Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 897.

Chương 7: Huyền Tán Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quyển 9 - Phần Đầu (Trang 201 - 236)

HUYỀN TÁN
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

QUYỂN 9
(PHẦN ĐẦU)

PHẨM ĐỀ-BÀ-ĐẠT-ĐA
Chia làm ba môn :
  1. Vì sao có phẩm này
  2. Giải thích tên phẩm
  3. Giải đáp các chướng nạn.
I. Vì sao có Phẩm này có ba:
1. Luận giải là một trong sáu thứ thọ ký, tức loại thứ tư vô oán ký, nói: Thọ ký cho Đề-bà-đạt-đa điều đó nói lên Đức Thế tôn không có oán ác nên có phẩm này.
2. Trong bốn phẩm khen ngợi tôn trọng lưu thông đây là phẩm thứ ba nói lên người trì kinh này đáng tôn trọng. Không tiếc thân mạng để cầu pháp này; đối với kẻ thù dùng thân làm giường nên có phẩm này.
3. Nói lên diệu dụng kinh này lợi ích vô biên thành đạo cũng mau tức là đại chúng trong biển hội Long Nữ thành đạo, cho nên có phẩm này.
II. Giải thích tên Phẩm: Gọi là Đề Bà Thiên, Đạt-Đa Thọ, là em họ của Phật con của Hộc Phạn, từ cầu trời mà được, trời trao cho nên gọi là Thiên Thọ.
III. Giải đáp các chướng nạn: Phẩm này cũng nêu rõ từ Cung rồng vọt hiện lên, Long nữ thành đạo. Vì sao chỉ đặt tên Thiên Thọ?
Đáp: Vì Thiên Thọ có duyên tốt chính Đức Thích-ca truyền, các tên khác tuy nói lên đức thù thắng chẳng phải việc của Phật nên không dùng làm tên phẩm, lại từ đầu đặt tên Thiên Thọ là việc xưa, Long nữ xưa vọt hiện lên v.v… hiện việc.
Hỏi: Vì sao cung rồng xuất hiện Long nữ thành đạo không  riêng
làm phẩm mà hợp chung Thiên Thọ?
Đáp: Văn-thù thuận duyên bạn lành chẳng trái với duyên lành của mình Thiên Thọ không như vậy, nói lên kinh đáng trọng, nên dùng thuận duyên đặt tên phẩm khuyên người trì kinh không dùng nghịch duyên đặt tên phẩm, đều là bạn lành trì kinh nên hợp làm phẩm.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến không có lười mỏi”.
Tán: Phẩm này văn chia làm hai phần:
1. Nêu Thiên Thọ tự thân Phật trái duyên bạn lành, muốn hiển bày chỉ nên trì kinh bất luận oán thân đều là bạn lành.
2. Nêu Văn-thù và tất cả chúng sanh thuận duyên bạn lành, nói kinh lợi ích nhiều năng lực nhanh chóng.
Phần đầu lại có ba: Trước nêu Phật xưa trọng pháp để cầu kinh, kế nói Thiên Thọ do trải qua đời sau thành Phật: “Bảo bốn chúng như Đề-bà-đạt-đa v.v…” sau kết nghe kinh đạt được lợi ích v.v… “Đức Phật bảo các Tỳ-kheo trong đời sau cho đến” Văn đầu văn có hai: Trước nêu xưa cầu pháp, sau nêu kết hợp xưa nay; tức phần văn sau kệ. Phần đầu lại có hai: 1. Văn xuôi và kệ nêu cầu pháp. 2. hai hàng tụng lý do cầu pháp Văn xuôi chia làm ba: Đầu nêu cầu pháp, kế nói vị vị tiên hứa, sau nói thuận theo. Cầu pháp có ba: Trước nói cầu pháp, kế nói tu hành, sau nêu tìm cầu: Đánh trống ra lệnh cho đến Đây là phần đầu.
Kinh: “Trong nhiều kiếp cho đến tâm không lui sụt”.
Tán: Nêu tu hành có bốn:
  1. Địa vị cao có khả năng.
  2. Hạ tâm năng thắng.
  3. Tài vật khó cho có thể cho năng bố thí.
  4. Địa vị khó bỏ có thể bỏ.
Đây là hai phần đầu.
Kinh: “Vì muốn đầy đủ cho đến giao việc trị nước cho Thái tử”.
Tán: Đây là hai thứ sau. Thuở ấy nhân dân cho đến. Ở đây nêu địa vị khó bỏ có thể bỏ tài vật khó cho có thể cho. Trước nói ý bố thí, sau nói sự bố thí. Trong sở thí thì đầu là ngoại tài, sau nội tài, tổn khí là phế bỏ, quân (vua) là chính, quen là sự, nay bỏ quân chính chẳng phải mình gánh vác.
Kinh: “Đánh trống rao lệnh cho đến cung cấp hầu hạ”. Đây nêu tìm cầu.
Kinh: “Bấy giờ có vị tiên cho đến sẽ nói cho Đại vương nghe”.
Tán: Đây là nói tiên hứa.
Kinh: “Vua nghe vị tiên nói cho đến thân tâm không mỏi mệt”.
Tán: Dưới nêu thuận theo cung phụng có hai: Đầu là nóiviệc khó có thể làm, sau việc khó có thể làm lâu. Đây là phần đầu. Cho đến: Tức nói thời gian này trải qua vô lượng sự nghiệp, nghĩa là bị đánh mắng cũng chưa hề lui sụt.
Kinh: “Thuở đó theo phụng thờ cho đến hầu hạ vị tiên không thiếu thốn”.
Tán: Việc khó làm có thể làm lâu dài.
Kinh: “Lúc ấy Đức Thế tôn cho đến thân sẽ làm tôi tớ”.
Tán: năm hàng rưỡi tụng chia làm ba:
  1. Hai hàng tụng cầu pháp.
  2. Một hàng rưỡi tụng vị tiên hứa.
  3. Hai hàng tụng thuận theo. Đây là hai hàng đầu.
Kinh: “Giờ có tiên Trường Thọ cho đến Ta sẽ nói cho ông nghe”.
Tán: Đây là vị tiên hứa. Tiên A tư Hán dịch là vô tỷ.
Kinh: “Khi vua nghe tiên nói cho đến thân tâm không lười mỏi”.
Tán: Ở đây nói thuận theo.
Kinh: “Khắp vì các chúng sanh cho đến nay vẫn nói cho ông nghe”.
Tán: Đây hai hàng tụng lý do cầu pháp. Khuyên bày siêng  năng học.
Kinh: “Đức Phật bảo các Tỳ-kheo cho đến là nhân thiện tri thức Đề-bà-đạt-đa”
Tán: Đây là nói kết hợp xưa nay có hai: Trước kết hợp, sau lãnh nhận gánh vác. Lãnh nhận gánh vác có hai: Đầu lãnh mười một biệt đức, sau lãnh hai thứ biệt đức, nghĩa là thành chánh giác độ chúng sanh.
Kinh: “Phật bảo bốn chúng cho đến trú vị không lui sụt”.
Tán: Dưới nêu Thiên Thọ do trải qua đời sau thành Phật. Hành tổn hại nên cận tuy đắm chìm, do năng lực kinh nên sẽ thành quả thù thắng. Kinh Vô Cấu Xứng nói thị hiện làm ma vương phần nhiều là Bồ-tát giải thoát bất khả tư nghì, chỉ có Hương Tượng mới có khả năng đấu sức sừng Hương Tượng đánh đấu chẳng phải lừa có khả năng đánh được, cho nên biết Thiên Thọ thị hiện làm. Thọ ký có hai: Đầu là thọ ký hiện tại, sau thọ ký sau khi diệt độ. Hiện tại có bốn: 1. Tự thể. 2. Tên cõi. 3. Trú tuổi thọ. 4. Lợi ích.
Kinh: “Sau khi Đức Phật Thiên Vương Niết-bàn cho đến đến bực
không lui sụt”.
- Tán: Đây thọ ký sau khi diệt độ có bốn: 1. Pháp trú. 2. Xây tháp. 3. Cúng dường. 4. Lợi ích.
Kinh: “Phật bảo các Tỳ-kheo cho đến từ hoa sen hóa sanh”.
Tán: Dưới đoạn thứ ba kết nghe kinh được lợi ích. Tín tâm không nghi ngờ có đủ năm đức:
  1. Không đoạ vào ba đường ác.
  2. Sanh gặp Phật hiện tiền.
  3. Thường nghe kinh này.
  4. Sanh trong trời người thọ lạc.
  5. Ở trước Phật hóa sanh.
Nói về nạn có tám: Nghĩa là ba đường ác là ba. 4. Sanh trước Phật sau Phật. 5. Các căn không đủ. 6. Tà kiến thế trí biện thông. 7. Biên địa tức thuộc Bắc châu. 8. Trời trường thọ : Thành Thật luận nói bốn luân bẻ gãy tám nạn: 1. Trú thiện xứ sanh giữa nước trừ năm nạn nghĩa là ba đường ác biên địa và trời trường thọ. 2. Nương theo bạn lành nghĩa là gặp Phật, trừ sanh trước Phật sau Phật. 3. Phát chánh nguyện nghĩa là chánh kiến, trừ tà kiến thế trí biện thông. 4. Gieo trồng gốc lành đời trước trừ các căn không đủ. Nay nói không đoạ địa ngục v.v… là lìa ba đường hiểm nạn, sanh trước Phật là trừ sanh trước Phật sau Phật, thường nghe kinh này trừ tà kiến thế trí biện thông, sanh trời người thọ lạc trừ các căn không đủ, Phật tiền hóa sanh trừ biên địa, Bắc châu và Trường thọ thiên.
Kinh: “Bấy giờ hạ phương cho đến nên trở về bổn quốc”.
Tán: Phẩm Dưới đoạn thứ hai nói Văn-thù thuận duyên bạn lành nói kinh, ích lợi nhiều nhanh chóng, trong đây chia làm bốn:
  1. Trí Tích thỉnh trở về.
  2. Đức Thích-ca giữ lại.
  3. Văn-thù hiện ra.
  4. Trí Tích luận bàn.
Đây nói phần đầu. Nghiệm ý văn này, Trí Tích thỉnh trở về nêu rõ nói kinh xong cho nên biết tám phẩm chánh tông là tốt nhất.
Hỏi: Vì sao bạch Đa-bảo mà Phật Thích-ca giữ lại đợi?
Đáp: Thị giả thỉnh trở lại nên bạch Đa-bảo vì đạo chủ khách nên Thích-ca giữ lại.
Kinh: “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cho đến có thể trở về bổn quốc”.
Tán: Đây nói đức Thích-ca giữ lại.
Kinh: “Lúc đó ngài Văn-thù -sư -lợi cho đến đến núi Linh Thứu”.
Tán: Đây nói Văn-thù hiện ra có hai: Vọt lên rồi đến núi, sau từ hoa sen xuống cung kính làm lễ. Đây là đầu.
Hỏi: Ngài Văn-thù nêu đầu kinh và đáp Di-lặc đều ở trong hội, vì sao ở đây nói từ Cung rồng xuất hiện?
Đáp: Lợi ích nhiều nguyên nhân đi ở đều lợi ích, Phật mở đầu nói Nhất thừa liền ẩn mà không hiện, nay vì chứng nghiệm mới từ cung rồng hiện lên, cũng đâu có sai. Từ biển vọt lên bèn đến linh nói.
Kinh: “Từ hoa sen xuống cho đến rồi ngồi một phía”.
Tán: Đây từ hoa sen xuống làm lễ cung kính, đã đến lễ Thế tôn cũng an ủy hỏi Bồ-tát.
Hỏi: Phân thân đã còn không riêng gì hai Thế tôn, vì sao Văn-thù lễ riêng hai bậc Thánh?
Đáp: Hợp gần nghiêng qui về, chưa hẳn cần phải lễ khắp, gần gũi đến cung kính không hẳn lễ khắp phân thân. Lại hiện tiền dễ lễ, chỗ xa khó trở về, cho nên biết đông độ bực thượng nhân riêng lễ hai bực thánh. Quan Âm nhận châu nhưng chia làm hai phần, phân thân còn ở cũng giống có gì sai lầm.
Kinh: “Bồ-tát Trí Tích cho đến số được bao nhiêu”.
Tán: Nêu Bồ-tát Trí Tích bàn luận, có hai: Trước nói số sở hóa nhiều ít, sau biện rõ sở hóa nhanh chậm. Kệ sau Trí Tích hỏi v.v… Đầu hiển hai lợi ích:
1. Chúng Sở độ.
2. Sở hóa khó, đều từ Thanh-văn để nhập Đại thừa, sau cùng có hai lợi ích: 1. Đạo thành nhanh chóng. 2. Chuyển thân ác. Bỏ tướng mạo súc sanh chuyển chất người nữ đều do lực kinh mà được như vậy.
Văn đầu có sáu:
  1. Hỏi hóa nhiều ít.
  2. Đáp: Số vô ương.
  3. Cung rồng vọt lên.
  4. Văn-thù chỉ bày.
  5. Trí Tích tán dương.
  6. Văn-thù nói hóa độ.
Đây là phần đầu.
Nhân giả: Chu lễ nói nhân giả có sáu đức:
1. Nhân là trịnh huyền thương người và vật gọi là nhân.
2. Trên dưới gần gũi gọi là nhân.
3. Quí hiền thân nhân gọi là nhân.
4. Giết thân thành người gọi là nhân. Nhân là nhẫn.
5. Tốt sống ác chết gọi là nhân.
6. Thiện ác đều nhẫn gọi là nhân.
Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến sẽ tự chứng biết”.
Tán: Đáp số vô ương. Tu du là chốc lát. Có chỗ nói tự sẽ chứng biết người Thanh-văn không sánh với đây được.
Kinh: “Ngài Văn-thù chưa dứt lời cho đến nghĩa không của Đại thừa”.
Tán: Cung rồng hiện ra có hai: Trước hiện ra đến núi, sau nói đức hóa độ của Văn-thù.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến việc đó như vậy”.
Tán: Văn-thù chỉ bày.
Kinh: “Bây giờ Bồ-tát Trí Tích cho đến khiến mau thành Bồ-đề”.
Tán: Trí Tích tán dương.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến Kinh Diệu Pháp Liên Hoa”.
Tán: Văn-thù bảo hóa.
Kinh: “Bồ-tát Trí Tích cho đến mau được thành Phật chăng”.
Tán: Dưới nói về sở hóa nhanh chậm, có bốn:
  1. Trí Tích hỏi.
  2. Văn-thù đáp.
  3. Trí Tích nghe.
  4. Long nữ hiện.
Đây là hỏi.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến có thể đạt đến Bồ-đề”.
Tán: Văn-thù đáp có mười sáu đức:
  1. Long.
  2. Nữ.
  3. Tiểu.
  4. Tuệ lợi.
  5. Trí căn.
  6. Đắc pháp tổng trì tức văn trì.
  7. Đắc định.
  8. Hiểu rõ pháp.
  9. Đắc không lui sụt.
  10. Biện tài.
  11. Từ niệm.
  1. Đầy đủ đức.
  2. Nhanh biện luận.
  3. Lời nói nghĩa xâu xa.
  4. Nhân từ khiêm nhượng.
  5. Hòa nhã.
Như trên đây đã nói người nữ nhanh chóng đắc Bồ-đề. Khoảnh Sát-na là thời gian rất ngắn. Luận Câu Xá chép: Một trăm hai mươi sát- na là đát sát-na lượng, sáu mươi đát sát-na là một lạp phược, ba mươi lạp phược là một tu du, ba mươi tu du là một ngày đêm, ba mươi ngày đêm là một tháng, mười hai tháng là một năm, ở trong đó phân nửa giảm đêm. Kinh Hoa Nghiêm chép: Thập Tín Bồ-tát tám tướng thành đạo, nay hoặc nói đây khuyên bày mọi người. Kinh Già-da Thiên Đỉnh Thiên tử Tịnh Quang hỏi có bao nhiêu loại phát tâm? Văn-thù Đáp có bốn: 1. Chứng phát tâm là nhập sơ địa. 2. Hành phát tâm là sáu địa kế. 3. Bất thối phát tâm là Bát địa, Cửu địa. 4. Nhất sanh bổ xứ phát tâm nghĩa là Thập địa. Nay đây Long nữ hoặc loại thứ tư phát tâm hóa làm Long nữ, tiểu mà năng học Pháp Hoa, mau đắc Bồ-đề, khuyến khích mọi người chẳng phải là thật như vậy. Văn kinh Thù Vấn Bồ-tát nói: Loại đầu trong bốn hạng này đã hơn Thanh-văn, kế hơn Độc giác, kế hơn Bất định địa, sau an trú định địa. Căn cứ tăng hơn làm luận không trái với kinh trước. Kinh Pháp Ấn nói Bồ-đề tâm có bảy. Luận phát Bồ- đề tâm có mười phát tâm. Bồ-tát địa có bốn duyên mười thứ phát tâm, sợ văn rườm rà nên thôi.
Kinh: “Bồ-tát Trí Tích cho đến liền thành chánh giác”.
Tán: Trí Tích nghi có bốn: 1. Thời gian dài. 2. Hành sâu rộng. 3. Trùm khắp các nơi. 4. Ý rộng lớn mới đắc Bồ-đề. Cho nên sanh nghi.
Kinh: “Nói luận chưa xong cho đến độ thoát khổ chúng sanh”.
Tán: Long nữ hiện, có bốn: 1. Long nữ hiện khen ngợi. 2. Thu Tử trình bày nghi. 3. Long nữ thành đạo. 4. Chúng đương thời được lợi ích. Đây là phần đầu có hai: Trước hiện rồi trở về chỗ cung kính, sau dùng tụng khen ngợi. Trong ba hàng rưỡi kệ tụng có hai: hai hàng rưỡi khen ngợi, một hàng sau trình bày thành thật. Đây là phần tụng kệ.
Kinh: “Bấy giờ ngài Xá-lợi-phất cho đến việc ấy khó tin”.
Tán: Ngài Thu Tử ban đầu, nêu sau giải thích.
Kinh: “Vì sao cho đến mau được thành Phật.”
Tán: Ở đây giải thích ba điều:
  1. Thân uế không đắc, sao có thể nương thắng pháp, thắng nhân.
  2. Thời gian ngắn không đắc quả Đại thừa mầu nhiệm.
3. Chướng ngại không đắc, lìa chướng không ngăn ngại mới viên mãn giác ngộ. Kinh Siêu Nhật Nguyệt Tam-muội nói: Thượng tòA-tỳ- kheo nói với Tuệ Thí rằng: Thân người nữ không thể được thành Phật đạo, có ba việc ngăn năm việc ngại. Sao gọi là ba: Tại gia tùy theo sự kềm chế của cha mẹ, xuất giá theo sự kềm chế của chồng, chồng chết theo con, cũng đồng nghĩa ba tòng của sách thế tục. năm thứ ngại đồng với đây.
Tức Kinh kia nói:
1. Không được làm Phạm thiên, vâng giữ hạnh thanh tịnh không có hạnh dơ cấu, tu tứ đẳng tâm khéo đạt tứ thiền và thăng Phạm thiên, dâm túng vô độ chính vì người nữ, cho nên không được làm Phạm thiên.
2. Không được làm Đế thích: Mạnh mẽ ít dục mới làm Đế thích tạp ác quá độ cũng vì người nữ.
3. Không được làm Ma vương, Thập thiện đầy đủ tôn kính tam bảo, kính thờ cha mẹ, khiêm cung, kính thuận trưởng già mới làm Ma vương, khinh mạn không thuận theo mất chánh giáo cũng vì người nữ.
4. Không được làm Luân vương: Hành Bồ-tát đạo từ mẫn với các loài cúng dường tam tôn, Tiên Thánh cha mẹ mới làm Luân vương, chủ bốn thiên hạ, hóa hành thập thiện, tôn sùng đạo đức, mới làm Luân vương không có hạnh thanh tịnh cũng vì người nữ.
5. Không được thành Phật: Tâm hành Bồ-tát thương xót tất cả chúng sanh đại từ bi dẫn đến Đại thừa, tiêu năm ấm hóa sáu suy, hành tam Tam-muội giải hai vô ngã chứng vô sanh nhẫn thông đạt tất cả, mới được thành Phật, người nữ không có việc này nên không được thành Phật.
Bồ-tát Địa chép: Tất cả người nữ thành tựu phiền não các trí ô nhiễm, Chư Phật không dùng thân xấu năng chứng đại Bồ-đề vô thượng cho nên nói người nữ không được thành Phật.
Kinh: “Bấy giờ Long nữ cho đến lại mau hơn việc đó”.
Tán: Long nữ thành đạo có hai: Trước dâng châu khởi thí dụ, sau thị hiện thành đạo. Đây nói phần đầu có bốn:
  1. Dâng châu.
  2. Hỏi ngược lại.
  3. Thẳng đáp.
  4. Kết dụ.
Kinh: “Đang lúc đó cả chúng hội cho đến giảng nói pháp mầu”.
Tán: Thị hiện đạo thành, có hai:
 
1. Thấy nhân.
2. Thấy quả.
Kinh: “Khi ấy trong cõi Ta bà cho đến đều xa kính lạy”.
Tán: Chúng đương thời được lợi ích có bốn:
  1. Vui mừng kính lễ.
  2. Được lợi ích.
  3. Cõi Vô cấu rung chuyển.
  4. Chúng hội tin nhận. Đây nói phần đầu.
Kinh: “Vô lượng chúng sanh được lãnh lời thọ ký”.
Tán: Thế giới vô cấu rung chuyển, có hai: Trước nêu thấy động, sau nói lợi ích này. Do thấy cõi kia rung chuyển liền chứng đạo quả.
Kinh: “Bồ-tát Trí Tích cho đến im lặng mà tin nhận”.
Tán: Chúng hội tin nhận.
----------------------
PHẨM TRÌ
Phẩm này chia làm hai môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
I. Vì sao có phẩm này lại có ba:
1. Sơ lược bốn phẩm nói trong khen ngợi tôn trọng lưu thông, ba phẩm đầu khen ngợi người, pháp khuyên người lưu thông, một phẩm sau này là thời chúng vâng giữ.
2. Nương mười hai phẩm nêu cảnh Nhất thừa, chia làm hai: Trên tám phẩm đầu chánh nêu quyền thật ba căn được thọ ký. Ba phẩm kế khen ngợi người khen pháp khuyên nên kính mến hành trì. một phẩm Trì đây vâng mệnh xả quyền, trì hành thật pháp nên có phẩm này.
3. Luận nói lực trì có ba: Phẩm Pháp Sư, An Lạc hạnh, Khuyến trì. Pháp Sư thông năng trì sở trì, An Lạc Hạnh chỉ có sở trì, phẩm này chỉ nói năng trì. Cho nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Trì là giữ gìn không để hoại mất, viết chép cúng dường cho đến tu hành đều gọi là trì, chẳng phải thọ trì trong mười pháp hành. Trước chiêu mộ người nói kinh cũng là khen ngợi người viết chép đọc tụng cho đến nay đây nói trì, cho nên biết trì chung cả mười hạnh khiến pháp trú lâu, làm lợi ích cho chúng sanh nói chung là trì. Cũng có đề Kinh gọi là phẩm Khuyến trì. Luận này cũng nói: Nhân trước Phật khuyên mà khiến trì, hoặc trong phẩm này Phật lại nghĩ đến các Bồ-tát cũng tức là Khuyến trì. Lý tuy chưa rõ nhân kinh phần nhiều gọi là phẩm Trì.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Dược Vương cho đến nói kinh điển này”.
Tán: Phẩm này phần lớn chia làm ba:
1. Hai muôn Bồ-tát ở cõi này trì, do các chúng sanh gây ra nhiều nghiệp ác.
2. Bốn loại Thanh-văn thỉnh ở phương khác trì, ở đây khó hóa không thể kham nổi.
3. Nhìn lại tám muôn ức na do tha Bồ-tát, kia đây đều trì thế lực lớn mạnh.
Đầu văn có ba: Trước thỉnh hộ trì, kế nêu người ác, sau nêu không sợ bỏ thân để trì kinh, đây là phần đầu.
Kinh: “Đời ác sau cho đến xa lìa đạo giải thoát”.
Tán: Ở đây nói người ác có sáu: Đời ác, chúng sanh ác, căn tánh
ác, phiền não nhiều ác, tham danh lợi ác, không muốn giải thoát. Thêm lớn bất gốc lành tức nhiều phiền não.
Kinh: “Dù khó có thể giáo hóa cho đến không tiếc thân mạng”.
Tán: Ở đây nói không sợ bỏ thân mạng để trì kinh. Do đầy đủ sáu ác tuy khó có thể giáo hóa con cũng không sợ người cần đáng nhiếp thọ thì nhiếp thọ cho họ, người nên chiết phục thì chiết phục, bỏ thân mạng trì pháp.
Kinh: “Bấy giờ trong chúng cho đến nói rộng kinh này”.
Tán: Dưới đoạn thứ hai nêu bốn hạng Thanh-văn thỉnh ở phương khác trì, có ba: Trước nói năm trăm, tiếp nói tám ngàn, sau ni chúng. Đây là đầu.
Kinh: “Lại có bậc Hữu học và Vô học cho đến tâm không chân thật”.
Tán đây nói tám ngàn người thỉnh. Trước nêu sau giải thích. Nước đây có tám việc ác nên mong ở nước khác trì kinh:
  1. Chỗ ác.
  2. Người ác, tệ ác khốn cùng; tướng khinh bạc dễ phẫn nộ.
  3. Mạn ác.
  4. Đức ác.
  5. Sân ác.
  6. Trược ác, do gần ngoại đạo nên khởi các kiến.
7. Siểm ác là dua nịnh dối trá, thân cúi thấp hèn ý ưa nịnh hót gọi là siểm, thân ngữ nịnh hót.
8. Tâm không chân thật, miệng nói có tâm không có. Luận Trí độ chép: Chúng sanh thế gian thiện hảo (tốt lành) ít, người tệ ác nhiều, hoặc tuy hành thiện mà thấp hèn xấu xa, hoặc tuy giàu sang xinh đẹp mà hành bất thiện hoặc ưa bố thí mà thiếu tài vật, hoặc giàu nhiều tài vật mà tự keo kiết tham lam, hoặc thấy yên lặng không nói liền cho là kiêu căng cao ngạo không vì thấp kém tiếp nhận vật, hoặc thấy thấp kém mà dẫn tiếp ân tuệ thấm nhuần khắp, liền cho là lừa dối nịnh hót, hoặc thấy có khả năng khéo ngôn luận liền cho là ỷ lại chút trí tuệ  đầy kiêu mạn, hoặc thấy ngay thẳng không dối, liền cùng nhau dối trá lộng quyền sắp bị si độn lăng nhục, hoặc thấy điều hòa khéo nhã nhặn mềm mỏng liền cùng nhau chà đạp chê bai, nếu thấy người trì giới tu hành liền cho là sở hành giả bộ lập dị khinh thường bất kính. Mười thứ tệ ác như vậy chúng sanh thật khó giáo hóa nên nguyện ở nước khác trì. Trong Kinh Pháp Cổ chép: Ca-diếp bạch Phật: bạch Đức Thế tôn! Con không thể nào nhiếp thọ người ác, thà dùng hai vai gánh vác núi
Tu-di đến trăm ngàn kiếp, cũng không thể kham nhẫn nghe người ác phạm giới diệt pháp, chê bai pháp, ô nhiễm pháp, âm thanh phi pháp. Thế tôn! Con thà làm tôi tớ phụ thuộc người khác chứ không thể chịu nghe cho người ác phạm giới, bội pháp, trái pháp, hoại pháp, âm thanh phi pháp. Thế tôn! Con thà đầu đội mặt đất sông núi trải qua trăm ngàn kiếp, không thể chịu nổi nghe người ác phạm giới diệt pháp tự cao hủy hoại người khác, âm thanh phi pháp: Thế tôn! Con thà thường chịu đui mù câm ngọng chứ không thể nào chịu nghe người ác hủy phạm tịnh giới, vì lợi xuất gia thọ nhận vật của tín thí, âm thanh phi pháp. Thế tôn! Con thà xả thân mạng mau nhập Niết-bàn chứ không thể chịu đựng người ác hủy phạm tịnh giới, theo tiếng ốc, mà thân hành siểm khúc, miệng nói luống dối, các ác âm thanh phi pháp như vậy. Cho nên các Thanh-văn này không nguyện ở cõi này trì kinh Pháp Hoa.
Kinh: “Khi đó Di Mẫu của Phật cho đến mắt không tạm rời”.
Tán: Đoạn thứ ba ni chúng thỉnh trì, có hai: Trước thọ ký sau   trì kinh. Văn đầu có hai: Trước hai hạng được thọ ký, sau hai hạng vui mừng lãnh thọ. Đầu văn lại có hai: Mẹ và vợ. Nói về mẹ lại có hai: Thỉnh và thọ ký. Đây là thỉnh. Dì của Phật, chị em một nhà gọi là Dì.
Kinh: “Bấy giờ Thế tôn bảo cho đến chánh đẳng chánh giác ư?”
Tán: Dưới thọ ký có hai: Trước hỏi sau thọ ký. Đây là hỏi. Tiếng phạm là Kiều đáp Ma-hán dịch là Nhật Viêm chủng cũng gọi Cam giá chủng, là mẹ của Phật nên dùng tiếng Di để gọi, gọi lầm là Kiều Đàm Di, hoặc loại bùn đất nát loại phân trâu nên nói Di cho đến Cù đàm là họ. Nguyên nhân nói rộng kinh đây như Tây-vức ký.
Kinh: “Kiều Đàm Di cho đến đều làm pháp Sư”.
Tán: Trong phần Thọ ký: Trước nêu Phật đã nói cùng thọ kí nhân, sau thọ kí quả. Đây là thọ kí nhân.
Kinh: “Ngươi dần dần đủ đạo hạnh cho đến chánh đẳng chánh giác”.
Tán: Đây chính thọ ký quả, trước thọ kí Di mẫu sau chuyển ký.
Kinh: “Bây giờ mẹ của La-hầu-la cho đến riêng chẳng nói đến tên tôi”.
Tán: Dưới nói vợ có hai: Suy nghĩ và thọ ký. Đây là suy nghĩ .
Kinh: “Đức Phật bảo cho đến A-tăng-kỳ kiếp”.
Tán: Đây thọ ký. Trước thọ kí nhân sau thọ ký quả, trong quả đầu tiên nói về thể sau tuổi thọ.
Kinh: “Lúc đó bà Đại Ái Đạo cho đến lòng an vui đầy đủ”.
- Tán: Đây là hai loại vui mừng lãnh nhận. Trước văn xuôi sau kệ tụng.
Kinh: “Các vị Tỳ-kheo ni cho đến giảng nói pháp này”.
Tán: Thứ hai trì kinh.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến đại Bồ-tát”.
Tán: Đoạn thứ ba, nhìn tám mươi muôn ức na do tha Bồ-tát trì, trong đó có hai: Phật nhìn thấy và thỉnh trì. Đây là phần đầu, dùng thân gia hạnh phát khởi tâm chúng khiến trì kinh do đó nhìn các Bồ-tát. Cho nên, trong luận này gọi phẩm Khuyến Trì là dùng thân khuyên.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đếnphải làm thế nào?”
Tán: Dưới thỉnh trì, Văn xuôi có ba:
  1. Khen ngợi đức.
  2. Niệm thỉnh.
  3. Nói thỉnh.
Đây nói hai phần đầu. Trong đức đầu tiên nói vị thứ. A-duy-việt- trí Hán dịch là Bất thối Bát địa trở lên. Từ câu: “Xoay bánh xe pháp cho đến” trở xuống là nói thành tựu đức. Tâm niệm có hai, như văn có thể biết.
Kinh: “Lúc đó các vị Bồ-tát cho đến xa giữ gìn cho”
Tán: Đây là nói thỉnh. Đầu tiên là thỉnh trì lược có bày hành, không có ba hành thí cho người , lắng nghe, cúng dường vì dễ nên lược. Sau thỉnh hộ trì.
Kinh: “Tức thời Bồ-tát cho đến chúng con sẽ nói rộng”
Tán: Dưới có hai mươi hàng chia làm hai: một hàng đầu nêu sẽ nói, kế mười tám hàng tụng giải thích sẽ nhẫn thọ, sau một hàng tụng kết thệ. Đây là một hàng đầu.
Kinh: “Có những người vô trí cho đến chúng con đều phải nhẫn”.
Tán: Dưới mười tám hàng giải thích sẽ nhẫn thọ chia làm hai: mười sáu hàng tụng nhẫn trì. hai hàng tụng khuyên nói trì. Văn đầu có bốn:
  1. Một hàng tụng hủy mắng đánh đập nhẫn.
  2. Chín hàng rưỡi tụng ngã mạn chê bai nhẫn.
  3. Ba hàng tụng hủy mắng nhẫn nhục.
  4. Hai hàng rưỡi tụng xua đuổi im lặng nhẫn. Đây là một hàng đầu.
Kinh: “Tỳ-kheo trong đời ác… lòng ngã mạn dẫy đầy.”
Tán: chín hàng rưỡi tụng ngã mạn chê bai nhẫn có ba:
 
  1. Một hàng tụng tướng ngã mạn.
  2. Bảy hàng tụng chê bai nhẫn.
  3. Một hàng rưỡi tụng kết thành nhẫn.
Đây là phần đầu. Tà trí nên thế trí biện thông, siểm khúc nên khen ngợi việc làm của bạn, còn tướng hai thứ mạn kia có thể biết.
Kinh: “Hoặc người mặc áo nạp cho đến như La-hán sáu thông “.
Tán: bảy hàng tụng chê bai nhẫn, trong đó có bốn: hai hàng tụng hiển người ác, một hàng tụng nêu giả tu hành, hai hàng tụng chê bai  sự tu hành, hai hàng tụng nói hành vi ác. Đây là hai hàng đầu. Tiếng phạn A luyện nhã đây gọi nhàn tịch xứ, lìa xa thôn một câu lô xá hơn sáu trăm bước.
Kinh: “Người đó ôm lòng ác cho đến ưa nói lỗi chúng con”.
Tán: Đây là nói giả tu hành.
Kinh: “Mà nói như thế này cho đến mà giải nói kinh đó”.
Tán: Đây là chê bai sự tu hành.
Kinh: “Thường ở trong Đại chúng cho đến nói luận nghĩa ngoại đạo”.
Tán: Đây nói hành vi ác, nói lỗi xấu của họ cho người khác nghe.
Kinh: “Chúng con vì kính Phật cho đến đều sẽ nhẫn chịu”.
Tán: Kết thành nhẫn.
Kinh: “Trong cõi đời vẩn đục cho đến hộ trì lời Phật dặn”.
Tán: Ba hàng chê bai nhẫn nhục chia làm ba: một hàng tụng việc nhẫn, một hàng tụng ý nhẫn, một hàng kết hộ trì.
Kinh: “Thế tôn tự nên biết cho đến đều sẽ nhẫn việc đó”.
Tán: Đây là xua đuổi nhẫn. Vì kinh này nên xua đuổi con con sẽ nhẫn. Tẩn là bài xích xua đuổi.
Kinh: “Các thành ấp xóm làng cho đến xin Phật an lòng ở”.
Tán: Đây hai hàng tụng khuyên nói trì.
Kinh: “Con ở trước Thế tôn cho đến Phật tự rõ tâm con”.
Tán: Đây là kết thệ.
---------------------
PHẨM AN LẠC HẠNH
Chia làm ba môn :
  1. Vì sao có phẩm này
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp chướng nạn.
I. Vì sao có phẩm này có năm:
1. Là khoa đầu trong ba lưu thông. Bốn phẩm trên khen ngợi tôn trọng lưu thông, từ dưới bảy phẩm học hạnh lưu thông, học mở rộng kinh này chánh hạnh trợ hạnh không để bị tổn thương. Dù đã khen ngợi tôn trọng nếu không nói sở học năng hành chành vi ác hoằng kinh, đời mạt pháp phần nhiều khó khăn thường sanh tổn hoại, không thể mở mang, cho nên nói bảy phẩm học hạnh lưu thông:
  1. An lạc hạnh.
  2. Dũng xuất.
  3. Tuổi thọ.
  4. Phân biệt công đức.
  5. Tùy hỷ công đức.
  6. Pháp Sư công đức.
  7. Thường Bất Khinh.
Một phẩm An Lạc Hạnh là học hạnh mở rộng kinh, sáu phẩm Dũng xuất cho đến nói người năng hành trì kinh. Người do pháp để thành đức, pháp nhờ người để hoằng tuyên, nếu không hành theo sở học, người kia do đâu mà kiến lập đức, nên phẩm An Lạc hạnh hành để học. Nếu không có người năng hành thì pháp kia không do đâu mà lưu bố rộng cho nên Dũng xuất cho đến là nói người năng hành, nên sau phẩm trước có phẩm này.
2. Khoa sau mười chín phẩm làm chánh tông, trong đó có ba: Trên mười hai phẩm nêu cảnh Nhất thừa xong, kế ở dưới hai phẩm nêu hạnh Nhất thừa. Phẩm An lạc hạnh nêu hạnh sở hành, sau phẩm Dũng xuất nêu người năng hành cho nên tiếp có hai phẩm này.
3. Vì trừ trong bảy nhiễm mạn, thứ sáu là người tập công đức, nghĩa là người có công đức nói pháp Đại thừa mà chấp phi Đại thừa tăng thượng mạn vì đây nói hạt châu trong búi tóc. Cầu quả tam thừa là hạng người nhóm họp công đức. Xưa tuy tướng chung vì nói Đại thừa, tâm kia chưa quyết định lui sụt hay hướng về Nhất thừa mà sẽ vì thắng chấp phi Đại thừa, nói công huân nhỏ ít nên chỉ ban cho các vật khác. Như nay đã phát tâm định ưa thích Đại thừa lập công đã lớn nên cởi
viên ngọc mà cho. Luận nói người thứ sáu nói pháp Đại thừa dùng pháp môn Nhất thừa này ban cho, khiến hàng Nhị thừa đồng thập địa hạnh mãn. Nay đức Như-lai thầm giải thích như cởi viên ngọc mà cho, nên có phẩm này.
4. Luận giải đệ thập vô thượng, lực trì trong bảy lực nghĩa là phẩm pháp Sư, An lạc hạnh, Phẩm trì. Phẩm An lạc hạnh nói hạnh sở trì, trước phẩm Trì đã nêu năng trì thì sẽ có hành sở Trì, cho nên có phẩm này. Tức văn bốn hạnh An lạc, đây là văn còn lại. Trước nói viên ngọc là văn sau.
5. Luận chép: Sáu là thị hiện nói vô thượng cho nên nói chỉ cho viên ngọc trong búi tóc cho, dùng pháp này ban cho như cởi viên ngọc cho, pháp sở nói lại vô thượng. Tuy văn có khác nhưng đều nói châu, là phần còn lại của phẩm trước, nên có phẩm này.
II. Giải thích tên gọi: Lìa nguy nan sợ hãi gọi là an, thân tâm ưa thích gọi là lạc, oai nghi đáng làm khuôn mẫu lời nói có phép tắc, tâm trừ dòng siểm mạn, ý chí chứa từ bi, duyên từng trải không dừng lại gọi là hạnh. An lạc là quả, hạnh là nhân. An lạc hạnh là y chủ thích. Nếu khi tu nhân lìa các nguy hiểm sợ hãi, thích hợp thân tâm gọi là An lạc hạnh, tức trì nghiệp giải thích. Hành thông suốt đi ngay thẳng, hành kinh này thì thâu hoạch an lạc.
III. Giải đáp chướng nạn: Hỏi: Phẩm này cũng nêu việc cởi viên ngọc vì sao không lấy đó đặt tên phẩm? Đáp: Vì nêu thắng hạnh khen ngợi kinh thắng đức chẳng muốn đối cơ chính nêu việc viên ngọc cho nên chỉ lấy tên An Lạc Hạnh đặt tên.
Kinh: “Lúc bấy giờ cho đến năng nói kinh này”.
Tán: Trong phẩm này phần lớn văn chia làm hai: Trước khải thỉnh sau chỉ bày. Đây là phần đầu có hai: Trước tán dương việc ít có sau thỉnh nói nghi thức. Vì sao nói đời sau không có tổn thương.
Kinh: “Đức Phật bảo ngài Văn-thù cho đến an trú trong bốn pháp”.
Tán: Dưới chỉ bày có hai: Trước nhân hỏi Phật bảo bốn hạnh an lạc, sau cuối phẩm tụng, trong đó có hai hàng rưỡi tụng nhân tiên tổng bảo tướng quả an lạc. Tức câu “Người đọc kinh này thường không ưu não cho đến” Phần đầu bảo có ba: 1. Nêu đáp. 2. Hiển đáp. 3. Kết đáp. Sau kia hiển quả an lạc, tụng tiếp trước một rưỡi “sau khi ta diệt độ cho đến” đây tức là văn đầu, bốn pháp: Dưới bốn đoạn văn, đều có văn xuôi và kệ tụng mỗi mỗi là một hành: 1. Chánh thân hành. 2. Chánh ngữ hành. 3. Ý lìa hành vi các ác tự lợi. 4. Tâm tu các thiện lợi tha hành. Do
bốn hạnh này nhiếp hết các hành. Do ngay thẳng nên không có ác nào không lìa, tự lợi hạnh mãn, do từ bi nên không có thiện nào không sanh, lợi tha hạnh mãn. Kinh từ nghĩa thù thắng nói thứ ba là ngay thẳng, thứ tư từ bi, thật sự đều thông. Căn cứ văn kinh ở dưới, trong phần đầu nói thân hành cũng nêu rõ tâm hành là thời giáo hành. Tâm kia an trú môn không hữu, do trú hai môn lấy làm căn bản dẫn các hành khác sanh; chẳng phải hạnh đầu cũng thông nơi tâm, hạnh đầu chỉ nêu lìa thân hành ác tu thân hành thiện, cho nên ở trong bốn hạnh đều nên nói có không hữu hai thứ, chỉ ở trong hạnh đầu nói hành không hữu, theo lệ ba hạnh còn lại đều có đầy đủ. Cho nên trú không hữu hai thứ là tu bốn hạnh, thông vận thân tâm. Bốn tên pháp: Pháp nghĩa là chấp trì, pháp là sở y, ba nghiệp là năng y, hai thứ này đều là hành sở hạnh. An là an xứ, trú là y chỉ, năng hành hạnh là an ở ba nghiệp, y trong bốn hạnh gọi là an trú bốn pháp. Hoặc pháp là nghĩa nhân, chủ yếu các Bồ-tát trước quán nhân pháp hai sự, thể không, tùy theo khả năng thân lìa tà ác, nói hợp phép tắc chánh thiện, diệt tướng dối gạt khởi tâm từ bi như dứt tự ung nhọt lìa chê bai hủy báng mở mang đại giáo mà chưa thôi, nhiều đời lợi ích mà không thoái mất là đại ý trong đây. Lại trước Phẩm Pháp Sư nói vào nhà Như-lai, tức là thứ tư đại từ bi tâm, mặc áo nhu hòa nhẫn nhục của Như-lai, ngồi tòa pháp không của Như-lai, đây là thứ nhất thông hành, diệt vọng tưởng nơi không môn, khởi chân tâm nơi của hữu, cho nên có thể dùng thân ngữ điều (hòa) mà lợi cứu giúp tâm ý thuận mà đạo viên mãn. Đây là lý do.
Kinh: “Một là cho đến giảng nói kinh này”.
Tán: Giải thích thân hành trong đó có ba:
1. Nêu hành xứ, gần gũi xứ.
2. Giải thích riêng.
3. Kết cuối sau năm câu tụng, hoặc có bổn văn kinh văn xuôi, nay chọn là tụng làm chánh nêu đây. Xứ là xứ sở tức pháp trước, là nơi các hành tam nghiệp nương tựa thật hành, nơi đáng gần gũi, hành là du hành, an nghỉ hoặc trở lại đạo lý. Như thế gian nói: Ông làm ở đâu? Ý nói thuộc hành ở đạo lý nào! Kia nói bất cứ lúc nào tâm cũng thường du hành, an nghỉ trong xứ sở này, hoặc an tâm thần ở trong xứ sở đạo lý nên gọi là hành xứ. Thân là gần gũi phụ giúp, cận là huân tập gần gũi, xứ nghĩa đồng trước. Hành là thân tâm sở ứng gần gũi phụ giúp huân tập cận xứ gọi là gần gũi xứ. Hành nghĩa là bên trong thật hành chành vi ác an nghỉ thân tâm, gần gũi nghĩa là cảnh bên ngoài, ngoài duyên thân gần huân tập, đây hai thứ thô tướng sai khác, thân hành có thân sơ,
có chung riêng gọi là gần gũi xứ, ba thứ còn lại không như vậy. Chỉ gọi chung An lạc hạnh.
Kinh: “Văn-thù-sự-lợi cho đến là chỗ hành xứ của đại Bồ-tát”.
Tán: Trong biệt giải thích chia làm hai: Trước nêu hành xứ sau gần gũi xứ. Hành xứ tức là nhân chung của bốn hành, khi khởi bốn hành phải y môn đây mới sanh khởi.
Hành xứ có ba: 1. Hỏi. 2. Giải thích. 3. Kết. Đây là hỏi.
Kinh: “Nếu vị Đại Bồ-tát cho đến lòng chẳng kinh sợ”.
Tán: Dưới giải thích có ba: Trước tu hạnh hữu, kế tu hữu không, sau cả hai hữu đều trừ bỏ. Đây là phần đầu, chỉ tu hạnh hữu, vì phi không nên chấp trước sanh tử không có chứng đắc. Chỉ tu hạnh không, vì phi hữu nên chấp trụ Niết-bàn. Không có lợi tha. Muốn nói rõ quán cả hai Không Hữu mà không chấp trước, khác nhau phàm phu và Nhị thừa. Như Kinh Vô Cấu Xứng nói: Hành không trú đạo. Lại chỉ tu ha- nh hữu do phi không nên vọng tưởng càng thêm lớn, chỉ huân tu hạnh không vì phi hữu nên chân tâm không có nhân mà không sanh. Cho nên để diệt vọng tưởng nơi không môn, khởi chân tâm nơi cửa hữu, hữu không song quán mới thành Trung đạo tức là hành xứ đây.
Tu hạnh hữu có bốn:
1. Trú nhẫn địa, lại như khi nói pháp có oán hại, năng nhẫn, khổ ép ngặt năng chịu, đế pháp năng ấn.
2. Nhu hòa khéo thuận: Thân tùy hạnh mầu nói lời hay khéo, tâm không nghĩ ác, ngoài lìa thô thiển gọi là nhu hòa, trong khế hợp huyền tôn gọi là khéo thuận.
3. Mà không vụt chạc: Nghĩa là không bộc phát cử chỉ thiếu kềm chế, suy nghĩ, với ba nghiệp phi lý đã chưa khéo đủ thì mỗi khi khởi đều phải xét kỹ, thong thả tư duy, trí là dẫn dắt trước, rồi sau động phát chánh kiến tiến lên, biết khó dễ, tiến lùi hợp thời, dù tư duy có khởi cũng không phi lý gọi là không vụt chạc (hấp tập).
4. Tâm cũng không kinh sợ: Dù đối với Đại nghĩa từng chưa nghe người khác cật vấn trái với tông, ngược với mình, hoặc họ cúng dường, gần gũi, đánh mắng, hơi trái nghịch, danh lợi, oai thế, hủy nhục, xua đuổi, lợi suy, hủy dự, xưng cơ hiềm, khổ lạc, với tất cả các thứ này đều an ổn vững chắc bất động, tâm cũng không sợ. Nên có tụng nói: “Chư Phật thường dạo khắp thế gian, lợi lạc tất cả loài hữu tình, tám pháp nhiệt phong tà phân biệt, không thể khuynh động không chấp ngại.” Hoặc trú nơi nhẫn nhục địa là câu tổng, là biệt nói thường nhu hòa, thân khéo thuận an mà không kinh sợ, trong tâm thường cũng không sợ, ba
nghiệp thuận lý đây mà hành nơi hữu, thì có kinh nào mở mang truyền bá mà gặp chướng ngại! Nhẫn nhục gọi là địa, địa là nghĩa sở y lớn lên, lấy nhẫn làm nương tựa lớn lên thiện, dụ cho địa. Lại nói từ dụ đặt tên, khi hành nhẫn như đất mà nhẫn chịu thuận, trái bất động, cho nên đào hang sâu mà đất không giận, dựng nhà cao mà đất chẳng thích, gặp muôn vật mà đều chuyển tải, nhậm trì đức dụng càng lớn, đào bới bĩ quấy nhiễu mà phát ra suối ngọt, gieo trồng xong đất chẳng mong mỏi ban cho. Cho nên hành ba nhẫn nêu đất đặt tên đáng nên suy nghĩ kĩ, đáng gọi là Đại Bồ-tát. Hoặc địa nghĩa là vị, ở trong tất cả địa vị thường hành nhẫn.
Kinh: “Lại ở nơi pháp không cho đến tướng như thật”.
Tán: Đây là nói tu hạnh không. Hành là nghĩa phân biệt chấp trước. Đối với pháp không phân biệt: Ở trong tất cả pháp chỉ thấy chúng sanh và pháp đều không mà không phân biệt chấp trước là có, mà quán các pháp tướng như thật, tức là đã quán ngã pháp hai không làm môn, lại quán tánh Như-lai tạng của các pháp. Chân lý pháp thể tướng như thật, thể pháp, ngã không có gọi là Không, Như-lai tạng kia gọi là tánh không. Chẳng quán hai môn không chẳng thấy tánh chân không, cho nên hai thứ này đồng gọi là quán không.
Kinh: “Cũng chẳng thực hành không phân biệt.
Tán: Trên nói quán không, hữu, sợ đắm trong không hữu cho nên nay quán bỏ cả hai, nghĩa là tuy quán không mà cũng không vin theo chấp đắm vào không, tuy quán hữu mà không phân biệt chấp đắm trong hữu, tương ứng đều vô trú mà nêu pháp quán. Nếu có sở trụ thì là phi trú, cho nên dưới có tụng rằng: Tuy y theo người không pháp không giải mà hai thứ này gọi chung nơi pháp mà không phân biệt vin theo, nhiếp theo lý không trái. Lại nữa đối với pháp, không phân biệt quán các pháp không. Tụng nói: Không hành thượng, trung, hạ, pháp hữu vi vô vi, cũng không hành, không phân biệt. Như thứ lớp tức không hành phân biệt ngã, ngã sở, quán chúng sanh là không. Tụng nói: Cũng không phân biệt là nam hay nữ. Do quán hai ngã, pháp này là không liền chứng tánh như thật của nhị không. Lại đối với pháp không phân biệt, nghĩa là không phân biệt nói pháp chỉ quán nghĩa chân như thật tướng, cũng không phân biệt là người được thọ hóa. tức quán ba sự hai thứ người, pháp thể tánh là không, mà quán chân như thật tướng là hữu. Lại tất cả pháp có hai: Vọng và chân, đối các pháp vọng nên không phân biệt chấp trước để xả bỏ các vọng, đối pháp tánh chân nên thường quán sát cầu chứng đắt. Tuy gây ra hành vi này cũng không tạo hạnh
chân trí đối với thật tướng chấp là hữu, cũng không tạo Tục trí, hành phân biệt chấp là không. Cho nên Bát-nhã chép: Nên vô sở hành mà hành đó gọi là hành, không hành nên chẳng có chỗ nào, không hành, không phân biệt nên chẳng có chỗ nào không phân biệt. Không hành không phân biệt nên vọng huyễn đều trừ, không chỗ nào, chẳng hành, chẳng phân biệt nên chân tế đều đạt. Do đó, song tu chiếu rõ tất cả, nơi sự y tha trú nhẫn địa cho đến nơi lý thành thật quán như thật tướng, người pháp sở chấp đều soi chiếu là không.
Kinh: “Đó gọi là Bồ-tát cho đến hành xứ”.
Tán: Đây kết.
Kinh: “Thế nào gọi là Đại Bồ-tát cho đến thân cận”.
Tán: Dưới nói chỗ gần gũi có hai: Hỏi và giải thích. Đây là hỏi.
Kinh: “Vị Đại Bồ-tát cho đến cuộc chơi biến hiện”.
Tán: Dưới giải thích có hai:
1. Lìa duyên ác bên ngoại không thể gần gũi xứ, ngược lại nói lên không lìa duyên lành bên ngoài, có thể gần gũi xứ tức là cảnh ở cõi người.
2. Ngoại quán chân pháp có thể gần gũi xứ ngược lại hiển ngoại quán vọng pháp không thể gần gũi xứ, tức là cảnh pháp, lẫn nhau nói lên tức chia làm hai. Nhưng quán chân pháp nên có cả các hành khác, dẫn chung cả bốn hạnh. Dựa vào theo hạnh đầu mà rõ ràng không chỉ hành này. Văn đầu lại có hai: Giải thích và kết. Lìa các duyên ác bắt đầu tu giới hạnh, thường ưa ngồi thiền, kế tu định hạnh, sau gần gũi xứ quán cảnh không cho đến mới tu tuệ hành.
Đầu văn chia làm ba: Bốn phần đầu là một đoạn, kế một là một đoạn, sau năm là một. Trong phần đầu lại có hai: Nói lìa bốn và nêu không lìa. Trong đây có ba lìa:
  1. Tổn hại duyên.
  2. Ác kiến duyên.
  3. Hoại loạn duyên.
Bồ-tát tuy lại giáo hóa khắp chúng sanh nhưng mới tu hành thì phải phân biệt, người học không lâu cũng giống như vậy. Lại ở đây chấp nhận cho nói pháp dẫn dắt chúng sanh lợi lạc, mà chỉ hòa quang nhưng không được thuận theo đồng trần giao hảo, do đó lìa, ngăn đầu không ngăn sau, ngăn đồng không ngăn khác, ngăn thuận không ngăn trái, cho hóa độ mà không giao hảo nên không trái nhau. Nếu gần gũi vua cho đến hoặc chỉ tăng thêm sự tổn hại như trong luật nói. Nếu vào cung vua thì có mười lỗi. Ngô Vương đồng kéo xe để một đời vinh hiển
Tần chúa nhường vợ chịu sĩ nhục ngàn năm, ngoại đạo tà nhân thường dò xét pháp thiếu sót lầm lỗi, cho nên luật không cho tự tay trao thức ăn huống chi là gần gũi. Ni-kiền-tử: Là ngoại đạo ly hệ. Viết sách thế tục: Là các loại thi ca làm văn, văn khắc trên bi thuộc bút viết. Thư theo Chu lễ có sáu nghề, năm gọi là lục thư nghĩa là hình tượng, biên chép nơi tre lụa cho đến như trong âm giải, nay nêu loại kia bốn phương Tây khác với ở đây. Lộ-già-da-dà: trước nói ác đáp đối với người, chánh nói lộ ca cũng là để ca dịch là ngoại đạo thuận thế. Nghịch lộ-đà-da-đà: Trước nói ác trưng cầu hỏi người, chánh nói phược ma lô ca cũng là để ca, nói ngoại đạo Tả Thuận Thế chấp trái với trước nên gọi là tả (trái) thuận thế tục. Dưới một là nói xuyên suốt cả hai xứ trên. Na la cho đến là thân múa vẽ văn hoa. Biến hiện vui chơi là làm trò huyễn thuật thế gian. Hung là ác. Nay đây từ đầu có gây ra lỗi hung ác nguy hiểm. Kinh A-hàm nói bậc trí trong lòng thường lo lắng tợ như trong ngục tù, kẻ ngu thường vui vẻ hớn hở như ở cõi trời Quang âm. Người trạo hý như voi trâu lừa không bị buộc móc câu vào mũi nên khó có thể cấm chế. Lại kệ nói: Ông đã cắt tóc mặc áo hoại sắc cầm bát đất đi khất thật vì sao ưa đắm pháp chơi đùa, đã không có pháp lợi ích mất công đức do đó không nên đâm nhau đánh nhau.
Kinh: “Lại không gần gũi cho đến các luật nghi ác”.
Tán: Nói nghiệp duyên ác. Chiên-đà-la dịch là người giết mổ không có luật nghi, nói đúng là Chiên-đồ-la, hán dịch là nghiêm sí, nghiệp ác tự hành trì nêu cờ, lay chuông linh đồng cầm cây trúc gọi là tự nêu, trong đây nêu ra sáu thứ, tạp tâm có mười hai, nghĩa là người mổ dê, nuôi heo - gà, bắt cá - chim, thợ săn, trộm cướp, kẻ đầu cơ, người giữ ngục, chú rồng, giết chó, rình săn.
Kinh Niết-bàn có mười sáu thứ: Trâu dê heo gà làm lợi nên mua, nuôi cho béo rồi đem bán, vì lợi nên mua, mua rồi giết mổ, tức là tám thứ trước. 9. là câu cá. 10. Thợ săn. 11. Cướp đoạt. 12. Kẻ đầu cơ. 13. Bắt chim. 14. Nói hai lưỡi. 15. Ngục tốt. 16. Chú rồng. Đối pháp quyển tám nói có mười bốn: Giết dê, nuôi heo, bắt chim, bắt cá, săn hưu, đặt bẩy, trộm cướp, đầu sỏ, hại trâu, trói voi, lập đàn, chú rồng, giữ ngục, gây chuyện, ưa làm tổn hại cho đến ý văn này nói, ý suy diễn rộng lại tổn hại sâu, đấm chắp lợi chướng khi sắp qua đời thân vẫn không dừng đều gọi là không có luật nghi cho nên nói ưa làm tổn hại cho đến Nên Kinh này nói các luật nghi ác. Lược âm ngư lại là bắt. Lại điền lạp là săn bắn, ngư bộ là chài lưới.
Kinh: “Những người như thế cho đến không có tâm mong cầu”.
 
Tán: Đây là nói không lìa, cho hòa quang hóa độ ma không cho đồng trần nên không gần gũi.
Kinh: “Lại không gần gũi cho đến không có tâm mong cầu”.
Tán: Đây là đoạn thứ hai, trước lìa sau không lìa. Nói người có duyên. Kinh Niết-bàn chép: Bồ-tát sợ Nhị thừa như tiếc thân mạng người. Tịch Điều Âm Thiên tử Sở Vấn kinh chép: Đức Phật bảo Văn- thù-sư-lợi thí như có người đói khát tiều tụy, chịu đói khát chứ không hề ăn thức ăn có độc trộn lẫn, Bồ-tát cũng như vậy, thà sẻn tiếc ganh ghét phá giới ác khẩu đọa lạc vong niệm vô trí chứ không bao giờ hy vọng mong cầu quả vị Nhị thừa. Phật bảo Thiên tử, như người tham ăn là chất độc của Luân vương; cho nên người Nhị thừa trì giới tinh tấn tức là Bồ-tát phá giới đọa lạc nên không được gần gũi, cho đến vì nói pháp không mong cầu gần gũi lợi dưỡng cung kính.
Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến, để làm thân hậu”.
Tán: Đoạn thứ ba, đầu lìa thứ sáu nhiễm duyên lâu dài, thứ bảy duyên vô dụng, thứ tám duyên hiềm trách, thứ chín duyên không phép tắc, thứ mười tán loạn duyên. Sau nêu tự hành. Trong năm thứ lìa văn này có hai: Là duyên thứ sáu, thứ bảy. Thập tụng luật nói: Thí như người ăn thức ăn chín tất cả người nữ cũng giống như vậy khiến người ưa đắm không thể lìa bỏ. Luận Trí độ nói: gió mát không có hình còn có thể bắt được, rắn độc còn có thể xúc chạm nhưng tâm người nữ khó có thể chạm được. Cầm đao kiếm chiến đấu giặc địch còn có thể đánh thắng, giặc nữ hại người khó có thể ngăn cấm.
Luật Tứ Phần nói: Thường đến nhà người tại gia có năm lỗi:
  1. Thường thấy người nữ.
  2. Thấy thường gần gũi.
  3. Chuyển dần thân hơn.
  4. Liền nghĩ việc dâm dục.
  5. Hoặc khi đến chết gần chết khổ não, cho nên phải xa lìa.
Năm hạng người bất nam: sanh tiện, trừ khứ, ganh ghét, bán nguyệt, quán sái. Do có hai lỗi nam nữ phiền não thường cùng hành, người tốt khó được, không phải pháp khí, cho nên không được thân gần.
Kinh: “Chẳng một mình vào nhà người cho đến cũng chẳng thích đồng  thầy với chúng nó”.
Tán: Trong đây có ba: Duyên thứ tám, chín và mười. Luận Du- già nói: Nên lìa mười bốn cấu nghiệp tàn ẩn sáu phương, lìa xa bốn bạn ác nhiếp bốn bạn lành. Lìa mười bốn cấu nghiệp. Trường A-hàm nói:
Thân ngữ ý nghiệp có bốn: Sát, đạo, tà, dâm, vọng ngữ, không y các thứ này làm các việc ác. Nhân ác có bốn: Tham, sân, si, mạn, không y bốn thứ này khởi ác nghiệp.
Lìa sáu thứ làm tổn hại tài pháp:
  1. Mê uống rượu.
  2. Đùa giỡn.
  3. Phóng đãng.
  4. Mê chấp kỹ nhạc.
  5. Bạn Ác tổn hại nhau.
  6. Thuận theo kia nói.
Trong sáu thứ này đều có sáu thứ như vậy hợp thành mười bốn cấu nghiệp. Tàng ẩn sáu phương. Trường A-hàm nói trong thành La-duyệt có con trưởng giả tên là Thiện Sanh, tương truyền thời xưa vào mỗi buổi sáng thường lễ sáu phương, khiến thần trong sáu phương thường hộ gia nghiệp. Một hôm tình cờ bỗng nhiên gặp Phật có phương pháp gì không: Đức Phật đáp có cùng ông khác nhau. Cha mẹ là phương Đông, Sư trưởng là phương Nam, vợ con là phương Tây, bạn thân là phương Bắc, nô bộc sai sử là Hạ phương, Sa-môn cao đức là Thượng phương. Trong sáu phương mỗi phương đều có năm việc, thường tàng ẩn trong sáu phương này, không sanh kiêu học, mà tùy kia thích ứng, hoặc năng trú trong sáu phương này nên nói tàng ẩn.
Xa lìa bốn bạn ác: Trường A-hàm nói:
1. Như gần gũi bạn ác sợ mà phục, thật không có ý gần gũi.
2. Nói tốt với bạn ác, thuận lời trái ý.
3. Kính thuận bạn ác, tâm tuy kính thuận nhưng việc làm thiện ác đều từ vô tướng can ngăn tâm.
4. Đồng sự bạn ác. Làm bạn với việc ác hoặc đồng uống rượu đùa giỡn dâm dật phóng đản cho đến ca vũ cho đến Trong bốn thứ này mỗi thứ có bốn, nói bốn việc đáng ác thường nên xa lìa.
Nhiếp bốn bạn lành: Trường A-hàm nói:
  1. Ngăn bạn không tốt, ngăn các việc ác.
  2. Thương xót bạn lành linh đinh khổ sở.
  3. Lợi người bạn lành việc vui cùng nhau vui.
  4. Đồng sự bạn lành việc thiện đồng nhau.
Trong mỗi hứ đều có bốn, đều rộng như kia không cần nói nhiều.
Kinh: “Thường ưa ngồi thiền cho đến đó gọi là chỗ gần gũi ban đầu”.
Tán: Đây nêu tu định hạnh và kết. Thường xa lìa nơi ồn ào ưa
ở chỗ vắng khuyên người sơ học nên tự tĩnh trú, khuyên người học lâu thân tuy ở chỗ ổn ào mà tâm thường vằng lặng. Lý thật bốn hành các ác đều lìa, các thiện đều tu, lại bàn luận nói, kinh phần nhiều phát khởi, cho nên văn trên dưới chỉ nói hành vi ác để khuyên tu tập, trên nói cảnh người, dưới nêu cảnh pháp.
Kinh: “Lại nữa cho đến chẳng chuyển”.
Tán: Thứ hai gần gũi xứ. Trong học Tuệ hạnh có hai: Trước dạy quán sau kết. Dạy quán đầu tiên không quán sau hữu quán là quán chân tục hai đế. Không quán có mười tám câu làm ba giải thích. Trong đây chỉ quán biến kế sở chấp không, nói lên pháp chân như vô tướng nhất thể, dưới hữu quán mới dạy quán việc thế tục. Trong mười tám câu chia làm tám loại, đây có hai loại: ba câu đầu y ba tánh để hiển chân, do chân thể mầu nhiệm tự tánh khó biết nên y thuyên hiển. Cầu đầu y Biến kế sở chấp không để nói lên hiển người pháp đều không. Câu thứ hai Viên thành thật tánh. Câu thứ ba tánh Y tha khởi nhiễm pháp điên đảo, chân như tịnh pháp không điên đảo, kế ba câu y thường trú để hiển chân, hữu vi có ba phẩm: trung phẩm có thể biến động, có thể tùy hạ phẩm thối bại, có thể tùy thượng phẩm tiến chuyển, vô vi thì không như vậy.
Kinh: “Như hư không ch có tánh thật cho đến chẳng khởi”.
Tán: Ở đây có ba loại: Một câu đầu lìa hai thứ đắc để hiển chân như, hư không chẳng có tánh năng đắc sở đắc. Kế một câu nêu nội chứng để hiển chơn như, danh ngôn không sánh bằng, chỉ có trí chứng. Ba câu sau phi hữu vi để hiển bày chân như. Kinh Niết-bàn nói không có nhân duyên nên gọi không sanh do vô vi đây gọi là không xuất, không tạo nghiệp nên gọi là vô tác, đây gọi là chẳng khởi, thể không phải nhân duyên sanh, chẳng phải thể trước có từ nơi khác mới xuất, cũng chẳng phải từ nghiệp mới tác khởi.
Kinh: “Không danh cho đến không chướng”.
Tán: Ở đây có ba loại: Hai câu đầu lìa tướng thuyên chỉ để hiển bày chân, không danh không tướng. Kế một câu lìa vọng pháp để hiển chân, không vọng tướng năng thủ sở thủ. Bốn câu sau nêu thể mầu nhiệm để hiển chân. Kinh Đại Phẩm nói vượt cả ba đời nên vô lượng, vượt cả mười phương nên không biên, lìa hoặc chướng phẩm gọi là vô ngại, lìa sở trì chướng phẩm gọi là không chướng. Trong đây tổng hiển pháp tánh chân như, là như thật tướng không cõi chấp nhân pháp, cũng chẳng phải thể y tha điên đảo, thể tánh thường trú chẳng phải đắc hai thứ đắc. Cho nên, chỉ nội trí chứng chẳng phải nhân duyên tạo, lìa danh
lìa nghĩa lìa năng sở chấp, chẳng phải ba đời mười phương nhiếp không có hoặc trí hai chướng, nên dùng lý này mà quán chân tánh, Tức trước nói: Ở nơi pháp không phân biệt mà quán các pháp như thật tướng. Hoặc ba câu đầu hiển Ngã như thật tánh cho nên Đại tự tại, kế ba câu hiển bày Thường không tiến thối; kế bảy câu hiển lạc vô sanh, kế năm câu hiển Tịnh ly vọng ba đời mười phương cho đến Do đối hai tánh nên thành bốn đức. Hoặc sáu câu đầu nêu cảnh Không hành, kế năm câu cảnh Vô tướng hành, bảy câu sau là cảnh Vô nguyện hành. Đồng quán chân như khởi ba quán.
Kinh: “Chỉ do nhân duyên mà có cho đến cho nên nói”
Tán: Đây là Hữu quán. Trên quán tất cả pháp chân không để khởi ưa thích, đây quán tất cả pháp vọng có mà sanh nhàm chán, chỉ quán ba cõi năm đường từ sanh tất cả pháp cảnh đều tác quán do nhân duyên mà có, từ hai chướng đảo hoặc bốn, bảy đảo hoặc tâm loạn đảo cho nên nói là hữu quán vi, chẳng phải chân thật có mà sanh tâm nhàm chán lìa bỏ. Kinh Nhân Vương chép: Thế giới hư huyễn khởi, thí như hoa đốm giữa hư không, như ảnh thật ra đều không có, vì nhân duyên nên giả dối có. Nhiếp luận cũng nói loạn tướng với loạn thể tương ưng, chấp nhận đó là sắc thức và cùng phi sắc thức, hoặc vô dư cũng không. Tâm gặp cảnh tục nên khởi quán này, hoặc đây giải thích phục nạn ng- hĩa là có người nạn vấn rằng: Nếu tánh không đây ngôn ngữ đạo đoạn vì sao lại nói là không? Do đối đãi từ kia điên đảo sanh, luống dối cho rằng có pháp nói là tánh không, chẳng phải thể của không là có hữu không cũng không. Vì thế Trung luận chép: “Nếu có đối tượng “bất không” tương ứng thì phải có đối tượng “không”. Đối tượng “Không” không thể đắc huống chi đắc ở “không”. Do đó, tức trả lời không cũng chẳng có thể, đây là dựa theo ba luận chẳng phải Trung đạo tông. Lại có chỗ giải rằng: Đây do đối đãi vọng chấp có pháp từ điên đảo sanh cho nên nói là không, chẳng phải không nhất định không. Nói nhân duyên: Là nhân do dựa vào duyên mà có. Kinh Vô Cấu Xứng nói: Nói pháp phi hữu cũng phi vô tất cả đều đối đãi nhân duyên lập, ý đây nói chân không phải thể thật không có, nhưng chẳng phải thể nhất định không, chỉ vì trừ bệnh kia mà chẳng trừ pháp này.
Kinh: “Thường ưa quán sát pháp tướng như thế cho đến chỗ gần gũi thứ hai”.
Tán: Đây là kết.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến và trụ gần gũi xứ”.
Tán: hai mươi bảy hàng rưỡi tụng, chia làm có hai: hai mươi ba
hàng đầu tụng hai xứ trước, bốn hàng rưỡi sau tụng đắc quả an lạc. Phần đầu lại có hai: hai mươi mốt hàng rưỡi tụng khuyến thị, hai hàng rưỡi tụng hai xứ trước. Đây là một hàng rưỡi đầu.
Kinh: “Thường xa rời vua chúa cho đến đều chớ có thân gần”.
Tán: hai mươi mốt hàng rưỡi tụng hai xứ chia làm ba: mười ba hàng rưỡi tụng về hai xứ thuộc pháp hữu của cảnh ngoài người, kế hai hàng rưỡi tụng về hành xứ thuộc pháp nội hữu và không, năm hàng rưỡi sau tụng chân pháp cảnh ngoài gần gũi xứ. Trong văn xuôi đầu tiền lìa vọng hữu, bên ngoài sau quán chân không bên ngoài. Đây tụng đầu lìa ngoại vọng gần gũi xứ, tiếp mới nêu nội hành xứ, sau tụng cảnh ngoài chân pháp gần gũi xứ. Tạm xem thế văn thấy hai hàng đầu tụng hành xứ cận xứ, và văn cùng kết cả hai. Nhưng phần đầu văn tụng không thấy văn nói hành xứ, chỉ dùng tụng nói ở đây ác duyên không có tâm sợ hãi, không có tâm mong cầu mà vì nói pháp, nghĩa do nhu hòa và thiện thuận cho đến mới không sợ hãi không mong cầu gọi là hành xứ. Cho nên văn song nêu, thật ra chỉ cận xứ.
Mười ba hàng rưỡi tụng ngoại gần gũi xứ trong đó có hai: Mười hai hàng rưỡi tụng cận xứ, một hàng tụng kết. Mười hai hàng rưỡi lại chia có hai: sáu hàng rưỡi tụng lìa năm duyên, sáu hàng tụng lìa bốn duyên, không tụng tán loạn duyên. Sáu hàng rưỡi đầu lại chia làm hai, bốn hàng rưỡi tụng lìa, hai hàng sau tụng không lìa. Bốn hàng rưỡi một hàng rưỡi tụng lìa bốn duyên: Tổn hại, Hoại loạn, Ác duyên. Ác kiến. ba hàng tụng lìa một duyên, nghĩa là bạn xấu kém. Trước khai sau hợp cũng chẳng thứ lớp tụng.
Kinh: “Nếu những hạng người đó cho đến mà vì chúng nói pháp”.
Tán: Tụng không lìa. Do quán không hữu để tâm du hành nghỉ ngơi nên không còn sợ cho đến gọi là hành xứ.
Kinh: “Những gái góa gái trinh cho đến phải một lòng niệm Phật”.
Tán: Đây sáu hàng tụng lìa bốn chỗ:
  1. Nhiễm lâu.
  2. không phải pháp khí.
  3. Không phải phép tắc.
  4. Hiềm trách.
Văn chia làm năm: một hàng tụng hai duyên: Nhiễm lâu và không phải pháp khí. hai hàng tụng lại ác nghiệp. một hàng tụng lại duyên hoại loạn nhiễm lâu; một hàng tụng duyên không phép tắc. một hàng
tụng hiềm trách. Làm: năm nhà là xóm, năm xóm là làng, tức hai mươi lăm nhà ở. Phương ở trong một làng.
Pháp khất thực có mười ba thứ:
  1. Trụ chánh giới.
  2. Trụ chánh oai nghi.
  3. Trụ chánh niệm.
  4. Trụ chánh kiến.
  5. Y pháp.
  6. Y thời.
  7. Y xứ.
  8. Y thứ.
  9. Lìa tham.
  10. Lìa chấp trước.
  11. Lìa sân não.
  12. Lìa thô tháo.
  13. Lìa tâm kiêu mạn.
Trong đây bốn trụ đầu chánh khất thật, kế bốn trụ phép tắc, năm trụ sau xả phiền não.
Như Kinh nói rộng: khất thật làm hai việc:
Vì tự giúp mình hành chánh đạo.
Vì lợi sanh đầy đủ pháp bố thí xả.
Người nhận, người cho đều thành lục độ do đó hành khất thật. Kinh Anh lạc nói khất thật làm mười hai việc Kinh Bảo Vân nói: Hễ xin được gì đầu chia làm bốn phần: một phần như cho người đồng phạm hạnh, một phần như thí cho kẻ ăn xin nghèo một phần đem thí cho chúng sanh dưới nước trên đất liền, còn một phần tự ăn. Nhưng dùng một phần ăn cúng dường Chư Phật và các hiền thánh, song sau tự ăn phải nhớ tưởng ăn, như ăn thịt trứng ở đồng hoang v.v… nguyện được pháp thân lìa các lỗi lầm, nhớ Báo ân thí chủ tưởng ăn như vậy. Lại như Kinh Vô Cấu Xứng nói Đại Ca-Diếp hỏi bệnh tật Vô cấu chỉ bày.
Kinh: “Đây gọi tên là cho đến có thể an vui nói”.
Tán: Đây kết không sợ hãi gọi là hành xứ, lìa duyên ác bên ngoài gọi là cận xứ.
Kinh: “Lại cũng chẳng vin theo cho đến hành xử của Bồ-tát”.
Tán: Ở đây tụng hữu không pháp hành xứ, trước tụng pháp không, sau một hàng rưỡi tụng sanh không. Trước nói hai xứ tức hữu quán, tụng lại không tụng trụ nhẫn nhục cho đến.
Kinh: “Tất cả các pháp cho đến đó gọi là cận xứ”.
Tán: Ở đây năm hàng rưỡi tụng chân pháp gần gũi xứ bên ngoài chia làm ba: một hàng rưỡi đầu tụng trong mười tám câu: Sanh pháp hai không lìa hữu vi vô vi, kế hai hàng tụng như núi Tu-di tâm định; sau hai hàng tụng lẫn lộn các câu, tùy thích ứng như nghĩa nên biết.
Kinh: “Nếu có vị Tỳ-kheo cho đến không có lòng e sợ”.
Tán: Đây bốn hàng rưỡi tụng nêu quả an lạc chia làm hai: một hàng rưỡi nêu, ba hàng sau tụng giải thích. Lìa lỗi lầm sai trái do đó không e sợ.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi này cho đến giảng nói Kinh Pháp Hoa”.
Tán: Đây là kết.
Kinh: “Lại Văn-thù-sư -lợi cho đến hạnh an lạc”.
Tán: Thứ hai chánh ngữ có ba phần: 1. Nêu khuyên. 2. chỉ bày riêng, sau năm hàng tụng hiển bày quả an vui, đây là phần đầu.
Kinh: “Hoặc miệng giảng nói cho đến tốt xấu hay dở của người khác”.
Tán: Dưới chỉ bày riêng, Văn xuôi có hai: Trước lìa ác sau tu thiện: “Khéo tu tâm an lạc như thế cho đến” Trước lìa bảy ác đây tức bốn ác đầu. Luận Trí độ nói: tướng Thiện nhân không tự khen chê mình không khen chê người. Hoặc người chê pháp như: Kinh Bách Dụ nói: Có hai người con rửa chân cho cha v.v… mà chê bai lẫn nhau khiến chân cha bị gãy.
Kinh: “Đối với Thanh-văn cho đến chẳng sanh tâm oán hiềm”.
Tán: Đây lìa ba lỗi. Chẳng những chỉ lìa lời nói ác như vậy mà phải thuận theo nói kinh. Dưới đều y cứ theo đây biết nói thiện cũng vậy.
Kinh: “Vì khéo tu như thế cho đến đắc nhất thiết chủng trí”.
Tán: Đây tu thiện có ba:
  1. Thuận ý vì nói.
  2. Đều dùng Đại thừa.
  3. Khiến đắc chủng trí.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến tùy chỗ hỏi mà nói”.
Tán: Dưới mười sáu hàng rưỡi tụng chia làm hai: mười một hàng rưỡi tụng văn trước, năm hàng tụng quả an lạc. Tụng trước chia làm tám văn có hai: một hàng tụng chỗ ngồi, một hàng rưỡi tụng nghi thức phép tắc. Mặc y mới sạch sẽ, tắm gội nên gọi là tịnh. Chánh Pháp Hoa nói mặc y phục sạch sẽ. Đây dưới lại nói trong ngoài đều sạch thơm. Có nói nói: Y mới nhuộm là sai.
Kinh: “Nếu có vị Tỳ-kheo cho đến hòa nhã vì đó nói”.
Tán: Nếu gặp duyên đến dung mạo hòa nhã vì đó nói.
Kinh: “Nếu có người gạn hỏi cho đến vào ở trong Phật đạo”.
Tán: Tụng hỏi đáp. Dùng chứng đắc của mình khiến người khác được lợi ích.
Kinh: “Trừ lòng người biếng trễ cho đến đều khiến chúng vui mừng”.
Tán: Một hàng đầu tụng tự trừ ác nhiễm. Sau một hàng rưỡi chỉ bày lời đã nói, biếng khác là buông lung với biếng trễ.
Kinh: “Y phục và đồ nằm cho đến là an vui cúng dường”.
Tán: Một hàng tụng tự không mong cầu, sau một hàng rưỡi tụng dạy an tâm tưởng. Luận Trí độ nói: Đại từ thương xót vì chúng nói pháp. Không cơm áo, danh tiếng thế lực, vì đại từ bi nên tâm thanh tịnh đắc vô sanh nhẫn. Như có tụng rằng: Học rộng biện trí khéo nói năng, khéo nói các pháp chuyển tâm người, tự không như pháp làm điều bất chánh, thí như mây sấm mà không mưa, học rộng học rộng có trí tuệ, vụng về chậm chạp không khéo nói, không thể hiển phát pháp bảo tàng, thí như không sấm mà không mưa, không học vấn rộng không trí tuệ, không thể nói pháp không hạnh mầu, là pháp Sư tệ không hổ thẹn, thí như mây nhỏ không sấm mưa, học rộng trí lớn khéo nói năng, khéo nói các pháp chuyển tâm người, hành pháp tâm chánh không sợ hãi, như mây sấm lớn tuôn mưa khắp. Pháp Phật rộng lớn soi chiếu khắp, chiếu sáng Phật pháp kho trí tuệ, trì tụng giảng rộng rung chuông pháp, như thuyền Bát- nhã vượt biển khổ, cũng như ong chúa hút các vị, nói như Phật nói tùy ý Phật, giúp Phật bày pháp độ chúng sanh, Pháp Sư như thế rất khó gặp. Được vào rừng chiên đàn mà chỉ chọn lấy lá xanh, đã vào núi báu mà lại lấy thủy tinh, có người vào trong Phật pháp mà không cầu Niết-bàn an vui, lại cầu lợi dưỡng cúng dường thì đều gọi là tự lừa dối, cho nên khiến không mong cầu mà nói pháp cho nghe.
Kinh: “Sau khi ta diệt độ cho đến nói chẳng thể hết được”.
Tán: Đây năm hàng tụng quả an vui chia làm ba: một hàng tụng là nêu, hai hàng tụng nói lìa ác, hai hàng tụng nói được pháp thiện.
Kinh: “Lại Văn-thù -sư -lợi cho đến vạch tìm chỗ hay dỡ”.
Tán: Thứ ba ý lìa các ác, tự lợi hành. Trong văn xuôi có hai:
  1. Nêu hành.
  2. Nêu quả.
Nêu hành có hai: Trước dạy lìa ác, sau dạy tu thiện: “Phải ở nơi tất cả chúng sanh cho đến” Lìa ác có bốn, đây là hai phần đầu. Hành
đầu có ba đều là ý nghiệp: 1. Lìa ganh ghét. 2. Lìa siểm khúc. 3. Lìa cuồng trá. Đây là thứ hai, hành không sai trái nhau, dưới đều thuộc ngữ nghiệp.
Kinh: “Nếu hàng Tỳ-kheo cho đến có sự tranh cãi”.
Tán: Hai thứ lìa ác sau:
  1. Không xúc não người.
  2. Không hý luận.
Kinh: “Phải ở nơi tất cả chúng sanh cho đến cũng chẳng vì nói nhiều”.
Tán: Tu thiện có ba:
  1. Tu ý nghiệp trụ trong ba tưởng.
  2. Tu thân nghiệp cung kính lễ bái.
  3. Tu ngữ nghiệp bình đẳng nói pháp ít nói quí lời nói.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến tôn trọng khen ngợi”.
Tán: Trong quả an lạc có bốn:
  1. Không não loạn.
  2. được bạn lành.
  3. Được chúng lắng nghe.
  4. Chuyển nhập pháp cho người.
Năm quả đây đều tương ưng với hành trước. Sợ văn phiền rộng nên không nói.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến rằng ngươi chẳng thành Phật”.
Tán: Đây sáu hàng tụng chia làm ba: hai hàng đầu tụng lìa ác, kế ba hàng tu thiện, một hàng sau khuyên tu. Đây là hai hàng đầu. Đầu tụng lìa bảy ác, do ngay thẳng, sau tụng lìa ba lỗi để truyền trao. Ngụy trá tức là không thật.
Kinh: “Phật tử đó nói pháp cho đến nói pháp không chướng ngại”.
Tán: Đây nêu tu thiện chia làm ba: một hàng tụng chúng sanh tu bốn hành, tiếp một hàng kính Bồ-tát, sau một hàng khởi tưởng Phật như cha.
Kinh: “Pháp thứ ba như thế cho đến vô lượng chúng cung kính”.
Tán: Đây khuyên tu.
Kinh: “Lại Văn-thù -sư -lợi cho đến sanh đại bi tâm”.
Tán: Tâm tu các thiện hành lợi tha. Trong văn xuôi chia làm ba: Trước nêu hành pháp, tiếp “Văn-thù -sư -lợi vị đại Bồ-tát đó cho đến”
nêu quả an lạc, sau “ở trong vô lượng cõi…” khen ngợi kinh thù thắng mầu nhiệm. Văn đầu có hai: Trước dạy từ bi, sau dạy suy nghĩ. Đây là phần đầu. Hành pháp duyên từ muốn cho pháp lạc, cho nên đối với hàng tại gia xuất gia khởi từ tâm, đây ở trong chủng tánh Bồ-tát khởi tâm không sợ sanh tử khổ, cho nên ở trong hàng không phải Bồ-tát, nghĩa là hạng nhất Xiển-đề Nhị thừa cho đến đối với hạng nhiều sợ các khổ nên khởi bi tâm, hạnh chúng sanh duyên bi và pháp duyên bi, sự thật từ bi hai loại đều vận. Nay căn cứ tăng thượng cũng không trái nhau.
Kinh Hoa Nghiêm nói: Phật tử Bồ-tát có mười thứ đại bi thường quán sát chúng sanh:
  1. Quán không chỗ qui y.
  2. Chạy theo tà đạo.
  3. Nghèo không gốc lành.
  4. Ngủ lâu trong sanh tử.
  5. Hành pháp bất thiện.
  6. Trói buộc ở Dục.
  7. Ở trong biển sanh tử.
  8. Bệnh tật lâu dài.
  9. Không ưa pháp thiện.
  10. Mất pháp Chư Phật.
Kinh: “Phải nghĩ thế này cho đến không tín không hiểu”.
Tán: Dưới dạy phải suy nghĩ có hai: Trước nghĩ hôn mê, sau nghĩ hóa đạo. Đây là nghĩ, người mất lợi được Như-lai phương tiện tùy nghi nói pháp, tức Kinh Pháp Hoa khai xưa hợp Tiểu thừa nói tam thừa, chỉ bày nay hợp Đại thừa nêu nhất thật, không gần gũi bạn lành nên chưa hề nghe, tâm không hiểu biết không tự giác ngộ, lại không hỏi người dù có nghe cũng không tin, dù có tin cũng không hiểu đó là tướng hôn mê.
Kinh: “Người đó dù chẳng hỏi cho đến trú trong pháp này”.
Tán: Đây nghĩ phải hóa đạo. Nghĩa là người được hóa độ nay dầu không nghe cho đến, sau kia trú nơi cửu địa hoặc là thất địa hoặc địa phàm thánh hoặc từ địa phương nào ta thành Phật rồi sẽ dẫn dắt đó trú trong pháp Đại thừa.
Kinh: “Văn-thù-sư -lợi cho đến không có lỗi lầm”.
Tán: Dưới nêu quả an lạc, có hai: Đầu nói chung không lỗi lìa các nguy sợ, sau nêu đắc quả an lạc thù thắng. Đây nói phần đầu.
Kinh:  “Thường  được  hàng  Tỳ-kheo cho đến đều được vui
mừng”.
- Tán: Dưới nêu đắc quả an lạc thù thắng có hai: Đầu tiên nói đắc ba đức, sau giải thích lý do. Đây là phần đầu.
  1. Đắc danh lợi.
  2. Các vị trời hộ vệ.
  3. Vấn nạn vui mừng.
Kinh: “Vì sao? cho đến nghe mà ủng hộ”.
Tán: Đây là giải thích lý do. Nghĩa sâu nên Phật ủng hộ, được Phật ủng hộ nên có đắc.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến thọ trì đọc tụng”.
Tán: Dưới khen ngợi kinh thắng diệu có hai: Đầu tiên nói thắng diệu, sau là dụ hợp thành. Đây là phần đầu.
Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến hàng phục các nước”.
Tán: Dưới nêu dụ hợp thành có hai: Đầu dụ pháp hợp xưa trao cho quyền phương tiện, sau dụ pháp hợp nay cho thật giáo. “Như vua Chuyển Luân thấy các binh tướng có công lớn v.v…” Văn đầu lại có hai: Dụ và hợp.
Trong dụ có năm:
  1. Pháp vương thi hóa.
  2. Dụ Chúng ma phản nghịch.
  3. Dụ Bậc Thánh phục trừ.
  4. Dụ Tùy công trao đạo.
  5. Cuối cùng ban cho kinh này.
Đấy là phần đầu, sức mạnh là thắng sanh tử. Luân vương có bốn như Du-già nói: Kim luân mong gió thuận hóa, Ngân luân sai khiến mới hàng, Đồng luân chấn oai mới phục, Thiết luân gắng sức đánh mới định. Pháp thân tự thọ dụng tha thọ dụng, hóa thân như thứ lớp phối hợp dụ. Nay hóa Nhị thừa đã là hóa Phật, tức chọn Thiết luân vương làm dụ, khởi binh chiến; oai thế gọi là thần thông trí tuệ, các nước là sanh tử hoặc nghiệp, hàng phục là nghĩa đoạn diệt.
Kinh: “Mà các vua nhỏ chẳng thuận mạng lệnh”.
Tán: Dụ Chúng ma phản nghịch. Sanh tử Phần đoạn, Biến dịch và phiền não sở tri chướng phẩm, ba thứ ma đều thị hiện thiên ma cho đến gọi là các vua nhỏ phản nghịch Phật giáo hóa khó có thể dứt trừ gọi là không thuận mạng lệnh.
Kinh: “Bấy giờ Vua Chuyển luân cho đến đem các đạo binh qua đánh dẹp”.
Tán: Dụ Bậc Thánh phục trừ. Voi, ngựa, xe bộ bốn thứ gọi là
các đạo binh, dụ cho Thanh-văn Duyên-giác đều có học - phàm – Thánh khiến kia phục đoạn gọi là đem binh qua đánh.
Kinh: “Vua thấy binh chúng cho đến liền rất vui mừng”.
Tán: Tùy công trao đạo dụ có hai: Trước mừng vui sau ban thưởng. Đây là phần đầu, trừ đoạn hoặc chướng và phần đoạn sanh    tử ba loại ma, chẳng bị khuất phục thiên ma và sở tri chướng phẩm ba thứ ma quân gọi là chiến có công, thuận khế hợp tâm Phật nên rất vui mừng.
Kinh: “Tùy công ban thưởng cho đến tôi tớ nhân dân”.
Tán: Ban thưởng có ba:
1. Nêu vô vi công đức. Trong hợp nói ban cho thành Niết-bàn.
2. Dụ nội hữu vi hành đức ngũ căn ngũ lực cho đến.
3. Dụ quả sai khác đức thiền định giải thoát cho đến như thứ lớp phối hợp kinh. Tướng chung phối hợp dụ, hoặc đoạn đức sanh không lý như ruộng vườn, chúng sanh rốt ráo không là nhà, nhân trạch diệt như tụ lạc, Vô học quả mãn trạch diệt Niết-bàn như thành ấp, hổ thẹn nhẫn nhục là y phục, ngũ phần pháp thân, lục hằng tức là trang nghiêm thiền định giải thoát cho đến làm các thứ châu báu, thất thánh tài làm vàng bạc v.v… lục thông làm voi ngựa xe, trí sanh không làm tôi tớ sai sử hiện tiền, bát thắng xứ làm nô tỳ thắng phục sở duyên, mười biến xứ cho đến làm nhân dân ở cùng khắp mọi nơi.
Kinh: “Chỉ có viên ngọc trong búi tóc cho đến sẽ rất kinh lạ”.
Tán: Dụ cuối cùng ban cho Đại thừa. Viên ngọc tức Đại thừa Pháp Hoa là tâm Phật đứng đầu gìn giữ nên nói trong búi tóc. Thấy công còn kém nhỏ không dứt bốn ma của phẩm trí chướng. Trước hội Pháp Hoa còn trụ, nơi quyền trí chưa vì nói đây. Quyến thuộc của vua là đại Bồ-tát, sẽ kinh lạ là thấy không thuận căn cơ mà nói pháp mầu nhiệm cho nên sanh kinh lạ.
Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến vua của ba cõi”.
Tán: Dưới hợp cũng có năm. Đây hợp pháp vương thí hóa.
Kinh: “Mà các ma vương cho đến không chịu thuận phục”.
Tán: Đây hợp chúng ma phản nghịch.
Kinh: “Các tướng hiền Thánh của Như-lai đánh nhau với ma “.
Tán: Đây hợp Bậc Thánh phục trừ.
Kinh: “Những người có công cho đến khiến đều vui mừng”.
Tán: Đây hợp tùy công trao đạo. Đầu vui mừng sau ban thưởng, Thiền định cho đến hợp dụ trung hạ hoặc tự (chữ). Thành Niết-bàn: hợp đầu hoặc tự, căn cứ trước dụ phối hợp nghĩa có thể biết.
Kinh: “Mà chẳng nói cho nghe kinh Pháp Hoa”.
Tán: Đây hợp cuối cùng ban cho Kinh này.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến mà nay cho đó”.
Tán: Dưới dụ pháp hợp nay thí thật giáo, có hai: Dụ đầu là pháp hợp nay ban cho thật, tức trị hạng người thứ sáu nhóm họp công đức tăng thượng mạn, sau dụ hợp ban cho bậc nhất. Tức trong Thập Vô thượng là nói vô thượng. Văn đầu có hai: Đầu dụ sau hợp. Đây là phần đầu, các binh chúng là Thập địa Bồ-tát, thật phá bốn ma, phá phân đoạn, đã có khả năng phá bốn ma Biến dịch vì nói. Kinh Vô lượng Nghĩa cũng gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Bậc Thánh Nhị thừa: Tùy thích ứng, toàn phá từng phần phá phân đoạn ba ma ắt sẽ năng phá Biến dịch bốn ma, phát tâm mong cầu Đại thừa ắt sẽ phá, như quân tướng thế gian công huân nhỏ đợi thi công mà thương thưởng, ý chí anh hùng nên ban tặng thưởng cho người có ý chỉ hèn kém, để khuyến khích họ tiến tâm cho nên nói vì ban cho đây còn chưa nhập vị thập địa, lại giáo ban cho viên ngọc, nhập thập địa rồi phần phá Biến dịch bốn ma bèn ban cho thể viên ngọc.
Kinh: “Đức Như-lai cũng giống như vậy cho đến cũng rất vui mừng”.
Tán: Dưới hợp có hai: Trước vui sau ban cho. Đây là phần đầu, rõ ràng đã phá phân đoạn bốn ma lại khởi tâm Đại thừa sẽ phá Biến dịch, có công huân lớn cho nên Đức Phật hoan kỷ trao cho kinh Pháp Hoa này; chẳng phải tất cả chỉ phá phân đoạn bốn ma, không phát đại tâm sẽ phá Biến dịch bốn ma gọi là công huân lớn mà đều ban cho kinh này, hàng thú tịch Thanh-văn hướng vắng lặng không ban cho, hàng thối tâm Hữu học cũng ban cho. Hoặc nay lại: Là căn cứ hàng thối tâm Nhị thừa Vô học đã phá phân đoạn bốn ma gọi là công huân lớn, không nói hướng vắng lặng.
Bốn ma có hai:
  1. Phân đoạn.
  2. Biến dịch.
Như chương phá ma nói: Nay tùy cốt yếu, thể tánh của ba ma, phân đoạn có thể tất cả. Cõi Dục đệ lục tha hóa Thiên tử, gọi là Thiên ma, Biến dịch ba ma lý cũng có thể biết. Bát địa trở lên chư đại Bồ- tát thị hiện làm thiên ma. Nên Kinh Vô Cấu Xứng nói: Thị hiện làm ma vương, phần nhiều là Bồ-tát giải thoát bất khả tư nghì, chỉ có long tượng mới có thể đánh nhau với long tượng, như trước đã nói. Nhưng kia vị hàng phục, thời hàng phục khác nhau như lý thú sớ. Nay y Kinh Đại Tập nói: biết khổ đoạn tập chứng diệt tu đạo, như thứ lớp năng hoại
uẩn. Phiền não, tử, và cùng thiên ma. Lại nữa quán hữu lậu, đều là khổ các hành vô thường, các hành vô ngã Niết-bàn tịch tĩnh, như thứ lớp phá uẩn, phiền não, tử và thiên ma. Lại nữa, quán không, vô tướng, vô nguyện, đủ ba thứ này rồi hồi hướng Bồ-đề, như thứ lớp hoại bốn thứ. Lại nữa quán thân thọ tâm pháp như thứ lớp hoại bốn thứ. Luận Trí độ nói: Bồ-tát đắc đạo nên phá ma phiền não, được thân pháp tánh, nên phá uẩn ma, đắc đạo và thân pháp tánh nên phá tử ma, thường nhất tâm nhập Tam-muội bất động nên phá thiên ma.
Kinh: “Kinh Pháp Hoa này cho đến mà nay nói đó”.
Tán: Đây là nói ban cho. Kinh này là nhân Phật, bị nhiều người oán ghét chê bai mà nay ban cho như cởi viên ngọc ban cho.
Kinh: “Văn-thù -sư -lợi cho đến mà nay mới cho đó”.
Tán: Đây dụ hợp với đệ nhất, tức nói vô thượng, có hai: Một là: Lý Sở thuyên đầu tiên nên đắc vô thượng.
Kinh: “Văn-thù-sư-lợi cho đến mà bày nói”.
Tán: Hai là giáo năng thuyên đầu tiên cho nên vô thượng.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến kinh của Phật khen ngợi”.
Tán: Hợp đầu mười bốn hàng rưỡi tụng hành thứ tư, trong đó chia làm hai: bốn hàng đầu tụng hạnh an lạc, mười hàng rưỡi tụng kinh Thắng đức. Bốn hàng đầu có hai: một hàng tụng nói chung, sau ba hàng tụng riêng. Đây là một hàng đầu. Ai là từ, mẫn là bi.
Kinh: “Đời mạt pháp về sau cho đến làm cho trí trong đó”.
Tán: Đây ba hàng tụng riêng: một hàng một câu tụng khởi từ bi, một hàng ba câu khởi tư niệm.
Kinh: “Thí như vua sức mạnh cho đến lấy viên ngọc ban cho”.
Tán: Dưới mười hàng rưỡi tụng kinh Thắng diệu trong đó có hai: bốn hàng đầu tụng dụ, sáu hàng rưỡi sau tụng về hợp. Đây là hàng đầu. Trước ba hàng tụng dụ cho quyền, sau một hàng tụng dụ cho thật. Quyền có ba dụ: 1. Vua. 2. Công. 3. Ban cho.
Kinh: “Như-lai cũng như vậy cho đến nói các kinh điển đó”.
Tán: Dưới sáu hàng rưỡi tụng hợp trong đó có hai: ba hàng rưỡi tụng hợp trước quyền, sau ba hàng tụng nay thật. ba hàng rưỡi đầu, nay cũng chỉ có ba: một hàng rưỡi tụng về pháp vương, một hàng tụng về công, một hàng tụng ban cho. Nói các kinh điển đó, là nói kinh này hợp với trước đã nói.
Kinh: “Đã biết loài chúng sanh cho đến vì các thầy mà nói”.
Tán: Nay hợp đây thật, có hai: một hàng rưỡi tụng hợp nay thật, một hàng rưỡi tụng hợp cho bậc nhất.
Kinh: “Sau khi ta diệt độ cho đến bốn pháp trên như thế”.
Tán: Đây đoạn thứ ba kết thành bốn hạnh.
Kinh: “Người đọc tụng kinh này cho đến như mặt trời chói sáng”.
Tán: Dưới hai mươi mốt hàng rưỡi tụng đoạn thứ hai nêu thông quả an lạc, trong đó có ba: bốn hàng rưỡi đầu tụng nêu quả thức tỉnh, kế mười sáu hàng tụng nêu quả trong mộng, sau một hàng kết quả trước. Đây là phần đầu: một hàng rưỡi tụng tự thể không có sáu điều ác, một hàng tụng chúng sanh kính mộ các vị trời nên làm tôi tớ, một hàng tụng ba ác bên ngoài không xâm tổn, một hàng tụng trí tuệ thông minh không sợ sệt.
Kinh: “Nếu ở trong chiêm bao cho đến mà vì chúng nói pháp”.
Tán: Dưới nêu quả trong mộng có năm, đây là hai văn đầu. một hàng rưỡi tụng thấy Phật, một hàng rưỡi tụng thấy tự nói pháp.
Kinh: “Lại thấy các Đức Phật cho đến chắp tay nghe nói pháp”.
Tán: Đây sáu hàng rưỡi tụng thấy Phật thọ ký chia làm bốn: một hàng rưỡi tụng thấy Phật nói pháp. hai hàng tụng thân xứ chứng ngộ, một hàng tụng nêu thọ ký, hai hàng tụng chánh thọ ký.
Kinh: “Lại thấy tự thân mình cho đến thường có mộng tốt đó”.
Tán: Đây hai hàng rưỡi tụng thấy thân tịch tính tu hành thấy Phật.
Kinh: “Lại mộng làm vua chúa cho đến như khói hết đèn tắt”.
Tán: Đây bốn hàng tụng thấy thân xả tục thành đạo phân bốn: một hàng tụng thấy tu hành, một hàng tụng thành đạo, một hàng rưỡi tụng nói về lợi sanh, nửa hàng tụng nói về nhập diệt.
Kinh: “Nếu trong đời ác sau cho đến các công đức như trên” cho đến.
Tán: Đây kết quả trước.
Ngày 21 tháng 12 Niên hiệu Bảo An năm thứ 3 ở chùa Hưng Phước Viên Như Phòng kiểm duyệt xong, tăng Giác Ấn ở chùa Pháp Long vì muốn chánh pháp tồn tại lâu dài vãng sanh Cực Lạc.
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »