Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 897.

Chương 9: Huyền Tán Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quyển 10 - Phần Đầu (Trang 271 - 306)

HUYỀN TÁN KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

QUYỂN 10
(PHẦN ĐẦU)

PHẨM TÙY HỶ CÔNG ĐỨC
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp nạn vấn.
I. Vì sao có phẩm này có ba:
1. Bảy phẩm trong học hạnh lưu thông, sáu phẩm sau nói người năng hành, chia làm bốn, phần từ đây trở xuống hai phẩm là phần thứ ba nêu rõ bên tu hành và chánh y hành công đức nhiều ít. Phẩm này nói phước bên tu hành, cho nên có phẩm này.
2. Quả Nhất thừa, hai phẩm trên nói quả đã mãn, từ đây trở xuống ba phẩm nói quả chưa mãn chia làm hai, phẩm này nói bên tu tùy hỷ phước quả nhiều ít, sau hai phẩm nêu rõ chánh y hành phước quả nhiều ít cho nên có phẩm này.
3. Luận nói pháp lực có năm, trước đã nêu rõ ba đây là thứ tư nghe pháp, chỉ như phẩm tùy Hỷ công đức nói, do từ người khác nghe năng sanh tùy hỷ nên gọi là nghe pháp, phẩm này nói rộng điều đó nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Tùy là thuận theo, hỷ là xứng hợp ưa thích, thân tâm thuận theo sanh lòng ưa thích, lấy đây làm nhân sanh quả công đức. Phẩm này nói rộng nên đặt tên phẩm. Tùy chỗ nghe    tư duy tu tập đều sanh tâm vui mừng. Luận kinh từ đầu chỉ nói nghe (văn).
III. Giải đáp vấn nạn: Phẩm này không những tự sanh tùy hỷ mà còn khuyên dạy người khác, vì sao không gọi phẩm là khuyến nhân? Đáp: Từ gốc đặt tên nhân tự tùy hỷ mới khuyên người, lại cả hai đều thuộc về tùy hỷ nên hợp đặt tên.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Di-lặc cho đến lại được bao nhiều phước”.
Tán: Phẩm văn chia làm hai:
  1. Di-lặc thỉnh.
  2. Thế tôn đáp.
Di-lặc thỉnh có hai: Văn xuôi và kệ.
Kinh: “Khi đó Đức Phật bảo cho đến ông phải lóng nghe”.
Tán: Dưới Thế tôn đáp chia làm ba: Trước so sánh để hỏi, tiếp Di-lặc đáp, sau Phật bảo thành. Văn đầu lại chia ba: Trước nêu năng tùy hỷ, tiếp nêu cảnh so sánh, sau “Ý ông nghĩ sao cho đến” chánh lấy làm hỏi: Văn đầu có hai: Trước nêu người đầu tiên tùy hỷ, sau chỉ so sánh người sau cùng tùy hỷ. Văn đầu lại có ba: Trước nêu người đầu tiếp nêu chỗ đến, sau nêu xoay chuyển dần.
Kinh: “Nếu bốn trăm muôn ức cho đến đủ tám mươi năm rồi”.
Tán: Cảnh so sánh trong đây có bốn:
  1. Số loại chúng sanh.
  2. Vật cụ bố thí.
  3. Số tuổi.
  4. Đắc đạo.
Đây là đầu và ba.
Chúng sanh loại có hai:
1. Biệt nêu ra năm loại:
  1. Lục thú.
  2. Bốn loài sanh.
  3. Hình loại.
  4. Tưởng khác.
  5. Chân khác.
Những nghĩa này như nói ở chương khác. Vàng Diêm-phù-đề là tên cây Thiệm-bộ, cây mọc ở mé châu Bắc này gần cây có nước bên dưới đáy có vàng tử kim, ánh sáng chiếu che phủ mặt trời mặt trăng cho nên lấy làm tên.
2. “Kết Như vậy v.v…”.
Kinh: “Mà nghĩ rằng cho đến đủ tám món giải thoát.
Tán: Đây khiến đắc đạo có hai: Trước khởi niệm, sau giáo hóa dẫn dắt.
Kinh: “Ý ông nghĩ sao cho đến có nhiều chẳng?”.
Tán: Đây chánh làm câu hỏi.
Kinh: “Di-lặc bạch Phật cho đến quả A-la-hán”.
Tán: Đây là Di-lặc đáp, quả thế gian đã nhiều huống chi  khiến đắc Thánh quả.
Kinh: “Phật bảo Di-lặc cho đến không thể biết được”.
Tán: Dưới Phật bảo thành có hai: Trước thành thứ năm mươi sau thành người thứ nhất. Đây là phần đầu. Tùy hỷ một niệm sẽ đắc Bồ-đề, giáo hóa chúng sanh gấp bội số trên cho nên phước rất nhiều; khiến đắc quả A-la-hán không thể thành Phật rộng độ chúng sanh cho nên phước kém, như so sánh tiếng phạm âm Phật.
Kinh: “A-dật-đa… không thể sánh được”.
Tán: Dưới thành người thứ nhất. Văn chia làm năm:
  1. Nói chung người đầu tùy hỷ công đức hơn trước, không sánh bằng.
  2. Quả đến nghe tùy hỷ.
  3. Khuyên nghe phân chia tòa đắc quả tùy hỷ.
  4. Thọ giáo đến nghe đắc quả tùy hỷ.
  5. Nêu kém thành thắng hơn. Đây là phần đầu.
Kinh: “Lại A-dật-đa cho đến hoặc chỗ ngồi của Vua Thánh Chuyển Luân”.
Tán: Đây thứ hai lắng nghe được quả tùy hỷ, thứ ba khuyên lắng nghe được quả tùy hỷ. Cũng đắc lục thông tòa báu Kim Cương, đây căn cứ quả thế gian chẳng phải ra đời gian. Bệnh được nằm nghe. Đây căn cứ chẳng phải bệnh, chỗ rộng chỉ khuyên ngồi, chỗ hẹp chia tọa khuyên ngồi.
Kinh: “A-dật-đa cho đến cùng sanh một chỗ”.
Tán: Dưới thứ tư thọ giáo đến nghe đắc quả tùy hỷ có ba: Trước nói được bạn lành tốt, kế nêu phước tuệ trang nghiêm, sau thấy Phật nghe pháp. Đây là phần đầu, được bạn giải thích pháp, tức là bạn lành.
Kinh: “Căn tánh lanh lợi trí tuệ cho đến không có các tướng đáng chê”.
Tán: Phước tuệ trang nghiêm lợi căn trí tuệ, ngoài ra đều là phước. Trong phước có năm:
  1. Tướng tiếng.
  2. Tướng miệng.
  3. Tướng mũi.
  4. Tướng mặt.
  5. Các tướng.
“Trăm ngàn muôn đời cho đến” các quả. Tướng miệng có năm: 1. Khí. 2. Lưỡi. 3. Chân răng cho đến không bệnh. 4. Răng không có
sáu điều xấu. 5. Môi không có mười điều xấu, không bị rút túm chẳng ngắn, chẳng thô rít có mềm trơn, không ghẻ mục là ghẻ trên môi, miệng không dày không nám đen.
Kinh: “Mũi chẳng xẹp lép cho đến không có các tướng chẳng đáng ưa”.
Tán: Đây là tướng mũi mặt không bị lõm gãy.
Kinh: “Môi lưỡi răng nướu cho đến tướng người đầy đủ”.
Tán: Đây nói các tướng có sáu.
Kinh: “Đời đời sanh ra thấy Phật cho đến tin nhận lời dạy bảo”.
Tán: Đây nói thấy Phật nghe pháp.
Kinh: “A-dật-đa cho đến đúng như lời dạy mà tu hành”.
Tán: Thứ năm nêu kém thành hơn.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến không thể thí dụ được”.
Tán: Dưới mười tám hàng kệ tụng chia làm hai: tám hàng đầu tụng bên tùy hỷ, mười hàng sau tụng chánh tùy hỷ. Đây là phần đầu có ba: hai hàng tụng nêu tùy hỷ, tiếp năm hàng tụng so sánh, sau một hàng tụng kết thành.
Kinh: “Xoay vần nghe như thế cho đến thường từ trong miệng ra”.
Tán: Dưới mười hàng tụng chánh tùy hỷ chia làm năm, đây có hai: Một hàng tụng nói chung người đầu tùy hỷ, năm hàng tụng thọ giáo đến nghe tùy hỷ.
Kinh: “Nếu cố đến tăng phường cho đến phước đó chẳng lường được”.
Tán: Đây có ba: hai hàng tụng lắng nghe tùy hỷ, một hàng tụng khuyến lắng nghe chia chỗ ngồi tùy hỷ, một hàng cuối tụng nêu kém thành hơn.
----------------------------
PHẨM PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC
Phẩm này chia thành ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có ba:
1. Sáu phẩm nêu người năng hành, trong đó trước nêu phước của người bên năng tu hành, chưa nêu phước pháp Sư chánh năng hành. Nay chính nêu cho nên có phẩm này.
2. Dưới hai phẩm nêu rõ chánh y hành phước quả nhiều ít. Trong đây phẩm đầu nói chung đắc nhiều ít, phẩm sau dẫn đã chứng thành đắc cho nên có phẩm này.
3. Luận giải pháp lực có năm: thứ năm đọc tụng trì nói hạng Bồ- tát Thường Tinh tấn thị hiện, phẩm này Phật bảo Thường Tinh Tấn cho đến công đức của người trì nói cho đến nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Y pháp tu hành đáng làm khuôn phép nên gọi là Pháp Sư, chỉ người năng hành chẳng phải pháp sở hành, phẩm này nêu rõ công đức pháp Sư cho nên gọi là phẩm Pháp Sư công đức.
III. Giải đáp các vấn nạn: Hỏi: Vì sao phẩm Pháp Sư trước Đức Phật bảo Dược vương, phẩm Hiện bảo tháp, Thiên Thọ bảo các Bồ-tát và trời người bốn chúng, phẩm An lạc Hạnh bảo riêng Văn-thù, phẩm Như-lai Tuổi thọ, Phân biệt công đức, Tùy hỷ công đức bảo riêng Di- lặc, phẩm Pháp Sư công đức lại bảo riêng Thường Tinh Tấn, mà không bảo các vị khác?
Đáp: Phẩm Pháp Sư nêu rõ nhân pháp hai Sư, phẩm Dược vương quá khứ không tiếc thân mạng để mở rộng kinh này, dùng pháp làm thầy thân làm pháp Sư, vì vậy nên bảo riêng, Bảo tháp pháp chứng, Thiên Thọ nhân chứng khuyên bày mọi người, là bảo chung. Phẩm   An lạc hạnh nói lìa thương tổn ba nghiệp hành thiện, Văn-thù thường khuyên tu hành phần nhiều làm bạn lành của vì chúng sanh, tự mình cũng lấy hạnh làm đầu nên bảo riêng Văn-thù. Phẩm Tuổi thọ nêu rõ tam Phật Bồ-đề, phẩm Phân biệt công đức nêu rõ đạo chứng tiến dần, phẩm tùy Hỷ công đức so sánh khuyên bày mong cầu Quả Phật, tự mình địa vị chẳng ngang bằng chánh giác trí dần lên đại thánh, do đâu biết chân thật hóa mầu nhiệm sâu xa quán sát viên chứng đạo đức cho nên ba phẩm này bảo riêng Di-lặc, một phẩm này cũng hợp bảo lấy Thường
Tinh tấn đặt tên danh hạnh phù hợp nên chỉ bảo riêng. Thật hành hạnh mầu của năm thứ Pháp Sư đạt được sáu ngàn thắng đức, chẳng phải   tự mình hành tu thành trọn kiếp, cũng chẳng phải thường tinh tấn mà không thể chứng. Há do biếng nhác buông lung mà được thành! Vì vậy bảo riêng Bồ-tát Thường Tinh Tấn.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến hoặc biên chép”.
Tán: Văn chia làm ba: 1. Bảo tu hành Pháp Sư sai khác, kế hiển sở đắc công đức nhiều ít, sau hiển quả dụng thù thắng của sáu căn. Đây là phần đầu. Căn cứ thật pháp Sư tổng có mười hạng, đây nói lược năm: 1. Trì. 2. Đọc. 3. Tụng. 4. Nói. 5. Viết chép. Ngoài ra cúng dường, thí cho người, lắng nghe, tư duy, tu tập, cũng đều là Pháp Sư. Ba hạng đầu dễ nên không luận, hai hạng sau cùng khó nên không nói. Năm hạng giữa khó, dễ nên nói.
Kinh: “Người ấy sẽ được cho đến đều được thanh tịnh”
Tán: Đây là nói lên sở đắc công đức nhiều ít. Trước biện rõ sau kết. Xưa có hai giải thích:
1. Nói thập thiện làm gốc, một thiện đều có chín thiện trợ giúp thành, đều thành mười hạnh, mười hạnh đều có tự tác, giáo tha, khen ngợi pháp thù thắng và khen ngợi người hành thập thiện, hợp thành bốn trăm. bốn thứ này đều có thượng trung hạ tu hợp thành một ngàn hai trăm. Nhĩ, thiệt, ý ba thứ: Lắng nghe, đàm nói, tâm đắc pháp nghĩa, lực tu hành thù thắng đầy đủ ba phẩm đều có một ngàn hai trăm. Còn ba căn kia kém đều không có thượng phẩm nên chỉ có tám trăm. Nếu y thập thiện làm đầu tu thành đức này, các kinh khác cũng vậy, công đức sáu căn cũng nên như vậy đâu chỉ riêng kinh này.
2. Nói lục căn đều có một ngàn phước, mỗi phước đều dùng mười thiện trang nghiêm, hợp thành một ngàn cùng với sáu căn hợp đây tổng có sáu ngàn, ba căn thù thắng hơn nên tăng được hai trăm, ba căn yếu nên đều giảm hai trăm. Xưa giải thích dẫn chánh Pháp Hoa và luận Trang Nghiêm sáu phẩm đều có một ngàn thì ba thứ nhãn, tỷ, thân đều cùng hai trăm thì số đó giải thích thế nào? Lại nói hai trăm phước: Là quả từ nhân Thập thiện cảm, nay lấy nhân trợ giúp mà chưa thấy lý do.
Nay chánh giải: Trong luận này chỉ nói ba căn đều là một ngàn hai trăm, còn lại ba thứ đều có tám trăm không được đem luận Trang nghiêm sánh giống kinh này. Lại chưa xét kỹ hai văn kia nay tạm làm bốn giải thích:
Ở trong kinh này tu mười hành pháp: 1. Viết chép. 2. Cúng dường.
3. Thí cho người khác. 4. Lắng nghe. 5. Đọc tụng. 6. Thọ trì. 7. Khai diễn. 8. Phúng tụng. 9. Tư duy. 10. Tu tập. Trong mười thứ này mỗi mỗi tương tợ nhau chuyển thành một trăm hành. một trăm hành đều có bốn, tự tác, giáo tha, khen khuyên, vui an ổn, hợp thành bốn trăm, mỗi trăm có ba phẩm mà tu tập thành một ngàn hai trăm, ba căn thù thắng đầy đủ một ngàn hai trăm, ba căn yếu kém nên không có thượng phẩm đều chỉ tám trăm.
Nhân mười hành pháp trong kinh này, mỗi mỗi đều dùng mười thiện trợ giúp nhau như vậy mười lần mười thành một trăm, tự tác, giáo tha, khen khuyên, vui an ủi hợp thành bốn trăm, ba phẩm tu tập nhân thành một ngàn hai trăm ba căn hơn kém, tăng, giảm giống như trước nói. Kinh này vì thắng diệu nên thành công đức khác không như vậy cho nên không có đức đây, các kinh khác không như vậy cho nên không có đức đây. Văn này lược nên nói năm hạng pháp Sư, sự thật có mười: Mỗi mỗi làm đầu, hành vi ác còn lại trợ giúp thành đều thâu hoạch đức. Lại y kinh này lục căn đều chỉ nói năm pháp Sư chẳng phải mười hạng, nay có hai giải thích:
1. Nói năm vị Pháp Sư đây mỗi một vị gồm tu mười thiện tức thành năm mươi hợp với tự tác, giáo tha khen khuyên, vui an ủi, tức thành hai trăm, mỗi mỗi căn môn tuy đều là hai trăm mà nhãn, tỷ, thân kém đều có ba căn nhĩ, thiệt, ý này trợ giúp vì tự loại không giúp nhau nên căn bản thành tám trăm, nhĩ thiệt ý hơn vì năng dẫn ba căn trợ giúp, cho nên nhĩ thiệt ý thành một ngàn hai trăm.
2. Nói chưa thấy văn nói không thể hư bói: Kinh nói: Do công đức ấy trang nghiêm lục căn đều khiến thanh tịnh. Luận chép: Các phàm phu nhờ lực kinh mà được căn dụng thù thắng chưa nhập vị sơ địa. Như Kinh nói dùng mắt thịt do cha mẹ sanh ra, thấy nơi tam thiên đại thiên thế giới như vậy cho đến cho nên có giải thích ở Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, chẳng phải như thập tín lực còn yếu. Nay giải thích chỉ ở tứ gốc lành, dùng mắt thịt kia thấy đại thiên, ở phần vị giải thoát chưa thể như vậy. Phần vị giải thoát thấy hóa Phật ở một châu. Quyết trạch phần vị thấy hóa Phật ở đại thiên. Tức như Kinh nói: Tam thiên đại thiên một cảnh hóa Phật. Cho nên biết Quyết trạch phần mới thấy đại thiên giới. Nếu không vậy thì một cảnh hóa Phật nói phần vị nào thấy? Luận chép: Lại lục căn thanh tịnh ở trong mỗi một căn thảy đều đầy đủ thấy sắc, nghe tiếng, biết hương vị xúc cho đến các căn xử dụng lẫn nhau. Mắt thấy là nghe hương có thể biết. Như Kinh nói Thích-đề- hoàn-nhân ở trên thắng điện ngồi ở trên điện này vui đùa ngũ dục, như
sắc đáng lẻ mắt thấy mà mũi có thể biết được, cho đến nói pháp  nghe hương đều biết, đây là cảnh trí mà tỷ căn biết. Nói pháp lẻ ra trí biết mà tỷ căn biết, đây có hai nghĩa:
1. Các căn dùng lẫn nhau chỉ tại ở Thập địa. Duy Thức cho đến nói: Đắc vị tự tại các căn dùng lẫn nhau, một căn phát thức duyên tất cả cảnh, cho nên chẳng phải địa tiền có thể gọi là tự tại các căn dùng lẫn nhau. Trước kia nói thấy nghe đại thiên là chung cả Địa tiền vị, Sơ địa trở lên thấy trăm thế giới, không phải chỉ có Tam thiên. Lại sơ địa trở lên rộng thấy một trăm Tam thiên đại thiên, căn cứ một cảnh hóa Phật tạm nói thấy đại thiên đối lý không sai.
2. Các căn dùng lẫn nhau đắc đại tự tại chỉ ở Thập địa đó là Duy Thức nói. Nếu năng lực gia hạnh phần cũng được, Địa tiền cũng được. Cho nên luận này đây nói địa tiền được thì nói ở, phàm phu vị. Nếu chung nói dùng lẫn nhau như văn dưới thì phàm phu trước đắc các công đức trước, nay sơ địa trở lên các căn dùng lẫn nhau cho nên chẳng phải Địa tiền mà các căn được xử dụng hổ tương lẫn nhau .
Kinh: “Người thiện nam cho đến thảy đều thấy biết”.
Tán: Dưới đoạn thứ ba biệt hiển tác dụng thù thắng của sáu căn. Trước nói về mặt văn xuôi có ba:
  1. “Mắt thịt chẳng thông v.v…” đều y theo đây mà biết.
  2. Sở kiến xa gần.
  3. Thấy nghiệp báo.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến sức mắt thịt như thế”.
Tán: Đây có năm hàng tụng chia làm bốn: Một hàng bảo lắng nghe, hai hàng nói gần xa, một hàng nó số, một hàng nêu chúng sanh và kết. Giáo Tiểu thừa nói Nhị thừa mắt trời thấy đại thiên, nay nói lực trì kinh, mắt phàm phu thấy đại thiên, sơ địa Bồ-tát thấy một trăm đại thiên thế giới, công đức của sáu căn nhiều ít khác nhau, mà sở đắc cảnh giới đại thiên không sai khác, tu nhân hơn kém quả đức khác nhau, thức dụng không sai đại thiên đều đồng. Lại đức là bên trong thành do nhân thêm bớt, cảnh là một hóa ngoài chấp lượng đồng, chỉ như Nhị thừa bên chấp liền có hai ngàn ba ngàn, túc mạng mắt trời biết quá vị đều thành tám muôn. Lại như sơ địa mắt trời thấy trăm đại thiên, hơn Nhị thừa. Túc mạng sanh tử chỉ biết trăm kiếp kém thua Nhị thừa cho đến không thể theo lệ chắc chắn.
Kinh: “Lại nữa Thường Tinh Tấn cho đến mà không hoại nhĩ căn”.
Tán: Nhĩ căn, văn xuôi có bốn:
  1. Đức lượng.
  2. Cảnh lượng.
  3. Nghe sai khác.
  4. Kết nghĩa thù thắng.
Sai khác có bảy loại: 1. Mười hai âm thanh, tạp, 2. mười hai âm thanh tức sáu cặp đối, 3. Tiếng tam tai, 4. ba tiếng đường ác, 5. tám âm thanh Bát bộ, 6. hai âm thanh xuất gia, 7. Tiếng bốn Thánh nhân. Bồ- tát Địa nói: Thắng giải hành vị, vì là Bồ-tát Tu-lâu, không linh nghiệm, dùng chú thuật đều linh nghiệm, lục căn thanh tịnh ắt tại Địa tiền trên vị phàm phu, chẳng phải hạ trung.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến cả tiếng cõi tam thiên”.
Tán: Đây có mười tám hàng kệ chia làm ba: một hàng nêu, tiếp mười bốn hàng tụng trên, sau ba hàng kết thắng. Đây là phần đầu.
Kinh: “Tiếng voi ngựa trâu xe cho đến nghe đều hiểu rõ được”.
Tán: Tụng trên có mười bốn hàng chia làm bốn: Đầu tám hàng tụng tiếng cõi Dục, tiếp một hàng rưỡi tụng tiếng cõi Sắc, tiếp một rưỡi tụng tiếng người xuất gia, sau ba hàng tụng tiếng Hiền Thánh. Trong mười phương thế giới âm thanh loài cầm thú, là căn cứ mười phương tứ thiên hạ thế giới trong một cõi Tam thiên chẳng phải số đại thiên giới làm mười phương. Lại đắc tam thiên là tai phàm phu, đây là Thập địa cho đến Phật vị cho nên đắc mười phương cũng không trái nhau.
Kinh: “Cõi Tam thiên đại thiên cho đến công đức đã như vậy”.
Tán: Đây là kết thúc nghĩa cao siêu.
Kinh: “Lại Thường Tinh Tấn cho đến các thứ mùi”.
Tán: Nói về Tỷ căn. Văn xuôi có bốn, trong đây có hai: Đức lượng và cảnh lượng, trên dưới đã xa làm sao có thể biết! Nếu căn xa biết không đến lấy thì hoại căn không hoại cảnh, nếu đến năng lấy đâu phải tất cả hương đều đến nơi căn ư! Luận nói đây là trí cảnh tỷ căn biết. Định trí xa biết nương theo tỷ căn thọ nhận nên gọi là nghe hương, chẳng phải tỷ thật năng lìa mà thọ nhận cảnh lại các căn dùng lẫn nhau tỷ còn thấy sắc, huống chi y trí nhãn nhĩ không nhận được hương đại thiên ư! Được mùi tương tợ, chẳng phải được thể thật, chấp nhận lìa căn mà nhận thì tánh cảnh thể hoại.
Kinh: “Mùi bông Tu-mạn-na cho đến ghi nhớ không lầm”.
Tán: Trong đây có hai: Thứ ba sai khác và thứ tư kết thành. “Tuy nghe mùi này cho đến” là sai khác có hai: Phàm và Thánh. Trong phàm lại có hai: Trước cõi Dục, sau cõi Sắc. Lục giới lại có hai: Trước phi thiên sau thiên. Phi thiên có hai: 1. Cảnh vật. 2. Sanh thân. Thiên
cũng có hai: Cảnh vật và thân các vị trời. Cõi Sắc làm sao có hương, đây thông quả hương chẳng phải nghiệp quả. Kinh Hoa Nghiêm nói: Tỷ căn Bồ-tát nghe hương cung điện Cõi Vô sắc, đây căn cứ y hình thông lực biến ra, kia căn cứ tợ hình định lực biến ra cho nên không trái nhau. Nhưng Du-già nói: Thắng định quả sắc phải biết chỉ có các tướng hiển sắc, do mùi hương kia sanh nhân thiếu khuyết. Lại vô dụng ấy là nương gá cõi Sắc làm bổn chất của định, biến định cảnh tức không có hương vị, y cảnh dục có. Lại gia hạnh tâm kém sanh nhân thiếu sót không có, nhân mạnh thì có, Bồ-tát có Nhị thừa không có, Thánh nhân có phàm phu không có, đệ tử Phật có, ngoại đạo không có vì yếu kém. Nhưng Du-già nói: Thắng định quả sắc đối tất cả sắc đều được tự tại, cho nên biết định quả thông biến tất cả.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến trước đắc tướng tỷ này”.
Tán: Đây ba mươi hàng tụng chia làm ba: một hàng đầu là nêu, kế hai mươi tám hàng tụng trên, sau một hàng tụng kết. Hai mươi tám hàng tụng trên chia làm hai: Hai mươi ba hàng tụng mùi phàm, sau năm hàng tụng mùi Thánh. Phàm lại có hai: hai mươi mốt hàng tụng mùi Cõi Dục, sau hai hàng tụng mùi cõi Sắc. Mùi Cõi Dục chia làm hai: bảy hàng lược nêu mùi trời người, sau mười bốn hàng rộng nêu mùi trời người. bảy hàng đầu lại có hai: năm hàng lược tụng cảnh vật trong loài người và mùi chúng sanh, sau hai hàng lược tụng chúng sanh trong cảnh trời và mùi cảnh vật. mười bốn hàng rộng tụng các mùi chia làm hai: chín hàng tụng mùi trong loài người, năm hàng sau tụng mùi trong loài trời. Mùi trong loài người có ba: hai hàng đầu tụng mùi cảnh vật, tiếp năm hàng tụng mùi chúng sanh, sau hai hàng tụng mùi ẩn dấu. Trong năm hàng tụng mùi chúng sanh. Hai hàng đầu tụng mùi hiện sanh, sau ba hàng tụng mùi ẩn sanh. Trong năm hàng tụng mùi ở cõi trời chia làm bốn: một hàng Hoa hai hàng cung điện, một hàng tụng trời, một hàng tụng hý. Trong năm hàng tụng Thánh chia làm bốn: hai hàng tụng Tỳ- kheo, một hàng tụng Bồ-tát, một hàng tụng Phật, một hàng tụng chúng sanh.
Kinh: “Lại Thường Tinh Tấn cho đến không món nào chẳng ngon”.
Tán: Nói về căn lưỡi. Văn xuôi có ba:
  1. Đức lượng.
  2. Căn dụng.
  3. Công dụng đầy đủ lưỡi.
Đây là hai phần đầu, đây không có cảnh lượng, vì sao khác nhau
tỷ căn mà có thể biết tam thiên? Đã không năng biết làm sao công đức thành một ngàn hai trăm! Thiệt căn cũng được nếm vị tam thiên giới, chỉ vì tụng văn nói công dụng đầy đủ lưỡi, âm thanh trùm khắp đại thiên cho nên không nói nếm vị, hương lìa chất mà có thể có, vị lìa chất mà lại không, cho nên không nói đắc vị tam thiên giới. Trong kinh cũng nói Phật có tỷ thiệt thông quá mắt tai.
Kinh: “Nếu dùng thiệt căn cho đến tiếng pháp sâu mầu”.
Tán: Công dụng đầy đủ lưỡi chia làm năm:
  1. Khéo nói pháp.
  2. Nhiều chúng đến nghe.
  3. Được cúng dường.
  4. Thân gần Hiền Thánh.
  5. Ủng hộ nói pháp.
Nhiều chúng đến nghe có ba: 1. Trời. 2. Rồng v.v… 3. Bốn chúng đến nghe.
Kinh: “Khi đó Đức Thế tôn cho đến hoặc lúc vì hiện thân”.
Tán: Dưới tám hàng rưỡi tụng chia làm hai: một hàng tụng thiệt căn dụng, bảy hàng rưỡi tụng cụ dụng đầy đủ của lưỡi. Đây chia làm bốn: một hàng rưỡi tụng khéo nói pháp, ba hàng tụng chúng đến nghe, một hàng tụng cúng dường, hai hàng tụng thánh hiền che chở.
Kinh: “Lãi nữa Thường Tinh Tấn cho đến hiện sắc tượng ở trong thân”.
Tán: Nói về thân căn. Văn xuôi có bốn:
  1. Đức lượng.
  2. Hỷ lượng.
  3. Cảnh lượng.
  4. Sai khác.
Sai khác có ba: 1. Khí thế giới. 2. Thượng hạ. 3. Hiền thánh.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến tất cả hiện trong đó”.
Tán: bảy hàng rưỡi tụng chia làm năm: một hàng tụng ưa thấy, một hàng rưỡi tụng riêng thấy, một hàng rưỡi tụng cảnh lượng, hai hàng rưỡi hàng tụng sai khác, sau một hàng tụng kết nghĩa thù thắng. Sai khác có hai: Một hàng rưỡi tụng cảnh, một hàng tụng Hiền Thánh.
Kinh: “Lại nữa Thường Tinh Tấn cho đến Đức Phật nói trong kinh”.
Tán: Nói về ý căn. Văn truyền hàng có bảy:
  1. Đức lượng.
  2. Xa rộng.
  1. Vô cùng.
  2. Thuận lý.
  3. Cảnh lượng.
  4. Hiển thắng.
  5. Chân thật.
Trong vô cùng nói một tháng bốn tháng cho đến lại nêu thời gian tháng, các cảnh giới sở thủ, sở hành của tâm sai khác, các hành tướng tam tánh động tác tâm sở, tâm sở hý luận ngôn nói phân biệt các pháp tánh, hoặc thân ngữ ý như thứ lớp phối hợp.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến đồng thời thảy đều biết”.
Tán: Dưới mười một hàng tụng chia làm năm, trong đây có ba: một hàng rưỡi đầu tụng xa rộng, nửa hàng tụng vô cùng, hai hàng tụng sai khác.
Kinh: “Vô số Phật mười phương cho đến ở trong chúng không sợ”.
Tán: Thứ tư, có bốn hàng tụng, tụng chân thật chia làm bốn: một hàng tụng năng trì, một hàng tụng không quên, một hàng tụng như nói, một hàng tụng không sợ.
Kinh: “Người trì kinh Pháp Hoa cho đến bởi trì kinh Pháp Hoa”.
Tán: Thứ năm, có ba hàng tụng hiển thắng chia làm ba: một hàng tụng hiển thắng, một hàng tụng hỷ kính, một hàng tụng về khéo nói. Sợ văn rườm rà, phần lớn chọn lọc, phán xét, cùng với Văn xuôi biệt ứng đều phối hợp biết rõ.
----------------
PHẨM THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp vấn nạn.
I. Vì sao có bốn:
1. Người năng học hạnh tuy có sáu phẩm chia làm bốn đoạn, mà đây là thứ tư nêu rõ tự thân Phật ở nhân vị xưa hành an lạc hạnh, tu nhẫn nhục cho đến lưu thông kinh này, sẽ được an lạc, nay nói kinh này khuyến khích thời hội cho nên có phẩm này.
2. Trong ba phẩm nêu rõ trong quả chưa mãn, trước nói hành đắc lục căn thanh tịnh chưa biết đắc thật là ai? Nay nói tự thân xưa hành hạnh kia đắc sáu căn thanh tịnh, để khuyến khích đương thời chúng hội cho nên có phẩm này.
3. Muốn nói lên thực hành hạnh an lạc uy thế không gì sánh, ta làm Bất khinh thực hành hạnh an vui chúng sanh lúc bấy giờ làm tổn hại ta, ban đầu tuy chịu khổ, ngược lại do sức ta họ đều đắc Phật đạo, huống chi tự thân thực hành mà không thành Phật ư! Nay nói lý đây do lợi ích cho chúng hội đường thời nên có phẩm này.
4. Luận nói trong sáu thứ thọ ký, ở đây nói đầy đủ về nhân Bồ-tát thọ ký cho có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Thường là hằng, Bất Khinh là cung kính, xem bốn chúng khác đầy đủ nhân Phật tánh, khuyên người khác tu hành sẽ được thành Phật, ba nghiệp thường cung kính nên gọi là Thường Bất Khinh.
III. Giải đáp vấn nạn: Hỏi: Vì sao phẩm này bảo riêng Đắc Đại Thế! Vì muốn hiển rõ oai thần của Kinh năng khiến thuận tu hành sau được thành Phật, người ác trái nghịch kinh cùng có thể mau bạt trừ khổ kia cho nên chỉ bảo Đắc Đại Thế mà không bảo các vị khác.
Hỏi: Phẩm này cũng nói Đức Phật Oai Âm vương vì sao chỉ đặt tên Bất Khinh ư?
Đáp: Đức Phật nhân Bất Khinh mà nói chứ chẳng phải chánh nêu.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến Thân ý thanh tịnh”.
Tán: Phẩm văn chia làm bốn:
1. Trình bày trước trái thuận sanh tội phước để chỉ bày mọi người.
2. Hiển bày riêng đối tướng người nói kinh trì kinh người trái
thuận.
3. Kết hợp xưa nay để chỉ bày tướng trái thuận của mọi người.
4. Kết khuyên mọi người trừ trái hành thuận. Đây là phần đầu. Tội như phẩm Thí dụ ở trước nói, công đức như thứ lớp phẩm trước.
Kinh: “Đắc Đại Thế cho đến đều đồng một hiệu”.
Tán: Thứ hai là hiển bày riêng đối với người nói kinh, người trái thuận có ba: Trước nêu thời gian. Kế nêu gặp Phật, sau hiển tướng trái thuận của người năng hành. Đây là hai phần đầu. Trong gặp Phật có hai:
  1. Sơ Phật.
  2. Hậu Phật.
Sơ Phật có sáu: a. Danh. b. Kiếp. c. Quốc. d. Nói pháp. e. Trú tuổi thọ. f. Niết-bàn. Chư Phật đồng tên Oai Âm Vương hiển nói Pháp Hoa âm thanh như vương tôn quí thù thắng, có uy lực lớn năng khiến chúng sanh đạt được lợi lạc, tức Thường sở đắc của Bất Khinh khi qua đời, Kinh Pháp Hoa này rộng làm lợi ích.
Kinh: “Đức Phật Oai âm vương đầu hết cho đến có thế lực lớn”.
Tán: Dưới hiển tướng người năng hành trái, thuận, trong đó có tám:
  1. Người ác thế lực mạnh lớn.
  2. Thiện sĩ thêm siêng năng.
  3. Nói năng thêm năng nhẫn.
  4. Thân hại năng nhẫn.
  5. Danh tốt đã sanh khởi.
  6. Thắng quả liền sanh.
  7. Người ác nghe theo sự giáo hóa.
  8. Thiện sĩ tăng đạo. Đây là phần đầu.
Kinh: “Bấy giờ có vị Bồ-tát cho đến sẽ được thành Phật”.
Tán: Thiện sĩ thêm siêng năng có ba:
  1. Nêu danh.
  2. Giải thích danh.
  3. Nói về hành.
“Mà vị Tỳ-kheo đó cho đến” Bồ-tát Tỳ-kheo hiển bày Bồ-tát mà chẳng phải Tỳ-kheo, hoặc Tỳ-kheo chẳng phải Bồ-tát, đều không phải hạnh này, đầu không thể quái lạ sau không thể phạm giới. Tôi rất kính quí ngài chẳng dám khinh mạn, là do có Bổn tánh Phật trú nơi chủng tánh, đây là kính báo thân Như-lai tạng, đều tu hành đạo Bồ-tát sẽ
được thành Phật, là do có chủng tánh, hoặc khởi tập tánh phát tâm tu hành ắt sẽ thành Phật. Lại y pháp thân Như-lai tạng nên tất cả đều có “tôi rất kính ngài”. Nếu hành Bồ-tát đạo phát khởi tu tập báo thân Như- lai tạng sẽ được thành Phật. Kinh Vô úy Đức Nữ nói: Bồ-tát vì độ các chúng sanh kiêu mạn sân não v.v… khiến họ sanh khởi tâm hồi hướng, lại vì gốc lành của chúng sanh nên Bồ-tát lễ bái chúng sanh.
Hỏi: Đây là phần đầu bốn chúng phàm gặp đều lễ bái, lễ bái Tỳ- kheo ni và người tại gia có phạm hay không?
Đáp: Tỳ-kheo Bồ-tát không làm lễ như vậy, lễ thì phạm nay làm lễ sở dĩ không phạm là do Bồ-tát đối với tánh tội thì trì, già tội thì phạm, khuyên lợi ích lớn. Nếu chỉ Tỳ-kheo chẳng phải Bồ-tát lễ thì phạm không lễ không phạm. Lại lễ bốn chúng mà không phạm, lễ riêng một vị thì thiếu sót. Lại kính Phật tánh chẳng lễ bái thân, đã không chuyên đọc tụng cũng không chuyên lễ bái bao gồm hai việc. Tỳ-kheo tân học lễ dưới chân Duy Ma, chưa có hiểu biết nên chẳng phải cựu học. Nhưng có chỗ giải thích Tỳ-kheo này không hành đọc tụng chỉ làm lễ bái, nếu vậy nên nói không đọc tụng kinh đâu dùng chữ chuyên, cho nên biết không chuyên đọc tụng cũng không chỉ hành lễ bái là ý ở đây.
Kinh: “Trong bốn chúng cho đến ông sẽ thành Phật”.
Tán: Lời nói thêm năng nhẫn, đầu nói thêm sau năng nhẫn.
Kinh: “Lúc nói lời đó cho đến vì Thường Bất Khinh”.
Tán: Thứ tư: Thân hại năng thọ, thứ năm, thiện danh đã sanh khởi, trên đây chính là vị Bốn mươi tâm.
Kinh: “Vị Tỳ-kheo đó cho đến nói Kinh Pháp Hoa”.
Tán: Thứ sáu: Thắng quả liền sanh có ba:
  1. Nghe pháp năng trì.
  2. Sáu căn thanh tịnh.
  3. Tăng tuổi thọ nói pháp.
Nếu Thường Bất Khinh không trước ở trong đời tượng pháp đọc Kinh Pháp Hoa thì đâu được khi qua đời liền có nghe năng trì trước không tu nhân quả thì làm sao sanh khởi, đã trước từng lễ bái là vị bốn mươi tâm, nghe pháp căn tịnh địa vị tứ gốc lành, tăng tuổi thọ nên đắc đại thiện tịch dần dần thực hành lý quán quán chân lý.
Kinh: “Lúc đó các vị tăng thượng mạn cho đến chánh đẳng chánh giác”.
Tán: Thứ bảy:Người ác được hóa độ, có hai:
  1. Người ác theo hóa.
  2. Sở hóa chuyển nhiều.
 
Năng lực thần thông lực tăng thọ căn tịnh, nhạo nói biện lực  nhớ kệ nói pháp năng lực, đại thiện tịch dần thành đế quán nghe pháp hiểu giải lý.
Kinh: “Sau khi mạng chung cho đến tâm không sợ sệt”.
Tán: Thứ tám: Thiện sĩ tăng đạo có năm, văn này có bốn:
  1. Gặp Phật nói pháp.
  2. Gặp Phật trì tụng - hai hạng này tại phàm vị tứ thập tâm, do như đây.
  3. Đắc lục căn thường tịnh, liền nhập sơ địa.
  4. Trừ năm sự sợ hãi đắc bốn vô úy, cho nên biết thường được sáu căn thanh tịnh.
Trong nhập sơ địa Bồ-tát đúng lý nên trú trong sanh tử để giáo hóa chúng sanh. Thường gặp Phật chưa nhập Thập địa, không gặp Chư Phật như thuyền bị phá lủng, tự không thể vượt qua đâu có thể độ người. Như đổ ít nước nóng xuống ao lớn bị đóng tuyết lớn dù có tan chảy chút ít mà sau lại tích thành băng, phiền não chưa lìa không gặp Phật lợi sanh cũng vậy, cho nên tăng tự hành ắt sẽ gặp Phật. Kinh Hoa Nghiêm nói trong Thập địa: Bồ-tát ấy đắc vui mừng địa, chỗ có sợ hãi ắt đều xa lìa, tức là: Sợ không sống, sợ danh tiếng xấu, sợ chết, sợ đọa đường ác, sợ uy đức đại chúng Vì sao? Bồ-tát ấy lìa ngã tướng nên không tham tiếc thân huống chi dụng vật cho nên Bồ-tát không sợ không sống. Tâm không hy vọng cung kính cúng dường, Ta nên cúng dường tất cả chúng sanh cung cấp vật cần dùng, vì vậy cho nên Bồ-tát không sợ tên xấu. Xa lìa ngã kiến không có ngã tướng cho nên không có sợ chết. Lại suy nghĩ rằng ta nếu chết rồi sanh sẽ thấy Chư Phật Bồ-tát cho nên không có sợ đọa đường ác, chí nguyện với ta không bằng huống chi có hơn vì vậy cho nên không sợ đại chúng uy đức.
Nếu y luận giải thích vô úy có hai: 1. Bồ-tát vô sở úy. 2. Phật vô sở úy. Phật vô sở úy là chánh đẳng giác đẳng, nay là Bồ-tát vô sở úy. Không sợ đầu là một vì chúng sanh nói pháp vô sở úy, tất cả người nghe năng trì đắc Đà-la-ni thường nhớ nghĩ không quên, ba không sợ sau đều gọi là ở trong đại chúng nói pháp vô sở úy. 1. Biết tất cả chúng sanh dục giải. Nhân duyên, các căn lợi độn tùy theo sự thích ứng mà vì nói pháp. 2. Không thấy mười phương có đến hỏi nạn vấn khiến ta không thể như pháp đáp, không thấy có chút ít tùy theo như vậy. 3. Tất cả chúng sanh nghe thọ vấn nạn, tùy ý như pháp khéo léo giải quyết đoán tất cả nghi, lìa năm sự sợ hãi trước được bốn món vô úy nhập sơ địa, sau nhập bát địa mới lìa nhân sợ hãi.
Kinh: “Đắc Đại Thế cho đến sẽ được thành Phật”.
Tán: Thứ năm duyên tu đạo mãn nhập các địa, sau lại được thấy Phật nói kinh điển này.
Kinh: “Đắc Đại Thế cho đến chánh đẳng chánh giác”.
Tán: Dưới đoạn thứ ba kết hợp xưa nay để chỉ bày tướng trái thu- ận của mọi người chia làm hai: Đầu hội Bất Khinh, sau hội bốn chúng. Đây là phần đầu có hai: Đầu hợp thân sau hợp pháp.
Kinh: “Đắc Đại Thế cho đến đều bất lui sụt”.
Tán: Đây hợp bốn chúng có ba: Trước hợp quả đầu tiên hành hành vi ác, sau hợp quả giữa đường theo hóa. “Hết tội đó rồi cho đến,” sau hợp chúng xưa nay.
Hỏi: Thiện hiện Thanh-văn còn trụ hạnh vô tránh muốn hộ chúng sanh mà làm lợi ích vì sao Bồ-tát mạnh thọ ký bốn chúng khiến kia đánh mắng chiêu cảm tội báo?
Đáp: Bồ-tát địa nói: Bồ-tát thường dùng sự an ổn giáo hóa chúng sanh, chẳng phải vui an ổn như thật biết, mà tùy lực phương tiện giáo khiến đoạn, trừ. Nếu đầu khổ sau vui an, thì kia tuy ưu phiền khổ não cũng vì làm lợi ích, tức là Bồ-tát y khéo léo phương tiện, hoặc đầu tuy vui mà sau không an, kia tuy khổ não cũng không muốn bỏ, dùng sức phương tiện làm cho dứt trừ.
Vì sao? Vì sau ắt vui. Nay Bất Khinh quán xét ban đầu tuy khổ sau lại giáo hóa dẫn dắt khiến nhập đạo. Cho nên đại thầy thuốc xem người bệnh nặng phải trước phát hiện bệnh sau mới cho thuốc khiến lành cũng như người bắt cá khéo nơm cá, người thợ săn khéo săn gấu, biết nhân sân có lợi ích nên làm cho gấu kia sân để độ, biết nhân tham có ích nên làm cho gấu tham mà độ. Như hóa dâm nữ phóng túng rồi sau độ, hàng Nhị thừa không thể vậy cho nên trú vô tránh hiện tuy trừ tránh mà không thể rốt ráo trừ, sự tránh của người một cách. Bồ-tát tự chứng vô tránh chân như dứt trừ nguồn gốc tránh kia, rốt ráo khiến cũng chứng chân lý vô tránh. Trước tuy khởi tránh sau khiến diệt tránh, đó là hành đại vô tránh, khác nhau Nhị thừa hiện tiểu vô tránh, nên không chướng ngại.
Kinh: “Đắc Đại Thế cho đến biên chép kinh này”.
Tán: Đoạn thứ tư kết khuyên mọi người bỏ trái hành thuận có hai: Lợi ích lớn, của kinh và khuyên lưu thông.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến mau thành Phật đạo”.
Tán: Dưới có mười chín hàng rưỡi kệ tụng ba đoạn sau chia làm ba: mười hàng đầu tụng nói tướng trái thuận người nói kinh, kế ba hàng
rưỡi kết hợp xưa nay để chỉ bày tướng mọi người trái thuận, sáu hàng sau tụng kết khuyên mọi người bỏ trái hành thuận. Đây là phần đầu có hai: một hàng rưỡi tụng gặp Phật, tám hàng rưỡi tụng hành trái thuận. Trong hành trái thuận chia làm năm: ba hàng tụng người ác mạnh thế lực, thiện sĩ tăng siêng năng, tiếp một hàng nói thêm năng nhẫn thân hại năng thọ, kế hai hàng tụng thắng quả liền sanh, tiếp một hàng tụng người ác được hóa độ, sau một hàng rưỡi sau tụng về thiện sĩ tăng đạo, không tụng thiện danh đã sanh khởi. Tội hết rồi: là ác mắng, gia hại càng nặng khiến nhẹ tội nghiệp trước.
Kinh: “Thuở ấy Thường Bất Khinh cho đến nghe Kinh Pháp Hoa đó”.
Tán: Kết hợp xưa nay chia làm hai: Nửa hàng hợp thân, ba hàng sau hợp chúng.
Kinh: “Ta ở đời trước cho đến mau chứng thành Phật đạo”.
Tán: Kết khuyên mọi người bỏ trái hành thuận có bốn: hai hàng đầu tụng trước hóa các người, một hàng tụng kinh này khó nghe được, một hàng tụng kinh này ít hiềm khi nói, hai hàng tụng khuyên chớ sanh nghi.
----------------------------
PHẨM NHƯ-LAI THẦN LỰC
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có ba:
1. Trong ba lưu thông, dưới đây tám phẩm là phó thọ lưu thông, chỉ bày tướng phó chúc vâng mệnh hành, cho nên Thần lực, Chúc Lụy, Phó chúc khiến hành, sáu phẩm còn lại tuổi thọ lưu thông phó chúc chia làm hai:
a. Thực hành thần thông khiến tin phó chúc.
b. Dùng tay xoa đầu khiến hành phó chúc.
Nay đây là phần đầu, Phó chúc cho người khác sợ không sanh tín, cho nên tác thần thông phát ra ánh sáng cho đến chỉ bày khiến biết Thế tôn có thần thông rộng lớn, từ lâu không vọng ngữ, phát ra lời nói chắc thật khiến sanh tin hiểu mới dùng lời phó chúc, cho nên có phẩm này.
2. Y trong khoa thứ hai, trên một phẩm đầu là phần tựa, kế mười chín phẩm làm chánh tông xong, từ dưới còn tám phẩm thuộc phần lưu thông. Thần lực, Chúc Lụy, Khuyên tin, Phó trao, sáu phẩm sau vâng mạng lưu thông, thế đồng với trước, dưới không nói lại.
3. Luận nói năng lực tu hành có bảy, thứ hai nói lực có ba thứ pháp môn, trong phẩm thần lực thị hiện nói lên Đức Thế tôn có Thần lực này, năng nói pháp đều là thật không luống dối, khuyên bày chúng sanh nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Phân thân năng tịch đều gọi là Như-lai, diệu dụng vô phương gọi là thần, uy thế năng dẹp trừ gọi là lực. Phân thân đồng Phật đều hiện diệu dụng chẳng thể sánh bằng, uy thế năng trừ dẹp tà kiến không tin để khuyên sanh tin. Phẩm Như-lai Thần lực này rộng nêu rõ nên gọi là Như-lai Thần lực.
III. Giải đáp các vấn nạn: Hỏi: Các Bồ-tát từ đất vọt hiện, Phật từng hóa độ, đâu cần hiện thần thông tin sanh ư? Đáp: Dũng xuất tin từ lâu không cần thần thông, khuyến phát sơ cơ phải hiện thần lực. Lại tin có cạn sâu giao phó có ngặn nhẹ, nếu không hiện thần thông để trao, sợ sự trao còn nhẹ, nếu không lại khiến tin sâu thì kia tin còn cạn, pháp khó mà dễ hành cho nên hiện thần lực.
Hỏi: Vì sao kinh này phó chúc cần phải hiện thần lực, các kinh khác phó chúc không có việc này ư?
Đáp: Kinh này bí mật hội hai thừa về tông, các kinh khác không như vậy nên hiện thần lực.
Kinh: “Bấy giờ các vị Bồ-tát trong ngàn thế giới cho đến mà cúng dường đó”.
Tán: Phẩm văn chia làm hai:
  1. Bồ-tát từ đất hiện lên thỉnh.
  2. Như-lai giao phó.
Đây là phần đầu có hai: Nêu và giải thích. Chẳng những muốn cứu giúp người mà còn tự hành, vì thế thỉnh nên nói, không vậy cũng nói lại là vô dụng. Chân là chân thật, tịnh là ly nhiễm, đại pháp gọi là Nhất thừa thân cung kính, lời giảng nói, thuật tâm ba phen thỉnh.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến hiện đại thần lực”.
Tán: Văn dưới có hai: Văn xuôi và kệ tụng. Trong Văn xuôi lại có hai: Trước hiện thần lực sau nói phó chúc. Văn đầu có bảy:
  1. Nêu hiện thần lực.
  2. Xuất tướng lưỡi phát ra ánh sáng.
  3. Tằng hắng búng ngón tay.
  4. Đất đều rung chuyển.
  5. Kia thấy qui y.
  6. Hiệp lọng thành trướng.
  7. Thế giới thông làm một.
Đây là phần đầu. Lược làm ba nghĩa cho nên hiện thần lực:
1. Vì nói lên thắng đức của kinh để khuyên lưu thông, dưới văn xuôi nói Phật bảo Bồ-tát Thượng Hạnh cho đến.
2. Vì vui chúng sanh khiến sanh tín, tức một hàng tụng đầu.
3. Thấy các Bồ-tát phát nguyện lưu thông thuận tâm Chư Phật cho nên hiện thần lực, là tụng thứ tư.
Kinh: “Xuất bày tướng lưỡi rộng dài cho đến phát ra vô lượng ánh sáng”.
Tán: Dưới đoạn thứ hai, xuất tướng lưỡi phát ra ánh sáng có ba:
  1. Đức Thích-ca xuất tướng lưỡi phóng hào quan.
  2. Phân thân Phật xuất tướng phát ra ánh sáng.
  3. Nêu thời gian.
Đây là hai phần đầu.
Cổ đức tướng truyền có bảy thần lực:
  1. Xuất tướng lưỡi.
  2. Phát ra ánh sáng.
  3. Tắng hắng.
  1. Búng ngón tay.
  2. Đất rung chuyển.
  3. Hợp phướn lọng.
  4. Biến cõi.
Nay gia thêm thành tám, nghĩa là thị hiện, tức khiến phương khác xa thấy nơi đây. Trong sáu thông ban đầu là thần cảnh thông có hai: Năng biến và năng hóa. Năng hóa nghĩa là không mà bỗng nhiên có, nghĩa là hóa thân hóa ngữ hóa  cảnh.
Năng biến nghĩa là chuyển đổi chất cũ xưa, đây gọi là mười tám biến:
1. Sấm động, đất sáu thứ động cho đến
2. Xí nhiên: Thân trên xuất nước dưới xuất lửa cho đến
3. Lưu bố: Phát ra ánh sáng dần chiếu khắp xoay chuyển   v.v…
4. Thị hiện: Thị hiện các thứ sự vật của các thế giới phương khác đến v.v… khiến các chúng hội thẩy đều xa thấy.
5. Chuyển biến: Chuyển đất thành vàng, nước thành sữa cho đến
6. Vãng lai: Ở tất cả mọi nơi chuyển thân qua lại tự tại không ngăn ngại.
7. có vào.
8. Duỗi ra. Có khả năng co lớn vào nhỏ, duỗi nhỏ thành lớn, nhét một hạt cải núi Tu-di, triển chuyển một sợi lông khắp nơi pháp giới v.v…
9. Muôn tượng nhập thân, năng dùng các thế giới nhập vào trong sợi lỗ chân lông của thân cho đến
10. Đồng loại cùng đến, ứng vật hiện hình vì nói diệu pháp, xong việc lại ẩn mất khiến không thấy biết.
11. Hiển.
12. Ẩn: Trong đại chúng ẩn mất tự thân lại khiến hiển hiện.
13. Sở tác tự tại: Nghĩa là chuyển hữu tình khiến kia qua lại và tự thân cho đến nói năng im lặng, tất cả đều được tự tại.
14. Chế ngự thần thông khác: Nghĩa là Phật, Nhị thừa, Bồ-tát Thánh phàm, theo thứ bậc dần đều năng chế hục các hiện thần thông  ở vị dưới.
15. Năng thí biện tài thí bảy, bốn biện tài.
16. Năng thí ức niệm: Đối với pháp thất niệm năng thí ức niệm.
17. Năng thí an lạc: Vì nói pháp cho đến cứu trừ nguy hiểm tật dịch tai hoạ, được các sự an lạc.
18. Phát ra ánh sáng minh lớn: Năng phóng một luồng ánh sáng
chiếu sáng vô lượng cõi nước làm sự lợi lớn.
Phẩm này có tám thần lực:
1. Xuất tướng lưỡi là thứ tám duỗi ra.
2. Phát ra ánh sáng là thứ mười tám phát ra ánh sáng rực rỡ.
3. Tằng hắng đây tức năng hóa, không mà bỗng có cho nên chẳng phải mười tám biến; hoặc đây.
4. Búng ngón tay là thứ mười ba sở tác tự lại.
5. Đất động là thứ một rung chuyển,
6. Khiến phương khác xa thấy là thứ tư thị hiện.
7. Hợp phướn lọng là thứ bảy thu vào.
8. Thông làm một cõi là thứ năm chuyển biến, chuyển nhiều làm một, chuyển uế thành tịnh. Nay Phật xuất bày tướng lưỡi: Luận nói khiến nhớ nghĩ tin lời Phật nói. Như Phật vào thành Bà la khất thật không được, sau ra thành rồi gặp một người nữ cúng thí Đức Phật bát cháo gạo hẩm, Đức Phật liền thọ ký cho bà sẽ đắc quả, bấy giờ có Bà-la-môn sanh lòng không tin sâu, Đức Phật liền xuất bày tướng lưỡi chỉ cho họ mới tin Phật thọ ký không luống dối. Phàm lưỡi đến mũi đều còn không vọng ngữ huống chi lại che phủ cả mặt, như Kinh nói rộng. Đến trời Phạm Thế: Là có ngữ biểu, cõi trên nữa không có ngữ nên lại không đến trên. Phát ra ánh sáng: Là cảnh báo người có duyên phá trừ chỗ tối tăm si ám. Mỗi một lỗ chân lông: là tiêu biểu kinh này từ bi Nhất thừa bình đẳng nói lên đều đầy đủ. Vô số ánh sáng: Đầy đủ muôn đức, trùm khắp mười phương. Do Đa-bảo Phật đã chứng kinh xong, lại không hiện thông, chỉ hóa Phật thị hiện.
Kinh: “Lúc Đức Phật Thích-ca cho đến hoàn nhiếp tướng lưới”.
Tán: Đây nói về thời gian. Người ngu tâm mê cho là thời ít, người trí tình hiểu đủ trăm ngàn năm, chuyển đổi tâm kia khiến kia không biết, lại báo hóa lợi ích có sai khác, Thánh phàm thấy có sai khác. Lại Phật hiện thần lực thật sự cả trăm ngàn năm, mà thần lực khiến cho chúng sanh không biết, chỉ vì rút ngắn không kéo dài thời gian làm luận, chỉ nói Thế tôn tám mươi tuổi nhập diệt, lại chúng Thánh phàm nghe tuy đồng, mà trải qua thời gian chứng đạo được ngộ hoàn toàn sai khác tức cũng không trái nhau.
Kinh: “Đồng thời tằng hắng cho đến đất đều sáu điệu vang động”.
Tán: Đoạn thứ ba tằng hắng búng ngón tay, và đoạn thứ tư động đất. Luận chép: Tằng hắng là nói kệ khiến người nghe, đã nghe tiếng rồi tu hành như thật không buông lung. Luận nói búng ngón tay khiến
người giác ngộ khiến người tu hành giác ngộ, tiến tu. Đất động: Là cảnh tỉnh chúng sanh trong mười phương chưa phát tâm khiến họ phát tâm cầu đạo.
Kinh: “Chúng sanh trong đó cho đến Mâu-ni Phật”.
Tán: Thứ năm, kia thấy qui y, có ba:
  1. Tự thân thấy sanh vui.
  2. Âm thanh giữa hư không dạy bảo.
  3. Y lời dạy kính lễ.
Kinh: “Dùng các thứ hoa hương cho đến như một cõi Phật”.
Tán: Thứ sáu, hợp phướn lọng thành màn trướng và thứ bảy, thế giới thông làm một. Trước rải hoa sau thành màn trướng. Tán: Hoa là nghe Kinh Pháp Hoa. Hợp thành phướn lọng: Là tam thừa đầu sai khác sau thành một, che chở tất cả chúng sanh thế giới này, thế giới thông làm một: Là tâm trí vô ngại tịnh độ không sai khác chỉ có Nhất thừa không có thừa nào khác. Trên tiêu biểu thứ tám thần lực khác nhau luận chỉ giải ba: là xuất tướng lưỡi, búng ngón tay, và tằng hắng, Kinh còn lại năm tướng mà chẳng thù thắng hơn nên không giải thích, ba thứ phần nhiều các kinh không theo nghĩa thú thắng giải thích. Lại ba thứ này chính là dụng phó chúc, do đó riêng giải thích, các thứ khác chung chẳng phải chánh nên không nói.
Kinh: “Bấy giờ Đức Phật bảo cho đến như lời nói mà tu hành”.
Tán: Dưới nói phó chúc có năm, trong đây có bốn:
  1. Kết thúc thần lực vô lượng khó nghĩ bàn.
  2. Vì chúc Lụy nói đức khó cùng tận.
  3. Hiển bốn thứ đều là kinh này nói:
    1. Đạo quyền thật.
    2. Thần thông lực.
    3. Lý tạng của Như-lai.
    4. Trí tuệ sự sâu.
    5. Kết thành khuyến thọ.
Kinh: “Ở cõi nước nào cho đến mà nhập Niết-bàn”.
Tán: Thứ năm, khuyên tùy hỷ cúng dường. Trước nêu sau giải thích. Giải thích do bốn nghĩa cho nên phải cúng dường. Pháp thân diệu lý trong kinh này đầy đủ, nên chỗ tích chứa Đạo gọi là đạo tràng. Nơi chứng đắc Bồ-đề, nơi nói pháp, nơi Niết-bàn là gọi chung Đạo tràng. Dưới là ba giải thích riêng.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến hiện vô lượng thần lực”.
Tán: Dưới có mười sáu hàng tụng chia làm hai: bốn hàng đầu
tụng thần lực, mười hai hàng sau tụng phó chúc. bốn hàng đầu có ba: một hàng tụng nêu ý hiện, hai hàng tụng năm thần lực, một hàng tụng thuận tâm Phật.
Kinh: “Vì chúc Lụy kinh này cho đến chẳng thể đặng ngằn mé”.
Tán: Dưới mười hai hàng tụng chúc Lụy chia làm ba: hai hàng nêu vô cùng, tám hàng rưỡi riêng khen ngợi, một hàng rưỡi tụng kết khuyến. Đây là hai hàng đầu. Khen ngợi phước của người trì kinh để khuyên mọi người.
Kinh: “Người hay trì Kinh này cho đến rốt ráo trú Nhất thừa”.
Tán: Đây riêng khen ngợi chia làm năm: một hàng rưỡi tụng thấy Phật, hai hàng khen ngợi vui mừng, một hàng đắc pháp, một hàng rưỡi tụng năng giảng nói, hai hàng rưỡi tụng năng làm lợi ích. Nói nghĩa các pháp là nghĩa vô ngại, danh tự là pháp vô ngại. ngôn từ là từ vô ngại. nhạo nói là biện tài vô ngại. Tứ vô ngại đầy đủ như gió không gì ngăn ngại.
Kinh: “Cho nên người có trí cho đến quyết định không có nghi”.
Tán: Dưới kết khuyên.
--------------------------
PHẨM CHÚC LỤY
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này có hai:
1. Theo thứ tự phẩm kinh thời nay thì phó chúc có hai: Trên đã dùng thần lực khiến tín phó chúc, đây là dùng tay xoa đầu khiến hành phó chúc, cho nên có phẩm này.
2. Y luận này phẩm này nói sau phẩm Phổ Hiền nói, cho nên luận nói hộ pháp lực nghĩa là Phẩm Phổ Hiền và phẩm thị hiện ở sau. Đây dùng tay xoa đầu Phật tự hộ pháp khiến kia lưu thông nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Chúc là giao gửi, Lụy là chồng chất, lần thứ hai thứ ba giao giữ khiến cho kia hộ trì nên gọi là phẩm Chúc Lụy.
III. Giải đáp các vấn nạn: Hỏi: Phật dùng một tay xoa đầu chung các Bồ-tát, hay một tay xoa đều từng vị Bồ-tát?
Đáp: Một tay xoa một lúc, vì thần lực lớn, đều dùng một tay xoa mà diệu dụng cùng khắp, nhưng các Bồ-tát đồng thấy riêng xoa, do đó thâm tâm y lời nói lãnh thọ.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật Thích-ca cho đến làm cho lợi ích rộng lớn”.
Tán: Phẩm văn chia làm bốn:
  1. Như-lai phó chúc.
  2. Bồ-tát kính nhận.
  3. Khiến tháp hoàn trở lại như cũ.
  4. Chúng đều vui mừng.
Trong phần đầu có ba:
a. Ba nghiệp gia trì phó chúc khiến hành kinh này.
b. “Nếu có chúng sanh không tin thọ cho đến” nếu không tin thọ kinh này khiến hành các kinh.
c. Nếu Các thầy có thể như vậy cho đến kết thành khuyên ý vì báo ân Phật. Văn đầu lại có ba: Trước dùng tay xoa đầu phó chúc khiến lưu hành rộng làm lợi ích, kế lại xoa đầu phó chúc khiến thọ trì, khiến khắp nghe biết, sau giải thích lý do khuyên khiến giảng nói. Đây là phần đầu. Hai đoạn đầu dùng thân ngữ gia trì, một đoạn sau ý nghiệp gia trì. Đầu tiên dùng tay phải. Xoa là thị hiện điềm rất tốt lành. Ngài Long Thọ giải
thích rằng: Các kinh chẳng bí mật, chỉ có Pháp Hoa mới bí mật nói Nhị thừa thành Phật. Chỉ có đại Bồ-tát mới có khả năng dụng hành bí mật đó, như vị thấy thầy thuốc mới có khả năng dùng độc.
Kinh: “Đức Phật ba phen xoa đảnh như vậy cho đến khắp đều được nghe biết”.
Tán: Đây lại dùng tay xoa đầu phó chúc khiến thọ trì khiến khắp nơi đều nghe biết. Đến ba phen xoa tức khiến họ ân cần thọ pháp đều ba phen, pháp truyền đèn ắt là trọng trách.
Kinh: “Vì sao! cho đến trí tuệ tự nhiên”.
Tán: Dưới giải thích lý do khuyên khiến giảng nói. Ý nghiệp gia trì có ba:
1. Nêu rõ đã là ba hạng bất gốc lành đã hết thì năng thí trí tuệ.
2. Nói lên Phật có khả năng làm đại thí chủ khuyên tùy theo chớ sẻn tiếc.
3. Dạy dùng thí hóa khiến đắc Phật tuệ. Đây là phần đầu. Từ bi nên không sân, ban vui nên cứu khổ, không sẻn tiếc nên không tham, đâu từng tiếc pháp, không còn sợ sệt, không si nên quyết định nói, năng cùng trí Phật chủng trí, Như-lai trí Nhất-thiết-trí. Hai trí này nhậm vận vô Sư mà đắc gọi là tự nhiên trí, hoặc hai trí trước là hữu vi trí, một trí sau là vô vi trí nên gọi là tự nhiên trí.
Kinh: “Như-lai là vị đại thí chủ cho đến chớ sanh lòng bỏn sẻn”.
Tán: Đây nói lên Đức Phật năng làm đại thí chủ khuyên tùy theo chớ sẻn tiếc. Thành Thật luận chép: Sẻn có năm thứ:
  1. Trú xứ.
  2. Nhà.
  3. Thí.
  4. Xưng tán.
  5. Pháp.
Sẻn trú xứ là: Ở nơi trú xứ mình sanh bỏn sẻn nghĩ rằng: Ta riêng ở đây khiến ta tự tại không dùng của người khác. Đây lại có năm thứ: 1. Ở đời vị lai các Tỳ-kheo thiện không muốn người khác đến. 2. Ở đời vị lai các thiện Tỳ-kheo sân nhuế không vui. 3. Muốn khiến sớm đi. 4. Cất giữ tăng thí vật không muốn cho. 5. Đối với tăng thí vật sanh tâm ngã sở chấp làm ân đức. Người ấy đối với người khác đồng có trong pháp còn không thể bỏ, huống chi tự thân có các vật, cho nên đối với sự giải thoát trọn không có phần.
Bỏn sẻn nhà: Trở về nhà nghĩ gì bỏn sẻn rằng ta ở nhà đây thường
hay ra vào một mình không dụng của các người khác, dù có các  người khác khiến ta trên hết, đây cũng có năm: 1. Người tại gia có việc không lành cùng đồng lo. 2. Kia có việc lợi cùng đồng vui. 3. Vui người tại gia có sự thù thắng giàu sang. 4. Dứt trừ thọ khiến không được thí. 5. Sanh trong nhà kia làm quỉ trong hầm xí và các chỗ  ác.
Sẻn tiếc thí cho: Đối với người khác thí vật sanh tướng sẻn tiếc rằng: Khiến ta ở đây một mình được thí vật các người khác không được, dù khiến cho chớ lại hơn ta, đây cũng có năm: 1. Vật tư Sanh thường thiếu thốn. 2. Khiến người thí không được phước. 3. Khiến người thọ nhận không được tài lợi. 4. Chê mắng người hiền thiện. 5. Tâm thường lo buồn nên sẽ đọa địa ngục, dù sanh cõi trời cõi người cũng thường ở chỗ nghèo hèn.
Sẻn tiếc khen ngợi: Đối với khen ngợi người khác sanh tâm sẻn tiếc khiến riêng khen ngợi ta chớ hơn ta, đây cũng có năm: 1. Nghe khen ngợi người khác tâm thường lo lắng xao động. 2. Mắng nhiếc người tốt.
Tự cao khinh người. 4. Thường mang tiếng xấu. 5. Ở đời vị lai trong trăm ngàn đời không có tịnh tâm.
Sẻn tiếc pháp: Ở trong chánh pháp nghĩ gì sẻn tiếc rằng: Khiến ta riêng biết mười hai bộ kinh đừng để cho người khác biết giả như có họ biết cũng đồng hơn ta. Lại tự biết nghĩa bí mật mà không nói, đây lỗi có bảy: 1. Lúc sanh thường bị mù. 2. Thường ngu si. 3. Sống gặp nhiều oán thù không được tự tại. 4. Lui sụt mất mầu Thánh. 5. Kẻ thù của Chư Phật. 6. Người tốt xa lìa. 7. Không việc ác nào không làm. Do có các lỗi lầm như vậy nên Phật khuyên chớ có sẻn tiếc. Đức Thế tôn năng hành ba thứ xả, ban cho chúng sanh làm Đại thí chủ cho nên phải học theo ta.
Kinh: “Ở đời vị lai cho đến đắc trí tuệ Phật”.
Tán: Dạy dùng thí giáo hóa khiến được trí tuệ Phật”.
Kinh: “Nếu có chúng sanh nào cho đến chỉ dạy cho được lợi  ích vui mừng”. Tán: Nếu không tin Kinh này khiến thực hành các kinh khác, nghĩa là gặp Nhị thừa giáo hóa pháp mầu này, nếu họ không tin lại nói Bát-nhã pháp Đại thừa thâm diệu để điều phục tâm kia, sau giáo hóa pháp này.
Kinh: “Nếu Các thầy được như thế cho đến là đã báo đáp được ân Phật”.
Tán: Kết thành ý khuyên, ý Phật muốn cho người thành Phật nên lập ra các môn.
Kinh: “Lúc ấy các vị đại Bồ-tát cho đến xin Thế tôn chớ có
lo”.
Tán: Đây đoạn thứ hai Bồ-tát kính thọ chia làm hai đoạn, ba nghiệp kính lãnh.
Kinh: “Khi ấy cho đến được hoàn như cũ”.
Tán: Đoạn lớn thứ ba khiến tháp trở lại như cũ. Từ đây về sau không còn trở lại cho nên biết phẩm này nên ở cuối kinh.
Kinh: “Phật nói lời đó xong cho đến đều rất vui mừng”.
Tán: Đoạn lớn thứ tư: Chúng đều vui mừng nghe khen ngợi pháp thù thắng, giao phó dặn dò do đó vui mừng, không phải thấy bảo các hóa Phật trở lại mà vui mừng. Y theo đây cho nên hội tòa giải tán. Bồ- tát Thiên Thân Giải thích kinh Già-da nói đảnh, nói vui mừng vâng hành có ba nghĩa: 1. Chủ nói thanh tịnh, do đối các pháp được tự tại. 2. Sở pháp nói thanh tịnh, do như thật chứng biết thanh tịnh pháp thể. 3. Nương theo nói pháp được quả thanh tịnh, do đắc cảnh giới thanh tịnh mầu nhiệm. Như kinh đều rất vui mừng tín nhận vâng hành.
------------------------
PHẨM DƯỢC VƯƠNG BỒ-TÁT BỔN SỰ
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này: hai phẩm trên đã nêu rõ trao phó, sáu phẩm dưới đây vâng lệnh lưu thông. Căn cứ luận này văn chia làm năm. Dược vương năng lực tự hành khổ hạnh để lưu thông, Quán Âm, Đà-la- ni hộ chúng sanh các nạn lực để lưu thông, Diệu trang nghiêm vương công đức thắng lực để lưu thông, Phổ Hiền dùng năng lực chúc Lụy hộ pháp để lưu thông. Chúc Lụy đã trình bày ở trước, hộ pháp chỉ có một, Dược vương lúc này tuy tại hội, mà nói quá khứ của ngài từng đốt thân đốt cánh tay tự hành khổ hạnh để lưu thông chánh pháp, lợi ích cho hội chúng nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Dược có công năng trừ bệnh tật, vương có uy lực tự tại, bổn là do nhân xưa, sự là thể nghiệp. Nay đây Bồ-tát nguyện làm cây thuốc chữa bệnh tật bát trần, dứt bệnh thất lậu trầm kha thế lực vô song uy thần hiếm thấy cho nên gọi là Dược vương Bồ-tát. Nay trong phẩm này trình bày nhân việc tu hành xưa để lợi ích chúng hội bấy giờ, gọi là Phẩm Dược vương Bồ-tát bổn sự.
III. Giải đáp chướng nạn: Hỏi: Các Bồ-tát đều có nguyện lực thần công đồng nhau, vì sao chỉ riêng đây gọi là Dược vương?
Đáp: Luận nói công căn cứ hành quả thật không sai khác, nguyện lợi tu nhân xưa cũng ít khác, chỉ như cứu chúng sanh nhổ trừ khổ hạnh nguyện Bồ-tát đều đồng. Chỉ có Quán Âm được gọi là “cứu khổ” là Dược Vương đâu ngăn ngại hạnh nguyện thù thắng mà có tên riêng.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài tú vương Hoa cho đến nghe đều vui mừng”. Trong phẩm này văn chia làm sáu:
1. Tú Vương Hoa hỏi.
2. Như-lai đáp.
3. “Nếu lại có người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên cho đến” là khen ngợi công đức mầu nhiệm của Kinh.
4. “Tú Vương Hoa! Nếu có người nghe Phẩm Dược Vương Bồ-tát Bổn Sự này cho đến” là khen ngợi trao phó thù thắng.
5. Chúng đương thời được lợi ích.
6. Đa-bảo khen ngợi. Hai đoạn này đều ở cuối phẩm. Đây đầu văn có ba: Hỏi, tiếp thỉnh, sau biện rõ ý thỉnh. Tú Vương Hoa hỏi: là
đời trước đến nay trì Kinh Pháp Hoa như Vương tự tại. Cho nên Kinh Bảo Vân nói: Bồ-tát có mười pháp gọi là đại Dược thọ. Thí như Dược thọ tên gọi là Thiện Kiến. Nếu có chúng sanh được gốc rễ cành lá hoa quả cây kia, cũng có thấy sắc nghe hương nếm vị được xúc chạm, gặp mười pháp này bệnh đều trừ khỏi. Bồ-tát cũng vậy. Từ sơ phát tâm vì các chúng sanh có các bệnh phiền não, có nương thí giới nhẫn cần định tuệ mà được nuôi sống, có nương thấy pháp, có nghe tiếng có biết vị có đồng sự mà được nuôi sống. Bồ-tát thuận theo nơi đáng dẫn dắt lợi lạc nên nói Bồ-tát tên là Dược Thọ, năng trừ bệnh phiền não được nuôi sống tuệ mạng. Du hóa là phương pháp thí hóa lợi ích giúp lợi chúng sanh. Có bao nhiêu: là hỏi khổ hạnh sai khác, đốt thân đốt tay là cúng dường chánh pháp.
Kinh: “Lúc đó Đức Phật bảo cho đến nói Kinh Pháp Hoa”.
Tán: Dưới Như-lai đáp có bốn:
  1. Trình bày thời gian.
  2. Nêu rõ Phật.
  3. Hiển tu hành.
  4. Hợp xưa nay.
Đây là hai phần đầu. Trong nêu rõ Phật có bảy: 1. Danh hiệu. 2. Quyến thuộc. 3. Trí tuổi thọ. 4. Không có ác. 5. Cõi tướng. 6. Đài thọ trang nghiêm. 7. Kinh pháp Phật nói.
Kinh: “Ngài Nhất thiết chúng sanh cho đến sắc thân Tam- muội”.
Tán: Tu hành có ba:
Tinh Tấn đắc định.
Cúng dường Phật pháp.
Cúng dường Xá-lợi.
Đây là phần đầu. Đắc định đây rồi năng tùy lạc ưa hiện thân, sơ địa liền chứng đắc, bát địa tự tại; trong thập bình đẳng năng tùy sở thích của chúng sanh mà thị hiện, sơ địa liền đắc. Kinh Vô Cấu Xứng cũng có nói Bồ-tát này.
Kinh: “Đắc Tam-muội đó rồi cho đến và Kinh Pháp Hoa”.
Tán: Cúng dường Phật pháp có bảy:
  1. Hỷ niệm cúng dường.
  2. Nhập định khởi thần thông.
  3. Lại tư duy không đủ.
  4. Đốt thân cúng dường.
  5. Phát ra ánh sáng chiếu xa.
  1. Chư Phật đồng khen ngợi.
  2. Thời gian đốt thân. Đây là phần đầu.
Kinh: “Tức thời nhập Tam-muội đó cho đến để cúng dường Phật”.
Tán: Hai là người nhập định khởi thần thông có ba: Nhập định mưa hoa, tiếp mưa chiên đàn, sau mưa hương Hải thử ngạn chiên đàn.
Kinh: “Cúng dường thế đó rồi cho đến dùng thân cúng dường”. Lại tư duy không đủ.
Kinh: “Liền uống các chất thơm cho đến mà tự đốt thân”.
Tán: Đốt thân cúng dường có ba:
  1. Uống dầu thơm.
  2. Nêu năm tháng.
  3. Chánh đốt thân.
Kinh: “Ánh sáng chiếu khắp cho đến các đức Như-lai”.
Tán: Trong đây có hai: Thứ năm ánh sáng chiếu xa, thứ sáu Chư Phật đồng khen. Trong đồng khen có ba: Trước nêu chân thật, tiếp so sánh khen ngợi, sau kết thành khen ngợi.
Kinh: “Các Đức Phật nói lời đó rồi cho đến qua lúc sau đó thân Bồ-tát mới hết”.
Tán: Thứ bảy thời gian có hai: Trước im lặng sau nêu thời gian.
Kinh: “Ngài Nhất thiết chúng sanh cho đến bỗng nhiên ngồi xếp bằng hóa sanh ra”.
Tán: Nêu rõ trong tu hành. Nói cúng dường Xá-lợi có mười bốn:
  1. Nơi sanh.
  2. Nói pháp.
  3. Khải bạch.
  4. Đến chỗ Phật.
  5. Phó chúc.
  6. Nhập diệt.
  7. Xây tháp.
  8. Tư duy bảo.
  9. Đốt cánh tay.
  10. Lợi ích.
  11. Chúng sanh bi não.
  12. Tự thệ.
  13. Nguyện mãn.
  14. Cảm sanh ứng hiện điềm lành. Đây là phần một.
Kinh: “Liền vì vua cha cho đến bỏ thân thể đáng yêu”.
Tán: Thứ hai: Là nói pháp.
Kinh: “Nói kệ đó rồi cho đến cúng dường Phật rồi”.
Tán: Thứ ba: Khải bạch: Đầu bạch việc trước, sau bạch đến thỉnh. Đầu văn có ba: 1. Luận Phật hiện tại. 2. Đắc tổng trì. 3. Nghe thắng pháp. Chân Ca la: Câu xá luận quyển mười hai nói: Số có sáu mươi bỏ mất còn lại tám, lấy mười dần dần tích chứa đến mười sáu gọi là căng yết la, đến mười bảy gọi là Đại căng yết la, mười tám gọi là A- súc-bà, hai mươi mốt gọi là Đại-a-súc-bà. Đây tổng ba thứ: tức là mười sáu, mười tám hai mươi vậy.
Kinh: “Thưa xong liền ngồi cho đến vẫn còn ở đời”.
Tán: Thứ tư: Đến chỗ Phật có ba: Trước đến, tiếp khen ngợi, sau bạch.
Kinh: “Bấy giờ, đức Nhật Nguyệt cho đến bao nhiêu ngàn tháp”.
Tán: Thứ năm: Phó chúc có bốn:
  1. Xướng diệt.
  2. Trao pháp.
  3. Trao cõi.
  4. Trao thể.
Y Tăng kỳ luật nói: Có Xá-lợi gọi là Tháp bà, không có Xá-lợi gọi là Chi đề. Trong Du-già nói: Hoặc có Xá-lợi gọi là Tốt đổ ba, nếu không có Xá-lợi chỉ gọi là Chế đa.
Kinh: “Đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh cho đến nhập Niết-bàn”.
Tán: Thứ sáu: Nhập diệt. Kinh Hoa Nghiêm nói: Rốt ráo Phật sự rồi thị hiện nhập đại Niết-bàn có mười nghĩa:
  1. Nêu tất cả hành đều vô thường.
  2. Nêu tất cả pháp hữu vi chẳng an ổn.
  3. Niết-bàn hướng về chỗ an ổn nhất.
  4. Nêu rõ bát Niết-bàn xa lìa tất cả sự sợ hãi.
  5. Do các trời người ưa đắm sắc thân, nêu rõ sắc thân vô thường là pháp hoại diệt, khiến kia cầu trụ pháp thân thanh tịnh.
  6. Nêu vô thường sức mạnh không thể chuyển.
  7. Nêu pháp hữu vi không tự tại.
  8. Pháp ba cõi thảy đều như vật bằng đất không vững chắc.
  9. Bát Niết-bàn là chân thật nhất không thể hoại.
  10. Bát Niết-bàn xa lìa sanh tử chẳng phải khởi diệt. Dùng mười nghĩa này thị hiện Niết-bàn.
Kinh: “Lúc đó ngài Nhất Thiết cho đến treo các linh báu”
Tán: Xây tháp có ba phần: Trước nói thương cãm luyến tiếc, kế nói đốt thân, sau nói xây tháp.
Kinh: “Bấy giờ ngài Nhất Thiết cho đến Xá-lợi của đức Nhật Nguyệt Tịnh Minh tức Phật”.
Tán: Tư duy bảo có hai: Trước tư duy sau bảo.
Kinh: “Nói xong liền ở trước cho đến hai tay tự nhiên hoàn phục”.
Tán: Trong đây có năm: Đốt tay. Lợi ích. Chúng sanh bi não. Tự thệ. Nguyện mãn.
Kinh: “Đó là do Bồ-tát cho đến được việc chưa hề có”.
Tán: Thứ mười bốn Cảm sanh thoại ứng có ba:
  1. Lý do.
  2. Thoại ứng.
  3. Được việc chưa hề có.
Kinh: “Đức Phật bảo ngài Tú Vương Hoa cho đến mà cúng dường”.
Tán: Đoạn lớn thứ hai trong Như-lai đáp phần, thứ tư hợp xưa nay có ba: Trước hợp, kế khen ngợi, sau kết.
Kinh: “Nếu lại có người cho đến phước đó rất nhiều”.
Tán: Đoạn lớn thứ ba khen ngợi công đức mầu nhiệm ưa kinh có bốn:
  1. So sánh hơn.
  2. “Thí như nói” so sánh dụ hơn (thắng).
  3. “Kinh này năng cứu hộ cho đến” tác dụng thù thắng.
  4. “Nếu người nào được nghe kinh Pháp Hoa này hoặc tự biên chép cho đến” vô biên thù thắng. Đây là phần đầu.
Kinh: “Tú Vương Hoa cho đến là vua trong các kinh”.
Tán: So sánh dụ thắng, văn có mười:
  1. Sâu rộng thù thắng.
  2. Cao hiển thù thắng.
  3. Liễu đạt thù thắng.
  4. Trừ hoặc thù thắng.
  5. Uy thế thù thắng.
  6. Tự tại thù thắng.
  7. Xuất sanh thù thắng.
  8. Khế lý thù thắng, hoặc gọi nhân pháp thù thắng.
  9. Hai lợi thù thắng.
10. Đức viên mãn thù thắng.
Khế lý thù thắng, trong đó có pháp và người, chấp người này văn nên sau cùng nói, vì tiện nên đây nói. Tu-đà-hoàn gọi là dự lưu, là dự vào dòng Thánh. Tư-đà-hàm gọi là Nhất vãng lai, chỉ có một phen sanh trở lại sanh tử liền thành ứng quả gọi là Nhất-lai. A-na-hàm gọi là Bất hoàn, cõi nghiệp Dục hết thì không còn lại sanh trong cõi Dục nên gọi là Bất hoàn.
Kinh: “Tú Vương Hoa cho đến đầy đủ chỗ mong cầu”.
Tán: Tác dụng thù thắng có ba: Pháp, Dụ và Hiệp. Đây là phần đầu có ba câu: Câu đầu năng trừ hoặc nghiệp, tiếp năng trừ quả khổ, sau năng mãn thiện nguyện, lại phát tâm tu hành đắc quả chia làm ba, lại tổng biệt ly ác nhiếp thiện chia làm ba.
Kinh: “Như ao nước trong mát cho đến như đuốc xua tan bóng tối”.
Tán: Đây dụ nói có mười hai:
  1. Nguyện mãn.
  2. Thành đạo.
  3. Biết hổ thẹn.
  4. Có được  đạo sư.
  5. Đắc trở về.
  6. Vượt sanh tử.
  7. Trừ phiền não.
  8. Đắc trí tuệ.
  9. Đạt được Thánh tài.
  10. Có vây theo.
  11. Biết đảo châu báu.
  12. Phá si tới.
Tùy nghĩa ứng phối hợp ba câu trước.
Kinh: “Kinh Pháp Hoa này cho đến có thể mở trói sanh tử”.
Tán: Đây hợp nói lìa bệnh đâu trừ các khổ làm câu đầu, mở trói sanh tử là trừ hoặc nghiệp làm câu thứ hai, không hợp đầy đủ nguyện. Hoặc trừ khổ đương lai, hiện khổ, khổ nhân như thứ lớp phối hợp.
Kinh: “Nếu người được nghe cho đến cũng giống vô lượng”.
Tán: Vô biên thù thắng có hai:
1. Nghe biên chép công đức vô biên.
2. Cúng dường công đức vô biên. Đắc vô biên biên, không đắc hữu biên cho nên gọi Phật không đắc.
- Kinh: “Tú Vương Hoa cho đến không còn thọ lại nữa”.
 
- Tán: Đoạn lớn thứ tư, khen ngợi thù thắng phó chúc có bảy:
1.      Nêu nghe thù thắng.
2.      Chuyển thân nữ.
3.      Sanh tịnh độ.
4.      Tùy hỷ thâu hoạch phước.
5.      Chính nêu phó chúc.
6.      Khiến giữ gìn.
7.      Khuyên cúng trì.
Đây là hai phần đầu.
- Kinh: “Nếu sau khi Như-lai diệt độ cho đến không có ai bằng ông”.
- Tán: Sanh tịnh độ có năm:
1.      Sanh tịnh độ.
2.      Lìa phiền não.
3.      Đắc thần thông.
4.      Thấy nhiều Phật.
5.      Phật xa khen ngợi.
Trong Phật xa khen ngợi có năm:
  1. Khen ngợi phước vô biên.
  2. Khen ngợi đức vô biên.
  3. Năng phá phiền não.
  4. Cùng chung bảo hộ.
  5. Nêu phương tiện trên hết nhiếp dẫn.
Nói trí tuệ Bồ-tát không ai bằng ông.
Kinh: “Tú Vương Hoa cho đến như trên đã nói”.
Tán: Tùy hỷ thâu hoạch phước.
Kinh: “Tú Vương Hoa! Vì thế cho đến không già không chết”.
Tán: Trong đây có hai: Chánh nêu phó chúc và Khiến giữ gìn. Trong giữ gìn: Trước nêu sau giải thích. Năm trăm năm sau: Kinh Đại Tập nói: Sau khi Phật diệt độ, năm trăm năm đầu giải thoát vững chắc, năm trăm năm tiếp thiền định vững chắc, năm trăm năm tiếp học rộng vững chắc, năm trăm năm tiếp phước đức vững chắc, năm trăm năm tiếp đấu tranh vững chắc. Đều dùng năm trăm năm làm loại ký, cho nên nói sau khi ta diệt độ năm trăm năm, hoặc chánh pháp năm trăm năm tượng pháp một ngàn năm, hoặc sau thời tượng pháp, thì năm trăm năm mạt pháp.
Kinh: “Tú Vương Hoa cho đến tâm cung kính”.
Tán: Khuyên cúng trì có ba:
  1. Rãi hoa.
  2. Tâm niệm.
  3. Kết thành.
Kinh: “Lúc đức Phật nói Phẩm Dược Vương cho đến tất cả chúng sanh”.
Tán: Đoạn thứ năm, chúng đương thời được lợi ích và đoạn lớn thứ sáu Phật Đa-bảo khen ngợi.
Ngày 12 tháng 12 Niên hiệu Bảo An năm thứ ba ở chùa Hưng Phước Viên Như Phòng, tăng Giác Ấn vốn ở chùa Pháp Long đã kiểm duyệt xong. Vì muốn chánh pháp tồn tại lâu dài vãng sanh cực lạc.
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »