Tác giả: Sa-môn: Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn văn ra Hán văn - Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 262.
Ý kiến bạn đọc
ĐẠI PHẬT ĐẢNH
THỦ LĂNG NGHIÊM
Đời Đường, sa môn Bát Lạt Mật Đế
(người Trung-Thiên-trúc)
dịch từ Phạn văn ra Hán văn
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn
và chú thích
(TẬP 2)
Thư Viện Hoa Sen chuyển qua dạng Ebook PDF ngày 13/2/2014
BAN BẢO TRỢ PHIÊN DỊCH PHÁP TẠNG VIỆT NAM
KINH ĐẠI PHẬT ĐẢNH THỦ LĂNG NGHIÊM
(tập 2)
Cư sĩ Hạnh Cơ dịch, giới thiệu, chú thích,
đánh máy và trình bày
Cư sĩ Tịnh Kiên đọc và sửa chữa bản thảo
Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam
in lần thứ nhất, California, 2012
ĐẠI PHẬT ĐẢNH
THỦ LĂNG NGHIÊM
Quyển 6
- Nhĩ Căn Viên Thông
- Nhiếp Tâm Là Giới
Lúc bấy giờ, đức Bồ Tát Quán Thế Âm(161) từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng:
- Bạch đức Thế Tôn! Con nhớ trong vô số hằng sa kiếp về trước, có đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Ở trước đức Phật ấy, con đã phát tâm bồ đề. Ngài dạy con do từ văn, tư, tu mà nhập tam-ma- địa. Ban đầu, con ở trong tánh nghe mà được vào dòng, mất tướng sở-văn. Chỗ vào đã vắng lặng, hai tướng động và tĩnh rõ ràng không sinh. Cứ như thế mà tăng tiến dần, cả năng-văn và sở-văn đều mất hết. Ngay chỗ này con vẫn không dừng lại, mà tiến lên thêm nữa, đến chỗ năng-giác và sở-giác cũng đều không. Rồi cả hai ý niệm "năng- giác - sở-giác" và "năng-giác, sở-giác đều không" đều bị dứt trừ
Bạch đức Thế Tôn! Do con cúng dường đức Quán Thế Âm Như Lai, được Ngài trao truyền cho pháp tu "văn-huân văn-tu như-huyễn"; con tu pháp ấy mà chứng Kim-cang tam-muội, cùng với chư Phật đồng một sức từ, khiến cho thân con thành tựu được 32 thân ứng hóa vào khắp các quốc độ.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu các vị Bồ-tát vào tam- ma-địa, tiến tu pháp vô lậu, thắng giải viên mãn, thì con hiện ra thân Phật, vì quí vị ấy mà nói pháp, khiến được giải thoát.
Nếu các hàng Hữu-học(162) thích ở một mình nơi tịch tĩnh, cầu trí tuệ nhiệm mầu, khi trí tuệ thắng diệu sắp phát hiện viên mãn, con liền ở trước quí vị ấy, hiện thân Độc-giác(163), vì họ mà nói pháp, khiến được giải thoát.
Nếu các hàng Hữu-học thể hội được pháp Tứ Đế không(166), bước lên địa vị Tu-đạo(167), chứng nhập từng phần trạch diệt vô vi(168), khi thắng tánh sắp hiển hiện viên mãn, con liền ở trước quí vị ấy, hiện thân Thanh-văn(169), vì họ mà nói pháp, khiến được giải thoát.
Nếu có các chúng sinh muốn tâm được tỏ ngộ, không bị vướng vào dục trần, muốn thân thanh tịnh, con liền ở trước họ, hiện thân Phạm Vương(170) mà vì họ nói pháp, khiến được giải thoát.
Nếu có các chúng sinh muốn làm thiên chủ(171) để thống lãnh thiên chúng, con liền ở trước họ, hiện thân Đế Thích(172) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn thân được tự tại, du hành khắp mười phương, con liền ở trước họ, hiện thân trời Tự Tại(173) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn thân được tự tại, có thể bay đi trên hư không, con liền ở trước họ, hiện
Nếu có các chúng sinh muốn thống lãnh quỉ thần, cứu hộ các cõi nước, con liền ở trước họ, hiện thân thiên đại tướng quân(175) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn thống lãnh thế giới, bảo hộ chúng sinh, con liền ở trước họ, hiện thân trời Tứ-vương(176) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn sinh nơi thiên cung, sai khiến quỉ thần, con liền ở trước họ, hiện thân thái tử của bốn vị Thiên vương mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn làm vua cõi người(177), con liền ở trước họ, hiện thân vua mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn làm chủ gia tộc danh tiếng, được thế gian kính nể, con liền ở trước họ, hiện thân trưởng giả(178) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn đàm luận về danh ngôn kim cổ để giữ mình trong nếp sống trong sạch, con liền ở trước họ, hiện thân cư sĩ(179) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh thích dùng bói toán bùa chú để giữ thân tâm an ổn, con liền ở trước họ, hiện thân bà la môn(181) mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có kẻ thiện nam muốn tu học Phật pháp, bỏ tục xuất gia, hành trì giới luật, con liền ở trước người ấy, hiện thân tì kheo để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có người tín nữ muốn tu học Phật pháp, bỏ tục xuất gia, hành trì giới luật, con liền ở trước người ấy, hiện thân tì kheo ni để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có kẻ thiện nam muốn giữ gìn năm giới, con liền ở trước người ấy, hiện thân cận sự nam để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có người tín nữ muốn giữ gìn năm giới, con liền ở trước người ấy, hiện thân cận sự nữ để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có người đàn bà quyết chí lập thân nội chính(182) để tu thân, cảm hóa gia đình và yên trị quốc gia, con liền ở trước người ấy, hiện thân hoàng
Nếu có người con trai không muốn nhiễm dục trần(184), con liền ở trước người ấy, hiện thân đồng nam(185) để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có người con gái muốn giữ thân trinh thục, sống đời xử nữ(186), không muốn lập gia đình, con liền ở trước người ấy, hiện thân đồng nữ(187) để nói pháp, khiến người ấy được thành tựu như ý.
Nếu có thiên chúng nào muốn ra khỏi loài trời(188), con liền hiện thân trời mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có loài rồng muốn thoát khỏi loài mình, con liền hiện thân rồng mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có quỉ dược xoa(189) muốn thoát khỏi loài mình, con liền ở trước họ, hiện thân dược xoa mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có thần càn thát bà(190) muốn thoát khỏi loài mình, con liền ở trước họ, hiện thân càn thát bà mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có thần a tu la(191) muốn thoát khỏi loài mình, con liền ở trước họ, hiện thân a tu la mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có loài ma hô la già(193) muốn thoát khỏi loài mình, con liền ở trước họ, hiện thân ma hô la già mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có các chúng sinh muốn sinh làm người và tu trì để đời đời được thân người, con liền hiện thân người mà vì họ nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Nếu có loài phi nhân(194), hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tư tưởng, hoặc không có tư tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, con liền ở trước họ, hiện thân họ mà vì nói pháp, khiến được thành tựu như ý.
Đó là 32 ứng thân nhiệm mầu không nhiễm trước, hiện vào các cõi nước mười phương. Những thân đó đều do diệu lực vô tác của văn-huân văn-tu tam-muội mà thành tựu một cách tự tại.
Bạch đức Thế Tôn! Con lại do diệu lực vô tác của văn huân văn tu kim cang tam muội ấy, mà cùng với tất cả chúng sinh trong sáu đường khắp mười phương ba đời, đồng một lòng bi ngưỡng, khiến cho tất cả chúng sinh, ở nơi thân tâm con, được mười bốn thứ công đức vô úy:
Hai là, con xoay tri kiến trở lại soi chiếu nội tâm, khiến cho chúng sinh dù vào đống lửa lớn, cũng không bị lửa đốt cháy.
Ba là, con quán cái nghe xoay vào nội tâm, khiến cho chúng sinh dù bị nước lớn cuốn trôi, cũng không bị nước nhận chìm.
Bốn là, con đoạn diệt hết vọng tưởng, không còn tâm sát hại, khiến cho chúng sinh dù phải vào trong các nước quỉ, cũng không bị chúng quỉ làm hại.
Năm là, con huân tập cái nghe mà thành tựu tánh nghe chân thật; cả sáu căn đều tiêu huyễn vọng mà trở về chân tánh, đồng như cái tiếng, cái nghe; khiến cho chúng sinh lúc sắp phải bị hại, dao gãy từng khúc, binh khí chạm thân dường như chém nước, như gió thổi ánh sáng, tánh không giao động.
Sáu là, con huân tập tánh nghe tinh thuần, sáng khắp pháp giới, thì những gì đen tối không thể tồn tại, khiến cho chúng sinh, dù các loài ác quỉ như dược xoa, la sát(195), cưu bàn trà(196), tì xá già(197), phú đơn na(198), vân vân..., nếu có đứng gần cũng không thể nhìn thấy.
Tám là, con dứt tuyệt âm thanh, tròn vẹn tánh nghe, từ lực phát sinh cùng khắp, khiến cho chúng sinh, dù đi qua con đường nguy hiểm, cũng không bị giặc cướp làm hại.
Chín là, con huân tu tánh nghe thanh tịnh, xa lìa các trần tướng, sắc dục không thể quyến rũ, khiến cho các chúng sinh đa dâm rời xa tham dục.
Mười là, con lưu lại thuần một thật tướng của âm thanh, không còn mảy may đối tượng thanh trần, căn cảnh viên dung, không có năng sở đối đãi, khiến cho các chúng sinh nhiều nóng giận dứt bỏ sân hận.
Mười một là, con tiêu trừ vọng trần đối tượng, xoay cái nghe về tự tánh sáng suốt, từ ngoài pháp giới đến trong thân tâm trong sáng như ngọc lưu li, rỗng suốt không có gì chướng ngại, khiến cho tất cả chúng sinh ngu ngốc đần độn vĩnh viễn xa lìa si mê tăm tối.
Mười hai là, tiêu trừ hết huyễn hình tứ đại, con xoay tánh nghe trở về nơi tịch diệt bất động, hòa nhập vào thế gian mà không hủy hoại thế gian; cúng
Mười ba là, sáu căn con viên thông, chiếu sáng không hai, bao trùm mười phương pháp giới, thành chiếc kính lớn tròn đầy, thành không như lai tạng, vâng lãnh các pháp môn bí mật của chư Phật nhiều như vi trần trong khắp mười phương, lãnh nhận không thiếu sót; khiến cho những kẻ không có con trong thế gian, muốn cầu có con gái, thì sinh được con gái xinh đẹp, đoan chính, phúc đức, dịu hiền, mọi người yêu kính.
Mười bốn là, trong ba ngàn đại thiên thế giới này có trăm ức mặt trời mặt trăng, các vị pháp vương tử hiện trú ở thế gian nhiều đến 62 lần số cát sông Hằng, đều tu Phật pháp, làm mô phạm, giáo hóa và tùy thuận chúng sinh, trí tuệ và phương tiện mỗi ngài mỗi khác. Vậy mà, do con đã được nhĩ căn viên thông, phát ra diệu tánh của nhĩ căn, sau đó thì thân tâm trở nên vi diệu, bao trùm cùng khắp pháp giới, cho nên có thể khiến cho người chấp trì danh hiệu của con, so với người chấp trì danh hiệu của 62 lần số cát sông Hằng các vị pháp vương tử nói trên,
Đó gọi là mười bốn sức vô úy thí, đem phúc lành đến khắp chúng sinh.
Bạch đức Thế Tôn! Con lại do chứng được đạo viên thông vô thượng đó, cho nên cũng có được bốn diệu đức vô tác không thể nghĩ bàn:
Một là, do ban đầu con đạt được tánh nghe chí diệu, thoát khỏi năng văn sở văn, chỉ còn cái tâm tinh thuần; bấy giờ thì các sự thấy, nghe, hay, biết của sáu căn không còn cách biệt, mà thành một tánh biết viên dung thanh tịnh. Cho nên con có thể hiện ra rất nhiều hình dạng mầu nhiệm, có thể nói ra vô biên thần chú bí mật: hoặc con hiện ra một đầu, ba đầu, năm đầu, hay bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, cho đến một trăm lẻ tám đầu, một ngàn đầu, một vạn đầu, hay tám vạn bốn ngàn đầu kim cang bất hoại; hoặc hiện ra hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, mười hai tay, hay mười bốn, mười sáu, mười tám, hai mươi, hăm bốn, cho đến một trăm lẻ tám tay, một ngàn tay, một vạn tay, hay tám vạn bốn ngàn tay bắt ấn; hoặc hiện ra hai mắt, ba mắt, bốn
Hai là, do cái nghe, cái nghĩ của con đã thoát ra khỏi sáu trần, như âm thanh đi qua bức tường mà không bị ngăn ngại, cho nên diệu dụng của con có thể hiện ra nhiều hình tướng, tụng nhiều thần chú. Hình tướng ấy, thần chú ấy đều có thể đem sức vô úy bố thí cho chúng sinh. Vì vậy, các cõi nước nhiều như vi trần trong khắp mười phương đều gọi con là người "bố thí vô úy".
Ba là, do con tu tập tánh viên thông mầu nhiệm vốn có mà được nhĩ căn thanh tịnh, nên đi du hóa đến thế giới nào cũng khiến cho chúng sinh xả bỏ tất cả những trân châu bảo vật của tự thân để cầu được con thương xót.
Bốn là, con có được tâm Phật, chứng đến chỗ rốt ráo, cho nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường chư Phật mười phương. Mặt khác, chúng sinh trong sáu đường khắp cùng pháp giới, ai cầu vợ được vợ, cầu con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu sống lâu được sống lâu, cho đến cầu đại niết bàn cũng được đại niết bàn.
Bạch đức Thế Tôn! Đức Quán Thế Âm Như Lai kia đã khen ngợi con khéo được pháp môn viên thông, cho nên ở giữa hội chúng, Ngài đã thọ kí cho con danh hiệu Quán Thế Âm. Lại do tánh thấy nghe của con tròn sáng chiếu khắp mười phương, nên danh hiệu Quán Thế Âm cũng phổ cập mười phương thế giới.
Lúc bấy giờ đức Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, từ năm vóc phóng ra ánh sáng báu, soi sáng trên đỉnh đầu của chư Phật, chư vị Pháp vương tử và chư Bồ- tát nhiều như vi trần ở khắp mười phương. Chư Phật trong khắp mười phương kia cũng đồng từ năm vóc phóng ra ánh sáng báu soi đến đỉnh đầu đức Thế Tôn, chư vị Bồ-tát và A-la-hán trong pháp hội. Rừng cây, ao hồ đều diễn ra pháp âm. Hào quang của chư Phật giao hòa nhau như lưới tơ báu. Tất cả đại chúng được điều chưa từng có, tất cả đều được Kim-cang
Bấy giờ, đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi rằng:
- Cả hai mươi lăm vị Vô-học vừa là đại Bồ-tát, vừa là A-la-hán, vừa rồi đã trình bày từ thuở ban đầu phát tâm cho đến khi thành đạo, mỗi mỗi đều dùng một căn, một trần, một thức, hoặc một đại mà làm phương tiện tu tập để chứng được viên thông chân thật. Chỗ tu chứng của quí vị ấy thật không hơn kém, mau chậm khác nhau. Nhưng vì muốn cho thầy A Nan khai ngộ, nên giờ đây Như Lai nhờ ông xét kĩ, trong hai mươi lăm pháp môn tu tập kia, pháp tu nào xứng hợp với căn cơ của thầy ấy? Lại nữa, sau khi Như Lai diệt độ, nếu có chúng sinh của thế giới này tu tập theo hạnh Bồ-tát mà cầu đạo Bồ đề Vô thượng, thì họ nên dùng pháp môn phương tiện nào để dễ thành tựu?
Vốn tròn vẹn nhiệm mầu;
Bởi bản minh chiếu soi,
Cho nên có "sở chiếu";
Do phân biệt "năng, sở",
Làm mất tánh bản minh.
Mê vọng có hư không,
Rồi nương nơi hư không
Mà hình thành thế giới.
Do vọng tưởng ngưng kết,
Thành vô tình quốc độ;
Do vọng tưởng thấy biết,
Thành hữu tình chúng sinh.
Đại giác sinh hư không,
Như biển sinh bọt nước,
Vô số cõi hữu lậu
Đều do hư không sinh;
Bọt nước rồi bể tan,
Hư không vốn không có,
Ba cõi cũng hoàn không!
Về nguồn tánh không hai;
Quả chứng không trái nhau,
Thuận, nghịch là phương tiện.
Những người sơ phát tâm,
Vì cơ trí không đều,
Tu chứng vào Tam-muội,
Mau chậm chẳng đồng nhau.
Sắc trần được hình thành
Do vọng tưởng ngưng kết,
Hay biết không thể thấu;
Cái không thể thấu suốt,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương sắc trần
Để tu chứng viên thông!
Âm thanh cùng ngữ ngôn
Kết hợp xen lẫn nhau,
Biểu thị thành ý nghĩa
Của danh ngôn, văn cú;
Nhưng một danh, cú, nghĩa,
Không bao hàm tất cả,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương thanh trần
Để tu chứng viên thông!
Mới biết là có hương,
Nếu cách rời, không có.
Tị căn và hương trần
Không thường hằng xúc hợp,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương hương trần
Để tu chứng viên thông!
Vị, phải nếm mới biết,
Không đương nhiên tự có.
Thiệt căn và vị trần
Không thường hằng xúc hợp,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương vị trần
Để tu chứng viên thông!
Xúc, có chạm mới biết,
Nếu không vật gì chạm,
Thì không có xúc trần.
Hợp, lìa, không nhất định
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương xúc trần
Để tu chứng viên thông!
Là đối tượng "sở tri",
Năng, sở không dung khắp
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương pháp trần
Để tu chứng viên thông!
Mắt thấy tuy rỗng suốt,
Nhưng chỉ thấy phía trước,
Không thể thấy phía sau,
Đối với bốn phương góc,
Chỉ thấy được một nửa,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương nhãn căn
Để tu chứng viên thông!
Mũi thở ra, thở vào,
Chặng giữa hơi đứt đoạn;
Thở ra thì không vào,
Thở vào thì không ra,
Cách trở, không dung thông,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương tị căn