KINH ĐẠI BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA
QUYỂN 408
Phẩm 6: THIỆN HIỆN (3)
Lại nữa này Thiện Hiện, theo ý ông thế nào là Đại Bồ-tát? Khái niệm về địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thường của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thường của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô thường của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô thường của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vui của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vui của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về khổ của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về khổ của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về ngã của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về ngã của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô ngã của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô ngã của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịnh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịnh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất tịnh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất tịnh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về không của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về không của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất không của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất không của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu tướng của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu tướng của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô tướng của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô tướng của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu nguyện của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu nguyện của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô nguyện của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô nguyện của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịch tĩnh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịch tĩnh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng tịch tĩnh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng tịch tĩnh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về xa lìa của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về xa lìa của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng xa lìa của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng xa lìa của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tạp nhiễm của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tạp nhiễm của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thanh tịnh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thanh tịnh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về sinh của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về sinh của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về diệt của địa giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về diệt của thủy, hỏa, phong, thức giới là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
Lại nữa này Thiện Hiện, theo ý ông thế nào là Đại Bồ-tát? Khái niệm về vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thường của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thường của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô thường của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô thường của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vui của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vui của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về khổ của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về khổ của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về ngã của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về ngã của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô ngã của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô ngã của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịnh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịnh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất tịnh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất tịnh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về không của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về không của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất không của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về bất không của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu tướng của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu tướng của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô tướng của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô tướng của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu nguyện của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về hữu nguyện của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô nguyện của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về vô nguyện của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịch tĩnh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tịch tĩnh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng tịch tĩnh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng tịch tĩnh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về xa lìa của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về xa lìa của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng xa lìa của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về chẳng xa lìa của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tạp nhiễm của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về tạp nhiễm của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thanh tịnh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về thanh tịnh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về sinh của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về sinh của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về diệt của vô minh là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
–Khái niệm về diệt của hành cho đến lão tử là Đại Bồ-tát chăng?
–Bạch Thế Tôn, không!
Lúc bấy giờ, Phật bảo Cụ thọ Thiện Hiện:
–Ông xem xét nghĩa nào mà nói như vầy: “Khái niệm về các pháp sắc… không phải là Đại Bồ-tát”? Lại xem xét nghĩa nào mà nói như vầy: “Khái niệm về các pháp sắc… hoặc thường, hoặc vô thường, hoặc vui, hoặc khổ, hoặc ngã, hoặc vô ngã, hoặc tịnh, hoặc bất tịnh, hoặc không, hoặc bất không, hoặc hữu tướng, hoặc vô tướng, hoặc hữu nguyện, hoặc vô nguyện, hoặc tịch tĩnh hoặc chẳng tịch tĩnh, hoặc xa lìa hoặc chẳng xa lìa, hoặc tạp nhiễm, hoặc thanh tịnh, hoặc sinh, hoặc diệt cũng không phải là Đại Bồ-tát”?
Khi ấy, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt
được vì tánh chẳng có huống là có khái niệm về các pháp sắc… khái niệm về các pháp này đã không có, sao có thể nói khái niệm về các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, thường của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có vô thường của các pháp sắc… Thường, vô thường của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về thường, vô thường của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã không có, sao lại có thể nói khái niệm về thường, vô thường của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, vui của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có khổ của các pháp sắc… Vui, khổ của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về vui, khổ của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về vui, khổ của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, ngã của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có vô ngã của các pháp sắc… Ngã, vô ngã của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về ngã, vô ngã của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về ngã, vô ngã của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, tịnh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có bất tịnh của các pháp sắc… Tịnh, bất tịnh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về tịnh, bất tịnh của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về tịnh, bất tịnh của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, bất không của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có không của các pháp sắc… Không, bất không của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về không, bất không của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về không, bất không của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, hữu tướng của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng
thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có vô tướng của các pháp sắc… Hữu tướng, vô tướng của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về hữu tướng, vô tướng của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về hữu tướng, vô tướng của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, hữu nguyện của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có vô nguyện của các pháp sắc… Hữu nguyện, vô nguyện của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về hữu nguyện, vô nguyện của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về hữu nguyện, vô nguyện của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, tịch tĩnh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có chẳng tịch tĩnh của các pháp sắc… Tịch tĩnh, chẳng tịch tĩnh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về tịch tĩnh, chẳng tịch tĩnh của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về tịch tĩnh, chẳng tịch tĩnh của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, sự xa lìa của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có cái chẳng xa lìa của các pháp sắc… Xa lìa, chẳng xa lìa của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về xa lìa, chẳng xa lìa của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về xa lìa, chẳng xa lìa của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, tạp nhiễm của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có thanh tịnh của các pháp sắc… Tạp nhiễm, thanh tịnh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về tạp nhiễm, thanh tịnh của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về tạp nhiễm, thanh tịnh của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Bạch Thế Tôn, sinh của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể
nắm bắt được vì tánh chẳng có, huống là có diệt của các pháp sắc… Sinh, diệt của các pháp sắc… rốt ráo còn chẳng thể nắm bắt được, huống là có khái niệm về sinh, diệt của các pháp sắc… Khái niệm về các pháp này đã chẳng có, sao lại có thể nói khái niệm về sinh, diệt của các pháp sắc… là Đại Bồ-tát!
Phật dạy:
–Này Thiện Hiện, lành thay, lành thay! Đúng vậy, đúng vậy, đúng như lời ông nói!
Này Thiện Hiện, vì các pháp sắc… và thường, vô thường… chẳng thể nắm bắt được nên khái niệm về các pháp sắc… và khái niệm về thường, vô thường… chẳng thể nắm bắt được. Vì pháp và khái niệm chẳng thể nắm bắt được nên các Đại Bồ-tát cũng chẳng thể nắm bắt được. Vì các Đại Bồ-tát chẳng thể nắm bắt được nên tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng chẳng thể nắm bắt được.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa nên học như vậy.
Lại nữa này Thiện Hiện, trước ông đã nói: “Con hoàn toàn không thấy có một pháp nào có thể gọi là Đại Bồ-tát.” Đúng vậy, đúng vậy, đúng như lời ông nói!
Này Thiện Hiện, các pháp không thấy các pháp. Các pháp không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy các pháp. Pháp giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy sắc giới. Sắc giới không thấy pháp giới… Pháp giới không thấy thọ, tưởng, hành, thức giới. Thọ, tưởng, hành, thức giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy nhãn xứ. Nhãn xứ không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy sắc xứ. Sắc xứ không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ. Thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy nhãn giới. Nhãn giới không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy sắc giới. Sắc giới không
thấy pháp giới. Pháp giới không thấy thanh, hương, vị, xúc, pháp giới. Thanh, hương, vị, xúc, pháp giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy nhãn thức giới. Nhãn thức giới không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới. Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy địa giới. Địa giới không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy thủy, hỏa, phong, không, thức giới. Thủy, hỏa, phong, không, thức giới không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, pháp giới không thấy vô minh. Vô minh không thấy pháp giới. Pháp giới không thấy hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử. Hành cho đến lão tử không thấy pháp giới.
Này Thiện Hiện, cảnh giới hữu vi không thấy cảnh giới vô vi. Cảnh giới vô vi không thấy cảnh giới hữu vi.
Này Thiện Hiện, chẳng phải lìa hữu vi mà lập vô vi, chẳng phải lìa vô vi mà lập hữu vi.
Như vậy này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành mà Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với tất cả pháp đều không thấy, vì không thấy nên tâm không KINH ngạc, không sợ hãi, đối với tất cả pháp, tâm không chìm đắm cũng chẳng lo buồn, ăn năn. Vì sao? Này Thiện Hiện, vì Đại Bồ-tát này khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa sâu xa như vậy, không thấy sắc, không thấy thọ, tưởng, hành, thức; không thấy nhãn xứ, không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý xứ; không thấy sắc xứ, không thấy thanh, hương, vị, xúc, pháp xứ; không thấy nhãn giới, không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý giới; không thấy sắc giới, không thấy thanh, hương, vị, xúc, pháp giới; không thấy nhãn thức giới, không thấy nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức giới; không thấy địa giới, không thấy thủy, hỏa, phong, không, thức giới; không thấy vô minh, không thấy hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử; không thấy tham dục, không thấy sân giận, ngu si; không thấy ngã, không thấy hữu tình, dòng sinh mạng, sự sinh khởi, sự nuôi dưỡng, sự trưởng thành, chủ thể luân hồi, ý sinh, nho đồng, khả năng tạo nghiệp, khả năng thọ quả báo, cái biết, cái thấy; không thấy Dục giới, không thấy Sắc giới, Vô sắc giới, không thấy Thanh văn và pháp Thanh văn, không thấy Độc giác và pháp Độc giác, không thấy Bồ-tát và pháp
Bồ-tát, không thấy chư Phật và pháp chư Phật, không thấy quả vị Giác ngộ cao tột.
Như vậy này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát đối với tất cả pháp đều không thấy. Vì không thấy nên tâm không kinh ngạc, không sợ hãi, đối với tất cả pháp, tâm không chìm đắm cũng chẳng lo buồn, ăn năn.
Bấy giờ, Cụ thọ Thiện Hiện bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, lại do nhân duyên nào các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với các pháp tâm không chìm đắm cũng chẳng lo buồn, ăn năn?
Phật bảo:
–Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa đối với tất cả pháp tâm, tâm sở đều không thủ đắc, không thấy. Do đó, đối với tất cả pháp, tâm không chìm đắm cũng chẳng lo buồn, ăn năn.
Cụ thọ Thiện Hiện lại bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa do nhân duyên nào mà đối với tất cả pháp tâm không KINH ngạc, không sợ hãi?
Phật bảo:
–Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa đối với tất cả ý và ý giới đều không thủ đắc, không thấy.
Như vậy này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với tất cả pháp, tâm không KINH ngạc, không sợ hãi.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát đối với tất cả pháp vô sở đắc nên hành Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, đối với tất cả nơi và tất cả thời không thủ đắc Bát-nhã ba-la-mật-đa, không thủ đắc danh Bát-nhã ba-la-mật-đa, không thủ đắc Đại Bồ-tát, không chấp danh Đại Bồ-tát, cũng không thủ đắc Đại Bồ-tát.
Này Thiện Hiện, nên dạy bảo, trao truyền cho các Đại Bồ-tát như vậy, đối với Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cho đều được thành tựu.