Tác giả: Sa-môn: Bát Lạt Mật Đế dịch từ Phạn văn ra Hán văn - Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 262.
Ý kiến bạn đọc
Lưỡi nếm biết được vị,
Phải xúc chạm vị trần;
Nếu vị trần tiêu vong,
Tánh biết vị không có,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương thiệt căn
Để tu chứng viên thông!
Thân thể chạm xúc biết
Thì phải có đối tượng.
Nhưng năng xúc, sở xúc,
Giới hạn, không liên tục,
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương thân căn
Để tu chứng viên thông!
Ý căn thường loạn tưởng,
Nếu tư duy dừng lại,
Chẳng còn thấy biết gì;
Nhưng niệm tưởng tạp loạn,
Không dễ gì thoát được,
Thì người sơ phát tâm
Để tu chứng viên thông!
Nhãn thức muốn phát khởi,
Phải nhờ đủ căn, trần,
Xét tận cùng gốc rễ,
Hư vọng, không thật thể.
Tự thể không nhất định
Thì người sơ phát tâm
Dễ gì nương nhãn thức
Để tu chứng viên thông!
Nhĩ thức nghe mười phương,
Do hạnh nguyện rộng lớn.
Hạng người sơ phát tâm
Không thể đạt đến đó,
Nên nếu nương nhĩ thức,
Khó tu chứng viên thông!
Quán điểm trắng chót mũi,
Vốn chỉ là quyền cơ,
Nhằm khiến tâm an trụ;
Không phải là khả năng
Mà tị thức vốn có.
Khi tâm đã an trụ,
Thành chỗ trụ của tâm;
Nhưng chân tâm vô trụ,
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương đó chứng viên thông!
Dùng thiệt thức nói pháp,
Chỉ là khéo xếp đặt
Ngôn ngữ cùng âm thanh.
Nhưng nếu được khai ngộ,
Thì chỉ là thành tựu
Sức biện tài nhiều kiếp;
Tất cả mọi danh cú
Đều là pháp hữu vi,
Làm sao chứng viên thông!
Giữ giới không cho phạm,
Chỉ ràng buộc thân thức;
Ngoài phạm vi thân thức,
Không gì bị ràng buộc,
Cho nên không biến khắp.
Kẻ sơ tâm nương vào
Pháp môn không biến khắp,
Làm sao chứng viên thông!
Do tu nhân đời trước,
Đâu có quan hệ gì
Tới ý thức phân biệt!
Ý thức đối pháp trần
Khởi niệm niệm phân biệt;
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương vào vọng thức ấy
Mà chứng được viên thông!
Nếu quán tánh địa đại,
Cứng chắc không thông suốt;
Đó là pháp hữu vi,
Không phải là chân tánh,
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương vào pháp hữu vi
Mà chứng được viên thông!
Nếu quán tánh thủy đại
Do niệm tưởng mà thành,
Không phải tánh như thật.
Như như không thể quán,
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương vào tâm giác quán
Mà chứng được viên thông!
Vì chán có lửa dục
Nên mong cầu lìa dục,
Không phải chân thật lìa;
Chẳng phải là phương tiện
Phù hợp kẻ sơ tâm
Để tu chứng viên thông!
Nếu quán tánh phong đại,
Lúc động, lúc yên lặng,
Thuộc trong vòng đối đãi,
Trái với vô thượng giác.
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương vào pháp vô thường
Mà tu chứng viên thông!
Nếu quán tánh không đại,
Trơ trơ, không hay biết,
Khác hẳn tánh bồ đề.
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương cái vô tri giác
Mà tu chứng viên thông!
Nếu quán tánh thức đại,
Nếu giữ tâm chẳng động,
Do sức quán trì giữ,
Cũng thuộc về hư vọng.
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương vào tâm vô thường
Mà tu chứng viên thông!
Các hành đều vô thường,
Niệm tưởng vốn sinh diệt;
Nhân và quả khác biệt,
Làm sao kẻ sơ tâm
Nương tâm niệm sinh diệt
Mà tu chứng viên thông!
Kính bạch đức Thế Tôn!
Phật ở cõi Ta-bà,
Theo cơ nghi cõi này
Lập giáo thể chân thật,
Thanh tịnh mà châu biến,
Chỉ tại nói và nghe.
Muốn chứng tam-ma-đề,
Thật nên dùng tánh nghe.
Lành thay, Quán Thế Âm!
Đã lìa khổ, giải thoát;
Vào vô số cõi Phật,
Được sức đại tự tại,
Bố thí đức vô úy
Cho tất cả chúng sinh;
Tiếng nói pháp nhiệm mầu,
Tiếng nói nhìn vào đời,
Tiếng hoàn toàn thanh tịnh,
Tiếng ứng hợp thời cơ;
Thường cứu giúp thế gian
Mọi sự đều an lành,
Chứng đạo xuất thế gian,
Thường trụ, không sinh diệt.
Kính bạch đức Thế Tôn!
Như Quán Âm đã nói,
Ví như có một người
Đang ngồi nơi yên tĩnh,
Mười phương đều đánh trống,
Thì người ấy cùng thời
Nghe trống khắp mười nơi;
Cho nên biết tánh nghe
Bản lai vốn viên mãn,
Không vọng, không hư dối.
Không thể thấy thông suốt;
Miệng, mũi cũng như vậy;
Thân có chạm mới biết;
Ý niệm luôn lăng xăng,
Ngổn ngang không đầu mối!
Tai, cách tường vẫn nghe,
Xa gần đều nghe được,
Năm căn không sánh bằng;
Cho nên biết tánh nghe
Bản lai vốn thông suốt,
Không vọng, không hư dối.
Tiếng có động, có tĩnh,
Nghe lúc có, lúc không;
Không tiếng, gọi không nghe,
Chẳng phải không tánh nghe.
Trong lúc không có tiếng,
Tánh nghe vẫn không diệt;
Trong lúc đang có tiếng,
Tánh nghe cũng không sinh.
Như thế là tánh nghe
Lìa cả sinh và diệt;
Cho nên biết tánh nghe
Bản lai vốn thường trú,
Dầu cho trong lúc ngủ,
Ý thức không nghĩ suy,
Nhưng không phải vì vậy
Mà tánh nghe chẳng có;
Cho nên biết tánh nghe
Vượt ngoài sự suy nghĩ,
Thân tâm không sánh bằng.
Nay cõi Ta-bà này,
Nương tiếng nói luận giải,
Nghĩa lí được tuyên dương.
Nhưng chúng sinh mê muội,
Không thấu đạt tánh nghe,
Chỉ bám theo thanh trần,
Cho nên mãi lưu chuyển!
Ngay như thầy A Nan,
Tuy nghe nhiều nhớ kĩ,
Không khỏi vướng niệm tà!
Mê tiếng thì lưu chuyển;
Xoay nghe vào bản tánh,
Thì chứng ngộ chân thường.
Này đây thầy A Nan!
Tôi nương uy lực Phật,
Tuyên nói pháp Tam-muội
Cứng chắc như kim cương:
Như-Huyễn Tam-ma-đề,
Thật không thể nghĩ bàn,
Nơi xuất sinh chư Phật.
Thầy đã từng được nghe
Tất cả pháp bí áo
Của vô lượng chư Phật,
Nhưng dục lậu chưa trừ,
Tuy tích chứa nghe nhiều,
Trở lại thành lầm lỗi!
Thầy đã dùng cái nghe
Để thọ trì Phật Pháp,
Sao không xoay cái nghe
Để nghe cái tánh nghe?
Nghe, không tự nhiên sinh,
Nhân tiếng mà có tên.
Xoay nghe nghe tự tánh,
Thoát li khỏi thanh trần.
Nghe đã thoát thanh trần,
Một căn đã về nguồn,
Sáu căn đều giải thoát.
Thấy nghe như bệnh lòa,
Ba cõi như không hoa,
Nghe đã xoay về cội,
Bệnh lòa liền dứt trừ,
Trần giới cũng tiêu tan,
Tánh Giác tròn hiển lộ.
Tánh Giác cực thanh tịnh,
Tâm sáng cực viên mãn,
Tịch chiếu trùm hư không.
Xem trở lại thế gian,
Toàn là việc trong mộng.
Ma Đăng Già là mộng,
Thì ai giữ được thầy?
Như ta thấy ở đời,
Người làm trò ảo thuật,
Khéo làm hình trai, gái,
Tuy người xem thấy rõ
Các căn đều cử động,
Nhưng sự thật là do
Máy ngừng, hình đứng yên,
Trò huyễn trở thành không.
Sáu căn cũng như vậy,
Vốn nương một tinh minh,
Phân thành sáu hòa hợp,
Một căn đã quay về,
Sáu căn đều tịch tĩnh.
Một niệm trần cấu tiêu,
Thành viên minh tịnh diệu.
Còn trần là hữu học,
Sáng tột tức Như Lai.
Thưa Đại Chúng hiện tiền,
Cùng với thầy A Nan!
Hãy trừ bỏ cái nghe
Bám thanh trần điên đảo,
Hãy xoay lại cái nghe
Quay về nghe tự tánh,
Tánh thành Đạo Vô Thượng.
Đó thật là pháp môn
Kẻ sơ tâm nương vào
Để tu chứng viên thông.
Đó là con đường thẳng
Mà chư Phật mười phương
Chư Phật đời quá khứ
Đã thành tựu pháp này;
Chư Bồ-tát hiện tại
Cũng nương pháp môn này
Nhập cảnh giới viên minh;
Và ở đời vị lai,
Những người tu học Phật
Cũng theo pháp môn ấy.
Chẳng riêng Quán Thế Âm,
Tôi cũng trong pháp ấy
Mà tu chứng viên thông.
Thật như lời Thế Tôn
Hỏi con các phương tiện
Dùng để cứu chúng sinh
Ở thời kì mạt pháp,
Người muốn cầu xuất thế,
Thành tựu tâm niết bàn,
Thì phương tiện "nhĩ căn"
Của Bồ Tát Quán Âm
Là siêu việt hơn hết;
Còn các phương tiện khác,
Đều nhờ oai thần Phật,
Khiến gặp được cơ duyên
Không phải là pháp tu
Lâu dài cho mọi người,
Cũng không thể cùng lúc
Nói cho người căn cơ
Sâu, cạn không đồng nhau.
Đảnh lễ Như Lai Tạng
Vô lậu, không nghĩ bàn,
Gia hộ đời vị lai
Người tu pháp môn này
Tỏ ngộ, không mê hoặc.
Phương tiện kẻ sơ tâm
Tu dễ dàng thành tựu!
Đây quả là pháp môn
Hợp cơ thầy A Nan
Cùng chúng sinh đời sau,
Chỉ cần tu "nhĩ căn",
Mau chứng được Viên Thông,
Hơn các pháp môn khác.
Yếu quyết tu Chân Tâm,
Chỉ như vậy mà thôi!
Lúc bấy giờ, đại đức A Nan cùng cả đại chúng, nhận được sự khai thị quí báu của Bồ Tát Văn Thù,
Đại đức A Nan sửa áo chỉnh tề, ở trong đại chúng, chắp tay đảnh lễ Phật. Chân tâm sáng tỏ, buồn vui lẫn lộn, vì muốn lợi ích cho chúng sinh đời vị lai, đại đức cúi đầu bạch Phật:
- Bạch đức Thế Tôn đại bi! Con nay đã tỏ ngộ pháp môn thành Phật, nương theo đó mà tu hành, không còn nghi hoặc. Con thường nghe đức Thế Tôn dạy rằng: "Tự mình chưa được độ mà trước đã độ người, đó là sự phát tâm của chư vị Bồ-tát; tự mình đã giác ngộ viên mãn, rồi độ cho chúng sinh giác ngộ, đó là sự ứng thế của các đức Như Lai." Con tuy chưa được độ, nhưng nguyện cứu độ tất cả chúng sinh đời mạt pháp. Bạch đức Thế Tôn! Các chúng sinh ấy cách Phật ngày càng xa, tà sư thuyết pháp
không bị thối chuyển?
Lúc bấy giờ, ở giữa chúng hội, đức Phật khen ngợi đại đức A Nan rằng:
- Lành thay! Lành thay! Như thầy vừa hỏi về việc an lập đạo tràng, cứu hộ chúng sinh trầm luân trong đời mạt pháp, thì đây, thầy hãy lắng nghe, Như Lai sẽ nói rõ.
Đại đức A Nan và đại chúng đồng vâng dạ. Phật dạy:
- A Nan! Thầy thường nghe trong giới luật, Như Lai từng tuyên nói ba nghĩa quyết định của sự tu hành, đó là: Nhiếp tâm gọi là GIỚI, nhân Giới mà sinh ĐỊNH, nhân Định mà phát TUỆ; ấy gọi là "ba pháp học vô lậu".
Thầy A Nan! Vì sao nhiếp tâm mà gọi là "Giới"? Chúng sinh trong sáu đường ở khắp các thế giới, nếu tâm họ không dâm dục, thì họ không còn tiếp tục trôi lăn trong sinh tử. Thầy tu pháp tam muội cốt để thoát khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục không đoạn trừ thì không thể thoát khỏi trần lao được. Dù có nhiều trí, thiền định hiện tiền, nhưng tâm dâm dục không đoạn dứt, chắc chắn sẽ lạc vào ma đạo: hạng
Thầy dạy người đời tu pháp chánh định, trước hết phải dứt bỏ tâm dâm dục. Đó là lời dạy sáng rõ, thanh tịnh, quyết định thứ nhất của Như Lai và chư Phật quá khứ.
Vì vậy cho nên, này A Nan! Người tu thiền định mà không đoạn tuyệt lòng dâm dục, thì cũng giống như nấu cát đá mà muốn thành cơm, trải qua trăm nghìn kiếp, vẫn chỉ là cát đá nóng mà thôi. Vì sao vậy? Vì giống gốc của nó là cát đá, không phải là cơm. Thầy dùng cái thân dâm dục mà cầu quả Phật vi diệu, giả sử trải qua nhiều kiếp tu tập mà được khai ngộ, cũng chỉ là gốc dâm dục. Giống gốc đã là dâm dục thì chắc chắn phải trôi lăn trong ba ác đạo, không thể thoát ra khỏi; đâu có con đường nào để tu chứng niết bàn của chư Phật? Chắc chắn là phải làm cho cái nguồn gốc phát động dâm dục, ở cả tâm lẫn thân, đều bị đoạn trừ; cho đến chính cái tánh đoạn
Lại nữa, này A Nan! Chúng sinh trong sáu đường ở khắp các thế giới, nếu tâm họ không giết hại, thì họ không còn tiếp tục trôi lăn trong sinh tử. Thầy tu pháp tam muội cốt để thoát khỏi trần lao, nếu tâm giết hại không đoạn trừ thì không thể thoát khỏi trần lao được. Dù có nhiều trí, thiền định hiện tiền, nhưng tâm giết hại không đoạn dứt, chắc chắn sẽ lạc vào thần đạo: hạng cao thì thành quỉ đại lực; hạng vừa thì thành dạ xoa phi hành hoặc quỉ thống soái; hạng thấp thì thành quỉ la sát đi trên mặt đất. Các loại quỉ thần kia cũng có đồ chúng, và đều tự xưng mình là thành đạo vô thượng! Sau khi Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp, những loài quỉ thần này vô cùng đông đúc, uy thế lừng lẫy thế gian. Chúng tự nói rằng, ăn thịt cũng đạt được đạo bồ đề.
Này A Nan! Như Lai bảo các thầy tì kheo ăn năm thứ tịnh nhục(199), thịt ấy đều do thần lực của Như Lai hóa sinh, vốn không có mạng căn(200). Xứ sở của bà-la-môn, đất đai phần nhiều nóng ẩm, lại thêm nhiều cát đá, rau cỏ không sinh sản được. Như Lai dùng sức đại bi gia bị; nhân tâm đại từ bi mà giả gọi
Thầy dạy người đời tu pháp chánh định, trước hết phải dứt bỏ tâm dâm dục; thứ đến là phải dứt bỏ tâm sát sinh. Đó là lời dạy sáng rõ, thanh tịnh, quyết định thứ nhì của Như Lai và chư Phật quá khứ.
Vì vậy cho nên, này A Nan! Người tu thiền định mà không đoạn tuyệt tâm giết hại, thì cũng giống như người tự bịt tai mình, cất tiếng kêu lớn mà mong người khác đừng nghe; đó gọi là càng muốn ẩn thì càng lộ. Hàng tì kheo thanh tịnh và các vị Bồ-tát, đi trên đường mòn còn không dẫm cỏ non, huống nữa là lấy tay nhổ cỏ! Làm sao người có tâm đại bi mà lại lấy máu thịt của chúng sinh làm thức ăn? Nếu các thầy tì kheo không mặc các thứ vải bằng tơ lụa lượt là, không dùng các thứ giày da áo lông của phương Đông, cũng như không ăn các thứ sữa, bơ, phó-mát,
Lại nữa, này A Nan! Chúng sinh trong sáu đường ở khắp các thế giới, nếu tâm họ không trộm cắp, thì họ không còn tiếp tục trôi lăn trong sinh tử. Thầy tu pháp tam muội cốt để thoát khỏi trần lao, nếu tâm trộm cắp không đoạn trừ thì không thể thoát khỏi trần lao được. Dù có nhiều trí, thiền định hiện tiền, nhưng tâm trộm cắp không đoạn dứt, chắc chắn sẽ lạc vào tà đạo: hạng cao thì thành tinh linh; hạng vừa thì thành yêu mị; hạng thấp thì thành người tà, bị các loài yêu mị nhập vào mê hoặc. Các loại tà mị kia cũng có đồ chúng, và đều tự xưng mình là thành đạo vô thượng! Sau khi Như Lai diệt độ, ở trong đời mạt pháp, những loài tà mị này vô cùng đông đúc, uy thế
Như lai dạy các thầy tì kheo pháp khất thực theo thứ lớp để dứt bỏ lòng tham, thành đạo Bồ đề. Các thầy tì kheo không tự nấu ăn, gửi kiếp sống thừa tạm nương nơi ba cõi, thị hiện chỉ một phen đi về, đi rồi thì không bao giờ trở lại nữa. Làm sao bọn giặc lại mượn y phục Như Lai để buôn bán Như Lai, tạo đủ thứ tội nghiệp mà cứ nói là Phật Pháp! Lại còn hủy báng các vị xuất gia chân chánh, giữ tròn giới luật tì kheo, nói đó là đạo tiểu thừa! Do sự hủy báng này làm cho vô lượng chúng sinh mê lầm, nên bọn chúng phải đọa vào địa ngục vô gián.
Sau khi Như Lai diệt độ, nếu có tì kheo phát tâm quyết định tu pháp chánh định như huyễn, có thể ở trước hình tượng Như Lai, dùng thân thắp một ngọn đèn, đốt một lóng ngón tay, hay ở trên thân đốt một nén hương, Như Lai nói thầy tì kheo ấy, túc trái từ vô thỉ, chỉ trong một lúc là đã trả hết, vĩnh viễn từ bỏ thế gian, thoát hết các lậu hoặc. Tuy chưa thấy rõ ngay lập tức con đường vô thượng giác, nhưng vị ấy đối với Phật Pháp thì tâm đã quyết định. Nếu không
Thầy dạy người đời tu pháp chánh định, sau khi đã dứt bỏ tâm dâm dục, tâm giết hại, còn phải dứt bỏ tâm trộm cắp. Đó là lời dạy sáng rõ, thanh tịnh, quyết định thứ ba của Như Lai và chư Phật quá khứ.
Vì vậy cho nên, này A Nan! Người tu thiền định mà không đoạn tuyệt tâm trộm cắp, thì cũng giống như người rót nước vào cái chén lủng đáy mà mong cho chén đầy, thì dù trải qua số kiếp nhiều như vi trần, chén ấy cũng không bao giờ đầy nước được. Nếu các thầy tì kheo, ngoài ba y một bát ra, một mảy may gì cũng không chứa giữ; xin ăn có chút dư thừa thì bố thí cho chúng sinh đói khát; đến nơi đại chúng tập họp thì chắp tay vái chào; có ai mắng chửi thì hoan hỉ coi như lời khen ngợi; cả thân và tâm đều quyết buông bỏ, coi thân xác máu thịt là sở hữu chung của chúng sinh; không đem những lời dạy phương tiện của Như Lai làm chỗ hiểu biết của riêng mình, khiến cho kẻ sơ học phải lầm lạc; thì các vị ấy sẽ được Như Lai ấn chứng là người thật sự đạt được chân chánh tam muội. Đúng như lời Như Lai nói
Này A Nan! Chúng sinh trong sáu đường ở khắp các thế giới như thế, tuy cả thân và tâm đều đoạn dứt trọn vẹn các nghiệp giết hại, trộm cắp, dâm dục, nhưng nếu còn phạm lỗi đại vọng ngữ, thì chánh định vẫn không thanh tịnh, thành ma ái kiến(202), mất hạt giống Phật. Đó là những người chưa được mà nói là đã được, chưa chứng mà nói là đã chứng; hoặc có người muốn được mọi người tôn mình là bậc nhất thế gian, bèn bảo rằng: "Ta nay đã chứng quả Tu-đà- hoàn, quả Tư-đà-hàm, quả A-na-hàm, quả A-la-hán, quả Bích-chi Phật, Bồ-tát Địa-tiền hay Địa-thượng", nói thế để mong cho người ta lễ bái, cúng dường. Đó là những kẻ đoạn thiện căn, tiêu diệt hạt giống Phật; như người dùng dao chặt cây đa-la(203). Như Lai nói người ấy đã mất hẳn căn lành, vĩnh viễn không còn chánh tri kiến, chìm đắm mãi trong biển khổ, không bao giờ thành tựu chánh định.
Như Lai bảo các hàng Bồ-tát và A-la-hán, sau khi Như Lai diệt độ, hãy ứng thân dưới mọi hình tướng, sinh vào đời mạt pháp để hóa độ cho chúng sinh chìm đắm; hoặc làm sa môn, hoặc làm cư sĩ, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ, thậm chí cùng đồng sự với các hạng dâm nữ, quả phụ, gian dối,
Thầy dạy người đời tu pháp chánh định, sau khi đã dứt bỏ tâm dâm dục, tâm giết hại, tâm trộm cắp, còn phải dứt bỏ tâm đại vọng ngữ. Đó là lời dạy sáng rõ, thanh tịnh, quyết định thứ tư của Như Lai và chư Phật quá khứ.
Vì vậy cho nên, này A Nan! Nếu không đoạn trừ tâm đại vọng ngữ thì cũng giống như lấy phân người đắp thành hình cây chiên đàn, rồi mong cho nó có mùi thơm hương chiên đàn, thật không bao giờ có chuyện ấy.
Như Lai dạy hàng tì kheo: Trực tâm chính là đạo tràng. Trong tất cả hành vi, đi đứng ngồi nằm, đều phải giữ tâm chánh trực, không được có chút giả dối, sao lại có thể tự tôn xưng mình đã đạt được diệu pháp của bậc thượng nhân? Người dân thường ngu muội, tự xưng đế vương, còn bị họa tru diệt; huống
Nếu các thầy tì kheo, tâm như dây đàn căng thẳng, tất cả oai nghi đều chân thật, chắc chắn sẽ trực nhập chánh định, vĩnh viễn không bị ma sự quấy nhiễu; và Như Lai ấn chứng cho các vị ấy, thành tựu Tri giác Vô thượng của hàng Bồ-tát. Đúng như lời Như Lai nói đây, tức là lời của Phật; không đúng như lời nói này, tức là lời của ma Ba-tuần.