đây cũng là mối quan hệ duyên khởi dẫn đến tranh chấp và bất an của xã hội, dẫn đến khố quả trong hiện tại. Lấy ái làm gốc, phát sanh 9 chi: ái — thủ, tầm cầu,  lợi đắc, phân
 

[206]   Tương đương Pàli: D. 15. Mahã-nidãna Suttanta.
[207]   uấn-mạn thảo ; không rõ, Páli: muñjapabbaja, cỏ muñja (một loại sậy, tên khoa học Saccharum munja) và cỏ pabbaja, chỉ chung lau sậy.
 
phối, nhiễm dục, đắm trước, keo kiệt, tư hữu, canh giữ. Duyên canh giữ nên có dao gậy, đấu tranh, dua siểm, lừa gạt, nói láo, nói hai lưỡi, khởi lên vô lượng pháp ác bất thiện. Như vậy là trọn đủ toàn khối khổ đau to lớn.
b) Duyên khởi mười chi: Đây là mối quan hệ dẫn đến tái sanh, tập trung trên hai quan hệ thức và danh sắc. Duyên thức mà có danh sắc, trong giới hạn đó mà có tăng ngữ, do tăng ngũ’ có truyền thuyết, do truyền thuyết mà có thể thi thiết là có, nghĩa là danh sắc cùng với thức hỗ tương làm duyên cho nhau mà có sự phát sanh các tưởng, hay khái niệm, từ đó dẫn đến hình thành nhận thức, là cơ sở của kiến chấp.
c) Quan hệ các chi duyên khởi tạo thành một chỉnh thể gọi là sanh mạng. Sanh mạng này được quan niệm là tự ngã. Có hai y cứ làm phát sanh ý niệm hay kiến chấp về ngã: thọ và sắc. Đức Thế Tôn phân tích cho thấy các cảm thọ và sắc đều là pháp vô thường, khổ, hoại diệt. Cho nên, y cứ trên thọ và sắc mà quan niệm và chấp ngã là vô cùng sai lầm.
d) Ngã tồn tại theo giới địa. Trong phạm vi bị chi phối bởi khổ lạc, có bảy trú xứ của thức. Ngoài bảy trú xứ này, có hai xứ tức hai trạng thái tồn tại của thức mà các tôn giáo xem là cõi vĩnh hằng: vô tưởng xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tất cả đều thuộc về thế gian, trong vòng luân chuyển giới địa của thế gian. Trên tất cả là con đường dẫn xuất thế gian, có tám cấp bậc giải thoát của thức mà cuối cùng là tưởng thọ diệt tận định.
Bản kinh hé mở nhiều khía cạnh triết học, tôn giáo và cả tâm lý học nữa, rất cần thiết và bổ ích cho những ai muốn khám phá! (Xem lại kinh Đại Duyên Phương Tiện, số 13, Trường A-hàm).
98. Kinh Niệm Xứ208
Phương pháp hành thiền Tứ niệm xứ
__________________
208Tương đương Pâli: M. 10. Satipatthãna Sutta.
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ, Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo về phương pháp hành trì Bốn niệm xứ.
- Bốn niệm xứ là con đường tịnh hóa chúng sanh, vượt qua lo sợ, diệt trừ khổ não, chấm dứt kêu khóc, chứng đắc Chánh pháp.
- Các Đức Như Lai, Vô sờ trước, Đẳng chánh giác ở quá khứ, hiện tại và tương lai đều đoạn trừ năm triền cái, tâm ô uế, tuệ yếu kém, lập tâm chính trụ nơi Bốn niệm xứ, tu Bảy giác chi mà chứng quả giác ngộ.
a) Niệm xứ quán thân như thân: Bao gồm 14 bài tập là: niệm hơi thở; quán bốn uy nghi hay thân hành; chánh niệm tỉnh giác trong mọi hoàn cảnh; quán bất tịnh; quán bốn đại (các yếu tố tạo nên thân thể); và chín pháp quán tử thi ở nghĩa địa, từ khi chết cho đến khi phân hủy hoàn toàn.
b) Niệm xứ quán thọ như thọ: Thọ là các cảm giác dễ chịu, khó chịu, trung tính về thân, tâm. Thường xuyên tỉnh giác để nhận biết mình đang có loại cảm thọ nào nơi thân và nơi tâm.
c) Niệm xứ quản tâm như tâm: Tuệ tri tâm có hay không có tham, sân, si, tán loạn, quảng đại; tâm thâu nhiếp hay tán loạn; tâm hữu hạn hay vô thượng; có định không định, có giải thoát không giải thoát.
d) Niệm xứ quán pháp như pháp: Quán sáu xứ bên trong (khi lục căn duyên lục trần, sanh ra lục thức, phải quán sát thức có kết hay không, nội kết sanh biết sanh, đã được đoạn trừ biết đã đoạn trừ); quán Năm    triền cái, Bảy giác chi.
Đức Phật  khuyến tấn: “Nếu Tỳ-kheo,  Tỳ-kheo-ni nào luôn luôn trong từng khoảnh khắc lập tâm chính trú nơi Bốn niệm xứ thì nếu buổi sáng thực hành như vậy, nhất định buối tối liền được
thăng tấn. Nếu buổi tối thực hành như vậy, nhất định sáng hôm sau sẽ được thăng tấn”.
99. Kinh Khổ uẩn 209
Sự khác nhau giữa Phật giáo và ngoại đạo
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, có một số đông những người ngoại đạo tìm đến chỗ các Tỳ-kheo thảo luận. Họ nói rằng, có gì khác nhau giữa thuyết của Phật với thuyết của họ về ba vấn đề dục, sắc pháp và cảm thọ, vì họ cũng như Phật, hiểu biết hoàn toàn về ba pháp ấy. Các Tỳ-kheo không trả lời được chất vấn, nên đã đem vấn đề này trình bày lại với Phật. Phật giảng về sự liễu tri ba pháp ấy trong giáo lý Ngài, ấy là cần phải liễu tri ba điều: vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly khỏi chúng. Với ba điều này, ngoài Đức Thế Tôn, không có bất cứ một ai trên đời, từ chư Thiên cho đến Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, loài người, không có bất cứ ai có thể biết được nghĩa ấy để tuyên bố lên.
a) Đối với dục:
- Vị ngọt của dục là năm pháp tăng trưởng dục: các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái do năm giác quan tiếp nhận, khiến phát sanh lạc và hỷ.
- Sự nguy hiểm hay tai họa của dục: Vị ngọt của dục chỉ tột cùng đến đó chứ không thể hơn nữa, nhưng tai họa của nó thì rất nhiều.
+ Vì theo đuổi năm thứ ấy mà phải vất vả làm lụng đủ thứ nghề nghiệp.          '
+ Sự đau khổ thất vọng ê chề nếu sau bao nhiêu nỗ lực theo đuổi mà vẫn không có được điều mình muốn.
___________________
209 Tương đương Pâli: M. 13. Mahã-Dukkhakkandha Sutta.
+ Sự mất công gìn giữ, lo sợ mất mát khi đã có được.
+ Nỗi đau khổ ghê gớm khi tài sản đã có bị mất trộm, bị tịch thu, bị trôi, bị cháy, bị con hư phá tán.
+ Vì các dục mà chiến tranh xảy ra khắp nơi giũa người với người; ngay cả trong gia đình, vợ chồng con cái cũng tranh chấp nhau, đưa đến tử vong hoặc đau khổ gần chết.
+ Do dục mà con người trờ nên hung bạo táng tận lương tâm, đánh nhau chết bỏ.
+ Do dục mà có cướp bóc giết hại, và có những hình phạt ghê gớm dành cho tội nhân.
+ Do dục mà con người làm các ác hành về thân, ngữ, ý, chết đọa vào các cõi dữ. Đấy là nhũng nguy hiểm của dục.
- Sự xuất ly của dục: là điều phục lòng tham đối với sắc thanh hương vị xúc, cho đến đoạn tận tham dục, là đoạn trừ dục, xả ly dục, diệt tận dục, vượt qua khỏi dục mà thoát ly.
b) Đổi với sắc: ớ đây, Thế Tôn lấy nữ sắc làm ví dụ:
- Vị ngọt của sắc là vẻ đẹp nơi thiếu nữ, gợi lên cảm giác hỷ lạc nơi người nhìn.
- Nguy hiểm là vẻ già xấu, đầu bạc, răng rụng, lung còng, gối rũ, bệnh hoạn nằm một chồ. Nguy hiểm nữa là vẻ ghê tởm của xác chết khi bị quăng bỏ nơi nghĩa địa, cho đến khi chỉ còn là nhũng đốt xương rời rạc, tan thành tro bụi.
- Sự xuất ly khỏi sắc là điều phục dục tham đối với sắc, cho đến đoạn trừ tham dục.                                                
c) Đổi với cảm thọ:
Phật đưa ra hỷ lạc thiền định, để hiển thị ngay cả lạc thọ vô hại ấy cũng còn có nguy hiểm, huống hồ các lạc thọ khác. Vị ngọt là hỷ lạc do ly dục ở Sơ thiền, hỷ lạc do định ở Nhị thiền, lạc ở Tam thiền,
xả niệm thanh tịnh ở Tứ thiền. Đấy là vị ngọt tối thượng của cảm thọ, vì nó vô hại. Nguy hiểm của cảm thọ này là nó cũng vô thường, biến hoại, nên là khổ. Sự xuất ly các cảm thọ là điều phục dục tham đối với các cảm thọ, đoạn trừ dục tham.
Đối với những ai không biết đúng như thật vị ngọt, tai họa, xuất ly của dục, sắc và thọ thì không bao giờ có thể tự mình đoạn trù’ dục, sắc và thọ, huống nữa là đoạn trừ cho kẻ khác.
Ở trên đời này, duy nhất chỉ có Thế Tôn và những Thánh đệ tử mới biết được một cách thấu đáo về dục, sắc và thọ.
100. Kinh Khổ uẩn 2[210]
Làm sao hết tham sân si?
Đức Phật đến Thích-ki-sấu, trú tại Ca-duy-la-vệ, vườn Ni-câu-loại.
Bấy giờ, Thích Ma-ha-nam[211] hỏi Phật, vì nguyên nhân gì thỉnh thoảng ông vẫn bị tham sân si xâm chiếm mặc dù đã biết đấy là cấu uế của tâm, và hỏi có pháp nào trong ông chưa đoạn khiến ông vẫn bị tham sân si chi phối. Phật dạy, pháp ấy chính là dục. Vì ông chưa đoạn dục, để cho dục lèo lái ông nên ông vẫn sống trong gia đình, thụ hưởng các dục. Phật cho biết dục vui ít, khổ não nhiều, nguy hiểm lại còn nhiều hơn. về dục, nên biết rõ vị ngọt, nguy hiểm và sự xuất ly. Điều này được trình bày như kinh số 99 trên.
Tiếp theo, Phật kể cho Ma-ha-nam nghe mẩu đối thoại của Ngài với nhũng người Ni-kiền đang tu hạnh không ngồi, thực hành nhiều khổ hạnh, cảm thọ những đau khổ khốc liệt để chuộc tội lỗi quá khứ, vì tin như vậy sẽ được giải thoát. Phật hỏi họ tin như vậy mà không một chút hoài nghi sao? Họ trả lời không một chút hoài nghi. Phật kết luận: “Vậy thì Tôn sư Ni-kiền của các ông trước kia
 

210 Tương đương Pãli: M. 14. Cùịa-Dukkhakkhanda Sutta.
211 Thích Ma-ha-nam . Pãli: Sakka Mahãnãmo, con trai cùa Amitodana,anh em chú bác với Phật, chứ không phải là một trong năm vị đệ tử đáu tiên cùa Phật.
 
đã tạo các nghiệp ác bất thiện rất nặng, vị ấy vốn trước kia là Ni- kiền rồi chết đi, nay sanh vào nhân gian, xuất gia làm Ni-kiền, tu hạnh không ngồi, thường đứng không ngồi, chịu khổ sở như vậy, cũng như bọn các ông và đệ tử các ông vậy”.
Những người Ni-kiền lại bảo vệ niềm tin của mình rằng: “Hạnh phúc thành tựu nhờ đau khổ. Nếu hạnh phúc thành tựu nhờ hạnh phúc, thì vua Bình-sa (Bimbisra) sẽ hơn Tôn giả Gotama, vì vua đang sống hạnh phúc hơn Tôn giả Gotama”. Ni-kiền-tử lầm lạc khoái lạc giác quan là hạnh phúc, nên khi Phật hỏi liệu vua Bình-sa có thể làm như Ngài, ngồi yên bất động trong nhiều ngày mà vẫn cảm thấy thuần túy lạc thọ, thi Ni-kiền-tử phải công nhận Phật sống hạnh phúc hơn vua.
101. Kinh Tăng Thượng Tâm 212
Thiển là thay đổi cách tư duy
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Đức Phật dạy các Tỳ-kheo năm phương pháp để đối trị những bất thiện tầm có thể khởi lên trong khi thiền định, để được tăng thượng tâm.
Khi suy niệm về một tướng tương ưng thiện, nếu sanh tâm niệm bất thiện, thì:
- Hãy suy niệm về một tướng khác tương ưng với thiện. Như người thợ mộc kéo thẳng dây mực, búng lên thân cây rồi dùng rìu bén mà đẽo cho thẳng.
Quán sát nguy hiểm của những bất thiện tầm khi chúng khởi lên, khi ấy tư tưởng xấu kia được trừ diệt. Nhu một người trẻ tuổi ưa trang sức mà bị quàng vào cổ một cái xác rắn hay xác chó, người ấy phải ghê tởm.
____________________
212 Tương đương Pãli: M. 20. Vitakkasarìthãna Sutta.
- Tảng lờ đừng để ý đến chúng. Như người không muốn thấy một vật trước mắt, bèn nhắm mắt hoặc nhìn chỗ khác.
- Quan sát sự sanh diệt của những tư tưởng ấy, khiển nó giảm tốc độ và dần dần biến mất. Như một người đang đi đường rất nhanh kiềm chế đi chậm lại.
- Quyết tâm dùng tâm chế ngự tâm. Ngậm khít răng lại, lưỡi ấn lên khẩu cái, dùng tâm để tu tâm, giữ chặt tâm và hàng phục tâm, khiến không niệm ác bất thiện. Như hai lực sĩ bắt một người yếu, nắm vững và hàng phục nó.
Nhờ áp dụng năm phương pháp trên mà Tỳ-kheo được làm người tự chủ trên những con đường dẫn đến pháp chiêm nghiệm; muốn niệm thì niệm, không muốn niệm thì không niệm, Tỳ-kheo đã được tùy ý trong các suy niệm, tự tại trong các đạo tích suy niệm.
102 . Kinh Niệm213
Phân loại tư tưởng
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rùng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn kể cho các Tỳ-kheo nghe về những nỗ lực, những phấn đấu để đạt được giác ngộ.
Lúc còn tu tập, Phật phân loại các tư tưởng khởi lên thành hai nhóm. Một nhóm đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não: đó là những tư duy liên hệ đến dục, sân và hại. Khi tuệ tri như vậy, các tư duy ấy được Ngài từ bỏ, đoạn tận. Một nhóm không đưa đến hại mình, hại người, hại cả hai; tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn: đó là những tư duy liên hệ đến ly dục, vô sân và bất hại. Khi an trú với những tàm này, dù cả ngày đêm Ngài cũng không thấy sợ hãi. Nhờ
____________________
213 Tương đương Pâli: M. 19. Dvedhãvitakka Sutta.
Ngài dũng mãnh tinh tấn như vậy, nên được định tĩnh nhất tâm, chứng bốn thiền cho đến ba minh, thành Phật.
Cuối bản kinh, Đức Thế Tôn nói Ngài đẵ mở con đường chính (Tám Thánh đạo), bít lấp con đường hiểm (tám tà đạo), san bằng hầm hố (vô minh), đuổi người coi giữ (ma và quyến thuộc của ma) cho các đệ tử rồi, phần còn lại các đệ tử phải tự mình thực hiện, hãy đến chỗ vô sự, núi rừng, gốc cây, hoặc chỗ nào yên tĩnh mà thiền tọa tư duy, chớ nên phỏng dật. Hãy chuyên cần tinh tấn, đùng để về sau phải hối hận. Đó là lời răn dạy của Như Lai.
103. Kinh Sư Tử Hống214
Cứu cánh chi có một
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ, Đức Phật tuyên bố rằng: Chỉ trong Chánh pháp của Phật mới có bốn quả Sa-môn, ngoài ra, không có bất kỳ tôn giáo nào trên thế gian này có bốn quả Sa-môn.
Sự tuyên bố đó được gọi là chân chính rống tiếng rống như sư tử. Vì sao như vậy?
Bởi chỉ có Đức Thế Tôn mới là bậc có trí, có kiến; là Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chảnh giác, thuyết giảng bốn pháp. Nhân nơi bốn pháp này mà có bốn quả Sa-môn. Bốn pháp đó là: tin đấng Đạo sư, tin Pháp, viên mãn Giới luật và cỏ những pháp hữu tại gia, xuất gia biết thương yêu nhau, mến mộ nhau. Nếu như các ngoại đạo cho rằng họ cũng có bốn pháp đó, thì phải biết rằng cứu cánh chỉ có một chứ không phải nhiều, và cứu cánh đó chỉ thuộc về những người không có dục, không có nhuế, không có si, không có ái, không có thủ, không có tắng, không có tránh; chỉ thuộc về người có tuệ, có thuyết tuệ.
_________________
214 Tương đương Păli: M. 11. (CũỊa)-Sĩhanãda Sutta.
Đức Phật khẳng định, tất cả các tôn giáo, triết học đều nương nơi vô lượng kiến, tức là đều có chủ trương, nhận thức, quan điểm khác nhau, nhưng không nằm ngoài hai kiến là hữu kiến và vô kiến, nói cách khác là chấp có hoặc chấp không. Nếu nương nơi hữu kiến, thì bám dính hữu kiến, nương cậy nơi hữu kiến, y trụ nơi hữu kiến và tranh chấp, phản đối với quan điểm vô kiến. Nếu nương nơi vô kiến, thì bám dính vô kiến, nương cậy nơi vô kiến mà tranh chấp, phản đối với quan điểm hữu kiến.
Nguyên nhân dẫn đến sự bám víu vào những loại kiến trên là không biết một cách nhu thật về bảy khía cạnh của vấn đề, là nhân, tập, diệt, tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu; vì vậy mà dẫn đến hệ quả có dục, có nhuế, có si, có ái, có thủ, không có tuệ, không có thuyết tuệ, có tắng, có tránh; vị đó không lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết, cũng không thể thoát khỏi sự buồn rầu, kêu khóc, lo khổ, áo não, không đoạn tận khổ biên.
Cũng cỏ những Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương đoạn trừ thủ, nhưng không chủ trirơng đoạn trừ tất cả thủ, như chỉ đoạn trừ dục thủ mà không đoạn trừ giới thủ, kiến thủ, ngã thủ, bởi họ không nhìn thấy hay không biết sự tồn tại của chúng. Đối với những người như vậy, người nào tin đấng Tôn sư, người đó không phải là chân chính, không phải là đệ nhất. Nếu tin pháp, cũng không phải là chân chính, không phải là đệ nhất. Neu ái kính bạn đồng đạo, chân thành phụng sự, cũng không phải chân chính, không phải đệ nhất.
Chỉ có Thế Tôn mới chủ trương đoạn trừ tất cả thủ, chủ trương đoạn trừ dục thủ, giới thủ, kiến thủ, ngã thủ và biết rõ sự tập khởi của bốn thủ ấy là từ vô minh, lấy vô minh làm gốc. Cho nên, người nào vô minh đã diệt tận, minh tuệ đã phát sanh, vi'dó từ đây không còn trở lại chấp thủ dục, chấp thủ giới, chấp thủ kiến và chấp thủ ngã nữa. Vị đó đã không chấp thủ rồi thì không còn lo sợ. Đã không lo sợ nên đoạn trừ nhân duyên, chắc chắn chứng đắc Niết-bàn và biết đúng như thật rằng ‘Sự sanh đã hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh’.
Trong Pháp Luật chân chính như vậy, nếu người nào tin đấng Tôn sư thì đó là người chân chính, là người bậc nhất; nếu tin Pháp thì đó là người chân chính, là người bậc nhất; nếu tin sự thành mãn của giới đức, đồng đạo có ái kính, thì đó là người chân chính, là người bậc nhất; nếu đồng đạo có ái kính, có phụng sự chân thành thì đó là nguời chân chính, là người bậc nhất. Từ đây mới có bốn quả Sa-môn.
Nội dung trên đây, được nói như vậy, tuyên bố như vậy bởi Thế Tôn hay hội chúng của Ngài, gọi là rống tiếng rống như sư tử.
104. Kinh ưu-đăm-bà-la 215
Lối tu của ngoại đạo
Đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Dị học Vô Nhuế là tông chủ của nhóm tu khổ hạnh kinh tởm[216]. Ông huênh hoang tự cho mình có khả năng hủy diệt tông chỉ của Thế Tôn chỉ bằng một vấn đề, và dạy đồ chúng không được đón tiếp, mời chào, tỏ vẻ kính trọng khi gặp Đức Thế Tôn, nhưng chính ông ta đã phản lại điều mình đặt ra.
Đức Phật phân tích cho Dị học Vô Nhuế thấy rõ lối tu hành khổ hạnh lấy sự ghê tởm làm bản chất mà họ cho là hoàn toàn đó bị vô lượng cấu uế làm ô nhiễm.
Theo đó, nếu người chuyên tu khổ hạnh một cách tân khổ đi nữa mà còn có niệm ác dục, niệm tưởng dục, cống cao, quý mình khinh người, tự khen mình, sanh lòng tật đố, chỉ trích người khác, còn có sầu, có si, khủng bố, khùng cụ, sống lén lút, nghi ngờ, sợ mất tiếng, tham lam, phóng dật, sanh thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, khó tánh, không biết tiết hạn, nhũng pháp mà Sa-môn,
 

215 Tương đương Păli: D. 25. Udum-barika-sĩhanăda Suttanta.
216 Khổ hạnh kinh tởm, tức lối tu hành khổ hạnh lấy sựghêtởm làm bản chất. Pãli: tapojiguccha.
 
Bà-la-môn phải thông suốt lại không thông suốt, có sân triền, phú kết, bỏn sẻn, ganh tị, dua siểm, dối trá, vô tàm, vô quý, nói dối, nói hai lưỡi, nói thô ác, nói phù phiếm, đủ cả ác giới, không có tín tâm, giải đãi, không chánh niệm, chánh trí, có đủ ác tuệ... thì cái lối tu khổ hạnh kinh tởm được xem là hoàn toàn đó bị vô lượng cấu uế làm ô nhiễm.
Ngược lại, nếu người chuyên tu khổ hạnh một cách tân khố mà không có các tâm niệm trên thì được gọi là khổ hạnh không cấu uế.
Thế nhung, cả hai lối tu khổ hạnh kinh tởm này đều chưa đạt đến bậc nhất, chưa đạt đến chân thật. Rồi Phật chỉ cho Vô Nhuế thấy có hai hạnh đạt đến vỏ và đạt đến đốt.
Lối tu tập được phòng hộ bằng bốn cấm giới luật nghi, không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối; đồng thời phát triển tâm đi đôi với từ, bi, hỷ; tâm đi đôi với xả, không kết, không oán, không sân nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng, tu tập biến mãn khắp cả thế gian, thành tựu và an trụ. Lối tu tập như vậy gọi là khổ hạnh đạt đến vỏ ngoài.
Có Sa-môn, Bà-la-môn tu tập bốn hạnh, không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói dối, chứng túc mệnh minh và thiên nhãn minh. Đến đây, Đức Phật hỏi Vô Nhuế phải chăng người tu hành khổ hạnh đến mức độ như vậy được gọi là chân thật? Vô Nhuế trả lời tu tập như vậy là đã đạt đến bậc nhất, đạt đến chân thật, và hỏi Đức Phật phải chăng các đệ tử đã nương theo Đức Phật để đạt được điều đó? Đức Phật trả lời không phải khiến cho Vô Nhuế và cả chúng hội của ông không thể biết được được còn pháp nào được gọi là tối thượng tối diệu, tối thắng.
Khi ấy, Đức Thế Tôn nói pháp tối thượng, tối diệu chính là Phật Thế Tôn xuất hiện ở thế gian, xả bỏ năm triền cái làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, ly dục, ly pháp ác bất thiện, cho đến chúng Tứ thiền, thành tựu và an trụ; với định tâm như vậy, thanh tịnh không ô uế,
không phiền não, nhu nhuyến, khéo an trụ, chứng đắc tâm bất động mà thú hướng sự diệt tận các lậu, tự thân chứng ngộ trí thông, biết như thật rằng ‘Đây là Khổ, đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, biết như thật đây là Khổ diệt đạo’. Cũng biết như thật đây là lậu, biết đây là lậu tận, đây là lậu diệt, biết như thật đây là lậu diệt đạo. Vị đó biết như vậy, thấy như vậy rồi thì tâm giải thoát dục lậu, tâm giải thoát hữu lậu, vô minh lậu. Giải thoát rồi liền biết mình đã giải thoát, biết đúng một cách như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
105. Kinh Nguyện 217
Những điểu ước nguyện
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn cấp- cô-độc. Ngài dạy cho các Tỳ-kheo những điều cần ước nguyện.
Một Tỳ-kheo xuất gia học đạo là từ bỏ mọi tham muốn giữa cuộc đời trần tục, nhưng như thế không có nghĩa là vị Tỳ-kheo ấy không có ước nguyện gì cả, mà trái lại, còn có rất nhiều ước nguyện và ước nguyện nào cũng cao cả, hướng thượng. Đó là, vị Tỳ-kheo nỗ lực thành tựu giới Cụ túc và không phế bỏ thiền định, thành tựu quán hạnh ở nơi không tịnh, để rồi ước nguyện cho thân tộc, cho đàn na thí chủ, cho tất cả mọi chúng sanh, và cũng ước nguyện cho bản thân minh có đủ nghị lực, sức nhẫn nại để vượt qua mọi khó khăn, chướng ngại trên bước đường tu tập nhằm đạt được thánh quả.
106 . Kinh Tưởng218
Còn tư duy hữu ngã là còn giới hạn hiểu biết
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
__________________
217Tương đương Pâli: M. 6. Ãkankheyya.
218 Tương đương Pãli: M. 1. Mũlapariyáya Sutta
Đức Phật nói, những ai có tư tưởng cho rằng đất, nước, lửa, gió, thần, trời, Sanh chủ, Phạm thiên, Vô phiền thiên, Vô nhiệt thiên, Tịnh thiên, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng, với nhất thế, dị biệt, đa thù, cái được thấy, cái được nghe, cái được nhận thức, cái được liễu tri, cái được làm, cái được quán sát; cái được tác ý, cái được ý tư duy, từ đời này đến đời kia, từ đời kia đến đời này, cho đến, cái tất cả.,. là thần ngã, tất cả là sở hữu của thần ngã, thần ngã là sở hữu của tất cả, thì người đó không hề biết gỉ về đất, nước... cho đến cái tất cả.
Ngược lại, những ai có tư tưởng cho rằng, đất, nước... cho đến cái Tất cả không phải là ngã, cái Tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của cái Tất cả, người đó được coi là biết về đất, nước... cho đến cái tất cả. Chính Đức Thế Tôn cũng xác nhận: “Cái Tất cả không phải là ngã, cái Tất cả không phải là sở hữu của ngã, ngã không phải là sở hữu của cái Tất cả’. Ta đã không cho cái Tất cả là ngã, vậy là Ta đã biết rõ cái Tất cả”.
k. Phẩm Lâm
Gồm 10 kinh, diễn tả đời sống tu hành của một Tỳ-kheo, nên ở đâu, tu hành thế nào... để được giải thoát.
107. Kinh Lâm 1219
Nên ở đâu để tu?
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Đức Thế Tôn chỉ cho các Tỳ-kheo biết trú xứ nào nên ở, trú xứ nào nên bỏ đi. Có bốn trú xứ mà một Tỳ-kheo cần phải biết phân biệt để lựa chọn cho mình một chỗ ở thích họp.
Ở nơi nào mà mình không có chánh niệm liền được chánh niệm,
______________________
219 Tương đương Pãli: M. 17. Vanapattha Sutta.
tâm chưa định liền được định, chưa giải thoát liền được giải thoát, các lậu chưa hết liền được đoạn hết, chưa chứng đắc Niết-bàn an ổn vô thượng thì liền chứng đắc Niết-bàn, thì ở lại đó, dù cho có khó khăn trong đời sống vật chất. Dĩ nhiên, một người xuất gia học đạo không phải vì áo chăn, không phải vì ăn uống, giường chõng, thuốc thang, cũng không phải vì vật dụng cho đòi sống, nhưng nếu cả hai yếu tố tinh thần và vật chất đều được đầy đủ thì phải nên nương theo trú xứ đó mà tu tập cho đến trọn đời.
Ngược lại, ở nơi nào dù có điều kiện vật chất tiện nghi đầy đủ, nhung thiện pháp không tăng trưởng, ác pháp mỗi ngày mỗi tăng trưởng thì nên bỏ đi; và nơi nào mà cả vật chất và tinh thần đều không đạt được thì bỏ đi càng sớm càng tốt.
108. Kinh Lâm 2[220]
Tương tự kinh 107. Tỳ-kheo với lý tưởng xuất gia học đạo là thành đạt ý nghĩa của Sa-môn, nên chọn trú xứ tu tập nào mà có thể thành đạt được lý tưởng đó, dù điều kiện vật chất khó khăn; trường họp vật chất khá tiện nghi thì ở trọn đời để tu tập. Ngược lại, tu học ở noi nào mà không thực hiện được lý tưởng giải thoát, thì dù có đầy đủ tiện nghi cũng bỏ đi, nói gì đến việc thiếu tiện nghi!
109. Kinh Tự Quán Tâm 1[221]
Hãy tự quán tâm mình
Đức Phật dạy: Nếu Tỳ-kheo không thiện xảo quán tâm người khác, hãy thiện xảo tự quán sát tâm của chính mình, bằng cách tu tập Thiền chỉ và Thiền quán song hành. Sau khi thành tựu chỉ quán, nên cầu lậu tận trí.
110. Kinh Tự Quán Tâm 2
Tu tập là nhìn lại tâm mình
 

[220]   Tương đương Pãli: M. 17. Vanapattha Sutta.
[221]   Tương đương Pâli: A. X. 51,54. Sacitta.
 
Dạy các Tỳ-kheo phải tự quán chiếu tâm mình xem có tham lam, sân nhuế, thùy miên, trạo hối, cống cao, nghi hoặc, thân tránh[222], tâm ô uế, bất tín, giải đãi, không suy niệm, không tâm định, thường hành ác tuệ hay không. Nếu có, phải diệt trừ pháp ác bất thiện này, phải nhanh chóng tìm cầu phương tiện, học tập, tinh cần, chánh niệm, chánh trí, kham nhẫn, đừng để bị thoái chuyển. Nếu quán chiếu tâm mà không thấy có pháp ác bất thiện trên, thì nên mong cầu tụ thân chứng ngộ lậu tận trí thông.
111. Kinh Đạt Phạm Hạnh [223]
Vô minh là nguồn gốc của các lậu
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
Bấy giờ Ngài chỉ dạy cho các Tỳ-kheo pháp môn quyết trạch gọi là “Đạt phạm hạnh”, có thể diệt tận các lậu.
Theo đó, pháp môn “Đạt phạm hạnh” có nghĩa là phải biết phân biệt nguyên nhân sanh khởi, sự báo ứng, đặc tính sai biệt, sự diệt tận và con đường diệt tận các lậu, thọ, tường, dục, nghiệp và khổ.
Lậu gồm có dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Nguyên nhân sanh khởi các lậu là vô minh. Sự báo ứng của lậu là dẫn đến tái sanh chỗ này, chỗ kia. Đặc tính sai biệt của lậu là có lậu khiến sanh vào địa ngục, có lậu khiến sanh vào súc sanh, có lậu khiến sanh vào ngạ quỷ, có lậu khiến sanh vào cõi trời, hoặc có lậu khiến sanh vào cõi người. Sự diệt tận của lậu là vô minh diệt. Con đường diệt tận các lậu là Thánh đạo tám chi.
Thọ gồm có cảm thọ lạc, cảm thọ khổ và cảm thọ không khổ không lạc. Nguyên nhân sanh khởi cảm thọ là do xúc. Sự báo ứng
 

[222]Thân tránh ịịẳị. Pãli: sãraddhakàyo, cửchl thô bạo, nóng nảy.
[223] Tương đương Pãli: A. VI. 63. Nibbedhika Sutta.
 
của thọ là dẫn đến ái. Đặc tính sai biệt của thọ là biết mình đang cảm nhận khổ, lạc hay không khổ không lạc khi thân, tâm tiếp xúc với các dục. Sự diệt tận của thọ là xúc diệt. Con đường diệt tận các thọ là Thánh đạo tám chi.
Tưởng gồm có bốn tưởng đó là tưởng nhỏ, tưởng lớn, tưởng vô lưọng và tưởng xứ vô sở hữu. Nhân sanh tưởng là xúc. Báo úng của tưởng là kểt quả của ngôn ngữ tập quán, nó nhận biết vật ấy như thế nào thì nó nói như thế, rằng “tôi có tưởng” (có ấn tượng) như vậy. Đặc tính sai biệt của tưởng là có sự khác biệt trong các tưởng về sắc, thanh, hương, vị và xúc. Sự diệt tận của tưởng là khi xúc diệt. Con đường diệt tận các tưởng là Thánh đạo tám chi.
Dục có năm khía cạnh là khả ái, khả hỷ, mỹ sắc, tương ưng với dục, rất khả lạc, đó là sắc được biết bởi mắt, thanh được biết bởi tai, hương được biết bởi mũi, vị được biết bởi lưỡi, xúc được biết bởi thân, pháp được biết bởi ý. Nhân sanh dục là xúc. Báo ứng của dục là tùy theo chủng loại dục mà sanh ái lạc, đắm trước rồi trụ vào đó, do nhân duyên đó lãnh thọ quả báo, đến chỗ có phước, đến chỗ phi phước hay chỗ bất động. Đặc tính sai biệt của dục là hoặc có dục ham muốn sắc, hoặc có dục ham muốn tiếng, hoặc có dục ham muốn hương, hoặc có dục ham muốn vị, hoặc có dục ham muốn xúc. Sự diệt tận của dục là xúc diệt. Con đường diệt tận dục là Thánh đạo tám chi.
Nghiệp có hai loại là nghiệp được tư duy, và nghiệp sau khi tư duy rồi hành động bởi thân, miệng. Nhân sanh của nghiệp là xúc. Báo ứng của nghiệp là nghiệp đen có quả báo đen, nghiệp trắng có quả báo trắng, nghiệp đen trắng có quả báo đen trắng, hoặc nghiệp không đen không trắng thì không có quả báo và nghiệp tận. Đặc tính sai biệt của nghiệp là có nghiệp khiến sanh vào địa ngục, có nghiệp khiến sanh vào súc sanh, có nghiệp khiến sanh vào ngạ quỷ, có nghiệp khiển sanh vào cõi trời, hoặc có nghiệp khiến sanh vào cõi người. Sự diệt tận của nghiệp là xúc diệt. Con đường diệt tận nghiệp là Thánh đạo tám chi.
Khổ gồm có khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ oán tắng hội, khổ ái biệt ly, khổ cầu bất đắc; nói tóm, năm thủ uẩn là khổ. Nhân sanh của khổ là ái. Báo ứng của khổ là có khổ nhiều, có khổ ít, có khổ biến mất chậm, có khổ biến mất nhanh. Đặc tính sai biệt của khổ là nhân mong cầu mà sanh khổ, nhân tập khởi mà sanh khổ. Sự diệt tận của khổ là ái diệt. Con đường diệt tận khổ là Thánh đạo tám chi.
Trên đây là nội dung của kinh Đạt Phạm Hạnh.
112. Kinh A-nô-ba 224
Đừng nhìn bề ngoài
Đức Phật trú tại Bạt-kì-sấu, ở đô ấp A-nô-ba của người Bạt-kì.
Bấy giờ Thế Tôn nói với A-nan, rằng Ngài xác định Đe-bà-đạt- đa chắc chắn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, ở đấy trọn kiếp, không thể cứu vớt; nếu Ngài thấy Đề-bà-đạt-đa có được chút pháp bạch tịnh bằng một sợi lông, thì đã không xác định như vậy.
Rồi Ngài giảng cho đại chủng nghe về Đại nhân căn trí của Như Lai, hiểu biết chân chính về gốc rễ của các pháp, bằng tha tâm trí quán chiếu bên trong tâm của người khác đế biết người nào đạt pháp thanh tịnh, người nào đạt pháp suy thoái, người nào khi thân hoại mạng chung chắc chấn đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, người nào ngay trong đời này chứng đắc Niết-bàn.
Bản kinh cho biết, đế nhận định đúng đắn về một người nào đó không thể chỉ quán sát hình thức bên ngoài mà phải thấu đạt, thấy rõ gốc rễ của các pháp từ bên trong tâm thức.
113. Kinh Chư Pháp Bổn 225                           
Niết-bàn là cứu cánh
___________________
224 Tương đương Pãli: A. VI. 62. Udaka
225 Tương đương Pãli: A. VIII 83. X.58. Mũlá.
Nói dục là gốc của các pháp, xúc là hòa hiệp của các pháp, thọ là dẫn khởi của các pháp, tác ý là hiện hữu của các pháp, niệm là thượng thủ của các pháp, định là tiền đạo của các pháp, tuệ là tối thượng của các pháp, giải thoát là chắc thật của các pháp, và Niết- bàn là cứu cánh của các pháp.
114. Kinh ưu-đà-là [226]
Cội gốc của ung nhọt
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Đức Phật kể cho các Tỳ-kheo nghe về Uddaka- Rãmaputta, vị đạo sĩ đã dạy cho Ngài lúc chưa thành đạo về pháp tu Phi tưởng phi phi tưởng. Đức Phật cho biết ông này không biết tất cả mà tự cho là biết tất cả, không có giác ngộ tự xưng có giác ngộ; cảnh giới chứng đắc cao nhất mà ông này đạt được là Phi tưởng phi phi tưởng xứ; sau khi thân hoại mạng chung, ông sanh vào cõi trời đó; khi chấm dứt tuổi thọ ở đó, ông trở lại nhân gian, sanh vào loài chồn.
Rồi Đức Thế Tôn chỉ cho các Tỳ-kheo phép quán sát chân chính, đó là biết sáu xúc xứ, cũng như ba cảm thọ, biết tập, biết diệt, biết vị ngọt, biết tai hoạn và biết sự xuất yếu của chúng; bằng tuệ mà biết một cách như thật.
Ngài nói ung nhọt chính là thân này. Cội gốc của ung nhọt là ba ái: dục ái, sắc ái và vô sắc ái. Tất cả lậu gây ung nhọt là sáu xúc xứ, mắt lậu thấy sắc, tai lậu nghe tiếng, mũi lậu ngửi mùi, lưỡi lậu nếm vị, thân lậu cảm xúc, ý lậu biết các pháp.
115. Kinh Mật Hoàn Dụ [227]                              
Mục đích giáo dục của Phật giáo
 

[226]   Tương đương Pãli: s. 35.103. Uddaka.
[227]   Tương đương Pãli: M. 18. Madhupiṇḍika Sutta.
 
Bấy giờ, Dandapãnĩ Sakka, cậu ruột của Phật, hỏi Phật lấy gì làm tông chỉ? Và thuyết giảng những pháp gì? Đức Phật trả lời tông chỉ giáo pháp của Ngài là: không đấu tranh, tu tập ly dục, thanh tịnh phạm hạnh, lìa bỏ siểm khúc, dứt trừ truy hối, không đắm trước nơi hữu, phi hữu, cũng không có tưởng[228].
Được trả lời như vậy, Daṇḍapānī Sakka không cho là phải, không cho là trái, mà lặng lẽ bỏ đi.
Sau đó, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn kể lại cho các Tỳ-kheo nghe sự kiện nêu trên rồi nói pháp thoại vắn tắt, rằng: người đối với hý luận nhân đó mà xuất gia học đạo, tu tập tư tưởng, và đối với pháp hiện tại, quá khứ và vị lai, mà không ái, không lạc, không đắm trước, không trụ, đó gọi là tận cùng sự khổ. Dục sử, nhuế sử, hữu sử, mạn sử, vô minh sử, kiến sử, nghi sử, đấu tranh, thù nghịch, siểm nịnh, lừa bịp, nói dối, nói hai lưỡi và vô lượng pháp ác bất thiện khác, đó gọi là biên tế khổ.
Khi ấy, các Tỳ-kheo chưa hiểu được nội dung của pháp thoại mà Đức Thế Tôn đã nói bởi quá vắn tắt và cô đọng nên đã tìm đến Tôn giả Ca-chiên-diên để thỉnh ngài giải nghĩa. Đây được xem là hình thức giảng giải kinh sớm nhất và được coi như là một bài mở rộng ý nghĩa của kinh, tức là luận, sớ giải, cơ sở hình thành luận tạng sau này.
116. Kinh Cù-đàm-dì[229]
Nữ chúng xuất gia
Tại đây, di mẫu của Phật, bà Mahãpajãpatī Gotamī, hai lần xin được xuất gia, nhưng Phật đều từ chối. Rồi Phật lên đường hoằng pháp, đến và trú tại tinh xá Na-ma-đề Kiền-ni, di mẫu Cù-đàm-di
 

[228]   Hán: (...) diệc vô tưởng , Pāli: (...) taṃ brahmaṃ... bhavābhave vītataṇhaṃ
saññā nānusenti, các tưởng không tiểm phục nơi người Bà-la-môn mà tham ái, hữu ái và phi hữu ái đã bị loại trừ. Không nên lám ở đây Phật chủ trương "vô tưởng".
229 Tương đương Pāli: A. VIII. 51. Gotamī, Vin. Culla-V X.I.
 
Đại Ái cùng với các lão mẫu đã chạy bộ theo Phật, rách cả gót chân, mình mẩy dính đầy bụi bặm, vào gặp Thế Tôn, một lần nữa xin được xuất gia, và lần thứ ba Đức Phật từ chối cho người nữ xuất gia.
Khi ấy, Cù-đàm-di Đại Ái thất vọng ra đứng ngoài cửa buồn rầu khóc lóc. Tôn giả A-nan trông thấy, đến hỏi và biết sự tình. Tôn giả liền vào xin Phật cho người nữ xuất gia, với lý do như Phật đã khắng định là người nữ cũng có khả năng giác ngộ bình „  đẳng như nam giới. Đức Phật nói nếu cho người nữ được xuất
gia thì phạm hạnh này sẽ không được tồn tại lâu dài, giống như gia đình có nhiều người nữ thì khó có được sụ hưng thịnh, hay như ruộng lúa bị cỏ uế xen tạp thì chắc chắn sẽ bị thất thu. Nhưng rồi cuối cùng Đức Thế Tôn cũng cho phép người nữ xuất gia với điều kiện phải lãnh thọ thêm Bát kỉnh pháp. Cù-đàm-di Đại Ái không những chỉ chấp nhận Bát kỉnh pháp mà còn thấy rằng Bát kỉnh pháp làm cho một Tỳ-kheo-ni càng trở nên đẹp hơn, như một người con gái giàu sang xinh đẹp lại được trang sức lộng lẫy.
về sau, khi Ni đoàn lớn mạnh, có những Tỳ-kheo-ni Trưởng lão thượng tôn, vốn xuất thân từ danh gia vọng tộc và tu phạm hạnh lâu năm kiến nghị với Tôn giả A-nan, mà qua đó, Tôn giả có thể bạch lên Thế Tôn để xin được châm chế một trong những điều của Bát kỉnh pháp là đề nghị Tỳ-kheo nhỏ tuổi, mới xuất gia học đạo nên kính lễ Tỳ-kheo-ni Trưởng lão. Đức Thế Tôn đã không chấp nhận đề nghị này với nhiều lý do khác nhau.
Bản kinh có nhiều điếm khác biệt so với bản Pãli và các bản Hán dịch khác, kể cả Luật tạng, nên cần được đối chiếu tỷ giảo để tránh được những nhận định sai lầm có thể về Bát kỉnh pháp.
C. Ngày thứ ba tụng một phẩm rưỡi
Gồm có 35 kinh.
1. Phẩm Đại
Gồm 25 kinh, nhấn mạnh về đức tính tối thắng, tối tôn, tối thượng của Phật.
117. Kinh Nhu nhuyến [230]
Cuộc sống thế tục của Tất-đạt-đa
Bấy giờ, Đức Phật kể lại đời sống sang cả của mình khi còn là Thái tử, tận hưởng mọi thứ xa hoa, đầy đủ bốn quyền lực của thiếu niên con nhà phú quý: gấm vóc lụa là, cung điện cho các mùa, vườn hoa tráng lệ, và thức ăn thượng hạng. Thế nhưng, trong hoàn cảnh sang cả như vậy, Thái tử Tất-đạt-đa lại có những tư duy mà những người ở vào vị trí như Ngài không có được, những tư duy đưa đến sự chấm dứt tâm lý cống cao, ngã mạn...
Chính nhũng tư duy này đã đưa Ngài đến một cảm thọ hỷ lạc đầu tiên, gọi là Sơ thiền, mà sau này nó trở thành kinh nghiệm quý báu cho sự chuyển đổi phương pháp tu tập và chính sự thay đổi đó đã đưa Ngài đến quả vị giác ngộ tối thượng.
118. Kinh Long Tượng[231]
Quart niệm về rồng trong Phật giáo
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, ở tại Đông viên, giảng đường Lộc mẫu.
Bấy giờ Ngài cùng với Tỳ-kheo Ô-đà-di đi tắm ờ Đông hà. Tại đây xảy ra sự kiện, có con voi của vua Ba-tư-nặc rất to lớn lội qua Đông hà và dân chúng tường rằng đó là chúa của loài rồng.
Bản kinh cho chúng ta biết quan niệm của Qgười dân Ẩn Độ lúc bấy giờ xem rồng là loài vật to lớn nhất, nên hễ bất cứ loài gì, vật gì mà to lớn họ đều tưởng là rồng. Chỉ có Đức Phật là không
 

[230]   Tương đương Pãli: A. III. 38-39. Sukhumãla Sutta.
[231]   Tương đương Pãli: A. VI. 43. Năga.
 
quan niệm như vậy. Ngài nói bất cứ ai, từ người cho đến trời ở trên đời này mà không làm hại bằng thân, miệng, ý, thì Ngài nói vị ấy chính là rồng. Chính Đức Phật cũng tự nhận mình là rồng: “Như Lai ở trong thế gian này bao gồm Trời, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn (hay bất cứ ai) từ người cho đến trời đều không dùng thân, miệng, ý để làm hại, cho nên Ta được gọi là rồng”. Rồng, như vậy không còn mang ý nghĩa to lớn về thể hình, mà là biểu thị đức tính siêu việt, không dùng thân, miệng, ý để làm tổn hại đến các loài khác.
119. Kinh Thuyết Xứ232
Cơ sở của ngôn luận
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Thuyết xứ M, Pãli: tĩni kathãvatthũni, có nghĩa là ba luận sự, cơ sở của ngôn luận. Đức Phật nói có ba thuyết xứ, tức ba cơ sở của ngôn luận, là biết một vấn đề có liên hệ đến quá khứ, hiện tại hoặc tương lai. Neu Tỳ-kheo nào thấy rõ một vấn đề và tuyên bố đã thấy, nghe, hiểu biết, tức là đã đưa ra một định đề có cơ sở.
Thông thường, một Tỳ-kheo chỉ tuyên bố một vấn đề sau khi đã hoàn ihành sự nghiệp giải thoát, sanh đã tận, phạm hạnh đã thành. Tuy nhiên, Đức Phật cho biết có bốn trường họp để quan sát một người nào đó có tuyên bố đúng sự thật hay không, để biết rằng người đó đáng được luận thuyết, có thể cùng nói, hoặc không thể cùng nói, tức thẩm định lại thuyết xứ.
Trong bốn trường hợp, với câu hỏi khẳng định mà không trả lời khẳng định, với câu hỏi phân biệt mà không trả lời phân biệt, với câu hỏi phản vấn mà không trả lời phản vấn, với câu hỏi xả trí vấn mà không trả lời xả trí, thì không thể cùng nói, cũng không thể cùng thảo luận với người này.
_________________
232 Tương đương Pãli: A. III. 67. Kathãvatthu.
Ngược lại, với câu hỏi khẳng định mà trả lời khẳng định, với câu hỏi phân biệt mà trả lời phân biệt, với câu hỏi phản vấn mà trả lời phản vấn, với câu hỏi xả trí vấn mà trả lời xả trí, như vậy, có thể cùng nói, cũng có thể cùng thảo luận với người này.
Bản kinh cho chúng ta một nhận thức hết sức thực tiễn, rằng dẫu đạo vốn vô ngôn, nhưng không có nghĩa là bậc Thánh không nói gì cả, mà nói “với lời nói trầm tĩnh, xả bỏ sở kiến của mình, xả bỏ ý kết oán, xả bỏ tham dục, xả bỏ sân nhuế, xả bỏ si ám, xả bỏ kiêu mạn, xả bỏ bất ngữ, xả bỏ tật đố, không háo thắng, không ép người, không chấp chặt khuyết điểm, nói nghĩa nói pháp. Sau khi nói nghĩa nói pháp, khuyên dạy, rồi lại khuyên dạy cho bỏ, tự mình hoan hỷ, khiến người kia cùng hoan hỷ. Thuyết nghĩa như vậy, thuyết sự như vậy, là Thánh thuyết nghĩa, là Thánh thuyết sự; nghĩa là đã cứu cánh tận diệt hết lậu”.
120. Kinh Thuyết Vô Thường233
Quán năm uẩn là vô thường
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ Đức Phật dạy các Tỳ-kheo quán 5 uẩn là vô thường, đồng thời tu tập phẩm trợ đạo, giữ chánh niệm, để đạt được an ổn khoái lạc, tức chúng quả A-la-hán, bởi trong tất cả các cảnh giới mà chúng sanh cư trú, từ địa ngục đến Phi tưởng phi phi tưởng, không chỗ nào được an ổn, chỗ nào cũng bị vô thường chi phối, duy nhất Niết-bàn tịch tịnh mới là chỗ an ổn khoái lạc.
121. Kinh Thỉnh Thỉnh 234
Như Lai chân tử
________________
233 Tương đương Pāli: s. 22,76. Arahanta.
234 Tương đương Pāli: s. 8,7. Pavāraṇā.
Đức Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca- lan-đa, cùng với 500 vị Tỳ-kheo.
Bấy giờ là ngày rằm tháng Bảy, ngày Tự tứ sau khi kết thúc ba tháng an cư. Tự tứ nghĩa là các Tỳ-kheo chỉ điểm lẫn nhau những điều luật. Đức Phật nói: “Các ngươi là con chân chính của Ta, thọ sanh từ miệng, hóa sanh từ pháp, thì các ngươi hãy dạy dỗ lẫn nhau, răn dạy lẫn nhau”, sống trong tinh thần cha con, anh em đó, Đức Phật cùng với các Tỳ-kheo ngồi lại bên nhau để kiểm điểm lẫn nhau trên cả ba phương diện thân, khẩu và ý.
Trong buổi Tự tứ này, Đức Phật xác nhận có 90 Tỳ-kheo đã chứng đắc ba minh đạt, 90 Tỳ-kheo đã chứng đắc câu giải thoát, còn các Tỳ-kheo kia đều chứng đắc tuệ giải thoát.
122. Kinh Chiêm-ba 235
Trục xuất kẻ phạm giới ra khỏi Tăng đoàn
Phật trú tại Chiêm-ba, ở bên hồ Hằng-già.
Bấy giờ nhằm ngày bố-tát tụng giới, các Tỳ-kheo cùng tập hợp bên cạnh Thế Tôn chờ nghe thuyết giới, nhưng cho đến gần sáng Thể Tôn vẫn ngồi im lặng, cho đến khi được thỉnh lần thứ ba, Thế Tôn cho biết do trong chúng có người bất tịnh nên Ngài không thuyết giới.
Tôn giả Mục-kiền-liên nhập định và phát hiện ra vị Tỳ-kheo bất tịnh, liền tẩn xuất vị ấy ra khỏi chúng. Rồi thì Đức Phật dạy rằng, người làm việc bất tịnh là gai nhọn, là sự ô nhục, sự đáng ghét đối với Sa-môn, cho dù người bề ngoài tỏ ra đạo mạo, tợ như đồng phạm hạnh chân chính. Nếu phát hiện ra người làm việc bất tịnh, thì hãy vì không muốn các đồng phạm hạnh phải bị nhiễm ô, cần trục xuất những kẻ phạm giới ra khỏi Tăng đoàn.
____________________
235 Tương đương Pāli: A. VIII. 10. Kāraṇḍava
123. Kinh Sa-môn Nhị Thập ửc236
Nghệ thuật lên dây đàn
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Tôn giả Sa-môn Nhị Thập ức237 cũng trú tại nước Xá- vệ, trong rừng Ám lâm; đầu đêm, giữa đêm và cuối đêm đều học tập không ngủ, tinh cần chính trụ, tu tập đạo phẩm, nhưng tâm vẫn chưa giải thoát được các lậu, nên có ý định xả giới, bỏ đạo hạnh, trở về đời sống thế tục chuyên việc bố thí, tu tập các phước nghiệp chăng, vì nhà thầy rất giàu.
Thế Tôn biết được tâm niệm ấy cho nên gọi thầy đến và nói pháp thoại “nghệ thuật lên dây đàn”, bởi Sa-môn Nhị Thập ức khi sống tại gia rất giỏi đánh đàn cầm. Theo đó, một người tu tập nếu quá sức tinh tẩn sẽ khiến tâm rối loạn, nhưng chẳng tinh tấn thì tâm sẽ biếng lười. Vì vậy cần phải giữ cân bằng sự sổng, biết sắp xếp thời gian thích hợp cho từng công việc, biết nắm bắt và buông bỏ những pháp cần và không cần cho đời sống phạm hạnh, như người nghệ sĩ đánh đàn biết lên dây vừa phải, không quá căng cũng không quá chùng. Đó là nghệ thuật sống vui an lạc.
Sa-môn Nhị Thập ức sau khi lãnh thọ lời dạy của Thế Tôn, trở về nơi xa vắng, tâm không buông lung, nỗ lực tinh tấn tu tập, không bao lâu chứng quả A-la-hán, tìm được an lạc trong sáu trường hợp: an lạc nơi vô dục, an lạc nơi viễn ly, an lạc nơi vô tránh, an lạc nơi ái tận, an lạc nơi thủ tận, và an lạc nơi tầm không di động. Thầy trình bày sở chứng của mình lên Đức Thế Tôn mà không khen mình khinh người, nên được Đức Thế Tôn khen ngợi.
___________________
236 Tương đương Pãli: A. VI. 55. Soṇa.
237 Sa-môn Nhị Thập ức. Pãli: Soṇa (KoỊivĩsa). Ngũ phần 21 (145a16): Thủ-lâu-na Nhị Thập ức. Tứ phán 38 (tr. 843b12):Thủ-lung-na .. No.99 (254) và No125 (23.3): Nhị Thập ức Nhĩ, do Soṇa được đọc là Sota (lô tai); và KoỊi được đọc lầ koṭi (một ức).
 
124. Kính Bát Nạn 238
Tám nơi sống bất hạnh
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ Đức Phật nói với các Tỳ-kheo, người tu tịnh hạnh có tám nạn, tám trường hợp không may mắn, không gặp vận, bất hạnh, đó là lúc Đức Phật ra đời thì người ấy đang: 1. Sanh vào chốn địa ngục; 2. Sanh vào loài súc sanh; 3. Sanh vào loài ngạ quỷ; 4. Sanh vào cõi trời Trường thọ; 5. Sanh ở xứ biên địa mọi rợ, không tín, vô ân, không biết báo đáp; 6. BỊ điếc, câm; 7. Có tà kiến và điên đảo kiến; hoặc không mắc các nạn trên nhưng lại: 8. Sanh vào thời không có Phật xuất hiện.
125. Kinh Bần Cùng239
Sự bần cùng của một con người
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Đức Phật hỏi các Tỳ-kheo, có phải chăng người đời quan niệm rằng, một người có nhiều tham muốn mà lại bần cùng, mắc nợ người khác không có khả năng trả, cứ khất nợ, hẹn rày hẹn mai, đến nỗi chủ đến đòi, bắt trói... là điều đại bất hạnh? Các Tỳ-kheo đều trả lời đúng như vậy.
Nhung theo Thế Tôn, người đó chưa phải là bất hạnh nhất, mà người nào đối với Thánh pháp mà không tin ở thiện pháp, không giữ cấm giới, không nghe nhiều, không bố thí, không trí tuệ; đối với thiện pháp, dù có nhiều kim ngân, lưu ly... nhung người ấy vẫn là kẻ nghèo nàn cô thế, đó là sự bần cùng, bất thiện.
________________________
238 Tương đương Pāli: A. VIII. 29. Akkhaṇā.
239 Tương đương Pāli: A. VI. 45. Dālidya Sutta.
Những ai thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác là đang vay nợ bất thiện; những ai đang che giấu việc làm ác là đang khất nợ bất thiện; những ai đang bào chữa cho hành vi bất thiện của mình là sự đòi nợ bất thiện; những ai đang niệm tưởng ba việc bất thiện là dục, nhuế, hại là sự không ngớt đòi nợ bất thiện; vì làm việc ác nên bị đọa lạc và chỗ ác, địa ngục, ngạ quỷ, đó là sự trói buộc của bất thiện.
Đức Phật kết luận: “Ta không thấy có sự trói buộc nào đau khổ bằng, nặng nề bằng, tàn khốc bằng, khó yêu nổi bằng sự trói buộc trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ba sự trói buộc đau khổ này chỉ có bậc Tỳ-kheo A-la-hán lậu tận mới biến tri và diệt tận, nhổ phăng cội rễ, vĩnh viễn không còn tái sanh”.
126. Kinh Hành Dục240
Sử dụng tài sản đúng cách
Tựa đề kinh “hành dục” mà nói theo Pãli là kãmabhogĩ, nghĩa là ngirời hưởng thụ dục lạc. Bản kinh này được nói khi trưởng giả Cấp-cô-độc hỏi Đức Thế Tôn ở đời có bao nhiêu hạng người hưởng thụ dục lạc.
Đức Phật trả lời có 10 hạng người hướng thụ dục lạc, trong đó có người hưởng thụ dục lạc được coi là thấp hèn nhất, nhưng cũng có người hưởng thụ dục lạc được coi là tối thượng, tối thắng, tối tôn, tối diệu.
Đối với người tìm cầu của cải một cách phi pháp vô đạo, sau khi tìm cầu của cải một cách phi pháp vô đạo, kẻ ấy không tự nuôi thân đầy đủ, không nuôi cha mẹ, vợ con, tôi tớ, người giúp việc, cũng không cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn để được lên cõi an vui, hưởng thọ lạc báo, sanh vào cõi trời, sống lâu; kè'hành dục này so với các người hành dục khác là thấp hèn nhất.
________________________
240 Tương đương Pali: A. X. 91. Kãmabhogi.

Đối với người tìm cầu của cải một cách hợp pháp, phải lẽ, sau khi tìm cầu của cải một cách hợp pháp, phải lẽ, kẻ ấy tự nuôi thân đầy đủ, cùng nuôi cha mẹ, vợ con, tôi tớ, người giúp việc, cũng cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn để được lên cõi an vui, hưởng thọ lạc báo, sanh vào cõi trời, sống lâu. Khi có của cải rồi, không đắm nhiễm, không hệ lụy. Đã không hệ lụy, không đắm nhiễm, thấy được tai hoạn, biết sự xuất yếu khi tiêu dùng, thì kẻ hành dục này so với các nguời hành dục khác là toi đệ nhất, tối đại, tối thượng, tối thắng, tối tôn, tối diệu.
127. Kinh Phước Điền [241]
Ruộng phước của thế gian
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ cư sĩ Cấp-cô-độc hỏi Đức Thế Tôn ở đời có bao nhiêu hạng người phước điền[242]. Đức Phật cho biết ở đời có hai hạng phước điền: hạng người hữu học và hạng người vô học.
Hạng hữu học có 18, là: Tín hành, pháp hành, tín giải thoát, kiến đảo, thân chứng, gia gia, nhất chủng, hướng Tu-đà-hoàn, đắc Tu-đà-hoàn; hướng Tư-đà-hàm, đắc Tư-đà-hàm; hướng A-na-hàm, đắc A-na-hàm, trung Bát Niết-bàn, sanh Bát Niết-bàn, hành Bát Niết-bàn, vô hành Bát Niết-bàn, thượng lưu sắc cứu cánh.
Hạng vô học có 9, là: Tư pháp, thăng tấn pháp, bất động pháp, thối pháp, bất thối pháp, hộ pháp, hộ tắc bất thối bất hộ tắc thối, thật trụ pháp, tuệ giải thoát, câu giải thoát.
Đó là hai hạng người làm ruộng tốt cho cư sĩ tại gia gieo trồng được phước đức lớn.
 

[241]   Tương đương Pãli: A. II. 4.4.
[242]   Pãli: dakkhiṇeyya, người xứng đáng được cúng dường.
 
128. Kinh ưu-bà-tắc[243]
Pháp tu cùa người cư sĩ
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Phật nói pháp thoại này cho cư sĩ Cấp-cô-độc cùng với năm trăm cư sĩ khác'. Nội dung bài pháp thoại nói rõ người Phật tử tại gia nếu giữ gìn 5 giới và 4 tâm tăng thượng (niệm Phật, Pháp, Tăng, Giới) thì không còn đọa địa ngục, cũng không sanh vào loài súc sanh, ngạ quỷ và các chỗ ác, được quả Tu-đà-hoàn, không đọa ác pháp, nhất định thẳng tiến đến quả vị Chánh giác, tối đa chịu bảy lần sanh tử nữa, sau bảy lần qua lại cõi trời và nhân gian, liền được chấm dút khổ đau.
129. Kinh Oản Gia [244]
Oan gia trái chủ của mình là ai?
Oán gia hay oan gia là kẻ thù của mình, của gia đình mình. Những người hay gặp tai nạn, khổ đau dai dẳng từ tháng này qua năm nọ họ thường nghĩ rằng mình bị oan gia truyền kiếp, bị kẻ thù truyền kiếp đòi nợ. Truyện Kiểu có câu “Làm chi tội báo oan gia, thiệt mình mà hại đến ta hay gì ”, nghĩa là khi mình gây thù chuốc oán với người ta thì thiệt hại bản thân mình thôi, chẳng hay ho gì hết.
Oán gia như vậy được hiểu là kẻ thù ở bên ngoài, là người khác, người mà mình đã gây thù chuốc oán với họ. Nhung kinh Oán Gia, Đức Phật nói oán gia trái chủ của mình chính là... lòng sân hận. Mỗi khi tâm mình “bị chi phối bởi sân nhuế, tâm không bỏ sân nhuế”, thì mình tự tạo, tự chuốc lấy oán gia cho mình. Có bảy oán gia như thế. Đó là nhan sắc không đẹp, giấc ngủ không yên, bất lợi
 

[243]   Tương đương Pãli: A. V. 179. Gihi.
[244]   Tương đương Pãlĩ: A. VII. 60. Kodhanã.
 
lớn, không có bằng hữu, danh ô tiếng xấu, mất nhiều tài vật (không được giàu sang), sanh vào chỗ ác. Đây là những oán gia do mình tự tạo nên từ lòng sân hận.
130. Kinh Giảo Đàm-di245
Tỳ-kheo bị đuổi khỏi chùa
Đàm-di, Dhammika thera, nguyên là một Bà-la-môn ở Kosala, quy y theo Phật vào lúc rừng Jetavana được cúng. Sau khi xuất gia, tánh tình Đàm-di vẫn còn hung bạo, nóng nảy, rất cộc cằn thô lỗ, sống ở trú xứ nào cũng mắng nhiếc các vị Tỳ-kheo, vì vậy các vị Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn ở chung. Các cư sĩ địa phương thấy các vị Tỳ-kheo đều bỏ đi, không muốn ở đó, liền đến xua đuổi Tỳ-kheo Đàm-di ra khỏi các chùa địa phương.
Đàm-di lần lượt đi từ tu viện này đến tu viện khác, nhưng vừa đến Tôn giả lại mắng nhiếc các Tỳ-kheo ở đó, họ lại bỏ đi và Tôn giả lại bị các cư sĩ kéo đến xua đuổi. Cuối cùng Đàm-di đến tinh xá Kỳ-viên, yết kiến Thế Tôn.
Tại đây, Đức Phật dạy Đàm-di: Tỳ-kheo bị người mắng nhiếc, không mắng nhiếc lại; bị người sân giận không sân giận lại; bị người quấy phá, không quấy phá lại; bị đánh đập không đánh đập lại, như vậy gọi là Sa-môn trụ Sa-môn pháp.
131. Kỉnh Hàng Ma246
Liên minh ma quỷ
Đức Phật trú tại Bạt-kì-sấu, trong núi Ngạc, rừng Bố, vườn Lộc dã. Bấy giờ Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang coi việc dựng thiền thất cho Phật.
_____________________
245 Tương đương Pãli: A. VI. 54. Dhammika.
246 Tương đương PãH: M. 50. Mãratajjaniya Sutta.
Trong khi Tôn giả Đại Mục-kiền-liên đang kinh hành thì Ma vương Ba-tuần hóa hình nhỏ xíu chui vào trong bụng Tôn giả. Tôn giả nhập định thấy và biết rõ tâm ý của Ba-tuần. Ngài gọi Ba-tuần hãy mau đi ra và khuyên chớ có xúc nhiễu Như Lai, cũng chớ xúc nhiễu đệ tử của Như Lai, đừng sống mãi trong sự vô nghĩa, vô ích mà phải tái sanh ác xứ, thọ vô lượng khổ.
Khi Ba-tuần đã ra khỏi bụng và đứng trước mặt Tôn giả, Đại Mục-kiền-liên nói cho Ba-tuần biết vai vế của mình vốn là cậu ruột của Ba-tuần vào thời Phật Câu-lưu-tôn.
Thuở ấy, Đại Mục-kiền-liên là một Ác ma, đã nghĩ mọi cách để chi phối một người đệ tử của Phật Câu-lưu-tôn là Tôn giả Tưởng; còn Ba-tuần là con trai của em gái ngài, tên là Hắc.
Lúc đầu, Ác ma xúi giục các Cư sĩ, Bà-la-môn mắng chửi, đập phá, rủa sả... Tôn giả, khiến Tôn giả đầu bị thương tích, y rách toạc, bình bát bể. Các Cư sĩ, Bà-la-môn nghe lời xúi giục của Ác ma sau khi mạng chung đều sanh vào địa ngục. Phật Câu-lưu-tôn thấy vậy liền dạy các Tỳ-kheo hãy phát khởi “tâm tương ưng với từ, không kết, không oán, không nhuế, không não hại, rộng lớn bao la, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn tất cả thế gian, thành tựu và an trụ. Tâm bi, hỷ, xả cũng vậy. Với tâm ấy khiến Ác ma không thể chi phối”.
Mắng chửi, đánh đập, rủa sả... không chi phổi được Tôn giả Tường và các Tỳ-kheo tinh tấn, Ác ma liền xúi các Cư sĩ, Bà-la-môn phụng kính, cúng dường, lễ sự để lung lạc họ. Các Cư sĩ, Bà-la-môn nghe theo lời xúi giục của Ác ma phụng kính, cúng dường, lễ sự các Tỳ-kheo tinh tấn, sau khi mạng chung đều sanh ĩên cõi trời, sanh vào thiện xứ. Đức Phật Câu-lưu-tôn thấy vậy liền dạy các Tỳ-kheo: “Hãy quán các hành vô thường, quán các pháp hưng suy, quán vô dục, quán xả ly, quán diệt, quán đoạn, để cho bọn ác ma không thể chi phối”.
Bằng cách này, Ác ma cũng không lung lạc, chi phối được Tôn giả Tưởng, nên đã hiện thành đứa bé cầm gậy đánh vào đầu Tôn giả Âm. Đức Câu-lưu-tôn nhìn thấy người đệ tử của mình bị hại mà vẫn điềm tĩnh đi theo sau Phật như bóng không rời hình liền nói: ‘Ác ma thật là hung bạo này có đại oai lực, Ác ma này không biết vừa đủ’. Câu nói chưa dút thì Ác ma đọa vào địa ngục, chịu vô lượng khổ.
Ma vương Ba-tuần nghe đến đây thì trong lòng hết sức rúng động, kinh sợ, khủng khiếp vô cùng, tóc lông dựng ngược, bèn hướng đến Tôn giả Đại Mục-kiền-liên xin kể cho nghe những cảnh khổ ở địa ngục. Tôn giả Đại Mục-kiền-liên kể cho Ba-tuần nghe. Nghe xong, Ba-tuần sầu não bỏ đi.
Nội hàm câu chuyện Tôn giả Đại Mục-kiền-liên hàng ma cho chúng ta thấy rõ bản chất hung bạo của các thế lực xấu ác, luôn tìm mọi cách để khủng bố, mưu hại, hoặc mua chuộc bằng tiền tài, danh lợi, địa vị... nhằm mục đích lung lạc chí hướng tu tập của những người xuất gia. Neu không đề cao cảnh giác, không có bản lĩnh phi thường, người xuất gia sẽ dễ dàng bị rơi vào cạm bẫy của các thế lực xấu ác.
132. Kinh Lại-tra-hòa-la 247
Vì sao ngài đi tu?
Lại-tra-hòa-la (Ratthapãlo), một thanh niên con nhà giàu có ở thôn Thâu-lô-tra, trong một lần đi nghe Phật thuyết pháp đã phát tâm xuất gia, nhưng gặp sự chống đối của gia đình. Lại-tra-hòa-la đã phải tuyệt thực để tỏ ý chí quyết tâm xuất gia của mình. Gia đình đã huy động hết người thân quyến thuộc và cả bạn bè của Lại- tra-hòa-la đến để khuyên anh bỏ ý định xuất gia, sống đời dục lạc mà bố thí, sung sướng tu phước nghiệp, nhưng Lại-tra-hòa-la nhất
______________________
247 Tương đương Pãli: M. 82. Raṭṭhapãla Sutta.
định không thay đổi lập trường. Cuối cùng gia đình phải nhượng bộ, chấp nhận cho anh xuất gia với hy vọng anh sẽ không thể sống nổi đời sống phạm hạnh mà bỏ đạo hoàn tục trở về.
Thế nhưng, Lại-tra-hòa-la không những không bỏ đạo mà còn thành tựu được lý tưởng, đạt đến mục đích mà một thiện nam tử cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín lìa bỏ gia đình, sống không gia đình học đạo, là chỉ cầu hoàn thành vô thượng phạm hạnh, ở ngay đời hiện tại này tự tri, tự giác, tự chúng ngộ, thành tựu an trụ, chứng quả A-la-hán. Khoảng chín, mười năm sau, Lại-tra-hòa-la xin phép Thế Tôn trở về quê thăm cha mẹ.
Trong lần trở về quê thăm gia đình, cha mẹ Lại-tra-hòa-la lại đem tài sản chất đống giữa nhà và một lần nữa khuyên Tôn giả bỏ đạo. Tôn giả khéo léo thuyết pháp độ cho cha mẹ rồi ra đi.
Quốc vương Câu-lâu-bà nghe danh tiếng của Tôn giả Lại-tra- hòa-la nên đã đến viếng thăm và đàm đạo tại khu rừng Thâu-lô- tra. Tại đây, quốc vương nêu lên những nghi vấn của riêng mình, nhưng cũng cho thấy đó là nghi vấn, thậm chí là nhận thức của nhiều người, khi cho rằng một người xuất gia là vì một trong bốn trường họp: bệnh tật ốm đau, già nua lụn bại, phá sản, và gia đình đố vỡ. Thế nhưng, vua Câu-lâu-bà quán sát thì Tôn giả Lại-tra-hòa-la khi xuất gia hoàn toàn không phải rơi vào một trong bốn trường họp kia. Vậy thì vì lý do nào, vì một suy vi nào khả dĩ khiến Lại-tra-hòa- la xuất gia?
Tôn giả Lại-tra-hòa-la cho biết, do thấy, nghe, hiểu biết từ Như Lai 4 tưóng của thế gian: Thế gian này không được bảo vệ, không đáng nương tựa; Thế gian này nhất thiết phải đi đến sự già nua; Thế gian này không thường, cần phải bỏ đi; Thế gian này không có sự thỏa mãn, không cỏ sự biết đủ, là tôi tớ của ái, nên đã xuất gia.
Vua Câu-lâu-bà sau khi nghe Tôn giả Lại-tra-hòa-la phân tích về bốn tướng của thế gian thì cũng muốn nhẫn lạc như Tôn giả.
133. Kinh ưu-ba-ly 248
Thật tốt đẹp thay sự mê hoặc này
Bản kinh mở đầu bằng cuộc đàm luận giữa Đức Thế Tôn với Ni-kiền Trường Khổ Hạnh, một đệ tử của Ni-kiền Thân Tử, về thuyết nghiệp.
Ni-kiền Thân Tử chủ trương dùng nghiệp báo hay nghiệp quả, tức nói về sự trừng phạt để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp, đó là sự trừng phạt bằng thân, sự trừng phạt bằng miệng và sự trừng phạt bằng ý, trong đó nói sự trừng phạt về thân là nặng nhất.
Đức Phật không chủ trương, không dùng sự trừng phạt để không hành ác nghiệp, không tạo tác ác nghiệp, mà chỉ giảng thuyết về nghiệp, tức chỉ nói về nghiệp nhân, đó là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, trong đó ý nghiệp là nặng nhất.
Ni-kiền Trường Khổ Hạnh sau khi đàm luận với Đức Thế Tôn xong thì đi đến chỗ Ni-kiền Thân Tử, vị tôn sư của ông, và thuật lại nội dung buổi đàm luận. Tại đây, cư sĩ Ưu-ba-ly (Upãli-gahapati), một đệ tử tại gia của Ni-kiền Thân Tử, nổi tiếng giàu có và đạo tâm, đã từng bồng bế Ni-kiền Thân Tử lên pháp tòa, hầu sự cung kính, sau khi nghe Ni-kiền Trường Khổ Hạnh tường thuật nội dung buổi đàm luận với Thế Tôn, ông đã xin tôn sư được đi đến chỗ của Phật để cùng đàm luận với một ý chí cao ngạo rằng sẽ hàng phục Thế Tôn và biến Thế Tôn thành đệ tử.
Ni-kiền Trường Khổ Hạnh hình như đã biết được không thể nào có chuyện đó xảy ra nên đã cực lực can ngăn, ông nói: “Con không muốn để cho cư sĩ Ưu-ba-ly đi đến chỗ Sa-môn Cù-đàm. Vì sao như vậy? Vì Sa-môn Cù-đàm biết chú huyenJióa, có thế dùng chú thuật biến hóa làm đệ tử, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, ưu- bà-di. Con sợ cư sĩ Ưu-ba-ly bị Sa-môn Cù-đàm biến hóa, hóa làm
___________________
248 Tương đương Pāli: M. 56. UpāliSutta.
đệ tử”, nhưng với tri kiến cao ngạo, Ni-kiền Thân Tử đã ủng hộ cho ý kiến của cư sĩ Ưu-ba-ly.
Rồi chuyện gì đến cũng đã đến. ưu-ba-ly cùng đàm luận với Đức Thế Tôn và tất cả mọi tri kiến trước đây đều rơi rụng trước ánh sáng từ bi và trí tuệ của Đức Phật. Ưu-ba-ly đau khổ, chua chát khi nhận ra rằng từ bấy lâu nay: “Bọn Ni-kiền ngu si kia không hiểu rõ ràng, không thể giải biết, không biết khoảnh ruộng tốt mà không tự xét, cứ mãi lừa dối tôi, tôi mê lầm vì họ”.
ưu-ba-ly quy y Tam bảo, đánh dấu sự kiện cải đạo gây chấn động trong các tôn giáo thời bấy giờ, khiến Ni-kiền Thân Tử cho rằng Đức Phật đã dùng chú thuật để mê hoặc ưu-ba-ỉy. ưu-ba-ly hoan hỷ chấp nhận điều ấy và nói: “Thật tốt đẹp loại chú huyễn hóa ấy, rất tốt đẹp loại chú huyễn hóa. Thưa Tôn nhân, loại chú huyễn hóa đó làm cho cha mẹ tôi được lợi ích an ổn, khoái lạc lâu dài; vợ con, nô tỳ, người giúp việc, quốc vương Na-nan-đà và tất cả thế gian, chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ người đến trời, làm cho họ được lợi ích an ổn khoái lạc lâu dài”.
Cư sĩ Ưu-ba-ly xa lìa trần cấu, phát sanh con mắt pháp, phát nguyện trọn đời quy y Tam bảo. Ni-kiền Thân Tử, người đã từng được Ưu-ba-ly bồng bế trên vai để phụng sự đã không đủ sức mạnh đối diện với sự thật đã mửa máu nóng, rồi đến nước Bà-hòa vì bệnh này mà mạng chung.
134. Kỉnh Thích vấn 249
Xem kinh Thích Đe-hoàn-nhân vấn, số 14, Trường A-hàm.
Kể chuyện Thiên Vương Thích cùng chư Thiên Tam thập tam đến thăm Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn vì chư TKiên thuyết pháp Bát Thánh đạo phòng hộ sáu căn, khiến chư Thiên xa lìa trần cấu, được pháp nhãn thanh tịnh.
________________________
249 Tương đương Pâli: D. 21. Sakkapañha suttanta.
135. Kinh Thiện Sanh 250
Xem kinh cùng tên, số 16, Trường A-hàm.
136. Kinh Thương Nhân cầu Tài251
Vượt qua biển ái
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bản kinh có hai phần. Phần đầu Đức Phật kế cho các Tỳ-kheo nghe một câu chuyện huyền thoại về các thương nhân hàng hải thuở xưa. Phần hai là nói ý nghĩa từ câu chuyện ví dụ ấy.
Thuở xưa, có một số thương nhân ở châu Diêm-phù đã rủ nhau ra biển để khai thác hải sản, tìm kiếm của báu trên một chiếc thuyền lớn có chuẩn bị đầy đủ các phương tiện phao cứu hộ, nhưng khi ra giữa biển khơi thì bị cá ma-kiệt đâm thủng tàu, khiến vỡ tan tành. Các thương nhân bám vào phao cứu hộ, trôi nổi trên mặt biển mỗi người một phương thì tự nhiên có ngọn gió Đông thôi họ trôi dạt về bờ biển Tây. Nơi ấy, họ gặp một bọn con gái rất mỹ lệ đón tiếp và mời họ ở lại để hưởng thụ dục lạc với đầy đủ tiện nghi, nào là vườn tược, ao tắm, những chỗ ngồi và nằm, nào là rừng cây, hoa cỏ um tùm và lại có nhiều tiền tài, vàng, bạc, thủy tinh... Đối với các thương nhân, bờ biến ấy quả thật là miền đất hứa, cho nên đã bằng lòng ở lại, vui sống và sanh con đẻ cái, với điều kiện là không nhớ và tìm về phương Nam.
Trong đám thương nhân có một người thông minh trí tuệ, nghĩ rằng bờ biển này có điều gì đó quái lạ, vì tại sao bọn mỹ nữ không cho mọi người đi về phương Nam. Một hôm ôqg ta lén trốn những người đàn bà, đi về phương Nam và phát hiện ra một tòa thành bằng
_________________
250 Tương đương Pāli: D. 31. Siṅgālovāda-suttanta.
251Tương đương Pāli: Jā. 196. Valāhassa.
thép làm nơi giam cầm những thương nhân trước kia. Qua những thương nhân này, thương nhân trí tuệ biết được bọn đàn bà đều là quỷ nữ La-sát, sau này sẽ ăn thịt hết nhũng thương nhân. Biết được sự thật nơi miền đất hứa, thương nhân trí tuệ thông tin cho tất cả những thương nhân còn lại và bàn cách tìm đường giải thoát.
Phương tiện giải thoát duy nhất là nhờ vào hạnh nguyện của Mao mã vương252. Mỗi nửa tháng vào ngày thuyết Biệt giải thoát, Mao mã vương sẽ đi vào vùng biển hiểm nạn, cất lên ba lần kêu gọi ai muốn giải thoát về phương Nam sẽ được như ý nguyện, nhung với điều kiện phải cắt đứt tâm niệm tham luyến ái dục. Bởi vì khi đã ngồi trên lưng Mao mã vương, bọn đàn bà sẽ bồng bế con cái ra đứng khóc lóc và nói về cuộc sổng xa hoa, giàu sang, trụy lạc nơi những thương nhân đã được sống, nếu người nào vì những lời nói hoa mỹ ẩy mà khởi tâm tham luyến thì lập tức bị ngã xuống và bị quỷ nữ La-sát ăn thịt, nhưng nếu những thương nhân không động lòng, thì chỉ nơi một sợi lông của Mao mã vương cũng có thể giải thoát khỏi bọn quỷ nữ La-sát về châu Diêm-phù an ổn.
Đức Thế Tôn kết thúc câu chuyện với ý nghĩa tương tự, rằng giáo pháp cũng như cầu, bè, các dụng cụ làm phao noi, được lưu bố cùng khắp đến cả trời người, đối với pháp ấy, nếu có Tỳ-kheo nào chấp thủ ngũ uẩn là ngã, tham đắm năm dục lạc là ta, của ta thì chắc chắn sẽ bị hại, giống như bọn thương nhân bị quỷ La-sát ăn thịt; nhưng nếu Tỳ-kheo nào thấy ngũ uấn vô ngã, không tham đắm và chấp thủ năm dục là ta, của ta thì được giải thoát.
137. Kinh Thế Gian 253
Không ngoài sự Như
___________________
252 Mao mã vương, Pāli: valāhassa:vằn mã, giống ngựa lông dài có thé lướt mây bay đi.
253 Tương đương Pāli: A. IV. 23. Loka.
 
“Như Lai đã tự mình giác ngộ về thể gian và cũng nói lại cho người khác. Như Lai biết thế gian. Như Lai tự giác ngộ về sự tập khởi của thế gian và cũng nói lại cho người khác. Như Lai đoạn trừ thế gian tập. Như Lai tự giác ngộ sự diệt tận của thế gian và cũng nói cho người khác. Như Lai chứng ngộ thế gian diệt. Như Lai tự giác ngộ đạo tích của thế gian và cũng nói cho người khác. Như Lai tu thế gian đạo tích.
“Nếu có tất cả những gì cần đuợc hiểu biết một cách toàn diện, tất cả những gì điều đó Nhu Lai đã biết, thấy, giác, ngộ, chứng đắc. Vì sao vậy? Như Lai từ đêm chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho đến ngày hôm nay vào lúc ban đêm sẽ đi vào tịch diệt trong Vô dư Niết-bàn giới; trong khoảng thời gian giữa đó, nếu những gì được nói ra, được ứng đối từ chính miệng của Như Lai, tất cả những điều ấy đều là chắc thật, không hư vọng, không ra ngoài sự Như, cũng không phải là điên đảo. Đó là sự chắc thật, là sự chân thật”.
138. Kinh Phước[254]
Khố là do vô phước
Phước báo chính là hạnh phúc, là an lạc. Tất cả những khổ đau đều do vô phước. Đức Phật cho hay trong một tiền kiếp, Ngài chỉ tu hành từ tâm trong bảy năm mà trải qua bảy lần kiếp thành và kiếp hoại, không tái sanh trong thế gian này. Đức Phật còn cho biết, sở dĩ Ngài có đại như ý túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần là nhờ: một là bố thí, hai là điều phục, ba là thủ hộ.
Do đó, để có được an lạc và giải thoát hãy nỗ lực tu tạo phước điền.
139. Kinh Tức Chỉ Đạo [255]
 

[254]   Tương đương Pãli: A. VII. 58. Pacaiá.
[255]   Tương đương Páli: cf. Sn. Vijaya Sutta.
 
Thường xuyên nghĩ đến cái chết
Tức chỉ đạo, Pãli là Sĩvathikã, nghĩa là đi đến một nghĩa địa. Bản kinh Đức Phật dạy các Tỳ-kheo mới tu học phải thường xuyên đi đến một nghĩa địa để quán niệm bất tịnh, quán sát tướng trạng của các tử thi để trừ tham dục, sân nhuế trong tâm.
140. Kinh Chỉ Biên 256
Vĩ sao cam chịu làm kẻ ăn mày?
Vì mục đích, vì lý tường đoạn tận biên tế của khổ đau; vì nhàm tởm, ghê sợ sự sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khóc than, ưu, khổ, áo não mà xuất gia, chấp nhận đi khất thực - một sự nuôi sống thấp kém nhất, cùng biên nhất, người đời thường úy kỵ.
Với tâm như vậy mà xuất gia học đạo, nhưng lại sống theo tham dục, chìm đắm đến tận cùng, sự ô trược quấn chặt lấy tâm, ganh ghét, bất tín, lười biếng, mất chánh niệm, không chánh định, ác tuệ, tâm cuồng, rối loạn các căn, giữ giới hết sức lơ là, không tu Sa-môn, không phát triển rộng lớn, đó là hạng người lấy máu rửa máu, lấy dơ chùi dơ, lấy bẩn trừ bẩn, lấy phân trừ phân, chỉ tăng thêm ô uế mà thôi; bỏ chỗ mờ mịt để vào chỗ mờ mịt, bỏ chỗ tối tăm để vào chỗ tối tăm.
141. Kinh Dụ 257
Dùng nhiều hình ảnh ví dụ để nói trong tất cả thiện pháp, không phóng dật là tối đệ nhất, bởi nhờ không phóng dật mà đạt được vô lượng thiện pháp, cũng như đất là nơi muôn loài nương tựa, từ đó mà phát sanh.
“Nếu có vô lượng thiện pháp mà có thể đạf được thì tất cả đều lấy sự không phóng dật làm căn bản, sự không phóng dật làm tập
_______________________
256 Tương đương Pãli: It. 91.
257 Tương đương Pãli: s. 3.2. (7-8) Appamãda, cf. It.23.
 khởi, nhân không phóng dật mà phát sanh, lấy không phóng dật làm đầu. Trong các thiện pháp, không phóng dật là tối đệ nhất.
“Cũng như làm ruộng, tất cả đều nhân nơi đất, y cứ trên đất, thiết lập trên đất mới làm được ruộng. Cũng vậy, nếu có vô lượng thiện pháp mà có thể đạt được thì tất cả đều lấy sự không phóng dật làm căn bản, không phóng dật làm tập khởi, nhân không phóng dật mà phát sanh, không phóng dật làm đầu. Trong các thiện pháp, không phóng dật là tối đệ nhất”.
m. Phẩm Phạm chí
Phẩm này có 20 kinh, ghi lại cuộc đối thoại giữa các Phạm chí với Đức Phật và Tăng chủng, chia làm hai phần, phần trước có 10 kinh.
142. Kinh Vũ Thế258
Xem kinh Du Hành, số 2, Trường A-hàm, đoạn mở đầu, đại thần Vũ Thế hỏi ý kiến của Đức Thế Tôn về ý định chinh phạt nước Bạt-kỳ của vua A-xà-thế.
143. Kinh Thương-ca-la 259
Chuyên tu và đi cúng, ai phước nhiều hơn?
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc.
Bấy giờ, Thương-ca-la, Sahgãrava, một Bà-la-môn trẻ, hình như là bạn của Tôn giả A-nan trước khi xuất gia, đến đảnh lễ Thế Tôn và nêu lên câu hỏi: Có phải chăng cách tu tập của các Bà-la- môn đưa đến phước báo cho nhiều người hơn các đệ tử của Sa-môn Cù-đàm? Bởi theo Thương-ca-la thì các Bà-la-môn tự mình tế đàn và dạy cho người khác tế đàn, còn các đệ tử của Sa-môn Cù-đàm
____________________
258 Tương đương Pāli: A. VII. 20. Vassakāra; D. 16. Mahāpari-nibbāna.
259 Tương đương Pāli: A. III. 60. Saṅgārava.
thì chỉ tự chế ngự bản thân, tự tịch tịnh bản thân, tự cứu cánh tịch diệt bản thân.
Đức Phật hỏi Thương-ca-la, nếu một người tự mình hành đạo tu tập và sau khi tự mình hành đạo tu tập, các lậu diệt tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa”. Sau khi chứng đắc như vậy, người đó hướng dẫn cho người khác, rồi người này lại cũng thuyết giảng cho người khác nữa, cứ như vậy lần lượt truyền đi cho đến trăm ngàn vô lượng, có phải là do bởi sự học đạo đó mà chỉ hành trên một phước tích, không hành trên vô lượng phước tích chăng?
Khi ấy Thương-ca-la nhận ra rằng, sự tu ’tập của Đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài quả là ruộng phước vô lượng cho chư Thiên và loài người.
Rồi Đức Phật trình bày ba pháp thị hiện, đó là: Như ý túc thị hiện, Chiêm niệm thị hiện và Giáo huấn thị hiện. ‘Thị hiện’ ở đây được hiểu là phương pháp giáo hóa hay phương cách giáo dục. Như ý thị hiện là pháp hiển thị thần thông. Chiêm niệm thị hiện là pháp chiêm đoán được ý tưởng của người khác. Giáo huấn thị hiện hay giáo giói thị hiện là pháp thị hiện mà Đức Thế Tôn và các đệ tử của Ngài đang hành trì, đó là sự tụ’ mình tu tập giới, định, tuệ, thành tựu giải thoát, rồi cũng chỉ dạy cho người khác đạt được sự giải thoát đó.
Thương-ca-la nghe xong, tự nhận thức được chỉ có Giáo giới thị hiện là pháp tối thượng, tối diệu, tối thắng, phát tâm trọn đời tự quy y Tam bảo.
144. Kinh Toán sổ Mục-kiền-liên 260
Tu tập từ thấp lên cao
______________________
260Tưong đương Pãli: M. 107. GanakamoggallãnaSutta.
Toán số Mục-kiền-liên là một nhà toán học. Một hôm, ông đến giảng đường Lộc Tử Mầu yết kiến Đức Thế Tôn và tham vấn rằng: Tất cả mọi sự thành tựu đều bắt đầu từ thấp lên cao, từ cơ sở nền tảng mà tiến bộ, cũng như việc học toán, phải bắt đầu từ số một, hai, dần lên đến trăm ngàn... Vậy trong pháp luật của Đức Thế Tôn, sự lần lượt thứ tự như thế nào?
Đức Phật cho biết, trong Pháp và Luật của Ngài cũng như vậy, nghĩa là cũng được dạy dỗ, hướng dẫn từ thấp lên cao, bắt đầu tò việc phòng hộ các căn, thủ hộ mạng thanh tịnh, thực tập Tứ niệm xứ, ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chúng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ. Tuy nhiên, dù được hướng dẫn như nhau nhưng không phải cũng nhất định đạt được Niết-bàn.
Đức Phật nói: “Có Niết-bàn đó, có con đường dẫn đến Niết- bàn đó, Ta chỉ là người chỉ đường, giáo huấn các Tỳ-kheo như vậy, khiển trách các Tỳ-kheo như vậy, nhưng có người đạt đến cứu cánh Niết-bàn, có người lại không. Này Mục-kiền-liên, nhưng tày theo sở hành của mỗi Tỳ-kheo mà Thế Tôn ghi nhận sở hành ấy, tức là cứu cánh lậu tận vậy”.
Mục-kiền-liên nghe xong hoan hỷ, tín nhận, dùng vô số phương tiện tán thán Đức Phật rồi xin quy y Tam bảo.
145. Kinh Cù-mặc Mục-kiền-liên 261
Bản kinh có nhiều tình tiết không hợp lý, văn nghĩa lộn xộn, không mạch lạc. Tham chiếu bản Pãli để được rõ ràng hơn.
Bản kinh có thể chia thành ba phần.
1. Giới pháp là nơi nương tựa duy nhất của Tỳ-kheo:
Đại thần Vũ Thế cũng như cư sĩ Cù-mặc Mục-kiền-liên đều thắc mắc không biết có Tỳ-kheo nào sánh ngang với Đức Thế Tôn?
_____________________
261 Tương đương Pãli: M. 108. Gopakamoggallãna Sutta
Có Tỳ-kheo nào được Đức Thế Tôn chí định là người có thể làm chỗ nương tựa cho các Tỳ-kheo khác sau khi Phật Niết-bàn? Hoặc có Tỳ-kheo nào được chúng Tăng hòa hiệp và bái lập lên làm chỗ nương tựa cho các Tỳ-kheo khác?
Tôn giả A-nan đã trả lời khẳng định hoàn toàn không có người nào như thế. Các Tỳ-kheo không nương tựa vào bất cứ một người nào mà chỉ nương tựa nơi Giáo pháp, lấy Biệt giải thoát làm thầy. Tuy nhiên, nếu Tỳ-kheo nào thành tựu được mười pháp đáng tôn kính thì được các Tỳ-kheo khác ái kính, tôn trọng, cúng dường, lễ sự Tỳ-kheo ấy.
Mười pháp tôn kính là: 1. Tu tập cấm giới; 2. Học rộng nghe nhiều; 3. Xứng đáng là thiện tri thức; 4. Thành tựu cả hai sự viễn ly là thân và tâm; 5. Ưa thích sự tĩnh tọa; 6. sống tri túc; 7. Thành tựu chánh niệm; 8. Thường hành tinh tấn; 9. Thánh tuệ minh đạt; 10. Các lậu đã diệt tận, hiện chứng Niết-bàn.
2. Không phải thiền tứ nào Như Lai cũng khen ngợi:
- Những người hành thiền mà bị tham dục, sân nhuế, thùy miên và nghi ngờ chi phối thì không được Như Lai khen ngợi.
- Nhưng nếu Tỳ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền, thành tựu an trụ, thì Thế Tôn tán thán bốn loại thiền tứ này.
3. Như Lai và A-la-hán đồng đang về giải thoát:
Tôn giả A-nan khẳng định: Giải thoát và tuệ giải thoát của Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác và giải thoát của A-la-hán, hai giải thoát này không có sai biệt, cũng không có sự thang'liệt.
Bản kinh Pãli tương đương không có đoạn này.
Lời tuyên bố này hình như mâu thuẫn với câu trả lời đầu tiên của Tôn giả A-nan, khi trả lời không có Tỳ-kheo nào sánh ngang với Đức Thế Tôn. ở đây, chúng ta cần hiểu rằng, về giải thoát và
tuệ giải thoát của Như Lai và của A-la-hán không có sai biệt, nhưng một A-la-hán thì không thành tựu đầy đủ, trọn vẹn tất cả pháp mà Thế Tôn đã thành tựu.
146. Kinh Tượng Tích Dụ 262
Ai là người hiểu biết Thế Tôn?
Jânussonî (Sanh Văn), là một trong số những Bà-ia-môn lỗi lạc đương thời Phật, hỏi Pilotika, một du sĩ trẻ, thuộc bộ tộc Vacchâyma, vì lý do gì mà kính tin Tam bảo. Pilotika đưa ra bốn dấu hiệu về sự tối thượng của Phật, giống như bốn dấu chân của một con voi chúa, đó là Ngài đã: 1. Khuất phục các luận sĩ; 2. Các luận sĩ trở thành đệ tử; 3. Các luận sĩ này xuất gia; 4. Một số đạt cứu cánh trong đời hiện tại. Tất cả đều xác nhận “Thế Tôn là bậc Chánh đẳng giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, Tăng chúng khéo hành trì”.
Sau khi nghe vậy, Jânussonî đi đến yết kiến Phật và đem câu chuyện vừa thảo luận với dị học Pilotika kể lại hết cho Phật nghe. Phật nói thí dụ về dấu chân voi đó chưa được hoàn hảo, chưa được trọn vẹn, và Ngài giảng đến mức nào mới có thể kết luận “Thế Tôn là bậc Chánh đăng giác...”.
Như một thợ rừng thiện xảo, thấy dấu chân voi, thấy những vật cao bị cọ xát, bị ngà voi cắt chém, nhưng chưa vội đi đến kết luận “đây là một con voi đực to lớn” cho đến khi lần theo dấu chân, thực sự trông thấy nỏ. Người theo Phật cũng thế, sau khi nghe Pháp, thấy đời sống tại gia là ràng buộc, phát tâm xuất gia từ bỏ gia đình, viên mãn giới, thành tựu chánh niệm, gột rửa năm triền cái, chứng và trú thiền thứ nhất cho đến thứ tư. Đó là những vết cắt chém thứ nhất của Như Lai, nhưng chưa đủ để kết luận “Thế Tôn lả bậc Chánh đắng giác”. Vị ấy hướng tâm đến Túc mạng trí, nhớ hết các đời trước, là vết cắt chém thứ hai. Vị ấy hướng tâm đến Sanh tử trí, với thiên
___________________
262 Tương đương Pãli: M. 27.
nhãn thuần tịnh thấy được sự sống chết của chúng sanh tùy theo nghiệp, là vết cắt chém thứ ba, nhưng vị Thánh đệ tử cũng không đi đến kết luận “Thế Tôn là bậc Chánh đẳng giác...”. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí, tuệ tri Khổ, Tập, Diệt, Đạo; thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, tự biết «Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui đời sống này nữa". Đến đây, vị Thánh đệ tử mới đi đến kết luận: “Thế Tôn. là bậc Chánh đẳng giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chúng Tăng khéo hành trì”. Như vậy, ví dụ Dấu chân voi mới thực được nói một cách rộng rãi đầy đủ.
147. Kinh Văn Đức 263
Lợi ích của sự tụng đọc kinh điển
Bà-la-môn Sanh Văn, nhân vật được nói đến trong kinh 146, hỏi Đức Thế Tôn vì mục đích gì mà các đệ tử của Ngài, tại gia và xuất gia bác văn, tụng tập; và sự bác văn, tụng tập đó có sự sai biệt và công đức gì chăng?
Đức Phật cho biết đệ tử của Ngài, tại gia và xuất gia, bác văn tụng tập là vì mục đích muốn tự điều phục, muốn tự tịch tịnh, tự tìm cầu cứu cánh tịch diệt.
Nhờ bác văn tụng tập mà khi đổi diện với những công nghiệp thất bại không thành, người Phật tử không ưu sầu, phiền muộn, khóc than, không vật mình, áo não, cũng không phát cuồng; khi đối diện với những gì yêu thương mà bị đổi thay, tán thất, không còn sum họp, cách biệt chia lìa, người Phật tử không ưu sầu phiền muộn, khóc than; cho đến, nhờ bác văn tụng tập mà người Phật tử giác ngộ được cuộc đời vô thường, dẫn đến sự phát tâm xuất gia học đạo, lại tiếp tục bác văn tụng tập nên có thể nhẫn nại đói khát, lạnh nóng, muỗi mòng, chí rận, gió nắng bức bách, tiếng dữ, gậy hèo cũng có
_____________________
263 Không tìm thấy bản Pãli tương đương.
thể nhẫn, thân thể gặp các thứ bệnh tật rất đau đớn đến gần như tuyệt mạng và những điều không khả lạc thảy đều có thể nhẫn nại... và nhờ công đức này mà chứng đạt tịch tịnh Niết-bàn.
148. Kinh Hà Khổ[264]
Quan niệm khố vui trong Phật giáo
- Người tại gia vì không được tự do mà khổ. Không tự do ở đây được hiểu là tiền tài không tăng trường, kim ngân, chơn châu, lưu ly, thủy tinh thảy đều không tăng trưởng; súc mục, lúa, gạo cùng nô tỳ, sai dịch cũng không tăng trưởng.
- Ngựời xuất gia vì tự do mà khổ. Tự do ở đây là buông lung theo dục vọng, theo sân nhuế, ngu si.
- Người tại gia có tự do mà được hạnh phúc. Tự do ở đây là mọi mặt tiền tài danh lợi đều tăng trưởng.
- Người xuất gia học đạo sống không tự do tùy theo dục vọng, không tùy theo sân nhuế, ngu si... thì được hạnh phúc.
149. Kinh Hà Dục[265]
Mục đích sống của bạn là gì?
Đức Phật trả lời cho Phạm chí Sanh Văn về những ước muốn, thực hành, thiết lập, y cứ của con người. Trong mọi tầng lớp xã hội, mỗi người có những ước muốn, những khát vọng và mục đích riêng. Người xuất gia cũng có ước muốn, đó là ước muốn đạt được chân lý, thực hành trí tuệ, thiết lập bằng giới, y cứ trên vô xứ và lấy Niết- bàn làm mục đích.
150. Kinh uẩt-sấu-ca-la [266]
Quan điểm của Phật giáo về giai cấp
 

264 Tương đương Pâli: A. V. 31. Sumanã.
265 Tương đương Pâli: A. VI. 52. Khattiya.
[266] Tương đương Pâli: M. 96.
 
Bản kinh thể hiện chủ trương bình đẳng giữa các giai cấp xã hội, bình đẳng giữa con nguời với con người.
uất-sấu-ca-la (Esukãrĩ), một Bà-la-môn, trình bày với Đức Phật về chủ trương thiết lập bốn loại phụng sự cho bốn chủng tánh, tức thiết lập bốn cấp phục vụ cho Bà-la-môn, cho Sát-lỵ, cho Cư sĩ (Phệ-xá, giai cấp thứ dân), cho Công sư (Thủ-đà-la, giai cấp cùng đinh hay nô lệ). Đức Phật cho rằng đây chỉ là chủ trương của giai cấp Bà-la-môn, của một số người thôi, chứ không phải của cả nhân loại.
Theo Đức Phật, tất cả mọi người, mọi giai cấp đều cần phải phụng sự như nhau, nếu như nhờ sự phụng sự đó mà trở nên ưu thắng; và ngược lại, không ai cần phải phụng sự ai nếu như vì sự phụng sự đó mà trở thành hạ liệt.
uất-sấu-ca-la lại nêu lên chủ trương vật tư hữu của bốn giai cấp, mà theo đó, vật tư hữu của Bà-la-môn là sự khất thực, của Sát- lị là cung tên, của Cư sĩ là nông nghiệp, của Công sư là lưỡi liềm và đòn gánh.
Đức Phật tiếp tục bác bỏ chủ trương này và chủ trương tài sản cho con người là Thánh pháp xuất thế gian; mọi người đều có thể hành từ tâm, không kết, không oán, không nhuế, không tranh... chứ không chỉ riêng Bà-la-môn hay Sát-lỵ, Cư sĩ, Công su mới thực hành.
151. Kinh Phạm chíA-nhiếp-hòa267
Ngoại đạo không chấp nhận bình đang giai cấp
Kinh lại đề cập đến sự đả phá của ngoại'dao về chủ trương bình đẳng giai cấp của Đức Thế Tôn. Bấy giờ, Đức Phật đang trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
_____________________
267 Tương đương Pâli: M. 93.Assalãyana
A-nhiếp-hòa-la-diên-da-na Ma-nạp (Ãssalãyana-mãnava), mới khoảng 15-16 tuổi, nhung được các Bà-la-môn tôn là đại thánh, bởi vốn là thần đồng, nhận lời thỉnh cầu của đông đảo Bà-la-môn đến cật vấn Đức Thế Tôn.
A-nhiếp-hòa-la-diên-da-na Ma-nạp hỏi:
“Thưa Cù-đàm, các Bà-la-môn nói như thế này, ‘Dòng tộc Bà- la-môn là hơn hết, ngoài ra không ai bằng. Dòng Bà-la-môn trắng, ngoài ra đều là đen. Bà-la-môn được thanh tịnh, không phải Bà-la- môn thì không được thanh tịnh. Bà-la-môn con Phạm thiên, sinh từ miệng Phạm thiên, được hóa sanh bởi Phạm thiên’. Nhung chưa biết Sa-môn Cù-đàm sẽ nói như thế nào?”.
Đức Thế Tôn hỏi rằng:
“Này Ma-nạp, ngươi nghĩ sao? Phải chăng chỉ độc nhất có Bà-la-môn đối với hư không này mà không bị dính, không bị trói, không bị xúc chạm, không bị ngăn ngại; còn Sát-lỵ, Cư sĩ hay Công sư thì không nhu vậy sao?”
Bằng mọi phương tiện, Đức Phật chứng minh sự bình đẳng của bốn giai cấp, cả bốn chủng tánh thảy đều thanh tịnh.
A-nhiếp-hòa-la-diên-da-na Ma-nạp sau khi cật vấn Thế Tôn không thành, ngược lại còn bị Thế Tôn nhiếp phục, nhưng Ma-nạp rất hoan hỷ lạy tạ Thế Tôn trở về và tuyên bố:
“Sa-môn Cù-đàm đúng như pháp mà thuyết pháp. Ai thuyết pháp đúng như pháp, người ấy không thể cật vấn”.
D. Ngày thứ tư tụng 3 phẩm
Gồm có 36 kinh.
ml. Phẩm Phạm chí
(Phần sau, có 10 kinh).
152. Kinh Anh Võ268
Đức Phật không chấp nhận loi giáo dục một chiều
Ma-nạp Anh Võ đã tùng được các Bà-la-môn giáo dục một chiều về cuộc sống, sụ lợi ích và công đức rằng người tại gia đạt được pháp thiện chánh lý, người xuất gia thì không; người tại gia thì có lợi ích lớn, có công đức lớn, người xuất gia học đạo thì không như vậy.
Trong một lần đi công tác ở thành Vương-xá, vì muốn đạt được niềm hỷ lạc, nên Ma-nạp Anh Võ đến rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa đế đảnh lễ cúng dường Thế Tôn và hỏi Ngài về những quan niệm trên. Đức Phật cho biết Ngài không chấp nhận lối giáo dục một chiều trên mà cho rằng, tại gia hay xuất gia nếu làm điều tà hạnh thì không đạt được thiện pháp chánh lý, ngược lại, nếu thực hành chánh hạnh thì đạt được thiện pháp chánh lý.
“Này Ma-nạp, nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo nào làm điều tà hạnh; Ta không khen ngợi người đó. Vì sao vậy? Nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo làm điều tà hạnh, kẻ ấy không được hiểu biết tốt, không biết đúng như pháp. Do đó, này Ma-nạp, nếu những kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo làm điều tà hạnh, Ta không khen ngợi kẻ ấy.
“Này Ma-nạp, nếu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo nào thực hành chánh hạnh, Ta khen ngợi người đó. Vì sao vậy? Neu có kẻ tại gia hoặc xuất gia học đạo thực hành chánh hạnh, kẻ ấy chắc chắn được hiểu biết tốt, biết đúng như pháp. Do đó, này Ma-nạp, nếu ké tại gia hoặc xuất gia học đạo thực hành chánh hạnh, Ta khen ngợi kẻ ấy”.
Người tại gia có tai hoạn lớn, có đấu tranh lớn, có oán thù lớn, lại làm điều sai quấy, thì sẽ không được quả báo lớn, không được
________________
268 Tương đương Pãli: M. 99. SubhaSutta.
công đức lớn; người xuất gia học đạo ít cỏ tai hoạn, ít có đấu tranh, ít có oán thù, nhưng lại làm điều sai quấy, thì sẽ không được quả báo lớn, không được công đức lớn.
Ngược lại, nếu người tại gia trong hoàn cảnh khắc nghiệt, khó khăn cách mấy mà biết làm điều chân chính, thì sẽ được quả báo lớn, được công đức lớn; người xuất gia cũng vậy.
Ma-nạp Anh Võ còn cho biết các Bà-la-môn chủ trương có năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện, đó là pháp chân đế, tụng tập, nhiệt thành, khổ hạnh và phạm hạnh.
Đức Thế Tôn hỏi Anh Võ có Bà-la-môn, Tôn sư hay Tổ sư nào, cho đến bảy đời cha mẹ nói như thế này ‘Tôi đối với năm pháp này, ngay trong đời hiện tại, sau khi đã tự tri, tự giác, tự tác chứng, tôi nói lên kết quả của chúng’ không? Anh Võ xác nhận không, và cho biết họ chỉ tin tưởng và nghe nói mà thọ trì.
Đức Thế Tôn kết luận, tin tưởng và nghe nói mà thọ trì là thiếu căn bản, cho nên những Bà-la-môn là một chuỗi người mù! Sự kiện này khiến cho Ma-nạp Anh Võ tức giận, hằn học, không vui, phỉ báng, chỉ trích, mạ lỵ Thế Tôn, bởi theo Bà-la-môn tên là Phất-ca- sa-sa-la, nếu ai nói rằng: Tôi biết, tôi thấy pháp Thượng nhân, thì sự kiện ấy là không hợp lý.
Dù bị mạ lỵ, Thế Tôn vẫn điềm đạm giảng giải cho Ma-nạp Anh Võ thấy rõ sự thật, rằng Phất-ca-sa-sa-la không thể thấy và biết điều mong nghĩ trong tâm của hết thảy Sa-môn, Bà-la-môn, cũng như người mù bẩm sanh kia nói không hề có màu sắc đen, trắng...
Rồi Thế Tôn cho biết có năm pháp gây chướng ngại, gây che lấp, làm cho mù, không có mắt, có thể diệt mất trí tuệ, gây ra sự nhọc nhằn vô ích, không chứng đắc Niết-bàn, đó là tham dục, sân nhuế, thân kiến, giới thủ và nghi (năm triền cái).
Kết luận, Thế Tôn nói, nếu năm pháp có quả báo lớn, có công đức lớn, tạo phước, được thiện thì phải từ tâm mà khởi. Nếu tâm
không kết, không oán, không sân nhuế, không tranh chấp là do tu tập những pháp ấy.
Ma-nạp Anh Võ hiểu rõ vấn đề, phát tâm quy y Tam bảo.
153. Kinh Man-nhàn-đề269
Như Lai là người phá hoại sự song?
Man-nhàn-đề (Mãgandiya) là một người xuất gia ngoại đạo, cho rằng Thế Tôn là người phá hoại sự sống, là kẻ vô dụng chỉ vì Thế Tôn khéo chế ngự, khéo thủ hộ kín đáo, khéo tu các căn nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý. Thế nhưng, khi Đức Thế Tôn hỏi ông có ý kiến gì đối với những người hộ trì các căn, xả bỏ năm món dục, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, thấy như thật về sự tập khởi của năm dục, sự đoạn diệt, vị ngọt, tai họa, sự xuất yếu của năm dục, an trú với nội tâm tịch tĩnh... thì Man-nhàn-đề trả lời rằng không. Vậy là chỉ trong chốc lát Man-nhàn-đề đã tự từ bỏ những điều chỉ trích Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn phân tích cho Man-nhàn-đề thấy rõ người tham đắm dục lạc cũng như người mắc bệnh cùi, thân thể lở lói, bị trùng đục khoét, bệnh nhân lấy tay gãi, cào rách các mụt, hơ lên bếp lửa; đối với sự khổ bức của lửa, bệnh nhân lại thấy khoan khoái; ấy là do tầm mê loạn, có ý tưởng điên đảo. Cũng vậy, chúng sanh không ly dục, bị ham muốn dục nhai nuốt, bị hơi nóng của dục thiêu đốt mà chạy theo dục; những kẻ ấy đối với khổ dục lại có ý tưởng dục lạc; ấy là do tâm mê loạn, có ý tưởng điên đảo. Thế Tôn dạy:
Không bệnh, lợi bậc nhất,
Niết-bàn, lạc tối thượng,
Chỉ con đường Bát chánh,
Đen an ổn cam lồ.
_________________
269 Tương đương Pâli: M. 75 Magandiya Sutta.
Đoạn Thế Tôn dạy về pháp Tứ đế, Man-nhàn-đề xa lìa trần cấu, xin được xuất gia học đạo.
154. Kinh Bà-la-bà-đường[270]
Xem kinh Tiếu Duyên, số 5, Trường A-hàm.
155. Kinh Tu-đạt-đa [271]
Công đức của sự bo thí
Tu-đạt-đa (Sudatta) là tên thật của ông Cấp-cô-độc. Bản kinh Phân biệt công đức của sự bo thí.
Bấy giờ, cư sĩ Cấp-cô-độc đã quy y Tam bảo, giữ năm giới và thực hành hạnh bố thí. Tuy nhiên, ông chỉ bố thí những thức thô xấu, không được mỹ diệu, như com lẫn với cám, canh lá gai, chỉ có một miếng gừng, một lá rau.
Đức Phật cho biết, dù bố thí những thức thô xấu, hay bố thí những thức mỹ diệu, thảy đều có quả báo, nhung quả báo nhiều ít phụ thuộc vào cách bố thí và tâm bố thí.
Phật dạy rằng, một người thực hành đại bố thí, dùng tám vạn bốn ngàn bát bằng vàng đựng đầy bạc vụn, tám vạn bốn ngàn bát bằng bạc đụng đầy vàng vụn, tám vạn bốn ngàn bát bằng vàng đụng đầy vàng vụn, tám vạn bổn ngàn bát bằng bạc đựng đầy bạc vụn, tám vạn bốn ngàn thớt voi được trang sức dây trắng đan lại, phủ lên, tám vạn bốn ngàn con ngựa được trang sức bằng dây kim hợp phi-na, tám vạn bốn ngàn con bò lấy y làm dây thừng và phủ lên bằng y, có thể cung cấp một hộc sữa, tám vạn bốn ngàn người nữ, tư dung đẹp đẽ, ai nhìn cũng thích, trang sức đầy đủ châu báu, ngoài ra lại có những thức ăn cúng và mềm khác nữa để bố thí có công đức không bằng một người bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù.
 

[270]   Tương đương Pāli: D. 27. Aggañña Suttanta.
[271]   Tương đương Pāli: A. IX. 20. Velāma.
 
Nhung bố thí thức ăn cho phàm phu toàn cõi Diêm-phù không bằng bố thí thức ăn cho một vị Tu-đà-hoàn; bố thí thức ăn cho một trăm vị Tu-đà-hoàn không bằng bố thí thức ăn cho một vị Tư-đà- hàm; cho một trăm vị Tư-đà-hàm không bằng cho một vị A-na-hàm; cho một trăm vị A-na-hàm không bằng cho một vị A-la-hán; cho một trăm vị A-la-hán không bằng cho một vị Bích-chi Phật, cho một trăm vị Bích-chi Phật không bằng cho một Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác.
Tất cả việc bố thí trên lại không bằng người tạo phòng nhà bố thí cho chúng Tỳ-kheo bốn phương; lại không bằng người với tâm hoan hỷ, quy y Ba ngôi tôn quý là Phật, Pháp và chúng Tỳ-kheo, lại thọ giới; lại không bằng người trong khoảnh khắc thực hành từ tâm đối với tất cả chúng sanh; lại không bằng người quán được tất cả pháp là vô thường, khổ, không và vô ngã.
156. Kinh Phạm Ba-la-dỉên 272
Không còn Bà-la-môn chánh thong
Đức Phật khẳng định ngày nay không còn Bà-la-môn học pháp Bà-la-môn cổ đại. Bà-la-môn đã vưọt khỏi pháp Bà-la-môn cổ đại từ lâu rồi. Bằng chứng là các Bà-la-môn cổ đại rất nhiệt thành, phạm hạnh, thanh tịnh, trì giới, nhẫn nhục, phòng hộ ý, không giết hại, hành đúng pháp... nhưng các Bà-la-môn ngày nay tham đắm dục lạc, hành không đúng pháp, tham mê danh lợi, giết hại để tế tự...
157. Kinh Hoàng Lô Viên 273
Tiếng rống của sư tử chúa
Một thời Phật trú tại Tì-lan-nhã, trú trong vươn Hoàng lô.
___________________
272 Tương đương Pãli: Sn II. 7. Brahmaṇadhammika Sutta.
273 Tương đương Pãli: A. VIII.11 Verañjã.
Bấy giờ, Bà-la-môn Tì-lan-nhã tuổi đã hơn 120, trách Đức Thế Tôn tuổi trẻ mà không biết tôn trọng, kính lễ những Sa-môn, Bà-la- môn danh đức.
Đức Phật cho biết, Ngài chưa từng thấy chư Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn nào từ loài Người cho đến Trời đi đến, khiển Như Lai kính lễ, tôn trọng, đứng dậy, mời các vị ấy ngồi; nếu có ai đến mà muốn Như Lai kính lễ, tôn trọng, đứng dậy, mời ngồi, thì đầu của vị ấy chắc chắn vỡ thành bảy mảnh.
Khi Đức Phật nói như thế, Tì-lan-nhã cho rằng Thế Tôn là người vô vị, tức không có thực chất. Thế Tôn xác nhận Ngài là người vô vị bậc nhất, nhưng không phải với ý nghĩa vô vị mà Tì- lan-nhã muốn nói. Ngài vô vị bởi đã đoạn trừ, dứt sạch, nhổ tận gốc rễ. không bao giờ sanh lại nữa đối với vị của sắc, vị của tiếng, vị của hương, vị của xúc.
Tì-lan-nhã lại chỉ trích Thế Tôn là người không biết sợ, không nhập thai. Đức Phật lại xác nhận đúng thật Như Lai không còn sợ hãi, không còn nhập thai, bởi đối với sự mang thai trong tương lai đã vĩnh viễn đoạn trừ, tuyệt diệt, nhổ tận gốc rễ, không bao giờ sanh lại nữa.
Rồi Đức Phật rống tiếng rống của con sư tử, như thật nói cho Tì-lan-nhã biết rằng Ngài đã chứng đạt 4 thiền, đắc 3 minh, khiến Tì-lan-nhã xa rời trần cấu, bỏ đạo, xin được quy y Tam bảo.
“Thế Tôn là bậc nhất, Thế Tôn thật vĩ đại, Thế Tôn tối thượng, Thế Tôn cao tột, Thế Tôn chánh đẳng, Thế Tôn không có ai bằng, Thể Tôn không có một ai so sánh, Thế Tôn không chướng ngại, Thế Tôn là bậc không gây chướng ngại!”.
158. Kinh Đầu-na 274                                                                                  V
Năm hạng Bà-la-môn
__________________
274 Tương đương Pâli: A. V. 192. Dona.
Đầu-na (Doṇa) tự cho mình là Bà-la-môn, bởi ông được cha mẹ thọ sanh thanh tịnh, cho đến bảy đời cha mẹ không tuyệt chủng tộc, đời đời không ác, học rộng, trì chú, tinh thông bốn bộ điển kinh, thấu triệt nhân duyên, chánh văn, truyện giải trí và văn phạm.
Nhung khi Đức Thế Tôn phân tích về năm hạng Bà-la-môn: Bà-la-môn ngang hàng Phạm thiên, Bà-la-môn ngang hàng chư Thiên, Bà-la-môn không vượt giới hạn, Bà-la-môn vượt giới hạn, và thứ năm là Bà-la-môn Chiên-đồ-la, rồi hỏi Đầu-na thuộc hạng Bà-la-môn nào, thì Đầu-na trả lời ngay hạng sau cùng là Bà-la-môn Chiên-đà-la, ông cũng không sánh kịp huống nữa là các hạng Bà-la- môn trên, ông phát tâm quy y Tam bảo.
159. Kinh A-già-la-ha-na[275]
Niết-bàn nưong vào đâu mà tồn tại?
Bà-la-môn A-già-la-ha-na nêu lên một loạt các câu hỏi về sự không có giới hạn, như con người nương vào đâu mà tồn tại v.v... nhưng mục đích là muốn biết Niết-bàn nương vào đâu mà tồn tại?
Đức Phật cho biết: “Ý muốn của Bà-la-môn nương vào những sự kiện không cùng nên ông nay đã hỏi Ta về sự không có giới hạn, nhưng 'Niết-bàn không nương vào đâu cả. Niết-bàn là tịch diệt, Niết- bàn là tối thượng. Này Bà-la-môn, vì mục đích này mà nhiều người theo Ta mà tu hành Phạm hạnh”.
160. Kinh A-lan-na [276]
Cuộc đời ngắn ngủi
“Này các Ma-nạp ma, giống như hạt sương mai trên ngọn cỏ, lúc mặt trời mọc thì tan mất, tồn tại tạm thời không thể trường cửu. Cũng vậy, này Ma-nạp ma, sanh mạng con người như hạt sương
 

275 Không có Păli tương đương.
276 Tương đương Pãli: A. VII. 70. Araka.
 
mai, rất khó giữ được, rất ít, quá ít vị ngọt, mà đau khổ tai hoạn lại lớn, tai hoạn quá nhiều!”.
A-lan-na là tiền thân của Đức Phật trong một kiếp quá khứ. Tiền thân này được nhắc lại nhân sự kiện các Tỳ-kheo nhóm họp ở giảng đường và cùng nhau thảo luận về đề tài mạng người ngắn ngủi, nhưng con người lại không biết sống cho tốt và càng không biết làm việc lành: “Sanh mạng con người thực quá ngắn ngủi, phút chốc đã qua đời khác. Do đó cần phải làm các việc lành, cần tu phạm hạnh, vì đã sanh ra thì không thể không chết. Nhưng người đời nay đối với việc làm đúng pháp, việc làm hợp lẽ, việc lành, việc tốt lại không thực hành, cũng chẳng mong cầu”.
Trong tiền thân này, Đức Phật là Tôn sư A-lan-na, giác ngộ mạng người vô thường, ngắn ngủi, vui ít, khổ nhiều nên đã xuất gia học đạo, giáo hóa cho đệ tử tu tập để được sanh thiên. Tuy nhiên, Đức Phật xác nhận trong tiền thân này Ngài thuyết pháp chưa đến chỗ rốt ráo, chưa rốt ráo bạch tịnh, chưa rốt ráo phạm hạnh, chưa thành tựu rổt ráo phạm hạnh, chưa xa lìa được sự sanh, sự già, bệnh tật, sự chết, khóc lóc, áo não, cũng chưa thoát khỏi mọi khố đau. Đến kiếp này, Đức Phật xác định Ngài “là Bậc Xuất Thế, Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thể Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn; tự làm lợi cho mình, làm lợi ích cho kẻ khác, làm lợi ích cho mọi người”.
Đức Phật thương xót thế gian, mưu cầu thiện lợi và hữu ích, an ổn, khoái lạc cho Trời và Người. Ngài thuyết pháp đã đến chỗ rốt ráo, rốt ráo bạch tịnh, rốt ráo phạm hạnh, thành tựu phạm hạnh; đã xa lìa sự sanh, sự già. tật bệnh, sự chết, khóc lóc, át) não; đã thoát khỏi mọi khổ đau.
Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo: “Này các Tỳ-kheo, như một Tôn sư khởi tâm đại bi đoái tưởng, xót thương, mưu cầu thiện lợi ích, an ổn khoái lạc cho đệ tử; sự việc ấy Ta đã làm xong. Các ngươi
hãy nên làm như vậy: Hãy đến nơi rừng vắng, nơi rừng sâu núi thẳm, hay dưới gốc cây, nơi yên tĩnh an ổn mà tĩnh tọa tư duy, không được phóng dật, luôn luôn tinh tan, đừng để hối hận về sau. Đó là lời khuyến giáo của Ta. Đó là huấn thị của Ta”.
161. Kinh Phạm-ma 277
Cuộc cải đạo làm chấn động dư luận
Bấy giờ ở Di-tát-la có Bà-la-môn tên là Phạm-ma, một người nổi tiếng danh đức, giàu có vô lượng, mọi tầng lớp đều kính trọng. Ông có một người đệ tử rất thông minh tên là Ưu-đa-la. Khi hay tin Đức Thế Tôn đang hành đạo tại Vi-đề-hi, Phạm-ma muốn biết đích thực về sự đồn đại bấy lâu của mọi người về một Đức Phật đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, thành tựu quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên đã sai Ưu-đa-la đến chỗ Phật để tìm hiếu hư thực. Ưu-đa-la vâng lời tôn sư đến chỗ Phật và theo dõi đời sống của Đức Thế Tôn suốt bốn tháng mùa hạ, để ý từng cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, đắp y, mang bát... Tận mắt chiêm ngưỡng tướng hảo và chứng kiến hết mọi oai nghi tế hạnh của Đức Thể Tôn, Ưu-đa-la trở về thuật lại cho Bà-la-môn Phạm-ma nghe, rồi xin được xuất gia theo Đức Phật tu hành phạm hạnh.
Bà-la-môn Phạm-ma sau đó cũng đến gặp Đức Phật, tận mắt chiêm ngưỡng tướng hảo của Thế Tôn và nghe Ngài thuyết pháp, ông cũng xin được thọ trì tam quy, ngũ giới để trở thành một đệ tử tại gia. Không bao lâu thì ông mệnh chung, chứng đắc quả vị A-na-hàm.
Sự kiện Bà-la-môn Phạm-ma, một người đạo cao đức trọng, danh đồn khắp nước, quy y theo Phật đã làm chấn động dư luận và đã tạo nên hiệu ứng tích cực trong xã hội, khiến mọi tầng lớp nhân dân đều quy hướng về Tam bảo.
__________________
277 Tương đương Pâli: M. 91. Brahmàyu Sutta
n. Phẩm Căn Bản Phân Biệt
Phẩm này có 10 kinh, giải thích những pháp căn bản, như phân biệt 6 giới, 6 xứ, phân biệt quán pháp...
162. Kinh Phăn Biệt Lục Giới278
Nhận ra Thế Tôn sau khi thay pháp
Tôn giả Phất-ca-la-sa-lợi (Pukkusãti) nghe nói về Đức Phật mà phát nguyện xuất gia, thờ Phật làm thầy, nhưng chưa tùng được diện kiến. Dù vậy, Pukkusãti tu hành rất miên mật, đi đứng tịch tĩnh.
Một hôm, Đức Phật hành đạo ở thành Vuơng-xá, nước Ma-kiệt- đà và đến xin tá túc qua đêm trong lò gạch của người thợ gốm. Người thợ gốm đồng ý cho Thế Tôn ở lại, nhung Ngài phải hỏi ý kiến một tu sĩ đã xin ở lại trước đó. Tại đây, Thế Tôn gặp thầy Pukkusãti, người đã thờ Ngài làm thầy, nhưng không hề biết mặt và chưa từng được nghe thuyết pháp. Với trách nhiệm của một người thầy, Thế Tôn đã thuyết pháp cho Pukkusãti nghe. Đến cuối buổi pháp thoại, Pukkusãti viễn ly trần cấu, thấy pháp, đắc pháp, chứng pháp bạch tịnh, đoạn trừ nghi hoặc, mới nhận biết người đang ngồi trước mặt mình chính là Thế Tôn và pháp mà mình đang nghe là giáo pháp vô thượng, Tôn giả liền phát tâm sám hối vì đã gọi Thế Tôn là “Hiền giả”.
Nội dung bài pháp thoại phân tích về sáu giới tụ, sáu xúc xứ, mười tám ý hành, bốn trụ xứ, gồm hai phần. Phần đầu là định nghĩa tổng quát:
- 6 giới tụ là đất, nước, lửa, gió, hư không và thức.
- 6 xúc xứ là xúc con mắt thấy sắc, xúc tai nghe tiếng, xúc mũi ngửi mùi, xúc lưỡi nếm vị, xúc thân cảm xúc, xúc ý 'biết pháp.
- 18 ý hành là sáu hỷ quán, sáu ưu quán, và sáu xả quán.
________________
278Tương đương Pãli: M. 140. DhátuvibhahgaSutta.
- 4 trụ xứ là chân đế trụ xứ, huệ trụ xứ, thí xả trụ xứ và tịch tĩnh trụ xứ.
Phàn tiếp theo là diễn giảng rõ ràng phương pháp quán chiếu, phân biệt rõ ràng các giới, xứ, hành và trụ xứ ở trên để không buông lung trí tuệ, đạt được cứu cánh giải thoát.
163. Kinh Phân Biệt Lục Xứ279
Những đức tính của Như Lai
Bấy giờ, Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm vườn Cấp-cô-độc, dạy cho các Tỳ-kheo phân biệt sáu xứ:
1. Phân biệt các pháp:
- 6 xứ bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
- 6 xúc xứ hay sáu ngoại xứ: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
- 18 ỷ hành: mắt thấy sắc, phát sanh ba cảm thọ hỷ, ưu hoặc xả. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý biết pháp cũng như vậy, thành ra phân biệt sáu hỷ, sáu ưu, sáu xả, tổng thuyết là mười tám ý hành.
- 36 loại đao kiếm hay 36 loại cảm thọ của hữu tình: gồm 18 ý hành đắm trước và 18 ý hành vô dục.
Hành giả cần phải đoạn trừ 18 loại ý hành y trên đắm trước, thành tựu 18 ý hành y trên vô dục.
2. Những đức tính của Như Lai:
- Như Lai thuyết pháp cho đệ tử ấy suốt cả một trăm năm; nhũng pháp mà Như Lai thuyết có văn cú, pháp cú, quán nghĩa, bằng tuệ mà quán nghĩa một cách nhanh chóng,vkhông có hỏi lại Như Lai về pháp nữa, vì pháp được Như Lai giảng thuyết không có giới hạn, không thể cùng tận.
___________________
279 Tương đương Pãli: M. 137. SaỊãyatana vibhaṇga Sutta.
- Như Lai thuyết pháp cho đệ tử là vì mến yêu, mưu cầu nhiều thiện lợi và hữu ích, an ổn và khoái lạc, phát khởi tâm từ bi; nếu đệ tử làm trái lời Thế Tôn, không thế đắc định, nhưng Thế Tôn không vì thế mà buồn rầu; nếu đệ tử không trái lời Thế Tôn, chắc chắn đắc định, thì Thế Tôn cũng không vì thế mà hoan hỷ.
- Thế Tôn chỉ xả, mà không làm gì cả, thường chánh niệm, chánh trí.
- Như Lai là Bậc Vô thượng điều ngự con người, là điều ngự người thú hướng tất cả phương.
164. Kỉnh Phân Biệt Quán Pháp280
Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng
Bấy giờ Phật trú tại tinh xá Kỳ Viên, nói pháp thoại một cách tóm lược rồi vào tịnh thất. Nội dung bài pháp thoại như sau: ‘Tỳ- kheo, quán như vậy như vậy. Ngươi quán như vậy rồi, Tỳ-kheo, tâm hướng về bên ngoài, bị phân rải, tán loạn, tâm không an trú vào bên trong, không chấp thủ nhưng sợ hãi. Nhưng, này các Tỳ-kheo, hãy quán như thế nào mà sau khi các ngươi đã quán như vậy, tâm không hướng về bên ngoài, không bị phân rải, tán loạn, tâm trú bên trong, không chấp thủ, không sợ hãi. Như vậy các ngươi không còn sanh, lão, bệnh, tử nữa. Đó là tận cùng sự khổ’.
Các Tỳ-kheo không hiểu hết ý nghĩa của bài pháp cô đọng đó nên đã tìm đến Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, nhờ Tôn giả phân tích rộng rãi cho.
Tôn giả Đại Ca-chiên-diên khiêm tốn giảng giải:
1. Tâm hướng ra bên ngoài, bị phân rải, tán loạn là bởi do sáu căn đắm nhiễm sáu trần, thức chạy theo pháp tướng, thức đắm trước vị lạc của pháp tướng, thức bị trói buộc bởi vị lạc của pháp tướng, nên bị vị của vị ngọt của pháp tướng cột chặt tâm.
________________
280 Tương đương Pãli: M. 138. Uddesa-vibhaṅga Sutta.
2. Tâm không hướng ra ngoài, không bị phân rải, tán loạn là khi thực hành quán pháp, nhận thức pháp, thức không chạy theo pháp tướng, thức không đắm trước lạc của pháp tướng, thức không bị trói buộc bởi lạc của pháp tướng.
3. Tâm không trú vào bên trong: Tỳ-kheo tu tập và chứng Tứ thiền, Tứ vô sắc giới, nhưng thức của vị ấy trú trước vào vị ngọt của quả chứng, y vào đó, trú vào đó, duyên vào đó, gắn chặt vào đó, nên thức của vị ấy không trú vào bên trong.
4. Ngược lại, nếu Tỳ-kheo tu tập và chứng Tứ thiền, Tứ vô sắc giới, nhưng thức của vị ấy không trú vào vị ngọt của quả chứng, không y vào đó, không trú vào đó, không duyên vào đó, không gắn chặt vào đó, thì thức trú vào bên trong.
5. Không chấp thủ nhưng còn sợ hãi: do không ly thức nhiễm, không ly thức dục, không ly thức ái, không ly thức khát.
6. Không chấp thủ, không sợ hãi: nhờ ly sắc nhiễm, ly sắc dục, ly sắc ái, ly sắc khát.
Sau khi nghe Đại Ca-chiên-diên giảng giải rộng rãi về nghĩa của quán pháp, các Tỳ-kheo đến đảnh lễ và trình bày lại với Thế Tôn. Đức Thế Tôn ấn chứng cho những lời dạy của Tôn giả Đại Ca-chiên-diên.
165. Kinh Ôn Tuyền Lâm Thiên281
Một đêm hạnh phúc
Phật trú tại thành Vương-xạ^trong rùng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bấy giờ, Tôn giả Tam-di-đề cũng trú tại thànhsVương-xá, trong tinh xá Ôn Tuyền. Có một vị thiên thần thân hình rất đẹp, sắc tướng uy nghi, nhắm lúc trời sắp rạng đông, đi đến Tôn giả Tam-di-đề, cúi đầu đảnh lễ rồi hỏi thầy có thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế chăng?
___________________
281 Tương đương Pãli: M. 133. Kaccãna-bhaddakaratta Sutta
Tôn giả Tam-di-đề không thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế, nên đã hỏi lại thiên thần có biết ai là người thuộc bài kệ đó không. Thiên thần trả lời chính là Đức Thế Tôn, hiện trú tại tinh xá Trúc Lâm. Tam-di-đề liền đi đến chỗ Thế Tôn và thưa hỏi nội dung bài kệ. Đức Thế Tôn nói cho Tam-di-đề nghe bài kệ rồi vào tịnh thất tĩnh tọa. Các Tỳ-kheo do chưa hiểu hết ý nghĩa của bài kệ nên đã thỉnh cầu Tôn giả Đại Ca-chiên-diên giảng nghĩa.
Bài kệ Bạt-địa-la-đế, tiếng Pãli là Bhaddekaratta, có nghĩa “một đêm hạnh phúc” hay “nhất dạ hiền giả”, là một bài thực tập nhằm đạt được nhận thức thực tại bằng cách dùng chỉ mọi ý nghĩ tìm về quá khứ hoặc mơ tưởng đến tương lai, giúp hành giả có ngay được hạnh phúc trong giờ phút hiện tại:
Cẩn thận, đừng nghĩ quá khứ;
Tương lai cũng chớ mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã mất,
Tương lai chưa đến, còn xa.
Hiện tại những gì đang có Thì nên quán sát suy tư.
Niệm niệm mong manh không chắc,
Ngicời khôn biết vậy nên tu.
Neu có làm theo hạnh Thánh,
Ai hay nỗi chết ưu sầu.
Nhất định tránh xa sự chết;
Hiếm nguy, khổ lớn dứt trừ.
Như vậy thực hành tinh tấn,
Ngày đêm không chút biếng lười.
Vì vậy phải thường tụng đọc
Bạt-địa-la-đế kệ này.
166. Kinh Thích Trung Thiền Thất Tôn [282]
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc.
Bấy giờ Tôn giả Lô-di-cường-kỳ ở giữa những người họ Thích tại thiền thất Vô sự. Có một thiên thần thuộc bài kệ Bạt-địa-la-đế nhưng không hiểu ý nghĩa nên đã hỏi Tôn giả. Lô-di-cường-kỳ không thuộc bài kệ, nên sau ba tháng an cư, đã đến đảnh lễ và thưa hỏi Đức Thế Tôn tại tinh xá Cấp-cô-độc. Đức Phật đã nói cho Lô- di-cường-kỳ nghe bài kệ Bạt-địa-la-đế, đồng thời giải thích ý nghĩa như đã thấy trong kinh Ôn Tuyền Lâm Thiên.
167. Kinh A-nan Thuyết[283]
Đúc Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vuờn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nói bài kệ Bạt-địa-la-đế và ý nghĩa của nó cho các Tỳ-kheo đang tụ họp tại giảng đường vào lúc ban đêm. Đức Phật ấn chứng cho những lời dạy của Tôn giả A-nan.
168. Kinh Ý Hành [284]
Chỉ có nghiệp tái sanh, không có ai sanh!
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc, nói cho các Tỳ-kheo nghe kinh Ý Hành.
Ý hành có nghĩa là nghiệp của ý, hay nghiệp được tạo bởi ý. Kinh đây nói về sự tái sanh của ý hành, tức là chỉ sự thọ sanh do hành nghiệp của ý, và chỉ là sự tái sanh của các hành, không có tái sanh của chúng sanh, của con người. Sự tái sanh này là của những người tu tập thiền định. Người tu đạt được Tứ thiền sẽ tái sanh về Tứ thiền thiên; người tu đạt được Tứ định sẽ tái sanh về Bốn cõi trời vô sắc, và đều là do ý hành sanh, cụ thể như sau:
 

282 Tương đương Pãli: M. 134. Lomasakaṅgiya bhaddekaratta Sutta.
283 Tương đương Pãli: M. 132. Ananda bhaddekaratta Sutta.
284 Tương đương Pãli: M. 120. Saṅkhãruppatti Sutta.
 
- Sơ thiền: mạng chung tái sanh trong cõi Phạm thiên.
- Nhị thiền: mạng chung tái sanh vào cõi trời Hoảng dục, tức Quang âm thiên.
- Tam thiền: mạng chung tái sanh vào cõi Biến tịnh thiên.
- Tứ thiền: mạng chung tái sanh vào cõi Quả thật thiên, tóc Quảng quả thiên.
- Định không vô biên xứ: tái sanh vào cõi Không vô biên xứ thiên.
- Định thức vô biên xứ: tái sanh vào cõi Thức vô biên xứ thiên.
- Định vô sở hữu xứ: tái sanh vào cõi Vô sở hữu xứ thiên.
- Định phi tưởng phi phi tưởng xứ: tái sanh vào cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên.
Nhung, nếu có thể vượt qua tất cả Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, nhập tưởng thọ diệt, tự thân tác chúng, thành tựu an trụ, do tuệ kiến đoạn trừ các lậu, chúng đắc tận trí, thì trong các định, định này được nói là tối đệ nhất, tối đại, tối thượng, tối diệu. Bởi chứng đắc định này, y nơi định này, trụ ở định này, không còn thọ lãnh sự khổ của sanh, già, bệnh, chết. Đó là tận cùng sự khổ.
169. Kỉnh Câu-lâu-sẩu Vô Tránh 285
Ỷ nghĩa Trung đạo
Đức Phật trú tại Bà-kì-sấu, ở Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu, dạy cho các Tỳ-kheo kinh Phản Biệt Vô Tránh:
Đùng nên mong cầu dục lạc, là nghiệp vô'cùng hèn hạ, là hành vi của phàm phu. Cũng đừng mong cầu tự thân khổ hành, rất khổ, không phải Thánh hạnh, không tương ưng với nghĩa.
___________________
285 Tương đương Pãli: M. 139. Araỵia- Vibhaṅga Sutta.
- Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.
- Có tán thán và chỉ trích, có sự không tán thán và không chỉ trích, mà chỉ nói pháp.
- Quyết định đúng mức và sau khi đã biết quyết định, thường tùy cầu sự lạc nào đã có bên trong.
- Đừng nói lời ám chỉ, cũng đùng đối mặt khen ngợi.
- Nói vừa phải chứ đùng quá giới hạn.
- Tùy theo phong tục địa phương, đừng nói thị, đừng nói phi.
Sau khi biết rõ các vấn đề trên, vị Tỳ-kheo biết pháp nào dẫn đến tranh cãi, pháp nào không dẫn đến tranh cãi. Đã biết pháp tránh và pháp vô tránh thì nên xả bỏ pháp tránh, tu tập pháp vô tránh. Do đạo vô tránh mà về sau biết được pháp như pháp.
170. Kinh Anh Võ286
Nguyên nhân có sự người giàu, kẻ nghèo...
Đô-đề, cha của Anh Võ Ma-nạp là người thực hành sự bố thí lớn lao, thiết những cuộc trai tự vĩ đại, nhung vì thói tăng thượng mạn mà sau khi chết sanh vào loài chó ngay trong nhà của mình. Đó là con chó trắng mà Anh Võ đang nuôi. Nhờ Đức Thế Tôn mà Anh Võ biết được điều này, và nhân đó, ông hỏi về nhân duyên khiến chúng sanh thọ thân có người cao kẻ thấp, người đẹp kẻ xấu, kẻ sống lâu người chết yểu, kẻ nhiều bệnh người ít bệnh, kẻ thân hình đoan chính người không đoan chính...
Đức Phật cho biết, chúng sanh do nơi hành nghiệp của chính mình, nhân bởi nghiệp mà thọ báo, duyên vào nghiệp, y nơi nghiệp,
______________
286Tương đương Pãli: M. 135. CũỊa Kamma-vibhanga Sutta.

tùy theo nơi nghiệp xứ nặng hay nhẹ mà chúng sanh thọ thân có cao thấp, xấu đẹp... bất đồng, cụ thể như sau:
- Chúng sanh nào do bởi tâm sân nhuế, thân hoại mạng chung tất đến chỗ ác, sanh vào địa ngục.
- Chúng sanh nào do bởi thiện tâm, thân hoại mạng chung tất đến chỗ lành, sanh vào trong thiên giới.
- Người nào sát sanh, hung dữ, cực ác, uống máu, ý nghĩ ác hại, không có tâm từ bi đối với tất cả chúng sanh, cho đến các loài côn trùng: nghiệp đọa địa ngục, sau sanh làm người có tuổi thọ ngắn ngủi.
- Người nào xa lìa nghiệp sát, đoạn tuyệt nghiệp sát, bỏ hẳn dao gậy, có tâm tàm, có tâm quý, có tâm từ bi, làm lợi ích cho tất cả cho đến loài côn trùng: nghiệp sanh vào chỗ lành, sanh lên cõi trời, sanh vào loài người thọ mạng lâu dài.
- Người nào nhiễu hại chúng sanh, dùng tay, cây, đá, dao, gậy... nhiễu hại chúng sanh: nghiệp đưa đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, đến khi làm người chịu nhiều tật bệnh.
- Người nào không nhiễu hại chúng sanh, không dùng tay, cây, đá, dao, gậy... nhiễu hại chúng sanh: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, sanh vào loài người không có bệnh tật.
- Người nào tánh nóng nảy, hay bực dọc, vừa nghe chút ít đã nổi cơn giận dữ, nổi ganh ghét mà sanh lo buồn, nổi thịnh nộ tranh chấp: nghiệp đưa đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, mãn địa ngục sanh làm người có hình thể không đoan chính.
- Người nào không nóng nảy, không bực dọc, nghe lời nói êm ái hay thô bỉ cục cằn cũng không nổi cơn giận dữ, không ganh ghét sanh ra buồn rầu, không nổi thịnh nộ tranh chấp: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, mãn kiếp trời sanh vào nhân gian, hình thể đoan chính.
- Người nào bên trong ôm lòng tật đố, thấy kẻ khác được cung kính cúng dường liền sanh lòng tật đố, thấy kẻ khác có của thì muốn làm sao của ấy được về mình: nghiệp đưa đến chỗ ác, sanh vào địa ngục, mãn kiếp địa ngục sanh vào trong nhân gian, không có oai đức.
- Người nào không ôm lòng tật đố, thấy kẻ khác được cung kính cúng dường không sanh lòng tật đố, thấy kẻ khác có của không cỏ lòng ham muốn của ấy được về mình: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, mãn kiếp trời sanh vào nhân gian có oai đức lớn.
- Người nào kiêu ngạo, ngã mạn, người đáng cung kính thì không cung kính, đáng tôn trọng thì không tôn trọng, đáng quý thì không quý, đáng phụng thờ thì không phụng thờ, đáng cúng dường thì không cúng dường, đáng nhường lối thì không nhường lối, đáng nhường chỗ ngồi thì không nhường chỗ ngồi, đáng chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi thì không chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi: nghiệp đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục, mãn kiếp địa ngục sanh vào nhân gian trong dòng dõi ti tiện.
- Người nào không có lòng kiêu ngạo, không đại mạn...: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, mãn kiếp trời sanh vào nhân gian trong dòng dõi tôn quý.
- Người nào không thực hành bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, cho kẻ nghèo cùng đơn độc: nghiệp đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục, mãn kiếp địa ngục sanh vào trong nhân gian nghèo cùng khốn khổ, không có của cải.
- Người nào biết làm thí chủ, biết thực hành bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn và kẻ nghèo cùng, cô độc: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, mãn kiếp trời sanh vào nhân gian làm người giàu có, rất nhiều của cải.
- Người nào không học đạo, hoặc học mà không thực hành: nghiệp đưa đến chỗ ác, đọa địa ngục, mãn kiếp địa ngục sanh vào nhân gian trí tuệ kém cỏi.
- Người nào thường hay học đạo, học xong lại thường thực hành: nghiệp đưa đến chỗ lành, sanh vào cõi trời, mãn kiếp tròi sanh vào nhân gian có trí tuệ tốt đẹp.
171. Kinh Phân Biệt Đại Nghiệp [287]
Các trường hợp sai biệt của nghiệp
Khi mà Đức Thế Tôn còn tại thế thì cũng đã có nhiều trường hợp dị học, ngoại đạo tự thêu dệt, hoặc tự đặt điều, hoặc vu khống... về lời dạy của Đức Thế Tôn. Có khi sự thêu dệt, đặt điều ấy nhằm để cật vấn, thừ sức các Tỳ-kheo mới xuất gia học đạo như trong trường hợp của kinh này.
Dị học Potaliputta dám khẳng định rằng ông từng nghe trực tiếp, tiép nhận trực tiếp từ Thế Tôn rằng ‘thân nghiệp, khẩu nghiệp là hư vọng. Chỉ có ý nghiệp là chân thật’. Tỳ-kheo Tam-di-đề bằng nhiều phương tiện khẳng định đó không phải là lời của Thế Tôn, rồi dẫn lời Thế Tôn rằng: Nếu cố ý tạo tác nghiệp, khi tác đã thành, chắc chắn thọ báo ở hiện tại, hoặc đời sau; nếu không cố ý tạo tác nghiệp thì không chắc chắn phải thọ báo.
Nghe nói như vậy, dị học Potaliputta hỏi tiếp: Neu cố ý tạo tác nghiệp, khi tác nghiệp đã thành, phải thọ báo gì?
Tôn giả Tam-di-đề trả lời: Nếu cố ý tạo tác nghiệp, khi tác nghiệp đã thành, tất thọ báo khổ.
Đoạn hội thoại này sau đó, do Tôn giả Đại Châu-na ở gần đó nghe được, đã trình lên Thế Tôn, và Thế Tôn cho biết câu hỏi của Potaliputta thuộc loại câu hỏi không xác định[288], cần trả lời bằng phân biệt đáp, nhưng Tôn giả Tam-di-đề lại trà lời theo nhất hướng
 

[287]   Tương đương Pãli: M. 136. Mahã-kamma-vibhanga Sutta.
[288] Câu hỏi không xác định, vấn sự bất định, một trong bốn loại câu hỏi: nhất hướng kí vấn (câu hỏi xác định), phân biệt kí vấn (câu hòi không xác định), phản cật kí vấn (hỏi ngược lại), xả trí kí vấn (câu hỏi vô nghĩa).
 
đáp[289], đó là sự trả lời không khôn ngoan, thiếu chính xác. Câu trả lời chính xác phải là: ‘Nếu tạo nghiệp khổ, khi tác đã thành, sẽ thọ quả báo khổ; nếu cố ý tạo nghiệp an lạc, khi tác đã thành, sẽ thọ quả báo an lạc; nếu cố ý tạo nghiệp không khổ không lạc, khi tác đã thành sẽ thọ quả báo không khố không lạc’.
Đoạn tiếp theo. Đức Phật phân biệt các trường hợp sai biệt của nghiệp để giải thích tại sao có người làm ác mà được hạnh phúc, kẻ hiền lương lại bị khốn khổ. Tựu trung, có bốn trường hợp sau đây:
1. Tạo nghiệp ác mà sau khi chết được sanh đến chỗ lành, sanh vào cõi trời. Lý do:
- Đời trước tạo nghiệp bất thiện, đời này đã thọ báo xong.
- Do hậu báo chi phối, tức là nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo.
- Do trước kia đã tạo nghiệp thiện, quả thiện đã chín muồi.
- Khi chết khởi các tâm và tâm sở thiện, tương ưng với chánh kiến.
2. Tạo nghiệp thiện mà sau khi chết bị sanh về nẻo ác, sanh trong địa ngục. Lý do:
- Trước kia đã tạo nghiệp thiện, nghiệp đã chúi, đã thọ báo xong.
- Do hậu báo chi phối, tức là nhiều đời sau nữa mới chịu quả báo.
- Trước kia tạo nghiệp bất thiện, nghiệp đã chín.
- Khi chết sanh tâm và tâm sở bất thiện, tương ưng với tà kiến.
3. Tạo nghiệp bất thiện, thân hoại mạng chuRg sanh về nẻo ác, đọa trong địa ngục. Lý do:
 

[289]    Nhất hướng đáp, Nhát hướng đáp , một trong bốn cách trả lời: nhất hướng (xác định), phàn biệt, phản cật (trả lời bằng cách hòi ngược lại), xả trí (không cẩn trả lời).
 
- Nghiệp bất thiện tác thành ngay đời sau.
- Nghiệp bất thiện đã tạo trước đây đồng thời chín.
- Khi chết khởi tâm và tâm sở bất thiện, tương ưng với tà kiến.
4. Tạo nghiệp thiện, sanh vào nẻo thiện, sanh trong cõi trời. Lý do:
- Chính nghiệp này đưa tới.
- Nghiệp thiện đã tạo trước đây đồng thời chín.
- Lúc chết sanh các tâm và tâm sở thiện, tương ung với chánh kiến.
Hình ảnh ví dụ: Trái xoài không chín mà giống như chín, chín giống như không chín, không chín giống như không chín, chín giống như chín.
o. Phẩm Tâm
Phẩm này gồm 10 kinh, chủ yếu nói về tâm, về việc kiểm soát tâm trong quá trình hành thiền...
172. Kinh Tâm 290
Cải gì dẫn thế gian đi?
‘Cái gì dẫn thế gian đi? Cái gì bị nhiễm trước? Cái gì sanh khởi mà tự tại?’. Đó là những câu hỏi khéo léo, là câu hỏi của những ai có ý chí hướng thượng, muốn vượt ra khỏi những tư duy thường tình của thế gian, đạt đến Niết-bàn giải thoát. Vậy thì, cái gì dẫn thế gian đi? Cái gì bị nhiễm trước? Cái gì khởi mà tự tại?
Chính tâm dẫn thế gian đi, chính tâm làm nhiễm trước và cũng chính tâm khởi tự tại. Một người đa văn, là đệ tử của bậc Thánh, thì không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm trước, không để tâm tự tại, người ấy không vâng theo sự tự tại của tâm, mà tâm tùy theo tự tại của người ấy.
_____________
290 Tương đương Pâli: A. IV. 186. Ummagga.
Bản kinh còn cho biết thế nào một Tỳ-kheo đa văn. Khi nghe Như Lai nói bốn câu kệ mà biết nghĩa, biết pháp, thực hành pháp tùy pháp, thuận theo phạm hạnh, thì đó là Tỳ-kheo đa văn.
Tỳ-kheo nghe rằng ‘Đây là Khổ’, tức thì với trí tuệ mà chân chính thấy khổ như thật, nghe Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo, tức thì với trí tuệ chân chính thấy Khổ diệt đạo như thật, đó là Tỳ-kheo đa văn có trí tuệ minh đạt.
Tỳ-kheo không có tâm niệm gây tự hại, không có tâm niệm gây hại người, cũng không có tâm niệm hại cả hai. Tỳ-kheo chỉ có tâm niệm làm lợi cho tự thân, và lợi ích cho người, lợi ích cho mọi người, thương xót thế gian, mong muổn cho trời, người được lợi ích và phước lành, được an ổn khoái lạc, như vậy là Tỳ-kheo thông minh có thiệt tuệ, quảng tuệ.
173. Kinh Phù-di291
Thể tính của sự nguyện cầu
Sa-môn, Bà-la-môn, hay bất cứ ai tà kiến, tà kiến kiên định, dù có ước nguyện hay không có ước nguyện, tu hành phạm hạnh một cách tà vạy thì chẳng bao giờ đạt được kết quả, vì tìm cầu quà vị một cách tà vạy, không đúng đường lối. Cũng như một người vắt sữa noi sừng bò, hay làm bơ bằng nước lã, ép dầu bằng cát, lấy lửa bằng củi ướt làm mồi thì không bao giờ đạt được như ý.
Nhưng những ai, Sa-môn hay Bà-la-môn có chánh kiến, chánh kiến kiên định, dù có ước nguyện hay không có ước nguyện, tu hành phạm hạnh một cách chân chính thì chắc chắc sẽ chứng quả vị, vì tìm cầu quả vị một cách chân chính và đúng đường lối. Cũng như một người nuôi bò đúng cách, cho ăn đầy đủ, vắt sữa nơi vú bò, làm bơ bằng sữa, ép dầu bàng hạt mè, lấy lửa bằng củi khô làm mồi thì chắc chắn sẽ đạt được như ý nguyện.
________________
291 Tương đương Pãli: M. 126. Bhūmija Sutta.
174. Kinh Thọ pháp 1[292]
Nay vui đời sau vui
Thế gian có bốn loại thọ pháp, đó là:
1. Thọ pháp hiện tại an lạc mà tương lai thọ quả báo khổ: Người tham đắm, vui say trong dục lạc, nhất là tham ái.
2. Thọ pháp hiện tại khổ mà tương lai thọ quả báo lạc: Người có bản tánh nặng đắm dục lạc, hay nổi sân, si mê, thường bị tâm dục, tâm giận dữ, tâm si mê làm cho khổ, cho sầu, nên quyết ữọn suốt cuộc đời tu hành phạm hạnh, cho đến khóc lóc rơi lệ, quyết không bỏ cuộc.
3. Thọ pháp hiện tại khô mà tương lai thọ báo khổ hơn: khố hạnh ép xác, giới cấm thủ kiến.
4. Thọ pháp hiện tại lạc, tương lai quả báo lạc: Người có bản tánh không nặng đắm dục, không nặng đắm sân, không nặng đắm si. Vị ấy không bị tâm dục, tâm sân, tâm si làm cho khổ, un, lo. VỊ ấy do lạc, do hỷ, trọn đời tu hành phạm hạnh thanh tịnh cho đến đạt được tâm hoan hỷ.
175.  Kinh Thọ Pháp 2293
Nội dung tượng tự kinh 174, nhung chi tiết hon, đặc biệt nhấn mạnh hai trường hợp: biết pháp thọ nay vui đời sau khổ, nay khổ đời sau khổ mà không đoạn trừ, và biết pháp thọ nay khổ đời sau vui, nay vui đời sau vui mà không tu tập là ngu si; biết pháp thọ nay vui đời sau khổ, nay khổ đời sau khổ nên đoạn trừ, và biết pháp thọ nay khổ đời sau vui, nay vui đời sau vui nên tu tập đó là pháp tuệ.
176. Kinh Hành Thiền [294]
Kinh nghiệm hành thiền
_______________
292 Tương đương Pāli: M. 45. Dhammasamādāna Sutta.
293 Tương đương Pāli: M. 46. Dhammasamādāna Sutta.
[294] Không thấy Pāli tương đương.
 
Trong thế gian có bốn loại hành thiền:
- Hành thiền xí thạnh, tức là ngày mỗi tiến bộ mà không biết, tưởng là đang suy thoái.
“Người hành thiền kia ly dục, ly pháp ác bất thiện, có tầm, có tứ, hỷ và lạc phát sanh do ly dục, chứng Sơ thiền, thành tựu an trụ. Tâm người đó tu tập chánh tư duy, đang từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là sự tịch tịnh thù thắng. Người hành thiền đó lại nghĩ rằng, ‘Tâm ta lìa bốn tướng mà hướng đến chỗ khác, làm mất Sơ thiền và diệt mất định’. Người hành thiền ấy không biết như thật rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị đó do không biết như thật như vậy, nên đối với sự như thật mà thoái chuyển ý, bèn mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh mà nói là thoái chuyển vậy”.
- Hành thiền suy thoái, tức là ngày mỗi thụt lùi mà không biết, tưởng là đang xí thạnh.
“Vị hành thiền ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ. Vị ấy tư duy trong những tưởng hạn hẹp khác mà tu tập con đường dẫn đến Nhị thiền, nhung vị ấy lại nghĩ rằng ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị hành thiền ấy không biết như thật rằng chỉ nên tư duy bằng tưởng tương ưng với yểm ly mà nhập Sơ thiền, nhưng không nên bằng tư duy về những tưởng hạn hẹp khác mà vào Nhị thiền. Vị ấy do không biết như thật nên không biết rõ tâm mình, vị ấy vì vậy mà mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái mà cho là xí thạnh”.
- Hành thiền suy thoái thì biết như thật là suy thoái.
“Vị hành thiền ấy với sở hành, với đối tượng và mục tiêu, vượt qua tất cả Vô sở hữu xứ, nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng Phi tưởng phì phi tưởng xứ, thành tựu an trụ, nhưng vị ấy không chấp thọ hành ấy, không suy niệm về đối tượng và mục tiêu ấy, mà
chỉ hành trên niệm tưởng tương ưng Vô sở hữu xứ, bèn thối thất trở lại đó. Vị ấy nghĩ rằng ‘Tâm ta lìa khỏi bổn tướng, lại hướng đến chỗ khác, mất Phi tường phi phi tưởng xứ; diệt mất định vậy’. Vị ấy biết như thật rồi, đối với sự như thật không thoái ý, không mất định. Hành thiền như vậy là suy thoái thì biết như thật là suy thoái”.
- Hành thiền xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh.
“Vị hành thiền ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp, có tầm, có tứ, có hỷ lạc do ly dục sanh, chứng đắc Sơ thiền, thành tựu an trụ. Tâm vị ấy tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Sơ thiền hướng đến Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng. Vị hành thiền ấy bèn nghĩ như vầy ‘Tâm ta tu tập chánh tư duy, khoái lạc tịch tịnh, rồi từ Sơ thiền hướng đến đệ Nhị thiền, đó là tịch tịnh thù thắng’. Vị ấy biết như thật rồi, bèn biết rõ tâm ấy mà không mất định. Hành thiền như vậy là xí thạnh thì biết như thật là xí thạnh”.
177. Kinh Thuyết[295]
Hướng dẫn các Tỳ-kheo tu tập thiền định, phải luôn chánh niệm tỉnh giác để biết quá trình hành thiền của mình đang ở trạng thái nào, cấp bậc nào, sở đắc sở hành nào cần chấp thọ, sở đắc sở hành nào cần không chấp thọ để thăng tiến và đạt được mục đích cuối cùng là chúng quả lậu tận.
178. Kinh Lạp Sư[296]
Thoát muôn trùng vây
Lạp Sư là anh thợ săn nai chuyên nghiệp. Anh cùng với quyến thuộc của mình đã đặt ra nhiều cạm bẫy để giăng bắt đàn nai. Có bốn đàn nai đối diện với những cạm bẫy của người thợ săn, và duy nhất chỉ có đàn nai thứ tư, bằng trí khôn lanh cùa mình đã thoát khỏi cảnh giới của người thợ săn và quyến thuộc của thợ săn.
 

295 Không thấy Pāli tương đương.
296 Tương đương Pāli: M. 25. NivāpaSutta.
 
Đức Thế Tôn nói ví dụ này để chỉ: Đồ mồi của thợ săn là năm tố chất của dục vọng: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Thợ săn và quyến thuộc của thợ săn là Ma vương và quyến thuộc của Ma vương. Đàn nai chính là Sa-môn, Bà-la-môn.
Cách thức đàn nai thứ tư thoát khỏi cảnh giới của người thợ săn là tìm một nơi trú ẩn an toàn, nơi mà thợ săn và quyến thuộc của anh ta không đến được, rồi ở đó, đàn nai đốỉ diện với những cạm bẫy, ăn mồi của thợ săn mà không đến gần, không kiêu loạn phóng dật.
Cũng vậy, cách duy nhất để người xuất gia thoát khỏi Ma vương và quyến thuộc của Ma vurơng là tìm nơi trú ẩn an toàn, nơi mà Ma vương và quyến thuộc của Ma vương không tìm đến được. Nơi đó chính là ly dục, ly ác bất thiện, chứng đắc Tứ thiền, tâm từ, bi, hỷ, xả rộng lớn bao la, cho đến vượt qua tất cả các sắc tưởng, thành tựu và an trụ Phi tưởng phi phi tưởng xứ, rồi ở đó nhập tưởng thọ diệt.
179. Kinh Ngũ Chi Vật Chủ297
Con đường Giới - Định - Tuệ
Ngũ Chi Vật Chủ, Pancakañga Thapati, là một cư sĩ làm nghề thợ mộc, sống ở thành Xá-vệ.
Bấy giờ Dị học Sa-môn Văn-kì-tử chủ trương rằng người nào thành tựu bốn sự sau đây thì đó là bậc đệ nhất thiện, là bậc Vô thượng sĩ, chứng đắc đệ nhất nghĩa, là Sa-môn chất trực:
- Thân không tạo nghiệp ác
- Miệng không nói ác
- Không sống bằng tà mạng
- Không suy niệm niệm ác.                         
Cư sĩ Ngũ Chi Vật Chủ đem chủ trương này hỏi Đức Thế Tôn và Ngài cho biết:
__________________
297 Tương đương Pāli: M. 78. Samanamaṇḍlkā Surta.
- Người nào thành tựu bốn sự trên thì người ấy thành tựu thiện, đệ nhất thiện, nhưng không phải là bậc Vô thượng sĩ, không thể chứng đắc đệ nhất nghĩa, cũng không phải là Sa-môn chất trực, vì đứa trẻ sơ sanh cũng thành tựu được.
- Thân, miệng, ý bất thiện phát sanh từ tâm tham, sân, si, do đó, để diệt trừ không còn tàn dư, bị bại hoại không tàn dư, đệ tử của Thế Tôn phải quán Tứ niệm xứ.
- Thân, miệng, ý thiện phát sanh từ tâm không tham, không sân, không si. Muốn vậy, đệ tử của bậc Thánh phải hành trì giới thiện. Nhưng rồi giới thiện cũng phải diệt trừ, tức hành trì giới mà không dính trước nơi giới, ở đây, chúng ta thấy tư tưởng Đại thừa đã hình thành!
- Niệm, là suy niệm, tư duy, là một loại tâm sở. Tư duy về dục, về sân, về si là tư duy bất thiện. Tư duy bất thiện này lại có nguồn gốc từ dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng. Muốn diệt trừ niệm bất thiện này cần phải chứng đắc Sơ thiền, tu Tứ niệm xứ.
- Suy niệm thiện là suy niệm vô dục, vô sân, vô si. Suy niệm này phát sanh từ tưởng vô dục, tưởng vô sân, tưởng vô si. Nhưng suy niệm thiện này cũng cần phải diệt trừ và nó được diệt trừ ở Tứ thiền, phải tu Tứ niệm xứ.
- Tựu trung, do tuệ quán sát mà biết như thật về giới bất thiện, biết nhu thật giới bất thiện phát sanh từ đâu, giới bất thiện đã bị diệt trừ không còn dư tàn; và cũng do tuệ quán sát mà biết như thật suy niệm thiện, biết như thật niệm thiệt phát sanh từ đâu và biết như thật niệm thiện đã bị diệt trừ không còn dư tàn. Tuệ Hầy có mặt nhờ tu tập Bát Chánh đạo.
Bản kinh giới thiệu con đường giải thoát độc nhất: Giới - ĐịnhTuệ. ở đây, và bất cứ lúc nào Thế Tôn cũng giới thiệu con đường này, bằng hình thức này hay hình thức khác.
180. Kinh Cù-đàm-di298
Bảy cách bố thí cho chư Tăng
Cù-đàm-di cúng dường Thế Tôn tấm y may bằng kim tuyến, Thế Tôn không nhận mà bảo bà hãy cúng dường đại chúng. A-nan trách khéo Thế Tôn bằng cách nhắc nhở rằng Cù-đàm-di có công nuôi dưỡng Thể Tôn khi thân mẫu của Ngài qua đời. Thế Tôn đồng ý rằng Cù-đàm-di đã đem lại cho Ngài nhiều lợi ích, nhưng chính Ngài cũng đã đem lại cho Cù-đàm-di nhiều lợi ích hơn nữa, đó là nhờ Ngài mà Cù-đàm-di quy y Tam bảo, nghe pháp Tứ đế, thành tựu tín, giới, đa văn, bố thí, trí tuệ... Đức Phật dạy: ‘Này A-nan, nếu có người nhờ người ấy mà được quy y Tam bảo, không nghi ngờ Tứ đế, thành tựu tín, giới..., thì người này cúng dường lại người kia suốt đời vẫn chưa thể đền ơn’.
Nhân đây, Thế Tôn giảng về công đức của sự bố thí:
- 7 loại bo thí cho Tăng chúng: 1. Phật tại thế, bố thí Tăng chúng với Phật đứng đầu. Sau khi Phật diệt độ; 2. Bố thí cho chúng Tỳ-kheo; 3. Bố thí cho chúng Tỳ-kheo-ni; 4. Bố thí cho cả hai chúng; 5. Bố thí cho một số Tỳ-kheo trong tinh xá, hoặc bố thí cho một số Tỳ-kheo-ni trong tinh xá; 6. Bố thí cho danh tánh Tỳ-kheo ờ trong chúng; 7. Bố thí cho Tỳ-kheo thành tựu tín, giới, đa văn, huệ thí... ở trong chúng.
- 14 loại bố thí riêng cho từng người: 1. Đức Như Lai; 2. Duyên giác; 3. A-la-hán; 4. A-la-hán hướng; 5. A-na-hàm; 6. A-na- hàm hướng; 7. Tư-đà-hàm; 8. Tư-đà-hàm hướng; 9; Tu-đà-hoàn; 10. Tu-đà-hoàn hướng; 11. Tiên nhân ngoại đạo ly dục; 12. Người tinh tấn; 13. Người không tinh tấn; 14. Súc sanh.
Trong đó, bố thí cho Đức Như Lai, bậc Vô sở trước, Đẳng chánh giác được đại phước, đại quả.
___________________
298 Tương đương Pāli: M. 142. Dakkhināvibhaṅga Sutta.
- Bốn loại bổ thí và chỉ ba loại được thanh tịnh:
  1. Thí chủ thanh tịnh, người thọ nhận không tinh tấn.
  2. Người thọ nhận thanh tịnh, thí chù không tinh tấn.
  3. Thí chủ không thanh tịnh, người nhận cũng không thanh tịnh.
  4. Thí chủ thanh tịnh, người nhận cũng thanh tịnh.
Trong bốn loại trên, loại thứ ba bố thí không đúng pháp, không thanh tịnh, không đưa đến quả báo.
181. Kinh Đa Giới[299]
Nguồn gốc của sợ hãi
Những ai có sợ hãi, tất cả chúng đều có nguồn gốc từ ngu si mà sanh chứ không từ trí tuệ. Những ai vướng tai hoạn, ưu não, tất cả chúng đều từ ngu si mà sanh, chứ không phải từ trí tuệ.
Trong quá khứ, hiện tại, tương lai đều như thế.
Nhưng, đến mức độ nào thì liệt vào loại ngu si?
Đó là không biết giới, không biết xứ, không biết nhân duyên, không biết thị xứ phi xứ[300].
Ngược lại ngu si là trí tuệ, đó là biết giới, biết xứ, biết nhân duyên, biết thị xứ phi xứ.
- Biết giới: Thấy và biết như thật về 62 giới sau:
+ 18 giới: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp giới; nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức giới.
+ 6 giới: Dục giới, sân giới, hại giới, vô dục 'giới, vô sân giới, vô hại giới.
 

[299]   Tương đương Pãli: M. 115. Bahudhãtuka Sutta.
[300]   Thị xứ phi xứ: trường hợp đúng và trường họp sai.
 
+ 4 giới: Thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức giới.
+ 3 giới: Dục giới, sắc giới, Vô sắc giới.
+ 3 giới: Sắc giới, Vô sắc giới, Diệt giới.
+ 3 giới: Quá khứ giới, vị lai giới, hiện tại giới.
+ 3 giới: Diệu giới, bất diệu giới, trung giới.
+ 3 giới: Thiện giới, bất thiện giới, vô ký giới.
+ 3 giới: Học giói, vô học giới, phi học vô học giới.
+ 2 giới: Hữu lậu giới, vô lậu giới.
+ 2 giới: Hữu vi giới, vô vi giới.
- Biết xứ: Thấy và biết như thật về 12 xứ: nhãn xứ, sắc xứ, nhĩ xứ, thanh xứ, tỷ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xử, xúc xứ, ý xứ, pháp xứ.
- Biết nhân duyên: Thấy và biết như thật pháp Duyên khởi.
- Biết thị xứ phi xứ: Thấy và biết như thật về những trường họp có xảy ra và hoàn toàn không thể xảy ra. Chẳng hạn, trong một đời có hai Đức - Như Lai là điều hoàn toàn không có. Người thấy đã thấy để lý, tức chứng quả Tu-đà-hoàn mà còn phạm giới, bỏ đạo... là điều hoàn toàn không thể xảy ra.
p. Phẩm Song
Phẩm này gồm 10 kinh, chia làm hai phần. Phần đầu gồm 5 kinh thuộc ngày tụng thứ tư (Phân biệt tụng), từ kinh 182-186. Phần hai còn lại, thuộc ngày tụng thứ năm, gọi là ‘Hậu tụng’.
182. Kinh Mã Ấp 1301
Đe không trở thành kẻ hư danh                   >
Phật trú tại nước Ương-kị.
_______________
301 Tương đương Pãli: M. 39. (Mahã)-Assapura Sutta.
Bấy giờ Phật dạy các Tỳ-kheo học pháp như thật Sa-môn để trở thành một Sa-môn chân chính, không phải là Sa-môn hư danh, đế các Tỳ-kheo không lạc mất ý nghĩa của sự tu học. Pháp ấy là thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, ý hành thanh tịnh, mạng hành thanh tịnh, chính đại quang minh, khéo léo giữ gìn, không có tì vết mà vẫn không tự đề cao, không khinh chê người, không vấn đục, được các đồng phạm hạnh có trí khen ngợi.
Muốn cầu học tiến thêm nữa, các Tỳ-kheo phải học thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác, độc cư tại nơi xa vắng để hạ thủ công phu, đoạn trù' năm triền cái, chúng đắc Bốn sự thật, thành tựu vô lậu giải thoát. Đó là mục đích tối thượng của đời sống tu học.
Đức Thế Tôn định nghĩa: Sa-môn, Bà-la-môn, Thánh hay Tịnh dục là người đã đình chỉ các pháp ác bất thiện.
183. Kinh Mã Âp II302
Pháp học của Tỳ-kheo
Cũng tại nước Ương-kị, thêm một lần nữa Đức Phật dạy các Tỳ-kheo phải học và thực hành pháp của Tỳ-kheo, bởi mọi người đều gọi quý thầy là Tỳ-kheo và chính bản thân của quý thầy cũng tự xung mình là Tỳ-kheo.
Tỳ-kheo học và thực hành pháp của Tỳ-kheo để làm Tỳ-kheo chân chính, chứ không phải chi có hư danh, thì nhũng ai cung cấp các thứ phẩm vật cúng dường người ấy sẽ được phước lớn, được quả báo lớn.
Những ai có tham, có nhuế, có sân, có phú tàng, có kết, có bỏn sẻn, có tật đố, có dua nịnh, có lường gạt, có vô tàm, có vô quý, có ác dục, có tà kiến... mà không dứt bỏ thì dù khoác áctăng-già-lê cũng không phải là Sa-môn.
_________________
302 Tương đương Pãli: M. 40. (CuỊa)-Assapura Sutta.
184. Kinh Ngưu Giác Sa-la Lâm 1303
Sáng chói cả khu rừng
Phật trú tại Bạt-kì-sấu, trong rừng Ngưu giác sa-ỉa cùng với các Tỳ-kheo Đại đệ tử là những bậc Thượng tôn danh tiếng.
Bấy giờ, vào buổi sáng sớm, các Tôn giả Đại Mục-kiền-liên, Tôn giả Đại Ca-diếp, Tôn giả Đại Ca-chiên-diên, Tôn giả A-na-luật- đà, đi đến chồ Tôn giả Xá-lợi-phất. Sau khi chào hỏi nhau, Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi các vị Thượng tôn: Rừng Ngưu giác sa-la này ban đêm có trăng sáng, các cây sa-la đều tỏa hương thơm ngát, ví như hoa trời, Nhung, Tỳ-kheo như thế nào có thể làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la?
Mỗi Tỳ-kheo tùy theo chỗ chúng đắc của minh mà trả lời câu hỏi:
- A-nan: Thành tựu đa văn.
- Ly-việt-đa: Tọa thiền.
- A-na-luật đà: Thiên nhãn.
- Ca-chiên-diên: Phân biệt pháp sư.
- Ca-diếp: Vô sự.
- Mục-kiền-liên: Đại như ý túc.
- Xá-lợi-phất: Tùy dụng tâm tự tại.
Vậy, ai là người trả lời đúng? Thế Tôn nói: Tất cả đều đúng! Vì các pháp đó chính là điều Thế Tôn đã dạy, và Ngài kết luận: Vị Tỳ-kheo nào tùy theo chỗ ở, sáng sớm đi khất thực, khéo léo thủ hộ, thúc liễm các căn, giữ tâm niệm. Sau khi khất thực và thọ thực xong, đến chỗ vô sự ngồi kiết-già, ngồi luôn cho đến chứng lậu tận mới giải kiết-già. Vị ấy không giải kiết-già cho đến khi nào chưa chứng được lậu tận. Tỳ-kheo như vậy làm rực sáng khu rừng Ngưu giác sa-la.
________________
303 Tương đương Pāli: M. 32. (Mahā)-Gosiṅga Sutta.
Người thích như ý đạo là Đại Mục-kiền-liên, người thích hạnh Đầu-đà là Đại Ca-diếp, người luận nghị là Ca-chiên-diên, người thành tựu thiên nhãn là A-na-luật-đà, người tu thiền là Ly-việt-đa, người đa văn là A-nan theo sự hiểu biết của mình mà đáp lại lời hỏi của ngài Xá-lê-tử về sở đắc tu hành.
185. Kinh Ngưu Giác Sa-la Lăm 2 [304]
Hòa hợp thanh tịnh
Đức Phật đi đến Na-ma-đề-sấu, ở tại tinh xá Kiền-kì. Vào một buổi chiều, Thế Tôn đi đến khu rừng Ngưu giác sa-la, chỗ có ba người con dòng quý tộc cùng ở chung tu tập là Tôn giả A-na-luật- đà, Tôn giả Nan-đề, Tôn giả Kim-tì-la.
Ba Tôn giả sống với nhau theo nguyên tắc lục hòa, cùng hòa hiệp như nước với sữa, an ổn, không có gì thiếu thốn, được Thế Tôn khen ngợi và rồi Ngài ân cần hỏi thăm quý thầy có chứng đắc pháp Thượng nhân hay không? Khi đó, Tôn giả A-na-luật bằng sở đắc của mình mà thấy được sở đắc của hai vị đồng tu, trình bày lên Đức Thế Tôn, mọi người đã chứng Tứ thiền, thành tựu Tứ vô lượng tâm, vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, đắc như ý túc, thiên nhãn trí, tha tâm trí, túc mạng trí, sanh tử trí, các lậu đã hết, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
Sau khi nghe xong, Đức Phật thêm một lần nữa ngợi khen các Tôn giả và thuyết pháp cho họ nghe.
186. Kinh cầu Giải[305]
Làm sao để có niềm tin kiên cố vào Tam bảo?
Đức Phật trú tại Câu-lâu-sấu, ở đô ấp Kiếm-ma-sắt-đàm, một đô ấp của Câu-lâu.
 

[304]   Tương đương Pāli: M. 31. (Cūla)-Gosiṅga Sutta.
[305]   Tương đương Pāli: M. 47. Vīmamsaka Sutta.
 
Một người, bằng sự hiếu của mình mà không thể hiểu biết như thật về tâm trí của người khác thì làm sao có thể hiểu biết được Như Lai, làm sao có thể tin được Như Lai là bậc Giác ngộ Chính đẳng Chánh giác? Nói cách khác, một người bình thường làm sao để có được niềm tin chắc chắn đối với Phật, đối với Tam bảo?
Có hai cách để tìm hiểu, một là quan sát, hai là lắng nghe. Quan sát và lắng nghe để thấy và biết pháp ô nhiễm, pháp hỗn tạp, pháp bạch tịnh đã bị Như Lai diệt tận, đoạn trừ, nhổ tuyệt gốc rễ, không bao giờ sanh trở lại. Đồng thời hãy hỏi những người đã có niềm tịnh tín với Như Lai rằng, tại sao người ấy có niềm tịnh tín? Người có niềm tịnh tín sẽ trả lời: ‘Tôi do nơi Thế Tôn mà có tịnh tín như vậy. Thế Tôn nói pháp cho tôi nghe, pháp cao siêu càng lúc càng cao siêu, pháp vi diệu càng lúc càng vi diệu, khéo đoạn trừ hắc bạch. Như Lai nói như vậy, tôi nghe như vậy, biết tường tận từng pháp một, đối với các pháp mà chửng đắc cứu cánh, tịnh tín nơi Thế Tôn, biết rằng ‘Thế Tôn là vị Chánh đẳng giác’.
E. Ngày thứ năm tụng 3 phẩm rưỡi
Gồm 35 kinh
p1. Phẩm Song (tiếp theo)
187. Kinh Thuyết Trí306
Làm thế nào để biết được một Tỳ-kheo đã chứng đắc, giác ngộ?
Một thời, Phật trú tại Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc. Bấy giờ Đức Thế Tôn chỉ cho các Tỳ-kheo cách nhận biết một Tỳ-kheo đã chứng đắc bằng cách đặt các câu hỏi như sau:
- Làm thế nào để biết được là không còn chấp thủ năm uẩn?
Câu trả lời đúng pháp sẽ là: Năm uẩn không có lực, là không hư, không đáng ham muốn, không bằng hữu, cũng không thể dựa, là
_______________
306 Tương đương Pãli: M. 112. Chabbisodhana Sutta.

pháp biến dịch. Tất cả mọi tham dục, ô nhiễm, đắm trước, trói buộc đối với năm uẩn đều bị tận trừ, ly dục, diệt, tịch tĩnh, do đó mà biết là không còn chấp thủ, dứt sạch các lậu, tâm giải thoát.
- Làm thế nào để biết được không còn chấp thủ, đã dút sạch các lậu, tâm giải thoát đối với bốn loại thức ăn? Vì tất cả chúng sanh đều nhờ đó mà tồn tại và trưởng dưỡng?
Câu trả lời đúng pháp sẽ là: Đối với bốn loại thức ăn tâm không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đấm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo.
- Làm thế nào để biết được không còn chấp thủ đối với bốn loại ngôn thuyết?
Câu trả lời đúng pháp: Đối với bốn loại ngôn thuyết không coi trọng, không coi rẻ, không đam mê, không ràng buộc, không nhiễm, không đắm, được giải thoát, giải thoát một cách rốt ráo, tâm không còn điên đảo.
- Làm thế nào để biết không còn chấp thủ đối với sáu nội xứ?
Câu trả lời đúng pháp: Ái lạc đối với sáu nội xứ và pháp được biết bởi sáu nội xứ đã dút sạch, do dứt sạch, ly dục, diệt, tịch tĩnh mà biết đã sạch các lậu, không còn chấp thủ, được tâm giải thoát.
- Làm thế nào để biết không còn chấp thủ đối với sáu giới?
Câu trả lời đúng pháp: Sáu giới không phải là ngã, không phải là ngã sở, chẳng phải là tự ngã, nhưng do ba kiến thủ là dục thủ, kiến thủ, ngã ngữ thủ nương vào đó mà sanh. Chúng bị diệt sạch.
- Làm thể nào để thấy biết bên trong thân cùng với thức và tất cả các tướng bên ngoài, ngã, ngã tác và kết sử mạn thảy đều được đoạn tri[307], nhổ tuỵệt cội gốc của chúng, không còn tái sanh nữa?
 

[307] Theo bản Pãli: ở trong các thân câu hữu với thức này và trong tất cả các tướng bẻn ngoài, mà hoàn toàn đoạn tuyệt ngã kiến, ngã sở kiến và mạn tùy miên.
 
Câu trả lời đúng như pháp: Xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, thành tựu Thánh giới, diệt năm triền cái, chứng đắc Tứ thiền, thấy Bốn sự thật.
188. Kinh A-di-na [308]
Chủng đúng pháp và chúng phi pháp
Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong Đông viên, giảng đường Lộc tử mẫu.
Bấy giờ Thế Tôn phân biệt hai chúng: chúng đúng pháp và chúng phi pháp, nhung chỉ nói vắn tắt, các Tỳ-kheo tìm đến Tôn giả A-nan để mong được giải thích. Tôn giả A-nan nói:
- Chúng phi pháp: Tà kiến, tà trí là phi pháp. Nhũng điều được nói ra từ tà kiến, tà trí dù cho có vô lượng cũng là pháp ác bất thiện, đó gọi là phi nghĩa.
- Chúng đúng pháp: Chánh kiến, chánh trí là pháp. Những điều được nói ra từ chánh kiến, chánh trí nên sanh ra vô lượng pháp thiện, đó gọi là nghĩa.
189. Kinh Thánh đạo 309
Đường lên thượng trí
Phật trú tại nước Câu-lâu-sấu, ở Kiếm Ma-sắt-đàm, đô ấp Câu-lâu.
Bát Thánh đạo là con đường khiến chủng sanh được thanh tịnh, xả bỏ ưu sầu, than khóc, dứt hết buồn khổ áo não, chứng được như pháp.
Bát Thánh đạo cận tập, trợ bạn và tư cụ lẫn nhau, trong đó chánh kiến đứng đầu.
Bậc hữu học thành tựu tám chi: Từ chánh kiến đến chánh định.


308 Tương đương Pāli: A. X. 116. Aīna và A. X. 115, và một đoạn trong M. 76.
309 Tương đương Pāli: M.117. Mahā - Cttārīsaka Sutta.

Bậc lậu tận A-la-hán thành tựu mười chi: Từ vô học chánh kiến đến vô học chánh định và vô học chánh giải thoát, vô học chánh trí.
Nhờ mười chi này, nếu nhân tà kiến sanh vô lượng ác pháp bất thiện, vị ấy cần phải đoạn trừ nó; nếu nhân chánh kiến sanh ra vô lượng thiện pháp, vị ấy tu tập được sung mãn; nếu nhân tà trí sanh vô lượng pháp ác bất thiện, vị ấy đoạn trừ nó; nếu nhân chánh trí sanh vô lượng pháp thiện, vị ấy tu tập để được sung mãn.
Đó là 20 phẩm thiện và 20 phẩm bất thiện. Tất cả cỏ 40 đại pháp phẩm được chuyển vận nơi Phạm luân mà không một ai có thể chế ngự để bài xích, dù là Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, Ma, Phạm, và các loại thế gian khác.
Nhũng ai chê bai chánh kiến, khen ngợi tà kiến, cho đến chê bai chánh trí, khen ngợi tà trí là gồm mười trường họp đáng bị chỉ ừích.
Tất cả những ngoại đạo khác khi nghe 40 đại phẩm này đều lo lắng, sợ hãi.
190. Kinh Tiểu Không310
Tư tưởng tánh Không
Bản kinh in đậm dấu ấn Đại thừa, nhất là tư tưởng tánh Không của Bát-nhã và Trung quán luận... Từ kinh này có thể thấy sự liên hệ giữa hai truyền thống, Nguyên thủy và Phát triển, để xô ngã đi cái tri kiến sai lầm chê bai Tiểu thừa, hay Đại thừa không phải Phật nói.
Phật trú tại nuớc Xá-vệ, tại Đông viên, Lộc tử mẫu giảng đường.
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nhớ lại Phật từng nói: ‘Ta phần nhiều hành nơi Không tánh’, phần nhiều an trụ nơi tánh Không, sống trong trạng thái Không tánh, nên vào lúc xế chiều đi đến chỗ Thế Tôn và hỏi lại về ý nghĩa này.
___________________
310Tương đương Pāli: M. 121. CūỊa-Suññatā Sutta. Tiểu không là kinh ngắn vể Tánh không.
Thế Tôn xác nhận, không những Ngài, bậc Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác an trụ trong tánh Không, không điên đảo, lậu tận, vô vi, tâm giải thoát này, mà trong quá khứ, trong vị lai các Đức Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, tất cả đều hành trong tánh Không.
“Này A-nan, như giảng đường Lộc tử mẫu này ừống không, không có voi, ngựa, bò, dê, tài vật, lúa thóc, nô tỳ; nhưng có cái không trống không. Đó là chỉ có chúng Tỳ-kheo. Cho nên, này A-nan, nếu trong đó không có gì cả thì chính do đó mà Ta thấy là trống không. Neu tong này còn có cái khác thì Ta thấy là chân thật có. Này A-nan, đó là hành trong sự chân thật, không tánh, sự không điên đảo”.
Rồi Đức Phật hướng dẫn cách tu tập an trụ trong tánh Không ấy.
191. Kinh Đại Không311
Ưng vô sở trụ
Phật trú giữa nhũng người họ Thích, ở trong thành Ca-duy-la- vệ, tại vườn Ni-câu-loại.
Cũng như kinh Tiểu Không, kinh này tiếp tục hướng dẫn cách an trú trong tánh Không. Kinh có những đại ý sau:
- Một Tỳ-kheo ưa thích ồn ào, thích tụ tập chỗ đông người mà có được sự an lạc của bậc Thánh là điều không thể xảy ra.
- Tỳ-kheo ưa thích yên tĩnh, sống độc cư nơi xa vắng, vị ấy có được sự an lạc của bậc Thánh, điều này tất có thể xảy ra.
- Tỳ-kheo ưa nói chuyện ồn ào, thích tụ tập đông người thì sẽ không bao giờ chứng đắc bất di động tâm giải thoát.
- Tỳ-kheo nào ưa thích yên tĩnh, sống độc cư viễn ly thì chắc chắn chứng đắc được bất di động tâm giải thoát.
__________________
311 Tương đương Pāli: M. 122. Mahā-Suññatā Sutta
- Tỳ-kheo muốn hằng an trụ trong Không tánh thì hãy giữ vững nội tâm an trụ, tĩnh chỉ, khiến cho chuyên nhất và định, rồi hãy suy niệm về ngoại không, nội không, nội ngoại không, tâm không di động.
-Tâm an trụ trong trụ xứ Không tánh rồi, vị Tỳ-kheo muốn kinh hành, tọa thiền... trong tâm sẽ không sanh tham lam, ưu sầu, ác bất thiện pháp.
- Cũng trong trụ xứ Không tánh, Tỳ-kheo dễ dàng đoạn trừ những suy niệm bất thiện, từ bỏ luận bàn không liên hệ đến mục đích của Thánh đạo, đoạn trừ năm tính chất cùa dục, không chấp thủ năm uẩn, cho đến thành tựu giác ngộ.
Bản kinh còn cho biết mối phiền lụy cho Tôn sư và mối phiền lụy cho đệ tử:
- Tôn sư sống viễn ly mà các đệ tử tại gia và xuất gia vây quanh, khiến tâm tự cao khởi lên, đắm trước dục lạc, đó là mối phiền lụy cho Tôn sư.
- Đệ tử của vị Tôn sư cũng sống viễn ly mà bị các đệ tử tại gia và xuất gia vây quanh, khiến tâm tự cao khởi lên và bị phiền lụy bởi các pháp ác bất thiện, đó là mối phiền lụy cho đệ tử.
Đức Phật vì hai ý nghĩa sau mà sổng nơi rừng vắng, trong rừng sâu: Một là sống an lạc ngay trong hiện tại cho chính mình. Hai là từ mẫn đối với những người đời sau.
Đức Phật dạy: Một vị Tôn sư không chỉ nuông chiều đệ tử, như người thợ gốm phải nhẹ tay đối với đồ gốm chưa nung, mà đôi khi phải nghiêm khắc, khắc khổ.
q. Phẩm Đại
Gồm 10 kinh, đề cập nhiều đến giới luật.
192. Kinh Ca-lâu-ô-đà-di312
Lv do không ăn quá ngọ
________________
312 Tương đương Pãli: M. 66. Laṭukikopama Sutta.
Phật trú trong nước Ương-già, cùng với đại chúng Tỳ-kheo, đến A-hòa-na, ở tại tinh xá Kiền-nhã.
Khi Đức Thế Tôn chế giới ‘Không ăn quá ngọ’, Tôn giả ô-đà- di, cũng như nhiều Tỳ-kheo khác cảm thấy không kham, không nhẫn, không vui, và cho đó là ‘việc nhỏ nhặt, đủ thiếu gì mà phải từ bỏ’. Nhưng vì lòng kính trọng Như Lai, cho nên ô-đà-di chấm dứt việc ăn sau giữa trưa.
Một thời gian sau, Ô-đà-di chứng nghiệm được Thánh quả, thấy được sự nguy hiểm của việc không thục hành Học giới và thấy được lợi ích của việc giữ gìn Học giới. Lòng tràn ngập pháp lạc, Ô-đà-dỉ không ngăn được cảm xúc đã nói lên lời tán thán: ‘Đức Thế Tôn làm lợi ích rất nhiều cho chúng ta. Đức Thiện Thệ mang lại sự an ổn rất nhiều cho chúng ta. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta các pháp khổ, làm tăng thêm pháp lợi ích an lạc cho chúng. Đức Thế Tôn trừ cho chúng ta vô lượng pháp ác, pháp bất thiện, làm tăng thêm vô lượng pháp thiện và vi diệu cho chúng ta’.
Rồi ô-đà-di nêu lên những lý do khiến các Tỳ-kheo không từ bỏ được thói quen ăn tối:

- Các gia chủ thường có thời gian chuẩn bị thức ăn ngon vào buổi tối và buổi sáng, vì buổi trưa phần nhiều bận việc, mà Tỳ-kheo thì đi khất thực bữa trưa nên ít có đồ ăn ngon.
- Khi chưa xuất gia, các Tỳ-kheo đã quen với đời sống ở gia đình ăn ngày nhiều bữa.
Nhưng đi khất thực phi thời lại gặp nhiều nguy hiểm:
- Đi vào đường hiểm, hầm hố, cọp, beo... và cả những con đường có dâm nữ.
- Làm người ta sợ.
Đức Thế Tôn cho biết, có những Tỳ-kheo không những không vừa ý, không nhẫn thọ đối với Thế Tôn, khi Ngài chế định Học giới,

mà còn không vừa ý, không nhẫn thọ đối với các Tỳ-kheo khéo giữ gìn Học giới. Nguyên do là vì bị trói buộc rất cứng, rất chặt vào các thói quen hưởng thụ dục lạc.
Đức Phật dạy thêm:
- Những ai suy niệm tương ưng với dục, bị ái lạc ràng buộc, dù là ái lạc Niết-bàn, ham thích nó, không đoạn, không trụ, không nhả bỏ... thì không được giải thoát, vì kết sử bất thiện.
- Những ai nơi gốc rễ của khổ mà an trụ không sanh tử, ở nơi vô thượng ái tận mà tâm khéo giải thoát... thì người đó được giải thoát, vì kết sử đã chấm dứt.
- Ngũ dục là gai nhọn, là mụt nhọt... không nên tập hành, không nên phát triển.
- Lạc vô dục, lạc viễn ly, lạc tịch tĩnh, ỉạc Chánh giác, không thuộc vật dục, không thuộc sanh tử, nên tu, nên tập hành, nên phát triển.
- Tỳ-kheo nên tu tập ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đắc Sơ thiền cho đến đoạn tận lậu hoặc, thấy Bốn sự thật, thành tựu Phạm hạnh.
- Muốn thành tựu những pháp trên cần phải bắt đầu từ sự thực hành các Học giới, hãy từ bỏ những điều mà Đức Phật khuyên từ bỏ, như không ăn quá ngọ.
193. Kinh Mâu-lê-phá-quần-na 313
Liên hệ Tỳ-kheo-ni
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc.
________________
313 Tương đương Pāli: M. 21. KakacūpamaSutta.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thường tụ tập với các Tỳ-kheo-ni, nếu có ai nói điều không tốt về Tỳ-kheo-ni thì ông sân hận, cãi vã; các Tỳ-kheo-ni cũng vậy, nếu có ai nói điều không tốt về Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na thì quý cô cũng sân hận, đến cãi vã. Phật do nhân duyên này mà gọi Tỳ-kheo Mâu-lê-phá-quần-na đến và dạy:
- Người chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình mà học đạo thì nếu có dục, có niệm nào y cứ trên thế tục, hãy đoạn trừ.
- Tỳ-kheo hãy học pháp nhất tọa thực, tức ăn ngày một bữa, như sẽ nói ở kinh dưới đây.
- Những Tỳ-kheo nói lời thiện ngữ, cung thuận chỉ vì những nhu dụng sanh sống thì Đức Phật không công nhận đó là lời ái ngữ.
- Những Tỳ-kheo nào vì viễn ly, y trên viễn ly, sống nơi viễn ly mà thiện ngữ, cung thuận thì Đức Phật mới công nhận đó là lời ái ngũ’.
- Các Tỳ-kheo phải khéo thủ hộ trước năm con đường của ngôn ngữ: nói đúng thời hay không đúng thời, nói chân thật hay không chân thật, nói dịu dàng hay cứng nhắc, nói từ hòa hay sân nhuế, nói có nghĩa hay không có nghĩa. Đối với năm con đường của ngôn ngừ này, các Tỳ-kheo phải tu tập Tứ vô lượng tâm, học hạnh như đất, học hạnh như nước, học hạnh như hư không... để tâm không biến đổi, tâm từ mẫn, tâm như đất, như nước, như hư không, không kết, không oán, không nhuế, không tranh...
- Tỳ-kheo tu tập, cho dù bị người khác đánh đập, đâm chém, cưa cắt thân... cũng đừng nên khởi tâm biến đổi, miệng đùng phát ra lời thô ác, mà hãy hướng đến những hại mình khởi tâm từ mẫn...
194. Kinh Bạt-đà-hòa-lợỉ[314]
Ngày ăn một bừa
 

314Tương ưng Pãli: M. 65. Bhoddãli Sutta.
 
Đức Phật an cư tại nước Xá-vệ, rừng Thắng lâm, vườn cấp- cô-độc.
Bấy giờ Thế Tôn thiết lập giới nhất tọa thực, tức ăn ngày một bữa ngọ và chỉ ngồi ăn một lần, nếu có duyên sự gì phải đứng dậy nửa chừng thì không ngồi ăn trở lại. Chúng Tỳ-kheo thảy đều vâng giữ học giới và các pháp vi diệu trong cảnh giới của Thế Tôn, chỉ trừ Tỳ-kheo Bạt-đà-hòa-lợi tuyên bố là không thể kham nổi, rời chỗ đứng dậy và bỏ đi.
Sau ba tháng an cư, Tỳ-kheo Bạt-đà-hòa-lợi nhận thấy lỗi lầm, đến truớc Thế Tôn phát lồ sám hối. Đức Phật nhận sự sám hối của Bạt-đà-hòa-lợi và dạy thêm rằng:

- Nếu Tỳ-kheo nào không học giới cụ túc, chê bai học giới của Thế Tôn... thì vị ấy sống trong rừng vắng, độc cư, thiền tọa... cũng không thể chứng đắc được pháp tăng thượng tâm.
- Nhưng nếu Tỳ-kheo nào học đầy đủ giới cụ túc, sống trong rừng vắng, độc cư, thiền tọa... thì sẽ chửng đắc pháp tăng thượng tâm, cho đến lậu tận, chứng quả giải thoát, thăng tiến Niết-bàn.Nhân đây, Tỳ-kheo Bạt-đà-hòa-lợi hỏi Đức Thế Tôn vì sao ngày xưa ít có thiết lập học giới nhưng được nhiều Tỳ-kheo vâng lĩnh phụng trì? Ngày nay thiết lập nhiều học giới nhưng ít có Tỳ- kheo vâng lãnh phụng trì?
Đức Thế Tôn đáp rằng:

- Khi Tăng chúng chưa hưng thịnh, pháp hỷ hảo chưa phát sanh, khi ấy không cần thiết lập nhiều học giới, nhưng Tỳ-kheo vâng lĩnh phụng trì.
- Khi Tăng chúng hưng thịnh, có thịnh lợi, có danh dự, có bậc kỳ túc được kính trọng, có học vấn cao thì pháp hữu lậu phát sanh trong Tăng chúng.
- Vì để đoạn trừ hữu lậu trong đời sau, Đức Thế Tôn thiết lập

học giới cho các đệ tử, cũng như để huấn luyện một con người thuần, cần phải sừa trị nhiều lần.
195. Kinh A-thẩp-bối[315]
Phân biệt hạnh phúc
Phật trú tại nước Ca-thi.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn đã thiết lập học giới một ngày chỉ ăn một lần và một lần là xong, nhưng có hai Tỳ-kheo ờ Ca-la-nại là A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu[316] ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối. Các Tỳ-kheo khác đến khuyên hai Tỳ-kheo này nên phụng hành học giới mà Đức Phật đã thiết lập thì hai Tỳ-kheo này trả lời: ‘Chúng tôi ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, ăn tối, xong rồi vô vi, vô cầu, không có đau bệnh, thân thể nhẹ nhàng, khí lực dồi dào, an ổn khoái lạc. Vậy, vì lý do gì chúng tôi phải bỏ hiện tại đế phải chờ đợi cái mai sau?’.
Nhân sự kiện này, Đức Thế Tôn cho gọi hai Tỳ-kheo A-thấp-bối và Phất-na-bà-tu đến quở trách rồi dạy:
- Có cảm thọ lạc khiến pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm: Hãy đoạn trừ.
- Có cảm thọ lạc khiến pháp ác bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng: Hãy tu tập.
- Có cảm thọ khổ khiến ác pháp bất thiện tăng trưởng, pháp thiện tổn giảm: Hãy đoạn trừ.
- Có cảm thọ khổ khiến pháp ác bất thiện tổn giảm, pháp thiện tăng trưởng: Hãy tu tập.
- Nếu thân lạc, tâm lạc mà pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện lại giảm: Không nên tu.
 

[315] Tương đương Pāli: M. 70. Kīṭāgiri Sutta.
316 Xem Tứ phần luật, quyển 5, hai Tỳ-kheo này vi phạm giới luật bị yết ma tẩn xuất.
 
- Nếu thân lạc, tâm lạc mà pháp ác bất thiện giảm, pháp thiện tăng trưởng: Hãy nên tu.
- Nếu thân khổ, tâm khổ mà pháp ác bất thiện tăng trưởng, pháp thiện giảm: Không nên tu.
- Nếu thân khổ, tâm khổ mà pháp ác bất thiện giảm, pháp thiện tăng trưởng: Hãy nên tu.
- Đối với những người đạt được bát giải thoát thì không cần học pháp không phóng dật, bởi những vị ấy vốn đã không phóng dật từ trước khi chúng quả.
- Các Tỳ-kheo đều phải tuần tự học tập và thực hành, nhận lãnh giáo huấn, chịu khiến trách, sau đó mới có thể được cứu cánh trí.
- Đệ tử xứng đáng của Thế Tôn thì đối với cảnh giới của Thế Tôn có nhiều điều phải làm và thế nhập trong cảnh giới của Thế Tôn.
196. Kinh Châu-na317
Một ngày kia Như Lai khuất bóng...
Một thời Phật trú tại nước Bạt-kì, thôn Xá-di.
Châu-na là em ruột của Tôn giả Sãriputta, đắc quả A-na-hàm trong lúc là Sa-di.
Bấy giờ Sa-di Châu-na an cư ở Ba-hòa. Tại xứ Ba-hòa có một Ni-kiền tên Thân Tử vừa qua đời không bao lâu thì các đệ tử của ông ta chia rẽ, phá hoại, tranh đấu, kiện tụng nhau.
Kết thúc mùa an cư, Sa-di Châu-na đến thôn Xá-di, rừng Thi- nhiếp-hòa đảnh lễ Tôn giả A-nan và kể lại sự kiện xảy ra ở xứ Ba- hòa. Theo như lời Tôn giả A-nan trần thuật thì, sau khi nghe câu chuyện đó, Tôn giả ‘kinh sợ hãi hùng’ vì nghĩ đến một ngày kia Như Lai khuất bóng.
________________
317 Tương đương Pãli: M. 104. Sãmagãma Sutta
Tôn giả A-nan đề nghị đem nhân duyên này trình bày lên Đức Thế Tôn với hy vọng nhân đó mà nghe được pháp thoại.
Thế Tôn hỏi Tôn giả A-nan do đâu có tranh chấp? Tôn giả đáp: Do sự khác biệt về giới, định, tuệ. Thế Tôn cho rằng nếu do giới, định, tuệ mà có sự tranh chấp thì tránh sự ấy quá nhỏ nhặt. Tránh sự trong chúng Tăng do các vấn đề liên hệ Thánh đạo và sự tu tập Thánh đạo mới là nguy hiểm bởi nó không giúp gì cho ai mà chỉ gây khổ đau cho mọi người.
Rồi Thế Tôn dạy 6 gốc rễ của tránh sự, 7 phương pháp dập trừ tránh sự và 6 pháp ủy lạo.
- 6 gốc rễ của tránh sự: 1. Phẫn hận; 2. Phú não; 3. Tật san; 4. Cuống siểm; 5. Vô tàm vô quý; 6. Ác dục tà kiến. 
- 7 pháp đình chỉ tranh sự: 1. Hiện tiền tì-ni; 2. ức niệm tì-ni; 3. Bất si tì-ni; 4. Tự ngôn tì-ni; 5. Đa nhân ngữ; 6. Tội xứ sở; 7. Như thảo phú địa.
- 6 pháp ủy lạo: tức sáu pháp lục hòa: thân hòa, khẩu hòa, ý hòa, lợi hòa, giới hòa, kiến hòa.
Ghi nhớ: Sự tranh chấp không giúp gì cho ai mà chỉ gây khổ đau cho mọi người. Nó không phải là sự thiện lợi và hữu ích, không phải sự an ổn và khoái lạc, cho đến loài trời và người loài người cũng phải chỉ đau khổ và tai hoạn.
197. Kinh ưu-ba-ly 318
Yết -ma đúng pháp
Phật trú tại Chiêm-ba, nơi bờ ao Hằng-già.
Tôn giả Ưu-ba-ly hỏi Đức Thể Tôn về các trường hợp giới luật, tác pháp yết-ma.
_________________
318 Tương đương Pãli: Vinaya, Mah. IX. 6.(1-8).
Chúng Tăng hòa hợp, tác pháp yết-ma một đường mà thuyết yết-ma một nẻo, như trong trường hợp cần áp dụng luật ức niệm mà lại áp dụng luật căn bản trị, cần do căn bản trị mà lại áp dụng luật ức niệm... thì yết-ma đó không đúng Pháp, không đúng Luật, và chúng Tăng tiến hành yết-ma đó cũng có tội.
Do đó, chúng Tăng phải nên học tùy theo loại yết-ma nào mà thuyết yết-ma đó. cần áp dụng luật diện tiền liền áp dụng luật diện tiền, cần áp dụng luật ức niệm liền áp dụng luật ức niệm...
198. Kinh Điều Ngự Địa319
Kẻ phàm phu không thê hiêu được
Phật trú tại thành Vương-xá, ở tại Trúc lâm, trong vườn Ca- lan-đà.
Sa-di A-di-na-hòa-đề, mới xuất gia học đạo chưa bao lâu, cũng ở tại thành Vương-xá, tại một am cốc thiền, trong khu rùng vắng.
Bấy giờ, Vương tử Kì-bà-tiên-na đến thăm Sa-di và hỏi ‘phải chăng thật sự Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật này không phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm?’.
Sa-di A-di-na-hòa-đề y theo nhũng điều đã nghe, đã tụng tập nói cho Vương tử nghe đúng thật nếu một ‘Tỳ-kheo ở trong Pháp Luật của Thế Tôn không phóng dật, tu hành tinh cần, sẽ đạt đến nhất tâm’, nhưng Kì-bà-tiên-na không tin có trường hợp này và đứng dậy bỏ đi.
Sa-di A-di-na-hòa-đề đem sự việc trình lên Thế Tôn và được Ngài dạy:
Một người sống trong dục vọng, bị dục vọng-đốt cháy, bị dục ái nhai nuốt... không thể hiểu, không thể thấy, không thể tin được những điều mà bậc vô dục, bậc đoạn trừ dục, đoạn trừ ái đã chứng
__________________
319 Tương đương Pāli: M. 125. Dơntabhūmi Sutta.
được. Cũng như một người đứng dưới chân núi không thể thấy được những gì bên kia ngọn núi.
- Khi Bậc Như Lai xuất hiện thế gian, dẫn những người chí tín xuất gia ra khỏi thế tục, bắt đầu điều ngự Tỳ-kheo ấy cho đến khi thành tựu giải thoát, cũng như người huấn luyện voi rừng thành voi thiện nghệ.
- Khi Thánh đệ tử vâng theo Như Lai mà có thể kham nhẫn, vị ấy lúc bấy giờ được gọi là điều ngự, thiện điều ngự, đương thượng điều ngự, tối thượng điều ngự, thượng tịch tịnh, tối thượng tịch tịnh, trừ bỏ các tà vạy, sợ hãi, ngu si và siểm nịnh, thanh tịnh lắng đọng các trần lao, không cấu nhiễm, không ô uế, xứng đáng tán thán, đáng thỉnh, đáng kính, đáng trọng, thật sự xúng đáng cúng dường, là ruộng phước cho hết thảy chư thiên và nhân loại.
199. Kinh Si Huệ Địa 320
Dấu hiệu nhận biết người ngu
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Kinh gồm có hai phần:
Phần thứ nhất nói về pháp ngu si: ba dấu hiệu nhận biết người ngu và quả báo của sự ngu si.
1. Dấu hiệu nhận biết người ngu si: Nói điều ác, làm điều ác, suy nghĩ điều ác: sát sanh, trộm cắp, tà dâm cho đến tà kiến.
2. Quả báo của sự ngu si:
- Người đời chê cười.
- Luật pháp trừng trị.
- Bệnh tật đớn đau, chết không nhẹ nhàng.
___________________
320Tương đương Pāli: M. 129. BaplāṇḍitaSutta.
- Đọa vào địa ngục. Hết kiếp địa ngục đọa vào súc sanh. Nỗi khổ không sao nói hết! Hết kiếp súc sanh, sanh lên làm người bần cùng, hạ tiện, xấu xí, rồi lại đọa địa ngục.
Phần thứ hai nói pháp trí tuệ: ba dấu hiệu nhận biết người trí và quả báo của trí tuệ.
1. Ba dấu hiệu nhận biết người trí tuệ: Suy nghĩ thiện, nói lời thiện, làm việc thiện: không trộm cắp cho đến không tả kiến.
2. Quả báo của trí tuệ:
- Người đời tán thán.
- Thân tâm cảm thọ lạc vì không lo sợ luật pháp trừng trị.
- Khi bệnh, không sanh tâm hối hận, thân tâm thơ thới, người ấy chết nhẹ nhàng, mạng chung an lành.
- Sanh vào chỗ lành, sanh lên cõi trời.
200. Kinh A-lê-tra 321
Hiểu sai Phật pháp
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Tỳ-kheo A-lê-tra khởi lên ác tri kiến, cho rằng ‘hành dục không bị chướng ngại’.
Đức Phật quở trách Tỳ-kheo A-lê-tra và nói bản kinh này với nhiều ví dụ sanh động, sâu sắc.
- Dục như khúc xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc, như hầm lửa, như rắn độc, như mộng, như đồ vay mượn, như trái cây. Dục là pháp chướng ngại, cần phải đoạn trừ.
- Ví dụ người bắt rắn:
_______________
321 Tương đương Pãli: M. 22. Alagaddūpama Sutta.
Người học Phật pháp phải vì mục đích giải thoát mà học để ghi nhớ và hiểu biết chính xác lời Phật dạy, như người bắt rắn thiện nghệ, lấy gậy đè lên đầu rắn mà bắt. Còn những ai học Phật pháp vì mục đích tranh luận, ghi nhớ và hiểu nghĩa một cách điên đảo những lời Phật dạy thì chỉ chuốc lấy cực khổ, luống công, tự gây phiền nhọc, như người bắt rắn không có phương pháp bị rắn quay lại cắn.
- Ví dụ chiếc bè:
Chiếc bè là để qua sông, mặc dù nó đã đưa ta đến bờ yên ổn, nó cho ta nhiều thiện lợi, nhưng không vì thế mà khi qua đến bờ kia ta lại đội nó trên đầu mà đi. Cũng vậy, người học Phật pháp là để đạt được mục đích giải thoát, là để xả bỏ chứ không phải để chấp thủ. Chánh pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp.
Tiếp theo, Phật dạy quán sáu xứ, năm uấn là vô ngã, vô ngã sở.
- Sợ hãi phát sanh từ sự chấp ngã, ngã sở bên trong hoặc bên ngoài, đến khi những thứ được cho là ta, của ta ấy biến dịch, vô thường thì sanh ra sợ hãi, lo buồn.
- Vô thủ trước là tuệ quán đưa tới đoạn tận mọi khổ đau, chứng nhập Niết-bàn.
201. Kinh Trà-đế322
Không ra ngoài duyên khởi
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Tỳ-kheo Trà-đế Kê-hòa-đa tử nhận thức sai lạc về giáo lý Duyên khởi, cho rằng ‘Thức này luân chuyển và tái sanh, nhưng không đổi khác’. Các Tỳ-kheo đồng phạm hạnh đã khuyên Tỳ-kheo Trà-đế từ bỏ nhận thức ấy đi, nhưng Trà-đế vẫn cố chấp ác kiến của mình. Sự việc được trình bày lên Đức Thế Tôn, bản kinh này được thuyết:
_______________________
322 Tương đương Pāli: M. 38. Mahā-Taṇhā Sankhaya Sutta.
- Thức do duyên mà sanh, cũng do duyên mà diệt. Thức tùy theo những gì nó duyên vào để sanh khởi mà gọi tên theo duyên ấy. Chẳng hạn, mắt duyên sắc sanh thức, thức sanh khởi ấy được gọi là nhãn thức. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng như vậy.
- Tất cả các pháp hữu vi đều là pháp hủy diệt. Đây là tri kiến thanh tịnh, dẫn đến sự không chấp trước, không tiếc nuối, dẫn đến yểm ly, vô dục và chứng đắc tuệ giải thoát thấy biết như thật.
- Bốn loại thức ăn đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực lấy ái làm nhân, do ái mà tập khởi. Ái lấy thọ làm nhân, do thọ mà tập khởi. Và như vậy là cả 12 nhân duyên cùng vận hành, toàn vẹn khổ đau phát sanh.
- 12 duyên khởi diệt thì toàn vẹn khối lớn đau khổ cũng diệt.
- Do thấy biết như thật về 12 duyên khởi nên không còn ý nghĩ ‘ta có trong quá khứ hay ta không có trong quá khứ? Ta có trong quá khứ như thế nào? Do nhân gì mà có trong thời quá khứ?’... Đại loại những câu hỏi như vậy đối với tương lai, với hiện tại, với hoài nghi và sợ hãi đều bị tiêu diệt.
- Cũng từ sự thấy biết như thật về 12 duyên khởi mà người ấy không còn phạm tội cực ác, không xả giới bỏ đạo, cũng không tìm cầu sự che chở gia hộ ở nơi nào khác.
- Đoạn cuối, Thế Tôn nói có ba sự kiện hội họp để thác vào thai mẹ: Cha mẹ giao họp, người mẹ trong thời kỳ có thể mang thai và hương ấm đến. Từ đó, sự sống mới hình thành và đầy đủ tương tục bị trói buộc bởi ái.
- Nếu mắt thấy sắc nhưng đối với sắc đẹp không hoan lạc chấp trước, đối với sắc xấu không ghét bỏ, lập niệm tại thân với một tâm vô lượng, biết như thật là tâm giải thoát, tuệ giải thoát, các pháp ác bất thiện đã sanh bị tận diệt vô dư, bị hủy hoại không dư tàn. Tai, mũi, lưỡi, thân và ý cũng vậy. Đó là đoạn tận ái, cũng là đoạn tận 12 duyên khởi, chấm dứt dòng tương tục của khổ đau sanh tử luân hồi.
 
r. Phẩm Bô-lợi-đa
Gồm 10 kinh, nói về pháp tu Bát quan trai, niệm Phật, những phiền não và phương pháp diệt trừ phiền não, pháp giải thoát, nhập Niết-bàn và còn cho biết hai loại tìm cầu, Thánh cầu và phi Thánh cầu.
202. Kinh Trì Trai323
Giữ giới đúng pháp
Phật trú tại nước Xá-vệ, trụ trong Đông viên, Lộc tử mẫu giảng đường.
Bấy giờ, nhân sự việc nữ cư sĩ Tì-xá-khứ trì trai, Đức Thế Tôn dạy về ba loại trai giới.
1. Trai giới của mục đồng: Mục đồng chăn trâu, luôn luôn nghĩ đến việc hôm nay cho trâu ăn chỗ này, ngày mai chồ kia, ngày mốt chỗ nọ. Người thọ trai giới mà luôn nghĩ đến việc phải làm thức ăn, hôm nay ăn món này, ngày mai ăn món kia... Neu trì trai kiếu này thì không thu hoạch được lợi ích lớn, không có quả báo lớn, không có công đức lớn, không được phát triển.
2. Trì trai của Ni-kiền: Ngoại đạo Ni-kiền thiết chế và thọ trì những giới luật cực đoan, như không mặc quần áo; và tuyên bố một đàng làm một nẻo, như ngày hôm trước nói không gì là sở hữu của mình, nhưng ngày hôm sau tự ý thọ dụng những vật ấy, tức là lấy cùa không cho. Trì trai kiểu này thì không thu hoạch được lợi ích lớn, không có quả báo lớn, không có công đức lớn, không được phát triển.
3. Thánh trai tám chi: Tức một ngày một đêní giữ gìn tám giới thanh tịnh (Bát quan trai giới). Trong quá trình trì trai giữ giới, người Phật tử thực hành năm pháp: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
___________________
323 Tương đương Pãli: A. VIII. 43. Visãkhã Sutta.
niệm Thí và niệm Thiên. Nhờ niệm tưởng như vậy mà ác tham nếu có liền bị tiêu diệt, nhưng pháp tạp uế, ác bất thiện, nếu có cũng bị tiêu diệt. Đây Thánh trai vi diệu, có đại lợi, đại quả, đại công đức, có an lạc gấp trăm ngàn làn an lạc của nhân vương.
203. Kinh Bô-lợl-đa [324]
Đoạn tuyệt tục sự
Phật trú tại Na-nan-đại, trong khu rừng xoài của Ba-hòa-lị.
Bô-lợi-đa sau khi đem tất cả những tài sản trong nhà cho con cái hết rồi mặc áo cư sĩ (áo trắng) thong dong đi khắp nơi và tuyên bố là người đã lánh tục, đoạn tục, xả các tục sự. Lần hồi ông đi đến chỗ Đức Phật. Đức Phật gọi ông là cư sĩ và chỉ chỗ cho ngồi, nhưng ông tự nhận mình không còn là cư sĩ nữa, tại sao Thế Tôn lại gọi ông là cư sĩ? Nhân đó, Đức Phật dạy việc ông đang làm không phải là lánh tục, đoạn tục, xả các tục sự; đoạn tuyệt tục sự trong Thánh pháp luật phải thực hành tám chi:
1. Xa lìa sát sanh; 2. Đoạn trừ sự lấy của không cho; 3. Đoạn trừ tà dâm; 4. Đoạn trừ nói láo; 5. Đoạn trừ tham trước; 6. Đoạn trừ nhuế hại; 7. Đoạn trừ đố kỵ thù nghịch; 8. Đoạn trừ tăng thượng mạn.
Ngoài ra, còn có pháp quán chiếu dục vọng như bộ xương khô, như miếng thịt, như bó đuốc đang cháy, như hầm lửa, như rắn độc, như nằm mộng, như trái cây, vui ít khổ nhiều, đau khổ càng nhiều hơn. Quán chiếu như vậy rồi thì xả ly dục, ly ác pháp bất thiện, tất cả mọi vật dục thế gian vĩnh viễn đoạn tận không dư tàn. Đó là phương pháp đoạn tuyệt tục sự đạt đến giác ngộ.
204. Kinh La-ma 325                                               
Cuộc đời Đức Phật
 

324Tương đương Pãli: M. 54. Potaliya Sutta.
325 Tương đương Păli: M. 26. Ariyapariyesana Sutto.
 
Bản kinh có sức manh mãnh liệt tác động đến đời sống của người xuất gia, bởi đây chính là một phần lịch sử của Đức Thế Tôn do chính Ngài thuật lại mà chủ đích của nó là định hướng đi cho những ai tìm cầu con đường giác ngộ giải thoát được mệnh danh là Thánh cầu.
Kinh có mấy đại ý:
1. Người xuất gia có hai việc cần làm, đó là im lặng như Chánh pháp, tức thực hành thiền định, và nói năng như Chánh pháp, tức chỉ nói những gì đưa đến mục đích giải thoát.
2. Có hai sự tìm cầu mà người xuất gia phải luôn luôn giác tỉnh đế nhận biết mình đang đi về hướng nào: Thánh cầu và phi Thánh cầu.
- Thánh cầu: Nhận thức rõ ràng vì bị sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ não, tạp uế... mà tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn Niết-bàn, cho nên phải nỗ lực đoạn trừ những pháp lệ thuộc sự già, chết... đó là con cái, anh em, nhà cửa, chùa chiền, tài sản...
- Phi Thánh cầu: Bị lệ thuộc vào sanh, già, bệnh, chết... mà tìm lại tìm những pháp lệ thuộc vào sanh, già, bệnh, chết... đó là tiền tài, danh lợi, ngũ dục...
3. Đoạn tự sự, kể lại quá trình xuất gia học đạo của Đức Thế Tôn, từ khi lìa bỏ gia đình, đắp áo cà-sa, tìm thầy học đạo, cho đến chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thuyết pháp độ năm anh em Tôn giả Kiều-trần-như.
205. Kinh Ngũ Hạ Phần Kiết326
Phương pháp đoạn ngũ hạ phần kiết
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Năm hạ phần kiết sử, còn gọi là năm kiết sử tùy miên, năm triền cái. Nói là tùy miên bởi chúng nằm phục theo, tiềm phục theo tâm.
______________________
326 Tương đương Pāli: M. 64. (Mahā) Māluṅkya Sutta.
Năm hạ phần kiết sử là: Dục tùy miên, Sân tùy miên, Thân kiến tùy miên, Giới cấm thủ tùy miên, Nghi tùy miên.
Phương pháp đoạn trừ năm hạ phần kiết sử này là phải y trên đạo và đạo tích, tức là y trên pháp Tứ diệu đế.
Đoạn cuối, Đức Phật nói một người muốn đạt đến cứu cánh diệt tận phải có ý chí và nghị lực để đoạn trừ dục vọng, xả ly ác pháp bất thiện...
206. Kinh Tâm Uế327
Tâm ô nhiễm
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni chắc chắn tu tập thối thất, nếu:
- Không nhổ sạch năm thứ tạp uế trong tâm: 1. Hoài nghi; 2. Do dự; 3. Không ngộ nhập; 4. Không quyết đoán; 5. Không tịnh tín đối với Thế Tôn, đối với Chánh pháp, đối với học giới, đối với giáo huấn và đối với những vị đồng phạm hạnh được Thế Tôn khen ngợi.
- Không cởi bỏ năm sự trói buộc trong tâm:
1. Đối với thân không ly dục, không ly nhiễm, không ái, không ly khát, tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không thắng giải trong nỗ lực tinh tấn và không chuyên cần tĩnh tọa.
2. Đối với dục không ly dục, không ly nhiễm, không ái, không ly khát, tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không thắng giải trong nỗ lực tinh tấn và không chuyên cần tĩnh tọa.
3. Đối với Thánh nghĩa mà tâm không thú hướng, không tịnh tín, không an trụ, không thắng giải trong nỗ lực tinh tấn và không chuyên cần tĩnh tọa.
4. Thường tụ hội chung với đạo hay tục, nói loạn, kiêu sa, không học hỏi.
____________________________
327 Tương đương Pâli: M. 16. Cetokhila Sutta.
5. Ít sở đắc mà nửa đường dừng lại, không mong cầu thăng tiến.
Ngược lại, Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni nào khéo nhổ sạch năm thứ tạp uế trong tâm, và khéo cởi mở năm thứ trói buộc trong tâm thì Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni ấy được pháp thanh tịnh.
207. Kinh Tiễn Mao 1[328]
Năm pháp tối thượng
Bấy giờ, Dị học tên Tiễn Mao ở trong rừng Khổng tước cùng với đám đông đệ tử ồn ào nói chuyện phiếm, thấy Thế Tôn đi đến, ông bảo mọi người im lặng đế hy vọng Thế Tôn ghé thăm. Đức Thế Tôn ghé thăm và hỏi nhân duyên gì các ông tụ hội ở đây? Dị học Tiễn Mao cùng đám thuộc hạ ồn ào bàn chuyện phiếm, nhưng khi được Thế Tôn hỏi như thế thì trả lời khác, rằng họ đang bàn luận đến Lục sư ngoại đạo và cả Thế Tôn, nói đến những pháp mà Lục sư ngoại đạo không được đệ tử cung kính và pháp của Thế Tôn được đệ tử kính trọng.
Theo Tiễn Mao, Đức Thế Tôn sở đĩ được các đệ tử cung kính hầu hạ, tôn trọng, cúng dường là vì Thế Tôn có năm pháp: tri túc về y phục, ăn uống đạm bạc, ăn ít, tri túc ngủ nghỉ và ưa thích tĩnh tọa.
Thế Tôn phủ nhận năm pháp đó và nêu năm pháp tối thượng: 1. Giới vô thượng; 2. Vô thượng trí tuệ; 3. Vô thượng tri kiến; 4. Giác ngộ Tứ để; 5. Chứng đắc tam minh.
208. Kinh Tiễn Mao [329]
Những chủ trương sai lam cùa ngoại đạo
Bối cảnh thuyết kinh như kinh 207.          
Trong kinh này, Dị học Tiễn Mao tự cho mình là người có sách
 

[328]   Tương đương Pāli: M. 77.(Mahā) Sakuludāyi-Sutta.
[329]   Tương đương Pāli: M. 79. (CūỊa) Sakulūdāyi Sutta.
 
lự, có tư duy, trụ trong trạng thái sách lự, trụ trong trạng thái tư duy, có trí tuệ, có biện tài, vì ông đã từng nghị luận và hạ gục Lục sư ngoại đạo, nhũng người tự cho có ‘Nhất thiết tri’. Và vì vậy, ông nghĩ, trong số những Tôn sư, chỉ có Thế Tôn là người đủ tầm vóc để cùng nghị luận cùng ông.
Thế nhưng, sau cuộc pháp đàm, Đức Thế Tôn đã cho Dị học Tiễn Mao thấy rằng ông là người có dị kiến, dị nhẫn, dị lạc, dị dục, dị ý, nên không thể thấu triệt ý nghĩa những điều mà Thế Tôn nói.
Thế Tôn lại tiếp tục chỉ cho Dị học Tiễn Mao thấy được sai lầm của mình khi cho rằng ‘Sắc là tối thượng’ và ‘Cảnh giới nhất hướng lạc’.
Cuối cùng, Dị học Tiễn Mao bị khuất phục và có ý định xin xuất gia, nhưng các đệ tử của ông đã cản bước.
209. Kinh Ti-ma-na-tu [330]
Phật trú tại nước Xá-vệ, tong rùng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Tì-ma-na-tu là thầy của Dị học Tiễn Mao, nhân vật trong kinh 208 và 209. Sau khi DỊ học Tiễn Mao bị khuất phục bởi Phật, Tì-ma- na-tu thân hành đến tìm hiểu sự thật.
Vừa mới gặp Phật, Tì-ma-na-tu đã nêu lại lập luận chủ trương của mình, điều mà học trò ông, Tiễn Mao, đã từng nêu lên và tranh luận với Phật, rằng ‘Sắc là tối thượng’.
Sau cuộc tranh luận, Tì-ma-na-tu xa lìa trần cấu, pháp nhãn của các pháp phát sanh. Ông xin xuất gia và trở thành đệ tử của Phật.
210. Kinh Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc[331]
Cả hai vợ chồng đều đắc quả A-na-hàm
 

330 Tương đương Pāli: M. 80. Vekhanassa Sutta.
331 Tương đương Pāli: M. 44. Cūḷa Vedalla Sutta.
 
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong lùng Thắng Lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Xem bản Pãli tương đương, kinh ngắn Phương Quảng, Trung bộ số 44, để được rõ ràng hơn về hai nhân vật trong kinh này.
Theo Trưởng lão Tăng kệ và Trưởng lão Ni kệ, cũng như các bản sớ giải, đây là cuộc đàm luận giữa hai người từng là vợ chồng của nhau. Pháp Lạc Tỳ-kheo-ni, Dhammadinnã bhikkhunĩ, vốn là vợ của Visãkha, người mà ứong bản Hán gọi là cư sĩ Tì-xá-khư. Visãkha nghe Phật thuyết pháp thì có ý định xuất gia, nhưng chưa kịp xuất gia thì vợ ông, Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc đã xuất gia và chứng quả trước. Hay tin Pháp Lạc đã chúng quả, ông đến hỏi Phật pháp để trắc nghiệm sự chứng nghiệm của bà, vì bản thân ông cũng đã đắc quả A-na-hàm.
Nội dung bản kinh có nhiều định nghĩa căn bản về giáo lý, như Năm uẩn, Bát Chánh đạo, sự khác biệt giữa một người chết và người nhập định...
Đức Phật ấn chứng cho những trả lời của Tỳ-kheo-ni Pháp Lạc là đúng Chánh pháp.
211. Kinh Đại Câu-hy-la332
Những giáo lý căn bản
Phật trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Ca-lan-đa.
Bản kinh ghi lại cuộc pháp đàm giữa Tôn giả Xá-lợi-phất và Tôn giả Đại Câu-hy-la. Trong bản kinh xuất hiện nhiều định nghĩa căn bản về giáo lý cần ghi nhớ:
- Bất thiện: Thân hành ác, khẩu hành ác, ý hành ác.
- Bất thiện căn: Tham, sân, si.
- Thiện: Thân, khẩu, ý diệu hành. Thiện căh: Không tham, không sân, không si.
____________________
332 Tương đương Pãli: M. 43. (Mahã) Vedalla Sutta.
- Trí tuệ: Thấy rõ Tứ diệu đế.
- Những gì được biết bởi trí tuệ cũng được biết bởi thức. Nhưng Tôn giả Đại Câu-hy-la biết bởi trí tuệ chứ không phải biết bởi thức. Bởi cái biết của trí có công năng đưa đến sự vô dục, yếm ly, còn cái biết của thức thì đắm nhiễm.
- Thấy rõ Tứ diệu đế là chánh kiến. Chánh kiến này có thể học mà cũng có thể tự chửng đắc từ nội tâm tư duy.
- Có năm chi thâu nhiếp chánh kiến để đạt được tâm giải thoát quả, tuệ giải thoát quả, đạt được tâm giải thoát công đức, tuệ giải thoát công đức: chân đế, giới, bác văn, chi, quán.
- Vô minh là cái nhân dẫn đến tái sanh đời sau.
Và còn nhiều vấn đề khác.
s. Phẩm Lệ
Gồm 11 kinh, đề cập đến các vấn đề Tỳ-kheo muốn tổng tri, biệt tri vô minh và đoạn trừ vô minh, thì phải tu tập những pháp căn bản như 37 bồ-đề phần, 10 biến xứ, 10 pháp vô học. Những kinh khác cho biết quan điểm của Đức Phật về vấn đề siêu hình.
212. Kinh Nhất Thiết Trí333
Nhất thiết trí không có nghĩa là ngay một lúc mà biết tất cả.
Bản kinh ghi lại cuộc đàm đạo giữa vua Ba-tư-nặc với Đức Thế Tôn.
Vua hỏi, có phải Đức Thế Tôn đã từng nói: “Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và hiện tại cũng không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào là bậc nhất thiết trí, nhất thiết kiến?”.
___________________
333 Tương đương Pāli: M. 90. Kaṇṇakatthala Surra.
Đức Phật trả lời Ngài không nói như vậy, mà Ngài nói rằng: “Trong quá khứ không có, trong tương lai không có, và hiện tại không có, không có Sa-môn, Bà-la-môn nào trong một lúc mà biết tất cả, trong một lúc mà thấy tất cả’.
Phần tiếp theo là những câu trả lời của Đức Thế Tôn liên quan đến các vấn đề xã hội và tín ngưỡng tôn giáo, ở đây, chúng ta nhận ra rằng, khi Đức Phật thuyết pháp, tùy theo đối tượng mà Ngài thuyết giảng sao cho phù hợp với trình độ, quan niệm tín ngưỡng và chuẩn mực đạo đức, trật tự xã hội... mà không thể nói khác đi được. Chẳng hạn, đối với Chánh pháp luật của Đức Thế Tôn thì không có sự phân biệt giai cấp, nhưng đế trả lời cho vua Ba-tư-nặc, bậc quân vương đang cai trị thiên hạ, giữ gìn trật tự xã hội, Ngài cũng phải thừa nhận có sự phân biệt trong bốn giai cấp. Tuy nhiên, bằng trí tuệ thiện xảo, Đức Phật cho biết bốn giai cấp không phải tồn tại mãi mãi đời này qua đời khác như các tôn giáo bấy giờ chủ trương, mà nó sẽ sai biệt tùy vào hành nghiệp của mỗi người.
Đức Phật cũng thừa nhận có Phạm thiên, nhưng là Phạm thiên thanh tịnh, chứ không phải Phạm thiên là Thượng đế trong quan niệm của các tôn giáo.
Vua Ba-tư-nặc có thể được xem là người đại diện cho tầng lớp thượng tầng xã hội, cả về tri thức lẫn địa vị. Do đó, những nhận xét của vua Ba-tư-nặc về Đức Phật và Tăng đoàn có giá trị chuẩn mực và thước đo trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ.
213. Kinh Pháp Trang Nghiêm 334
Vua chúa kính phục
Trong một lần đi kinh lý, Ba-tư-nặc đi qua một khu rùng vắng vẻ, thanh tịnh thì nhớ đến Đức Thế Tôn, bởi chính những nơi thanh tịnh, yên tĩnh như thế này Thế Tôn thường tĩnh tọa. Một chi tiết nhỏ
_____________________
334 Tương đương Pãli: M. 89. Dhamma CetiyaSutta.

này cũng đủ cho thấy niềm tịnh tín của vua Ba-tư-nặc đối với Tam bảo biết bao nhiêu!
Rồi vua Ba-tư-nặc đi đến thăm Thế Tôn. Đức Thế Tôn hỏi: ‘Đại vương thấy nơi Ta có những nghĩa lợi nào mà tự hạ mình đảnh lễ dưới chân và cúng dường cung kính như vậy?’.
Vua Ba-tư-nặc đưa ra một loạt những đánh giá, nhận xét, so sánh, suy diễn dựa trên những chứng nghiệm thực tế để rồi đi đến kết luận: ‘Pháp được Như Lai, Vô sở trước, Đẳng chánh giác giảng dạy thật là toàn thiện, chúng đệ tử của Thế Tôn thật khéo thực hành’. Những lý do khiến vua Ba-tư-nặc kính tin Tam bảo đại ý là:
  1. Tăng chúng tu tập thanh tịnh theo pháp lục hòa, không tranh chấp, nói xấu nhau.
  2. Tăng chúng tụ nguyện trọn đời tu tập phạm hạnh.
  3. Tăng chúng sống hân hoan đoan chính, sắc mặt tươi vui, hình thể tịnh khiết, vô vi vô cầu, ly dục, chúng đắc tăng thượng tâm.
  4. Thế Tôn nhiếp phục tất cả những Sa-môn, Bà-la-môn thông minh trí tuệ, bác học.
  5. Vua một nước nhung không có tự do và uy quyền như Thế Tôn.
  6. Những người được vua ban phát ân huệ nhưng vẫn không kính trọng vua bằng kính trọng Phật.
Những nhận xét, đánh giá của vua Ba-tư-nặc được Thế Tôn thừa nhận là Pháp trang nghiêm, bởi nó phản ánh đúng sự thật thực tế của Tam bảo.
214. Kinh Ti-ha-đề335
Quan điểm thiện ác của Phật giáo
Trong một lần đi Phật sự tại Đông viên Lộc mẫu giảng đường,
______________________
335 Tương đương Pāli: M. 88. Bāhitika Sutta.
khi trở về tinh xá Kỳ Viên, Tôn giả A-nan gặp vua Ba-tu-nặc. Bản kinh ghi lại cuộc hội kiến và đàm đạo này.
Đại ý vua Ba-tư-nặc nêu lên những câu hỏi liên quan về thiện, ác. Thiện, ác là vấn đề căn bản đạo đức ở đời. Trong bối cảnh xã hội Ấn Độ bấy giờ có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, do đó, Ba-tư-nặc muốn tìm hiểu quan niệm của Phật giáo.
Câu hỏi:
1. Đức Thế Tôn có làm những việc bị các Sa-môn, Bà-la-môn, những người thông minh trí tuệ và người thế gian chê cười không?
2. Thế nào là bất thiện?
3. Thế nào là thiện?
Câu trả lời:
1. Đức Thế Tôn không bao giờ làm những việc bị các Sa-môn, Bà-la-môn, những người thông minh trí tuệ và người thế gian chê cười. Vì sao? Vì Như Lai đã ly dục và dục đã diệt tận, ly nhuế và nhuế đã diệt tận, ly si và si đã diệt tận.
2. Bất thiện là những việc làm hại mình, hại người, hại cả hai, diệt trí tuệ, hỗ trợ sự ác, không chứng đắc Niết-bàn.
3. Thiện là những việc làm không hại mình, không hại người, không hại cả hai, có giác, có tuệ, không hỗ trợ bởi sự ác, chứng đắc Niết-bàn.
Sau buổi pháp đàm, vua Ba-tư-nặc tỏ lòng tôn kính muốn cúng dường Tôn giả A-nan, nhưng Tôn giả nói ‘đã có đủ ba y rồi’. Đạo đức giải thoát của Tôn giả càng làm cho vua Ba-tư-nặc tịnh tín hơn nữa đối với Tam bảo.
215. Kinh Đệ Nhất Đắc336
________________________
336
Tương đương Pãli: A. X. 29. Kosala.


 
Đức Phật bị chỉ trích chủ trương thuyết hư vô
Đức Thế Tôn dạy, có những cảnh giới mà người đời và các ngoại đạo cho là đệ nhất tối thắng, như:
- Trong một nước, vua là đệ nhất;
- Trong Tiếu thiên thế giới, Đại phạm vương là được coi là đệ nhất;
- Khi thế giới này hủy diệt, chúng sanh sanh lên cõi trời Hoảng dục, bấy giờ cõi trời Hoáng dục được cho là đệ nhất;
- Trong bốn sự tưởng, chúng sanh trong Vô sở hữu xứ được coi là đệ nhất;
- Trong tám thắng xứ, thắng ý nơi lạc thắng xứ được coi là đệ nhất;
- Trong mười biến xứ, biến xứ thức được coi là đệ nhất.
Nhưng rồi tất cả nhũng cái được coi là đệ nhất trên đều lệ thuộc vào biến dịch, lệ thuộc sự thay đổi. Đa văn Thánh đệ tử quán tưởng như vậy ắt sanh ra nhàm tởm sự ấy. Nhàm tởm rồi, đối với cái đệ nhất còn không muốn, huống nữa là cái hạ tiện?
Đoạn cuối, Đức Phật phân tích những thuyết thanh tịnh của ngoại đạo để đi đến kết luận, chỉ có Bát Chánh đạo là con đường đưa đến đoạn khổ một cách nhanh chóng, ngay trong đời hiện tại vĩnh viễn đoạn trừ tất cả khổ mà chứng đắc Niết-bàn tịch tịnh, diệt tận. Kinh ghi: “Thế nào là sự đoạn của Ta được phát triển, được lưu bố cho đến chư thiên và nhân loại cũng tán thán, lưu bố? Đó là Thánh đạo tám chi, Chánh kiến cho đến Chánh định là tám”.
Đức Phật giảng dạy như vậy, nhưng các ngoại đạo lại hủy báng Đức Phật, cho rằng Đức Phật chủ trương thuyết hư vô, vì có chủng sanh được tuyên bố là đã được vô sanh. Đức Phật thừa nhận, quả thật có chúng sanh được tuyên bố là đoạn hoại, tức là đã chúng A-la-hán không còn tái sanh, nếu không, “Ta không thuyết giảng như vậy. Như Lai ngay trong đời hiện tại đã vĩnh viễn đoạn trừ tất cả mà chúng đắc Niết-bàn tịch tịnh, diệt tận”.
216. Kinh Ái Sanh [337]
Luyến ái sanh lo buồn
Bấy giờ có một Bà-la-môn có một đứa con độc nhất, trong lòng hết sức thương yêu, chiều chuộng. Bỗng nhiên đứa con mạng chung. Bà-la-môn vì quá thương con đã phát cuồng đi lang thang khắp nơi, lần hồi đến chỗ Phật.
Phật dạy: ‘Khi ái sanh thì phát sanh những sầu bi, khóc than, ưu khổ, phiền muộn, áo não’.
Bà-la-môn có thể vì quá đau khổ nên không hiện quán được lời Thế Tôn dạy, lại nghĩ rằng: ‘Khi ái sanh thì hỷ cũng sanh, tâm hoan lạc’.
Câu chuyện sau đó truyền đi khắp nước và đến tai vua Ba-tư- nặc. Bấy giờ, có lẽ vua Ba-tư-nặc chưa có niềm tin sâu sắc với Tam bảo nên cũng không đồng ý quan điểm của Thế Tôn, trong khi đó hoàng hậu Mạt-lị thì tin. Cho đến khi sự việc được Đức Thế Tôn chứng minh bằng sự thật thì mọi người mới ngộ ra rằng: ‘Ái sanh ưu sầu, ái sanh khố não’.
Sự thật ‘ái là nguyên nhân của khố’ đã được Đức Phật tuyên thuyết lần đầu tiên tại vườn Nai. Sự thật này không cần đòi hòi người học phải có một trình độ nào cả, mà chỉ bằng vào kinh nghiệm cuộc sống của chính mỗi người, ai cũng có thế giác ngộ, bởi ỉẽ đây là sự thật hiển nhiên. Ai thấy được sự thật này là thấy đạo, thấy con đường đưa đến giải thoát.
217. Kinh Bát Thành [338]
Duy nhất một con đường
Phật nhập Niết-bàn không bao lâu. một số lớn các Tỳ-kheo danh đức, thượng tôn đến thành Ba-lị-tử, trú tại Kê viên.
 

[337] Tương đương Pãli: M. 87. Piyaịớtika Sutta.
[338]Tương đương Pãli: M. 52. AỊỊhakanãgara Sutta.
 
Bấy giờ cư sĩ Đệ Thập, người Bát thành, sau khi làm ăn buôn bán ở thành Ba-lị-tử, đã thu vén đến đảnh lễ tôn đức và đến thành Tì-xá-li thăm Tôn giả A-nan. Bản kinh ghi lại cuộc pháp đàm giữa cư sĩ Đệ Thập với Tôn giả A-nan.
Cư sĩ hỏi: ‘Thế Tôn có dạy một pháp nào mà Thánh đệ tử nếu an trú và đó sẽ đoạn trừ các lậu, tâm giải thoát?’.
Tôn giả A-nan đáp:
- Ly dục, ly bất thiện pháp cho đến chứng đắc Tứ thiền. An trú vào đây mà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh nơi kia mà nhập Niết-bàn.
- Tứ vô lượng tâm.
- Tứ vô tưởng định. Vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trú, vị ấy ở nơi đây mà quán pháp như pháp, an trú vào đây mà dứt sạch các lậu.
Một pháp độc nhất mà sau khi an trú vào đó sẽ đoạn trừ lậu, tâm giải thoát, theo Tôn giả A-nan, bậc đa văn đệ nhất sau bao năm theo Phật làm thị giả, pháp độc nhất đó là con đường thiền định. Nhưng cần phải lưu ý lời dạy của A-nan, là phải vượt qua tất cả để hướng đến Niết-bàn.
218. Kinh A-na-luật-đà 1[339]
Làm sao để chết an lành?
Các Tỳ-kheo hỏi Tôn giả A-na-luật-đà về một vấn đề hết sức thiết yếu của đời người, đó là ‘Làm sao có được cái chết an lành?’.
Để có được cái chết an lành, Tỳ-kheo cần phải:
- Ly dục, ly bất thiện pháp, cho đến chứng đắc Tứ thiền.
 

[339] Không thấy bản Pãli tương đương, nhưng nội dung thì tìm thấy trong nhiêu kinh khác.
 
 - Chứng đắc như ý túc về thiên nhĩ, tha tâm trí, túc mạng trí, sanh tử trí, lậu tận trí, lậu tận, chứng đắc vô lậu, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, ngay trong đời này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu an trụ, biết như thật rằng ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.
213. Kinh A-na-luật-đà 2 [340]
Làm sao để chết nhẹ nhàng?
Bối cảnh thuyết kinh và nội dung câu hỏi tương đương kinh 218. Tỳ-kheo làm thế nào để chết không bứt rứt, mạng chung không bứt rứt?
Tôn giả A-na-luật-đà trả lời:
- Tỳ-kheo ấy phải có tri kiến chất trực và thành tựu Thánh giới.
- Thực tập thiền quán Tứ niệm xứ.
- Thực tập Tứ vô lượng tâm, tâm tương ưng với từ, bi, hỷ, xả biến mãn thập phương.
- Vượt qua tất cả sắc tưởng, cho đến chứng phi tưởng phi phi tưởng xứ, thành tựu an trụ.
- Vượt qua tất cả phi tưởng phi phi tưởng xứ, tưởng thọ diệt thân chứng thành tựu an trụ, và do tuệ quán mà các lậu diệt tận. Và đây là cùng cực, không có cách nào khác để chết không bứt rứt, mạng chung không bứt rứt.
220. Kinh Kiến [341]
Có không còn mắt chang băn khoăn!
Sau khi Thế Tôn nhập Niết-bàn không lâu, Tôn giả A-nan trú tại thành Vương-xá, trong rừng Trúc, vườn Na-lan-đa.
 

340 Không thấy bản Pāli tương đương.
[341] Tương đương Pāli: A. VII. 51. Avyākata.
 
Bấy giờ, một dị học Bà-la-môn có quen biết với Tôn giả A-nan trước đây tìm đến thăm và đặt lại nhũng vấn đề triết học siêu hình mà trước kia Thế Tôn không đề cập đến, là ‘Thế giới hữu thường hay vô thường, hữu biên hay vô biên’ v.v...
Tôn giả A-nan lặp lại quan điểm của Thế Tôn, rằng những vấn đề này gác qua một bên, loại bỏ, không giải thích tường tận làm gì, mặc dù Thế Tôn, Vô sở trước, Đẳng chánh giác thấy biết tường tận.
Được trả lời như vậy, dị học Bà-la-môn xin quy y với Tôn giả A-nan, nhưng Ngài không nhận mà bảo ông hãy tự quy y với Phật.
221. Kinh Tiễn Dụ 342
Quan điêm của Phật giáo về triết học siêu hình
Đây là bản kinh tối quan trọng, bày tỏ quan điểm của Phật giáo đối với các vấn đề triết học siêu hình, một trong những vấn đề các tôn giáo quan tâm và y chỉ trên đó mà hình thành; đồng thời biểu thị mục đích tối hậu của Đức Phật khi xuất hiện giũa thế gian này.
Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng lâm, vườn Cấp-cô-độc.
Bấy giờ, Man Đồng tử bị vướng mắc vào những tri kiến hữu ngã và những vấn đề sau:
1. Thế giới hữu thường hay vô thường;
2. Thế giới hữu biên hay vô biên;
3. Sanh mạng tức là thân hay sanh mạng khác thân khác;
4. Như Lai tồn tại sau khi chết hay Như Lai không tồn tại sau khi chết;
5. Như Lai vừa tồn tại sau khi chét vừa không tồn tại sau khi chết;
6. Như Lai cũng không phải tồn tại sau khi chết, cũng không phải không tồn tại sau khi chết.
___________________
342 Tương đương Pāli: M. 63. (Cūḷa) Māluṅya Sutta.
Thế Tôn đã gác lại, loại bỏ, không giải thích tường tận nhũng vấn đề trên khiến Man Đồng tử không hài lòng và sự kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời đã hết, nay ông thách thức Thế Tôn rằng, ‘nếu Thế Tôn biết thì nói biết, không biết thì nói không biết’.
Thế Tôn hỏi Man Đồng tử ràng, có phải trước đây ông đòi Như Lai xác quyết những vấn đề trên rồi ông mới theo Phật xuất gia học đạo không? Man Đồng tử trả lời không.
Thế Tôn nói: Trước kia Ta không nói với ngươi như vậy, và ngươi cũng không nói với Ta như vậy, tại sao nay lại xuyên tạc Như Lai một cách hư dối?’.
1. Đức Phật nói không với những van đề triết học siêu hình
Dù thế giới hữu thường hay không, v.v... thì vẫn có sanh, có già, có bệnh, có chết, sầu bi, khóc than, ưu khổ, áo não, như vậy toàn vẹn khối lớn khổ đau này phát sanh.
Những vấn đề siêu hình ‘không tương ưng với cứu cánh, không tương ung với pháp, không phải căn bản phạm hạnh, không đưa đến trí, không đưa đến giác, không dẫn đến Niết-bàn’.
Nhũng người theo Thế Tôn xuất gia học đạo không phải vì đê biết các vấn đề siêu hình mà để giải quyết vấn đề sanh tử, nhũng vấn đề khổ đau trước mắt.
Đức Phật nói: “Nếu có người ngu si nghĩ như vầy, ‘Neu Đức Thế Tôn không xác quyết nói cho ta biết rằng ‘Thế giới hữu thường’ thì ta không theo Đức Thế Tôn tu hành phạm hạnh’. Những người ngu si ấy chưa biết được gì thì nửa chừng mạng chung”.
2. Đức Phật chỉ quan tâm đến khổ và con đừờng diệt khổ
Ví nhu một người bị trúng tên độc, nhiệm vụ cấp bách nhất là của người bị trúng tên và thân quyến của anh ta là lấy mũi tên ra và nhanh chóng trị thương chứ không phải đi tìm người bắn tên tên gì, da đen hay da trắng... Cũng vậy. Đức Phật thị hiện giữa cuộc đời
là để chỉ cho chúng sanh thấy những mũi tên độc tham, sân, si, khát ái... đang cắm vào thân thể và tâm thức của chúng sanh. Nhiệm vụ cần kíp nhất của Ngài là phải làm bằng mọi cách để nhổ mũi tên tam độc ra khỏi thân tâm của chúng sanh, để trị thương cho chúng và đưa chúng đến an lạc Niết-bàn.
Cho nên, Phật chỉ nói ‘Đây là Khổ, đây là Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo tích’.
“Vì những lý do gì mà Ta xác quyết nói những điều này? Vì những điều này tương ưng với cứu cánh, tương ưng với pháp, là căn bản phạm hạnh, đua đến trí, đua đến giác, dẫn đến Niết-bàn, cho nên Ta xác quyết nói những điều này”.
222. Kinh Lệ[343]
Toàn bộ giáo pháp của Như Lai
Bản kinh tóm tắt toàn bộ giáo pháp mà Đức Phật giảng dạy trong suốt 49 năm hoang pháp.
Mục đích của giáo pháp là đoạn trừ vô minh. Muốn đoạn trừ vô minh, cần phải:
- Tu Tứ niệm xứ, Tứ chính đoạn, Tứ như ý túc, Tứ thiền, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo, Thập biến xử, Thập vô học.
- Đoạn trừ vô minh phải tu như vậy, mà đoạn trừ hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, già, bệnh, hết, chết... cũng tu như vậy.
“Nếu khi Như Lai xuất thế, Vô sở trước, Đẳng chánh giác, Minh hạnh thành, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhân sư, hiệu là Phật, Thế Tôn; vị ấy đoạn trừ cho đến năm triền cái, những thứ làm tâm ô uế, tuệ yếu kém, tu vô học chánh kiến cho đến tu vô học chánh trí. Đó là nếu muốn đoạn
 

[343] Không thấy Pãli tương đương.
 
trừ già chết nên (Tứ niệm xứ... cho đến) nên tu mười pháp vô học. Cũng vậy, số đoạn, giải thoát, quá độ, bạt tuyệt, diệt, chỉ, tống tri và biệt tri”.
II. Nhận xét:
1. Nhận xét chung
Bản dịch đàu tiên của kinh Trung A-hàm cùng với kinh Tăng nhất A-hàm là của Đàm-ma-nan-đề, còn bản dịch hiện nay do Tăng- già-la-xoa đọc bản Phạn, Tăng-già-đề-bà chuyển dịch Phạn Hán, hai vị này đều là người ở nước Ke Tân, căn cứ địa của Hữu bộ. Ngoài ra, Tăng-già-đề-bà còn dịch Luận A-tv-đàm Bát Kiền-độ (tức Luận Phát Trí), ngài Tăng-già-la-xoa dịch tiếp thành ra bộ mà sau này ngài La-thập dịch lại mang tên Luật Thập Tụng, đều là những tác phẩm trọng yếu của Hữu bộ. Ket cấu của kinh này và bản dịch Tây Tạng Trung A-hàm Hữu bộ mà ngài Chỉ Thiên dẫn dụng trong Câu-xá Luận Sớ Yếu Dụng Luận rất tương tự. Xét từ các phương diện kể trên, kinh này có thể là truyền bản của Hữu bộ. Đọc Trung A-hàm, quả nhiên ta thấy kinh này phản ánh nhiều quan điểm độc đáo, biểu thị rõ nét về đặc trưng tư tương Phật giáo Hữu bộ, xen lẫn một ít giáo nghĩa Kinh lượng bộ.
Trong 4 bộ A-hàm, Trung A-hàm có số lượng kinh tương đối lớn (222 kinh), chứa đựng nhiều giáo lý căn bản, phương pháp hành trì tu tập được giải thích rõ ràng, cặn kẽ, chỉ dẫn cả cách ăn, cách ở... Trung A-hàm dạy cho một Tỳ-kheo biết mình phải làm gì để xứng đáng là một Sa-môn Thích tử, cũng thấy được thế nào là một Sa-môn đáng bị chê trách. Ai chưa biết phải tu tập thế nào, phải ở đâu, làm gì... thì đọc TrungA-hàm khấc tự biết mình phải làm gì. Người Phật tử cũng vậy, cũng thấy mình cần phải sống làm sao cho xứng đáng một cận sự nam, cận sự nữ ưu tú của Tam bảo. Người làm công tác lãnh đạo, quản lý nhà nước mà đọc Trung A-hàm thì cũng biết mình cần phải làm gì cho dân cho nước (phấm Vương tương ưng), v.v...
2. Vài đặc điểm của Trung A-hàm
2.1. Tinh thần hiện chứng thể nghiệm:
Đây là đặc điếm nổi bật của Trung A-hàm, mà cũng là của toàn bộ Phật giáo. Đức Phật là Bậc Đạo sư, là người dẫn đường, và chân lý không phải là thứ đem cho người ta thấy được. Cho nên đối với chân lý tối cao, chúng ta phải tự lực thể nghiệm. Sự tự lực thể nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thoát mà thôi, mà còn đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng. Thế nào gọi là sự hiện chứng? Là nương theo lời Phật chỉ dẫn, ta phải bước từng bước, hiện chứng đến đâu thể nghiệm chân lý đến đó, cho đến khi toàn giác. Kinh Trú Độ Thọ cho chúng ta biết đoạn đường của một người từ khi mới xuất gia đến khi thành tựu Phạm hạnh giải thoát phải trải qua bảy giai đoạn: Xuất gia, thành tựu giới, chứng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, lậu tận giải thoát. Do đó, quá trình tu tập và chứng đạt chân lý là một quá trình tuần tự nhi tiến; và theo Trung A-hàm, chưa có quan điểm đột biến, và dù dưới hình thức nào, cũng không vượt qua phạm vi Tam vô lậu học, Giới - Định - Tuệ.
Kinh Thất xa ghi: “Vì giới thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, vì tâm thanh tịnh nên tri kiến thanh tịnh, vì tri kiến thanh tịnh nên nghi cái thanh tịnh, vì nghi cái thanh tịnh, nên đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh nên đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh nên Thế Tôn thi thiết Vô dư Niết-bàn”. Thật quá rõ ràng! Trong đời sống tu tập, người xuất gia cũng như Phật tử tại gia, không phải cứ xuống tóc, ăn chay là thành Phật liền, mà phải từng bước một hoàn thiện nhân cách và phẩm chất đạo đức của mình, rồi từ đó làm nền tảng cho sự tiến bộ tâm linh đến khi giác ngộ hoàn toàn. Trước hết là giữ giới thanh tịnh. Giới thanh tịnh thì tự khắc tâm thanh tịnh. Đó là sự hiện chứng, cho đến khi hiện chứng Vô dư Niết-bàn. Cho nên, trong ngôi nhà Phật pháp, chúng ta không cần phải mong cầu gì hết, vì pháp tánh vốn vậy: “Nhân trì giới mà
được không hối hận, nhân không hối hận mà được hân hoan, nhân hân hoan mà được hỷ, nhân hỷ mà được chỉ, nhân chỉ mà được lạc, nhân lạc mà được định”. Rồi thì, “Nhân định mà có tri kiến như thật, nhân có tri kiến như thật mà có yếm ly, nhân có yếm ly mà được vô dục, nhân vô dục mà được giải thoát, nhân giải thoát mà có giải thoát tri kiến, biết đúng như thật rằng: ‘Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa’.”
2.2. Nói về Tâm:
Tâm là phần chủ động của mọi hành vi của con người và thế giới. Hễ tâm thiện thì tạo nghiệp thiện, tâm ác thì tạo nghiệp ác. “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ thế gian, tâm phát khởi tự tại, tâm tạo tác tất cả”. “Chính tâm dẫn thể gian đi, chính nó làm nhiễm trước và cũng chính nó khởi tự tại”. Cho nên, người không tu tập, chưa huấn luyện tâm, chưa làm chủ tâm, thì bị tâm sai sử, dẫn dắt. Còn “Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không để tâm dẫn đi, không để tâm nhiễm trước, không để tâm tự tại. Này Tỳ-kheo, đa văn Thánh đệ tử không vâng theo sự tự tại của tâm, mà tâm tùy theo tự tại của đa văn Thánh đệ tử”. Nghĩa là người tu thì làm chủ tâm ý (Kinh Tâm).
Đặc biệt, trong khi tu tập, điều quan trọng nhất là sự hướng tâm. Vì cùng một pháp tu nhưng kết quả tu tập lại phụ thuộc vào chồ hướng tâm của hành giả, hướng đến thiện hay bất thiện. Chẳng hạn cũng ăn chay niệm Phật, nhưng ăn chay niệm Phật để cầu sanh Tịnh độ, thì khác hẳn với người ăn chay niệm Phật để chứng tỏ mình cũng tu, đề lấy tiếng là có tu hành. Ngoại đạo hành khổ hạnh ghê lắm, nhưng Phật chê, vì họ chỉ vì danh văn, lợi dưỡng. Mục đích của sự tu tập là giác ngộ giải thoát, chứ không phải để cho người ta cúng dường. Nhất thiết duy tâm tạo là tiền đề cho hểt thảy tư tưởng Phật giáo.
Để làm chủ tâm phải thực tập và duy trì chánh niệm. “Các Tỳ- kheo nào không chánh niệm, không tỉnh giác thì chánh niệm bị tổn

hại. Nếu không chánh niệm, tỉnh giác thì bị tổn hại là việc thủ hộ các căn, thù hộ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chỉ, lạc, định, tri kiến nhu thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu không giải thoát thì làm tổn hại Niết-bàn”. Ngược lại, “Nếu Tỳ-kheo nào không thường mất chánh niệm tỉnh giác thì thường xuyên có chánh niệm tỉnh giác. Nếu có chánh niệm tỉnh giác thì thường thủ hộ các căn, giữ giới, không hối hận, hân hoan, hỷ, chỉ, lạc, định, tri kiến như thật, yếm ly, vô dục, giải thoát. Nếu đã giải thoát liền chứng đắc Niết-bàn” (Kinh Niệm).
2.3. Nhân sanh quan và thế giới quan:
Con người và thế giới theo cách nhìn của Phật giáo chỉ là những yếu tố tương tác, nương tựa của tứ đại, ngũ uấn, 12 nhân duyên, 12 xứ, 18 giới, sự cảm thọ, bốn loại thức ăn, nghiệp thức và kết sanh thức mà hình thành. Ngoài nhũng yếu tố này, không có một đấng thần linh nào sáng tạo, không có một linh hồn bất tử, một thần thức cố định, một đại ngã thường hằng, mà luôn luôn trong quá trình vận động theo định thức duyên khởi. Do đó, thực tướng của các pháp là vô thường, khổ, không, vô ngã. Khi quán chiếu và thấy được các pháp như thế, mọi lậu hoặc phiền não đều dứt sạch, Đức Phật giác ngộ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đồng thời chỉ cho chúng sanh cũng thấy được như thế, để cũng có thể giác ngộ như Ngài. Phật dạy: “Người nào thấy được lý duyên khởi là người đó thấy được pháp tánh. Người nào thấy được pháp tánh là người đó thấy được Như Lai” (Các kinh 13, 36, 60, 97, 163, 181, 184, 201).
Đức Phật bác bỏ quan niệm “Tất cả hành vi của con người đều có nguyên nhân đã định sẵn từ đời trước”, hoặc “do đấng Thượng đế biến hóa hay sáng tạo ra”, hoặc “thuyết tự nhiên, không có nguyên nhân và điều kiện”. Bởi nếu chấp nhận các học thuyết trên thì những điều nên hay không nên làm, hoàn toàn không có ý nghĩa và không có động lực thúc đẩy, con người chẳng thể thay đổi và tác động vào cuộc đời và môi trường mình đang sống. Đức Phật khẳng định điều
mà Ngài “tự mình biết, tự mình giác ngộ, thuyết giảng cho mọi người; dù là Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm và các loài thế gian khác đều không thể khuất phục được, không thể làm cho cấu uế được, không thể chế phục” là: Tất cả các pháp đều do nhân duyên sanh. Ngài nói: Có sáu xứ, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý xứ; sáu giới, địa, thủy, hỏa, phong, không, thức giới; do chấp thủ sáu giới mà có sự nhập thai; nhân sáu giới mà có sáu xứ, nhân sáu xứ có xúc, nhân xúc mà có thọ. Kinh ghi: “Nếu ai có cảm thọ liền biết như thật về Khổ, biết về Khổ tập, biết về Khổ diệt, biết như thật về Khổ diệt đạo”.
“Thế nào là biết như thật về khổ? Là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thù nghịch gặp nhau là khổ, yêu thương mà chia ly là khổ, mong muốn mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thù năm uẩn là khổ”.
“Nguyên nhân của khổ là tham ái, dẫn đến sự hiện hữu trong tương lai, câu hữu với hỷ tham, mong cầu hoan lạc nơi này nơi kia.
“Khổ diệt hay hạnh phúc Niết-bàn là đoạn trừ không dư tàn tất cả ái, dẫn đến hữu đương lai, câu hữu với hỷ tham, mong cầu hoan lạc nơi này nơi kia; đã xả ly, diệt tận, vô dục, tịch tĩnh, tịch diệt.
“Khổ diệt đạo là Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định”.
Và đây là một phần nhân sanh quan và thế giới quan Phật giáo.
2.4. Nhân quả nghiệp báo:
Giáo lý nhân quả nghiệp báo xác định rõ con người là chủ nhân của nghiệp và là kẻ thừa tự của nghiệp. Tùy thuộc vào nghiệp tốt hay xấu mà có hoàn cảnh và cuộc sống tốt đẹp hay khố đau. Nghiệp là một năng lực, khi còn ở tiềm năng thì gọi là nghiệp nhân, khi đã thể hiện qua hành động thì gọi là nghiệp tướng, khi lãnh thọ quả báo thỉ gọi là nghiệp quả. Nghiệp là kết quả của các hành vi từ thân, khẩu, ý có dụng tâm (tác ý). Theo đó, với tâm niệm tốt, thiện lành, thân khẩu
ý sẽ tạo ra 10 nghiệp thiện; với tâm niệm không tốt, bất thiện, thân khâu ý sẽ tạo ra 10 nghiệp ác. Nghiệp này sẽ dẫn dắt chúng sanh đến những hoàn cảnh và cuộc sổng tương ưng. Tuy nhiên, phạm trù nhân quả nghiệp báo thật sâu xa khó hiếu, vì nó chi phối, ảnh hưởng cả ba đời, quá khứ, hiện tại, vị lai, nếu không hiểu thấu đạo lý này chúng ta không thể hiểu được những hiện tượng hình như trái với quy luật nhân quả, như “Ăn ở hiền lành mà vẫn gian nan, hung hăng tàn bạo mà vẫn an nhàn”. Đọc Trung A-hàm sẽ hóa giải được những nghi ngờ về kiếp sống nhân sanh, củng cố niềm tin và hy vọng vào cái chân, cái thiện sẽ có kết quả tốt đẹp. (Xem phẩm Nghiệp tương ưng và các kinh 171, 174, 175...)
Đọc kinh Diêm Dụ, chúng ta thấy có một người bị mất dê. Anh ta đáng ra phải bắt kẻ trộm dê đánh cho một trận hoặc tố cáo với nhà chức trách, thế nhưng anh lại chắp tay cầu xin kẻ trộm trả lại dê cho mình. Vì sao lại có chuyện như vậy? Bởi anh chủ dê quá nghèo và không có thế lực. Anh ta đại diện cho tất cả những người dân chân lấm tay bùn, thất học và không có thế lực như chúng ta. Kẻ trộm dê có thể đang đứng cầm gậy trên từng cây số, trong mọi văn phòng. Và chúng ta bất bình. Xã hội bất công! Nhưng không, “người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục”, đó là điều Đức Phật khắng định. Gieo nhân, chắc chắn gặt quả, có điều là lâu hay mau, hiện tại hay tương lai mà thôi.
Tuy nhiên, đối với một người “tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Người ấy ở trong đời hiện tại giả sử có thọ báo của thiện hay ác nhưng chỉ nhẹ nhàng, chút ít thôi”. Vì sao vậy? “Cũng như có người dù mắc nợ một trăm tiền nhưng không bị chủ nợ bắt trói; cho đến nợ ngàn vạn tiền cũng không bị chủ nợ bắt trói? Vì người mắc nợ có vô lượng tài sản. Người ấy nhờ vậy dù mắc nợ trăm ngàn tiền vẫn không bị chủ nợ bắt trói”. Đây là trường hợp “Đức năng thắng số”.
2.5. Quan điểm đạo đức:
Nền tảng đạo đức của Phật giáo là giới luật và kết quả chung cuộc của nó là đạo đức giải thoát. Trên cơ sở đó, Phật giáo quan niệm các hành động bị điều động bời tâm lý tham, sân. si là các hành động dẫn đến khổ đau, vì thế chúng là bất thiện; các hành động được điều động bởi vô tham, vô sân, vô si là các hành động dẫn đến các kết quả an lạc, hạnh phúc, vì thế chúng là thiện. Thiện là đạo đức và bất thiện là phi đạo đức. Với quan niệm này, giới luật trở thành những nguyên tắc đạo đức, xây dựng cuộc sống an vui, hạnh phúc cho mình và tha nhân. Hơn nữa, giáo lý Duyên khởi xác định con người tương quan mật thiết với thế giới xung quanh, cho nên gây tổn thương với tha nhân và môi trường là đồng nghĩa với sự làm tổn thương, gây đau khổ cho chính bản thân mình. Vì vậy, Phật giáo luôn đề cao sự tu luyện bản thân, cải thiện tự tâm, hoàn thành bổn phận đạo đức trong phạm vi gia đình, xã hội, và thế giới chung quanh, cuối cùng là được sự an lạc, giải thoát trong hiện tại và tương lai (Xem các kinh 28, 38, 39, 40, 41, 128, 135, 202).
Cư sĩ Cấp-cô-độc là một nhân cách đạo đức lý tưởng cho người Phật từ tại gia noi theo. Ông sống một đời lương thiện, thâm tín Tam bảo, thương yêu, đùm bọc, chia sẻ cho không biết bao nhiêu người cơ nhỡ, cô độc; dù khi làm ăn thất bại, trở nên nghèo khó, ông vẫn giữ thói quen bố thí, cúng dường. Chính cuộc sống đó đã giúp ông vượt qua khó khăn và xây dựng kinh tế gia đình vững mạnh. Đặc biệt, ông là người giàu sang phú quý, nhưng không bao giờ bị thế lực của đồng tiền sai sử, và chẳng bao giờ bị chìm đắm trong dục lạc. Ông đích thục là mẫu người “tuy vi tục nhơn, bất nhiễm thế lạc”, trọn đời lấy phạm hạnh làm đầu, thọ trì năm giới không sút mẻ.
2.6. Tinh thần giải thoát vô trụ:
Giải thoát là không đi về đâu cả, mà ngay trong đời hiện tại này chứng được đạo lộ tịch tĩnh, diệt tận. Cho nên, cơ bản của giải thoát là đoạn trừ phiền não, là phải quán chiếu để thấy “Ta không có ta,
cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước”. Điều này có nghĩa không thấy có tâm đoạn trù' phiền não và phiền não bị đoạn trừ. Cả hai đều xả ly. Tiến xa hơn, khi đạt được chân lý nhưng không an trụ chân lý đã đạt, do đó được gọi là không trụ vào đâu, mới thật chứng Vô dư Niết-bàn. Niết-bàn ấy có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước, tức là Niết-bàn vô trú (Kinh 7, 6, 88, 191).
Kinh Đại Không ghi: “Này A-nan, Tỳ-kheo hãy bằng nội ngoại không thành tựu an trụ. Vị ấy sau khi nội ngoại không thành tựu an trụ, tâm không di động, hưóng đến gần, được lắng trong, an trụ, giải thoát đối với nội ngoại không. Này A-nan, như vậy Tỳ-kheo trong lúc quán thì biết nội ngoại không thành tựu an trụ, tâm không di động, hướng đến gần, được lắng trong, an trụ, giải thoát đối với nội ngoại không. Đó gọi là chính tri”. “Nội ngoại không thành tựu an trụ” tức là đã an trụ ở chỗ không phải trong, không phải ngoài. Trong và ngoài đều không, không vướng vào đâu cả, đó là trạng thái “ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”.
2.7. Tinh thần thực tiễn:
Đạo Phật nhận thức cuộc đời có mặt của những nỗi khổ niềm đau, và ý thức một cách rõ ràng tất cả những khố đau đều có nguyên do của nó; đồng thời thực chứng rằng khi khố đau vắng mặt thì hạnh phúc hiển bày. Do đó, Phật giáo vạch ra con đường đi đến hạnh phúc, bằng cách đoạn tận các phiền não, cắt đứt tham ái, những nguyên do của khổ đau, để thiết lập cuộc sống hạnh phúc ngaj đây và bây giờ, mà không bận tâm đến những vấn đề siêu hình, nhũng vấn đề không thực tế, không liên quan thiết thực đến cuộc sống hiện tại v.v... Đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát, mà là giác ngộ, giải thoát trong cuộc đời này, chứ không hứa hẹn về một thế giới bên kia nào khác, gọi là hiện pháp lạc trú. (Kinh 120,121,165,166, 167,221...)
Đức Phật gác lại, loại bỏ, không giải thích những vấn đến không liên quan đến thực tiễn, không liên quan đến đời sống phạm hạnh, giải thoát. Chắng hạn, “Thế giới hữu thường hay vô thường; thể giới hữu biên hay vô biên; sanh mạng tức là thân hay sanh mạng khác thân khác; Như Lai tồn tại sau khi chết hay Như Lai không tồn tại sau khi chết; Như Lai vừa tồn tại sau khi chết vừa không tồn tại sau khi chết; hay Như Lai cũng không phải tồn tại sau khi chết, cũng không phải không tồn tại sau khi chết?”, những vấn đề như vậy Đức Phật từ chối không giải thích. Ngài nói, kẻ nào đi tìm hiêu những vấn đề đó thì kẻ ấy chưa biết được gì, nửa chừng đã mạng chung.
Kinh Tiễn Dụ ghi: “Ví như một người bị trúng tên độc. Do bị trúng tên độc nên đau đớn cùng cực. Người ấy được các thân thuộc đồng tình thương xót, mong muốn cho được lợi ích và phước lành, được an ổn khoái lạc, nên tìm cầu y sĩ nhổ tên. Nhưng nó lại nói rằng, ‘Khoan hãy nhổ tên! Trước tiên hãy cho tôi biết người bắn tôi đó, họ gì, tên gì, sanh ở đâu, cao hay thấp, mập hay gầy, da đen hay trắng, hay da không đen không trắng, thuộc dòng Sát-lị, Bà-la-môn, Cư sĩ hay Công sư, là người ở phương Đông, phương Tây, phương Nam hay phuơng Bắc?... Nhưng nó chưa biết được gì thì nửa chừng đã mạng chung”.
Đức Phật nói, dù thế giới này là hữu thường hay vô thường, “thì vẫn có sanh, có già, có bệnh, có chết, sầu bi, khóc than, ưu khổ, áo não, như vậy toàn vẹn khối lớn khổ đau này phát sanh”. Cho nên Đức Phật không xác quyết, không trình bày những vấn đề đó. “Vì điều này không tương ưng với cứu cánh, không tương ưng với pháp, không phải căn bản phạm hạnh, không đưa đến trí, không đưa đến giác, không dẫn đến Niết-bàn”.
“Những pháp nào được Ta xác quyết nói đến? ‘Đây là khổ’, Ta xác quyết nói ‘Đây là khổ’. ‘Khổ tập, Khổ diệt, Khổ diệt đạo tích’, Ta xác quyết nói. Vì những lý do gì mà Ta xác quyết nói những điều này? Vì những điều này tương ưng với cứu cánh, tương ưng với pháp,
là căn bản phạm hạnh, đưa đến trí, đưa đến giác, dẫn đến Niết-bàn, cho nên Ta xác quyết nói những điều này.
“Đó là, những gì không thể nói thì Ta không nói, những gì có thể nói thì Ta nói, hãy thọ trì như vậy. Hãy học tập như vậy”.
2.8. Quan điểm giáo dục:
Đạo Phật đặt con người làm trung tâm điểm của xã hội loài người. Xã hội ấy tiến hóa hay thoái hóa là hoàn toàn do hoạt động của con người, mà hoạt động của con người lại do tâm trí con người làm chủ. “Tâm tạo tác, tâm làm chủ”. Do đó, muốn xây dựng xã hội, căn bản là phải xây dựng con người, muốn cải tạo xã hội, căn bản là cải tạo con người. Cho nên Phật giáo đặt giáo dục chuyển hóa nội tâm con người lên hàng đầu. Bởi tâm con người nếu còn tham lam, ích kỷ, độc tài, thì xã hội loài người vẫn còn địa ngục; ngược lại, nếu tâm ấy được đối trị, được cải tạo, được uốn nắn cho trở nên nhu nhuyến, dễ sử dụng, làm cho trong sạch tham, sân, si, thì hoạt động con người trở nên sáng suốt, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, cực lạc. Chung quy, giáo dục Phật giáo được xây dựng đầy đủ trên bốn đức tính: tâm đức, trí đức, hạnh đức và quả đức. Bốn đức tính ấy được truyền đạt qua 8 hình thức: giáo dục về mặt trí thức, tư tưởng, chiêm nghiệm, nhận thức, hành động, đạo đức bản thân, nhân bản, và giải thoát toàn diện. (Kinh 1, 14, 74, 81, 146, 157...).
Kinh Thiện Pháp đưa ra tiêu chí giáo dục cụ thể đối với một Tỳ-kheo là phải thành tựu bảy pháp. Trước hết là phải được dạy cho biết pháp và biết nghĩa, tức là phải nắm vững nội dung và ý nghĩa của kinh, luật, luận. Rồi các bước tiếp theo là rèn luyện kỹ năng. Rèn luyện kỹ năng ứng xử (biết thời). Biết lúc nào, ở đâu, phải làm gì, nói gì, thời khóa tu học ra sao, tu pháp môn gì... Tất cả đều phải được rèn luyện. Nhưng quan trọng hơn hết là phải rèn luyện để xây dựng cuộc sống của mình cho có chừng mực, biết tiết độ trong ăn mặc, đi đứng, nằm ngồi, nói năng, im lặng, giảm bớt ngủ nghỉ, .tức là thực hiện đời sống tri túc và luôn chánh niệm tỉnh giác để tự biết
mình. Phải “phản quan tự kỷ”, luôn soi xét bản thân mình có được bao nhiêu tín, bao nhiêu giới, văn, thí, tuệ, biện tài... Và cuối cùng là kỹ năng hội nhập, dấn thân phụng sự. Muốn hội nhập, muốn phụng sự, phải biết hoàn cảnh (biết hội chúng) và biết người (nắm bắt nhu cầu, tâm lý của đối tượng nghe pháp). Tiêu chí giáo dục như thế thì hệ thống dục hiện đại ngày nay cũng cần phải noi theo.
2.9. Bình đãng giới tính:
Neu như vấn đề bình đẳng giới tính trong xã hội ngày nay vẫn còn gây nhiều tranh cãi và bất đồng quan điểm, thì trong xã hội Ấn Độ cách đây hon 25 thế kỷ có thể nói là vô cùng xa lạ và không thể chấp nhận được! Thế mà Tăng đoàn Phật giáo thời bấy giờ xuất hiện nữ giới: được xuất gia, tu hành và chứng quả Thánh, cho đến quả Thánh A-la-hán. Cứ nhìn vào bối cảnh của xã hội Ẩn Độ lúc đó, khi phải trở thành đời sống khất sĩ nay đây mai đó, phải đối mặt với thú dữ, cưóp bóc, thòi tiết khắc nghiệt, vói chỉ trích của ngoại đạo v.v... thì mới thấy được tấm lòng bi mẫn của Đức Thế Tôn, mới hiểu được vì sao Bát kỉnh pháp được hình thành, và vì sao giói luật của Ni nhiều hơn Tăng. Quả thật, đọc Trung A-hàm chúng ta thấy mình có mặt trong xã hội Ấn Độ thời Phật còn tại thế, bỗng nhiên chợt hiểu các điều luật ấy hết sức thực tiễn và cảm thông cho đời sống tu sĩ cả Tăng lẫn Ni! Đó là chưa nói đến sự khu biệt trong tâm sanh lý của chúng sanh.
2.10. Vấn đề thọ ký:
Dù chỉ xuất hiện trong một kinh (kinh 66), nhưng nó lại có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trong kinh, Đức Phật thọ ký cho Tỳ-kheo A-di-đa làm Chuyển luân Thánh vương tên là Loa trong thời Đức Phật Di-lặc ra đời. Đồng thời thọ ký che Tôn giả Di-lặc sẽ thành Phật trong tương lai. Qua sự kiện này, Trung A-hàm không nhũng chỉ làm sáng tỏ vấn đề nhân quả trong pháp hội A-hàm, mà còn làm tiền đề cho sự phát triển văn học thọ ký thuộc Hữu bộ, và cuối cùng là đỉnh cao của tư tưởng Pháp Hoa trong hệ thống tư tưởng Đại thừa sau này.
III. Kết luận:
222 kinh Trung A-hàm, một số lượng kinh không quá lớn so với Tam tạng kinh điển, nhưng thật sự quá nhiều đối với người học trong bối cảnh xã hội ngày nay. Thời buối kinh tế thị trường, mồi buổi sáng người ta chỉ kịp lướt mắt lên mặt báo và dừng lại ở những điểm ‘nóng’ mang tính thời sự, vậy mà còn không đủ thời gian, thì làm sao có thể lần giở từng trang kinh dài như thế được! Cho nên chúng tôi cố gắng giới thiệu Trung A-hàm nói riêng, kinh bộ A-hàm nói chung, thật ngắn gọn. Làm như thế không tài nào lột tả hết được ý kinh và lại rơi vào chỗ “cỡi ngựa xem hoa”, chắc chắn không thể nào thưởng thức được hết hương vị pháp nhũ trong từng lời kinh, câu kệ. Tuy nhiên, ‘một là tất cả, tất cả là một”, và Phật pháp chỉ có một vị, vị giải thoát, như nước đại dương chỉ có một vị mặn. Hy vọng đây là cơ duyên, tạo động lực cho tất cả những ai muốn thâm nhập Kinh tạng, vượt lên bờ Thánh trí.
Cuối cùng, hãy:
Cẩn thận, đừng nghĩ quá khứ;
Tương lai cũng chớ mong cầu.
Quá khứ đã qua, đã mất,
Tương lai chưa đến, còn xa.
Hiện tại những gỉ đang có
Thì nên quản sát suy tư.
(Kinh Ôn Tuyền Lâm Thiên)

/9
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »