Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm - Tập 2

Tác giả: Sa-môn: Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn văn ra Hán văn - Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 262.

Chương 4: Quyển 8: Các Địa Vị Tu Chứng - Nguyên Nhân và Quả Báo của Chúng Sinh Ba Cõi - Phần 1 (trang 78-97)

KINH
ĐẠI PHẬT ĐẢNH
THỦ LĂNG NGHIÊM
 
Quyển 8
- Các Địa Vị Tu Chứng
- Nguyên Nhân và Quả Báo
của Chúng Sinh Ba Cõi
 
- Này A Nan! Mười hai loài chúng sinh đó, trong mỗi loài cũng đều đầy đủ mười hai thứ điên đảo, cũng như dụi con mắt thì thấy đủ thứ hoa đốm phát sinh ra. Chân tâm vốn trong sạch, sáng suốt, tròn đầy, mầu nhiệm, nhưng bởi một niệm vọng động điên đảo mà đầy đủ những loạn tưởng hư vọng như thế. Nay thầy muốn tu chứng chánh định thành Phật, đối với cái nguyên nhân gốc rễ làm phát sinh bao loạn tưởng điên đảo, phải lập ra ba bước tiệm thứ, y theo đó mà tu hành, mới diệt trừ được; cũng như chiếc bình đựng nước, phải trừ bỏ những bợn dơ chất độc ở trong, dùng nước nóng, tro và chất thơm rửa thật sạch, rồi mới đựng nước cam lồ.

Thế nào là ba bước tiệm thứ? Một là tu tập, dứt trừ "trợ nhân"; hai là chân tu, nạo sạch "chánh tánh"; ba là tăng tiến, ngược dòng "hiện nghiệp".
Thế nào trợ nhân? Này A Nan! Mười hai loài chúng sinh trong thế giới không thể tự bảo toàn mạng sống, mà phải nhờ bốn loại thức ăn để được sinh tồn; đó là đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Vì vậy Như Lai nói: Tất cả chúng sinh nhờ ăn mà sống còn. A Nan! Chúng sinh ăn các thứ bổ ích cho thân tâm thì sống; ăn các thứ độc hại cho thân tâm thì chết. Cho nên những chúng sinh cầu chánh định thì phải trừ bỏ năm loại rau cay nồng ở thế gian. Năm loại rau cay nồng này, ăn chín thì khởi lòng dâm, ăn sống thì tăng lòng giận. Ở thế giới này, những người ăn rau cay nồng ấy, dù có tài giảng thuyết mười hai bộ kinh, chư thiên trong mười phương cũng chê là hôi hám, không muốn tới gần; những loài quỉ đói thấy người ăn những thứ đó thì đến liếm môi liếm mép, thành ra người đó thường ở chung với quỉ, phước đức ngày càng hao tổn, lâu ngày không còn chút lợi ích gì. Người tu chánh định mà ăn năm thứ rau cay nồng ấy, chư vị Bồ-tát, thiên tiên, thiện thần trong mười phương không đến ủng hộ; thiên ma Ba-tuần lại được thế, hiện ra thân Phật đến thuyết pháp cho họ nghe, hủy báng sự chấp trì
cấm giới, tán thán ba nghiệp độc dâm dục, sân hận, si mê, khi chết tự trở thành quyến thuộc của ma vương, hưởng hết phước ma thì đọa địa ngục vô gián. Này A Nan! Người tu đạo Bồ đề, hãy vĩnh viễn trừ bỏ năm loại rau cay nồng. Đó là bước tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhất.
Thế nào là chánh tánh? Này A Nan! Chúng sinh muốn vào chánh định, trước tiên cần phải nghiêm trì giới luật thanh tịnh, vĩnh viễn đoạn trừ tâm dâm, không ăn thịt uống rượu, chỉ ăn thức ăn trong sạch nấu chín, không ăn đồ sống. Này A Nan! Người tu hành đó, nếu không đoạn trừ dâm dục và sát sinh mà giải thoát khỏi ba cõi, là điều không thể có được. Phải quán sát sự dâm dục như là rắn độc, như gặp giặc thù. Trước hết phải giữ giới "tứ khí, bát khí" thuộc giới luật Thanh-văn, giữ thân miệng vững vàng, không lay động; sau đó hành trì luật nghi thanh tịnh của hàng Bồ-tát, giữ tâm vững vàng, không khởi vọng niệm. Cấm giới đã thành tựu thì ở thế gian không còn nghiệp sinh nhau, giết nhau. Đã không trộm cắp thì không còn mắc nợ nhau, và cũng khỏi phải trả nợ đời trước ở thế gian. Người thanh tịnh ấy tu pháp chánh định, thì chính ngay nơi nhục thân do cha mẹ sinh ra, không cần thiên nhãn mà tự nhiên nhìn thấy mười phương thế giới, thấy Phật
nghe pháp, chính mình vâng lãnh ý chỉ của Phật, được thần thông lớn, du hành mười phương thế giới, túc mạng thanh tịnh, không đọa vào các nơi gian nan hiểm trở. Đó là bước tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ nhì.
Thế nào là hiện nghiệp? Này A Nan! Người trì giới thanh tịnh như thế, tâm không tham dâm, không buông lung giong ruổi theo sáu trần ở bên ngoài. Do không buông lung giong ruổi nên tự quay về tánh bản nguyên. Trần đã không duyên thì căn không có đối tượng, ngược dòng về lại chỗ toàn-nhất, cả sáu công dụng thấy nghe ngửi nếm xúc biết đều không hiện hành. Mười phương quốc độ rỗng suốt trong sạch, như mặt trăng sáng treo trong đèn lưu li. Thân tâm thư thái, diệu viên, bình đẳng, vô cùng tự tại; tất cả cảnh giới bí áo, viên dung, thanh tịnh, nhiệm mầu của chư Phật đều hiển hiện trong đó. Người đó liền chứng vô sinh pháp nhẫn; từ đó lần lữa tu tập, tùy mức độ giác ngộ mà an lập địa vị thánh nhân. Đó là bước tiệm thứ tu hành tăng tiến thứ ba.
Này A Nan! Vị hành giả ấy ái dục đã cạn khô, căn cảnh không còn phối hợp, hiện tiền là thân tối hậu, không còn tiếp tục thọ thân quả báo ở đời sau. Vị ấy trụ tâm ở nơi rỗng sáng, thuần là trí tuệ; tuệ tánh sáng suốt tròn đầy, soi tỏ mười phương thế giới.
Nhưng ở giai đoạn này, vị ấy mới khô cạn các tập khí tham dục, chưa tiếp thông được với dòng nước pháp của Phật; vì chỉ mới có thứ trí tuệ khô khan ấy, nên gọi là Càn-tuệ-địa.
Từ địa vị Càn-tuệ ấy, dùng diệu trí trung tâm quán diệu lí trung đạo mà vào biển diệu giác, diệu tánh viên thông mở bày. Tánh chân viên diệu từ đây lại càng phát triển chân viên diệu, tất cả vọng tưởng diệt hết không còn, lòng tin kiên cố hướng về lí trung đạo chân thuần; gọi là Tín-tâm-trụ.
Đã có lòng tin chân thật, trí tuệ sáng rõ, cho nên tất cả đều viên thông, ba thứ ấm, xứ, giới không còn làm chướng ngại. Đối với những việc bỏ thân, thọ thân, những tập khí phải đoạn trừ, trong vô số kiếp quá khứ vị lai, vị hành giả này nhớ rõ hết, tất cả đều như hiện ra trước mắt, không quên mất việc gì; gọi là Niệm-tâm-trụ.
Từ chân diệu viên và trung đạo thuần chân, mà chân tinh phát hóa ra. Các tập khí từ vô thỉ đến đây đều bị đồng hóa vào trí thể tinh minh; giữ vững tánh tinh minh này mà tiến đến khế hợp với lí thể chân tịnh; gọi là Tinh-tấn-tâm.
Tâm tinh minh thường xuyên hiện tiền, thuần dùng trí tuệ trong đời sống; gọi là Tuệ-tâm-trụ.
Duy trì trí tuệ tinh minh, lặng trong cùng khắp, thường trực lắng đọng trong cảnh giới tịch diệu; gọi là Định-tâm-trụ.
Định lực phát ra trí sáng, trí càng sáng thì định càng sâu, chỉ có tiến tới chứ không thối lui; gọi là Bất-thối-tâm.
Tâm an nhiên tiến tới, giữ gìn mạng mạch của chư Phật không để mất, giao tiếp từng phần với pháp thân Như Lai mười phương; gọi là Hộ-pháp-tâm.
Giữ gìn tánh giác sáng suốt, có thể dùng diệu lực xoay từ quang của Phật hướng về an trụ trong ánh sáng của Phật nơi mình, giống như hai tấm gương sáng đối nhau, trong đó các hình ảnh nhiệm mầu lớp lớp lồng vào nhau; gọi là Hồi-hướng-tâm.
Tâm sáng của mình và trí sáng của Phật kín nhiệm thông ứng, được an trụ nơi cảnh giới lắng đọng, vô vi, vô thượng diệu tịnh của Phật, không một niệm hữu vi còn mất; gọi là Giới-tâm-trụ.
Đã an trụ nơi giới một cách tự tại, hành giả có thể du hóa mười phương, đến đâu tùy nguyện; gọi là Nguyện-tâm-trụ.
Này A Nan! Vị hành giả kia dùng phương tiện chân thật phát mười tín tâm ấy, tâm tinh thuần trong sáng phát huy, mười công dụng hòa nhập lẫn nhau, thành một tâm viên mãn; gọi là Phát-tâm-trụ.
Trong tâm kia phát ra ánh sáng, như trong khối ngọc lưu li trong sạch chói màu vàng ròng. Dùng mười tâm mầu nhiệm trước kia mà trải làm nền tảng vững vàng như đất; gọi là Trị-địa-tâm.
Tâm địa biết khắp, tất cả đều tỏ rõ, du hóa mười phương không bị ngăn ngại; gọi là Tu-hành-trụ.
Hạnh đồng với Phật, được thọ nhận từng phần khí lực của Phật, như thân trung ấm tự tìm cha mẹ. Âm tín đã thầm thông nhập vào dòng giống Như Lai; gọi là Sinh-quí-trụ.
Đã vào đạo thai thì chính mình được tánh giác nuôi dưỡng, như bào thai đã tượng thành hình người đầy đủ; gọi là Phương-tiện-cụ-túc-trụ.
Dung mạo như Phật, tâm tướng cũng đồng; gọi là Chánh-tâm-trụ.
Thân tâm như nhất, đạo thai ngày càng tăng trưởng; gọi là Bất-thối-trụ.
Mười thân(211) cùng lúc đầy đủ; gọi là Đồng- chân-trụ.
Ví như hình vóc đã thành và đã ra khỏi bào thai, chính mình đã trở thành con của đấng Pháp-vương; gọi là Pháp-vương-tử-trụ.
Như vị thái tử đã trưởng thành, được nhà vua dùng nghi lễ Quán-đảnh để phân nhiệm trao cho một số việc nước; gọi là Quán-đảnh-trụ.
Này A Nan! Vị hành giả kia đã trở thành Phật tử, có đầy đủ vô lượng đức tánh nhiệm mầu của Như Lai, có thể tùy thuận mười phương chúng sinh; gọi là Hoan-hỉ-hạnh.
Khéo biết làm lợi ích cho tất cả chúng sinh; gọi là Nhiêu-ích-hạnh.
Tự mình đã giác ngộ, lại giáo hóa cho người được giác ngộ, thường tu pháp nhẫn, được đức không chống trái; gọi là Vô-sân-hận-hạnh.
Tùy loại chúng sinh mà ứng thân hóa độ, ba đời bình đẳng, mười phương thông suốt, cho đến cùng tột đời vị lai; gọi là Vô-tận-hạnh.
Nhận biết tất cả các pháp môn đều dung hợp, đồng là một thể tánh, cho nên tùy cơ dạy bảo, không có sai lầm; gọi là Li-si-loạn-hạnh.
Ở trong cái lí thể đồng nhất hiển hiện vô vàn sự tướng dị biệt; ở nơi mỗi mỗi sự tướng dị biệt đều thấy rõ cái lí thể đồng nhất; gọi là Thiện-hiện-hạnh.
Như thế, cho đến mười phương hư không đầy dẫy vi trần, trong mỗi mỗi vi trần đều hiển hiện mười phương thế giới; thế giới hiện vi trần, vi trần hiện thế giới, đều không ngăn ngại nhau; gọi là Vô-trước- hạnh.
Tất cả mọi sự vật hiện tượng ở trước mắt đều là đệ nhất ba-la-mật; gọi là Tôn-trọng-hạnh.
Đã viên dung vô ngại như thế, thì một lời nói một việc làm đều phù hợp với qui phạm phép tắc của chư Phật mười phương; gọi là Thiện-pháp-hạnh.
Tất cả các hạnh đều là thanh tịnh vô lậu, nhất chân vô vi, vì tánh bản nhiên là như thế; gọi là Chân-thật-hạnh.
Này A Nan! Vị hành giả ấy đã xa hết lỗi lầm, tinh chân thuần khiết, đầy đủ thần thông, thành tựu Phật sự, bây giờ, trong lúc hóa độ chúng sinh thì diệt trừ cả ý niệm năng độ sở độ, xoay tâm vô vi hướng về con đường niết bàn; gọi là Cứu hộ nhất thiết chúng sinh, li chúng sinh tướng hồi-hướng.
Hoại diệt cái đáng hoại diệt, dứt bỏ cả các ý niệm năng-li sở-li; gọi là Bất hoại hồi-hướng.
Tánh bản giác lặng trong sáng tỏ ngang bằng như Phật; gọi là Đẳng nhất thiết Phật hồi-hướng.
Tinh chân phát sáng tỏ rõ, tâm địa như tâm Phật, bao hàm vô biên cõi nước; gọi là Chí nhất thiết xứ hồi-hướng.
Thế giới và Như Lai dung hợp lẫn nhau không chướng ngại; gọi là Vô tận công đức tạng hồi- hướng.
Tâm địa đồng với Phật, trong đó sinh ra các nhân thanh tịnh, nương nhân đó mà phát huy để thủ đắc
niết bàn; gọi là Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi-hướng.
Chân căn đã thành, mười phương chúng sinh đều là bản tánh của mình. Bản tánh thành tựu viên mãn, không bỏ mất một chúng sinh nào; gọi là Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi-hướng.
Tức tất cả pháp, li tất cả tướng, cả tức li đều không dính mắc; gọi là Chân như tướng hồi-hướng.
Thể nhập chân như, mười phương không chướng ngại; gọi là Vô phược giải thoát hồi-hướng.
Tánh đức thành tựu viên mãn, pháp giới không còn ranh giới cách ngăn; gọi là Pháp giới vô lượng hồi-hướng.
Này A Nan! Vị hành giả ấy đã tu tập trải qua hết bốn mươi mốt tâm thanh tịnh như trên rồi, tiếp đến
phải thành tựu bốn bậc Gia-hạnh diệu viên:
Lấy tánh giác của Phật dùng làm tâm mình, nhưng chỉ mới gần như hiển lộ chứ chưa hiển lộ; ví như giùi gỗ cho ra lửa mà đốt gỗ; gọi là Noãn-địa.
Lại lấy tâm mình làm chỗ nương để phát huy tuệ giác Phật; nhưng nương mà không phải nương, giống như lên núi cao, tuy thân đã nhập vào hư không mà chân vẫn còn bám vào đỉnh núi; gọi là Đảnh-địa.
Tâm mình và tâm Phật, cả hai đồng nhất, thấy được lí trung đạo; ví như người biết nhẫn nhịn, không phải ôm giữ mà cũng không phải nói ra; gọi là Nhẫn-địa.
Một hay nhiều, tất cả số lượng đều tiêu vong; mê trung đạo hay giác trung đạo, cả hai đều không có gì; gọi là Thế-đệ-nhất-địa.
Này A Nan! Vị hành giả ấy từng phần thân chứng đạo Vô thượng Bồ đề, tuệ giác cùng với Phật dung thông, suốt cùng cảnh giới chư Phật; gọi là Hoan-hỉ- địa.
Chủng tánh khác nhau của muôn loài chúng sinh đều nhập vào đồng một tánh bình đẳng, và ngay cả cái tánh đồng này cũng tiêu mất; gọi là Li-cấu-địa.
Tâm thanh tịnh đến tột cùng thì tuệ giác tự nhiên phát sáng; gọi là Phát-quang-địa.
Sáng suốt tột cùng, tuệ giác viên mãn; gọi là Diễm-tuệ-địa.
Tất cả những ý niệm đồng dị đối đãi đều không còn nữa; gọi là Nan-thắng-địa.
Bản tánh chân như vô vi thanh tịnh hiển lộ tỏ rõ; gọi là Hiện-tiền-địa.
Đạt đến tột cùng bờ cõi chân như; gọi là Viễn- hành-địa.
Một tâm chân như; gọi là Bất-động-địa.
Vận dụng chân như phát sinh diệu dụng; gọi là Thiện-tuệ-địa.
Này A Nan! Vị Bồ-tát ấy, tới đây thì công hạnh tu tập đã xong, công đức viên mãn, nên đến địa này thì được gọi là Tu-tập-vị.
Bóng từ mây diệu trùm biển niết bàn; gọi là Pháp-vân-địa.
Như Lai ngược dòng trở lại, còn vị Bồ-tát ấy thì thuận dòng tiến tới, giới tuyến của hai dòng tuệ giác giao hòa; gọi là Đẳng-giác.
Này A Nan! Tu tập từ sơ tâm Càn-tuệ cho đến bậc Đẳng-giác, thì chính ở bậc Đẳng-giác này đây, vị Bồ-tát ấy mới đạt được bậc Sơ-càn-tuệ-địa trong Tâm Kim Cương. Công phu tu tập như vậy, trải qua lớp lớp mười hai tầng bậc vừa đơn vừa kép(212), mới đạt đến quả vị tột cùng Diệu-giác, thành tựu Đạo Vô-thượng.
Các địa vị ấy đều dùng trí kim cương quán sát mười thí dụ(213) như huyễn sâu xa, ở trong chánh định, dùng trí quán của chư Phật mà thanh tịnh tu chứng, lần lượt thâm nhập.
Này A Nan! Như thế đều dựa vào ba tiệm thứ mà tu hành tăng tiến, trải qua năm mươi lăm địa vị(214) ấy để cuối cùng thành tựu con đường Bồ đề Vô
thượng. Quán như thế gọi là chánh quán; còn quán theo cách nào khác đều là tà quán.
Lúc bấy giờ, Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, ở trong đại chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng:
- Kinh này gọi tên là gì? Con và chúng sinh phải phụng trì như thế nào?
Đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi:
- Kinh này tên là "Đại Phật Đảnh Tát Đát Đa  Bát Đát Ra Vô Thượng Bảo Ấn Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn"; hoặc gọi tên là "Cứu Hộ Thân Nhân Độ Thoát A Nan Cập Thử Hội Trung Tánh Tì Kheo Ni Đắc Bồ Đề Tâm Nhập Biến Tri Hải"; hoặc gọi là "Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa"; hoặc gọi là "Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú"; cũng gọi là "Quán Đảnh Chương Cú Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm". Ông nên theo đó mà phụng trì.
Đức Phật dạy lời ấy xong, tức thì, đại đức A Nan cùng cả đại chúng, nhờ được Phật khai thị cho ý nghĩa mật ấn "Đại Bạch Tán Cái", lại nghe được các tên gọi liễu nghĩa của kinh này, liền đốn ngộ lí thể huyền diệu thù thắng, tu chứng tiến lên Thánh vị trong cảnh giới định tuệ. Tâm rỗng không, lắng
đọng, đoạn trừ sáu phẩm vi tế phiền não thuộc tư hoặc ba cõi(215). Đại đức từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính bạch rằng:
- Bạch đức Thế Tôn, đấng đại uy đức, từ âm bình đẳng, khéo dùng phương tiện khai ngộ những lỗi lầm vi tế lâu đời của chúng sinh, khiến cho con hôm nay thân tâm thư thái an nhiên, được lợi ích lớn.
Bạch Thế Tôn! Theo lời dạy của đức Thế Tôn, cái chân tâm trong sạch sáng suốt nhiệm mầu này xưa nay vốn viên mãn biến khắp, cho đến đất đá cỏ cây, các loài động vật hữu tình, cũng vốn đủ bản tánh chân như, tức là chân thể thành Phật của các đức Như Lai; Phật thể vốn đã chân thật như thế, tại sao lại có các nẻo Địa-ngục, Ngạ-quỉ, Súc-sinh, A- tu-la, Trời, và Người? Bạch Thế Tôn! Các nẻo đó là bản lai tự có, hay do tập khí hư vọng của chúng sinh mà phát sinh ra? Bạch Thế Tôn! Như tì kheo ni Bảo Liên Hương hành trì giới Bồ-tát mà lén lút làm việc dâm dục, rồi lại lí luận sai lầm rằng, hành dâm chẳng phải sát sinh, chẳng phải trộm cắp, nên không có nghiệp báo! Nói lời ấy xong thì trước hết nơi nữ căn phát ra ngọn lửa lớn, rồi từ từ lửa đốt đến từng đốt xương, và đọa địa ngục vô gián! Còn như vua Lưu Li(216) và tì kheo Thiện Tinh(217), Lưu Li thì tận diệt tộc Cồ-đàm, Thiện Tinh thì vì tà kiến mà nói càn
rằng tất cả các pháp đều không có; vì vậy mà cả hai đều phải đọa địa ngục vô gián ngay lúc còn sinh tiền. Các địa ngục như thế là có chỗ nơi nhất định, hay một cách tự nhiên, khi mỗi người kia tạo nghiệp thì mỗi người riêng chịu quả báo? Xin đức Thế Tôn rủ lòng đại từ, khai mở tri kiến cho kẻ non dại mê mờ, khiến cho tất cả những người hành trì giới luật, nghe được nghĩa lí chắc thật mà tâm sinh vui mừng, đội giới trên đầu, cẩn trọng giữ gìn không để sai phạm.
Phật dạy đại đức A Nan:
- Câu hỏi của thầy thật sâu sắc, khiến cho chúng sinh không rơi vào tà kiến. Như Lai sẽ giải bày sau đây, thầy hãy lắng nghe!
Này A Nan! Tất cả chúng sinh vốn thật chân tịnh, nhân vì vọng kiến mà có tập khí hư vọng phát sinh; rồi lại nhân đó mà phân chia ra có trong phậnngoài phận.
Này A Nan! Trong phận tức là ở bên trong thân phận con người. Nhân vì ái nhiễm mà phát khởi vọng tình; tình tích chứa mãi không ngừng mà tụ thành dòng nước tham ái. Vì thế, hễ tâm nhớ tới thức ăn ngon thì trong miệng chảy nước miếng; tâm nhớ đến người xưa, hoặc thương hoặc giận, thì nước mắt trào tuôn; tham cầu của báu thì nước dãi thèm khát
tiết ra, toàn thân trơn sáng; tâm nghĩ tới sự hành dâm thì hai căn nam nữ tự nhiên tiết ra dịch khí.
Này A Nan! Tâm ái tuy là khác nhau ở sáu căn, nhưng sự lưu xuất ra ngoài hay kết tụ bên trong thì giống nhau, đều đồng một tánh nhuận ướt. Nhuận ướt thì không thể chảy lên, tự nhiên phải theo chỗ thấp mà chảy xuống. Đó gọi là trong phận.
Này A Nan! Ngoài phận tức là ở bên ngoài thân phận con người. Do tâm khát ngưỡng mong cầu mà phát sinh các niệm tưởng thanh hư, tưởng tích chứa mãi không ngừng thì sinh ra khí lực thù thắng. Vì thế chúng sinh, hễ tâm giữ giới hạnh thì toàn thân thanh tịnh nhẹ nhàng; tâm trì ấn chú thì mắt ngó sáng ngời nghị lực; tâm muốn sinh lên cõi trời thì trong chiêm bao thấy mình bay bổng nhẹ nhàng; tâm hướng về cõi Phật thì thánh cảnh kín đáo hiện bày; tâm phụng sự thiện tri thức thì coi nhẹ thân mạng mình.
Này A Nan! Các loại niệm tưởng tuy khác nhau, nhưng sự nhẹ nhàng và cất bổng lên thì giống nhau, đều đồng một tánh bay lên. Bay lên thì không chìm xuống, tự nhiên phải vượt lên cao. Đó gọi là ngoài phận.
Này A Nan! Tất cả thế gian, sống chết nối tiếp nhau không dứt. Sống thì thuận theo tập khí mà tạo
nghiệp; chết thì theo dòng biến đổi mà thọ báo. Lúc gần mạng chung, chỉ còn chút hơi ấm mong manh, bao nhiêu việc thiện việc ác đã làm trong suốt một đời, đều vụt hiện ra; trốn chết và cầu sống, hai tập khí ấy cùng lúc tranh giành.
Nếu thuần là tưởng thì bay lên, ắt sinh lên các cõi Trời. Nếu trong cái tâm bay lên đó mà có bao gồm phước đức, trí tuệ và chí nguyện thanh tịnh, thì tự nhiên tâm được sáng suốt, thấy được tất cả cõi Phật thanh tịnh khắp mười phương, rồi tùy ý nguyện muốn về cõi nào thì được vãng sinh về cõi đó.
Nếu tưởng nhiều mà tình ít, thì cũng bay lên được, nhưng không xa, thành các loài như tiên, đại lực quỉ vương, quỉ dạ xoa bay trên hư không, quỉ la sát đi trên mặt đất; họ có thể đi khắp cõi trời Tứ- vương, không gặp trở ngại. Trong số đó, nếu có ai có thiện tâm và phát nguyện lành, hộ trì Phật pháp, hoặc hộ trì giới cấm và bảo vệ người trì giới, hoặc hộ trì thần chú và bảo vệ người trì chú, hoặc hộ trì người tu thiền định, giữ yên pháp nhẫn, thì những vị ấy, chính mình được ở dưới pháp tòa của Như Lai.
Nếu tưởng và tình bằng nhau, không bay lên cũng không đọa xuống, mà sinh vào cõi nhân gian; vì có tưởng nên có phần thông minh, và vì có tình nên cũng có lẫn phần ngu độn.
Nếu tình nhiều tưởng ít thì sinh vào cõi bàng sinh, thân thể nặng nề thì vào các giống thú có lông mao, thân thể nhẹ nhàng thì vào các loài cầm có lông vũ.
Bảy phần tình ba phần tưởng thì chìm dưới thủy- luân, sinh nơi mé hỏa-luân, chịu hơi nóng của lửa mạnh, làm thân ngạ quỉ, thường bị thiêu đốt; thấy nước thì thành lửa, lửa cháy hại mình, nên trải trăm ngàn kiếp không ăn uống được.
Chín phần tình một phần tưởng thì sa xuống suốt tầng hỏa- luân, đến tận vùng ranh giới giữa hỏa-luân và phong-luân; nhẹ thì sinh vào hữu-gián, nặng thì sinh vào vô-gián, đó là hai loại địa ngục.
Thuần là tình thì sa vào địa ngục A-tì(218). Nếu có thêm cái tâm hủy báng đại thừa, phá hoại cấm giới của Phật, nói pháp cuồng vọng để tham cầu của tín thí, lạm nhận sự cung kính, hoặc phạm các trọng tội ngũ nghịch, thập ác, thì sẽ bị luân chuyển đọa vào từ địa ngục A-tì này sang địa ngục A-tì khác ở khắp mười phương.
Tùy theo ác nghiệp đã tạo mà mỗi chúng sinh tự chịu lấy quả báo của riêng mình. Tuy nhiên, vì chúng sinh tạo ác nghiệp có giống nhau, nên cùng chịu quả báo địa ngục giống nhau, tuồng như địa ngục vốn có chỗ nơi nhất định sẵn.
Này A Nan! Tất cả các quả báo như thế đều do nghiệp của chúng sinh chiêu cảm; vì tạo mười tập- nhân(219) bất thiện mà nhận chịu sáu giao-báo(220) đau khổ.
Thế nào là mười tập nhân bất thiện?
Một là thói quen dâm dục. Nam nữ giao tiếp, cọ xát nhau tìm cầu dục lạc. Cọ xát không ngừng, tâm dâm tích tụ, ngọn lửa lớn mạnh từ đó mà phát động lên; ví như người dùng hai bàn tay xoa mạnh vào nhau thì phát sinh cảm giác nóng. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho lửa dâm dục càng mạnh, cho nên mới có những quả báo giường sắt nóng, cột đồng nung ở địa ngục. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy sự hành dâm của chúng sinh, đều gọi đó là lửa dục; còn chư vị Bồ-tát thì tránh cảnh dâm dục như tránh xa hầm lửa.
Hai là thói quen tham lam, so đo tính toán, phát sinh nơi sự thu hút lẫn nhau. Tham cầu không ngừng nghỉ, tích tụ hơi lạnh, đóng cứng thành băng; ví như người hút hơi gió vào miệng thì sinh cảm giác lạnh. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm tham cầu thu hút càng mạnh, cho nên mới có quả báo ở các cảnh địa ngục lạnh giá như Tra-tra, Ba-ba, La-la, Thanh-liên, Xích-liên,
Bạch-liên. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy sự tham cầu của chúng sinh, đều gọi đó là nước tham; còn chư vị Bồ-tát thì tránh lòng tham như tránh xa biển độc.
Ba là thói quen kiêu mạn, lấn lướt lẫn nhau, phát sinh từ tâm trọng mình khinh người. Tâm cao ngạo dâng lên không ngừng, vì thế mà sôi nổi phóng túng, chứa sóng thành nước; ví như miệng lưỡi chạm vị thì nước miếng tự chảy ra. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm kiêu mạn càng mạnh, cho nên mới có quả báo ở các địa ngục sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, nước đồng sôi rót vào miệng. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy tâm kiêu mạn của chúng sinh, đều gọi đó là uống nước si; còn chư vị Bồ-tát thì tránh lòng kiêu mạn như tránh xa vực thẳm.
Bốn là thói quen nóng giận, xung đột, phát sinh từ sự chống đối lẫn nhau. Chống đối không ngừng nghỉ, tâm nóng phát ra lửa, nung nấu khí lực thành ra kim khí, cho nên mới có núi dao, gậy sắt, kiếm dài, kiếm tròn, búa, rìu, thương, cưa; ví như người bị hàm oan thì sát khí nổi đùng đùng. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm nóng giận càng mạnh, cho nên mới có các quả
/6
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây