Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Đại Tập 122, Bộ Kinh Sớ VIII, Số 1723 - 1730

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 897.

Chương 8: Huyền Tán Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quyển 9 - Phần Cuối (Trang 237 - 270)

HUYỀN TÁN
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

QUYỂN 9
(PHẦN CUỐI)

PHẨM TÙNG ĐỊA DŨNG XUẤT
Phẩm này chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp chướng nạn.
I. Vì sao có phẩm này có ba:
1. Bảy phẩm nói về học hành lưu thông, một phẩm trước nói các hạnh phải học, sáu phẩm dưới nêu người năng hành. Nói người năng hành chia làm bốn: một phẩm này chánh nêu người hiện tại đầy đủ an lạc hạnh lưu thông. Phẩm Tuổi thọ và Phân biệt công đức, nhân giải thích nghi đây mà lần lượt có. Phẩm Tùy Hỷ và Pháp Sư công đức nói rõ trợ giúp cho người chánh nương an lạc hạnh lưu thông, chứng đắc công đức; Phẩm Thường Bất Khinh nói tự thân Phật đến ở vị trụ nhân xa thực hành hạnh an lạc , hành nhẫn nhục v.v… lưu thông kinh này. Nay đắc Quả Phật khuyên các chúng sanh nên siêng năng tu học cho nên có phẩm này.
2. Hai phẩm nói hành Nhất thừa, trong phẩm trước nói hạnh sở hành, phẩm này nêu nhân năng hành, cho nên có phẩm này.
3. Luận nói bảy thứ là thị hiện giáo hóa chúng sanh vô thượng cho nên từ đất vọt hiện ra vô lượng vị đại Bồ-tát. Trong đây nói rõ Đức Phật đã từng giáo hóa vô lượng Bồ-tát thực hành bốn hạnh này. Từ đất hiện lên trì kinh khuyên các chúng sanh vì sao không học, nên có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Dũng là vọt lên, xuất là hiển hiện, từ đất vọt lên mà hiển hiện gọi là phẩm Tùng địa Dũng xuất. Dũng là như
nước vọt lên nên gọi là dũng là vọt nhảy.
III. Giải đáp chướng nạn: Vì sao không nói từ bên đến mà nói từ đất vọt lên? Đáp: Y bốn hạnh để trì kinh, vượt ngoài đất sanh tử. Lại nêu rõ không lìa cõi này Phật từng hóa đã đã vượt địa vị sanh tử nên không nói từ bên đến mà nói từ đất vọt lên.
Kinh: “Bấy giờ các Bồ-tát ở phương khác cho đến mà nói rộng”.
Tán: Trong phẩm này văn có bốn:
  1. Phương khác thỉnh trì.
  2. Như-lai không hứa.
  3. Phương khác vọt lên.
  4. Bồ-tát sanh nghi. Đây là phần đầu.
Kinh: “Bấy giờ Đức Phật bảo cho đến nói rộng kinh này”.
Tán: Như-lai không hứa có hai: Trước Phật ngăn thôi, sau nói rõ. Lại nói rất nhiều nên nói sáu muôn, thật chẳng phải chỉ như vậy, hiển Phật hóa công. Ngăn thôi người khác, không hứa, dù khiến người khác hộ cũng có lỗi gì!
Kinh: “Lúc Phật nói lời đó cho đến đồng thời vọt ra.
Tán: Đây từ đất vọt ra có tám thứ:
  1. Từ đất vọt ra.
  2. Bay lên hư không khen ngợi lễ bái.
  3. Nêu thần lực.
  4. Chúng cùng thấy.
  5. Đạo Sư thăm hỏi.
  6. Thế tôn ủy dụ đáp.
  7. bốn vị tùy hỷ.
  8. Như-lai khen ngợi.
Văn đầu chia làm năm:
  1. Đất nứt.
  2. Thánh vọt hiện.
  3. Tướng tốt.
  4. Trụ xứ.
  5. Chúng quyến thuộc.
Đây là hai phần đầu tiêu biểu phá sanh tử. Đất nứt hiển đến Bồ- đề nên vọt hiện ra.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đến trụ giữa hư không”.
Tán: Đây là tướng tốt và trú xứ, hành an lạc hạnh đắc quả, tượng hảo chứng chân tánh mà đắc Nhất thừa nên trụ giữa hư không.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đến chẳng có thể biết được”.
Tán: Đây nêu chúng quyến thuộc có ba: 1. Lý do. 2. Liệt số.  3. Kết.
Liệt số có tám: 1. Hằng hà sa. 2. Phần hằng sa. 3. Na do tha. 4. Muôn. 5. Ngàn. 6. Trăm. 7. Chục. 8. Một.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đến hai đấng Thế tôn”.
Tán: Bay lên hư không khen ngợi lễ bái có ba:
  1. Đến tháp.
  2. Lễ dưới chân.
  3. Cung kính khen ngợi.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đến cho là như nửa ngày”.
Tán: Thần lực của Phật có ba:
  1. Khen ngợi thời gian dài.
  2. Thọ nhận cũng lâu.
  3. Rút ngắn thời gian.
Luận này nói Kinh này nói kiếp thời gian ngày đêm năm tháng; nay dùng ngày đêm hợp số không phế bỏ hai mươi lăm ngày thành năm mươi tiểu kiếp, hoặc lại năm mươi ngày, năm mươi tháng và năm, khen ngợi đức càng sâu thời gian dài có thể rút ngắn hết, thọ nhận khen ngợi thần lực cũng đồng, khen ngợi thời gian thần lực biến bổn tâm kia, thần thông của bậc Thánh có thể kéo dài, rút ngắn quang cảnh, chúng sanh ái pháp rồi thì quên mệt nhọc, huống chi có bậc Thánh ngầm giúp sao có thể liền sanh chán mỏi. Cho nên, bốn chúng cho là như bữa ăn, pháp thật nuôi dưỡng giữ gìn, thần thông chế ngự cho nên trải qua nhiều kiếp năm tháng mạng không thiếu.
Kinh: “Bấy giờ bốn chúng cho đến cõi nước hư không”.
Tán: Bốn chúng mọi người đều thấy.
Kinh: “Trong chúng Bồ-tát đó cho đến xướng đạo Sư”.
Tán: Năm đạo Sư thăm hỏi có bốn:
  1. Liệt danh.
  2. Đức hạnh.
  3. Hỏi thẳng.
  4. Kệ hỏi.
Đây là hai phần đầu. Hạnh cao đức rộng lớn lìa ác tiến thiện nên tên gọi có bốn loại.
Kinh: “Ở trước đại chúng cho đến sanh mỏi nhọc chăng?”.
Tán: Ba là hỏi thẳng, bốn là kệ hỏi.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến vào trong trí tuệ Phật”.
- Tán: Thế tôn an ủi đáp, có hai: Nêu và giải thích. Trong giải thích có ba:
  1. Thấy đối với các Đức Phật gieo trồng cội lành.
  2. Tức liền thọ hóa.
  3. Còn xa sự hội nhập cũng được theo ban đầu, tuy không theo cũng theo.
Hai phần đầu hai là khen ngợi Bồ-tát, một phần sau là nói Thanh- văn, hoặc hai phần đầu nói hội xa, một sau nói hướng về vắng lặng. Do không ngu đối với pháp nên nhập hiểu trí tuệ Phật chẳng phải nhập chứng.
Kinh: “Bấy giờ các Đại Bồ-tát cho đến chúng con đều tùy hỷ”.
Tán: Nêu bốn người tùy hỷ.
Kinh: “Khi đó Đức Thế tôn cho đến phát tâm tùy hỷ”
Tán: Nêu Như-lai khen ngợi.
Kinh: “Bấy giờ ngài Di-lặc cho đến thăm hỏi đức Như-lai.
Tán: Đoạn thứ tư nói Bồ-tát sanh nghi có tám:
  1. Tâm niệm.
  2. Giảng nói.
  3. Người khác hỏi.
  4. Phụ đáp.
  5. Khen ngợi hứa.
  6. Chính đáp.
  7. Chúng suy nghĩ.
  8. Trình bày thỉnh.
Đây là phần đầu.
Kinh: “Lúc đó ngài Di-lặc cho đến nguyện Đấng Lưỡng Túc nói”.
Tán: Thứ hai: Giảng nói có mười chín hàng rưỡi tụng chia làm ba:
  1. Một hàng tụng tổng trình bày nghi thỉnh.
  2. Mười sáu hàng rưỡi tụng thỉnh việc nghi.
  3. Hai hàng trình bày ý chúng nghi. Đây là một hàng đầu.
Kinh: “Là từ nơi nào đến cho đến là từ chốn nào đến”.
Tán: Mười sáu hàng rưỡi tụng việc nghi chia làm năm: hai hàng tụng nơi đến, chín hàng tụng số đến, hai hàng tụng hạnh hóa, hai hàng rưỡi tụng tên nước, một hàng tụng không biết. Đây là hai hàng đầu có ba:
  1. Lý do.
  2. Khen ngợi đức.
  3. Nơi đến.
Kinh: “Mỗi mỗi các Bồ-tát cho đến còn chẳng thể biết hết”.
Tán: Chín hàng tụng số đến, có ba: một hàng tụng chung, bảy hàng tụng riêng, một hàng tụng kết.
Kinh: “Các vị oai đức lớn cho đến tụ tập Phật đạo nào”.
Tán: Hai hàng tụng hạnh hóa, có năm câu hỏi.
Kinh: “Các Bồ-tát như thế cho đến chưa hề thấy việc này”.
Tán: Hai hàng rưỡi tụng về tên nước.
Kinh: “Con ở trong chúng này… mong nói nhân duyên đó”.
Tán: Một hàng tụng nói về không biết.
Kinh: “Nay trong đại hội này cho đến cúi mong quyết tâm nghi.”
Tán: Hai hàng tụng trình bày ý chúng nghi.
Kinh: “Bấy giờ Đức Phật Thích-ca Mâu-ni cho đến từ chỗ nào mà đến”.
Tán: Thứ ba: Là chúng khác hỏi.
Kinh: “Lúc ấy các Đức Phật cho đến do đây mà được nghe”.
Tán: Đây thứ tư là phụ đáp.
Kinh: “Bấy giờ đức Thích-ca việc lớn như thế”.
Tán: Đây là thứ năm khen ngợi hứa. Có hai: Trước khen sau hứa. Đây là khen. A-thị-đa Hán dịch là Vô-năng-thắng là tên ngài Di-lặc, A-dật-đa-là lầm.
Kinh: “Các thầy nên chung lòng cho đến thế mạnh lớn của các Đức Phật”.
Tán: Dưới hứa có hai: Một là: Văn xuôi nói mặc giáp tinh tấn, khải là binh giáp, khiếp tâm mạnh mẽ vui ưa nghe pháp, tâm không lui sụt gọi là ý vững chắc, vì nghĩa sâu xa sợ kia nghi lui sụt. Đây nói bốn lực:
1. Tuệ lực: Phẩm Tuổi thọ Như-lai bí mật pháp báo hai thân và trí tánh tướng.
2. Thần thông lực: Tức thần thông Phật hóa thân.
3. Phấn tấn lực: là quyết định tạo tác, sư tử sắp làm việc gì thì, trước thu lông mình lại, thoắt duỗi thân ra nhanh chóng, quyết định làm nay ta quyết định nói tự sở tác việc mầu nhiệm của ba thân.
4. Oai mãnh lực: Chánh tác sở tác chỉ bày có uy chế phục dẹp phá, dẹp phá những người không có lòng tin, hoặc do trí tuệ nên mạnh
nhanh, do thần thông nên oai mãnh; hoặc trí tuệ là pháp báo hai  thân. Dưới hóa thân là thần biến, ký tâm, giáo giới. Ba luân công dụng như thứ lớp.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến các thầy một lòng nghe”.
Tán: hai là: Kệ tụng. Gồm hai hàng tụng đầu khuyên chớ sanh nghi hứa sẽ nói, hai hàng sau tụng Đức Phật răn dạy lắng lòng nghe lời dạy thật.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến khiến phát đạo tâm”.
Tán: Dưới thứ sáu chánh đáp có ba: Trước bảo ta hóa, kế nói trụ hạnh, sau cuối một hàng tụng kết khuyên sanh tin. Đây là phần đầu.
Kinh: “Các vị Bồ-tát đó cho đến nghĩ tưởng chân chánh”.
Tán: Dưới là nói trụ hạnh, có sáu, đây có hai:
  1. Trú xứ.
  2. Giải kinh.
Thông minh văn tuệ, tư duy tư tuệ, tức niệm tu tuệ.
Kinh: “A-dật-đa cho đến cầu tuệ vô thượng”.
Tán: Đây có bốn:
  1. Ưa vắng lặng.
  2. Tinh tấn.
  3. Ưa trí sâu.
  4. Cầu tuệ vô thượng.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến khiến phát đại đạo tâm”.
Tán: Kệ tụng khuyên sanh tin bảy hàng rưỡi tụng trước chia làm năm. Đây là một hàng rưỡi tụng nói về  Phật hóa.
Kinh: “Chúng đó là con ta cho đến vì để cầu Phật đạo”.
Tán: một hàng rưỡi tụng ưa vằng lặng, một hàng sau tụng tinh tấn. Không vằng lặng là ồn ào.
Kinh: “Tại thế giới ta bà… đều sẽ được thành Phật.
Tán: một hàng rưỡi tụng trú xứ và trí tuệ sâu, hai hàng sau tụng kết thành ta hóa. Ở nơi thành Già-da này, xưa đến hóa, chẳng phải nay hiện tại Già-da, như nói thường ở núi Linh nói, chẳng phải nói luôn ở núi, mà là nói núi ấy thường ở thành đây cũng vậy.
Kinh: “Ta nay nói lời thật cho đến giáo hóa các chúng đó”.
Tán: Kết khuyên sanh tin.
Kinh: “Lúc bấy giờ ngài Di-lặc cho đến chánh đẳng giác”.
Tán: Đây thứ bảy chúng nghĩ.
Kinh: “Liền bạch Phật rằng cho đến hơn bốn mươi năm”.
Tán: Thứ tám trình bày thỉnh, có hai: Một là văn xuôi có ba:
  1. Nêu sự khó.
  2. Nêu dụ khó.
  3. Chánh trình bày khó tin.
Nêu sự khó có hai:
  1. Nêu nơi chốn năm tháng thành đạo.
  2. Chánh trình bày việc khó.
Đây là phần đầu. Thành Già-da rất nguy hiểm vững chắc ít người ở, chỉ có Bà-la-môn đều có ngàn nhà, đây đều là dòng họ vị tiên, chẳng có việc tai biến, vua chúa quí trọng tôn kính, dân trong thành rất giỏi mọi người các nước đều biết, tức là cảnh trong nước Ma-kiệt-đa. Đức Phật ngồi dưới gốc cây Bồ-đề tiếp cận rất gần phía nam cho nên nói không xa. Lại nói Già-da là nơi Phật đản sanh là thủ đô của nước Ca- duy-la, Đức Phật thành đạo dưới gốc cây Bồ-đề nước Ma-kiệt-đà mà, đều ở giữa Thiên-trúc cách nhau rất gần cho nên nói không xa. Từ khi đắc đạo Bồ-đề đến nay mới hơn bốn mươi năm: Trong nghĩa đây lược có hai nói:
1. Có các bộ nói: Mười chín tuổi xuất gia, ba mươi tuổi thành đạo. Kinh Bổn khởi Nhân Quả nói: mười chín tuổi xuất gia, Kinh Tư Duy vô tướng Tam-muội nói: ba mươi tuổi thành đạo. Luận Trí độ nói: Khi Đức Phật sắp Niết-bàn bảo Tri-bạt-đà-la: Năm ta mười chín tuổi xuất gia rồi cầu Phật đạo, xuất gia đến nay hơn năm mươi năm, không nói lúc thành đạo, thật Phật thọ tám mươi năm. Đây có nói giải: mười chín tuổi xuất gia sau năm năm theo vị tiên hành lạc hạnh, sáu năm hành khổ hạnh, ba mươi tuổi thành đạo. Cho nên bảo Tu-bạt-đà-la là hơn năm mươi năm. Trong Luận Trí độ dùng nghĩa đây tức y đây nói. Nay nói thành đạo hơn bốn mươi năm là vừa bảy mươi năm.
2. Cũng có các bộ và trong Đại thừa nói: hai mươi chín tuổi xuất gia ba mươi lăm tuổi thành đạo. Tăng Nhất A-hàm, Trung A-hàm, Tạp A-hàm, Kinh Xuất Diệu, Luận Hòa-tu-mật đều nói hai mươi chín tuổi xuất gia. Kinh Bi Hoa. Luận Thiện Kiến đều nói ba mươi lăm tuổi thành đạo. Kinh Bổn khởi nói: Đức Phật muốn xuất gia nên chỉ trong bụng Da-du nói: sau sáu năm ngươi sẽ sanh con trai, liền sau sanh ra La-hầu- la. Đức Phật xuất gia sáu năm khổ hạnh đêm Thành đạo La-hầu-la mới sanh. Chỉ nói La-hầu-la sáu năm ở trong thai không nói mười một năm ở trong bụng mẹ, cho nên biết hai mươi chín tuổi xuất gia ba mươi lăm tuổi thành đạo, trong sáu năm gồm cả Tu-lạc hạnh. Nơi chỗ A-lam-ca- lam ngồi tu đắc Vô sở hữu xứ định, nơi chỗ Uất-đầu-lam-tử học đắc Phi tưởng xứ định. Pháp Sư Bồ-đề-lưu-chi dẫn Kinh Kệ nói: tám năm  làm
trẻ con, bảy năm làm đồng tử, bốn năm học ngũ minh, mười năm thọ ngũ dục, sáu năm hành khổ hạnh là ba mươi lăm tuổi thành đạo. Trong bốn mươi lăm năm giáo hóa chúng sanh. Chân Đế Tam Tạng và Hòa- thượng Tây-vức ký đều nói hai mươi chín tuổi xuất gia ba mươi lăm tuổi thành đạo. Kinh Kim Quang Minh nói: Phật tuổi thọ tám mươi năm. Nay nói thành đạo hơn bốn mươi năm tức năm bảy mươi tuổi hoặc bảy mươi lăm đều tính. Năm đầu thành đạo hợp thành bốn mươi mốt năm gọi là hơn bốn mươi năm.
Kinh: “Thế tôn! Thế nào cho đến chánh đẳng giác”.
Tán: Dưới chánh trình bày việc khó, có hai: Trước trình bày ba việc, sau kết khó tin. Trình bày ba việc:
  1. Thời gian ngắn làm việc lớn.
  2. Thời gian ngắn chúng nhiều.
  3. Thời gian ngắn đức cao siêu.
Đây là nói việc đầu, đã đến địa vị cao thượng sẽ thành Bồ-đề gọi là việc lớn.
Kinh: “Thế tôn cho đến chẳng đặng ngắn mé”.
Tán: Thời gian ngắn mà chúng nhiều. Trước nói thời gian ngắn, xuyên suốt cả hai văn dưới.
Kinh: “Chúng đó từ đâu nhẫn lại cho đến thường tu phạm hạnh”.
Tán: Thời gian ngắn đức thù thắng. Quán từ lâu đến nay gặp duyên trồng cội lành, chẳng phải thời gian ngắn tu hành.
Kinh: “Thế tôn cho đến đời rất khó tin”.
Tán: Kết thành khó tin, do ba việc này nên khó tin Phật hóa.
Kinh: “Thí như có người cho đến việc đó khó tin”.
Tán: Thứ hai nêu dụ khó. Sắc đẹp dụ tướng tốt Phật trang ng- hiêm, tóc đen tiêu biểu Đức Phật dù tám mươi tuổi mà không có tướng già, trong tất cả thời ưa quán sát tất cả nơi chốn xưa. Đại Bát-nhã nói tám mươi tướng tốt trong đó nói: thường trẻ không già ưa xem xét nơi chốn cũ. Hai mươi lăm tuổi là tiêu biểu Đức Phật tuy xuất vượt sanh tử mà thị hiện nơi hai mươi lăm cõi. Vì trên tiêu biểu Phật thành đạo rất gần. Giả như tám mươi tuổi chỉ bằng hai mươi lăm tuổi, chỉ người một trăm tuổi tiêu biểu các Bồ-tát được hóa độ có đức cao địa vị xa trăm phước trang nghiêm, nói ta sanh ta nuôi dưỡng khiến cho họ đạo thêm lớn thì việc ấy khó tin.
Kinh: “Đức Phật cũng như vậy cho đến rất là ít có”.
Tán: Thứ ba chính trình bày nghi có ba: Trước nêu việc nghi, tiếp “Ngày nay cho đến” chánh nêu ý nghi. Sau “Chúng con dù cho
đến” trình bày lý do nghi. Đây là phần đầu có hai: Nêu thời gian ngắn thành Phật, và nêu lại Bồ-tát có bảy đức rất lớn, bảy đức của Bồ-tát: 1. Tu thời gian dài. 2. Hết lòng tinh tấn. 3. Định tự tại. 4. Đắc thần thông. 5. Tu phạm hạnh lâu dài. 6. Năng huân tập pháp. 7. Khéo hỏi đáp. Cho nên là báu quí trong loài người.
Kinh: “Ngày nay Đức Thế tôn cho đến việc công đức lớn này”.
Tán: Đây chính trình bày ý nghi.
Kinh: “Chúng con dù là tin cho đến cũng không sanh nghi”. Tán: Đây là trình bày lý do nghi, có ba: Trước nói tự có thể thông suốt, kế  là trình người khác còn mê hoặc, sau chính thỉnh dứt trừ lòng nghi. Dù tự không nghi mà thị hiện tướng không hiểu, để thỉnh trừ lòng nghi của chúng con. Tin tùy nghi Phật nói tin thành tựu thông suốt, Đức Phật biết, chứng thành tựu, nên lời Phật nói không luống dối không lầm lẫn.
Kinh: “Bấy giờ ngài Di-lặc cho đến phân biệt nói như thật”.
Tán: Hai là kệ tụng: Mười bốn hàng tụng chia làm ba: năm hàng đầu tụng nêu việc khó, kế hai hàng tụng dụ khó tin, bảy hàng sau tụng trình bày nghi thỉnh. Năm hàng đầu có ba: một hàng tụng xuất gia thời gian gần, ba hàng tụng Bồ-tát đức cao khó tin. Một hàng tụng đại chúng thỉnh trừ nghi.
Kinh: “Thí như người trẻ mạnh cho đến mọi người đều chẳng tin”.
Tán: Hai hàng tụng dụ khó tin. Tóc bạc mặt nhăn: Đây cùng văn xuôi xen nhau làm rõ, nói cha sắc đẹp tóc đen là nêu đủ tướng xem xét xưa, nói con tóc bạc mặt nhăn là Tu-lâu tướng trạng có thiếu sót. Tóc bạc là tiêu biểu có thánh đạo tu đã lâu, mặt nhăn là hình tượng tướng tốt chưa đủ.
Kinh: “Thế tôn cũng như vậy cho đến trụ hư không phương dưới”.
Tán: Bảy hàng tụng trình bày nghi thỉnh chia làm hai: bốn hàng tụng nêu việc nghi, sau ba hàng tụng chánh trình bày nghi thỉnh. Bốn hàng đầu có ba: Nửa hàng tụng Phật thành đạo gần, kế ba hàng tụng khen ngợi Phật thành đạo có mười đức, sau nửa hàng tụng nói về trú xứ.
Kinh: “Chúng con từ Phật nghe cho đến mà trụ bậc bất thối”.
Tán: Ba hàng sau chánh trình bày nghi thỉnh, có bốn: Nửa hàng tụng tự không nghi, kế nửa hàng tụng người khác còn mê hoặc, kế một hàng tụng lỗi lầm nghi, sau một hàng tụng chính trình là bày thỉnh.
-------------------
PHẨM TUỔI THỌ
Phẩm này chia làm ba môn :
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các vấn nạn.
I. Vì sao có phẩm này có năm:
1. Trong bảy phẩm học hạnh lưu thông, từ phẩm Dũng Xuất trở xuống sáu phẩm là nói người năng học hạnh, trong đây chia làm bốn đoạn, đoạn thứ hai là Tuổi thọ và Phân biệt công đức, nhân giải thích nghi trước mà lần lượt sanh khởi. Trước nói Bồ-tát từ đất vọt lên, đều do Phật hóa độ, vị cao, chúng nhiều, thời hội sanh nghi. Nay nói pháp thân vốn không sanh diệt, hóa Phật gần thành, báo thân chứng từ lâu hóa nơi chúng đây đâu có nghi gì ư! Cho nên từ Dũng xuất về sau là nói phẩm Thọ Lượng.
2. Trong mười chín phẩm làm chánh tông, năm phẩm dưới nói về quả Nhất thừa. Trong đây chia làm hai: Hai phẩm đầu nói quả đã mãn, ba phẩm sau nói quả chưa mãn. Hai phẩm đầu lại có hai: Trước chánh là nói quả đã mãn, sau nói về thời chúng do đây chứng đắc khác nhau, nên có phẩm này.
3. Luận nói đối trị trong bảy mạn, nói hạng người thứ bảy không có công đức, đối với bậc nhất thừa không nhóm họp gốc lành mà tăng thượng mạn không chấp làm bậc nhất, vì đối trị đây nói dụ thầy thuốc, luận lại nói: Người thứ bảy căn chưa thuần thục vì muốn họ thuần thục nên thị hiện Niết-bàn lượng, hiện tại chưa tụ tập gốc lành nên gọi là căn chưa thuần thục, khiến họ chứa nhóm gốc lành hy vọng bậc nhất thừa thị hiện Phật nhập Niết-bàn có phần hạn gọi là lượng, khiến tụ tập gốc lành sau mới điều hóa. Thầy thuốc đã ở phẩm này nên có phẩm này.
4. Luận chép: Thứ tám thị hiện thành đại Bồ-đề vô thượng thị hiện ba thứ Phật Bồ-đề, ba thân Phật ở đây cho nên có phẩm này, đây là văn còn lại. Vì trong bảy dụ chỉ nói dụ thầy thuốc ở văn sau, không nói ba thân Phật ở văn đầu.
5. Thứ chín thị hiện Niết-bàn vô thượng nên nói dụ thầy thuốc, trừ trong bảy mạn nói thầy thuốc, tức là hóa căn cơ chưa thuần thục, thị hiện nhập diệt khiến kia căn thuần thục, nay nói thầy thuốc hiện Phật nhập Niết-bàn, hóa diệt thật không diệt, chẳng phải như Nhị thừa diệt mà làm diệt cho nên gọi là vô thượng đây chính là nghĩa còn lại trong bảy dụ.
II. Giải thích tên phẩm: Như-lai là tên gọi chung pháp thân, báo thân, hóa thân, thọ là tuổi thọ, lượng là hạn lượng. Phẩm này nói ba thứ thân mạng Phật thể đồng hạn lượng, giữ gìn pháp tánh tùy nguyện duyên, ứng căn cơ chúng sanh mà thọ nhận tự thể, nay nói ba thân Phật này thọ mang đồng hạn lượng nên gọi là phẩm Như-lai tuổi thọ.
III. Giải đáp chướng nạn: Vì sao không lấy hai chữ thầy thuốc làm tên phẩm mà lấy tuổi thọ làm tên phẩm?
Đáp: Do tuổi thọ ba thân mới mượn thí dụ thầy thuốc cho nên từ gốc Tuổi thọ đặt tên không dùng Y Sư đặt hiệu Phẩm.
Lại hỏi: Khoa đầu phẩm chép: Trước trình bày tuổi thọ trừ căn chưa thuần thục người tăng thượng mạn không nhóm họp công đức,   vì sao chẳng phải là chánh tông Pháp Hoa mà chính là thuộc phần lưu thông?
Đáp: Đương cơ ứng thời tức thuần thục Nhất thừa chính hợp Thanh- văn nên làm chánh tông, thị hiện diệt, sau hóa sơ căn chưa thuần thục nên chẳng phải chánh nói. Cho nên, tuy nói nơi tuổi thọ mà không thọ ký cho Thanh-văn; tuy nói nơi Y Sư cũng không có Thanh-văn thọ ký, vì đây mà Trí Tích trước thỉnh trở về, nếu không vậy thì giữa đường thỉnh trở lại làm sao mau được. Do đó phẩm này chỉ là lưu thông, nói là chánh tông thì không có chướng ngại ấy.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến lời nói chắc thật của Như-lai”.
Tán: Phẩm này có ba: Trước Đức Thích-ca ba phen bảo, tiếp Di-lặc bốn phen thỉnh, sau Như-lai chánh bảo. Đây là phần đầu. Ba thân quả mầu nhiệm địa vị ở quả cùng tột, bậc thượng trí còn không thể lường biết phàm phu ngu muội do đâu mà hiểu được. Sợ tâm kia nghi miệng chê bai nhân pháp mà có tổn thương, cho nên bảo tin chắc chắn rồi mới trình bày chánh nói, cũng sợ tại không chuyên nghe pháp giáo, ý không chú trọng huyền tông. Lại chúng sanh tánh độn nghe không thể hiểu khiến pháp nhập tâm nên ba phen bảo dạy nói ba thân làm ba phen bảo.
Kinh: “Lúc đó đại chúng Bồ-tát cho đến tin nhận lời Phật”.
Tán: Đây Di-lặc bốn phen thỉnh. Đức Phật đã từ bi ba phen bảo Đại chúng đâu được coi thường, cho nên thêm bốn phen thỉnh là là tiêu biểu tâm mong cầu xem trọng pháp, ba phen bảo là chỉ bày nói ba thân, bốn phen thỉnh, ba thân đều có bốn, cầu bốn đức, mong bốn trí, cứu giúp bốn loài là ý đây vậy.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến sức bí mật thần thông của
 
Như-lai”.
- Tán: Dưới Như-lai chánh bảo. Đầu tiên văn xuôi chia làm hai: Trước dạy bảo nghe chỉ bày, sau chánh nói tuổi thọ. Đây là phần đầu. ba phen thỉnh từ đầu, bí mật là pháp báo hai thân thể sâu xa mầu nhiệm, Thần thông là hóa thân ứng vật hiện, được Đức Phật thầm hộ trì gọi là bí, nghĩa sâu khó hiểu gọi là mật, diệu dụng vô phương gọi là thần thể không chướng ngăn gọi là thông, hai thể đây uy thế khó có gì khuất phục nên gọi là lực. Lại Đối Pháp cho đến nói: Có bốn bí mật, trong Phương Quảng Đức Phật bí mật đều nên hiểu rõ.
1. Khiến nhập bí mật: nghĩa là vì người Thanh-văn nói hữu sắc cho đến, vì muốn họ không sợ hãi dần dần nhập Thánh giáo chẳng phải tất cả hữu;
2. Tướng bí mật: Nghĩa là y tam tự tánh nói tất cả pháp đều không tự tánh không sanh diệt cho đến phá chấp hữu tướng nói là không, chẳng phải tất cả không;
3. Đối trừ bí mật: Đức Phật vì đối trừ các lỗi nên nói các giáo, lại trừ tám chướng nên nói tối thượng thừa:
a. Trừ khinh Phật.
b. Trừ khinh pháp: Nên nói ta từng tên là Thắng Quán Như-lai pháp thân không sai khác.
c. Trừ biếng nhác: Như nói nguyện sanh thế giới cực lạc đều được vãng sanh cho đến
d. Trừ tiểu thiện sanh hỷ túc, nơi một gốc lành, hoặc hủy hoại hoặc khen ngợi.
e. Trừ tham hành xưng tán cõi Phật phú lạc trang nghiêm.
f. Trừ mạn hành xưng tán Chư Phật hoặc có tăng hơn.
g. Trừ ố tác hối hận chướng ngại tu thiện, nói đối với Phật bình đẳng tuy hành khinh chê, nhưng loài hữu tình kia cũng sanh lên cõi trời.
h. Trừ bất định tánh chướng, khiến xả Thanh-văn thấp kém, ý ưa thích đại, thọ ký đại Thanh-văn sẽ được thành Phật. Lại nói Nhất thừa lại không có hai.
4. Chuyển biến bí mật: Như nói giác ngộ không vững chắc hay là kiên, cố khéo trú nơi điên đảo cực phiền não quấy nhiễu, đắc Bồ-đề tối thượng. Ẩn mật như vậy danh ngôn giải thích khiến có sai khác, trong đây bí mật tức là loại thứ ba đối trừ bí mật. Do khinh của đức Phật và tham mạn hành nói thân Phật khác lấy làm tự thể xưng tán Phật. Như dưới Kinh nói “Trong đây nói Đức Phật Nhiên Đăng”, như vậy đều
dùng phương tiện phân biệt. Nói thần thông là giáo hóa nhiều chúng dùng thần lực hóa khiến sanh phát ý.
Kinh: “Tất cả thế gian cho đến chánh đẳng giác”.
Tán: Dưới chánh là nói về tuổi thọ. Căn cứ luận chia làm hai đoạn:
1. Nêu Bồ-đề vô thượng.
2. “Các người thiện nam ta xưa hành Bồ-tát đạo cảm thành tuổi thọ cho đến” là nêu lại tướng Niết-bàn vô thượng sai khác của hai  thân báo hóa.
Trong văn đầu luận chia làm ba đoạn, thị hiện ba Đức Phật Bồ- đề: 1. Ứng hóa Bồ-đề thích ứng gặp mà vì thị hiện, cho nên như Kinh đều nói Như-lai xuất cung dòng họ Thích-cách thành Già-da không   xa ngồi nơi đạo tràng đắc vô thượng chánh đẳng giác, tức là văn này. 2. Báo Phật Bồ-đề: Thập địa hạnh mãn đắc thường Niết-bàn, như Kinh chép: Này người Thiện nam! Ta thật thành Phật đến nay đã vô lượng vô biên trăm ngàn muôn ức na do tha kiếp, tiếp văn dưới. 3. Pháp Phật Bồ-đề: Nghĩa là Như-lai tạng tánh tịnh Niết-bàn thường thanh tịnh bất biến, cho nên như Kinh nói: “Như-lai như thật biết thấy rõ tướng của ba cõi cho đến, chẳng như ba cõi mà thấy nơi ba cõi. Vì sao vậy?.”... Đây y nghĩa vô thượng đầu đầy đủ có ba thân dùng làm ba nghĩa, Phật thân thêm bớt các giáo nói khác nhau, hoặc gọi chung một Phật bảo, hoặc phân biệt làm hai.
Phật Địa luận chép: 1. Sanh thân. 2. Pháp thân, Pháp thân, thật báo đều gọi là pháp thân, thật công đức. Tha báo, hóa thân đều gọi là sanh thân. Lại Bát-nhã luận nói hai: 1. Chân Phật. 2. Phi chân Phật. Chân Phật là pháp thân, phi chân Phật là báo, hóa thân. Hoặc chia làm ba: Tức đây nói tam Phật Bồ-đề; hoặc nói bốn thứ: Kinh lăng già nói: 1. Ứng hóa Phật. 2. Công Đức Phật. 3. Trí tuệ Phật. 4. Như như Phật. Một là hóa thân. Hai, ba là báo thân; sau là pháp thân.
Kinh Kim Quang Minh lại nói bốn thứ: 1. Hóa phi ứng: Đức Phật vì chúng sanh hiện các hình rồng quỉ cho đến không làm thân Phật gọi là hóa phi ứng. 2. Ứng thân phi hóa: Là Địa tiền Bồ-tát thấy thân Phật y định mà hiện chẳng phải thuộc năm đường gọi là ứng phi hóa, tức bốn gốc lành thấy một đại thiên một ứng thân. 3. Vừa ứng vừa hóa: Nghĩa là các Thanh-văn thấy thân Phật hiện thấy tu thành nên gọi là ứng, thấy người đồng loại nên gọi là hóa. 4. Phi ứng phi hóa: Nghĩa là chân thân Phật, ba loại trước hóa sau là pháp báo. Phật Địa luận cũng nói bốn: 1. Thọ dụng phi biến hóa: Nghĩa là tự thọ dụng thân. 2. Biến hóa phi  thọ
dụng: Nghĩa là biến hóa thân hóa, giống Địa tiền. 3. Cũng thọ dụng cũng biến hóa: Nghĩa là tha thọ dụng thân hóa thập địa Bồ-tát. 4. Phi thọ dụng phi biến hóa: Nghĩa là pháp thân.
Kinh Hoa Nghiêm nói có mười Đức Phật:
1. Vô Trước Phật an trú thế gian thành chánh giác, Phật Địa luận gọi Hiện Đẳng giác Phật.
2. Nguyện Phật nguyện xuất sanh, kia gọi là Hoằng thệ nguyện Phật.
3. Nghiệp báo Phật tín thành tựu nên các hành đều là nhân, lại nói nhất tín, kia gọi là Nghiệp dị thục Phật.
4. Trí Phật thuận theo thế gian không đoạn tuyệt, kia gọi trú trì Phật.
5. Phật Niết-bàn thị hiện diệt độ, kia gọi là biến hóa Phật.
6. Pháp giới Phật ở tất cả chỗ không nơi nào là không hiện.
7. Tâm Phật hiện an trú hai thứ trên tên đồng với kia.
8. Tam-muội Phật thành tựu vô lượng công đức vô sở trước, đó gọi là định Phật.
9. Tánh Phật khéo quyết định, đó gọi là bổn tánh Phật.
10. Như ý Phật bao phủ khắp kia gọi là Tùy lạc Phật. năm vị trước là Thế Tục Phật, năm vị sau là Thắng Nghĩa Phật, tùy thích ứng ba thân nhiếp năm vị trước là hóa thân nhiếp dùng tên thế tục, một loại pháp giới là pháp thân, nhiếp bổn tánh một thứ chung pháp và thọ dụng, còn lại ba, hoàn toàn là thọ dụng. Luận nói năm thứ này là thắng nghĩa, tuy pháp và thọ dụng khác nhau hình trước biến hóa mà đều là thắng nghĩa. Xét thấy Vô Cấu Xứng Phẩm Quán Như-lai và Sớ Kinh Lăng Già Sớ chép: Đại Tuệ! Pháp thân Phật nói pháp lìa phan duyên, lìa năng quán sở quán, lìa sở tác tướng lượng cho đến Đại Tuệ! Báo Phật nói tất cả pháp tự tướng đồng tướng, nhân tự tâm hiện huân tập tướng, Cũng nói thí như nhà ảo thuật huyễn tạo các hình tượng, những người ngu chấp cho đó là thật, mà các hình tượng kia không thể được, đó gọi là phân biệt luống dối pháp thể. Đại Tuệ, Hóa Phật nói các pháp thí, giới, nhẫn tinh tấn, thiền định, trí tuệ, âm giới, nhập v.v… Luận Bát-nhã nói ứng hóa chẳng phải Phật chân thật cũng chẳng phải nói pháp bằng nhau Suy tìm suy công về gốc chỉ có Pháp thân, tông chỉ kinh kia tông linh nói chân pháp thân, nương văn tiện nên lược nêu nghĩa Phật. Tam Thân thành Phật như Di-lặc Sớ, biệt nghĩa như Phật Địa và Duy thức cùng Pháp uyển nói.
Tuy nói thân Phật có thêm bớt khác nhau mà nay dùng loại để
luận chẳng quá hai thứ: 1. Hóa. 2. Chân. Địa tiền Bồ-tát và Nhị thừa thấy gọi là hóa thân, báo pháp hai thân gọi là chân thân, do lý này nên nói rõ tam Phật Bồ-đề. Trong đây chia làm hai: 1. Nói tam thừa thấy thân Phật kiến sanh nghi, 2. Nói tam thừa không biết chân thân. Đây là phần đầu.
Kinh: “Nhưng, người thiện nam na do tha kiếp”.
Tán: Dưới nêu tam thừa không biết chân thân chia làm ba: Trước nói thành Phật từ lâu đến nay, kế giải thích thời gian thành đạo đến nay, sau kết luận nói trước. Như vậy từ khi ta thành Phật đến nay rất là lâu xa cho đến Đây là đầu, luận giải thích chỉ nói báo thân thành đạo, căn cứ thật báo thân tu, sanh giác mãn gọi là thành, pháp thân tu, hiển chứng viên gọi là thành, cũng đâu có lỗi gì. Trong đây tuy nêu báo thân thành đã lâu, mà sau giải thích cũng hiển nghĩa thể pháp thân.
Kinh: “Ví như năm trăm ngàn cho đến biết được số đó chăng”.
Tán: Dưới giải thích thời gian thành đạo đã lâu, có hai: Trước nói rõ báo thân Phật Bồ-đề, thành đạo đã lâu, vì chúng sanh nói gần. Sau “các người thiện nam Như-lai giảng nói Kinh điển...”. thầm nói pháp thân. Do chứng đây nên thành đạo thật đã từ lâu, ứng vật mà quyền hiện. Trước là trí năng chứng, sau là lý sở chứng, trí đoạn hai đức trí, và trí như thứ lớp nói. Văn đầu có ba: Trước nêu dụ hỏi, kế Di-lặc v.v… đáp, sau Phật giải thích rộng . Đây là phần đầu.
Kinh: “Di-lặc Bồ-tát cho đến vô lượng bô biên”.
Tán: Đây Di-lặc cho đến đáp có ba:
1.Trình bày chung về vô lượng.
2. Nói Nhị thừa không biết.
3. Kết luận là vô biên.
Có nói nói A-duy-việt-trí, nên từ A-bệ-bạt-trí là địa vị không lui sụt.
Kinh: “Bấy giờ Đức Phật bảo cho đến A-tăng-kỳ kiếp”. Tán: Dưới Đức Phật rộng giải thích chia làm hai: Trước bảo báo thân thành đạo thật lâu, sau “các người thiện nam nơi chặn giữa đó cho đến” là bảo hóa thân giải thích sự nghi nạn kia. Văn đầu có hai: Nêu thành đạo đã lâu xa nhiều kiếp, sau nêu thường trú xứ. Đây là phần đầu có hai: Trước nêu rõ sau bảo giải thích kiếp nhiều.
Kinh: “Từ đó đến nay cho đến dẫn dắt lợi ích chúng sanh”.
Tán: Ở đây nói thường ở trú xứ. thân Tự thọ dụng thật cùng khắp pháp giới tướng trạng khó thấy vẫn tùy theo tiểu tình để giải thích tự thể, nêu dụng hiển thể nói chỗ riêng ở, có chỗ khởi dụng tức ngay ở
 
thân, cũng như hư không rộng lớn trùm khắp mọi nơi hiện tướng rõ ràng không ngăn ngại, thể thật báo pháp đều viên chứng xứ liền nói lên, cho nên từ báo thân nêu dụng hiển bày riêng. Lại nói dẫn dắt lợi lạc thập địa Bồ-tát là thân tha thọ dụng là nêu người hiểu biết để hiển rõ thành đã lâu chẳng phải tự báo.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến phương tiện phân biệt”.
Tán: Dưới bảo hóa thân giải thích nghi nan kia, có ba: Trước nói về giải thích, kế giải thích, sau “các người thiện nam Như-lai thấy các chúng sanh cho đến” là kết giải thích. Đây là phần đầu. Chúng khác có nghi nói: Thành đạo đã lâu thường giáo hóa đây, khoảng giữa thời gian đó có Phật Nhiên Đăng, Tỳ-bà-thi v.v… thành đạo nhập diệt nói pháp độ sanh, lại là ai ư? Nay nêu giải thích nói: Trong khoảng thời gian đó nói Phật Nhiên Đăng cho đến thành đạo nhập diệt, như vậy đều dùng trí tuệ phương tiện, khéo léo phân biệt nói nơi Đức Phật khác chẳng phải lìa thân ta mà có riêng Đức Phật kia.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến các căn lợi độn”.
Tán: Dưới giải thích riêng nghi có hai: Trước nói lý do, sau tùy thích ứng mà độ v.v… là nói lên sai khác. Đây là phần đầu. Do các chúng sanh phát tâm tu hành nguyện thấy Phật gọi là đến chỗ ta. Quán năm căn lợi độn sai khác, vì người lợi căn nói thành đạo đã lâu, vì người độn căn nói hiện thành đạo gần, vì người lợi căn nói thành chánh giác, vì người độn căn nói nhập Niết-bàn, vì người lợi căn hiện thân lớn, vì người độn căn hiện thân nhỏ, vì hàng lợi căn nói pháp sâu, vì hàng độn căn nói pháp cạn, mỗi nơi tùy ứng, cảm hiện sai khác.
Kinh: “Tùy theo chỗ đáng độ cho đến phát tâm vui mừng”.
Tán: Đây là hiển bày sai khác. Do các chúng sanh căn tánh sai khác, Đức Thế tôn tự nói danh tự khác nhau, thành đạo đến nay đã lâu mau mà thân lượng lớn nhỏ khác nhau, đây là thành đạo và hiện nhập diệt thị hiện tướng khác nhau, nói nhất thừa Nhị thừa, Ba thừa, bốn thừa pháp phương tiện khác nhau, ứng khả tâm kia đều khiến vui mừng. Như ngọc để trên không vân đẹp rỗng suốt chiếu sáng nhìn rõ, quầng sáng, hoa văn đẹp, tầm nhìn có hạn. Bóng trăng đáy nước dễ hiện rõ, nước đục bóng trăng liền biến mất hoàn toàn. Vật khí nguyên vẹn, nát vụn thể hiện khác nhau, tối sáng chiếu đến còn có sai khác, đây chính là báo hóa thân sai khác. Văn này có hai giải thích: 1. Không phế bỏ đức Thích-ca thật thành đạo từ lâu, hóa, thân hiện mới thành. 2. Đâu có phế bỏ ý thú bình đẳng trong bốn ý thú bình đẳng là đối trị bí mật trong bốn bí mật, trừ chướng khinh Phật pháp và phát nạn hành nói Phật khác để
tự xưng tán Chư Phật; hoặc có tăng hơn. Nếu không như vậy thì Đức Phật Nhiên Đăng trước đâu có thọ ký, đây cũng hóa hiện đâu có sai trái nhau.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến nên nói như thế”.
Tán: Đây là kết giải thích. Thiện ít đức mỏng tội nhiều cấu trọng tương ưng khí nhỏ mà nói mới lên chánh giác, đối đại căn nói thật thành đạo đã lâu, phương tiện hóa sanh khiến nhập đạo, thời thời hiện xuất khiến khát ngưỡng.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến đền thật chẳng dối”.
Tán: Dưới thứ hai thầm nói pháp thân, do chứng đây nên thành đạo thật lâu ứng vật hiện quyền, có ba: Đầu tiên nêu ứng vật nói chỉ bày khác nhau mà đều nói thật chẳng dối, tiếp giải thích do chứng pháp thân nên năng hiện đây căn cứ thật chân lý vốn không có việc này, sau “Bởi các chúng sanh cho đến” là giải thích lý do ứng vật hiện quyền. Đây là phần đầu có ba: 1. Nêu. 2. Hiển. 3. Kết chẳng dối. Nói là ngôn nói, chỉ là thị hiện, thân thì thể bên trong, sự là sự nghiệp. Nói thân mình nghĩa là nói thân ta từng làm vua Tát-đỏa-vương, vua Thi-tỳ v.v… Nói thân người khác, là như nói Di-lặc xưa làm vị tiên Nhất-thiết-trí quang, Đức Phật A-di-đà làm Tỳ-kheo Pháp Tạng v.v… Chỉ thân mình là hiện làm thân Thích-ca tự ra đời, Thắng-man xa thỉnh Phật hiện giữa hư không cho đến Chỉ thân người khác là hiện làm Tỳ-bát-thi Phật ra đời hiện thế gian mở tháp hiện Đa-bảo cho đến chỉ việc mình là hiện làm Thích-ca với các sự nghiệphàng phục ma thành đạo nói pháp hiện thần thông cho đến. Chỉ việc người là thị hiện các sự nghiệp làm Đại Thông Trí Thắng hiện thần thông rung chuyển một đất phát ra ánh sáng thành đạo v.v... vì độ chúng sanh năng hiện việc đây đều thật không dối.
Kinh: “Vì sao? cho đến không có sai lầm”.
Tán: Do chứng pháp thân, nhưng chân lý vốn không có việc này, có lý do gì năng vì nói chỉ bày đều không luống dối, do thấy như thật chân lý này, đây có năm câu: Như thật thấy nói thấy thông suốt năm chỗ (xứ). Câu đầu y theo vọng xứ để hiển bày pháp thân. Luận nói tướng ba cõi, nói cõi chúng sanh tức cõi Niết-bàn, không lìa cõi chúng sanh có Như-lai tạng tánh tướng. Phẩm Phương Tiện chép: tướng thế gian thường trú tức là đây vậy. Câu thứ hai y thường tịnh để hiển bày pháp thân. Luận nói không có sanh tử hoặc thối hoặc xuất, nghĩa là thường thanh tịnh bất biến, thối là đắm chìm, xuất là lìa trói buộc; hoặc tức sanh diệt, nghĩa là pháp sanh tử có thối có xuất, chân thật không  có việc này nên nói thường thanh tịnh. Câu thứ ba y theo bất tức bất ly
để hiển bày pháp thân. Luận nói cũng không tại thế và diệt độ, nghĩa là thể Như-lai tạng chân như, bất tức cõi chúng sanh bất ly cõi chúng sanh, không tại thế nên bất tức cõi chúng sanh, không diệt độ nên bất ly cõi chúng sanh. Câu thứ tư y lìa bốn tướng để hiển pháp thân luận nói chẳng thật chẳng hư chẳng như chẳng dị, nghĩa là lìa bốn thứ tướng, bốn thứ tướng là vô thường sanh tướng thật có, diệt tướng là giả, trú tướng là như, biến tướng là dị, pháp thân không có các tướng kia nên bốn đều phi. Câu thứ năm ý Phật nội chứng chẳng phải phàm phu sở đắc để hiển bày pháp thân. Luận nói chẳng như ba cõi mà thấy ba cõi, Như-lai năng thấy năng chứng pháp thân như thật mà phàm phu không thấy, cho nên kinh nói Như-lai thấy rõ không có sai lầm. Luận giải thích đây chỉ thuộc câu thứ năm, tợ như tổng kết các câu trên. Câu này nói chánh trí của Như-lai năng phân biệt rõ ràng, không nluống dối tướng ba cõi mà năng chứng thể tánh chân như pháp thân ba cõi, cho nên nói Như-lai thấy rõ không có sai lầm.
Kinh: “Do các chúng sanh cho đến chưa hề tạm bỏ”.
Tán: Dưới giải thích lý do ứng vật hiện quyền. Các món tánh là giới, dục là thắng giải, hành là tâm hành, nhớ tưởng là biến thú hành, do đó nên Phật sự không phế bỏ các lời nói chỉ bày. Trước nói báo thân thật thành đạo từ lâu, mắt Phật nhìn thấy chúng sanh các căn lợi độn nên nói khác nhau.
Kinh: “Cũng thế, từ khi ta thành Phật đến nay cho đến thường trú bất diệt”.
Tán: Đây là nói rõ tam thừa không biết trong thân chân thật, thứ ba kết thành trước nói.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến lại còn hơn số trên”.
Tán: Ở trên nêu Bồ-đề vô thượng, dưới đoạn thứ hai lập lại hiển báo hóa hai thân tướng Niết-bàn vô thượng sai khác. Trong đây có hai: Trước nói pháp hai thân thường trụ sanh diệt, sau dụ nói hai thân thường trụ sanh diệt. Văn đầu lại có hai: Trước nêu hai thân thường trụ sanh diệt, sau “Lại người thiện nam! Chư Phật Như-lai pháp đều như vậy cho đến” là giải thích thành trước nói pháp chân thật không luống dối. Phần đầu lại có hai: Trước nêu báo thân tùy cõi chúng sanh và bổn nguyện lực đều vô tận, nên tuổi thọ thường trú. Sau nêu hóa thân tùy chúng sanh thân và ý lạc cho nên hiện có khởi diệt. Đây là phần đầu. Ta khi xưa tu hành Bồ-tát đạo nguyện độ chúng sanh tận mới nhập vô dư, do cõi chúng sanh vô tận kỳ hạn nên nay đắc quả viên mãn hạnh nguyện không mất, nên tuổi thọ bất tận lại gấp bội số trên.
Kinh: “Nhưng nay chẳng phải thiệt diệt độ cho đến giáo hóa chúng sanh”.
Tán: Dưới nêu hóa thân tùy chúng sanh thân, và ý lạc nên hiện có khởi diệt, có ba: 1. Nêu. 2. Giải thích. 3. Thành. “Vì vậy nên Như-lai dùng phương tiện nói v.v…” Đây là nêu ra. Nhưng nay báo thân chẳng phải thật diệt độ mà liền giả tuyên bố sẽ diệt độ, đây chính là hóa tướng phương tiện thị hiện hóa chúng sanh.
Kinh: “Vì sao cho đến sa vào trong lưới nhớ tướng vọng kiến”.
Tán: Dưới giải thích có hai: Trước nói bổn tánh ác, sau nói lại sanh ác.
Đây là phần đầu, Bản tánh ác có sáu:
  1. Người đức mỏng không thể cảm được thắng nhân thắng pháp.
  2. Không trồng gốc lành thì không có nhân để sanh quả.
  3. Nghèo cùng không có tài pháp ý chỉ theo Tiểu thừa thấp kém.
  4. Thấp hèn tự khinh thân mình.
  5. Đắm dục phiền não hôn mê.
  6. Sa vào trong lưới nhớ tưởng vọng kiến, tà kiến dối trá thông minh lầm hành loạn học.
Kinh: “Nếu thấy Đức Như-lai cho đến tâm cung kính”.
Tán: Ở đây nói lại sanh ác, có năm:
  1. Kiêu tứ buông lung.
  2. Ôm lòng chán nản không ưa thân gần nhiếp thọ.
  3. Có tâm biếng nhác, bị trói buộc không thể tự quán xét.
  4. Không nghĩ gì khó gặp thấy Phật không sanh tâm mong gặp.
  5. Không sanh tâm cung kính, không khởi khát ngưỡng tu thuận theo nghiệp, đây nói do kia bổn tánh ác nên thấy Phật lại sanh ba thứ ác đầu, nên không nghĩ gì khó gặp và tâm cung kính.
Kinh: “Cho nên đức Như-lai cho đến mà nói diệt độ”. Tán: Dưới thành có ba. Đầu tiên là nêu, kế là giải thích, sau là kết.
Kinh: “Lại Người thiện nam cho đến đều chân thật chẳng dối”.
Tán: Giải thích thành trước nói pháp nhĩ chẳng dối, ý ở đây nói báo thân pháp thân nguyện độ tất cả chúng sanh đều hết, thường trú bất diệt, pháp vốn như vậy, hóa thân thuận theo chúng sanh thương ghét vui chán mà thị hiện có sanh tử. Kinh Niết-bàn chép: Như-lai không nhập Niết-bàn. Kệ nói: Giả sử quạ và chim, đồng đậu trên một cây, cũng như thân huynh đệ, chính vậy nhập Niết-bàn, giả sử rắn chuột sói, đồng ở trong một hạng, thương nhau như anh em chính vậy nhập Niết-bàn, giả sử nhất Xiển-đề, hiện thân thành Phật đạo, mãi thọ vui bậc nhất, chính
vậy nhập Niết-bàn, Như-lai thấy tất cả, cũng như La-hầu-la, tại sao xả từ bi, mãi mãi nhập Niết-bàn. Đối với ba dụ trước mỗi dụ lẽ ra nói một hàng tụng sau, sợ văn rườm rà nên nói chung một. Thế thì nhập Đại Niết-bàn ba việc viên mãn, người Nhị thừa chưa đắc, hóa tướng nhập diệt từ đây diệt rồi đến phương khác lại hóa, ở đây lại sanh, thân trí đã không mãi mãi không có, đâu đồng Nhị thừa nhập diệt! Do đây nên nói Niết-bàn vô thượng.
Kinh: “Thí như vị thầy thuốc cho đến khéo trị các thứ bệnh”.
Tán: Dưới đoạn thứ hai dụ nói hai thân thường trụ sanh diệt,   có hai: Trước dụ nói thường trụ sanh diệt, sau dụ vấn đáp biện rõ đây không luống dối.
Dụ có mười hai:
  1. Khéo đạt cơ nghi dụ.
  2. Bi thương khởi hóa dụ.
  3. Quán cơ đạo ẩn dụ.
  4. Gặp duyên hoặc khởi dụ.
  5. Cứu sanh thành đạo dụ.
  6. Thấy Phật đều vui dụ.
  7. Ứng cơ nói pháp dụ.
  8. Cơ thuần thục đạo thành dụ.
  9. Cơ chưa thuần thục nhàm chán pháp dụ.
  10. Khiến mong cầu thị hiện diệt dụ.
  11. Luyến Phật ái pháp dụ.
  12. Đắc Thánh thấy Phật dụ.
Đây là dụ đầu. Chỉ như Nhị thừa luyện căn tương đối, chúng sanh ít đắc là độn, chúng sanh đắc nhiều là lợi, siêng đối lại với nhau, sanh đắc ít là lợi, sanh đắc nhiều là độn, nay nói đối sau. Đây là hai dụ đầu. Hợp đầu chúng sanh thấy Phật đều dạy phát tâm. Dụ thứ ba thứ tư, hợp là thứ hai chúng sanh căn thuần thục siêng tu, không mất bổn tâm mà dần tu chưa thuần thục, biếng trễ là mất bổn tâm mà lại lui sụt. Dụ thứ năm, sáu, bảy, tám, chín hợp là thứ ba chúng sanh căn cơ thuần thục siêng tu, thấy Đức Phật Thích-ca mà Vô học viên mãn, liền phát đại tâm thọ sanh tử Biến dịch, chưa thuần thục biếng trễ, tuy nay thấy Phật mà còn chưa chứng trú nơi địa vị phàm phu. Thứ mười, mười một, mười hai hợp là thứ tư chúng sanh xưa căn chưa thuần thục, biếng trễ gặp Phật Di-lặc thảy đều đắc đạo, cũng phát đại tâm trước thọ Biến dịch sanh, căn thuần thục siêng tu đắc đạo cũng được thấy Đức Phật kia, cho nên nói đều khiến được thấy Di-lặc tức là tên khác của ta. Hoặc nói
ba sanh. Bốn dụ đầu là sanh thứ nhất. Phật bắt đầu thị hiện Niết-bàn, kia không thấy Phật liền khởi phiền não, kế năm dụ là thứ hai sanh, là Phật Thích-ca trung hiện Niết-bàn. Căn thuần thục siêng tu đạo trú nơi vị Hữu học, dần đoạn phiền não gọi là khỏi bệnh, chẳng phải đều đoạn tận thành đạo Vô học. Kia căn chưa thuần thục đoạ nên còn trú nơi vị phàm phu mà còn chưa chứng. ba dụ sau là sanh thứ ba căn thuần thục siêng thì đều được Vô học, chưa thuần thục đọa cũng đắc Hữu học, hai hạng này cuối cùng đều thấy Đức Phật Thích-ca đều phát đại tâm, cho nên trong thọ ký Hữu học Vô học thảy đều có, vì các loại đây chỉ bày có Niết-bàn, tức đại ý dụ trong phẩm này.
Thầy thuốc có đầy đủ bốn đức:
  1. Biết thể bệnh.
  2. Biết nhân bệnh.
  3. Biết bệnh diệt rồi không sanh.
  4. Biết bệnh diệt rồi lại sanh.
Kinh Niết-bàn chép: “Đại từ thương chúng sanh nên nay ta qui   y, khéo nhổ các tên độc, nên xưng đại y vương, y thế gian trị bệnh, tuy lành rồi lại sanh, bệnh do Như-lai trị, rốt ráo không còn sanh, thuốc cam lồ của Phật, bố thí cho chúng sanh, chúng sanh đã uống rồi, không chết cũng không sống.” Cho nên, dùng thầy thuốc dụ trí tuệ Phật hiểu biết suốt sanh tử, thông đạt là ứng căn cơ cứu giúp, nêu rõ luyện phương thuốc là năng am hiểu giáo và lý khéo trị các bệnh nghĩa không còn tái phát, đồng bốn đức của thầy thuốc.
Kinh: “Người ấy nhiều con cái cho đến cho đến số trăm”.
Tán: Từ thương xót khởi hóa dụ, có hạt giống Nhị thừa mới gọi là con cho nên nói mười, hai mươi bao gồm tánh Bồ-tát làm bất định, nói đến số một trăm là tu một trăm hạnh, đầu giáo vị phát tâm.
Kinh: “Do có việc nêu đến nước xa khác”.
Tán: Đây là Quán căn cơ đạo ẩn dụ. Khi căn cơ chúng sanh còn chưa thuần thục mà chúng sanh phương khác căn cơ hợp, hóa thân liền ẩn đến phương khác hóa, hoặc đến tịnh độ uế độ hành hóa gọi là nước khác.
Kinh: “Sau lúc đó các người con cho đến lăn lộn trên đất”.
Tán: Gặp duyên hoặc khởi dụ. Không có Phật về sau, do tri thức ác phiền não liền khởi mê say tâm kia gọi là uống thuốc độc lăn lộn trên đất sanh tử. Kinh Niết-bàn chép: Nghèo cùng không cứu giúp cũng như người bệnh khổ, không thuốc tùy tự tâm, ăn chỗ không đáng ăn, chúng sanh phiền não bệnh, thường bị các kiến hại, xa lìa pháp y sư, ăn
uống thuốc độc tà. Người căn thuần thục hoặc chưa thuần thục tuy đều khởi hoặc, mà người căn thuần thục thì mê hoặc nặng liền lui sụt, căn cơ đã thuần thục mê hoặc nhẹ vẫn tu hành.
Kinh: “Bấy giờ người cha từ nước xa trở về nhà”.
Tán: Dụ Cứu giúp chúng sanh thành đạo dụ. Ngày xưa hóa độ thị hiện ở nơi nhà sanh tử, đây duyên mới thuần thục nên vì hiện thân, hoặc xưa hóa cảnh vốn ở gọi là Nhà.
Kinh: “Các con uống thuốc độc cho đến lại ban tuổi thọ cho chúng con”.
Tán: Thấy Phật đều vui mừng dụ. Trước vui mừng sau thỉnh. Người mất bổn tâm là người căn cơ chưa thuần thục mất thanh tịnh khởi nhiễm. Người không mất bổn tâm là người tâm vốn thanh tịnh các căn thuần thục; vui mừng ý nghiệp, lễ bái thân nghiệp, hỏi thăm là ngữ nghiệp, ba nghiệp qui y thỉnh nói pháp yếu. Lại ban cho tuổi thọ nay xin tuệ mạng.
Kinh: “Cha thấy các con cho đến không có có các bệnh hoạn”.
Tán: Ứng theo căn cơ nói pháp dụ có hai: Trước cầu phương tiện khéo léo mầu nhiệm, sau thí giáo thiện quyền. Y theo các kinh phương tức giáo pháp Chư Phật ba đời, cầu thuốc lý tốt, như tìm cỏ hảo hạng, kia học giới định tuệ gọi là sắc hương mỹ vị, hoặc dứt ác, hành thiện, lợi sanh ba pháp, không gì thiếu sót gọi là đều đầy đủ, như thứ lớp phối hợp, trí tuệ phân biệt nghĩa đồng với đâm nghiền, truyền bá thô diệu nghĩa đồng với giả xay. Nay trước ba học ba hành tùy theo thuận hành gọi là hòa hợp, người tu học hoặc diệt thì khuyên uống thuốc.
Kinh: “Trong các con cho đến bệnh trừ hết được lành mạnh”.
Tán: Căn cơ thuần thục đạo thành dụ, nghĩa là hạng người căn đã thuần thục đắc đạo, sắc hương hai thứ dụ cho phước tuệ, hai thứ đắc đạo giải thích như trước đã giải. Dũ là bệnh lành.
Kinh: “Ngoài ra những người thất tâm cho đến mà cho là không ngon.
Tán: Người căn chưa thuần thục nhàm chán pháp dụ, có hai: Không chịu uống, và giải thích lý do. Người căn chưa thuần thục tuy ban đầu ít cầu pháp, sau không chịu tu hành mà phiền não quá sâu dày nên nhàm chán pháp.
Kinh: “Người cha nghĩ rằng cho đến khiến chúng uống thuốc này”.
Tán: Khiến mong cầu thị hiện diệt dụ, có ba: Trước nghĩ lập quyền phương, kế giáo pháp giữ lại, sau chỉ bày nói nhập diệt. Đây là
phần đầu. Vì phiền não sâu dày, giáo pháp mầu nhiệm không vâng theo nên lập ra quyền phương khiến các con chịu theo tu.
Kinh: “Nghĩ thế rồi liền bảo cho đến chớ lo không lành”.
Tán: Đây là giáo pháp giữ lại. Đạo thành đã lâu giả nói là già suy, lúc nhập diệt đã gần nay lưu giáo lại. Các thầy hãy y theo đây tu hành, phiền não ắt diệt cho nên chớ lo.
Kinh: “Bảo thế rồi cho đến cha các ngươi đã chết”.
Tán: Bày nói nhập diệt lại ẩn trước hóa gọi là đến nước khác; sai người về nói nhập diệt, nói cha các thầy đã chết, cha thật không diệt chỉ tạm thôi giáo hóa ở đây.
Kinh: “Bấy giờ các con cho đến không chỗ cậy nhờ”.
Tán: Luyến Phật ái pháp dụ, có hai: Trước nghĩ Phật từ bi thương xót, nghĩ mình côi cút, sau bi cảm y giáo mà hoặc khổ đều dứt. Đây là phần đầu. Đầu tin nghĩ đến Phật, sau là luyến mến pháp, Đức Phật hiện đời từ bi cứu giúp che chở khiến không còn hoặc khổ, nay Đức Phật đã diệt độ không còn chỗ nương tựa khiến con côi cút.
Kinh: “Lòng thương bi cảm cho đến bệnh độc đều lành”.
Tán: Ở đây nêu bi cảm y giáo mà hoặc khổ dứt trừ. Gia hạnh đế quán gọi là tỉnh ngộ, nhập thánh như nương theo uống thuốc thì hoặc khổ đều dứt. Độc dụ cho phiền não, bệnh dụ cho các khổ.
Kinh: “Người cha nghe các con cho đến các con đều thấy”.
Tán: Đắc Thánh thấy Phật dụ. Nếu khiến đắc Thánh Nhị thừa Vô học mà thấy Phật, nhập Biến dịch sanh tử thấy Phật hóa thân tịnh độ an trú từ lâu, nghĩa đồng trở về mà khiến kia thấy; hoặc Địa tiền đắc nhập Thập địa báo độ thấy Phật. Đây tuy hóa Phật thượng vị lên dần, mà lý y cứ ở đây cũng vậy.
Kinh: “Các người thiện nam cho đến có lỗi luống dối”.
Tán: Đây dụ vấn đáp biện rõ đây không luống dối: 1. Hỏi. 2. Đáp. 3. Thành. Đây nói hóa thân như thầy thuốc thị hiện chết, báo thân như cha thật thể thường tồn, nghĩa Niết-bàn như nói chương khác.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến thường trụ đây nói pháp”.
Tán: Đây có hai năm hàng rưỡi tụng chia làm hai: hai mươi hàng rưỡi tụng Bồ-đề vô thượng, năm hàng sau tụng Niết-bàn vô thượng. Văn đầu có ba: mười sau rưỡi tụng nêu hai thân báo hóa, tiếp tám hàng tụng nêu báo hóa hai cõi, sau hai hàng tụng kết khuyến không nghi. mười hàng rưỡi đầu lại có ba: ba hàng đầu tụng báo hóa hai thân, kế sáu hàng tụng báo thân Phật người vô duyên không thấy, người có duyên được thấy, một hàng rưỡi sau tụng kết lý do báo thân Phật thấy và
không thấy, đây là ba hàng đầu: hai hàng tụng nói báo thân, sau một hàng tụng nói về hóa thân.
Kinh: “Ta thường ở nơi đây cho đến dầu gần mà chẳng thấy”.
Tán: Dưới sáu hàng tụng nói báo thân Phật. Vô duyên không thấy, có duyên được thấy. Trong đây có hai: một hàng tụng vô duyên không thấy, năm hàng tụng có duyên được thấy. Đây là một hàng đầu. Chúng sanh điên đảo tự không thấy Phật, huống chi gia thêm thần thông ẩn, khiến không thấy, sợ thấy sanh lỗi nên thần thông che lấp, cũng như mặt trăng mặt trời tự sáng, người mù không thấy là lỗi của người mù chứ chẳng phải lỗi của mặt trăng mặt trời.
Kinh: “Chúng thấy ta diệt độ cho đến chẳng tự tiếc thân mạng”.
Tán: Dưới năm hàng tụng có duyên được thấy Phật chia làm hai: hai hàng đầu tụng đối đãi chúng sanh căn cơ thuần thục có duyên, ba hàng sau tụng hiện thân nói pháp. Đây là hai hàng đầu. Có bảy duyên căn cơ thuần thục: 1. Tu hành cúng dường. 2. Sanh tâm khát ngưỡng. 3. Tin phục không chê bai thuận hành. 4. Ngay thẳng chân thật lìa kiêu mạn cho đến 5. Mền mõng từ bi chịu đựng. 6. Một lòng muốn thấy chuyên nghĩ mong gặp. 7. Không tiếc thân mạng khinh thân trọng đạo.
Kinh: “Giờ ta cùng chúng tăng cho đến chỉ nói ta diệt độ”.
Tán: Hiện thân nói pháp có hai: Nửa hàng đầu tụng hiện thân, hai hàng rưỡi sau tụng nói pháp. Nói pháp có hai: Đầu một hàng nói thân tại đây hiện có Niết-bàn, sau một hàng rưỡi tụng hóa nhập Niết- bàn phương khác lợi ích, ở núi Linh nói hiện tại, hoặc hiện có ở Linh nói.
Kinh: “Ta thấy các chúng sanh cho đến hiện ra vì nói pháp”.
Tán: Đây là kết báo thân Phật lý do thấy và không thấy.
Kinh: “Sức thần thông như vậy cho đến trời người thường đông đúc”.
Tán: Dưới tám hàng nói về báo hóa hai cõi, có hai: năm hàng đầu tụng tướng cõi báo hóa, ba hàng sau tụng lý do vô duyên không thấy, có duyên được thấy tịnh độ. Đây là hàng đầu. Trứơc tụng trú xứ, kế tụng quyến thuộc. Kiếp tận là cõi an ổn là tịnh độ, Bồ-tát trời người thường ở trong hội.
Kinh: “Vườn rừng các nhà gác cho đến như thế đều đầy dẫy”.
Tán: Trong đây có ba:
  1. Tướng cõi.
  2. Cúng dường.
  3. Lìa sợ hãi.
 
Cõi hóa độ lo sợ khổ não đầy dẫy, tịnh độ lìa các thứ đó.  Trong tướng cõi có sự có công đức. Như Kinh Vô Cấu Xứng nói tổng trì là vườn rừng, rừng cây đại pháp cho đến đều nên nói theo đó, nghĩa Tịnh Độ kia như nói ở chương khác. Luận chép: Cõi tịnh của ta không hủy hoại mà chúng thấy đốt cháy hết, là báo Phật Như-lai chân thật tịnh độ thuộc bậc nhất nghĩa đế không như cõi hóa thế gian thuộc về tục đế. Nhạc âm có hai: 1. Lư các trái lại là thô tháo thưởng thức. 2. Năm giáo trái lại với thỏa thích, chỗ tốt đẹp đáng sanh vui mừng.
Kinh: “Các chúng sanh tội ác cho đến không nghe tên tam bảo”.
Tán: Dưới ba hàng tụng vô duyên không thấy có duyên được thấy chia làm hai: một hàng đầu tụng vô duyên không thấy, sau hai hàng tụng nói có duyên được thấy. Đây là một hàng đầu, có bốn chướng hoặc nghiệp, báo, pháp, không nghe tên Tam bảo có ba chướng gọi là chúng sanh tội, nghiệp chướng gọi là nghiệp ác.
Kinh: “Người tu các công đức cho đến vì nói Phật khó gặp”.
Tán: hai hàng tụng có duyên được thấy chia làm hai: một hàng tụng tu ba nhân thấy Phật ở Tịnh độ, một hàng tụng thấy Phật tuổi thọ có ngắn dài. Tu ba nhân: 1. Công đức. 2. Nhu hòa. 3. Ngay thẳng. Thân ngữ ý ba nghiệp tu thiện, lợi sanh, diệt ác ba thứ; hoặc giới định tuệ học, hoặc thi giới tu như thứ lớp nên biết, vì ứng thường thấy nói tuổi thọ vô lượng, vì không ứng thường thấy nói Phật khó gặp.
Kinh: “Trí lực ta như thế cho đến lời Phật thật không dối”.
Tán: Kết khuyên không nghi ngờ. Ánh sáng trí tuệ chiếu soi không còn nghi ngờ độ tất cả chúng sanh cho nên tu nghiệp lâu chứng đắc, do bi nguyện này nên tuổi thọ lâu dài.
Kinh: “Như thầy thuốc khéo léo cho đến không thể nói luống dối”.
Tán: Dưới năm hàng tụng nói về Niết-bàn vô thượng, có hai: một hàng đầu là dụ, bốn hàng sau hợp. Đây là một hàng đầu, cuồng tử là người căn cơ chưa thuần thục.
Kinh: “Ta là cha trong đời cho đến mau thành tựu thân Phật”.
Tán: Đây bốn hàng tụng hợp chia làm bốn: một hàng tụng hiện thân sai khác, một hàng tụng vì ác sanh, một hàng tụng nói pháp sai khác, một hàng tụng nguyện thành Phật.
-------------------
PHẨM PHÂN BIỆT CÔNG ĐỨC
Phẩm này có chia làm ba môn:
  1. Vì sao có phẩm này.
  2. Giải thích tên phẩm.
  3. Giải đáp các nạn vấn.
I. Vì sao có phẩm này có ba:
1. Bên cạnh hai phẩm giải thích nghi các Bồ-tát từ đất vọt hiện lên, tức là trước nói quyền thật hai Phật, lý trí hai thân, nhiếp chung nền tảng muôn đức, tóm thâu rốt ráo Ba minh, thần thông tột bậc, màu nhiệm tận cùng, người nghe tâm trí khế, ngộ, hợp, chân, hoặc thông suốt ắt nên chứng đạo. Nay nêu rõ các cấp bậc tiến tu nên có phẩm này.
2. Trong năm nói quả Nhất thừa, hai phẩm đầu hai nêu rõ quả đã mãn, nhân nơi phẩm trước chánh đã nêu rõ quả mãn, nên phẩm này biện rõ thời chúng nhân đây chứng đắc khác nhau cho nên có phẩm này.
3. Luận giải trong thập vô thượng, thứ mười là lực thắng diệu vô thượng, là phần Tu đà còn lại nói: Luận lại tự nói: Từ đây sắp xuống thị hiện pháp lực và lực tu hành, pháp lực tức oai thần của kinh lực tu hành tức công đức cao quý do năng sở hành. Pháp lực có năm môn:
  1. Chứng.
  2. Tín.
  3. Cúng dường.
  4. Nghe pháp.
  5. Đọc tụng trì nói.
Chứng là chúng Thanh-văn nghe Phật tuổi thọ, có mười một ngôi vị chứng Thánh. Tín nghĩa là tám thế giới cát bụi số Bồ-tát phát tâm tin hiểu. Cúng dường nghĩa là trời mưa hoa cho đến ba môn trên đây đều ở đầu phẩm này. Nghe pháp nghĩa là giữa và sau phẩm bao gồm nghe pháp tùy hỷ. Trong phẩm Tùy hỷ. Đọc tụng trì nói nghĩa là phẩm Pháp Sư công đức nói người đọc tụng trì nói được công đức, đến văn sẽ giải. Luận tự giải rằng: Ở bốn môn đầu, Bồ-tát Di-lặc thị hiện, đều bảo với Di-lặc, một phẩm sau hàng Bồ-tát Thường Tinh Tấn thi hiện, nên chỉ bảo với Thường Tinh tấn.
Do pháp lực này chỉ nhiếp ba phẩm, tu hành lực kia nhiếp mười một phẩm: 1. Pháp Sư. 2. An lạc hạnh. 3. Trì. 4. Thần lực. 5. Dược vương. 6. Diệu âm. 7. Quán âm. 8. Đà-la-ni. 9. Diệu trang. 10. Phổ Hiền. 11. Chúc Lụy. Hợp mười bốn phẩm đều là nghĩa thứ mười thắng
diệu lực vô thượng. Do nêu rõ chứng, tín, cúng dường ba thứ nên sau phẩm Tuổi thọ có phẩm này.
II. Giải thích tên phẩm: Công là công lao lực dụng nghe pháp, đức là đạo công lực thể tức phước tuệ, đức do nghe pháp mầu mà đắc gọi là công đức. Đây là nói về giải thích nghĩa, phân biệt các sự công đức, phẩm này nói về giải thích phân biệt sự công đức kia cho nên gọi là phẩm Phân Biệt Công Đức.
III. Giải đáp các vấn nạn: Hỏi: Do đâu Thanh-văn nghe thật quyền mà ngộ lãnh bèn được thọ ký, Bồ-tát nghe chân thật hóa mà lãnh giải biết không thọ ký ư?
Đáp: Bồ-tát được thọ ký Đức Phật đã nói số, chỉ nói chứng nhân không nói quả đương lai. Thanh-văn sơ ngộ thành Phật sự khó, nhân chứng chưa thành tạm thọ ký quả đương lai.
Hỏi: Do đâu nói thừa quyền thật Bồ-tát ký chứng đều thiếu? Đáp: Bồ-tát đã biết trước quyền thật chỉ nghe thân mà đạo chứng,
Thanh-văn chưa chứng hóa chân chỉ nghe thừa để được thọ ký, Bồ-tát không lấy bỏ còn Thanh-văn chưa chứng.
Hỏi: Khoa đầu nói: Vì sao nói quyền thật để thọ ký cho Thanh-văn mới là tông chỉ? Nói chân hóa để chứng Bồ-tát mà thuộc lưu thông?
Đáp: Pháp Hoa khai dụ dẫn chánh là đối quyền thật để trình bày tông chỉ không nói ứng chân đâu thể nói thân làm tông chỉ! Chỉ là nhân trước dũng xuất giải Thích-các nghi kia, mà chẳng phải nêu khai dẫn dụ cho nên chẳng phải tông chỉ.
Kinh: “Lúc bấy giờ trong Đại hội cho đến được lợi ích lớn”.
Tán: Phẩm này chia làm hai: 1. Văn xuôi và tụng nói chúng đương thời trong hội đạt được lợi ích hiện tiền dần tiến lên, 2. Văn xuôi và tụng nêu so sánh lượng hơn kém lợi ích thời sau.
Đầu văn có bốn: 1. Nêu thời lợi ích. 2. Phật nói về lợi ích. 3. Cúng dường lợi ích. 4. Tụng thọ lợi ích. Đây là phần đầu.
Kinh: “Khi đó Đức Thế tôn cho đến pháp luân thanh tịnh”.
Tán: Dưới Đức Phật bảo lợi ích có hai: Trước nói chứng đắc, sau nói tín phát. Văn đầu có hai:
  1. Sáu môn đầu dựa theo ngôi chứng đắc.
  2. Năm môn dựa theo sanh chứng đắc.
Đây là phần đầu. Căn cứ theo luận, trong năm môn pháp lực ở phẩm này có ba: 1. Chứng: Mười một vị đầu. 2. Tín: Tám thế giới Bồ-tát phát tâm. 3. Cúng dường là trời mưa hoa cho đến y nghĩa cao quý luận làm giải thích, tâm không lãnh thọ. Vô sanh pháp nhẫn luận này nói sơ
địa, tức căn cứ đắc vị đầu tiên, thời gian dài ở Thất địa, liên tục kế tiếp Bát địa, viên mãn nói Phật địa. Vô sanh là cảnh vô sở chấp, sanh pháp là giáo giải thích vô sanh giáo, Địa tiền xưa nghe chưa thể trí chứng, nay trí chứng ấn gọi là vô sanh, biến kế sở chấp gọi là tướng vô sanh,  y tha khởi tánh là tự nhiên vô sanh, viên thành thật tánh hoặc khổ vô sanh. Văn trì nơi Tam địa Phật địa cho đến nói. Thập Địa luận nói ở nơi Ngũ địa. Tam địa ly định chướng, Ngũ địa định tự tại, Nhạo nói biện tài ở ngũ địa, giải năm minh luận biện tài đầy đủ. Duy Thức chép: Tại địa thứ chín căn cứ thành mãn. Triền-đà-la-ni tại thất địa. Nay tùy theo xoay vần trở lại không và tu hành che chở trong hữu tình. Thất địa thời gian dài vô tướng và quán hữu tình. Di-lặc Thượng Sanh nói: Di-lặc đắc Thập địa là căn cứ thành mãn, bất thối pháp luân tại Bát địa đủ bốn bất thối. Thanh tịnh pháp luân ở Thập địa, vô tướng lìa chướng làm thể thanh tịnh. Lại đây là công đức pháp chỉ tùy nghĩa nói chúng không cần thứ lớp phối hợp các địa.
Kinh: “Lại có cõi nước tiểu thiên cho đến chánh đẳng giác”.
Tán: năm vị này dựa vào sanh chứng đắc. Luận nói đây đắc sơ địa Bồ-đề lìa sanh tử phần đoạn, tùy phần chứng đắc thấy chân như Phật tánh gọi là đắc Bồ-đề, chẳng đắc quả mãn Phật vị Bồ-đề. Cũng có giải thích nói: y Kinh Niết-bàn nói tám đời là người bốn hằng sa giải một phần mười sáu nghĩa. Bốn đời là người năm hằng sa giải tám phần nghĩa. Ba đời là người sáu hằng sa giải mười hai phần nghĩa. Hai đời là người bảy hằng sa giải mười bốn phần nghĩa, một đời là người tám hằng sa giải mười sáu phần nghĩa. Tuy có đây giải thích nói tám hằng sa là Đệ thập địa mà nay y luận này đắc sơ địa Bồ-đề, không nói đắc Phật địa nên không theo giải thích này.
Kinh: “Lại có tám thế giới cho đến tâm chánh đẳng giác”.
Tán: Đây là nói tín phát.
Kinh: “Lúc Đức Phật nói cho đến khen ngợi Chư Phật”.
Tán: Thứ ba cúng dường có bảy:
  1. Mưa hoa.
  2. Mưa hương.
  3. Tấu nhạc.
  4. Mưa trang sức.
  5. Đốt hương.
  6. Bồ-tát lên cõi trời.
  7. Ca tụng của đức Phật.
Chuỗi châu ma-ni tuy vừa ý mà chưa thù thắng, châu như ý mới
 
trên hết, hương không bay xuống phương dưới nên nói chín phương.
Kinh: “Khi ấy ngài Di-lặc cho đến vui mừng đầy khắp thân”.
Tán: Thứ tư lãnh thọ lợi ích có mười chín hàng tụng chia làm ba: hai hàng đầu nghe pháp vui mừng, tiếp mười lăm hàng tụng lý do lợi ích, sau hai hàng tụng kết thành vui mừng. Đây là hai hàng đầu.
Kinh: “Hoặc trụ vị bất thối cho đến được quả báo thanh tịnh”.
Tán: Dưới mười lăm hàng tụng nguyên nhân lợi ích, chia làm ba: bảy hàng tụng chứng, một hàng tụng tín, bảy hàng tụng cúng dường. Đây là phần đầu có ba: ba hàng tụng vị chứng, ba hàng tụng sanh chứng, một hàng tụng kết.
Kinh: “Lại có tám thế giới cho đến đều phát tâm vô thượng”.
Tán: Đây tụng tín.
Kinh: “Thế tôn nói vô lượng cho đến ca vịnh các Như-lai”.
Tán: Bảy hàng đầu tụng cúng dường có hai: một hàng đầu tụng nêu khen ngợi, sau sáu hàng tụng cúng dường. Cúng dường có bảy: Nửa hàng tụng mưa hoa, một hàng rưỡi tụng mưa hương, nửa hàng tụng trổi nhạc, nửa hàng tụng mưa y, một hàng tụng đốt hương, một hàng rưỡi tụng lên trời, nửa hàng ca tán.
Kinh: “Như thế các việc cho đến để giúp tâm vô thượng”.
Tán: Đây kết thành khen ngợi vui mừng. Người gốc lành đầy đủ được nghe danh hiệu Phật, để trợ tâm vô thượng của Phật, tu hành thuận theo tâm Phật, hoặc khiến kia đầy đủ gốc lành, trợ giúp chúng sanh kia sanh vô thượng tâm gọi là trợ.
Kinh: “Lúc bấy giờ Đức Phật bảo cho đến không có hạn lượng”.
Tán: Dưới đoạn thứ hai so sánh công đức hơn kém nói về thời sau lợi ích; chia làm hai: Trước văn xuôi và tụng nghe tuổi thọ của Phật sanh tùy hỷ tín hiểu lợi ích, cùng với phẩm Tùy hỉ công đức thành đồng bộ, sau văn xuôi, tụng nghe tuổi thọ của Phật giải trì đọc tụng lợi ích, cùng với phẩm Pháp Sư công đức bên dưới làm đồng bộ. Trước lãnh giải tùy hỷ sau chánh tu hành. Văn trường đầu hàng có ba: Nói chung tín hiểu, tiếp so sánh hơn kém, sau hiển bày nghĩa không lui sụt. Đây là phần đầu, tùy hỷ công đức sau, đắc Bồ-đề đâu có lường được.
Kinh: “Nếu có người thiện nam cho đến không thể biết được”.
Tán: Đây so sánh hơn kém, Nhất thừa thể kia tức tuệ hữu vi   và trí vô vi do đó trừ Bát-nhã là nghĩa trên hết. Kinh này tuy nói xuất sanh Nhất thừa mà thể tánh rộng lớn đầy đủ. Kinh Thắng-man nói Nhất thừa, tuy không nhiếp nhập mà chỉ lấy vô vi tuệ làm Nhất thừa kia dù
đã Hằng hà sa kiếp hành sáu Ba-la-mật không bằng có người tay  cầm quyển kinh, rồi nói trừ Bát-nhã cho nên biết kinh này lấy chung cả lý trí làm Nhất thừa, lý trí Nhị thừa hội nhập về Nhất thừa. Nếu chỉ lấy chân lý thì đồng kinh Thắng-man lấy làm Nhất thừa, cũng nên dùng chung lục độ so sánh, đều xuất ra sanh nghĩa, vì sao trừ tuệ. Thân Kim Cương Bát-nhã luận của Thiên chép: Số, lực, không tương tợ, thắng, cũng vậy.
Số thắng; 2. Lực thắng thắng thời; 3. Không tương tợ thắng và dụ thắng; 4. Nhân thắng là nhân quả thù thắng. Văn này có hai: Tính đếm, thí dụ cho đến hai thứ còn lại cũng không sánh bằng nên nói cho đến.
Kinh: “Nếu người thiện nam cho đến không có lẽ đó”.
Tán: Đây là hiển nghĩa bất thối, tín, vị, chứng, hành tùy ứng bất thối.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến hành năm Ba-la-mật”.
Tán: Dưới mười chín hàng rưỡi tụng chia làm hai: mười bốn hàng đầu tụng so sánh, năm hàng rưỡi sau tụng năng tín, không tụng phần Văn xuôi đầu. Mười bốn hàng đầu lại có hai: Mười hai hàng tụng hành năm độ, sau hai hàng tụng so sánh một tín. Trong mười hai đầu lại có ba: một hàng nói chung, mười hàng tụng năm độ, một hàng tụng kết thành. Đây là nói chung đầu.
Kinh: “Ở trong các kiếp đó cho đến để hồi hướng Phật đạo”.
Tán: Dưới mười hàng tụng năm độ chia làm năm, đây ba hàng tụng bố thí đệ tử Thanh-văn, ruộng có ba thứ:
  1. Tôn thắng.
  2. Bần khổ.
  3. Trung dung.
Ân cha mẹ thuộc ruộng tôn thắng, nay cúng dường ruộng này. Ruộng ân hai thứ đều trên hết, thâu nhiếp cả y dược cho đến trong đó, nên tứ sự đều đủ.
Kinh: “Nếu giữ gìn cấm giới cho đến một lòng không biếng trễ”.
Tán: một hàng tụng giới. Hai hàng tụng nhẫn, một hàng tụng cần (tinh tấn).
Kinh: “Trong vô lượng ức kiếp cho đến tận nguồn các thiền định”.
Tán: Đây ba hàng tụng định.
Kinh: “Người ấy trăm ngàn kiếp cho đến như trên đã nói rõ”.
Tán: Đây một hàng tụng kết thành.
Kinh: “Có thiện nam tín nữ cho đến phước đó nhiều như thế”.
Tán: Đây hai hàng tụng so sánh một tín.
Kinh: “Nếu có các Bồ-tát cho đến nói tuổi thọ cũng thế”.
Tán: Dưới năm rưỡi tụng nêu người năng tín chia làm ba: một hàng tụng tín, ba hàng tụng phát nguyện, một hàng rưỡi hàng tụng kết thành. Phát nguyện có hai: Tổng và biệt. Đây là hai phần đầu .
Kinh: “Nếu có người thân tâm cho đến nơi đây không có nghi”.
Tán: Đây là kết thành, đủ có sáu đức:
  1. Thâm tâm hết lòng ưa pháp.
  2. Thanh tịnh không cầu danh lợi.
  3. Ngay thẳng.
  4. Học rộng.
  5. Tổng trì.
  6. Giải lời Phật mới tin không nghi.
Kinh: “Lại A-dật-đa cho đến nhất thiết chủng trí”.
Tán: Dưới đoạn thứ hai giải trì đọc tụng lợi ích, trong văn xuôi có bảy:
  1. Hành giả công đức vô biên năng sanh chủng trí.
  2. Hành giả thấy báo thân tịnh độ.
  3. Hành giả đầu đội đức Như-lai.
  4. Hành giả tự mình xây tháp Phật tăng phòng cúng dường.
  5. Hành giả thực hành lục độ tự lợi chóng đắc chủng trí đến đạo tràng.
  6. Hành giả thực hành lục độ lợi tha hướng đến đạo tràng.
  7. Chỗ của hành giả ở nên xây tháp cúng dường.
Đây là văn đầu có hai: Trước nghe tuổi thọ Phật khởi tuệ vô thượng, sau đối với một bộ kinh này khởi văn trì năng sanh chủng trí sẽ chứng đắc.
Kinh: “A-dật-đa cho đến nuôi lớn tin hiểu sâu chắc”.
Tán: Hành giả thấy báo thân tịnh độ có bốn:
  1. Thấy báo thân Phật.
  2. Thấy Tịnh độ.
  3. Thấy Bồ-tát chúng.
  4. Kết thành trước ắt sẽ thấy.
Kiến giải trí Phật như báo Phật, đây dùng trí thấy chẳng phải dùng mắt thấy.
Kinh: “Và lại sau khi Như-lai diệt độ cho đến đầu đội đức Như-lai”.
Tán: Hành giả đầu đội Phật, nghe kinh tùy hỷ rồi tin hiểu sâu,
huống chi đọc tụng thọ trì. Kính trọng Phật cho nên gọi là đầu đội.
Kinh: “A-dật-đa… cúng dường chúng tăng”.
Tán: Hành giả tự xây tháp Phật tăng phòng cúng dường có ba đầu tiên là: Nêu, tiếp giải thích, sau là kết. Đây là nêu.
Kinh: “Vì sao? Cho đến cúng dường chúng tăng”.
Tán: Giải thích có hai: Lược, và rộng. Đây là lược. Toàn thân Xá-lợi ở đây tức là xây tháp nơi chúng học tức là Tăng phường, thọ trì đọc tụng chân thật hành cúng dường, cho nên nói tức là hai thứ cúng dường đây.
Kinh: “Thời đem Xá-lợi Phật cho đến làm việc cúng dường đó rồi”.
Tán: Dưới đây rộng giải thích, có hai: Trước giải thích tức là xây tháp cúng dường, sau giải thích tức là xây cất Tăng phòng cúng dường. Đây là phần đầu, có ba:
  1. Lượng.
  2. Vật cụ
  3. Thời.
Người này chắc chắn nêu vượt cõi cõi Dục. Lại tạm nêu rất nhỏ là đến cõi Phạm thiên, nhỏ dần là có thể thực hành căn lành nhỏ, nêu tiểu làm dụ, nội pháp cúng dường hơn ngoại tài.
Kinh: “A-dật-đa cho đến và Tỳ-kheo tăng”.
Tán: Đây giải thích là xây tăng phường cúng dường có hai: Trước chỉ ít sau chỉ nhiều. Chỉ ít có bốn:
  1. Số.
  2. Lượng.
  3. Tăng trú.
  4. Tư cụ.
Đầy đủ ba mươi hai sở là chỗ an trú của tứ phương Tăng sanh trong tám đường. Bát-đa-la là tu bát giải thoát. Một cây đa-la cao bảy nhận, tương truyền giải một nhận là bảy thước, tám cây đa-la tính có thể biết. Ngoài ra các thứ khác đều có tiêu biểu tùy nghĩa nên biết cho đến “Như vậy Tăng phường lầu gác v.v…” là chỉ nhiều, tức là tạo lập Tăng phường v.v… như trước mà hiển số nhiều.
Kinh: “Cho nên ta nói cho đến cúng dường chúng Tăng”.
Tán: Hành giả thực hành lục độ tự lợi mau đắc chủng trí có ba: Trước pháp, tiếp dụ, sau hợp, mau thành chủng trí.
Kinh: “Nếu người đọc tụng cho đến giỏi gạn hỏi đáp”.
Tán: Hành thực thực hành cả lục độ lợi tha vì hướng đạo tràng.
Đạo tràng là chánh đẳng giác tánh, trước là Bồ-đề đây là Niết-bàn, có
hai: Trước nêu lục độ lợi tha, sâu kết đã đến đạo tràng. Đây là phần đầu, xây tháp Tăng phường cúng dường là tài thí, khen ngợi tam thừa là vô úy thí, nói kinh Pháp Hoa này là pháp thí. Ngoài ra, giới, nhẫn, an, cần, tuệ như thứ lớp lợi tha. Trong nhẫn đồng chỉ nại, oán hại nhẫn, nhẫn nhục không sân là an chịu khổ nhẫn, chí niệm vững chắc quán sát rõ là pháp nhẫn, đắc định sâu cần nhiếp thiện đều là lợi tha.
Kinh: “A-dật-đa cho đến ngồi dưới cội đạo thọ”.
Tán: Kết rồi đến đạo tràng, hướng chân và hóa hai đạo tràng, giác thọ tự vinh như sanh thọ.
Kinh: “A-dật-đa cho đến như tháp của Phật”.
Tán: Chỗ hành giả ở nên xây tháp cúng dường.
Kinh: “Bấy giờ Đức Thế tôn cho đến như trên đã nói”.
Tán: Đây kệ có mười chín hàng rưỡi tụng chia làm năm: một hàng đầu nêu chỉ ba thứ trước, kế bảy hàng rưỡi tụng loại thứ tư tức mình xây tháp tăng phòng cúng dường, kế ba hàng tụng loại thứ năm hành giả thực hành lục độ tự lợi mau đắc chủng trí, kế ba hàng tụng loại thứ sáu hành kiêm lục độ lợi tha vì hướng đến đạo tràng, sau năm hàng tụng loại thứ bảy nơi hành giả ở nên xây tháp cúng dường. Đây là phần đầu.
Kinh: “Đó thời là đầy đủ cho đến đầy đủ các cúng dường”.
Tán: Dưới bảy hàng rưỡi tụng loại thứ tư chia làm hai: bốn hàng rưỡi tụng tức xây tháp cúng dường, ba hàng sau tụng xây Tăng phường cúng dường. Đây là phần đầu có ba: hai hàng tụng xây tháp, một hàng rưỡi tụng cúng dường, một hàng tụng kết.
Kinh: “Nếu hay trì kinh này cho đến các thứ đều nghiêm tốt”.
Tán: Đây là xây Tăng phường cúng dường.
Kinh: “Nếu có tâm tin hiểu cho đến phước ấy cũng như thế”.
Tán: Tụng loại thứ năm kiêm hành lục độ tự lợi mau đắc chủng trí, chỉ luận 1 thí không nói năm độ.
Kinh: “Huống nữa trì kinh này cho đến công đức không thể lường”.
Tán: Tụng loại thứ sáu kiêm hành lục độ lợi tha vì hướng đến đạo tràng, cúng dường tháp miếu, “khiêm hạ các Tỳ-kheo...” đều thuộc tinh tấn độ.
Kinh: “Nếu thấy pháp sư đây cho đến kinh hành và ngồi nằm”.
Tán: Tụng loại thứ bảy nơi hành giả ở nên xây tháp cúng dường chia làm bốn: Nửa hàng tụng kính như Phật, một hàng rưỡi tụng biết
đạo thành, một hàng rưỡi tụng nên xây tháp, một hàng tụng nơi Phật thường ở cho đến.
Ngày 21 tháng 6 Niên hiệu Bảo An năm thứ ba Tăng Giác Ấn chùa Pháp Long viết xong .
Cùng năm ngày 24 tháng 12 để ở chùa Hưng Phước Viên Như phòng kiểm duyệt xong, Tăng Giác Ấn vì muốn chánh pháp tồn tại lâu dài vãng sanh cực lạc.
Ngày 21 tháng 5 năm Tân hợi niên hiệu Thiên thừa năm đầu phụng truyền thọ ở chùa Dược Sư Thiện Minh phòng đắc nghiệp rồi nhiếp giải thích và sao xuất, truyền thọ đã xong Tăng Giác Ấn.
/28
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »