Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 5 (Năm 1969)

Tư Tưởng Số 5 (Năm 1969)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1969. Số trang: 235.

Chương 3: TỪ HEIDEGGER I Đến HEIDEGGER II (Trang 99 - 120)

TỪ HEIDEGGER I ĐẾN HEIDEGGER II
 
TRẦN CÔNG TIẾN
 
 
NHẬP ĐỀ
Suy tư độc nhất của Heidegger là suy tư về hữu thể. Mỗi tác phẩm là một bước đi trên con đường về hữu thể. Chính vì thế tiếng nói về chính hữu thể lại còn là một yên lặng.
Khi suy tư về hữu thể như vậy con đường tư tưởng của Heideggerlà con đường của siêu hình học Tây phương. Đề tài chính của siêu hình học là hữu thể. Siêu hình học (métaphysique) là siêu việt (meta) vật thể(physique,) tới hữu thể của nó (trong cách thể để cho vật thể là vật thể). Nhưng khi đi vào con đường tư tưởng Tây phương Hei­degger ngạc nhiên thấy rằng siêu hình học đã không bao giờ đặt câu hỏivề chính hữu thể, về chính nền tảng của nó. Nói vắn tắt, với Heidegger, tất cảcác siêuhình học đều suy tư về vật thể như là vật thể, về vật thể trong hữu
 
 
 
thể của nó, các siêu hình học đã không suy tư về hữu thể như là hữu thể, về hữu thể trong chân lý của nó.
Trong Nhập Đề cho tác phẩm Was ist Metaphysik ?Hei­degger cho rằng tư tưởng suy tư về vật thể như là vật thể chỉcó thể được rõ ràng trên nền tảng của tư tưởngsuytư về ánhsáng làm cho vật thể là vật thể, làm chovật  thể xuất lộ.Vì bấtcứ ở đâu siêuhình học biểu tượngvật  thể đều có sự soi sáng của ánhsáng (1). Ánh sángnày là tiến trình khai lộ làm cho vật thể là vật thể. Và tiến trình khai lộ này Heidegger cũng gọi là hữu thể. Như vậy tư tưởng suy tư về vật thểnhư là vật thể là tư tưởng quên lãng hữu thể. Tại sao thế? Vì tra hỏi về vật thể như là vật thể, siêu hình học luôn luôn ở lại với vật thể và không quay về hữu thể xét như là hữu thể, không quay về các ánh sáng làm cho vật thể là vật thể. Bây giờ Heidegger trở về suy tư về ánh sáng, về tiến trình khai lộ, về hữu thể là Heidegger suy tư về nền tảng của siêu hình học. Hữu thể là căn cơ, là mảnh đất nuôi nấng siêu hình học. Ngay từ đầu Heidegger nhắc nhở chúng ta phải đặt lại câu hỏi về ý nghĩa (2) của hữu thể (3), để rồi sau này đi tìm kiếm sự phát lộ của hữu thể(Geschick des Seins) (4).
                                  
 
(1) M. Heidegger: Questions I, Gallimard, t.24
  1. Đối với Heidegger ý nghĩa là sự khai lộ, sự khai lộ là chân lý. Cho nên ý nghĩa của hữu thể, sự khai lộ của hữu thể và chân lý của hữu thể là một
  2. M. Heidegger : L'être et le temps, Gallimard, t.12
  3. M. Heidegger : Essais et Conférences, Gallimard, t.22I André Préau dịch Geschick là Dispention. W. Richardson dịchGerchick là mittence.
 
 
 
 
 
Tóm lại tư tưởng Heidegger là con đường dẫn về hữu thể. Con đường để hữu thể xuất lộ lúc đầu là tiến trình hiện tượng học, tiến trình từ hiện thể đến hữu thể. Đó là Heideg­ger I. Nhưng rồi con đường này cần được chuyển hóa, nhưng một sự chuyển hóa không làm thay đổi quan điểm của Hei­degger (1). Sau đó con đường để hữu thể xuất lộ ra tiến trình tư tưởng, tiến trình của sự phát lộ của hữu thể. Đó là Heidegger II.

ĐOẠN THỨ NHẤT

TIẾN TRÌNH HIỆN TƯỢNG HỌC

Hiện tượng học là con đường từ hiện thỂ tới hữu thể, con đường của Sein und Zeit, Kant und das Problem der Metaphysik, Vom Wesen des Grundesvà Was ist Metaphysik ?
Nơi xuất lộ đầu tiên của hữu thể là con người. Sự am hiểu về hữu thể nơi con người là một sự kiện (2). Sự am hiểu về hữu thể là yếu tính của con người. Heidegger gọi sự am hiểu hữu thể này là hiện hữu và gọi con người am hiểu
 
(1) Heidegger viết: Das Denken der Kehre ist eine Wendung in meinem Denken. Aber diese Wendung erfolgt nicht auf grund einer Änderung des Standpunktes or gar der Preisgabe der Frages­tellung in ttSein und Zeit». (W. Richardson: Heidegger, through Phenomenology to Thought, Nijhoff, The Hague, t. XVII).
(2) M. Heidegger : L'être et le temps, Gallimard, t.2I.
 
 
 
hữu thể là hiện thể. Vì thế Heidegger viết: «yếu tính của hiện thể nằm trong hiện hữu của nó» (1).
     Như vậy công việc tra hỏi về hữu thể phải bắt đầu từ hiện thể, nghĩa là từ nơi mà hữu thể xuất lộ. Cho nên phân tích hiện thể là làm cho thấy hiện thể. Làm cho thấy hiện thể là hiện tượng học. Hiên tượng học là hữu thể học nền tảng.
 
I. TỪ HIỆN THỂ ĐẾN HỮU THỂ
 
     Hiện thể (Dasein) là hữu thể (Sein) xuất hiện ra đó. Nói khác đi hữu thể xuất hiện trong sự am hiểu của con người. Nhưng dựa vào đâu để nói được rằng con người có sự am hiểu về hữu thể? Thưa dựa vào sự kiện tự nhiên này : con người đã luôn luôn thấy mình nằm trong sự giao hảo với vật thể hay vật thể đã luôn luôn xuất hiện ra vài con người. Và tiến trình làm cho vật thể xuất lộ, làm cho vật thể là vật thể là hữu thể. Vậy sự kiện con người gặp gỡ vật thể bao hàm sự kiện con người am hiểu hữu thể.
     Chính vì thế trên bình diện hữu thể học yếu tính của con người nằm trong su am hiểu hữu thể. Một cách nào đócon người là hữu thể học. Dó là siêu việt tính của hiện thể. Siêu việt tính không phải là đặc tính làm cho hiện thể ởbên ngoài mình để ở bên cạnh các vật thể khác. Đặc tính ở bên cạnh các vật thể khác là đặc tính chung của các vật thể, hiện thể cũng như các vật thể khác. Siêu việt tính
 
(1) M. Heidegger : L'être et le temps, Gallimard, t. 62.
 
 
 
muốn nói lên một điều gì căn cơ hơn sự kiện ở bên cạnh dó.
Trước hết siêu việt tính là vượt qua vật thể tới thế giới. Thế giới không được hiểu là toàn thể các vật thể, tổng số các vật thể. Thể giới phải được hiểu là cái làm cho vật thể xuất hiện được, cái giải thoát vật thể. Cho nên khi nói rằng hiện thể là hữu-tại-thế Heidegger không hề nhằm nói rằng hiện thể là hữu-ở-bên-cạnh các vật thể như tất cả các vật thể khác. Bởi vì hữu-ở-bên-cạnh các vật thể chỉ có thểđược trên nền tảng của hữu-tại-thế. Hiện thể là hữu- tại-thế nghĩa là hiện thể có khả thể giải thoát vật thể. Cho nên sự vượt qua vật thể đến thế giới chính là tự do (1). Hay tự do chính là để cho vật thể là vật thể (2), nghĩa là làm cho vật thể được khai lộ ra. Chính vì thế siêu việt tính là tự tính của hiện thể. Đó là đặc tính phân biệt hiện thể với mọi vật thể khác.
Thứ đến siêu việt tính là vượt qua vật thể đến hữu thể, nói cách khác sự am hiểu về vật thể đòi hỏi sự am hiểu có trước về hữu thể của vật thể đó. Cho nên mọi phán đoán về vật thể đều giả thiết sự xuất lộ đi trước của vật thể, nói khác chân lý của phán đoán thuộc từ giả thiết chân lý tiền từ nguyên thủy hơn. Và trong khi chân lý thuộc từ xây dựng trên biểu tượng, chân lý tiền từ, theo Hus­serl, xây dựng trên trực giác. Nói khác đối vật của biểu tượng xây dựng trên vật thể của trực giác ý hướng. Tuy nhiên với Heidegger các tác động tiền từ cũng không có thể
                     
(1) M. Heidegger : Questions I, Gallimard, t. 142
 (2) M. Heidegger: Questions I, Gallimard, t. 175
 
 
 
biểu lộ vật thểnếu sự biểu lộ này không được soi sáng bằng sự am hiểu về hữu thể của vật thể.« Chỉ vì hữu thể đã được khai lộ vật thể mới có thể bày tỏ mình ra» (1). Cho nên ý hướng tính cũng chỉ có thể có được dựa trên nền tảng của sự am hiểu hữu thể, của siêu việt tính của hiện thể (2).
Sự am hiểu hữu thể trong Sein and Zeit được gọi là trí tưởng tượng siêu nghiệm trong Kant und das Problem der Metaphysik. Trí tưởng tượng siêu nghiệm cũng chính là khả năng lĩnh hội hữu thể như là chân trời của siêu việt tính. Trí tưởng tượng siêu nghiệm chính là khả năng để con người đạt tới được phán toán tổng hợp tiên thiên, nghĩa là khả năng để con người có thể gặp gỡ vật thể.
Trong thực tế có sự gặp gỡ vật thể thì cũng có sự am hiểu hữu thể, có trí tưởng tượng siêu nghiệm, có siêu việt tính của hiện thể. Cho nên yếu tính của hiện thể là thể hiện sự am hiểu hữu thể của vật thể, cũng như là hữu thể của hiện thể (3), nghĩa là hữu thể tổng quát. Yếu tính của hiện
                          
(1) M. Heidegger : Questions I, Gallimard, t.97
  1. Sự am hiểu hữu thể của vật thể làm cho vật thể xuất lộ cũng cho chúng ta thấy rằng hữu thể không phải là một cái gì khác vật thể. Hữu thể là hữu thể của vật thể. Tuy nhiên hữu thể và vật thể phải được phân biệt với nhau. Hữu thể là hữu thể của vật thể và đồng thời không phải là Vật thể vì nếu là vật thể hữu thể không còn là hữu thể của vật thể. Hữu thể cũng không phải là vật thể khác. Vì nếu là một vật thể khác hữu thể sẽ là một vật thể.
  2. Hiện thể cũng tự biểu lộ ra với chính mình.
 
 
 
thể là siêu việt về hữu thể hay thế giới. Thế giới, như vậy, cũng chỉ là một cách thể mà hữu thể xuất lộ ra với con người.Thế giới là hình ảnh của hữu thể.
Như vậy hữu thểtỏ mình ra nơi hiện thể. Nhưng đó chỉ là một sự bày tỏ mơ hồ. Sự am hiểu về hữu thể không bao hàm sự lãnh hội rõ ràng (bằng ý niệm) về hữu thể. Sự am hiểu hữu thể là điều kiện cho hữu thể học. Sự am hiểu hữu thể là tiền hữu thể học. Sự am hiểu chưa phải là hữu thể học. Và giữa tiền hữu thể học và hữu thể học có vô vàn cấp bậc. Nhưng chính sự am hiểu hữu thể này làm cho câu hỏi về hữu thể có thể có được.

II- HỮU THỂ VÀ VÔ THỂ
 
Hữu thể không phải là vật thể. Hữu thể là không – vật thể (non-élant). Hữu thể là vô thể. Vậy thì vô thể nhất thiết không phải là không có gì. Vô thể không phải là sự chối bỏ toàn thể vật thể. Vô thể chối bỏ toàn thể vật thể là vô thể bình dân, vô thể tưởng tượng. Cho nên chỉ có những người nào hiểu Heidegger quá hời hợt hay không hiểu Heidegger gì cả mới nói rằng vô thể của Heidegger là không có gì, là hư vô.
Chính vì thế chúng ta không thể đạt tới vô thể bằng đường lối suy luận, bằng đường lối phủ nhận toàn thể vật thểđể định nghĩa vô thể như là một vật thể bị phủ nhận (1). Vô thể được biểu lộ trong một tình cảm đặc biệt của hữu-
 
 
(1) M. Heidcgger: Questions I, Gallimard, t. 53
 
 
 
tại-thế xét như là bị quăng ném giữa lòng thế giới và của hữu-qui-tử xét như mang sẵn cái chết (khả tử) từ lúc chào đời. Và tình cảm đặc biệt đó là xao xuyến (1).
Heidegger đã trình bày xao xuyến rất nhiều trong Sein- und Zeitvà Was ist Metaphysik ?
Trong Sein und Zeitxao xuyến khai lộ thế giới. «Cái mà xao xuyến xao xuyến chính là thế giới xét như là thế», (2) Chính trong xao xuyến thế giới mất hết đặc tính liên quan đến vật thể. Thế giới không phải là toàn thể vật thể cũng không phải là một vật thể nào khác. Không một đặc tính nào của vật thể(chẳng hạn trương độ của Descartes) có thể được dùng, để thiết định thế giới. Xao xuyến biểu lộ thế giới để cho vật thể xuất hiện như là vật thể. Thế giới làm cho vật thể xuất hiện như là vật thể.
Trong Was ist Metaphysik ? vô thể tự biểu lộ trong xao xuyến, không phải như sự phủ nhận vật thể, như tách lìa khỏi vại thể. Vô thể biểu lộ cùng một lúc với vật thể.
Trong xao xuyến vật thể trong toàn thể trở nên vô nghĩa, trở nên mong manh. Không còn gì là quan trọng như trong, cuộc sống sa đọa của hiện hữu nữa. Tuy nhiên vật thể không bị hư vô hóa, tan biến đi. Thực ra vô thể xuất hiện với vàtrong vật thể. Vô thể không là sự tan biến của vật thể Vô thểđi trước mọi hư vô hóa hay hủy thể hóa. Chính vô thể tự vô thể hóa chính nó (Das Nichts selbst
 
  1. M. Heidegger :      Questions I, Gallimard, t. 59.
         2. Heidegger : L‘ êtte et le temps, Gallimard, t. 229
 
 
 
nichtet) (1) (để nó không là vật thể).
Trong đêm sáng của vô thể bày tỏ sự biểu lộ nguyên thủy của vật thể xét như là thế. Yếu tính của vô thể, như vậy, trước hết nằm trong việc đặt hiện thể đối diện với vật thể xét như là thế. Chính nhờ sự biểu lộ của vô thể nơi con người con người có thể đi về vật thể, và xâm nhập vào thể tính của vật thể. Nhưng vì sống sa đọa con người quên lãng, vô thể trong cuộc sống thường nhật. Chính vì đọa tính này xao xuyến ít khi xâm nhập hiện thể. Vậy thì để hiện hữu trung thực chúng ta phải trở về với vô thể. Thể hiện, hiện thể là tìm lại sống giữa lòng của vô thể. Sống giữa lòng vô thể là thoát ra khỏi sự ràng buộc vật thể. Và sự thoát ra khỏi này là siêu việt tính. Cho nên chính vô thể là điều kiện cho sự khai lộ của vật thể, cho sự giải thoát của vật thể. Như vậy công thức ex nihilo nihil fitcủa niềm tin Thiên Chúa Giáo phải được chuyển hóa thành ex nihilo omne ens qua ens fit (2),
Đó là kết quả của công cuộc đi tìm hữu thểcủa tiến trình hiện tượng học. Theo công cuộc này hữu thế xuất lộ ra như là vô thể, như không phải là vật thể. Nói cách khác Heidegger đã thiết định được bộ mặt tiêu cực của hữu thể, bộ mặt vô thể. Đó là một công trình vĩ đại của Heidegger. Tất cả các siêu hình học Tây phương đã đi vào con đường lầm lạc vì tất cả các siêu hình học Tây phương đã quan niệm hữu thể như là vật thể, nghĩa là hữu thể không phải là vô thể. Như vậy một khi quan niệm rằng hữu thểlà vô
 
(1) M. Heidegger : Questions I, Gallimard, t. 62.
(2) M. Heidegger : Questions I, Gallimard, t. 68-69.
 
 
 
thể Heidegger đã chống lại tất cả truyền thống triết học Tây phương. Như vậy cũng là phá hủy lịch sử triết học Tây phương, phá hủy một công cuộc quên lãng hữu thể (vì lầm tưởng hữu thể là vật thể) đã kéo dài hơn 20 thế kỷ.
Quan niệm hữu thể là vô thể là một đổi mới căn cơ trong tư tưởng Tây phương. Ngay từ đầu người Tây phương đã quan nệm rằng hữu thể là hiện diện (thường hằng). Quan niệm này đã được mặc nhiên chấp nhận từ Platon cho tới Nietzsche. Một khi đã mặc nhiên chấp nhận như vậy người ta bắt đầu đi tìm cho được cái hiện diện thường hằng và một khi tìm được cái hiện diện thường hằng người ta gọi cái đó là hữu thể.
Platon tìm thấy ý niệm là cái hiện diện thường hằng. Vì thế với Platon ý niệm là hữu thể.
Kinh viện tìm thấy Thượng Đế là cái luôn luôn tồn tại. Vì thế với Kinh viện Thượng Đế là hữu thể.
Descartes tìm thấy chủ thể là cái hiện hữu tuyệt đối. Vì thế với Descartes chủ thể là hữu thể.
Hegel tìm thấy tinh thần tuyệt đối là cái hiện hữu tuyệt đối. Vì thế với Hegel tinh thần tuyệt đối là hữu thể.
Nietzsche tìm thấy ý chí quyền lực hiện hữu trong hồi qui vĩnh cửu. Vì thế với Nietzsche ý chí quyền lực là hữu thể.
Nhưng một khi kinh nghiệm rằng hữu thể là vô thể lên ngôi thì quan niệm hữu thể là hiện diện hoàn toàn xụp đổ. Chỉ có hữu thể xét như là vật thể mới hiện diện trong khi hữu thể xét như là vô thể không hiện diện, ẩn diện. Hữu
 
 
 
 
thể không là một cái gì hiện diện ở trước mặt. Đó là lý do sau này Heidegger viết hữu thể thành hữu thể (có gạch chéo). Hữu thể (có gạch chéo) biểu lộ rằng hữu thể không phải là một vật thể hiện diện tự tại ở trước mặt con người (1). Như vậy Heidegger đã bước lui một bước để suy tư về điều mà triết học Tây phương không suy tư. Và bước lui này làm nổ tung công thức nền tảng hữu thể = hiện diện của triết học Tây phương. Điều này thật là vô cùng quan trọug. Nền tảng bị xụp đổ và tất cả lâu đài triết học Tây phương bị lay động tận gốc rễ. Vì thếHeidegger đòi hỏi người Tây phương phải trở về suy tư lại nguồn gốc của siêu hình học. Chính vì thếphần lớn các tác phẩm của Heidegger nhằm đặt lại vấn đề để cho người ta hiểu siêu hình học là gì.

ĐOẠN THỨ HAI
TIẾN TRÌNH TƯ TƯỞNG
 
Ở Heidegger I ván đề hữu thể xoay quanh công việc phân tích hiện thể. Điểm cột trụ là hiện thể và hữu thể xuất hiện dưới viễn tượng của dự phóng của hiện thể. Điều này có thể có được là nhờ tiến trình thời tính- sử tính của chính hiện thể. Ở Heidegger II vấn đề hữu thể không còn được đặt xoay quanh công việc phân tích hiện thể. Heideg­ger đi tìm ngay sự phát lộ của hữu thể. Sự phát lộ này có thể là nằm trong tư tưởng của lịch sử triết học. Điều này
 
(1) M. Heidegger : Questions I, Gallimard, t. 232
 
 
 
có được vì rất nhiều hiện thể (am hiểu hữu thể) đã hiện hữu và đã bày tỏ sự am hiểu đó ra trong tư tưởng của họ. Đó là tiến trình thời tính- sử tính của chính hữu thể. Sự phát lộ này có thể biểu lộ như là thế giới tứ trụ. Điều này có thể có được vì hiện thể là con người thi ca cư ngụ nơi thế giới (1).
  1. SỰ PHÁT LỘĐẦU TIÊN CỦA HỮU THỂ
 
Sau nhiều suy tư bao trùm cả lịch sử triết học để vượt qua siêu hình học cổđiển trừ Platon cho tới Nietzsche và cho tới cảHusserl, Heidegger trở về với Khởi nguyên của siêu hình học, về với Anaximandre, Homère, Parménide và Héraclite (2).
Trong công việc trở về này Heidegger mong mỏi tìm được những tia sáng đầu tiên của ánh sáng, những trắc diện
(1) Sự chuyển hóa từ Heidegger I sang Heidegger II được đánh dấu bởi tác phẩm chính là Vom Wesen des Grundes. Ởtác phẩm này Heidegger bắt đầu rời bỏ phân tích hiện thể đề đi vào tư tưởng về hữu thể. Sự chuyển hóa này là một điều tất nhiên của tư tưởng Heidegger. Một khi những phân tích hiện thể đã một cách nào đó, đầy đủ thì hữu thể cần phải được để phát lộ chính nó ra.
(2) Trong gới hạn của bài này tôi chỉ đề cập đến Héraclite. Thực ra cả bài này nằm trong khuôn khổ nhỏ bé của một lãnh vực rộng lớn. Chính vì thế có nhiều điểm cần được đề cập tới nhưng lại chưa được đề cập tới!.
 
 
 
 
 
đầu tiên của hữu thể. Nói chung Heidegger đã suy tư rất nhiều về tư tưởng của các triết gia trước. Nhưng suy tư của Heidegger vượt qua hẳn khuôn khổ tầm thường của một nhà viết lịch sử triết học, của một giáo sư triết học truyền thụ kiến thức. Trở về với quá khứ Heidegger muốn tìm lại những dấu tính xa xưa rọi sáng thêm cho con đường tư tưởng của chính ông. Đó là một lập lại, nhưng lặp lại đểchuyển hóa.
Hình ảnh của hữu thể phát lộ nơi Héraclite như làphusis và logos.
Đối với Héraclite phusis là không bao giờ biến mất (ne- ịamais-disparaître) (1), không bao giờ đắm chìm trong ẩn dấu. Phusis là sự khai lộ luôn luôn trì ngự. Phusis là cái gì luôn luôn sống động, là làm cho thoát ra trong các cách thể xuất hiện, trong sự đi tới chúng ta. Phusis còn được Heideg­ger gọi là lửa, là thế giới. Chính vì thế khi Héraclite nói đến lửa thì lửa không được hiếu là sự bốc cháy. Lửa cũng chính là sự xuất lộ trì ngự thường hằng (2). Lửa chính là cái gì nảy sinh mà không do con người hay thần linh tạo ra, nó luôn luôn tồn tại và làm cho mọi vật có thể xảy đến được. Và cái gì tồn tại như thế cũng được gọi là thế giới. Thế giới là lửa tồn tại, là sự xuất lộ trì ngự trong ý nghĩa của phusis. Lửa qui tụ vạn vật và là nơi cư ngụ của chúng. Lửa qui tụ và làm cho sự vật hiện diện. Lửa soi sáng là lửa giải thoát vạn vật trong không gian tự do, trong mảnh đất của hiện
 
 
(1) M. Heidegger : Essais et Conférences, gallimard, t. 336
(2) M. Heidegger : Essais et Conférences, gallimard, t. 332
 
 
 
diện. Lãnh vực khai mở của ánh sang giải thoát được gọi là thế giới.
     Như thế Heidegger phi bác đường lối cắt nghĩa có tính cách vũ trụ học ngây ngô của các nhà sử học về các triết gia Hy Lap. Chẳng hạn người ta cho rằng Héraclite quan niệm nguồn gốc của vạn vật là lửa và họ cho rằng Héraclite cũng như chínhhọ hiểu lửa như là sự đốt cháy. Nếu thế quả thật Héraclite không phải một nhà tư tưởng. Héraclite chỉ là một nhà vật lý học ngây thơ! Tiêc thay đường lối cắt nghĩa có tính cách vũ trụ học ngây thơ này xem ra còn rất thịnh hành trong các sách giáo khoa triết học.
Phusis còn được Héraclile suy tư như là logos. Logos chính là cái Đơn Nhất mà tư tưởng phải trở về qua một cuộc hành trình dài.
     Heidegger bắt đầu con đường trở về với logos bằng cách tìm hiểu legein. Legein là trải ra trước mắt sau khi đã quy tụ gặt hái và legein cũng có nghĩa là nói. (l) Cái gì được quy tụ,được gặt hái để trải ra trước mắt như vậy, cái đó đã giải thoát khỏi sự ẩn dấu để cư ngụ trong sự không che phủ, trong hiện diện. Cũng thế cái gì được nói lên, được diễn tả ra, cái đó được đặt hiện diện trước mắt. Cho nên logos là làm cho vật thể xuất hiện, làm cho vật thể trải ra trước mắt chúng ta. Logos làm cho chúng ta thấy được cái gì bày tỏ ra trong ánh sáng. Logos là ánh sáng. Logos qui tụ vạn vật. Logos là Nhất Thể của vạn vật. Nhất Thể hợp nhất Tất Cả. Nhất Thể là lý nhất quán của Tất Cả Nhất Thể là hữu thể (Etre) và Tất Cả là vật thể (étants) Từ hữu thể (Etre) vật
 
(1) M. Heidegger : Essais et Conférences, Gallimard, t. 251
 
 
 
diện. Lãnh vực khai mở của ánh sang giải thoát được gọi là thế giới.
     Như thế Heidegger phi bác đường lối cắt nghĩa có tính cách vũ trụ học ngây ngô của các nhà sử học về các triết gia Hy Lap. Chẳng hạn người ta cho rằng Héraclite quan niệm nguồn gốc của vạn vật là lửa và họ cho rằng Héraclite cũng như chínhhọ hiểu lửa như là sự đốt cháy. Nếu thế quả thật Héraclite không phải một nhà tư tưởng. Héraclite chỉ là một nhà vật lý học ngây thơ! Tiêc thay đường lối cắt nghĩa có tính cách vũ trụ học ngây thơ này xem ra còn rất thịnh hành trong các sách giáo khoa triết học.
Phusis còn được Héraclile suy tư như là logos. Logos chính là cái Đơn Nhất mà tư tưởng phải trở về qua một cuộc hành trình dài.
     Heidegger bắt đầu con đường trở về với logos bằng cách tìm hiểu legein. Legein là trải ra trước mắt sau khi đã quy tụ gặt hái và legein cũng có nghĩa là nói. (l) Cái gì được quy tụ,được gặt hái để trải ra trước mắt như vậy, cái đó đã giải thoát khỏi sự ẩn dấu để cư ngụ trong sự không che phủ, trong hiện diện. Cũng thế cái gì được nói lên, được diễn tả ra, cái đó được đặt hiện diện trước mắt. Cho nên logos là làm cho vật thể xuất hiện, làm cho vật thể trải ra trước mắt chúng ta. Logos làm cho chúng ta thấy được cái gì bày tỏ ra trong ánh sáng. Logos là ánh sáng. Logos qui tụ vạn vật. Logos là Nhất Thể của vạn vật. Nhất Thể hợp nhất Tất Cả. Nhất Thể là lý nhất quán của Tất Cả Nhất Thể là hữu thể (Etre) và Tất Cả là vật thể (étants) Từ hữu thể (Etre) vật
 
(1) M. Heidegger : Essais et Conférences, Gallimard, t. 251
 
 
 
suy tư về logosnhư là logos),nhưng ông cũng bắt đầu cho Sự suy đổi tiếp theo sau (vì ông đã suy tư về logosnhư là khai lộ và bỏ quên logosnhư là ẩn dấu để người ta có thể nghĩ rằng hữu thể là hiện diện).
 

II. HỮU THỂ NHƯ LÀ THẾ GIỚI TỨ TRỤ
Sự vật là dụng thể trong Sein und Zeit.Dụng thể là cách thế để hiện thể và vật thể sáp gần lại với nhau. Và thế giới là chân trời của sự sáp gần này. Nhưng quan niệm sự vật là vật thể đã bị vượt qua trong những suy tư sau này của Heidegger. Vậy sự vật xuất hiện như thế nào trong những suy tư sau này?
Sự vật là gì ? (1)
Người ta vẫn gọi cái ấm là sự vật. Nhưng cái ấm là gì? Cái ấm là cái binh chứa được người thợ làm đồ gốm làm ra. Người thợ làm ấm bằng đất. Và khi nhìn cái ấm như là một cái bình chứa được làm ra chúng ta nhìn nó như sự vật và không như một đối vật được biểu tượng thuần túy (2). Nhưng sự vật là gì? Sự vật xảy đến một mặt từ sự được làm ra, mặt khác xẩy đến để trì ngự trong sự không ẩn dấu của các sự vật hiện diện. Cái ấm là sự vật xét ra như là bình chứa.
 
 
  1. Das Ding : la Chose : sự vật
  2. M. Heidegger: Essais et Conférences, Gallimard, t.197
 
 
 
Thật ra chất liệu không làm nên cái bình. Chính khoảng không có thể chứa đựng nước hay rượu làm cho cái bình là cái bình.
Bình đựng nước hay rượu. Nước phát xuất từ suối nguồn. Trong suối nguồn hiện diện đá và trong đá hiện diện giấc ngủ say của đất và đất nhận mưa và sương từ trời. Những đám cưới của trời và đất hiện diện trong nước của suối nguồn. Cũng thế trời và đất hiện diện trong rượu vì rượu phát xuất từ trái nho nẩy sinh từ chất nuôi dưỡng của đất và sức nóng của trời. Như vậy cái ấm đựng nước và rượu qui tụ cả trời và đất (1).
Và rượu được rót vào ấm để dâng cho con người ( mor- tels) (2). Nó làm dịu cơn khát của con người. Nó làm con người vui sướng. Nhưng rượu còn có thể được dâng lên thần linh (dieux) bất tử. Cả con nguời và thần linh đều hiện diện trong sự rót ruợu này. Như vậy cái ấm qui tụ cả con người và thần linh (3).
Tóm lại cái ấm qui tụ cả đất và trời, cảnhân và thần. Chính vì thế nó là sự vật (Ding). Nó làm hiện diện thế giới như là tứ trụ (qusdriparti) của đất và trời, nhân và thần (4)
Đất là nơi cưu mang và là nơi cư ngụ, là kẻ sinh sản và
 
 
  1. M. Heidegger: Essais et Conférences, Gallimard, t. 204
  2. Mortel chỉ con người xét như là hữu-qui-tử. Chúng tôi dịch mortel là con người, nhân.
  3. M. Heidegger : Essais et Conférences, Gallimard, t. 204
  4. M. Heidegger: Essais et Conférences, Gallimard, t. 205
 
 
 
là kẻ nuôi dưỡng, che chở nước và đá, thảo mộc và súc vật. Trời là lộ trình của mặt trài, là sự tiến triển của mặt trăng, là tia sáng của tinh tú, là mùa của năm, là ánh sáng và xế bóng của ngày, là bóng tối và sự sáng của đêm, là sự êm dịu và gay gắt của khí hậu, là sự tan hợp của mây, là chiều sâu xanh thẳm của không khí. Thần là kẻ ra dấu hiệu, là sứ giả của thần minh (Divinité), và bởi sức mạnh ẩn dấu của thần minh thần xuất hiện mà không thể đem so sánh với các sự vật hiện diện. Nhân là con người khả tử, là cou người mang cái chết từ lúc sinh ra. Chỉ con người mới chết được (meurt). Con vật chỉ tiêu tan (périt). Chết là vòng cầu của vô thể. Vô thể không bao giờ là vật thể. Vô thể cấu tạo sự bí mật của hữu thể. Nói khác chết là nơi cư ngụ của hữu thể. Cho nên khi nói con người khả tử không phải nói rằng con người sẽ chấm dứt cuộc đời, nhưng nói rằng con người có thể chết xét như là chết chính như là khả tử mà con người tìm thấy trong hữu thể của nó nơi cư ngụ của hữu thể. Con người khả tử là mối tương quan đang hoàn thành với hữu thể xét như là hữu thể (1)
     Sự vật qui tụ cả bốn lại. Qui tụ như thế nó làm cho cả bốn gần lại với nhau trong sự xa xôi của chúng.
     Khi chúng ta nói đến đất chúng ta đã nghĩ đến trời, nhân và thần. Khi chúng ta nói đến trời chúng ta đã nghĩ đến đất, nhân và thần. Khi chúng ta nói đến thần chúng ta đã nghĩ đến đất và trời, nhân. Khi chúng ta nói đến nhân chúng ta đã nghĩ đến đất và trời, thần. Mỗi một trong bốn đều phản ánh, trong cách thể của nó, hữu thể của ba kia,
 
  1. M. Heidegger : Essais et Conférencens, Gallimard,t. 212, 213
 
 
 
và phản ánh như thế trong đơn nhất tính của cả bốn. Cái trò chơi gương này giữa đất và trời, thần và nhân được Heidegger gọi là thế giới. Thế giới chơi cái trò chơi này. Cái trò chơi của thế giới làm cho xuất hiện đất và trời, thần và nhân. Vạn vật là trò chơi của thế giới.
Thật ra với Heidégger cái làm cho vạn vật xuất hiện, đất hay trời và thần hay nhân, là hữu thể. Cho nên thế giới là hình ảnh của hữu thể. Thế giới là hữu thể. Sự vật qui tụ đất và trời, thần và nhân. Sự vật là nơi phát lộ của thế giới. Thế giới nằm trong sự vật, hữu thể nằm trong sự vậtlàm cho sự vật là sự vật. Thế giới làm cho sự vật có thể qui tụ đất và trời, nhân và thần. Sự vật được khai lộ trong rơ cấu của thế giới. Với Heidegger sự khai lộ giả thiểt sự ẩn dấu đi trước. Chân lý giả thiết vô chân. Hơn nữa sự khai lộ xuất phát từ khai thể (1‘ouvert). Khai thể là lãnh vực trong đó xảy ra sự gặp gỡ giữa con người và sự vật. Nhưng con người chỉ có thểxuất hữu trong khai thể vì con người am hiểu hữu thể, đáp lại tiếng nói của hữu thể. Con người là âm vang của hữu thể. Thế giới tứ trụ xây dựng trên đất và trời, thần và nhân. Đất chính là sự tăm tối, sự ẩn dấu. Đất khai mở ra như là ân dấu đi. Trời chính là sự khai lộ, sự khám phá ra vật thể, chính là sự mở toang làm cho đất thoát khỏi sự tăm tối. Thế giới là cuộc chiến tranh giữa đất và trời. Thế giới là cuộc chiến tranh giữa ẩn dấu và khai lộ. Nhưng đó là một cuộc chiến tranh thân mật vì đất và trời, ẩn dấu và khai lộ quấn quít lấy nhau, không hao giờ rời bỏ ôm ấp nhau cả. Thế giới là sự khai mở vật thể của sự ẩn dấu nguyên thủy hơn. Nhân chính là con người khả tử. Con người khả tử chính là kẻ cưu mang vô thể. Con người khả tử chính là nơi ngự trị của chân lý. Nhưng sở dĩ con người khả tử là kẻ cưu mang vô thể, là nơi ngự
 
 
 
trị của chân lý vì con người khả tử biết đáp lại tiếng.. gọi của thần linh. Thần linh là tiếng gọi xa xăm của hữu thể. Thần linh là tiếng gọi con người thoát khỏi kiếp sống đọa đày chìm đắm trong « thế giới» xét như là tổng số các vật thể. Thần linh gọi con người từ bỏ bất thực tính của đời sống thường nhật để trở về với thực tính của kẻ khả tử. Thế giới là sự giao hợp giữa nhân và thần, giữa con người khả tử và tiếng gọi của Xa lạ.
Tóm lại thế giới là tấm gương trong đó đất và trời, nhân và thần phản chiếu lẫn nhau. Cái này phản chiếu ba cài kia. Đất (sự ẩn dấu) phản chiếu trời (sự khai lộ), phản chiếu nhân (kẻ cưu mang hữu-vô thể) và phản chiếu thần (tiếng gọi của Xa lạ). Trời (sự khai lộ) đáp lại tiếng gọi của đất (sự ẩn dấu), đáp lại tiếng gọi của nhân (kẻ cưu mang hữu-vô thể) và đáp lại tiếng gọi của thần (tiếng gọi của Xa lạ). Nhân (kẻ cưu mang hữu-vô thể) qui tụ đất (sự ẩn dấu), qui tụ trời (sự khai lộ) và qui tụ thần (tiếng gọi của Xa lạ). Thần (tiếng gọi của Xa lạ) gọi tên đất (sự ẩn dấu), gọi tên trời (sự khai lộ) và gọi tên nhân (kẻ cưu mang hữu-vô thể).
Sự vật là nơi phát lộ của thế giới cũng như trước kia hiện thể là nơi xuất lộ của hữu thể. Từ sự vật chúng ta có thể trở về với thế giới cũng như trước kia từ hiện thể chúng ta có thể trở về vô hữu thể.
KẾT LUẬN
Chúng ta vừa trình bày một vài điểm về Heidegger I và Heidegger II. Thực ra tư tưởng của Heidegger quá phong phú
 
 
 
phong phú đếu nỏi khi đọc Heidegger người ta có cảm tưởng bị ngụp lặn trong đại dương. Nhưng tất cả những tư tưởng phong phú trên đều qui về cái Đơn Nhất. Cái Đơn Nhất là mối nhất quán qui tụ tất cả mọi trình bày phức tạp của Heidegger. Và khi nắm được cái Đơn Nhất này việc đọc Heidegger trở nên dễ dàng không thể ngờ được.
Chúng ta vừa nói đến hai Heidegger, I và II. Giữa Heideg­ger I và Heidegger II không có một bức tường ngăn cách. Heidegger I và Heidegger II là một. Tuy nhiên giữa Heidegger I và Heidegger II có sự đảo ngược. Heidegger I và Heidegger
tuy một mà hai (1).
Heidegger I suy tư về tiến trình từ hiện thể đến hữu thể. Hữu thể xuất hiện ra như là vô thể. Để lĩnh hội được vô thể này hiện thể phải quyết ý chấp nhận thần phận hữu hạn cùng tột của một hữu-qui-tử. Quyết ý chấp nhận là thể hiện bản tánh trung thực. Thể hiện bản tánh trung thực là giải thoát khỏi hiện hữu sa đọa chìm đắm trong vật thể để xao xuyến về vô thể. Heidegger II suy tư về tiến trình từ hữu thể đến hiện thể. Hưu thể phát lộ ra như phusis-logos qui tụ vạn vật, như là thế giới tứ trụ. Để lĩnh hội được hữu thể phát lộ này con người thi ca phải xây dựng tư tưởng. Tư tưởng là sự đáp lại tiếng gọi của hữu thể. Đáp lại tiếng gọi của hữu thể là để hữu thể có thể phát lộ ra được.
Như vậy ở Heidegger I hữu thể xuất hiện ra như là vô thể-nghĩa là dưới bộ mặt tiêu cực ; ởHeidegger II hữu
 
(1) W. Richardson nói đến Ur-Heidegger trong Heidegger,through Phenomenology to Thought, Nijhoff The Hague, t. 628-633
 
 
 
thể xuất hiện như là phusis-logos, như là thế giới tứ trụ- nghĩa là dưới bộ mặt tích cực.
Chính hiện tượng học về hữu thể như là vô thể làm cho tư tưởng về hữu thể như là phusis-logos,như là thế giới tứ trụ có thể có được Nói cách khác hữu thể như là vô thể là nền tảng cho hữu thể như là phusis-logos, như là thế giới tứ trụ. Thực ra vì hữu thể là vô thể hữu thể là khuất diện. Các hình thái phát lộ của hữu thể không diễn tả được toàn thể hữu thể. Các hình thái của hữu thể chỉ là sư phát lộ hữu hạn của hữu thể. Và chính tư tưởng về hữu thể là nền tảng cho dự phóng của hiện tượng học về hữu thể. Tất cả cố gắng của Sein und Zeitđều là tìm một ngôn từ để diễn đạt được hữu thể. Nói khác Sein und Zeitcũng nằm trên cuộc hành trình của tư tưởng.
Thật ra cố gắng chung của Heidegger vẫn là làm thế nào đểnói lên được hữu thể. Chính vì thế tất cả các con đường của tư tưởng đều dẫn qua ngôn ngữ (1) hav ngôn ngữ là nhà của hữu thể (2). Ngôn ngữ là nơi cư ngụ của chân lý của hữu thể. Cho nên vấn đề ngôn ngữ là vấn đề chân lý của hữu thể. Vậy thì vấn đề ngôn ngữ được đặt ra như thế nào trong tư tưởng của Heidegger?
TRẦN CÔNG TIẾN
 
  1.  M. Heidegger : Essais et Conférences, Gallimard, t.9.
  2. M. Heidegger : Lettre sur 1' humanisme, Aubier, nouvelle édition revue 1964, t.27
 
 
 
/6
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »