HUYỀN TÁN KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA
QUYỂN 10
(PHẦN CUỐI)
PHẨM DIỆU ÂM BỒ TÁT
Phẩm này chia làm ba môn:
-
Vì sao có phẩm này.
-
Giải thích tên phẩm.
-
Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này: Luận nói năng lực giáo hóa chúng sanh hành khổ hạnh lực, là phẩm Diệu Âm thị hiện, Diệu Âm hiện ở Đông độ thầm ở phương này, bổn truyền Pháp Hoa dạy hành khổ hạnh, nay phát ra ánh sáng nhóm họp chỉ dạy mọi người khuyến phát thắng tâm mở rộng kinh pháp cho nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Âm là âm thanh, Diệu là thù diệu xưa trú trong nhân ưa lập ra nhạc để cúng dường, nay ở địa vị quả khéo nói pháp làm lợi sanh, cùng nêu nghiệp đức để tiêu biểu danh kia nên gọi là Bồ-tát Diệu Âm. Phẩm này nói việc kia nên gọi là Bồ-tát Diệu Âm phẩm.
III. Giải đáp các vấn nạn: Vì sao phải lấy Diệu Âm làm tên phẩm này?
Đáp: Dược Vương ở phương này tu khổ hạnh tự khuyên chúng sanh, chưa có bậc thượng thượng nhân nào ở phương khác khuyên nói, cho nên gọi Diệu Âm phương xa hành pháp, khuyên người khác khổ hạnh cho nên phải nhóm họp.
Kinh: “Lúc bấy giờ đức Thích-ca cho đến ánh sáng của sợi lông trắng”.
Tán: Phẩm văn chia làm bốn:
1.Thần quang đến gọi.
2. Diệu Âm đến.
3. Xong việc trở về nước.
4. Thời chúng đắc đạo.
Văn đầu có hai: Trước phát ra ánh sáng, sau chỗ đến. Đây là phần đầu. Từ nhục kế phát ra ánh sáng là tướng nhóm họp đại nhân ánh sáng nơi lông trắng giữa hai đầu chân mày là tiêu biểu Kinh này cho nên là bảo đến.
Kinh: “Chiếu khắp các cõi Phật ở phương đông cho đến chiếu soi khắp cõi nước đó”.
Tán: Đây chỗ đến có ba:
-
Phương xứ.
-
Cõi Phật.
-
Kết chiếu.
Cõi Phật có ba: 1.Tên nước. 2. Hiệu Phật. 3. Hóa độ lợi lạc.
Kinh: “Bấy giờ trong nước Nhất Thiết cho đến trí tuệ rất sâu”.
Tán: Đoạn lớn thứ hai nói Diệu Âm đến có ba:
1. Kia đến.
2. “Lúc đó Diệu Âm Bồ-tát chẳng rời khỏi tòa cho đến” đến đây.
3. “Bấy giờ Hoa Đức Bồ-tát Bạch Phật cho đến” hóa thành.
Văn đầu lại có bốn: 1. Trình bày đức. 2. Thỉnh đến. 3. Phật răn dạy. 4. Thừa lệnh Phật.
Trình bày đức lại có bốn: 1. Thắng nhân sớm gieo trồng. 2. Bạn lành sớm gặp. 3. Bát-nhã trước viên mãn. 4. Đẳng trì đã mãn. Đây là ba phần đầu.
Kinh: “Đắc Diệu Tràng tướng Tam-muội cho đến các đại Tam- muội”.
Tán: Đẳng trì đã mãn có hai: Trước nên mười sáu đẳng trì, sau kết vô lượng.
1. Diệu tràng tướng: Như tràng cao hiển các đức trang nghiêm.
2. Pháp Hoa: thông đạt lý Nhất thừa.
3. Tịnh Đức: Đoạn chướng nhiễm đắc công đức thù thắng.
4. Tú Vương Hý: Tú là tinh tượng, Vương là tự tại, Hý là du lạc, nghĩa là được tự tại năng hiện các tượng cũng như tinh tú thường nhập du hý để lợi lạc chúng sanh.
5. Vô duyên: Là Diệt tận định hoặc Vô sở duyên định lìa phan duyên.
6. Trí ấn: Là chân như không lý làm trí ấn, hoặc dùng trí làm ấn phán định thị phi chân vọng v.v…
7. Giải chúng sanh ngữ ngôn: Phát Từ vô ngại giải định.
8. Tập tất cả công đức: Là nhóm họp phước vương định cho đến
9. Thanh tịnh: Là năng sanh 7, 9, 4 tịnh: Sở y tịnh, sở duyên tịnh, tâm tịnh, trí tịnh.
10. Thần thông du hý: Năng khởi đại thần thông.
11. Tuệ cự: Chiếu sáng chân tục các cảnh giới.
12. Trang nghiêm vương: Năng đầy đủ trong ngoài hai thứ trang nghiêm.
13. Tịnh Quang minh: là phát ra ánh sáng thần.
14. Tịnh tạng: Bao gồm các đức.
15. Bất cộng Tam-muội: Không cùng Nhị thừa đắc.
16. Nhật triền: Như ánh sáng mặt trời chiếu soi bốn loài.
Đây đều là chỗ dạo chơi của Bồ-tát Địa thứ mười, phần nhiều thuộc đệ tứ định do thù thắng.
Kinh: “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cho đến Bồ-tát Dược Thượng”.
Tán: Thỉnh đến.
Kinh: “Khi ấy đức Tịnh Hoa cho đến sanh lòng tưởng thấp kém”.
Tán: Đức Phật răn dạy có bốn:
-
Răn dạy chung.
-
Trình bày cõi khác thấp kém.
-
Nêu mình hơn.
-
Kết lời răn dạy.
Trong đây chỉ cho tự mình hơn, người khác kém, dùng làm răn dạy. Trong Kinh Tư Ích chép: Bồ-tát Tư Ích Phạm thiên muốn đến thế giới Ta bà, Đức Phật Nhật Nguyệt Quang bảo Tư Ích rằng: Ông nên dùng mười pháp sau đây để đến cõi ấy: 1. Đối sự khen chê tâm không thêm bớt. 2. Nghe thiện ác tâm không phân biệt. 3. Đối với kẻ ngu người trí nên dùng bi tâm. 4. Đối chúng sanh thượng hạ ý thường bình đẳng. 5. Đối sự cúng dường khinh rẻ tâm không có hai. 6. Đối với người có lỗi không thấy lỗi của họ. 7. Thấy các thừa đều là Nhất thừa. 8. Nghe ba đường ác cũng chớ kinh sợ. 9. Đối các Bồ-tát nghĩ gì tôn trọng. 10. Phật xuất hiện ở cõi đời có năm thứ vẩn đục sanh trưởng ít có. Kinh Vô Cấu Xứng nói: Phật Đài Hương răn dạy văn đại khái đồng.
Kinh: “Diệu Âm Bồ-tát cho đến trí tuệ trang nghiêm”.
Tán: Thừa lệnh có ba: Trước nói năng lực chung của Như-lai, sau hai chi tiết.
Kinh: “Lúc ấy ngài Diệu Âm cho đến Chân thúc ca đài bằng
báu”.
Tán: Dưới thứ hai đến đây, văn có mười một: Từ chuẩn bị đến hoa hiện cho đến
Kinh: “Bấy giờ ngài Văn-thù cho đến làm đài”.
Tán: Thứ hai, Văn-thù hỏi lý do.
Kinh: “Bấy giờ Đức Phật Thích-ca cho đến nghe Kinh Pháp Hoa”.
Tán: Thứ ba, Đức Phật nói lý do.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến khiến chúng con được thấy”.
Tán: Thứ tư, Văn-thù hỏi hành có ba:
-
Hỏi phước tuệ.
-
Hỏi nhập định nào.
-
Tu theo định nào mới năng thấy.
Thỉnh thông lực che chở đến khiến chúng con được thấy, chỉ bày tướng không biết, thật định từ lâu đã biết.
Kinh: “Khi ấy Đức Phật Thích-ca cho đến mà hiện bày thân tướng của Bồ-tát đó.
Tán: Thứ năm, đức Thích-ca thùyđáp.
Kinh: “Tức thời Đức Phật Đa-bảo cho đến muốn thấy thân của ông”.
Tán: Thứ sáu, Đa-bảo gọi bảo.
Kinh: “Bấy giờ ngài Diệu Âm cho đến chẳng đánh mà tự kêu”.
Tán: Thứ bảy, Diệu Âm đến đây có bốn:
-
Số đến.
-
Mới đi qua.
-
Thân tướng.
-
Đến đây.
Đây là phần đầu.
Kinh: “Mắt của vị Bồ-tát đó cho đến như thân Na la diên bền chắc”.
Tán: Thứ ba, thân tướng có tám đức:
1. Mắt trong xanh: Kinh Vô Cấu Xứng nói: Mắt trong xanh do rộng tịnh tu mầu nhiệm đoan nghiêm, sáng như cành lá hoa sen xanh.
2. Diện mạo sáng tròn đẹp.
3. Thân sắc vàng.
4. Trang nghiêm.
5. Oai đức.
6. Quang minh.
7. Tướng đầy đủ.
8. Vững chắc.
Kinh: “Ngài vào trong đài bảy báu cho đến núi Kỳ-xà-quật”.
Tán: Thứ tư, đến đây.
Kinh: “Đến rối xuống đài bảy báu cho đến kham nhẫn ở lâu được chăng”.
Tán: Thứ tám, xuống đài lễ bái hỏi có hai: 1. Lễ bái dâng cúng. 2. Thỉnh hỏi. Thỉnh hỏi có bốn: 1. Hỏi thân Phật có năm câu. 2. Hỏi chúng sanh có bảy câu. 3. Hỏi ma tùy hóa có một câu. 4. Hỏi Đa-bảo có hai câu. Hỏi đến và ở lâu.
Kinh: “Thế tôn! Nay Con cho đến chỉ bày cho con được thấy”.
Tán: Thứ chín, thỉnh thấy Đa-bảo, Đa-bảo. Thích-ca tuy đồng ngồi trên tháp nhưng do thần lực che phủ khiến kia không thấy, cho nên xin được thấy.
Kinh: “Lúc đó Đức Phật Thích-ca cho đến nên qua đến cõi này”.
Tán: Thứ mười, đức Thích-ca vì thỉnh, thứ mười một, Đa-bảo tán dương.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Hoa Đức cho đến có sức thần thông như thế”.
Tán: Đoạn lớn thứ ba là nói hóa hành có năm:
-
Hoa Đức hỏi nhân.
-
Như-lai bảo đủ.
-
Khen ngợi hỏi tu định.
-
Đức Phật sau đáp.
-
Chúng đương thời được lợi ích.
Đây là phần một.
Kinh: “Đức Phật bảo ngài Hoa Đức cho đến có sức thần thông như thế”.
Tán: Như-lai bảo đủ có năm:
-
Chỉ bày nhân xưa.
-
Hợp quả nay.
-
Từ lâu đã gặp Chư Phật.
-
Rộng thực hành lợi hạnh.
-
Kết đáp lý do.
Đây là phần đầu có ba: 1. Phật. 2. Hành. 3. Kết.
Kinh: “Hoa Đức! Ý ông nghĩ sao cho đến đại Bồ-tát này”.
Tán: Hợp quả nay.
Kinh: “Hoa Đức! Bồ-tát Diệu Âm này cho đến na do tha Đức Phật”.
Tán: Từ lâu đã gặp Phật.
Kinh: “Hoa Đức! Ông chỉ thấy cho đến không hề tổn giảm”.
Tán: Rộng thực hành lợi hạnh có hai: Ở phương này và sau ở mười phương. Phương này có bốn:
-
Nêu hiện thân nói pháp.
-
Riêng hiển hiện thân nói pháp.
-
Kết thành hóa.
-
Trí tuệ không tổn hại.
Trong riêng hiển hiện thân nói pháp có hai: 1. Tùy nghi hiện mười tám loại thân nói pháp. 2. Vì cứu khổ nạn hiện thân nói pháp.
Kinh: “Vì Bồ-tát này dùng ngần ấy trí tuệ cho đến thị hiện diệt độ”.
Tán: Đây tại mười phương hiện thân nói pháp có ba: 1. Đầu nêu ở mười phương lợi ích. 2. Tùy căn ứng nghi hiện thân nói pháp. 3. Kết thành thân nói.
Kinh: “Hoa Đức! Diệu Âm cho đến việc đó như thế”.
Tán: Kết đáp lý do
Kinh: “Hoa Đức! Diệu Âm cho đến vô lượng chúng sanh”.
Tán: Khen ngợi hỏi tu định và Phật lại đáp.
Kinh: “Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ-tát này cho đến và Đà-la-ni”.
Tán: Nêu rõ trong hóa hành. Chúng đương thời được lợi ích. Do nghe hóa hành thâu hoạch lợi thù thắng.
Kinh: “Khi ngài Diệu Âm cho đến sắc thân Tam-muội”.
Tán: Đoạn thứ ba việc xong trở về nước có ba: 1. Nêu trở về nước. 2. Tướng các nơi đi qua. 3. Đến rồi bạch.
Kinh: “Lúc nói phẩm Diệu Âm Bồ-tát cho đến Pháp Hoa Tam- muội”.
Tán: Đoạn thứ tư, thời chúng đắc đạo, đều nghe một phẩm liền được lợi ích thù thắng.
--------------------
PHẨM QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
Phẩm này chia làm ba môn:
-
Vì sao có phẩm này.
-
Giải thích tên phẩm.
-
Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao: Luận chép: năng Lực cứu chúng sanh khỏi các nạn chính là Quan Thế Âm. Phẩm Đà-la-ni nói thị hiện, Quán Âm cứu nạn cho các chúng sanh chưa phát tâm khiến họ lìa các khổ phát tâm trì kinh. Đà-la-ni nói cứu nạn cho người đã phát tâm trì kinh, khiến họ lìa khổ trì kinh. Lại Quán Âm dùng mắt trời, thiên nhĩ, tha tâm thông che chở người trì kinh. Đà-la-ni nói hai Thánh, hai trời, mười thần dùng minh chú hộ vệ người trì kinh. Lại Quán Âm niệm người cứu nạn, Đà-la-ni tụng pháp cứu nạn, lực trì Kinh đã lìa các khổ nạn; nếu không gia tăng dùng phương pháp dễ cứu, sợ khó tu nghiệp trì kinh, cho nên dùng công dễ giúp thành nghiệp khó, do khuyên trì kinh nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Quán là quán sát cứu giúp từ bi, Thế nghĩa là có khả năng phá hoại, thể tức sanh tử hữu tình thế gian, Âm là âm thanh ngữ nghiệp của hữu tình. Thế gian hữu tình khởi âm thanh để nhớ nghĩ về. Bồ-tát dùng đại từ bi rũ lòng xem xét thuận theo cứu giúp gọi là Quán Thế Âm, chánh nghĩa nên gọi là Quán tự tại. Ba nghiệp qui y thì sáu thông thùyhóa, không bị nguy hại phi luân dẹp trừ, làm người bạn không mời, ứng bệnh cho thuốc, nhiếp lợi khó nghĩ bàn gọi là Quán tự tại. Bồ-tát như trước nói. Phổ: Là nghĩa bình đẳng trùm khắp. Môn: Là lý do nơi chốn ra vào, nơi tam nghiệp qui y ắt lục thông thùy cứu bình đẳng. Đây chỉ bày lý do nơi chốn xuất khổ nhập lạc cho nên gọi là Phổ Môn. Thần thông, ký nói, giáo giới tam luân là nơi chốn lìa khổ, do tạo nhân nhập tịch tịnh là thể Phổ Môn. Nhưng có người khổ nhiều phát ra tiếng để nhớ nghĩ, đại bi ắt ứng niệm để đến cứu vớt nên gọi là Quán Âm. Phẩm này nói rộng nghĩa nên gọi là Phẩm Quán Thế Âm Phổ Môn.
III. Giải đáp các vấn nạn: Hỏi: Bồ-tát đại bi quán thấy khổ liền cứu, vì sao đợi niệm sau mới rủ lòng thương cứu?
Đáp: Chúng sanh vô tâm mà Phật cứu, Đại Thánh không thông tự phát ý mà hy vọng duyên, các Thánh đồng phép tắc, trước nhân nơi tự nghiệp mình sau mới nhờ duyên. Tự đã không tu, duyên đâu có tạo tác cho nên phải đợi nhớ nghĩ mới cứu giúp. Dù có tự tu mà chưa giải phương tiện, cần phải nhờ bạn lành chỉ bày khổ mới diệt.
Hỏi: Tất cả Bồ-tát đều có khả năng này, vì sao Quán Âm riêng bao trùm hiệu này ư?
Đáp: Bổn nguyện khác nhau việc lợi sai khác, nối dõi Phật Vô lượng thọ sẽ làm Bảo Quang Công Đức Nói Vương Phật, cho nên riêng nêu.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Vô tận ý Bồ-tát cho đến tên là Quán Thế Âm”.
Tán: Phẩm văn chia làm bốn:
-
Hỏi đáp nhân có tên đó.
-
Hỏi đáp hóa hành.
-
Trì Địa khen ngợi.
-
Kết thành thời ích lợi.
Hai văn đầu có tụng. Văn đầu có ba: 1. Hỏi nguyên nhân gọi tên. 2. Đáp tự nghĩa. 3. So sánh trì danh công đức hơn kém. Đây là phần đầu. Vô tận ý: Kinh A-sai-mạt nói: Hành lục độ tứ nhiếp cho đến các hành thệ độ chúng sanh, cõi chúng sanh tận, Bồ-tát ý mới tận, chúng sanh chưa tận thì Bồ-tát ý cũng không tận cho nên gọi là Vô tận ý.
Trong Kinh Thập Địa nói dùng câu mười cùng giới thành các đại nguyện: 1. Nhất thiết cõi chúng sanh tận. 2. Thế cùng giới. 3. Hư không tận. 4. Pháp cùng giới. 5. Niết-bàn cùng giới. 6. Phật ra đời cùng giới. 7. Như-lai trí cùng giới. 8. Tâm sở duyên cùng giới. 9. Phật cảnh trí nhập cùng giới. 10. Thế giới xoay bánh xe pháp trí chuyển cùng giới. Lại như cõi chúng sanh tận nguyện ta cũng không tận, như thế cõi chúng sanh không tận, nguyện của ta cũng không tận. Cho đến trí Phật chứng nhập nhất thiết cùng giới, xoay bánh xe pháp trí chuyển các pháp tận, nguyện của ta cũng không tận. Kinh Vô Cấu Xứng nói: Tuy đắc Phật đạo xoay bánh xe pháp mà không bỏ Bồ-tát đạo đó gọi là Bồ-tát hạnh, cho nên Bồ-tát này hiệu là Vô tận ý. Tuy các Bồ-tát nguyện hành đều đồng, mà các hiệu có sai khác nguyện đều sai khác, muốn nêu rõ kinh này năng khiến hạnh nguyện đều cũng vô tận. Hỏi tên là muốn khiến nương niệm danh hiệu để dứt khổ, hỏi hành là muốn cho tu hành để mong an lạc.
Kinh: “Phật bảo ngài Vô tận ý cho đến đều được giải thoát”.
Tán: Dưới đáp tự nghĩa có ba: Đầu ngữ nghiệp qui y, dùng thiên nhĩ thông tìm tiếng cứu giúp. Kế là “nếu có chúng sanh năng về dâm dục v.v…” là y nghiệp qui y, dùng tha tâm thông quán tâm cứu giúp. Sau nếu có người nữ muốn cầu con trai v.v… là thân nghiệp qui y, dùng mắt trời thông quán sắc cứu giúp. Văn đầu có ba: Trước nói chung có khổ xưng danh liền thoát khổ. Tiếp riêng hiển có nguy xưng danh đều
được thoát; sau kết bảo uy thần cao lớn như vậy. Đây là phần đầu. Tức là ba đường tám nạn tất cả khổ nạn, chỉ như Pháp lâm qui mạng thoát khỏi hình phạt bảy ngày, cứu giúp qui y thoát khỏi hại ba đường. Du- già quyển chín nói nghiệp có hai. 1. Định dị thục nghiệp, nghĩa là cố tư nghiệp, hoặc tạo tác hoặc thêm lớn nghiệp. 2. Bất định dị thục nghiệp, nghĩa là cố tư duy việc đã làm mà không thêm lớn nghiệp, hoặc không truy hối không tu đối trị còn có thể thọ quả gọi là thêm lớn nghiệp, nếu truy hối cho đến gọi là không thêm lớn nghiệp; hoặc trước thêm lớn nghiệp do truy hối cho đến gọi là không thêm lớn nghiệp. Như Vị Sanh Oán chưa truy hối trước gọi là thêm lớn nghiệp, truy hối rồi sau gọi là không thêm lớn nghiệp. Quyển thứ sáu mươi nói căn cứ người chưa giải thoát kiến lập định thọ nghiệp. Nói giải thoát: Nghĩa là thế đạo phục đoạn, cho đến đắc Thánh thành Vô học cho đến tức đồng kinh Niết-bàn chưa nhập Phật pháp gọi là quyết nghiệp, nếu nhập Phật pháp gọi là bất định nghiệp.
Đối Pháp quyển thứ bảy nói có năm, cố tư (duy) tạo tác: 1. Người khác dạy bảo. 2. Người khác khuyên thỉnh. 3. Không rõ biết. 4. Căn bản chấp trước nghĩa là ba độc che lấp tâm mãnh liệt chấp trước sanh khởi các nghiệp. 5. Điên đảo phân biệt, cho rằng hơn tốt, không có tội hành ác nghiệp. Đối trong năm điều này, hai điều sau hoặc tạo tác hoặc thêm lớn, chẳng phải không thọ dị thục vì tư nặng, ba điều tuy tạo tác mà không thêm lớn, không hẳn thọ dị thục vì tư nhẹ. Đây nói tác: Nghĩa là khởi tác các nghiệp khiến cho nó hiện hành.
Thêm lớn: Nghĩa là khiến tập khí lần chuyển thêm lớn, do đó chỉ nói cố tư nghiệp chỉ có năm. Du-già quyển chín nói: Trừ mười thứ, ngoài ra gọi là cố tư: 1. Mộng. 2. Vô tri. 3. Không cố tư. 4. Không mãnh liệt, không thường. 5. Cuồng loạn. 6. Thất niệm. 7. Không ưa muốn.
8. Tự tánh vô ký. 9. Hối hận đã tổn thương. 10. Đối trị thương tổn. Trừ ngoài mười thứ ngoài ra đều là thêm lớn. Tức Du-già quyển chín chép: Thêm lớn nghiệp có sáu, kia có mười thứ không tăng và sáu thứ thêm lớn, không vượt qua Đối pháp, ba không tăng hai tăng, ly hợp y địa vi phân chia nhiều ít. Đối Pháp lại nói quyết định có ba: 1. Tác nghiệp quyết định, do nghiệp lực đời trước cảm thân quyết định, sanh ở trong đời này ắt tạo nghiệp đây, sớm kỳ hạn quyết định trọn không trái vượt, thần lực của Phật cũng không thể cứu. 2. Thọ dị thục định tức thuận định thọ nghiệp, quả định đương thọ thời chưa định. Nếu không vậy, Đức Phật xuất ứng không có đường ác chúng sanh tạo ác. 3. Phần vị định, nghĩa là thuận ba thời phần vị định nghiệp.
Nếu nghiệp đạo nhiếp: Thì gọi là thuận định nghiệp, gia hạnh, hậu khởi thông định bất định, lại chưa hối, chưa đối trị v.v… gọi là quyết định nghiệp; đã hối đã đối trị cho đến gọi là bất định nghiệp. Du-già quyển mười nói ba nghiệp: Thuận hiện, thuận sanh, thuận hậu thọ nghiệp. Quyển sáu mươi nói bốn nghiệp: 1. Dị thục định. 2. Thời phần định. 3. Nhị câu định. 4. Nhị câu bất định Duy Thức cũng nói bốn: Nghĩa là ba thời và bất định. Luận Hiển Dương quyển chín nói năm loại nghĩa là ba thời và thọ báo định, tác nghiệp quyết định, đều như Du- già quyển chín, lược nói sợ rườm rà nên lại thôi. Cho nên niệm Quán Âm, duyên lành thấm nhuần, tự tâm hối thẹn khổ não đều thoát. Cũng có giải thích nói: Kia không thêm lớn và bất định nghiệp có thể được chuyển diệt, kia ba thời quyết định nghiệp và báo định thời bất định chỉ nhẹ bớt chẳng hoàn toàn làm cho dứt hết. Kim Cương Bát-nhã chép: Tội nghiệp đời trước đáng đọa vào đường ác, do trì Kinh nên làm người khinh thường, tội nghiệp đời trước liền bị diệt sẽ đắc Bồ-đề, không nói hoàn toàn diệt. Lại Kinh Hiền Ngu nói: Ương-quật-ma-la tuy đắc A-la- hán, vì hiện nghiệp có quả nên bị lửa đốt đốt. Lại nói thành Ca-tỳ-la trừ một đồng tử, còn lại nam nữ đều đắc sơ quả thánh nhân không nên bị lưu ly sát hại, kia quyết định tạo nghiệp Đức Phật còn không bát bỏ được huống chi thọ quả ư! Tại giải thoát lại gọi là bất định, y bất định nghiệp nói đây cũng không đúng. Nếu đắc A-la-hán tất cả bất thiện tận, nghiệp nào thọ quả ư? Tại sơ quả nhị quả bất thiện chưa tận, không chướng nơi quả kia đâu ngăn ngại cũng thọ! Trong Kinh Bát-nhã không nói diệt hết nêu tâm vi tế, chí thành khẩn thiết thọ trì kinh kia tất cả không thọ. Nếu không vậy thì năm vô gián tội đều quyết định nghiệp. Vị Sanh Oán vương làm sao hối rồi tất cả không thọ chịu.
Thập Địa luận chép: 1. Cảm báo định. 2. Tác nghiệp định. Chư Phật uy thần không thể chuyển, nói tự mình không phát sanh hối hận hổ thẹn, không nhập Thánh đạo là nghiệp quả quyết định, không phải hối hận hổ thẹn rồi có thể gọi là định nghiệp. Kinh Pháp Cú nói: “Chẳng phải giữa hư không chẳng phải trong biển, chẳng vào trong núi sâu, không có nơi chốn thoát ra mà không thọ nạn”. Cũng căn cứ người không gặp Phật Bồ-tát cho đến khởi tâm hối hận hổ thẹn mà nhập đạo, tức quyết định nghiệp báo. Do đây, Kinh nghiệp báo sai khác nói: Nếu nghiệp tăng thượng tâm, làm không hổ thẹn, làm rồi, làm nữa, không có tâm cải hối đó là nghiệp quyết định; hoặc nghiệp không phải tâm tăng thượng, tuy tạo ác nghiệp mà lòng thường hổ thẹn đó là nghiệp bất định. Chỉ biết các nghiệp chẳng hối hận, phi đạo làm tổn Phật có thể có thọ
lãnh quả bị tổn hại liền không có nghĩa thọ quả. Nhưng Kinh nói Chỉ-man cho đến A-la-hán còn thọ nghiệp quả. Khi còn trú trong phàm phu hoặc sơ quả nhị quả, nay thân quyết định đắc A-la-hán từ đó đặt tên, chẳng phải khi thọ quả gọi là A-la-hán. Lại gặp duyên tốt cần phải phát tâm hối lỗi tàm quý nhập Thánh đạo tội nghiệp mới trừ, tuy gặp duyên tốt mà không có tâm hối cải tám quí thì cũng không thể nhập Thánh đạo, cho đến Chư Phật cũng không thể chuyển. Dòng họ Thích ở thành Ca-tỳ-la bị sát hại, tuy đắc sơ quả nhưng biệt báo nghiệp ở sơ quả không thể trừ. Lại chẳng chịu lắng nghe Đại thừa hối hận hổ thẹn thâm tâm khẩn thiết cho nên thọ nghiệp trước. Chỉ nghe qua Đại thừa mà siêng năng tha thiết hối hận thì cũng không bị sát hại, đắc A-la-hán không thọ các khổ, cho dù có bị sát hại cũng chẳng phải nghiệp quả; không vậy thì Chỉ-man giết người cả ngàn chỉ thiếu một người vì sao đắc Thánh quả! Lại nữa nếu không có tâm hối hận hổ thẹn và phục đoạn diệt các tội nghiệp, thì hữu tình bèn không có kỳ hạn được thọ Thánh vị, do đó nên biết nói đầu nói là tốt ứng đồng Niết-bàn Du-già làm chánh.
Kinh: “Nếu có người trì danh hiệu cho đến tên là Quán Thế Âm”. Dưới thứ hai riêng hiển có nguy ách xưng danh đều được thoát, có bảy đoạn chia làm hai: Ba đoạn đầu nói thủy, hoả, phong, tam tai, bốn đoạn sau tạp tai. Đây là đoạn đầu, Hỏa tai lớn nhỏ đều có thể tổn thương, niệm danh hiệu Quán Âm thì tất cả không bị đốt, nước sâu mới có thể tổn hại cho nên được ở nơi cạn. Gió nhẹ không tổn, gió nặng mới tổn thương, hắc phong chắc tổn thương người, do đó riêng nói gặp gió, dù chẳng phải hắc phong cũng đâu bị tổn hại! Đoạn nói gió có bốn: 1. Cầu báu gặp gió. 2. Người thiện dạy niệm. 3. Khỏi tai nạn. 4. Kết danh nhân.
Kinh: “Nếu lại có người cho đến liền được giải thoát”.
Tán: Đây bốn thứ tạp tai:
-
Hình phạt không tổn thương.
-
Phi nhân không hại.
-
Trói buộc được giải thoát.
-
Oán tặc không tổn hại.
Trói tay gọi là gông cùm, trói chân gọi là xiềng xích tức là gông cùm nói chung là bị lao tù trói buộc. Luận Trí độ nói: Như gió không vào được, như nước không chảy ngược lên hư không không bị hại, không có nghiệp cũng như vậy. Vì sao vô tội bỗng bị tù đày tai ương. Đây căn cứ hiện tại không làm gọi là vô tội, chẳng phải trước không làm. Làm tụng nhà lửa nói: Người chê bai kinh, hoặc bị người khác phản nghịch đoạt
cướp trộm cắp như vậy các tội bao trùm rộng lớn tai ương, do trước chê bai kinh cho nên biết có tội. Trong oán tặc không hại có bốn: 1. Trải qua các nạn xứ. 2. Khuyên niệm danh. 3. Y mạng. 4. Giải thoát. Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói Đức Phật bảo Kiên ý có 1 cây Dược Thọ tên là Diệt trừ, khi Đại quân đánh nhau có vô lượng người bị trúng tên độc, lúc ấy thầy thuốc đem cây Dược vương xoa bôi vào mặt trống ở trong chúng đánh phát ra âm thanh làm vô lượng tên độc đồng thời tự mất Chư Phật Bồ-tát trú trong Thủ lăng Nghiêm Tam-muội lực, có người xưng danh nhớ nghĩ thì vô lượng tội cấu tự nhiên diệt trừ, như một vị đề hồ có khả năng lành các thứ bệnh.
Kinh: “Vô tận ý cho đến cao lớn như thế”.
Tán: Kết bảo uy thần tướng mạo cao lớn.
Kinh: “Nếu có chúng sanh cho đến thường phải một lòng nhớ tưởng”.
Tán: Đây ý nghiệp qui y, dùng tha tâm thông quán tâm cứu giúp có hai: Trước nói quán ba ý, sau kết uy thần. Lại nêu ba độc không phải chỉ vậy, tất cả phiền não niệm đều diệt.
Kinh: “Nếu có người nữ cho đến danh hiệu Bồ-tát”.
Tán: Đây thân nghiệp qui y. Dùng mắt trời thông quán sắc. Cứu giúp, cứu giúp có hai: Trước nói quán hai thân nghiệp, sau kết phước khuyên trì, không phải chỉ từng ấy nghiệp, mà lại theo tình nêu lên.
Kinh: “Vô tận ý cho đến phước đức lợi ích như thế”.
Tán: So sánh công đức trì danh hơn kém có bốn:
-
Vấn.
-
Đáp.
-
Thành.
-
Kết.
Luận này nói so sánh sáu mươi hai hằng hà sa Phật. Kinh đây lại nói sáu mươi hai hằng hà sa Bồ-tát. Đây có hai giải thích: 1. Nói Kinh đúng luận lầm, Bồ-tát đem so sánh, đâu được dùng Phật so sánh với số Bồ-tát? Chỉ như trong kinh Thập Luân chỉ dùng Địa Tạng so sánh với Di-lặc, Văn-thù, Quán Âm, cũng không so sánh với Chư Phật. Nếu không vậy, lẽ ra Đức Phật công đức ít hơn Bồ-tát! 2. Nói y luận cũng không lầm, Quán Âm từ lâu đã thành Phật không xả bỏ Bồ-tát hạnh nên thị hiện làm Bồ-tát, đâu được không sánh với Như-lai ư! Chỉ như Quán Âm thành Phật công đức cõi nước hơn Vô lượng thọ, tất cả Phật thân đâu có hơn kém ư! Cho nên biết chỉ là lời khuyên tín. Tuy Kinh so sánh Bồ-tát, luận giải sánh với Chư Phật cũng không lỗi lầm, cả hai
đều không sai. Trong luận giải thành có hai giải thích: 1. Tín lực 2. Rốt ráo biết.
Tín lực có hai: 1. Cầu ngã thân như Quán Âm rốt ráo tin nghĩa là cầu ngã và sáu mươi hai hằng hà sa Phật thân cùng Quán Âm, tín tâm không sai khác, sư cầu Thánh số nhiều ít dù sai khác, nhưng công đức không sai khác, nhân tâm bình đẳng cho đến. 2. Sanh tâm cung kính, như công đức kia Ta cũng đắc rốt ráo, nghĩa là như thân Quán Thế Âm từ lâu đã thành Phật cho nên có trí tuệ công đức, Ta niệm sáu mươi hai hằng hà sa Phật cũng rốt ráo đắc công đức của Chư Phật đây, tin Phật Bồ-tát công đức không sai khác. Hai thứ này là tín lực. Trước là không quán cảnh nhiều ít hơn kém chỉ có tín tâm bình đẳng cho đến sau quán cảnh nhiều ít tuy sai khác nhưng công đức không sai khác, tín tâm cung kính cũng không có hai, cho nên phước không sai khác. Thứ hai rốt ráo biết là quyết định biết pháp giới, đây do Quán Âm đã đắc rốt ráo biết pháp giới cho nên cùng Phật không khác, năng chứng pháp giới bình đẳng không hai, cho nên thành phước bắng nhau cho đến Pháp giới tức pháp tánh nhập Sơ địa Bồ-tát năng chứng thân bình đẳng của tất cả Phật Bồ-tát cho đến Thân bình đẳng: Nghĩa là chân như pháp thân, huống chi Thập địa mãn. Cho nên, thọ trì danh Quán Thế Âm cùng sáu mươi hai hằng hà sa Phật công đức không khác, nếu không như vậy thì Bồ-tát đâu có thể hơn Phật ư! Lại đem số Phật tứng ấy để khen ngợi khuyên phát tâm, Kinh Thập Luân quyển một nói: Giả sử đối với các ngài Di- lặc. Diệu Cát Tường - Quán Tự Tại. Phổ Hiền mà làm thượng thủ, hằng hà sa đẳng các đại Bồ-tát ở trong một trăm kiếp dốc lòng qui y xưng danh, niệm tụng lễ bái cúng dường cầu các sở nguyện, không bằng có người chỉ khoảng một niệm dốc lòng qui y xưng danh niệm tụng, lễ bái cúng dường Địa tạng Bồ-tát cầu các sở nguyện, mau được đầy đủ. Lại nữa, như vậy chúng sanh đời mạt pháp có duyên nên nghe, do đó riêng khen ngợi, nếu không như vậy Bồ-tát cũng lẽ ra hơn Phật, các vị Bồ-tát lẽ ra có hơn kém.
Kinh: “Vô tận ý cho đến việc đó thế nào”.
Tán: Dưới đoạn lớn thứ hai vấn đáp hành hóa có bốn:
-
Vấn.
-
Đáp.
-
Dâng cúng.
-
Kết bảo.
Đây là phần đầu. Du là dạo đi tự lợi tức là thần thông; vì nói pháp là giáo hóa lợi tha, lực phương tiện nghĩa là hai thứ trên, trí tuệ khéo léo
dụng ứng vật tâm để cứu giúp.
Kinh: “Phật bảo cho đến mà vì đó nói pháp”.
Tán: Đáp có ba:
-
Hóa thân nói pháp.
-
Kết trước khuyên bày.
-
Năng cứu nạn gấp.
Đây là phần đầu, hợp mười chín thứ chia làm tám loại ứng thân Thánh có ba, ứng thân trời có sáu, ứng quân thần có năm. Tâm bình, tánh trực, lời nói thật hành đầy đủ, tuổi già tài vật dư thừa gọi là trưởng giả, giữ đạo tự yên, ít dục, chứa đức gọi là cư sĩ, ở địa vị đến gần tột gọi là tể quan. Ứng bốn chúng có một, ứng phụ nữ có một, ứng đồng nam nữ có một, ứng bát bộ có một, ứng thần cầm chày kim cương có một, tay cầm Kim cương Quán Âm khác tượng.
Kinh: “Vô tận ý cho đến là vị Thí Vô úy”.
Tán: Trong đây có hai:
1. Kết trước khuyến bày.
2. Năng cứu giúp gấp nạn. Thí độ có ba: 1. Tài. 2. Vô úy. 3. Nói pháp. Nói pháp là pháp thí, cứu nạn là vô úy thí, khiến được châu báu là tài thí.
Kinh: “Vô tận ý cho đến Tháp Phật Đa-bảo”.
Tán: Dâng cúng có bảy:
-
Bạch Phật.
-
Dâng cúng.
-
Quán Âm không nhận.
-
Trình bày bạch thỉnh nhận.
-
Phật dạy khiến nhận.
-
Quán Âm nhận.
-
Chuyển thí cúng dường Ruộng phước khó gặp nên thí thuận đạo lý nên chân chánh hành nên cầu Bồ-đề nên gọi là pháp thí.
Không thọ có ba: 1. Thiểu dục. 2. Pháp nhĩ. 3. Chuyển thí. Sợ trái với tâm kia do đó không nhận. Bài kệ trong Luận Đại Trang Nghiêm chép:
Nếu chuyền tay bố thí
Tay ấy gọi “Nghiêm thắng”
Người nhận co tay lấy
Nghiêm thắng lại hơn kia
Nếu nói Ta thí cho
Lời ấy giá khó lường
Người nhận nói ta đủ
Khó lường lại hơn kia.
Trong kinh Thiên Thỉnh Vấn Đức Phật cũng nói: Người thí gọi là được lợi, người nhận gọi là mất lợi, cho nên Bồ-tát không chịu thọ nhận. Vì thương bốn chúng nên mới thọ nhận: 1. Là khiến tùy hỷ. 2. Là muốn học hạnh cứu khổ nạn nên gọi là Thương.
Kinh: “Vô tận ý cho đến thế giới Ta bà”.
Tán: Kết bảo.
Kinh: “Lúc bấy giờ cho đến gọi là Quán Thế Âm”.
Tán: Dưới tụng lại hai nghĩa Danh và Hạnh ở Văn xuôi nói. Chia làm hai: một hàng tụng hỏi, hai mươi lăm năm hàng sau tụng đáp. Một hàng đầu, chỉ hỏi nguyên nhân tên gọi gồm đáp hành hóa.
Kinh: “Đấng đầy đủ tướng tốt cho đến hay diệt khổ các cõi”.
Tán: Dưới Phật bảo chia làm bốn:
-
Ba hàng tụng nói chung hứa nói.
-
Mười hai hàng tụng chánh đáp nguyên nhân tên gọi.
-
Ba hàng tụng đáp hành hóa.
-
Bảy hàng tụng khen ngợi công đức khuyên qui y.
Đây là phần một. Chia làm ba: Một hàng tụng tổng đáp ứng các phương, danh hạnh cùng nói, tiếp một hàng tụng bàn luận nhân hạnh xưa, phát nguyện gặp duyên nhiều kiếp tu hành hạnh không thể nghĩ bàn, sau một hàng tụng trình bày danh hạnh, tai mắt từng nghe thấy, để tâm niệm không lầm lẫn, định năng diệt khổ.
Kinh: “Nếu như sanh lòng hại cho đến liền đặng tiêu tan hết”.
Tán: Đây mười hai hàng tụng chánh đáp nhân nơi tên gọi chia làm chín: một hàng trừ nạn lửa, một hàng trừ nạn nước, hai hàng trừ nạn núi, hai hàng trừ nạn đao, một hàng trừ nạn giam cầm, một hàng trừ nạn nguyền rủa, là chú thuật vậy. Dùng lời thiện ác chúc nhau gọi là chú, trớ là trở, khiến người hành sự cản trở đối với lời nói có châm biếm, chẳng phải nghĩa đây. Như Thầy thuốc giỏi ban đầu động đến người bệnh xem sau khiến cho thuốc lành, cho nên ban đầu bám lấy bổn nhân sau khiến phát sanh ý thù thắng. một hàng là trừ nạn phi nhân hai hàng trừ nạn đường ác. một hàng Trừ nạn thiên tai. Mây kéo sấm nổ, Tây vức gọi là tiếng mây, sét đánh phương đây gọi là âm dương chạm nhau lóe sáng.
Kinh: “Chúng sanh bị khổ ách cho đến dần đều khiến dứt hết”.
Tán: Đây đáp hạnh hóa. một hàng tụng nói chung trừ khổ, một hàng tụng năng hiện các thân, một hàng tụng biệt chỉ bày trừ khổ.
- Kinh: “Chân quán tanh tịnh quán cho đến cho nên phải đảnh lễ”.
Tán: Đây sau bảy hàng tụng khen ngợi công đức khuyên qui y chia làm sáu, một hàng nêu năm quán khuyên nguyện thường chiêm ngưỡng. Có bản dùng chữ “sẽ” không đúng. Hiện thường nguyện chẳng phải đang mới bắt đầu nguyện; một hàng nêu đại trí năng diệt tai nạn; một hàng nêu pháp thí năng trừ phiền não. Đại bi thế giới tợ như sấm động, nói răn khuyên mới nói giới đầy đủ. Văn xưa dùng chữ răn bảo. Ý từ che phủ như diệu đại vân. Có bản dùng Từ âm đây là chép lầm. Tiếng phạn gọi là Mai dát lợi mạt na; một hàng tụng vô úy thí năng trừ sự sợ hãi; một hàng nêu tài thí năng trừ nghèo khổ cũng như sóng biển chắc chắn ứng thời năng diệt các khổ. Nhân Kinh khởi niệm đây có năm âm: Diệu âm ban vui, Quán Âm cứu khổ, Phạm âm tịnh sâu, Triều âm ứng thời, Thắng âm ra đời. Hai hàng sau khuyên niệm.
Kinh: “Bấy giờ ngài Trì Địa Bồ-tát cho đến công đức không ít”.
Tán: Bồ-tát Trì Địa khen ngợi. Kinh Bảo Vân nói Bồ-tát có mười pháp gọi là Trì Địa Tam-muội:
1. Như đất rộng lớn vô lượng vô biên, Bồ-tát cũng vậy công đức trí tuệ trang nghiêm nguyện hạnh vô lượng vô biên.
2. Như đất cho chúng sanh nương ở, đều thuận theo ý muốn hợp xứng ý cung cấp đầy đủ cứu giúp không ngăn ngại, Bồ-tát cũng vậy, lục độ hành đủ thảy đều ban cho tâm không ngăn ngại.
3. Như đất không tốt xấu có báo hơn cũng không vui buồn, Bồ-tát cũng vậy nuôi dưỡng chúng sanh không mong báo đáp.
4. Như đất mây mưa rót khắp thảy đều dung nạp kham nổi tất cả, Bồ-tát cũng vậy, tất cả Chư Phật hưng khởi mây đại bi mưa pháp thấm khắp như các pháp ấy thảy đều thọ trì.
5. Như đất tất cả cỏ cây lùm rừng và cùng chúng sanh đi đứng nằm ngồi thảy đều y đó, Bồ-tát cũng vậy, tất cả chúng sanh tu hành đường lành, Nhị thừa học pháp Niết-bàn đều nhân Bồ-tát mà có.
6. Như đất tất cả hạt giống nương sanh, Bồ-tát cũng vậy tất cả thiện nghiệp hạt giống trời người đều y Bồ-tát mà được lớn lên.
7. Như đất năng xuất tất cả các báu, Bồ-tát cũng vậy công đức thiện bảo tất cả sự an vui đầy đủ đều xuất từ Bồ-tát.
8. Như đất xuất các thuốc hay năng trị các bệnh, Bồ-tát cũng vậy, năng xuất tất cả pháp dược, năng trừ tất cả các bệnh phiền não.
9. Như đất gió nhổi không năng động, ve ong bọ hung không thể làm tổn hại, Bồ-tát cũng vậy, tất cả các duyên trong ngoài bức não
không thể nhiễu động.
10. Như đất Sư tử hống rồng voi sấm chớp không thể làm kinh sợ, Bồ-tát cũng vậy, tất cả chín mươi lăm thứ ngoại đạo không thể lay động. Có đủ mười việc này Bồ-tát gọi là Trì địa Tam-muội, đắc Trì địa Tam-muội nên gọi là Trì địa, hoặc tu trì mười địa gọi là trì địa. Nói tự tại: Nhiếp luận, Hoa Nghiêm đều nói mười thứ.
Hoa Nghiêm nói: 1. Tuổi thọ tự tại vô biên kiếp trú. 2. Tâm tự tại xuất vô số định nhập thâm trí. 3. Trang nghiêm tự tại năng trang nghiêm tất cả cõi nước, cho nên Nhiếp luận gọi là Chúng cụ tự tại. 4. Nghiệp tự tại tùy thời thọ báo. 5. Sanh tự tại ở trong các cõi thị hiện sanh. 6. Giải thoát tự tại thấy tất cả cõi, Chư Phật đầy đủ nên Nhiếp luận gọi là Thắng giải tự tại. 7. Dục tự tại tùy thời cõi nước thành Bồ-đề. 8. Thần lực tự tại thị hiện tất cả thần biến. 9. Pháp tự tại thị hiện vô lượng vô biên pháp môn. 10. Trí tự tại trong mỗi niệm thị hiện giác ngộ Như-lai thần lực vô sở úy, Nhưng cùng Nhiếp luận giải thích có chút ít sai khác, hành lục độ đắc rộng như Nhiếp luận, nay đây tức thần lực tự tại, hiện khắp các môn.
Kinh: “Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này cho đến tâm chánh đẳng chánh giác”.
Tán: Kết thành lợi ích đường thời.
-------------------------
PHẨM ĐÀ LA NI
Phẩm này chia làm ba môn:
-
Vì sao có phẩm này.
-
Giải thích tên phẩm.
-
Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này: Luận nói vì che chở chúng sanh bị các nạn như trước đã giải thích.
II. Giải thích tên phẩm: Tiếng phạm Đà-la-ni Hán dịch là Tổng trì, lấy niệm tuệ làm thể, do tóm lược một số bí mật không có nghĩa văn tự, thần lực gia trì uy linh chẳng thể lường dẹp tà trấn ác, dưng chánh dương thiện gọi là Đà-la-ni, phẩm này nêu rõ nghĩa này nên gọi tên Phẩm Đà-la-ni.
Giải đáp chướng nạn:
Hỏi: Tổng trì có bốn: Đắc Pháp. Nghĩa, Biện Tài, Từ vô ngại giải, như thứ lớp phối hợp nói bốn. Đây nói gì?
Đáp: Trong văn xuôi nói Pháp, Nghĩa trì, nay đây chú trì, vì hộ hai pháp trước, do đó nêu rõ, không đắc vô sanh pháp nhẫn tổng trì.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Dược Vương cho đến công đức rất nhiều”.
Tán: Phẩm văn chia làm ba:
-
Nói phước trì Kinh.
-
Nêu phương thần lực.
-
Nêu chúng đương thời được lợi ích.
Đây là phần đầu có hai:
Trước hỏi sau đáp. Trong đáp có ba: 1. Hỏi ngược. 2. Đáp thẳng. 3. Phật nói.
Kinh: “Lúc ấy ngài Dược Vương cho đến được nhiều lợi ích”.
Tán: Dưới là nói phương thần chú có năm, hợp làm ba loại: Đầu hai Thánh, tiếp hai Thiên, sau mười Thần. Đây Thánh có bốn:
-
Nêu.
-
Nói.
-
Kết thắng.
-
Phật khen ngợi.
Kinh: “Bấy giờ ngài Dũng Thí cho đến xâm hủy các Đức Phật đó rồi”.
Tán: Đây hai Thánh có bốn:
1. Nêu.
-
Công đức.
-
Chánh nói.
-
Kết thắng.
Kinh: “Bấy giờ Tỳ Sa-môn cho đến không có các điều tai hoạn”.
Tán: Nêu hai trời, trong đây văn có ba: Trước nêu, kế nói, sau kết thắng. Tỳ Sa-môn đây gọi Học rộng, là vua ở phương Bắc trong Tứ thiên vương, thường khen ngợi Phật pháp.
Kinh: “Bấy giờ Trì Quốc Thiên vương cho đến các Đức Phật đó rồi”.
Tán: Văn sau nói Thiên vương, có ba: Trước nêu, tiếp nói, sau kết thắng. Đây tức Đông diện thiên vương.
Kinh: “Bấy giờ có những La-sát nữ cho đến pháp sư như thế”.
Tán: Đây mười thần, có bảy:
-
Nêu danh.
-
Thỉnh nói.
-
Chánh nói.
-
Khuyên chớ não hại Pháp Sư.
-
Lại nói kệ dụ tội.
-
Thỉnh thân hộ.
-
Phật tán dương, có ba:
-
Tổng khen ngợi.
-
Biệt khen ngợi.
-
Khuyên khen ngợi.
Kinh: “Lúc nói phẩm Đà-la-ni này cho đến đắc vô sanh pháp nhẫn”.
Tán: Đoạn nói chúng đương thời được lợi ích.
------------------------
PHẨM DIỆU TRANG NGHIÊM VƯƠNG BỔN SỰ
Phẩm này chia làm ba môn:
-
Vì sao có phẩm này.
-
Giải thích tên phẩm.
-
Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này có hai:
1. Luận nói công đức thắng lực, phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương thị hiện, đây là nói Tịnh Tạng, Tịnh Nhẫn trì Kinh Pháp Hoa nhân, viên đạo hiển, công đức thắng lực dẫn dắt vua cha hồi tà kiến được thọ ký đương lai thành Phật, đây đều do lực công đức của Kinh Pháp Hoa, nói duyên xưa kia lợi ích thời hội nên có phẩm này.
2. Trước phẩm Diệu Âm nêu rõ Hoa Đức Bồ-tát thưa hỏi Diệu Âm sở đắc Tam-muội, nhân đây tự đắc Pháp Hoa Tam-muội, nay Diệu Trang Nghiêm Vương tức là Hoa Đức, chưa đắc Tam-muội, trở về trước làm Diệu Trang Nghiêm vốn chấp tà kiến. Nay nói hai con khuyên nói vua cha làm thiện tri thức không phân biệt oán thân, để chỉ bày cho mọi người khiến mở mang kinh này, cho nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Vua thế tục quý châu báu dùng để tô điểm dung mạo, bỏ tà về chánh, thắng pháp bảo mà làm thể của ngọc cho nên gọi là Diệu Trang Nghiêm vương, do nhân duyên đời trước nên gọi là bổn sự.
III. Giải đáp các vấn nạn:
Hỏi: Phẩm này chính là nói Tịnh Tạng Tịnh Nhãn làm thiện tri thức, vì sao không lấy đó đặt tên phẩm?
Đáp: Do công đức thì thắng bỏ tà về chánh chính là thân vua Diệu Trang Nghiêm, chẳng phải hai người con, tuy là bạn lành của cha nhờ công đức ấy mà thân nhập chánh, lại trước Hoa Đức tức là Diệu Trang Nghiêm, muốn hợp thân kia nên lấy đặt tên, lại Tịnh tạng Tịnh Nhãn tức Dược vương Dược Thượng, trước đã nêu rõ Dược vương, sợ đề danh lạm nên không nói.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến Kiếp tên Hỷ Kiến”.
Tán: Phẩm văn chia làm bốn:
-
Trình bày bổn duyên.
-
Hợp xưa nay.
-
Khuyên người qui lễ.
-
Kết thành chúng lợi ích.
Văn đầu lại có bốn: 1. Trình bày thời. 2. Nêu Phật. 3. Nêu Bồ-tát
cha con. 4. Nói rộng lên lý do. Đây là hai phần nêu thời và Phật.
Kinh: “Trong pháp hội của Phật cho đến hai tên là Tịnh Nhãn”.
Tán: Nêu Bồ-tát cha con.
Kinh: “hai người con đó cho đến cũng đều thấu suốt”.
Tán: Rộng nêu rõ lý do có bốn:
1. Khen ngợi đức của hai con.
2. Nêu thời Phật nói pháp.
3. “Lúc bấy giờ Tịnh Tạng Tịnh Nhãn” cho đến nêu hai con giáo hóa cha.
4. “Vua Diệu Trang Nghiêm liền đem nước giao cho em” cho đến xuất gia thu hoạch lợi ích.
Đây là phần đầu, chia làm ba: 1. Nêu thành phước trì. 2. Riêng nêu bốn đức. 3. Nêu bảy định. bốn đức: 1. Lục độ. 2. Phương tiện khéo léo có mười hai: Bi tâm, cố luyến, hiểu biết các hành, ưa diệu trí Phật, thường ở trong sanh tử, luân hồi không nhiễm, tinh tấn mạnh mẽ, sáu thứ này là bên trong. Khiến dùng ít thiện cảm quả vô lượng, khiến dùng chút sức nhiếp đại gốc lành, người ghét Thánh giáo thì trừ nhuế não người, trú ở giữa đó khiến kia hướng vào, đã vào rồi khiến cho thành thục, đã thành thục rồi khiến được giải thoát, sáu thứ này là ngoài. 3. Tứ vô lượng. 4. Ba mươi bảy đạo phẩm. Trong các Tam- muội tịnh là đoạn chướng chứng chân. Nhật tinh tú: là mặt trời rộng lớn phá như các ngôi sao phá tan sự tối tăm, cho nên Tịnh quang là phát ra ánh sáng lớn, Tịnh sắc là hiện các sắc mầu nhiệm, Tịnh Chiếu Minh là chiếu sáng Phật pháp, Trường trang nghiêm là chứng đắc công đức không khô héo, Đại uy đức là khởi thần thông.
Lúc ấy Đức Phật kia… nói kinh Pháp Hoa này.
Tán: Nói về Phật đương thời nói pháp.
Kinh: “Bấy giờ Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn cho đến nên nghe và tin nhận”.
Tán: Hai con giáo hóa vua cha có năm:
1. Thưa mẹ đến chỗ Phật.
2. Mẹ sai con giáo hóa cha.
3. Theo lời dạy hành hóa.
4. “Lúc đó nơi hậu cung của vua Diệu Trang nghiêm vương có tám muôn bốn ngàn người” cho đến tín tâm qui y Phật.
5. “Lúc đó Đức Phật kia nói pháp cho vua nghe” Đức Phật ứng dẫn dắt lợi ích. Đây là phần đầu có hai: Nêu và giải thích.
- Kinh: “Mẹ liền bảo con rằng” cho đến cùng nhau đồng đi”.
Tán: Mẹ khiến con giáo hóa cha.
Kinh: “Tịnh Tạng, Tịnh Nhãn cho đến sanh vào nhà tà kiến này”.
- Tán: Theo lời dạy thực hành giáo hóa có chín:
-
Hai con hận sanh.
-
Mẹ khiến nhớ đến cha.
-
Thuận lời liền hóa.
-
Cha thấy vui mừng hỏi.
-
Hai con đều đáp.
-
Cha trình bày muốn đến.
-
Báo mẹ thỉnh xuất gia.
-
Mẹ liền hứa.
-
Thưa cha mẹ đến chỗ Phật. Đây là phần đầu.
Kinh: “Mẹ bảo con rằng cho đến qua đến chỗ Phật”.
Tán: Mẹ khiến nghĩ đến cha.
Kinh: “Lúc ấy hai người con cho đến tâm thanh tịnh tin hiểu”.
Tán: Thứ ba, là thuận theo lời nói hành giáo hóa. Trước nêu kế giải thích sau là kết.
Kinh: “Bấy giờ cha thấy con cho đến con là đệ tử”
Tán: Cha thấy vui mừng hỏi và hai con đều đáp.
Kinh: “Cha nói với con rằng cho đến xin cho chúng con xuất gia”.
Tán: Cha trình bày muốn đến. Thưa mẹ xin xuất gia. Thưa mẹ xin xuất gia có hai: Trước nói cha tín tâm, sau xin mẹ xuất gia. Xuất gia rộng lớn dụ hư không. Như Khế Kinh nói: Chim công tuy có màu sắc tô điểm thân mình không bằng hồng hạc năng bay xa, người tại gia tuy có sức giàu sang mà không bằng công đức xuất gia thù thắng. Kinh Thập Luân nói: Hoa Chiêm bác ca tuy héo còn hơn các hoa tươi tinh kiết, các Tỳ-kheo phá giới hành vi ác còn hơn các ngoại đạo tinh tấn, do đó hai con thỉnh xin mẹ cho xuất gia.
Kinh: “Mẹ liền bảo con rằng cho đến thời gặp Phật cũng khó”.
Tán: Mẹ liền chấp nhận. Bạch song thân đến chỗ Phật, có ba: Trước nêu thỉnh, kế là giải thích thỉnh, sau kết thỉnh.
Kinh: “Lúc đó nơi hậu cung của vua Diệu Trang Nghiêm cho đến ưa mến Phật pháp”.
Tán: Phần Trong con giáo hóa cha thứ tư. Tín tâm qui y Phật có ba: Trước nêu đạo khí kham thành, tiếp hai con khéo hóa, sau mọi người đến chỗ Phật. Đây là hai phần đầu. Trong đạo khí thành có bốn: 1. Hậu
cung. 2. Tịnh Nhãn. 3. Tịnh Tạng. 4. Phu nhân.
Kinh: “Bây giờ, vua Diệu Trang Nghiêm vương cho đến đứng qua một bên”.
Tán: Đây mọi người đến chỗ Phật.
Kinh: “Lúc đó Đức Phật kia cho đến phát ra ánh sáng”.
Tán: Hai con giáo hóa cha và Phật nên dẫn dắt lợi ích có bốn:
-
Phật khéo nói pháp.
-
Vua mở chuỗi chơn châu cúng thí.
-
Vua nghĩ sắc thân Phật.
-
Đức Phật hỏi thọ ký thành.
Đây là hai phần đầu.
Kinh: “Bấy giờ vua Diệu Trang Nghiêm cho đến công đức như thế”.
Tán: Vua nghĩ sắc thân Phật và Phật hỏi thọ ký thành. Trong Phật hỏi thọ ký thành, gồm hỏi và thọ ký. Trong thọ ký có sáu:
-
Nhân.
-
Thể.
-
Nước.
-
Kiếp.
-
Chúng.
-
Cõi.
Kinh: “Vua Diệu Trang Nghiêm liền đem nước cho đến trang nghiêm Tam-muội”.
Tán: Đây rộng nêu lý do, thứ tư xuất gia được lợi ích có sáu:
-
Xuất gia.
-
Tu hành đắc định.
-
Bay lên hư không bạch Phật.
-
Khen ngợi ấn rộng trình bày.
-
Từ hư không xuống tán nguyện.
-
Nói rồi lạy Phật mà ra.
Đây là hai phần đầu.
Kinh: “Liền bay lên hư không cho đến đến sanh vào nhà con”.
Tán: Bay lên hư không bạch Phật có ba: Trước bay lên hư không, tiếp chánh bạch, sau kết khen ngợi.
Kinh: “Lúc đó đức Vân lôi Âm vương cho đến được gặp thiện tri thức”.
Tán: Khen ngợi ấn rộng trình bày có ba: Trước nêu nhân xưa mới gặp bạn lành, tiếp giải thích nghĩa bạn lành lợi ích, sau nêu nhân hai con
là bạn lành. Đây là phần đầu.
Kinh: “Vị thiện tri thức cho đến tâm chánh đẳng giác”.
Tán: Đây giải thích nghĩa bạn lành lợi ích có hai: Trước nêu chỉ dạy cho lợi ích vui mừng khiến chứng quả đại Bồ-đề, sau hiển khiến được thấy Phật nhân phát Bồ-đề tâm. Kinh Thiện giới và Bồ-tát Địa nói: Thân gần bạn lành là giới không thiếu khuyết, học rộng tu chứng, ai mẫn, vô úy, kham nhẫn, không lười mỏi, nguyện, ngôn từ biện rõ, gọi là tướng bạn lành, cầu thí lợi lạc ở đây chánh tri, có lực, thiện quyền, nhiêu ích, không xả, đại bi không bè phái, gọi là bạn lành, tạo tác không luống dối, oai nghi viên mãn ngôn hành thuần hậu, không biếng nhác, không ganh ghét, tiết kiệm, tùy xả, can gián, khen ngợi, khiến nhớ, giáo thọ, giáo giới năng vì nói pháp, đó gọi là bạn lành. Có thể làm chổ nương tin, có bệnh không bệnh ái kính, cung cấp, phụng dưỡng, thăm hỏi, nghinh lễ, tu hòa kính nghiệp, bốn việc đầy đủ vật không thiếu, ứng thời, cẩn kính thừa sự vấn hỏi lắng nghe không động gọi là gần gũi. Kinh Niết-bàn chép: Thiện tri thức nghĩa là Phật, Bồ-tát, Bích Chi Phật, Thanh-văn trú trong loài người. Kinh Phương Đẳng nói: Vì sao gọi là Thiện tri thức ư? Vì thiện tri thức năng dạy mọi người xa lìa mười ác tu hành mười thiện nên gọi là thiện tri thức. Lại nữa Thiện tri thức như pháp mà nói, như lời nói mà tu hành. Vì sao gọi là như pháp mà nói, như lời nói mà tu hành? Vì tự mình không sát sanh dạy người không sát sanh, cho đến tự hành chánh kiến dạy người hành chánh kiến, nếu có thể như vậy thì được gọi là thiện tri thức. Người thiện nam! Trăng giữa hư không từ đầu tháng ngày một đến ngày mười lăm dần dần thêm lớn, thiện tri thức cũng giống như vậy khiến người học đạo xa dần ác pháp thêm lớn thiện pháp.
Theo Kinh Hoa Nghiêm Bồ-tát có mười hạng thiện tri thức. Những gì là mười: 1. Năng khiến an trú tâm Bồ-đề. 2. Năng khiến tu tập gốc lành. 3. Năng khiến rốt ráo các Ba-la-mật. 4. Năng khiến phân biệt giải nói tất cả pháp. 5. Năng khiến an trú thành tựu tất cả chúng sanh.
6. Năng khiến đầy đủ biện tài hỏi năng đáp. 7. Năng khiến không đắm trong tất cả sanh tử. 8. Năng khiến ở trong tất cả kiếp hành Bồ-tát hạnh tâm không biếng nhác. 9. Năng khiến an trú hạnh Phổ Hiền. 10. Năng khiến thâm nhập trí Phật. Lại thiện tri thức là cha mẹ lớn lên tất cả gốc lành cho ta, lại là vị thuốc hay cứu trị các bệnh, lại làm mắt sáng dắt đường cho chúng ta, lại làm nhật nguyệt khai chiếu mở đường chánh giác ra đời, cho đến nói rộng. Thiện tri thức ấy phạm hạnh hoàn toàn giáo hóa khiến ta thấy Phật gọi là đại duyên, khiến phát vô thượng đại
Bồ-đề tâm gọi là đại nhân, do nhân duyên đây khiến chứng Quả Phật gọi là thành Phật sự.
Kinh: “Đại vương! Ông thấy hai người con này chăng cho đến làm cho trú trong chánh kiến”.
Tán: Đây nêu rõ nhân hai con làm bạn lành.
Kinh: “Vua Diệu Trang Nghiêm cho đến như quả tần bà”.
Tán: Từ hư không xuống tán nguyện có hai: Trước khen ngợi năm đức, sau phát sáu nguyện. Đây là phần đầu. Quả tần bà màu sắc đỏ lại ướt nên lấy làm dụ.
Kinh: “Bấy giờ vua Diệu Trang Nghiêm vương cho đến chẳng sanh tâm ác”.
Tán: Dưới phát sáu nguyện: Trước nêu khen ngợi Phật pháp, sau riêng phát sáu nguyện. Hoặc giáo hoặc giới hành các nơi chốn, thảy đền an ổn, chúng sanh lìa ác mà nhiếp thiện.
Kinh: “Vua thưa lời đó rồi lạy Phật mà lui”.
Tán: Nói rồi mà lui ra.
Kinh: “Phật bảo Đại chúng cho đến Bồ-tát”
Tán: Đoạn thứ hai, hợp xưa nay.
Kinh: “Dược Vương và Dược Thượng Bồ-tát đây cho đến cũng nên lễ lạy”.
Tán: Đoạn thứ ba khuyên người qui lễ, gồm khen ngợi và khuyên.
Kinh: “Lúc Phật nói phẩm này cho đến đắc pháp nhãn tịnh”.
Tán: Đoạn thứ tư kết thành thắng ích. Đối Pháp Quyển chín chép: Đạo Vô gián năng lìa trần, đạo giải thoát năng lìa cấu, do hai thứ đầy đủ nên gọi là đắc pháp nhãn tịnh chứng sơ quả.
-------------------------
PHẨM PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁT
Phẩm này chia làm ba môn:
-
Vì sao có phẩm này.
-
Giải thích tên phẩm.
-
Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này: Luận nói sức hộ pháp, phẩm Phổ Hiền và phẩm sau thị hiện. Phẩm Chúc lụy Phật tự ba phen (tam chu) phó chúc hộ pháp. Phẩm này Bồ-tát khuyên phát mọi người hộ pháp nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Nhân từ tuệ ngộ gọi là Hiền, đức lợi đủ khắp gọi là Phổ, đây do trong chứng nhất chân, ngoài thành tựu muôn đức, do đó đức lợi đầy khắp nhân từ tuệ ngộ nên gọi Phổ Hiền. Lý thú Bát-nhã nói: Tất cả hữu tình đều là Như-lai tạng, Phổ Hiền Bồ-tát biến tự thể, do chứng lý trùm khắp hiền thiện, năng chứng đạo ấy gọi là Phổ Hiền. Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói: Phổ Hiền thân tướng nương nơi như như, không nương cõi Phật; hoặc do trong chứng lý hiền phổ biến đây, ngoài hiển ba nghiệp không chỗ nào không hiền, nên gọi là Phổ Hiền. Đây chính là đức tự lợi đặt tên. Dỗ dành, khích lệ gọi là khuyên, dẫn dắt chúng sanh gọi là phát, dạy bảo dẫn dắt khiến tin gọi là khuyên phát. Đây chính là đức lợi tha. Trong phẩm này nêu rõ Phổ Hiền Bồ-tát khuyên phát tín tâm trì kinh nhập đạo cho nên gọi là Phẩm Phổ Hiền Bồ-tát khuyến phát.
III. Giải đáp các vấn nạn: Vì sao Phổ Hiền đến khuyên, mà chẳng phải ai khác đến?
Đáp: Muốn nêu rõ Tín thuận đạo chứng Nhất thừa ba nghiệp cử chỉ không gì không hiền.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Phổ Hiền cho đến đi quanh bên phải bảy vòng”.
Tán: Phẩm văn chia làm sáu:
-
Phổ Hiền đến.
-
Khải bạch nghe kinh.
-
Phật bảo bốn pháp.
-
Phổ Hiền khuyến phát.
-
Phật Thích-ca khen ngợi và khuyên.
-
Chúng đương thời được lợi ích.
Đây là phần đầu, có bốn: 1. Từ phương đông đến. 2. Tướng các nơi đi qua. 3. Chúng tùy thuộc theo. 4. Đến rồi qui y đảnh lễ. Kinh Hoa
Nghiêm nói: Thân tướng Phổ Hiền nương nơi như như, không nương nơi Phật quốc. Luận Trí độ nói: Mỗi một lỗ chân lông của Bồ-tát Phổ Hiền thường xuất ra thế giới Chư Phật và Bồ-tát trùm khắp mười phương để giáo hóa chúng sanh không dựa vào trú xứ, nay nói từ phương đông đến, là căn cứ một hóa thân ứng cho chúng sanh thấy nghe làm luận.
Kinh Bảo Vân nói: Đại Bồ-tát có mười pháp thiện năng biến hóa: 1. Ở nơi 1 cõi Phật thân bất động, mà năng trùm khắp các cõi Phật thỉnh hỏi nói pháp. 2. Ở nơi một cõi Phật bất động năng trùm khắp các cõi Phật nghe nhận lý sâu xa. 3. Ở nơi một cõi Phật bất động năng trùm khắp các cõi Phật cúng dường Chư Phật mười phương. 4. Ở trong một cõi Phật bất động năng trùm khắp các cõi Phật trang nghiêm Bồ-tát thảy đều đầy đủ. 5. Ở trong một cõi Phật bất động mà cúng dường cung kính khen ngợi ở tất cả cõi Phật, khi mới thành Phật ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ-đề. 6. Ở nơi một cõi Phật bất động năng dùng tự thân hiện tất cả cõi Phật ngồi nơi đạo tràng hiện thành Phật đạo. 7. Ở nơi một cõi Phật bất động năng hiện khắp các cõi Phật xoay bánh xe pháp. 8. Ở nơi một cõi Phật bất động năng hiện tất cả cõi Phật nhập Niết-bàn. 9. Ở nơi một cõi Phật bất động mà năng ứng thọ hóa ở tất cả cõi Phật, thảy đều hiện thân. 10. Bồ-tát đắc vô tác thần thông ở nơi tất cả mười phương cõi Phật không tác tưởng biến hóa không tác tưởng thần thông, tùy các chúng sanh thích ứng hiện, thảy đều hiện. Xét thấy ngài Phổ Hiền đây từ lâu đã thành Phật nay thị hiện làm Bồ-tát khuyên tu hạnh mầu. Kinh Vô Cấu Xứng nói: Tuy đắc Phật đạo xoay bánh xe pháp mà không bỏ Bồ-tát đạo đó gọi là Bồ-tát hạnh.
Kinh: “Bạch Phật rằng cho đến Kinh Pháp Hoa này”.
Tán: Khải bạch nghe kinh, có hai: Trước trình bày ý đến, sau nghi thỉnh. Nghĩa là Phật tại thế, pháp còn khó đắc huống chi sau này Phật diệt độ không có chủ làm sao được nghe kinh đắc văn tư tu sanh tín thuận? Lại Phật còn tại thế thì chúng sanh mê hoặc nhẹ, nghiệp mỏng có thể được nghe Kinh này, sau khi Phật diệt độ chúng sanh nghiệp dày hoặc nặng làm sao được nghe Kinh? Do khó tin khó nghe khó tư khó tu.
Kinh: “Phật bảo Phổ Hiền cho đến đắc kinh này”.
Tán: Phật bảo bốn pháp chia làm ba: Trước nêu, tiếp hiển, sau kết. Bốn pháp là:
1. Chư Phật giữ gìn, nghĩa là căn cần thuần thục. Luận Bát-nhã nói: Khéo giữ gìn các Bồ-tát vì các Bồ-tát căn thuần thục, mà nói người căn chưa thuần thục nghe danh còn chưa đắc, căn đã thuần thục nghe
liền có thể đắc giáo và lý.
2. Trồng các cội công đức, cần trước phải song tu hai nhân phước tuệ, khởi các căn Tin cho đến mới được nghe kinh cho đến.
3. Nhập chánh định tụ là chánh kiến quyết định.
4. Phát tâm đại bi cứu độ tất cả chúng sanh.
Trước là đạo tư lương năng nghe năng tư duy, tiếp là gia hạnh đạo năng tu định quán, tiếp là kiến đạo năng chứng lýsau, sau là tu đạo năng tập năng chứng. Y bốn vị này đều tăng thượng. Lại ngoài gặp Phật hộ, trong tu gốc thiện, quyết định không chê bai, từ bi rộng lớn, tức đều ở Địa tiền mới có thể đắc ngộ giáo lý của Kinh. Nhưng y Du-già chánh định tụ chủ yếu nhập sơ địa, đây nói không như vậy.
Kinh: “Lúc đó ngài Phổ Hiền Bồ-tát cho đến trong đời ác trược”.
Tán: Phổ Hiền khuyến phát có bốn:
1. Nêu hộ trì.
2. Cho hiện đời lợi ích.
3. “Hoặc chỉ viết chép người ấy mạng chung sẽ sanh lên cõi trời Đao lợi” cho đến là đời sau được lợi ích.
4. “Có công đức lợi ích như vậy” cho đến kết chuyển phát tâm.
Đây là phần đầu. Kinh Đại Tập Nguyệt Tạng phần nói: Sau khi Phật diệt độ cho đến năm trăm năm đầu giải thoát vững chắc, năm trăm năm tiếp thiền định vững chắc, năm trăm năm tiếp học rộng vững chắc, năm trăm năm tiếp tạo tháp chùa cho đến phước đức vững chắc, năm trăm năm tiếp đấu tranh vững chắc. Đây có ba giải thích: 1. Nói nay đang ở thời kỳ pháp một ngàn năm, sau chánh pháp cho nên nói au năm trăm năm. 2. Nói nay đang thời kỳ thứ năm - năm trăm năm, trong đây nói sau năm trăm năm tức sau cùng. Theo hai giải thích trên trước sau có thọ trì Kinh, tuy chẳng phải không có hộ trì, mà trong thời sau người nhiều tệ ác, người tin khó nên cần phải ửng hộ. 3. Nói Thế tôn ký biệt thời phần, mỗi một chủng loại đều năm trăm năm đều gọi là sau khi diệt độ năm trăm năm các thời này Bồ-tát đều gia hộ. Do ủng hộ trong Thập Địa luận nói có ba hộ pháp: 1. Hộ giáo pháp, là viết chép đọc tụng vì người khác nói. 2. Hộ hành pháp là tư duy tu tập trong lúc tu hành có các chướng nạn mà nhiếp thọ cứu hộ. 3. Hộ chứng pháp tam Phật Bồ- đề, nhiếp chứng pháp đây giáo hóa chuyển thọ. Tức nói rõ Bồ-tát thời chánh pháp hộ ba pháp này vì còn có người chứng, thời tượng pháp hộ giáo hành pháp lại không có chứng, sau thời mạt pháp chỉ hộ giáo pháp lại không có hành. Bí yếu của thiền pháp chẳng phải. Đại thừa tông
không cần hòa hợp. Kinh Bi Hoa và Chân Đế nói sau khi Như-lai diệt độ sau năm mươi năm, theo lý sợ văn lầm. Có nói nói sau người diệt độ năm mươi năm cho nên không trái nhau.
Kinh: “Nếu có người thọ trì cho đến đều chẳng được tiện lợi”.
Tán: Cho hiện đời lợi ích có ba:
1. Nêu ba phẩm tu cho lợi ích sai khác.
2. “Nếu Kinh Pháp Hoa lưu hành trong cõi Diêm-phù-đề” cho đến nêu rõ kinh lưu hành ở đời là Phổ Hiền lực.
3. “Nếu có người thọ trì đọc tụng” cho đến là người năng hành cùng hợp với hạnh Phổ Hợp.
Trong văn đầu hạng hạ phẩm thọ trì được gia hộ, tiếp “Người đó hoặc đi cho đến” là trung phẩm thọ trì được gia hộ. Sau: “Thế tôn! Nếu đời sau cho đến.” là người thượng phẩm thọ trì được gia hộ. Đây nói hạng hạ phần có hai: Trước nêu tất cả pháp, ác nhân không tiện lợi, sau riêng nói mười hai thứ phi nhân cũng không được tiện lợi.
Kinh: “Người đó hoặc đi cho đến Đà-la-ni”.
Tán: Hạ trung phẩm thọ trì được gia hộ. Có bốn:
-
Khi đọc kinh được gia hộ.
-
Khi suy nghĩ kinh được gia hộ.
-
Khi quên khiến cho được nhớ.
-
Cho thấy thân Bồ-tát để tăng tiến.
Tăng tiến có ba: 1. Thấy để vui tiến tu. 2. Đắc định. 3. Đắc tổng trì. Pháp âm phương tiện là gia hạnh trí định của nói pháp.
Kinh: “Thế tôn cho đến thần thông lực”.
Tán: Người thượng phẩm thọ trì được che chở có năm:
1. Dạy quy tắc hai mươi mốt ngày tu đựơc tinh thông.
2. Khiến cho thấy thân Bồ-tát trao cho đạo nghe pháp đắc tổng trì.
3. Người ác không làm tổn hại.
4. Chánh nói thần chú.
5. Kết năng lực mình.
Người cầu xin là người cần kinh Pháp Hoa, hoặc phàm là người có mong cầu tốt, có phép tắc cầu, trong ba tuần một lòng siêng năng. Kinh Phổ Hiền Quán nêu hành pháp có năm: 1. Ba tuần liền thấy. 2. Bảy tuần được thấy. 3. Một đời được thấy. 4. Hai đời được thấy. 5. Ba đời được thấy. Trong đây xưa nói thượng phẩm tinh tấn, ba tuần thấy, cho đến phẩm thứ năm tu ba đời mới được thấy. Lại đây bất định. Mới thấy thân chỉ thô sơ có thể một tuần, cho đến ba đời được thấy thân thù
thắng. Tu sai khác thời dài mới thấy thù thắng. Tinh tấn: Kinh kia nói sáu pháp: 1. Trang nghiêm đạo tràng. 2. Tẩy thân sạch sẽ. 3. Sáu thời lễ bái. 4. Khải thỉnh lục sư 5. Ngày đêm đọc tụng kinh điển Đại thừa. 6. Tư duy đạo lý pháp không sâu xa. Khi tác quán liền thấy Phổ Hiền năng diệt trừ trăm muôn ức na do tha A-tăng-kỳ trọng tội sanh tử, chưa thấy văn nói lục sư. Nay tạm giải thích. Lục sư là: Đức Phật Thích-ca làm Hòa-thượng. Văn-thù-sư -lợi làm A-xà-lê. Di-lặc Bồ-tát làm giáo thọ sư, mười phương Phật làm chứng, mười phương Bồ-tát làm đồng pháp lữ, Phổ Hiền Bồ-tát giới chủ sám hối mới có thể sám hối thọ tam tụ giới cho đến Như vậy khải thỉnh mới thấy Phổ Hiền.
Kinh: “Nếu Kinh Pháp Hoa cho đến sức uy thần của Phổ Hiền”.
Tán: Kinh lưu hành ở đời là lực của Bồ-tát Phổ Hiền.
Kinh: “Nếu có người thọ trì cho đến lấy tay xoa đầu.
Tán: Người năng hành cùng hợp với hạnh Phổ Hiền cho nên Phật xoa đầu.
Kinh: “Nếu chỉ biên chép cho đến vui chơi khóai lạc”.
Tán: Đời sau được lợi ích có ba: Hạ phẩm tu sanh cõi Đao Lợi. Trung phẩm tu thọ trì sanh cõi trời Dạ-ma v.v… Thượng phẩm tu ngàn Đức Phật trao tay cho đến đây là phần đầu có ba:
-
Chỉ biên chép nơi sanh.
-
Tướng đón rước.
-
Thân trạng.
Sanh bốn tầng trời dưới cũng là hạ phẩm sanh, lược qua không nêu.
Kinh: “Huống là thọ trì cho đến đúng như lời dạy tu hành”.
Tán: Trong đây phẩm tu thọ trì cho đến sanh trời Dạ Ma và hai cõi trời trên không thấy Phật, văn lược vì không có quả.
Kinh: “Nếu có người cho đến mà ở trong đó sanh”.
Tán: Đây thượng phẩm tu ngàn Đức Phật trao tay cho đến có bốn:
-
Được ngàn Đức Phật trao tay.
-
Khiến không sợ hãi.
-
Chỗ vãng sanh.
-
Thấy Bồ-tát.
Trước nói ba phẩm tu sanh, tạm nêu một tướng mà chẳng phải là cùng tận thật lý, thật lý mười pháp hành mỗi mỗi đều có ba phẩm. Chỉ như trung phẩm đã có thọ trì cho đến giải nghĩa, thượng phẩm cũng có
tùy theo tự tu tập có thượng hạ. Như lời nói mà tu hành đều có hạ thượng nay chỉ ở trung phẩm nói có, thượng phẩm liền không. Căn cứ một tướng nói mười pháp hành, trên luận Biên trung Biên nói: Tám pháp hành trước là Văn tuệ làm hạ phẩm, thứ chín, là Tu tuệ làm trung phẩm, thứ mười, là Tu tuệ làm thượng phẩm. Trong Văn tuệ: Viết chép, cúng dường, thí cho người, là hạ dễ, lắng nghe, đọc, phương tụng làm trung, thọ trì, khai diễn làm thượng khó. Lại tu pháp hành thứ một, hai, ba là hạ. Thứ hai, bốn, sáu hành là trung. Thứ ba, bảy, tám, chín, mười hành là thượng, tuy có pháp hành giống nhau mà hướng tu đến có khác.
Kinh: “Có công đức lợi ích như thế cho đến khiến chẳng đoạn dứt”.
Tán: Bồ-tát Phổ Hiền kết khuyên phát tâm có hai: Trước hiển bày thù thắng khuyên hành, sau hộ pháp khiến hành.
Kinh: “Lúc bấy giờ đức Thích-ca cho đến danh hiệu Phổ Hiền Bồ-tát”.
Tán: Đức Thích-ca tán khuyên có ba: Trước khen Phổ Hiền, kế khen ngợi người trì Kinh, sau đối với các tướng trái thuận của hành giả.
Đây là phần đầu có ba: 1. Khen ngợi hộ trợ kinh. 2. Khen ngợi nguyện hạnh. 3. Hộ người trì danh. Khen ngợi nguyện hạnh có ba nhân:
Tự lợi. 2. Lợi tha. 3. Khen ngợi người.
Kinh: “Phổ Hiền! Nếu có người cho đến lấy y trùm cho”.
Tán: Dưới khen ngợi người trì kinh có bốn:
-
Thuận theo Phật thực hành.
-
Lìa các điều ác.
-
Sẽ được ra đời.
-
Nhất Định nhàm chán sanh tử.
Đây là phần đầu có sáu: Được thấy Phật biết ba thứ thân lý, trí, hóa. 2. Được tự thân nghe pháp hiểu ý giáo. 3. Vì cúng dường Phật cúng dường pháp. 4. Vì Phật khen ngợi khế hợp bổn tâm Phật tùy hỷ. 5. Được Phật dùng tay xoa dạy bảo và được thọ ký. 6. Được Phật lấy y trùm tức được đầy đủ hổ thẹn nhu hòa nhẫn nhục! cho đến
Kinh: “Người như thế cho đến hạnh Phổ Hiền”.
Tán: Lìa các điều ác có năm:
-
Nhàm Chán vinh hoa thế gian.
-
Không ưa duyên ác.
-
Tâm khéo điều tịnh.
-
Diệt trừ phiền não.
5. Thiểu dục tu hành.
Không ưa ác duyên trong đó có ba: 1. Tà hạnh. 2. Nghiện Ác. 3. Ngoại đạo tay biên chép kỹ nghệ.
Tâm khéo điều tịnh có ba: 1. Ngay thẳng. 2. Chánh niệm. 3. Phước đức.
Dứt trừ phiền não có ba: 1. Trừ ba độc. 2. Diệt ganh ghét. 3. Bỏ ba mạn.
Trong thiểu dục tu hành cũng có ba: 1. Thiểu dục. 2. Tri túc. 3. Tu hạnh Phổ Hiền hạnh.
Kinh: “Phổ Hiền sau khi Như-lai diệt độ cho đến trên pháp tòa”.
Tán: Sẽ được ra đời có năm:
-
Hướng đạo tràng.
-
Phá chúng ma.
-
Đăng chánh giác.
-
Xoay bánh xe pháp.
-
Lên pháp tòa.
Kinh: “Phổ Hiền! Nếu ở đời sau cho đến được phước báo đó”.
Tán: Định nhàm chán sanh tử có hai:
-
Không tham vật dụng nuôi sống.
-
Được hiện quả báo.
Kinh: “Nếu có người cho đến quả báo hiện tại”.
Tán: Trong phần nói đức Thích-ca khuyên khen ngợi. Đây đoạn thứ ba, đối với tướng thuận nghịch của hành giả có năm, trong đây có hai:
-
Người hủy không có mắt do hủy pháp nhãn tịnh.
-
Người khen ngợi hiện tại thọ báo ruộng tâm đều thù thắng.
Kinh: “Nếu lại thấy người thọ trì cho đến phải như kính Phật”.
Tán: Trong đây có hai:
1. Nói lỗi người mắc bệnh bạch lại.
2. Khinh cười mắc tội. Khuyên sanh tâm cung kính. Khinh cười mắc tội có mười bệnh, như văn có thể biết. Liệu lệ là cong quẹo cho đến.
Kinh: “Lúc Phật nói phẩm Phổ Hiền Bồ-tát cho đến làm lễ mà đi”.
Tán: Chúng đương thời được lợi ích có hai: Trước được lợi ích, sau vâng hành.
Nguyên nhân luận bàn giao tiếp khiến dần thông suốt vượt lên,
đạo tục khóa hư mệnh khiến giảng giải kinh điển này không thể tu các nghĩa, liền tự biên tập văn mới, sớm chế tác chiều luận bàn cuối cùng sớ đã xong. Than ôi người ít học hiểu biết nông cạn lý mà ghi chép các lời nói. Kinh điển nghĩa lý sâu xa vụng thành sáng tỏ, lo sợ y nơi thành giáo nhanh nhẹn phân biệt nơi huyền tông còn sợ ý chỉ sai lầm lời nói sơ xuất, đâu uổng chịu viện cứ làm dẫn chứng. Kinh này chính đáng làm quan trọng, ai lại không khen ngợi văn nghĩa u mầu, đã không thể lặng lẽ như vô vi, tạm nương theo dụng trình bày phân biệt, quân tử thông đạt may mắn vì tôi nói lược, vẫn làm kệ tụng:
Đã chọn các kinh làm hạnh lý
Lược khen Nhất thừa chân pháp nghĩa
Nói rộng khế thật thí chúng sanh
Nguyện cùng mau thành quả vô thượng.
Tháng 9 niên hiệu điều lộ năm thứ hai, ở chùa Đại Từ Ân ở Tây Kinh dịch Kinh viện trí luận Sư phòng, viết chép lạc hậu, rộng suy cứu trình bày việc thường xưa cũ, thế lúc ý chí cao quí của Đại vương, khen ngợi nét đẹp của tiểu vương, tại sách số đã định vẫn không ở tâm phân biệt, trong khoảng thời gian đó bỗng nhiên biến hóa, thần tuy mất mà phong cách vẫn còn, thường giảng giải sơ cấp luôn lo nghĩ nhớ tưởng, xin nguyện nương phước thiện ba hội sơ đăng, nhờ đây huân tu mới chứng nhập thượng phẩm trong biển chân như rộng lớn, dạo thuyền Bát- nhã dứt bị khổ hữu tình được trí vui Niết-bàn, cùng vô cùng cùng giới vô tận sanh, đều diệt nhân khổ đều đăng quả lạc.
Ngày 11 tháng 7 năm Đinh Mão thuộc Niên hiệu Bảo An Năm thứ ba đã khắc chép xong. Tăng Giác Ấn ở chùa Pháp Long.
Nguyện xin viết chép Kinh Pháp Hoa
Giải thích Đại thừa từ ân ký
Đại Sư cha mẹ đến bảy đời
Cho đến pháp giới mau thành Phật.
Ngày 11 tháng 2 năm Bính Tuất Thiên thừa nguyên niêm nhiếp kiến.
Bắt đầu từ cuối tháng giêng năm ngoái ở chùa Dược Sư thiện minh phòng đắc nghiệp rồi ví lợi ích vãng sanh tịnh độ.
Ngày 13 tháng chạp Niên hiệu Bảo An năm thứ ba ở chùa Hưng Phước viên như Phòng kiểm duyệt xong, vì muốn pháp trú thế lâu dài lợi ích hàng trời người.
Ngày 12 tháng 7 Niên hiệu Đại chánh thứ mười lăm, đối chiếu Giác Ấn năm Sư kiểm duyệt bổn thêm một phen giao rồi, ngày nay đã giảng xong phẩm Tuổi thọ. Hạ an cứ giảng ba kinh, cuốn phần học ở chùa Pháp Long để mong nối nghiệp cho con cháu.