Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 26 - Bộ Bát-Nhã IX - Số 220 (Quyển 401- 450)

Đại Tập 26 - Bộ Bát-Nhã IX - Số 220 (Quyển 401- 450)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 976.

Chương 28: Kinh Đại Bát- Nhã Ba- La- Mật- Đa Quyển 415, Phẩm 18: Tu Sửa Các Địa (1) (Trang 298 - 308)

 của môn các chữ như vậy, nghe rồi thọ trì, đọc tụng thông suốt, giải nói cho người khác mà không mong cầu danh dự, lợi dưỡng, sự cung kính, do đó được hai mươi công đức thù thắng. Những gì là hai mươi?
Đó là: Được sự ghi nhớ tốt, được sự hỗ thẹn cao quý, được sức bền bỉ, được pháp hướng đến, được sự giác ngộ tăng thượng, được trí tuệ thù thắng, được biện tài vô ngại, được pháp môn tổng trì, được không có nghi hoặc, được không sinh ghét ưa đối với ngôn ngữ trái, thuận, được trụ bình đẳng không có cao thấp, được nói lời khéo léo đối với hữu tình, được uẩn thiện xảo, giới thiện xảo, xứ thiện xảo, đế thiện xảo, được duyên khởi thiện xảo, nhân thiện xảo, duyên thiện xảo, pháp thiện xảo, được trí căn thắng liệt thiện xảo, trí biết tâm người khác thiện xảo, được trí xem sao lịch thiện xảo, được trí Thiên nhĩ thiện xảo, được trí nhớ nghĩ việc đời trước thiện xảo, được trí thần thông thiện xảo, trí sinh tử thiện xảo, được trí lậu tận thiện xảo, được trí thuyết xứ phi xứ thiện xảo, được trí vãng lai thiện xảo, phép oai nghi thiện xảo.
Này Thiện Hiện, đó là hai mươi công đức thù thắng.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, dùng vô sở đắc làm phương tiện, được các môn Đà-la-ni như vậy. Nên biết đó là tướng Đại thừa của Đại Bồ-tát.

                                             Phẩm 18: TU SỬA CÁC ĐỊA (1)

Lại nữa này Thiện Hiện, ông hỏi làm thế nào biết được Đại Bồ-tát phát tâm hướng đến Đại thừa. Đại Bồ-tát nào khi tu hành sáu pháp Ba-la-mật-đa từ địa này đến địa khác, thì bằng cách này sẽ biết Đại Bồ-tát phát tâm hướng đến Đại thừa.
Thế nào là Đại Bồ-tát khi tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa từ địa này đến địa khác?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát biết tất cả pháp không từ đâu đến, cũng không đến đâu. Vì sao? Này Thiện Hiện, vì tất cả pháp không đi, không đến, không có nơi xuất phát, không có nơi hướng đến, vì các pháp đó không có biến hoại.
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đối với nơi xuất phát, hướng đến
 không ỷ lại, không tư duy, tuy  tu sửa nghiệp các địa nhưng không thấy địa ấy, đó là Đại Bồ-tát khi tu hành sáu pháp Ba-la-mật-đa từ địa này đến địa khác.
Thế nào là Đại Bồ-tát tu sửa nghiệp các địa?
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi trụ Sơ địa nên khéo tu sửa mười thắng nghiệp. Những gì là mười?
1.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tăng thêm ý vui thích, vì sự tướng lợi ích chẳng thể nắm bắt được.
2.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tâm bình đẳng với tất cả hữu tình, tất cả hữu tình chẳng thể nắm bắt được.
3.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp bố thí, vì người cho, người nhận và vật cho chẳng thể nắm bắt được.
4. Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thân cận bạn lành, vì đối với các bạn lành không chấp trước.
5.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp cầu pháp, vì các pháp mong cầu chẳng thể nắm bắt được.
6.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thường muốn xuất gia, vì xả bỏ gia đình chẳng thể nắm bắt được.
7. Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp ưa thích thân Phật, vì nhân tốt theo nhau chẳng thể nắm bắt được.
8. Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp xiển dương giáo pháp, vì pháp phân biệt chẳng thể nắm bắt được.
9.Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp phá kiêu mạn, vì các pháp hưng thạnh chẳng thể nắm bắt được.
10. Dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp lời nói chân thật, vì tất cả ngôn ngữ chẳng thể nắm bắt được.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ Sơ địa, nên khéo tu sửa mười thắng nghiệp này.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ hai, nên đối với tám pháp tư duy, tu tập làm cho mau được viên mãn. Những gì là tám?
1.Giới thanh tịnh.
2.Tri ân báo ân.
3.An trụ lực nhẫn nhục.
4.Thọ nhận nhiều hoan hỷ.
5.Không bỏ hữu tình.
6.Thường sinh lòng đại Bi.
7.Đối với các bậc Sư trưởng đem tâm tin tưởng, cung kính, phụng sự, cúng dường như phụng sự chư Phật.
8.Siêng năng mong cầu, tu tập pháp Ba-la-mật-đa.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ hai, đối với tám pháp này nên tư duy, học tập làm cho mau được viên mãn.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ ba nên an trụ năm pháp. Những gì là năm?
1.Siêng năng mong cầu nghe nhiều thường không nhàm chán, đối với pháp được nghe không chấp văn tự.
2.Đem tâm không nhiễm thường hành pháp thí, tuy giáo hóa nhiều nhưng không tự cao.
3.Làm trang nghiêm cõi tịnh độ, gieo trồng các căn lành, tuy dùng để hồi hướng nhưng không tự cao.
4.Vì giáo hóa hữu tình, tuy không nhàm chán vô biên sinh tử nhưng không kiêu mạn, buông lung.
5.Tuy an trụ tàm quý nhưng không chấp trước.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ ba, nên luôn luôn an trụ năm pháp như vậy.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ tư, nên đối với mười pháp thọ trì không bỏ. Những gì là mười?
1.Sống vắng lặng thường không lìa bỏ.
2.Thường ưa thiểu dục.
3.Thường ưa biết đủ.
4.Thường lìa bỏ công đức Đỗ-đa.
5.Đối với các học xứ thường không xả bỏ.
6.Đối với các dục lạc sinh lòng rất nhàm chán.
7.Thường ưa phát sinh tâm tương ưng với tịch diệt.
8.Xả bỏ tất cả vật.
9.Tâm không trầm trệ.
10.Đối với tất cả vật thường không luyến tiếc.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ tư, đối với mười pháp như vậy nên thọ trì, không xả bỏ.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ năm,
nên xa lìa mười pháp. Những gì là mười?
1.Nên xa lìa nhà ở.
2.Nên xa lìa Bí-sô-ni.
3.Nên xa lìa nhà keo kiệt.
4.Nên xa lìa chúng hội tranh cãi, giận dữ.
5.Nên xa lìa việc khen mình chê người.
6.Nên xa lìa mười nghiệp bất thiện.
7.Nên xa lìa tăng thượng ngạo mạn.
8.Nên xa lìa điên đảo.
9.Nên xa lìa do dự.
10.Nên xa lìa tham, sân, si.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ năm, nên luôn luôn xa lìa mười pháp như vậy.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ sáu, nên viên mãn sáu pháp. Những gì là sáu? Đó là sáu pháp Ba-la-mật-đa, tức là Bố thí cho đến Bát-nhã. Lại nên xa lìa sáu pháp. Những gì là sáu?
1.Tâm Thanh văn.
2.Tâm Độc giác.
3.Tâm nóng nảy.
4.Tâm không vui buồn bực khi thấy người hành khất đến.
5.Tâm ưu buồn, luyến tiếc khi xả bỏ vật sở hữu.
6.Tâm đối với người đến xin, tìm cách dối gạt.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ sáu, luôn luôn nên viên mãn sáu pháp nói trước và nên xa lìa sáu pháp nói sau.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ bảy, nên xa lìa hai mươi pháp. Những gì là hai mươi?
 1.Nên xa lìa chấp ngã cho đến chấp cái thấy.
2.Nên xa lìa chấp đoạn.
3.Nên xa lìa chấp thường.
4.Nên xa lìa chấp tướng.
5.Nên xa lìa chấp kiến.
6.Nên xa lìa chấp danh sắc.
7.Nên xa lìa chấp uẩn.
8.Nên xa lìa chấp xứ.
9.Nên xa lìa chấp giới.
10.Nên xa lìa chấp đế.
11.Nên xa lìa chấp duyên khởi.
12.Nên xa lìa chấp đắm trước trong ba cõi.
13.Nên xa lìa chấp tất cả pháp.
14.Nên xa lìa chấp tất cả pháp như lý, bất như lý.
15.Nên xa lìa kiến chấp lệ thuộc Phật.
16.Nên xa lìa kiến chấp lệ thuộc pháp.
17.Nên xa lìa kiến chấp lệ thuộc Tăng.
18.Nên xa lìa kiến chấp lệ thuộc giới.
19.Nên xa lìa kiến chấp lệ thuộc không.
20.Nên xa lìa nhàm chán, lo sợ tánh không.
Lại nên viên mãn hai mươi pháp. Những gì là hai mươi?
1.Nên viên mãn việc thông đạt Không.
2.Nên viên mãn việc chứng Vô tướng.
3.Nên viên mãn việc biết Vô nguyện.
4.Nên viên mãn ba luân thanh tịnh.
5.Nên viên mãn việc thương xót hữu tình và đối với hữu tình không chấp trước.
6.Nên viên mãn việc thấy tất cả pháp bình đẳng và đối với điều này không chấp trước.
7.Nên viên mãn thấy tất cả hữu tình bình đẳng và đối với điều này không chấp trước.
8. Nên viên mãn sự thông đạt nghĩa lý chân thật và ở trong đó không chấp trước.
9.Nên viên mãn trí Vô sinh nhẫn.
10.Nên viên mãn việc thuyết tất cả pháp nghĩa lý nhất tướng.
11.Nên viên mãn việc diệt trừ phân biệt.
12.Nên viên mãn việc xa lìa các tưởng.
13.Nên viên mãn việc xa lìa các kiến.
14.Nên viên mãn việc xa lìa phiền não.
15.Nên viên mãn địa chỉ quán.
16.Nên viên mãn việc điều phục tâm tánh.
17.Nên viên mãn tịch tĩnh tâm tánh.
18.Nên viên mãn trí tánh vô ngại.
19.Nên viên mãn việc không có ái nhiễm.
20.Nên viên mãn việc tùy theo ý muốn đến các cõi Phật, ở trong chúng hội Phật tự hiện thân mình.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ bảy, luôn luôn nên xa lìa hai mươi pháp nói trước và nên viên mãn hai mươi pháp nói sau.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ tám, nên viên mãn bốn pháp. Những gì là bốn?
1.Nên viên mãn hiểu rõ tâm hành của tất cả hữu tình.
2.Nên viên mãn các thần thông tự tại.
3.Nên viên mãn việc thấy các cõi Phật và như cái thấy của mình mà tự trang nghiêm các cõi Phật.
4.Nên viên mãn việc phụng sự, cúng dường chư Phật Thế Tôn, đối với thân Như Lai, quán sát như thật.  
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ tám, đối với bốn pháp này nên cố gắng viên mãn.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ chín, nên viên mãn bốn pháp. Những gì là bốn?
1.Nên viên mãn trí căn thắng liệt.
2.Nên viên mãn nghiêm tịnh cõi Phật.
3.Nên viên mãn đẳng trì như huyễn, thường nhập các định.
4.Nên viên mãn việc tùy theo căn lành của các hữu tình đã thuần thục nên vào các cõi tự hiện thân hóa sinh.
 Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ chín, đối với bốn pháp này nên cố gắng viên mãn.
Lại nữa này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ mười, nên viên mãn mười hai pháp. Những gì là mười hai?
1.Nên viên mãn việc nhiếp thọ đại nguyện ở vô biên xứ sở, đại nguyện tùy theo sở nguyện đều làm cho chứng đắc.
2. Nên viên mãn trí tuệ âm thanh tùy theo các chúng Trời, Rồng và Dược-xoa khác nhau…
3.Nên viên mãn việc biện thuyết vô ngại.
4.Nên viên mãn việc vào thai đầy đủ.
5. Nên viên mãn việc ra đời đầy đủ.
6.Nên viên mãn gia tộc đầy đủ.
7.Nên viên mãn dòng họ đầy đủ.
8.Nên viên mãn quyến thuộc đầy đủ.
9.Nên viên mãn sinh thân đầy đủ.
10.Nên viên mãn xuất gia đầy đủ.
11.Nên viên mãn trang nghiêm cội Bồ-đề đầy đủ.
12.Nên viên mãn tất cả công đức thành tựu đầy đủ.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ mười nên cố gắng viên mãn mười hai pháp này.
Này Thiện Hiện, ông nên biết, Đại Bồ-tát nào an trụ địa Thứ mười rồi, nên nói không khác chư Như Lai.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tăng thêm ý vui thích?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào dùng tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, tu tập tất cả căn lành thù thắng. Đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tăng thêm ý vui thích.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tâm bình đẳng đối với tất cả hữu tình?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào dùng tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí phát khởi bốn Vô lượng tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp tâm bình đẳng với tất cả hữu tình.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp bố thí?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đối với tất cả hữu tình thực hành bố thí không phân biệt, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp bố thí.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thân cận bạn lành?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào thấy các bạn lành khuyến hóa hữu tình làm cho họ tu tập trí Nhất thiết trí, lại thân cận, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, thưa hỏi, lãnh thọ chánh pháp ngày đêm phụng sự tâm không mệt mỏi biếng nhác, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thân cận bạn lành.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp cầu pháp?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đem tác ý tương ưng với trí Nhất thiết trí, siêng năng mong cầu Chánh pháp vô thượng của Như Lai, không rơi vào địa vị Thanh văn, Độc giác…, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp cầu pháp.
Thế nào Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thường ưa xuất gia?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đối với tất cả nơi ở thường nhàm chán nhà ở ồn ào, phức tạp, khó chịu giống như lao ngục, thường thích Phật pháp thanh tịnh, xuất gia tịch tĩnh vô vi như hư  không, không chướng ngại, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp thường ưa xuất gia.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp ưa thích thân Phật?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào một khi trông thấy hình tướng Phật rồi cho đến chứng đắc trí Nhất thiết trí hoàn toàn không bỏ tác ý niệm Phật, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp ưa thích thân Phật.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp xiển dương giáo pháp?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào khi Phật còn tại thế và sau khi Niết-bàn vì các hữu tình, xiển dương giáo pháp đầu, giữa, sau đều thiện, văn nghĩa xảo diệu, thuần nhất, viên mãn, thanh bạch, phạm hạnh, nghĩa là từ Khế kinh cho đến Luận nghị, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp xiển dương giáo pháp.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp phá bỏ kiêu mạn?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào thường ôm lòng kính nhường, điều phục tâm kiêu mạn, do đó không sinh vào dòng họ thấp hèn, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp phá bỏ kiêu mạn.
Thế nào là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp nói lời chân thật?
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi tu Đại Bồ-tát nào nói đúng theo hiểu biết của mình, lời nói, hành động hợp nhau, đó là Đại Bồ-tát dùng vô sở đắc làm phương tiện tu sửa nghiệp nói lời chân thật.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ Sơ địa nên khéo tu sửa mười thắng nghiệp này.
Thế nào là Đại Bồ-tát giới thanh tịnh?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào không phát sinh tác ý Thanh văn, Độc giác và các điều phá giới khác làm chướng ngại pháp Bồ-đề, đó là Đại Bồ-tát giới thanh tịnh.
Thế nào là Đại Bồ-tát tri ân báo ân?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào khi thực hành hạnh thù thắng của Bồ-tát, chịu ân nhỏ của người còn phải báo đáp nhiều, huống chi là ân lớn mà không báo đáp, đó là Đại Bồ-tát tri ân báo ân.
Thế nào là Đại Bồ-tát an trụ sức nhẫn nhục?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào giả sử tất cả hữu tình đều làm hại mà có thể đối với họ không có tâm giận dữ làm hại, đó là Đại Bồ-tát an trụ lực nhẫn nhục.
Thế nào là Đại Bồ-tát được sự rất hoan hỷ thù thắng?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào thấy các hữu tình thực hành ba thừa, được thành tựu rồi, tâm rất vui mừng, đó là Đại Bồ-tát được sự rất hoan hỷ thù thắng.
Thế nào là Đại Bồ-tát không xả bỏ hữu tình?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào muốn cứu giúp khắp tất cả hữu tình, đó là Đại Bồ-tát không bỏ hữu tình.
Thế nào là Đại Bồ-tát phát lòng đại Bi?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào khi thực hành các hạnh thù thắng của Bồ-tát thường nghĩ như vầy: “Ta làm lợi ích cho tất cả hữu tình, giả sử trải qua vô lượng, vô số kiếp như hằng hà sa ở trong địa ngục lớn chịu các khổ nặng, hoặc bị đốt, hoặc bị nấu, hoặc bị mổ, hoặc bị xẻ, hoặc bị đâm, hoặc bị treo, hoặc bị xay, hoặc bị giã chịu vô lượng các khổ như vậy, cho đến làm cho các loài hữu tình kia nương vào Phật thừa mà viên tịch; tất cả cõi hữu tình như vậy cùng tận nhưng tâm đại Bi của Ta cũng không lười bỏ”, đó là Đại Bồ-tát thường phát lòng đại Bi.
Thế nào là Đại Bồ-tát đối với các bậc Sư trưởng đem lòng tin tưởng cung kính thăm hỏi phụng sự cúng dường như là phụng sự chư Phật?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào vì mong cầu quả vị Giác ngộ
 cao tột nên cung kính hiếu thuận với Sư trưởng không luyến tiếc, đó là Đại Bồ-tát đối với các bậc Sư trưởng đem lòng tin tưởng cung kính thăm hỏi phụng sự cúng dường như phụng sự chư Phật.
Thế nào là Đại Bồ-tát siêng năng mong cầu tu tập pháp Ba-la-mật-đa?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào đối với tất cả Ba-la-mật-đa chuyên tâm cầu học, không nghĩ đến các việc khác, đó là Đại Bồ-tát siêng năng mong cầu tu tập pháp Ba-la-mật-đa.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ hai, đối với tám pháp này nên suy nghĩ, học tập làm cho mau viên mãn.
Thế nào là Đại Bồ-tát siêng năng mong cầu nghe nhiều, thường không nhàm chán đối với pháp đã nghe không chấp văn tự?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào nỗ lực tinh tấn suy nghĩ như vầy: “Hoặc ở cõi Phật này hoặc ở mười phương thế giới, tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thuyết giảng chánh pháp, ta nên lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, tu học vì rốt ráo làm cho không thiếu sót mà ở trong chánh pháp đó không chấp văn tự”, đó là Đại Bồ-tát siêng năng, mong cầu nghe nhiều, thường không nhàm chán, đối với pháp đã nghe, không chấp văn tự.
Thế nào là Đại Bồ-tát đem tâm không nhiễm thường hành pháp thí, tuy giáo hóa nhiều nhưng không tự cao?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào giảng thuyết chánh pháp cho các hữu tình mà còn không đem căn lành này hồi hướng quả Bồ-đề cho mình, huống là mong cầu việc khác, tuy giáo hóa nhiều nhưng không tự thị, đó là Đại Bồ-tát đem tâm không nhiễm thường hành pháp thí, tuy giáo hóa nhiều nhưng không tự cao.
Thế nào là Đại Bồ-tát làm trang nghiêm cõi tịnh độ, gieo trồng các căn lành, tuy có hồi hướng nhưng không tự cao?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào dũng mãnh tinh tấn tu tập các căn lành, vì muốn làm trang nghiêm các cõi Phật và làm thanh tịnh tâm mình và người, tuy làm việc này nhưng không tự cao, đó là Đại Bồ-tát làm trang nghiêm cõi tịnh độ, gieo trồng các căn lành, tuy có hồi hướng nhưng không tự cao.
Thế nào là Đại Bồ-tát giáo hóa hữu tình, tuy không nhàm chán, vô biên sinh tử nhưng không kiêu mạn, buông lung?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào vì muốn giáo hóa tất cả hữu tình, gieo trồng các căn lành, làm nghiêm tịnh cõi Phật cho đến chưa viên mãn trí Nhất thiết trí, tuy chịu vô biên khổ nhọc sinh tử, nhưng không nhàm chán, cũng không tự cao, đó là Đại Bồ-tát giáo hóa hữu tình, tuy không nhàm chán vô biên sinh tử nhưng không kiêu mạn, buông lung.
Thế nào là Đại Bồ-tát tuy an trụ tàm quý mà không chấp trước?
Này Thiện Hiện, Đại Bồ-tát nào chuyên mong cầu quả Vô thượng Bồ-đề, vì có tàm quý nên hoàn toàn không bao giờ phát sinh tác ý về Thanh văn, Độc giác, mà ở trong đó cũng không chấp trước, đó là Đại Bồ-tát tuy an trụ tàm quý mà không chấp trước.
Này Thiện Hiện, các Đại Bồ-tát khi an trụ địa Thứ ba nên thường an trụ năm pháp như vậy.
/93
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »