Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm - Tập 2

Tác giả: Sa-môn: Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn văn ra Hán văn - Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 262.

Chương 5: Quyển 8: Các Địa Vị Tu Chứng - Nguyên Nhân và Quả Báo của Chúng Sinh Ba Cõi - Phần 2 (trang 98-115)

báo thiến, cắt, chém, chặt, dùi, đâm, đập, đánh. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy tâm nóng giận của chúng sinh, đều gọi đó là dao kiếm bén; còn chư vị Bồ-tát thì tránh lòng nóng giận như tránh xa chỗ chém giết.
Năm là thói quen dối trá, gạt gẫm, phát sinh từ tâm dụ hoặc lẫn nhau. Giả dối mãi không ngừng, cho nên có dây thòng lọng, trụ căng nọc; ví như nước thấm vào ruộng đất thì cỏ cây sinh trưởng. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm dối trá càng mạnh, cho nên mới có các quả báo còng, xiềng, gông, cùm, roi, gậy, mác, bổng. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy sự dối ngụy của chúng sinh, đều gọi đó là giặc lừa dối; còn chư vị Bồ-tát thì tránh sự dối trá như tránh xa beo sói.
Sáu là thói quen lừa đảo, bịp bợm, phát sinh từ tâm vu khống lẫn nhau. Lừa đảo vu khống không ngừng nghỉ, tâm luôn tự đắc bày nhiều gian kế, cho nên trong tâm hiện khởi những thứ ô uế bất tịnh, như bụi, đất, phân, nước tiểu; như gió cuốn bụi mịt mù trời đất, khiến người đối diện không thấy được nhau. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm lừa đảo vu khống càng mạnh, cho nên mới bị nhận chìm trong địa ngục phân tiểu,
 
bị quăng ném trong địa ngục cát đen, bị gió thổi bay lên rớt xuống, bị nước trôi dập lúc nổi lúc chìm. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy tâm lừa đảo gian dối của chúng sinh, đều gọi đó là kẻ cướp của giết người; còn chư vị Bồ-tát thì coi sự lừa đảo như giẫm lên rắn độc.
Bảy là thói quen thù oán, hiềm khích, phát sinh nơi tâm ôm ấp hận thù, cho nên mới có các hình ảnh quăng đá, ném gạch, cũi giam, xe tù, lu nhốt, bịch bao; như người hiểm độc ôm giữ điều ác. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm hận thù càng mạnh, cho nên mới có các quả báo ném đá, quăng gạch, bắt bớ giam cầm, đánh, bắn, ném, trói. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy người ôm lòng thù hận, đều gọi đó là quỉ trái đạo hại người; còn chư vị Bồ-tát thì coi lòng hận thù như rượu độc.
Tám là thói quen ác kiến, chấp thủ ý kiến của mình, như các nghiệp ngã kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến, tà kiến, sinh ra chống đối, phản kích nhau, cho nên có quan lại chứng chấp giấy tờ; như người đi đường, kẻ qua người lại ai cũng trông thấy nhau. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho nghiệp ác kiến càng mạnh, cho nên mới có các nghiệp quả như bị xét hỏi, mưu
trá, tra khảo, vặn vẹo, gạn hỏi, cứu xét lí lịch đối chiếu rõ ràng; bấy giờ có đồng tử cầm sổ sách giấy tờ, những lời biện bạch được ghi chép đầy đủ. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy nghiệp ác kiến của chúng sinh, đều gọi đó là hố sâu kiến chấp; còn chư vị Bồ-tát nhìn các thiên chấp hư vọng như nhìn xuống hố độc.
Chín là thói quen vu vạ, phát sinh từ tâm vu oan giá họa để hại nhau, cảm ra các cảnh tượng ghê rợn như núi khép, đá kẹp, bánh xe sắt cán, cối xay nghiền, cày lưỡi; như kẻ gièm pha độc hại, vu cáo áp bức người lương thiện. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho tâm vu hại tiếp nối không ngừng, cho nên mới có các quả báo đau khổ như bắt nhốt, đè ép, vồ đập, ép máu, lóc thịt. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy tâm vu vạ của chúng sinh, đều gọi đó là cọp độc hại; còn chư vị Bồ-tát thì sợ sự vu vạ như sợ bị sấm sét.
Mười là thói quen tranh tụng, tố cáo lẫn nhau, phát sinh từ sự che giấu lỗi mình, cho nên mới có gương soi đuốc chiếu; như ở giữa ban ngày không thể giấu bóng được. Tập khí chủng tử vẫn còn mà lại chồng thêm tập khí hiện tại, làm cho nghiệp tranh tụng, che giấu càng mạnh, cho nên mới có nhân sự
và các dụng cụ đối nghiệm như bạn ác, gương soi nghiệp, ngọc rọi tâm để phơi bày rõ những nghiệp đời trước. Vì vậy, tất cả các đức Như Lai trong mười phương, xem thấy tâm che giấu lỗi của chúng sinh, đều gọi đó là giặc ngầm; còn chư vị Bồ-tát thì coi sự che giấu lỗi như đội núi cao lội trong biển lớn.
Thế nào là sáu giao báo? Này A Nan! Tất cả chúng sinh, sáu thức tạo nghiệp mà phải nhận chịu ác báo, đều do từ sáu căn mà ra. Thế nào là ác báo do từ sáu căn ra?
Một là quả báo của mắt thấy. Vì nhãn thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp thấy này cùng với các nghiệp khác (nghe, ngửi, nếm, chạm xúc, suy nghĩ) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước hết thấy lửa mạnh cháy rực đầy khắp mười phương; thần thức người chết bay lên rơi xuống, theo khói mà vào thẳng địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là thấy sáng, thì thấy khắp nơi toàn là vật dữ, sinh ra khiếp đảm vô cùng; hai là thấy tối, thì khắp nơi hoàn toàn tối tăm, không thấy gì, sinh ra sợ hãi vô hạn. Lửa của cái thấy như thế, giờ đây thiêu đốt cái thấy, khiến cho trong mắt chỉ thấy toàn hình sắc của giường sắt nóng, cột đồng nung; thiêu đốt cái nghe, khiến cho trong tai chỉ nghe âm thanh của vạc dầu sôi, nước đồng chảy; thiêu đốt cái ngửi,
khiến cho trong mũi chỉ ngửi mùi của khói đen, lửa nóng; thiêu đốt cái nếm, khiến cho trong lưỡi chỉ nếm vị của viên nóng, cơm sắt; thiêu đốt cái xúc, khiến cho trong thân chỉ nhận cảm giác của tro nóng, lò than; thiêu đốt cái suy nghĩ, khiến cho trong ý sinh ra lửa đóm như sao, bắn tung tóe khắp cõi hư không.
Hai là quả báo của tai nghe. Vì nhĩ thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp nghe này cùng với các nghiệp khác (thấy, ngửi, nếm, chạm xúc, suy nghĩ) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước hết thấy sóng cuộn ngập chìm trời đất; thần thức người chết bị cuốn trôi theo dòng nước mà vào thẳng địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là nghe rõ, thì nghe hết mọi thứ náo động, làm cho tinh thần hôn loạn; hai là nghe điếc, thì hoàn toàn lặng lẽ, không nghe gì, tinh thần chìm lịm. Sóng của cái nghe như thế, giờ đây ụp vào cái nghe, khiến tạo thành những lời trách mắng, tra hỏi; ụp vào cái thấy, khiến tạo thành sấm sét, miệng rống, khói hơi độc; ụp vào mũi thở, khiến thành mưa, thành mù, phì hơi độc khắp toàn thân thể; ụp vào cái nếm, khiến cho trong lưỡi chỉ nếm toàn mủ, máu, đủ thứ dơ bẩn; ụp vào cái xúc, khiến cho trong thân đụng chạm toàn
với súc sinh, ác quỉ, phân, nước tiểu; ụp vào ý nghĩ thì hóa thành sấm chớp, mưa đá, đập nát tâm thần.
Ba là quả báo của mũi ngửi. Vì tị thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp ngửi này cùng với các nghiệp khác (thấy, nghe, nếm, chạm xúc, suy nghĩ) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước hết thấy hơi độc đầy nghẹt gần xa; thần thức người chết tự thấy mình từ dưới đất vọt lên, rồi lại rớt thẳng vào địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là ngửi thông, thì bị hơi độc xông lên tột bực, làm cho tâm thần rối loạn; hai là nghẹt thở, hơi thở bị tắt nghẽn, nằm chết giấc trên mặt đất. Hơi của cái ngửi như thế, giờ đây xông vào hơi thở, làm thành thông, thành nghẹt; xông vào cái thấy thì thành lửa, thành đuốc; xông vào cái nghe thì làm ra chìm ngập nơi biển lớn, chết thảm trong nước sôi; xông vào cái nếm, khiến cho vị thành thiu, thành ươn thối; xông vào cái xúc thì thành nứt nẻ, rách nát, thành núi thịt lớn có trăm ngàn con mắt, vô số giòi bọ rúc ăn; xông vào ý nghĩ, khiến thành ra tro, chướng khí, gạch đá bay nhảy đánh đập thân thể nát nhừ.
Bốn là quả báo của lưỡi nếm. Vì thiệt thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp nếm này cùng với các nghiệp khác (thấy, nghe, ngửi, chạm xúc, suy nghĩ) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước
hết thấy lưới sắt cháy đỏ rực bao trùm thế giới; thần thức người chết muốn chui xuyên qua, nhưng bị mắc vào lưới, đầu lộn ngược xuống, rơi thẳng xuống địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là nuốt hơi vào, thì hơi đóng thành băng lạnh, làm nứt nẻ thân thể; hai là nhả hơi ra, thì hơi bay lên thành lửa dữ, đốt rụi xương tủy. Nếm vị như thế, giờ đây trải qua cái nếm, thì lưỡi tự thú nhận, chịu tội; trải qua cái thấy, thì mắt chỉ thấy toàn đá gạch, kim khí đang nung cháy; trải qua cái nghe, thì tai chỉ nghe âm thanh của binh đao sắc bén; trải qua cái ngửi, thì mũi chỉ ngửi toàn hơi của lồng sắt nung nóng trùm khắp cõi nước; trải qua cái xúc, thì thân chỉ đụng chạm với cung tên nỏ bắn; trải qua ý nghĩ, thì sinh ra sắt nóng bay, từ trên không rơi xuống như mưa.
Năm là quả báo của thân chạm xúc. Vì thân thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp chạm xúc này cùng với các nghiệp khác (thấy, nghe, ngửi, nếm, suy nghĩ) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước hết thấy núi lớn từ bốn phía áp lại, không có lối ra; thần thức người chết thấy thành sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, cọp, sói, sư tử, cai ngục đầu trâu, la sát đầu ngựa, tay cầm đao thương lùa vô cổng thành, hướng thẳng vào địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là cảm xúc hợp vào,
thì thấy núi ép thân thể, xương thịt nát nhừ trộn máu; hai là cảm xúc lìa ra, thì thấy gươm dao đâm mình, tim gan bị cắt lìa. Cảm xúc như thế, giờ đây trải qua cái xúc, khiến cho thân chỉ xúc chạm với xô, đập, đâm, bắn; trải qua cái thấy, thì mắt thấy toàn cảnh tượng nóng, đốt; trải qua cái nghe, thì tai chỉ nghe tiếng kêu khổ ở hai bên đường, tiếng hô hoán của chủ ngục, tiếng xử phạt nơi sảnh đường, tiếng hài tội nơi tòa án; trải qua hơi thở, thì các thứ như vải trùm kín, đãy nhốt cột chặt, tra khảo, trói buộc làm ngộp thở; trải qua cái nếm, thì lưỡi bị cào, bị kẹp, bị giật, bị cắt; trải qua ý nghĩ, thì vụt lên, vụt xuống, lúc nấu, lúc nướng.
Sáu là quả báo của ý nghĩ. Vì ý thức tạo nghiệp nên chiêu dẫn ác quả. Nghiệp suy nghĩ này cùng với các nghiệp khác (thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc) giao tác, cho nên trong lúc lâm chung, trước hết thấy gió dữ thổi tan tành quốc độ; thần thức người chết bị thổi bay lên hư không, rồi lại bị xoáy theo lốc mà rơi xuống, vào thẳng địa ngục vô gián. Tại đây chỉ có hai cảnh tượng: một là không biết, mê sảng tột cùng, thì hoang mang kinh sợ, rong chạy không dừng; hai là tỉnh biết, thì bị cảnh khổ nung đốt không cùng, đau đớn không chịu nổi. Quả báo của ý nghĩ tà vạy như thế, giờ đây kết nơi ý căn, thành ra nơi nơi chốn
chốn thọ tội; kết nơi nhãn căn, thành ra gương soi nghiệp, bạn ác làm chứng để xác nhận tội; kết nơi nhĩ căn, thành ra tảng đá to, thành băng, thành sương, thành đất, thành hơi mù; kết nơi tị căn, thành ra xe lửa, thuyền lửa, lồng lửa; kết nơi thiệt căn, thành ra tiếng kêu la, gào khóc; kết nơi thân căn, thành ra thân lớn, thân nhỏ, té sấp, té ngửa, trong một ngày trải qua vạn lần sống vạn lần chết.
Này A Nan! Đó là mười tập nhân và sáu quả báo của địa ngục. Nhân quả như thế, đều do chúng sinh mê vọng tạo ra. Nếu các chúng sinh, cả sáu căn đồng thời tạo hết các nghiệp ác như thế, sẽ đọa vào địa ngục A-tì, chịu đau khổ cùng cực, trải vô lượng kiếp. Nếu mỗi căn tạo đủ mười nghiệp nhân nhưng không đồng thời với các căn khác, lại gồm thêm mười nghiệp nhân của các căn khác, người đó sẽ đọa vào tám địa ngục vô gián. Nếu thân, khẩu, ý tạo ba nghiệp sát, đạo, dâm, người đó sẽ đọa vào mười tám địa ngục. Nếu không tạo đủ ba nghiệp, trong đó chỉ có hoặc một nghiệp sát một nghiệp đạo, hoặc một nghiệp sát một nghiệp dâm, vân vân, người ấy sẽ đọa vào ba mươi sáu địa ngục. Nếu chỉ một căn tạo một nghiệp, người ấy sẽ đọa vào một trăm lẻ tám địa ngục. Do đó chúng sinh, mỗi mỗi tự mình tạo nghiệp riêng biệt, nhưng ở trong thế giới, những tội danh và
tội trạng trùng hợp giống nhau, nên chịu quả báo thì đồng phận với nhau ở một chỗ. Thật ra thì cảnh giới ấy chỉ do vọng tưởng phát sinh, không phải bản lai tự có.
Lại nữa, này A Nan! Những người phá hủy luật nghi, phạm giới Bồ-tát, hủy báng niết bàn Phật quả, thì vĩnh viễn sống trong địa ngục; còn chỉ phạm các tạp nghiệp khác, sau nhiều kiếp chịu khổ thiêu đốt ở địa ngục mãn rồi, sẽ tiếp tục chịu khổ báo nhẹ hơn nơi chốn ngạ quỉ. Nếu nơi nghiệp nhân căn bản, do tham vật mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp vật thì gá theo mà thành hình, gọi là Quái-quỉ; nếu tham sắc mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp gió thì gá theo mà thành hình, gọi là Bạt-quỉ; nếu tham dối trá mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp súc vật thì gá theo mà thành hình, gọi là Mị-quỉ; nếu tham sân hận mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp sâu bọ thì gá theo mà thành hình, gọi là Cổ-độc-quỉ; nếu tham nhớ oán thù mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp sự suy bại của kẻ thù thì gá theo mà thành hình, gọi là Lệ-quỉ; nếu tham ngạo mạn mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp hơi thì gá theo mà thành hình, gọi là Ngạ-quỉ; nếu tham lừa
đảo mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp điều u ẩn ám muội thì gá theo mà thành hình, gọi là Yểm-quỉ; nếu tham tà kiến mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp tinh hoa thì gá theo mà thành hình, gọi là Vọng- lượng-quỉ; nếu tham vu vạ mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp chú thuật thì gá theo mà thành hình, gọi là Dịch-sử-quỉ; nếu tham bè đảng mà gây tội, sau khi thọ tội ở địa ngục xong, người đó gặp người thì gá theo mà thành hình, gọi là Truyền-tống quỉ. Này A Nan! Những người đó đều do thuần tình mà đọa lạc, khi lửa nghiệp thiêu đốt khô hết ở địa ngục rồi, thì lên làm quỉ. Tất cả những cảnh đau khổ đó đều do nghiệp vọng tưởng của tự mình chiêu dẫn. Nếu được duyên lành tỏ ngộ bồ đề, thì trong cái tánh sáng tròn vẹn nhiệm mầu, vốn không hề có những cảnh khổ ấy.
Lại nữa, này A Nan! Khi nghiệp quỉ đã hết thì hai thứ tình và tưởng thành không, mới ở thế gian, cùng với người mình từng mang nợ khi xưa, oan gia đối đầu, thân phải làm súc sinh để đền trả nợ cũ. Loài Quái-quỉ gá theo vật mà thành hình, nay vật đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chim cú vọ; loài Bạt-quỉ gá theo gió mà thành hình, nay gió đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần
nhiều làm loài báo điềm hung dữ, hoặc các loài cầm thú kì dị khác; loài Mị-quỉ gá theo súc vật mà thành hình, nay súc vật đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm loài chồn; loài Cổ-độc-quỉ gá theo sâu bọ mà thành hình, nay sâu bọ đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài có nọc độc; loài Lệ-quỉ gá theo vận suy mà thành hình, nay vận suy đã cùng, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm loài giun; loài Ngạ-quỉ gá theo hơi mà thành hình, nay hơi đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài cho người ta ăn thịt; loài Yểm-quỉ gá theo u ẩn ám muội mà thành hình, nay u ẩn ám muội đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài để người ta lấy da hoặc lông làm y phục; loài Vọng-lượng-quỉ gá theo tinh hoa mà thành hình, nay tinh hoa đã tiêu, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài chim xuất hiện theo mùa; loài Dịch-sử-quỉ gá theo chú thuật mà thành hình, nay chú thuật đã mất, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm loài báo điềm lành, hoặc các loài tinh khôn khác; loài Truyền-tống- quỉ gá theo người mà thành hình, nay người đã chết, báo đã hết, sinh nơi thế gian, phần nhiều làm các loài gia súc quấn quít bên người. Này A Nan! Những loài như thế đều là lửa nghiệp đốt xong, sinh vào các loài
bàng sinh để trả nợ cũ. Những cảnh khổ đó cũng đều do từ nghiệp hư vọng của chính mình chiêu dẫn, nếu được duyên lành tỏ ngộ bồ đề, thì những vọng duyên ấy vốn không tự có.
Này A Nan! Như lời thầy nói về các nghiệp ác của tì kheo ni Bảo Liên Hương, vua Tì Lưu Li và tì kheo Thiện Tinh, đều vốn do họ tự tạo ra, không phải do từ trên trời sa xuống, không phải do từ dưới đất phát lên, cũng không phải do người nào đem cho, mà chính do vọng tưởng của họ chiêu dẫn, rồi tự nhận chịu quả báo. Đối với tâm bồ đề, chúng đều là phù vân hư huyễn, chỉ là sự kết đọng của vọng tưởng mà thôi.
Lại nữa, này A Nan! Các loài súc sinh đền trả nợ trước; nhưng trong lúc trả nợ mà trả quá mức, thì những chúng sinh ấy sẽ trở lại làm người để đòi lại chỗ dư thừa. Nếu người bị đòi kia có nghiệp lành và có phước đức thì vẫn ở trong loài người, không cần phải bỏ thân người mà trả lại chỗ dư thừa đó; còn nếu không có phước đức thì phải làm thân súc sinh để đền trả chỗ dư thừa.
A Nan! Thầy nên biết, dù đang làm người mà dùng tiền vật trả nợ, hoặc làm thân súc sinh dùng sức trả nợ, thì khi trả đủ là xong; còn như ở trong ấy có giết thân mạng, hoặc ăn thịt chúng sinh, như vậy
phải trải qua nhiều kiếp giết nhau, ăn thịt nhau, giống như bánh xe xoay vòng, chỗ cao chỗ thấp thay đổi nhau, không hề ngừng nghỉ; trừ ra tu được pháp xa-ma-tha, hay gặp được Phật ra đời, nếu không thì không có cách nào chấm dứt được.
Thầy nên biết: Loài cú vọ kia khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người ngoan cố; loài báo điềm hung dữ kia, khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người quái dị; loài chồn khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người tầm thường; những loài có độc kia khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người hiểm độc; loài giun khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người thấp hèn; những loài cung cấp thịt ăn, khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người nhu nhược; những loài cung cấp da hoặc lông làm đồ mặc kia, khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người lao khổ không ngừng; loài chim mùa kia khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người có chút ít văn hóa; những loài báo
trước điềm lành, khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người thông minh; những loài gia súc, khi trả nợ đã đủ thì được trở lại thân người, sinh vào nhân đạo, nhập bọn với hạng người hiểu biết việc đời. Này A Nan! Các chúng sinh đó đều do trả hết nợ cũ, được trở lại thân người trong nhân đạo. Họ từ vô thỉ đến nay, điên đảo tạo nghiệp, sinh sát lẫn nhau, không gặp Phật, không nghe chánh pháp, mãi mãi xoay vần trong chốn trần lao, thật là đáng thương xót!
Này A Nan! Lại trong nhân đạo, có những người không nương theo chánh giác để tu tập chánh định, mà đi vào rừng núi thâm u hẻo lánh, chỗ không có người tới lui, tu theo vọng niệm riêng, tư tưởng chuyên chú, kiên cố hình hài, cốt để thành tiên, gồm mười hạng như sau: Hạng người chuyên tìm các thứ bổ dưỡng để ăn, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo ăn thành tựu, gọi là Địa-hành tiên; hạng người chuyên ăn các thứ cỏ cây, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo thuốc thành tựu, gọi là Phi- hành tiên; hạng người chuyên luyện vàng, đá, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo hóa chất thành tựu, gọi là Du-hành tiên; hạng người chuyên vận khí dưỡng tinh, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo khí tinh thành tựu, gọi là Không-hành tiên; hạng
người chuyên nhai nuốt nước miếng, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi nhuận đức thành tựu, gọi là Thiên-hành tiên; hạng người chuyên hút tinh hoa nhật nguyệt, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi hút khí tinh túy thành tựu, gọi là Thông-hành tiên; hạng người chuyên luyện bùa chú, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi thuật pháp thành tựu, gọi là Đạo-hành tiên; hạng người chuyên luyện về trầm tư tĩnh niệm, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi công phu tư niệm thành tựu, gọi là Chiếu-hành tiên; hạng người chuyên luyện về thủy hỏa giao cấu, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi đạo cảm ứng thành tựu, gọi là Tinh-hành tiên; hạng người chuyên luyện về biến hóa, bền bỉ luyện như thế mãi, cho đến khi tâm tĩnh giác thành tựu, gọi là Tuyệt-hành tiên. Này A Nan! Những hạng tiên nhân đó đều ở trong nhân đạo mà tu vọng niệm, chẳng tu chánh giác, chỉ đạt công hiệu về sức sống, thọ ngàn vạn tuổi, ở ẩn trong núi rừng sâu thẳm, hoặc trên đảo giữa biển khơi, cách tuyệt với người đời. Tuy vậy, vì không tu chánh định, vẫn đầy dẫy vọng tưởng, họ vẫn trôi lăn trong luân hồi, khi quả báo hết rồi, lại lưu lạc vào các nẻo.
Này A Nan! Những người ở thế gian không cầu đạo quả thường trụ, chưa có thể bỏ sự ân ái vợ
chồng, nhưng không buông lung phạm giới tà dâm, tâm được chút ít định tĩnh, sáng suốt, sau khi mạng chung sinh về một cõi ở gần mặt trời mặt trăng, gọi là cõi trời Tứ-vương. Những người, trong đời sống vợ chồng, tâm dâm ái ít ỏi, nhưng trong những lúc tĩnh cư, thỉnh thoảng niệm dâm dục còn sinh khởi, chưa hoàn toàn thanh tịnh, thì sau khi mạng chung, vượt khỏi ánh sáng mặt trời mặt trăng, sinh trên đỉnh cao tột của cõi nhân gian, gọi là cõi trời Đao-lợi(221). Những người gặp cảnh dâm dục thì tạm thời thuận theo, nhưng qua rồi thì không nghĩ tới nữa; ở trong nhân gian mà tâm không bị đắm nhiễm sâu nặng, thì sau khi mạng chung, sáng rỡ an trú một cõi trên hư không, ánh sáng mặt trời mặt trăng không chiếu đến được; những chúng sinh ấy tự có ánh sáng, đó là cõi trời Tu-diệm-ma(222). Những người luôn luôn tĩnh lặng, nhưng có khi vẫn bị những cảm xúc bức ép, chưa có thể chống cự hẳn được, thì sau khi mạng chung, sinh lên cõi tinh vi, không tiếp xúc với các cõi trời, người ở dưới; cho đến thời kiếp Hoại, tam tai cũng không hủy hoại tới cõi này, đó là cõi trời Đâu-suất-đà(223). Những người không có tâm dâm dục, nhưng có lúc, chỉ vì đáp ứng người khác mà hành sự, và trong lúc hành sự thì cảm thấy vô vị như nhai sáp, thì sau khi mạng chung, sinh vượt lên trên
nữa, vào cõi biến hóa, đó là cõi trời Lạc-biến-hóa(224). Những người không có tâm thế gian, chỉ hòa đồng với thế gian mà hành sự dục lạc, và ngay trong lúc hành sự, tâm hoàn toàn siêu thoát, không có mảy may ý tưởng dục lạc, thì sau khi mạng chung, sinh vượt lên trên nữa, khỏi tất cả cõi Lạc- biến-hóa và bốn cõi trời ở dưới, gọi là cõi trời Tha- hóa-tự-tại(225). Này A Nan! Sáu cõi trời đó, về thân xác tuy có tiết chế dần dần hành động dâm dục, nhưng tâm ý vẫn chưa hoàn toàn dứt hết ái dục, cho nên, từ sáu cõi trời này cho đến hết các cõi dưới, đều gọi chung là DỤC GIỚI.
 
/6
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây