SỐ 1758
BÀI TỰA
A-DI-ĐÀ KINH THÔNG TÁN SỚ
Rõ được lý thì dứt bặt giải thích, chẳng lẽ ba thừa có thể nhiếp sao? Trí tròn đầy muôn đức, bậc Thập địa chẳng thể quán sát. Rải mây từ khắp bốn sinh, tuôn mưa pháp làm sinh trưởng khắp cả chín cõi. Do đó mà Đức Bổn Sư giáng thần từ tầng trời Đâu-suất, đản sinh vào thành Ca-tỳ-la-vệ. Chán dục lạc ở chốn cung vua, đạt chân thường dưới cội Bồ-đề. Cũng do nghiệp cảm của chúng sinh làm cho ma quân thêm lớn, mở ra biển khổ để nhốt ba đường, làm đắm chìm thuyền từ mà nuốt cả muôn thiện. Cho nên Phật giăng rộng lưới giáo, chỉ thẳng cõi Tịnh độ, là cửa huyền để nhập Thánh, là bước diệu để vượt phàm.
Mười loại Tịnh độ, y theo địa vị thì có khác nhau. Chín phẩm đài sen, vì khế hợp với căn cơ nên có thứ lớp. Lớn lao thay, pháp môn xả bỏ không–hữu, biểu hiện riêng về đoạn thường. Phật là bậc đã giác ngộ viên mãn. Nói là dùng tâm từ bi để giảng pháp. A-di-đà nghĩa là Vô Lượng Thọ, Kinh: là thường pháp gom nhiếp thông suốt. Thường thì trăm vua không dời đổi, pháp thì ngàn đời đồng giữ khuôn phép. Nhiếp thì bao gồm hết cả ngôn từ, thông suốt thì xuyên suốt và liên kết diệu lý. Cho nên nói rằng: Kinh Phật nói về Đức Phật A-di-đà. Kinh chép: Tôi nghe như vầy… Lời tán rằng: Giải thích kinh này, lược có sáu khoa:
Nói chung về nguyên nhân.
Nói riêng tông chỉ.
Nói thể dụng của kinh.
Nói về người dịch, thời gian dịch
Nói về đốn tiệm.
Chính thức giải thích văn kinh.
1. Nay nói phần thứ nhất là nêu chung nguyên nhân: Phật từ nhân địa phát thệ nguyện rộng lớn, nguyện cứu độ chúng sinh. Nay dẫn ra nhân đời trước, nên nói là các pháp. Trong phẩm Phương tiện kinh Pháp Hoa chép: “Xá-lợi-phất nên biết, ta vốn lập thệ nguyện, muốn cho tất cả chúng, bằng như ta không khác.”
Lại, trong phẩm Thọ Lượng chép: “Thường tự nghĩ rằng: làm sao giúp cho chúng sinh nhập vào đạo vô thượng, mau thành tựu thân Phật.”
Nếu đối với nhân đời trước hoặc quả vị hiện tại đều có phát nguyện, nguyện giúp cho tất cả chúng sinh, cũng được như thân ta, được nhập vào Phật đạo, nên tùy theo bổn nguyện mà nói các kinh.
Lại như trong luận chép rằng: Lúc Bồ-tát mới sinh , phát ra ánh sáng rực rỡ, chiếu khắp mười phương, bước đi bảy bước, quán thấy cả bốn phương, cất tiếng như sư tử rống, mà nói kệ rằng: “Ta thai phần đã hết, đây là thân cuối cùng, ta đã được giải thoát, nên cứu độ chúng sinh.” Vì nguyện báo ân này cho nên nói ra các kinh.
Hỏi: Nơi Đức Thế tôn nói pháp rất nhiều, vì sao ở Kỳ Viên lại bàn luận các kinh điển nói về lòng từ?
Đáp: Các nơi nói pháp ý thú khác nhau, như Kinh Duy-ma là phá sự thiên chấp, kinh Pháp Hoa dẫn dắt người vào con đường nhất thừa. Nguyên nhân khơi ra kinh này là để phá bỏ ba bánh xe, ba bánh xe là:
1. Phá bánh xe vô thường, hữu tình,vô tình đều là vô thường, giúp cho chúng sinh được giác ngộ, xả bỏ vô thường.
2. Phá bánh xe bất tịnh: vì hữu tình, vô tình đều là bất tịnh, chúng sinh trở về Tịnh độ, hóa sinh vào hoa sen, bỏ hết thân bào thai máu thịt, đó là phá hết thân hữu tình bất tịnh. Về cõi Tịnh không còn nhơ uế xấu xa, đó là phá hết khí thế gian bất tịnh, đó gọi là phá bánh xe bất tịnh.
3. Phá bánh xe khổ: chúng sinh bị các khổ ép ngặt, phải giúp họ trở về Tịnh độ, dứt hết các khổ.
Vì muốn phá bỏ hết ba bánh xe cho nên Phật nói kinh này.
Lại vì muốn dắt dẫn hai thứ chúng sinh:
1. Muốn dắt dẫn các chúng sinh biếng nhác, sợ các pháp tu hạnh đại thừa, thường bị lui sụt. Cho nên Phật nói kinh này, nhân nhỏ nhiệm, quả hiển trước, giúp thân không còn lui sụt. Kinh chép: Hoặc một ngày cho đến bảy ngày liền được vãng sinh.
2. Vì độ chúng sinh tán loạn, rong ruổi theo các cảnh, đắm chìm
trong đường ác, cho nên nói kinh này, chỉ bày cõi Tây phương, giúp cho tâm chuyên chú.
Hỏi: Nơi nơi nói pháp đều phá ba bánh xe, vì sao kinh này chỉ hiển bày về lòng từ?
Đáp: Trong kinh khác tuy phá ba bánh xe, nhưng thời gian xả bỏ dài, nên khác nhau với kinh này, cho nên nói là phá ba bánh xe.
2. Thứ hai nói về tông chỉ: Ở đây các vị tôn đức đều chia kinh thành bốn tông chỉ.
Lập tánh tông: là “Tạp tâm”,… lập năm nhóm pháp có thể tánh.
Phá tánh tông: là “Thành thật” v.v… phá pháp thể có tánh, chỉ có tướng.
Phá tướng tông: là “Bát-nhã”,… phá tướng trạng của pháp cũng thành không.
Hiển thật tông: là Các bộ như Niết-bàn, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm v.v… Hiển bày nghĩa trung đạo chân thật, lìa bỏ hóa thành mà trờ về đảo châu báu. Kinh này là tông thứ tư.
Nương theo văn mà chia giáo, giáo chỉ có ba, dùng loại để chuẩn tông, thì tông có tám.
Giáo chỉ có ba là:
1. Hữu tông: Phần nhiều nói về “hữu tông”, là các giáo tiểu thừa như kinh A-hàm v.v…
2. Không tông: Phần nhiều nói về “không tông” là các bộ “Trung luận”, “Bách luận”, “Thập Nhị Môn”, “Bát-nhã, v.v…”
3. Phi hữu tông: là các Kinh: Hoa Nghiêm, Thâm Mật, Pháp Hoa và kinh này. Hữu vi, vô vi là “hữu”. Ngã và ngã sở là “không”. Đây là những điểm của ba giáo được nói rộng.
Tông có tám là:
1. Ngã pháp không hữu tông: như Độc tử bộ, v.v…
2. Hữu pháp vô ngã tông: như các bộ Tát-bà-đa v.v…
3. Pháp vô khứ lai tông: như Đại chúng bộ, v.v…
4. Hiện thông giả thật tông: như thuyết giả bộ v.v…
5. Tục vọng chân thật tông: như thuyết xuất thế bộ, v.v…
6. Chư pháp đãn danh tông: như Nhất thuyết bộ,…
7. Thắng nghĩa giai không tông: như Kinh Bát-nhã…, các bộ Trung luận, Bách luận… của ngài Long Thọ.
8. Ứng lý viên thật tông: các bộ Hoa Nghiêm, Pháp Hoa và các giáo nói về Trung đạo của ngài Vô Trước. Kinh này chính là ứng lý viên thật tông, tức lấy Tịnh độ làm tông. Lại có hai tông:
Không nói pháp tông.
Nói pháp tông.
1. Không nói pháp tông do ngài Long Thọ v.v… nói. Phật chỉ có ba pháp là đại định, đại trí và đại bi. Đã lìa hết hý luận từ lâu, không hề nói pháp. Vì Phật duyên theo năng lực bổn nguyện từ bi, trong thức của chúng sinh tướng văn nghĩa sinh, tuy thân nương vào năng lực gốc lành mà khởi ra, nhưng do duyên mạnh nên gọi là Phật nói, cho nên trong luận Vô Tánh chép: “Tùy rơi vào tám thời, người nghe biết thuyết trên thật hay chẳng Phật, nhóm họp hiển hiện ra mà lấy làm giáo thể.”
Kinh chép: Bắt đầu từ lúc mới thành đạo, cho đến lúc nhập Niết- bàn, trong thời gian đó không nói một chữ, như mẹ cắn ngón tay, mà con biết mẹ gọi.
2. Ngài Thân Quang chép: thân Phật có đủ cả: uẩn, xứ, giới,… do lìa hết phân biệt nên gọi là vô hý luận. Như vậy không nói pháp mà gọi là vô hý luận hay sao? Nói rằng người nghe duyên theo bổn nguyện gốc lành, tướng văn nghĩa sinh trong thức của Như lai, tướng văn nghĩa này là do gốc lành lợi tha của Chư Phật khởi lên, gọi là Phật nói. Thức của người nghe tuy không tự thân đắc, nhưng gần như tướng kia được hiển hiện rõ ràng, nên nói là tôi nghe,…
Ngài Thế Thân chép: Các thức khác nối nhau sai khác, giúp cho các thức khác sai biệt nối nhau, kia đây làm duyên tăng thượng cho nhau. Do đó, ngài Hộ Pháp tùy cơ mà ứng sự, thuyết giáo nói ra ba thừa, kinh này thuộc về Đại thừa, là tạng Bồ-tát trong ba Tạng, là phần vô vấn tự thuyết trong mười hai phần.
Hỏi: Bạch Liên Hoa giáo, đợi có người thỉnh mới giảng nói. Còn văn kinh Tịnh độ, vì sao lại tự nói?
Đáp: Nói Pháp Hoa mà đợi thỉnh, vì sợ sinh tâm khinh mạn. Nói về Tịnh độ mà tự giảng nói, là biểu hiện rõ ý từ bi. Chỉ là chỉ thú, giúp cho xa lìa cõi uế, thú hướng về cõi nước thanh tịnh.
3. Thứ ba nói về thể dụng của kinh. Thể là thể của giáo pháp, có chia ra năm môn:
1. Gom tướng về tánh: Đều lấy chân như làm thể.
2. Gom cảnh theo tâm: Tất cả đều duy thức.
3. Gom giả theo thật: Tức thuộc về bất tương ưng, quy về sắc, tâm, tâm sơ.
4. Thể dụng biệt luận môn (môn luận riêng về thể dụng): Tức bốn uẩn năng duyên gồm thâu tướng phần bản chất, đều có tướng khác nhau, tự tha có khác nhau.
5. Nhóm họp hiển hiện môn: Như nghe qua bốn chữ “Các hành vô thường” nhóm họp hiển hiện cho là thể của giáo pháp, chỉ giữ lấy bốn pháp: Thanh, danh, cú, văn của bản chất Phật làm thể. Nếu chấp lấy giáo pháp ảnh tượng để gọi là thể liền thành hữu lậu. Nếu chỉ chấp ảnh tượng hữu lậu làm thể, thì ứng với chân thật. Tam bảo chỉ ứng với hữu lậu vô ký, nếu không như vậy thì làm sao gọi là thể của giáo pháp ảnh tượng? Cho nên chỉ giữ lấy: Thanh, danh, cú, văn vô lậu làm thể. Thanh là thật. Danh, cú,văn là giả. Các sư lại còn nói ra các giáo thể, như chỗ khác nói. Dụng thì lấy việc bày uế, hiển tịnh làm dụng, lại có dụng hiển thật chứng chân.
4. Thứ tư nói về người dịch, thời gian phiên dịch:
Kinh này lần lượt có bốn người dịch.
1. Ngài La-thập, dịch vào ngày mùng 08 tháng 02 niên hiệu Hoằng Thỉ năm thứ tư, đời Tần. Tên kinh là “Tiểu Vô Lượng Thọ Kinh”.
2. Ngài Cầu-na-bạt-đà-la, dịch vào niên hiệu Nguyên Gia đời Tống, gồm bốn quyển.
3. Ngài Tam tạng chùa Từ ân, dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ sáu đời Đại Đường, tên kinh là “Khen ngợi Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ”, gồm mười quyển.
4. Đời Hậu Tần lại dịch ra “A-di-đà Kinh Kệ Tụng”, một quyển, mất tên người dịch. Nay chỉ nói về người giải thích, tức là Pháp sư La- thập.
Hỏi: Trong ba thời, kinh này thuộc về thời nào?
Do lời hỏi này, nên ở đây nói lược về phần các bậc thầy phán giáo
A. Phần phán giáo ở Trung quốc.
B. Phán giáo ở Tây Thiên.
Chú thích: “Khai nguyên Thích giáo lục” quyển tám có nêu: “Khen ngợi Tịnh độ Phật Nhiếp Thọ Kinh”, một quyển trong phần chú thích ở dưới có ghi: xem “Nội Điển Lục” rút ra đồng với bản Kinh A- di-đà của ngài La-thập. Vào ngày 01 tháng 01 niên hiệu Vĩnh Huy năm đầu, do Sa-môn dịch Kinh ở chùa Đại Từ Ân là Đại Thừa Quang dịch.
A. Phán giáo ở Trung Quốc thì có năm vị:
1. Tam tạng Bồ-đề-lưu-chi đời Ngụy, Hán dịch là Giác Thọ, lấy thời giáo một đời của Phật xếp chung vào một thời, có hai nghĩa khác nhau, nên giáo pháp dường như có nhiều:
a. Giáo đồng mà căn khác: Như trời mưa thì có một mà chúng sinh ngộ giải thì khác nhau. Như Thanh văn, Duyên giác thì hiểu
theo pháp Bốn đế, mười hai nhân duyên, Bồ-tát thì hiểu theo pháp sáu độ, y theo căn cơ thì giáo pháp dường như có khác.
b. Lý đồng mà chứng ngộ thì khác: Chứng lý thì ba thừa khác nhau, như ba con thú qua sông, sâu cạn đều khác nhau, do đó xét giáo thành một thời.
2. Tam tạng Đàm-vô-sấm đời Tống, chia thời giáo một đời của Đức Như lai thành hai thời Đốn, Tiệm. Một đời nói giáo của Phật có nói về hai không, ba tánh, ba vô tánh, tám thức, hai vô ngã… đều là Đốn giáo. Cho nên trong hội Hoa Nghiêm các Thanh văn đối trước mặt mà không nghe không biết. Tiệm giáo là Phật nói về pháp bốn đế, duyên sinh, năm giới, tám giới… gọi chung là Tiệm giáo.
3. Tam tạng Chân-đế đời Lương chia thời giáo của Đức Như lai thành ba thời:
Hữu giáo.
Không giáo.
Phi không phi hữu giáo.
a. Hữu giáo là khi Phật thành đạo, trong bảy năm đầu đều nói Hữu giáo, năm năm đầu độ năm câu luân, năm thứ sáu hóa độ ngài Xá- lợi-phất, năm thứ bảy độ ba anh em Ca-diếp, gọi chung là Hữu giáo.
b. Không giáo là từ năm thứ tám đến năm ba mươi tám, Phật nói tám bộ kinh như Bát-nhã, v.v…
c. Phi không phi hữu giáo: từ năm thứ ba mươi chín, đến khi Phật nhập Niết-bàn, đều nói về giáo pháp Phi không phi hữu, như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Tư Ích, v.v…
4. Hai vị Tam tạng Quật-đa và Cấp-đa đời Tùy đều chia giáo pháp Đức Như lai nói trong một đời thành bốn thời:
Sinh không giáo.
Pháp không giáo.
Pháp tướng giáo.
Quán hạnh giáo.
a. Sinh không giáo: tức là mười hai năm đầu Phật nói Kinh A-hàm v.v…
b. Pháp không giáo: ba mươi tám năm Phật nói tám bộ Bát-nhã.
c. Pháp tướng giáo: từ năm ba mươi tám về sau, cho đến năm bốn mươi chín Phật nói các kinh Lăng-già, Tư Ích, Pháp Hoa, v.v…
Nói rộng về trăm pháp, ba tánh, ba vô tánh, tám thức, hai vô ngã,…
d. Quán hạnh giáo: Tức nói về quán pháp giới của kinh Hoa Ng-
hiêm,…
5. Lưu cư sĩ đời Tấn, vào trong núi sống ẩn dật, tự thuật lại tâm ý bổn hoài, chia giáo pháp của Phật thành năm thời:
Trời người giáo.
Sinh không giáo.
Pháp không giáo.
Câu không giáo.
Phi không phi hữu giáo.
a. Trời người giáo: tức là trong hai mươi mốt ngày sau khi thành Phật, vì Trưởng giả Đề-vị mà Phật nói ba quy y, năm giới, mười điều lành,… vì người chưa có gốc lành xuất thế.
Giác Thọ Nan chép: Trong kinh Đề-vị chép: năm trăm người đi buôn khi sắp thọ năm giới, trước sám hối năm tội nghịch, mười điều ác chê bai chánh pháp, v.v…
Đức Thế tôn dạy: “Bốn đại vốn thanh tịnh, bản ngã của ta vốn thanh tịnh”. Đề-vị được Bất khởi pháp nhẫn, tức Vô sinh pháp nhẫn. Năm trăm người thương buôn đắc pháp nhẫn nhu thuận, đều được chứng thánh, há là trời người giáo hay sao?
b. Sinh không giáo: tức mười hai năm đầu Phật nói giáo pháp Nhị thừa.
c. Pháp không giáo: là giáo pháp Phật nói trong ba mươi hai năm đầu.
d. Câu không giáo: ba mươi tám năm đầu, Phật nói tám bộ Bát- nhã.
e. Phi không phi hữu giáo: tức bốn mươi năm Phật nói kinh Pháp Hoa, Lăng-già, v.v…
B. Phán giáo ở Tây Thiên gồm có:
- Tông Thắng Nghĩa Câu Không phán giáo.
- Tông ứng lý viên thật phán giáo.
1. Giáo phái câu không: Đầu tiên do ngài Sư Tử Giác, Trí Quang, tại chùa Na-lan-đà, y theo ngài Văn-thù làm tông chủ, chia giáo thành ba thời:
- Sinh không.
- Phi không phi hữu.
- Câu không.
a. Sinh không là nói rộng các pháp Nhị thừa v.v…
b. Phi không phi hữu: là nói kinh Pháp Hoa v.v…
c. Câu không: là tám bộ Bát-nhã.
2. Tông ứng lý viên thật phán giáo:
Ở chùa Na-lan-đà có vị Luận sư tên là Giới Hiền, nương ngài Di- lặc làm Tông chủ, chia giáo thành ba thời:
a. Hữu giáo: Thời giáo một đời Đức Phật nói về hữu xứ.
b. Không giáo: Chỉ nói về không xứ.
c. Phi hữu phi giáo: Nói về phi không phi hữu xứ. Y vào Viên là hữu, biến kế là vô. Chân-đế thì cho rằng dùng giáo pháp để thành tựu thời gian là sai. Luận sư Giới Hiền dùng thời gian thành tựu giáo pháp là đúng, vấn nạn Chân-đế rằng sau khi Phật thành đạo, trong mười bốn ngày đầu nói Kinh Hoa Nghiêm, há đó là thời giáo thứ nhất hay sao?
Lại nói bốn mươi năm sau đó Phật nói phi không phi hữu là thời giáo thứ hai, tức khi sắp nhập Niết-bàn, Phật nói Kinh Di Giáo, chẳng lẽ là thời thứ ba sao? Ngài Giới Hiền dùng thời gian thành tựu giáo pháp chính là, kinh này giải thích Tịnh độ, y theo Viên là hữu, biến kế là vô, tức là phi không phi hữu giáo.
5. Thứ năm nói về Đốn Tiệm:
Đã đắc quả nhị thừa lại phát tâm hướng đại, nên gọi là tiệm ngộ, do số vãng sinh ít, hoặc hoàn toàn không có. Nếu từ phàm phu Nhị thừa mà quy về Đại thừa, tức là thuộc về Đốn ngộ, chưa hề chứng ngộ giáo lý Nhị thừa, số vãng sinh lại nhiều thì không gọi là Tiệm ngộ. Kinh Niết-bàn chỉ nói người sơ quả hồi tâm tám muôn kiếp, cho đến Bích- chi-ca mười ngàn kiếp, không nói về Tư vị và Gia vị, kiếp số nhiều ít, biết rõ năm quả hồi tâm thì mới gọi là Tiệm ngộ, nếu bảy phương tiện hồi tâm, thì chỉ là Đốn ngộ. Đã từng phát tâm Nhị thừa, từng tu hạnh Nhị thừa, rồi cầu trở về Đại thừa đều gọi là Tiệm ngộ. Tu đầy đủ tánh hạnh đó, nghe pháp suy tư rồi giải ngộ, thì cũng gọi là ngộ đâu cần phải chứng ngộ? Huống chi lại có số vãng sinh ít, nghĩa là đã quyết định sinh ngay trong đời này và vừa ngồi liền thuận theo phần chọn lựa.
Trong Kinh Niết-bàn nói năm quả hồi tâm, mà nói về kiếp số, cũng không ngăn bảy phương tiện hồi tâm, cũng gọi là Tiệm ngộ. Cho nên biết hai quả Tư vị và Gia vị cũng có số vãng sinh ít, rõ được việc hồi tâm cũng đều thuộc về Tiệm ngộ.
Ở đây hai vị Pháp sư thì vị thứ nhất có giáo có lý. Vị thứ hai thì vô giáo hữu lý. Kinh này nếu nhất tâm bất loạn, mười niệm chuyên tinh thì liền vãng sinh Tịnh độ, liền bỏ cõi đời có năm thứ vẩn đục, tức là thuộc về Đốn giáo, cho nên kinh nói rằng: “Từ một ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn”,…
----------------------