Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 138, Bộ Kinh Sớ XXIV, Số 1779- 1782 (Quyển 6- 10)

Đại Tập 138, Bộ Kinh Sớ XXIV, Số 1779- 1782 (Quyển 6- 10)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1150.

Chương 28: Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ - Quyển 5 (Phần 1) (Trang 991 - 1024)

THUYẾT VÔ CẤU XƯNG KINH SỚ
 
QUYỂN 5
(PHẦN 1)
 
Kinh: Diệu Cát Tường… chẳng thật chẳng có.
Tán: Đoạn thứ hai nói về tâm điều phục tâm Nhị thừa, nói đại bi để phá chấp không. Nhị thừa chỉ có tự lợi, bị pháp chấp trói buộc, nay nói đại bi, diệu tuệ phương tiện để giải trừ, nên gọi là điều phục tâm Nhị thừa, nói đại bi để phá chấp không, vì chấp không thì chẳng có đại bi. Văn gồm ba đoạn:
1. Nói về đại bi quán xét bệnh của mình và người.
2. Từ câu vì sao… là giải thích nguyên do.
3. Từ câu Bồ-tát như thế…, kết luận nói lìa trói buộc.
Trong đoạn thứ nhất lại có hai:
1. Quán tướng bệnh.
2. Khởi đại bi.
Đây là văn đầu. Bệnh của mình và người chẳng chân thật, chẳng nhất định là có vì do nhân duyên giả hợp mà thành.
Kinh: Khi quán như thế… phát khởi đại bi.
Tán: Đây là nói về khởi đại bi. Chẳng nên như phàm phu có ái mà khởi tâm Bi; chẳng nên như Nhị thừa khởi hai kiến mà phát tâm Bi, hoặc căn cứ theo văn sau, chẳng nên khởi ái đắm trước các thiền định mà khởi kiến chấp ái, không có tuệ phương tiện mà khởi tâm Bi, hoặc chẳng nên khởi kiến chấp thật có ái nhiễm danh lợi kia mà khởi tâm Bi. Chỉ nên đoạn trừ khách trần phiền não cho tất cả hữu tình mà khởi đại bi. Trước là nói điều chẳng nên, ở đây thì nói điều nên làm.
Kinh: Vì sao?… mà có mệt mỏi nhàm chán.
Tán: Giải thích nguyên do. Đây là giải thích lý do chẳng nên. Nếu đồng phàm phu và Nhị thừa khởi ái kiến, chấp trước ái nhiễm, ở nơi sinh tử tức có nhàm chán, phiền não chưa dứt, vật ngã chưa trừ, cho nên có lao nhọc mà sinh mệt mỏi nhàm chán.
Kinh: Nếu đoạn trừ… thì không có nhàm mỏi.
Tán: Đây là giải thích nên làm. Nếu phiền não đã đoạn trừ thì
vật ngã liền bặt, nhiếp người đồng như mình, cho nên ở nơi sinh tử mà không nhàm mỏi. Kinh Bát-nhã ghi: “Diệt độ vô lượng chúng sinh như thế, thật không có chúng sinh được diệt độ”. Đây là tâm thường trụ, nhiếp người đồng với mình, không phải là tâm ái kiến trói buộc, cho nên thường độ sinh mà không mệt mỏi.
Kinh: Bồ-tát như thế… trói buộc tâm kia.
Tán: Phần thứ ba kết luận, lìa trói buộc có ba:
1. Kết luận lìa trói buộc.
2. Dẫn giáo chứng minh.
3. Nói rộng về trói buộc và giải thoát.
Đầu tiên nêu lên bốn phược, ba phược đầu là tự lợi; một phược sau là lợi tha. Đây là phược thứ nhất. Nương theo ý trước mà khởi văn sau, cho nên nói như thế, vì không nhàm mỏi, lại không có ái kiến trói buộc tâm kia, ở đây ý nghĩa đắp đổi nhau. Trước nói không ái kiến, tức không có nhàm mỏi ở đây nói không nhàm mỏi, là không có ái kiến, cả hai làm nhân cho nhau.
Kinh: Vì không có ái kiến… chứng đắc giải thoát.
Tán: Đoạn này có hai phược. Vì ái kiến diệt nên chẳng có trói buộc; vì không bị trói buộc nên được đại Niết-bàn giải thoát.
Kinh: Vì nơi sinh tử… chứng đắc giải thoát.
Tán: Đây là phược lợi tha. Mình đã giải thoát thì có trí lực, liền thuyết diệu pháp khiến cho người lìa trói buộc, mà chứng giải thoát.
Kinh: Đức Thế Tôn nương vào đây… thật không có việc ấy.
Tán: Dẫn giáo chứng minh. Đầu tiên là lời dẫn, sau là kết luận. Nếu mình bị trói buộc, thì chẳng thể mở trói cho người, tức phàm phu và Nhị thừa. Nếu mình đã giải thoát, thì có thể giải thoát cho người, tức là các Đức Như Lai. Đây là nói rốt ráo làm lợi ích cho tất cả.
Kinh: Vì thế Bồ-tát… xa lìa các sự trói buộc.
Tán: Đây là lời kết luận.
Kinh: Thưa ngài Diệu Cát Tường… gọi là Bồ-tát giải thoát?
Tán: Đây là đoạn giải thích về giải thoát và trói buộc. Gồm có hai: Đầu tiên là hỏi, sau là đáp. Đây có hai câu hỏi.
Kinh: Nếu các Bồ-tát… Bồ-tát giải thoát.
Tán: Đáp, có hai đôi:
1. Nói chấp trước thiền gọi là phược, không chấp trước thiền thì giải (giải thoát).
2. Nói có trí mà không có xảo (khéo léo) gọi là phược (trói buộc), có trí có xảo thì gọi là thoát.
Đây là đôi thứ nhất. Chấp trước bốn tịch lự, tám giải thoát, tám đẳng trì, chín đẳng chí thì gọi là phược; vì định chẳng tăng, tu các phẩm tuệ khác, nhiếp phục chúng sinh. Nếu trí thiện xảo, chẳng xả tịnh lự… mà tùy chỗ thích ứng nhiếp phục làm lợi ích chúng sinh trong ba cõi, tùy thuận sinh vào đó mà không tham trước, thì gọi đó là thoát.
Kinh: Nếu không có phương tiện… gọi là giải thoát.
Tán: Đây là nói không có xảo (khéo léo) mà có trí là phược (trói buộc). Gồm ba phần:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Giải thích diệu tuệ và thiện xảo sai biệt.
Đây là phần một. Đoạn này có nghĩa là nói: Nếu không có phương tiện thiện xảo, mà chỉ có diệu tuệ khéo nhiếp phục thì gọi là phược, như Nhị thừa… không có dụng của trí. Nếu có phương tiện thiện xảo và diệu tuệ khéo nhiếp phục thì gọi là giải, vì có phương tiện khéo léo, là dụng của tuệ.
Kinh: Vì sao Bồ-tát… gọi là trói buộc?
Tán: Đây là phần giải thích, có hai đôi.
1. Bồ-tát trụ ở Nhị thừa vô học.
2. Bồ-tát trụ ở Nhị thừa hữu học.
Thứ nhất đều nói phược; thứ hai đều nói giải. Mỗi một phần thì đầu tiên là lời hỏi; thứ hai đều là lời đáp và cuối cùng là kết luận. Đây là hỏi về phược. Bản dịch xưa chỉ có hai đôi, lời văn khác, ý nghĩa cũng bất đồng, nên xem xét kỹ.
Kinh: Đó là các Bồ-tát… thành thục hữu tình.
Tán: Đây là lời đáp. Nếu các Bồ-tát đồng với Nhị thừa dùng ba đẳng trì mà tự điều phục, có diệu tuệ khéo léo; do tu tập không, chẳng dùng tướng quý mà trang nghiêm nội thân, do tu vô tướng mà chẳng trang nghiêm cõi Phật, do tu vô nguyện mà chẳng lợi ích hữu tình thì gọi là không có phương tiện. Hoặc tùy chỗ thích ứng, chẳng cần theo thứ tự phối hợp. Bản dịch xưa ghi: “Dùng tâm ái kiến trang nghiêm cõi Phật…” nên nói dùng tâm không có chánh tuệ trang nghiêm cõi Phật, nên gọi là phược.
Kinh: Các Bồ-tát này… thì bị trói buộc.
Tán: Đây là lời kết luận.
Kinh: Vì sao Bồ-tát… gọi là giải thoát.
Tán: Đây là hỏi về giải thoát.
Kinh: Nghĩa là các Bồ-tát… tu tập để chứng ngộ.
Tán: Đây là phần giải thích. Có hai:
1. Giải thích có diệu tuệ.
2. Giải thích có phương tiện.
Đây là giải thích có diệu tuệ. Có tướng tức vô nguyện quán tánh y tha khởi. Vô tướng tức vô tướng quán tánh viên thành thật. Không có hai pháp này, quán và ngã sở đều bất khả đắc, đoạn nhiễm y tha mà tu tịnh y tha, gọi đó là tu tập nơi viên thành để chứng ngộ.
Kinh: Lại dùng tướng quý và vẻ đẹp phụ… gọi là giải thoát.
Tán: Đây là giải thích có phương tiện và kết luận. Bản xưa ý trước dịch là không quán xét, căn cứ theo văn trước có thể biết.
Kinh: Vì sao Bồ-tát… gọi là trói buộc.
Tán: Đôi thứ hai hỏi về phược (trói buộc).
Kinh: Các Bồ-tát… sinh khởi chấp trước sâu nặng.
Tán: Giải thích. Kiến nghĩa là năm kiến, phiền não tức tham, sân, si mạn nghi; tám triền, ba phược thì như trước đã giải thích. Trên là nói về hiện hành. Tùy miên tức là chủng tử. Do an trụ nơi đây, nên khi tu gốc thiện không hồi hướng Bồ-đề, mà lại sinh chấp trước, thì có các phiền não không có phương tiện. Có thuyết giải thích rằng: Đây là cả hai đều không, tức tuệ và phương tiện đều không. Bản dịch xưa không có nói đến hồi hướng. Lấy cách giải thích thứ nhất làm chánh.
Kinh: Các Bồ-tát này… gọi là trói buộc.
Tán: Đây là kết luận.
Kinh: Vì sao Bồ-tát… gọi là giải thoát?
Tán: Đây là hỏi về giải thoát.
Kinh: Các Bồ-tát… chẳng sinh chấp trước.
Tán: Giải thích. Vì xa lìa các kiến, tu tập các thiện và hồi hướng Bồ-đề, chẳng sinh chấp trước hai loại.
Kinh: Các Bồ-tát này… gọi là giải thoát.
Tán: Kết luận.
Kinh: Thưa ngài Diệu Cát Tường… đó gọi là tuệ.
Tán: Đây là phần giải thích diệu tuệ và thiện xảo sai biệt. Gồm có hai:
1. Đều giải thích tuệ.
2. Giải thích phương tiện.
Đây là giải thích tuệ. Hay quán các pháp, thân và bệnh đều là vô thường, khổ, không… thì gọi là tuệ, vì tuệ là năng quán.
Kinh: Tuy thân có bệnh… gọi là phương tiện.
Tán:  Đây  là  giải  thích  phương  tiện.  Tuy  có  bệnh  nhưng  không
nhàm mỏi, thường nhẫn nại hóa độ quần sinh, đó là dụng của tuệ.
Kinh: Quán thân tâm… gọi là tuệ.
Tán: Thứ hai, giải thích về tuệ. Thân tâm, tức là cái mà năm uẩn hòa hợp giả sinh ra bệnh, nương vào đây mà các khổ bức bách. Cả hai từ vô thỉ đến nay xoay vần nương nhau, sau sinh thì trước diệt, không giây phút gián đoạn. Chẳng phải xưa chẳng sinh, hôm nay mới sinh; chẳng phải xưa chẳng diệt nay mới diệt. Lại nếu nói mới có, tức là xưa đã bệnh, nếu nói xưa bệnh, thì có các niệm niệm mới sinh ra, vậy biết thân và bệnh có niệm niệm sinh diệt, cho nên nói là chẳng phải mới chẳng phải cũ.
Kinh: Chẳng cầu thân tâm… gọi là phương tiện.
Tán: Đây là giải thích phương tiện. Nhị thừa biết thân và bệnh sinh diệt, cầu rốt ráo diệt tận, vĩnh viễn nhập Niết-bàn, đó gọi là không có phương tiện. Bồ-tát chẳng như thế, chẳng cầu vĩnh viễn diệt, cho nên có phương tiện. Tuệ thì Nhị thừa đều có, dị sinh thì không có. Phương tiện thì Nhị thừa không có, Bồ-tát mới có.
Kinh: Thưa ngài Diệu Cát Tường… chẳng điều phục tâm.
Tán: Đoạn thứ ba, điều phục hai tâm, nói về hạnh Bồ-tát, luận chẳng nên trụ nơi đạo để phá cả hai. Văn gồm có ba:
1. Nêu tổng quát.
2. Lược giải thích.
3. Giải thích rộng.
Đây là phần nêu lên.
Kinh: Vì sao?… Đó là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là lược giải thích. Phiền não sinh tử, gọi là tâm chẳng điều phục; xuất thế lợi ích, gọi là tâm điều phục.
Kinh: Nếu ở nơi này… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Giải thích rộng, gồm ba mươi bảy câu nói về sở hành của Bồ-tát, được phân làm hai:
1. Ba mươi bốn câu đầu nói về chẳng đồng với sở hành của phàm phu và Nhị thừa; chỉ là sở hành của Bồ-tát.
2. Ba câu sau nói về việc được chỗ hơn chẳng bỏ chỗ kém là sở hành của Bồ-tát.
Trong ba mươi bốn câu đầu được phân làm bảy:
1. Một câu đầu là nêu tổng quát.
2. Bốn câu kế là theo thứ tự giải thích chẳng đồng phàm phu và Nhị thừa.
3. Bốn câu kế thì hai câu nói chẳng đồng Nhị thừa; hai câu nói
chẳng đồng phàm phu.
4. Gồm bốn câu theo thứ tự nói chẳng đồng Nhị thừa phàm phu.
5. Gồm bảy câu kế chỉ nói chẳng đồng phàm phu.
6. Gồm hai câu, chỉ nói chẳng đồng Nhị thừa.
           7. Gồm mười hai câu, chỉ nói chẳng đồng Nhị thừa, đây là tổng kết.
Xứ tức nơi chốn, tức nơi tu hành, hoặc là nơi chốn của đạo lý, những ý khác có thể tự biết được. Bản xưa chỉ có ba mươi mốt câu, hai mươi tám câu nói về việc chẳng đồng phàm phu và Nhị thừa, ba câu sau nói được chỗ hơn chẳng bỏ chỗ kém.
Trong phần đầu lại có hai: Mười câu đầu nói xen về việc chẳng đồng phàm phu Nhị thừa, mười tám câu sau chỉ nói chẳng đồng Nhị thừa. Trong mười câu đầu lại phân làm bốn: Ba câu đầu nói xen về việc chẳng đồng phàm phu Nhị thừa; hai câu kế theo thứ tự nói về chẳng đồng phàm phu Nhị thừa; ba câu kế thì hai câu nói chẳng đồng Nhị thừa, một câu sau nói chẳng đồng phàm phu; hai câu cuối theo thứ tự nói chẳng đồng Nhị thừa phàm phu.
Kinh: Nếu ở nơi quán xét… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này gồm bốn câu, theo thứ tự nói chẳng đồng phàm phu và Nhị thừa. Ở đây gồm hai câu. Phàm phu quán sinh tử là cảnh sở hành thì liền khởi phiền não. Bồ-tát quán sinh tử mà không sinh phiền não. Nhị thừa quán Niết-bàn, liền rốt ráo tịch diệt; Bồ-tát quán Niết- bàn chẳng rốt ráo diệt.
Kinh: Nếu nơi thị hiện… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này gồm hai câu; phàm phu nếu thấy bốn ma thì thành việc ma, Bồ-tát thấy bốn ma thì vượt trên việc ma. Nhị thừa cầu quả trí, phi thời chứng đắc Thánh trí. Bồ-tát cầu chủng trí mà chẳng phải phi thời chứng đắc Thánh trí. Bồ-tát chứng trí, ngoài hợp với quần sinh, mà hay cứu giúp nên gọi là bất phi thời. Nhị thừa chứng Thánh trí, ngoài chẳng lợi sinh nên gọi là phi thời, vì chẳng ứng hợp thời, chẳng phải đạo lý.
Kinh: Nếu cầu bốn đế… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Sau đây là bốn câu, hai câu đầu chẳng đồng Nhị thừa, hai câu sau chẳng đồng phàm phu. Đây là hai câu đầu. Bốn đế là phương tiện trước, quán nội chứng là pháp quán căn bản; phi thời chứng bốn đế là sở hành của Nhị thừa; chẳng phi thời chứng bốn đế là sở hành của Bồ-tát. Tự lợi chẳng lợi tha là phi thời; vừa tự lợi và lợi tha gọi là thời. Nếu chánh nội chứng, liền xả bỏ sinh tử, là sở hành của Nhị thừa. Tuy
đã chánh nội chứng mà nhiếp thọ sinh tử là hạnh Bồ-tát.
Kinh: Nếu hành tất cả… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là hai câu sau nói chẳng đồng phàm phu. Phàm phu có duyên khởi liền sinh kiến thú. Bồ-tát hiện duyên khởi mà xa lìa kiến thú. Hiện duyên khởi nghĩa là thấy sinh tử. Phàm phu thấy hữu tình và các pháp xen lẫn nhau thì có phiền não tùy miên. Bồ-tát thấy hai tướng tạp loạn mà không khởi phiền não tùy miên.
Kinh: Nếu chánh quán xét… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Sau đây gồm bốn câu, thứ tự nói về việc chẳng đồng Nhị thừa phàm phu. Đây là hai câu đầu. Nhị thừa chứng vô sinh nên rơi vào chánh tánh Thanh văn, Bồ-tát chứng vô sinh chẳng đọa vào chánh tánh Thanh văn. Chánh tánh, tức lý nhân vô ngã, trí chứng chứng lý nhân vô ngã này gọi là chánh tánh; phàm phu nhiếp thọ hành xứ của hữu tình thì có hoặc chứng tùy miên; Bồ-tát nhiếp thọ hành xứ của hữu tình mà không có chủng tử phiền não.
Kinh: Nếu chánh vui thích… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là hai câu sau. Nhị thừa thích hạnh xa lìa cầu thân tâm diệt, nhập Niết-bàn; Bồ-tát thích xa lìa mà chẳng cầu thân tâm diệt vĩnh viễn vào Niết-bàn. Phàm phu quán ba cõi mà mê loạn chân như, Bồ-tát quán ba cõi chẳng mê loạn chân như. Pháp giới tức là chân như.
Kinh: Nếu ưa thích quán xét… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Từ đây trở xuống là bảy câu, chỉ nói chẳng đồng Nhị thừa; phân làm hai: Ba câu đầu nói về hạnh đẳng trí; bốn câu nói về các hạnh khác. Đây là ba câu đầu. Nhị thừa quán tánh không thì không có, chỗ nương cầu, Bồ-tát quán tánh không, nhưng vẫn cầu công đức. Nhị thừa quán  vô  tướng,  không  giáo  hóa  chúng  sinh  ở  ngoài,  Bồ-tát  quán  vô tướng, bên ngoài vẫn giáo hóa chúng sinh. Nhị thừa quán vô nguyện, mà diệt tận hữu thú, Bồ-tát quán vô nguyện mà thị hiện nơi hữu thú, hữu tức ba cõi, thú tức năm đường. Bản xưa ghi: “Vô tác, tức là vô nguyện”.
Kinh: Nếu thích dạo đi… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là bốn câu nói về tu tập hạnh. Đoạn này gồm hai câu đầu. Vô tác tức không khởi tạo tác. Lý tánh không diệt, trước quán vô ngã cho nên thành sai biệt. Thế tức là phế bỏ. Nhị thừa dạo nơi không, chẳng khởi các hạnh. Bồ-tát dạo nơi không mà không có các hạnh thiện. Nhị thừa dạo nơi sáu độ liền thích Niết-bàn, Bồ-tát dạo nơi sáu độ mà chẳng thích Niết-bàn, vì trụ mà chẳng trụ; tâm hành của hữu tình là bờ kia diệu trí, vì là Niết-bàn. Bản xưa ghi: “Biết tâm tâm sở pháp”. Nghĩa
là hiển thị bờ kia mong cầu. Tuy biết mà chẳng cầu.
Kinh: Nếu thích quán xét… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Nhị thừa tu hạnh vô lượng, cầu sinh phạm thế. Vì đó là nhân hữu lậu. Quả này ắt sinh ở sơ thiền. Bồ-tát tu hạnh vô lượng, cầu đại Bồ-đề, vì đó là nhân vô lậu. Nhị thừa dạo nơi sáu thông chứng Niết-bàn lậu tận, Bồ-tát dạo nơi sáu thông chẳng chứng Niết-bàn, trụ mà vô trụ.
Kinh: Nếu thích kiến lập… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này gồm hai câu, nói chẳng đồng phàm phu. Phàm phu kiến lập các pháp, duyên theo tà đạo, tà giải phân biệt các pháp, Bồ-tát kiến lập các pháp chẳng duyên tà đạo, hiểu rõ chánh lý để giải thích các pháp. Phàm phu khởi sáu niệm, tùy sinh các lậu, khởi các ái mạn… Bồ-tát khởi sáu niệm chẳng sinh các lậu, mà diệt các lậu.
Kinh: Nếu thích quán xét… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Từ đây trở xuống gồm mười hai câu, chỉ nói về việc chẳng đồng Nhị thừa. Chia làm ba: Hai câu đầu nói về chẳng đồng lìa nhiễm thọ sinh; bảy câu kế tiếp nói chẳng đồng tu pháp Bồ-đề phần; ba câu cuối nói chẳng đồng chứng vô vi hữu vi. Đoạn này là hai câu đầu. Nhị thừa quán vô lậu, cầu mong lìa nhiễm; Bồ-tát quán vô lậu chẳng cầu lìa nhiễm, lưu giữ hoặc, đến khi hoặc tận trừ, chứng Phật Nhất thiết trí. Nhị thừa được định hữu lậu, tùy theo sức định mà thọ sinh, Bồ-tát đạt định vô lậu, chẳng tùy sức định thọ sinh.
Kinh: Nếu thích dạo chơi… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là bảy câu kế, nói về việc chẳng đồng tu pháp Bồ-đề phần. Đoạn này gồm ba câu. Nhị thừa tu niệm trụ cầu xa lìa thân, thọ, tâm, pháp; Bồ-tát tu niệm trụ chẳng cầu bốn viễn ly. Viễn ly tức đoạn phiền não. Nhị thừa khởi chánh đoạn, siêng năng đoạn trừ hai ác, siêng năng tu tập hai thiện, cho nên có thấy thiện và bất thiện; Bồ-tát từ vô phân biệt mà khởi bốn chánh đoạn. Chẳng thấy thiện và bất thiện. Nhị thừa khởi bốn Thần túc, chẳng có thể tự tại biến hiện, Bồ-tát khởi bốn Thần túc, tự tại biến hiện vì sức gia hạnh lớn.
Kinh: Nếu thích dạo chơi… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này gồm hai câu nói về Nhị thừa dạo nơi năm căn, tự mình đã được liền khởi diệu trí cảnh phân biệt các căn thắng liệt của hữu tình, Bồ-tát dạo nơi năm căn, không phân biệt, không khởi diệu trí cảnh phân biệt các căn của hữu tình. Tuy có sức căn thượng hạ nhưng vô phân biệt. Do đó bản dịch xưa ghi: “Vô phân biệt các căn lợi độn của tất cả chúng sinh”. Nhị thừa khởi năm lực chẳng cầu mười lực, Bồ-tát khởi năm lực mà cầu mười Lực.
Kinh: Nếu thích an lập… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này có hai câu. Thất giác của Nhị thừa đều viên mãn, nhưng do có phân biệt, nên sau đó cầu cảnh giới diệu dụng diệu trí sai biệt của Phật pháp; Bồ-tát cũng viên mãn thất giác nhưng vì vô phân biệt, nên chẳng cầu sở hành diệu trí diệu dụng sai biệt của Phật, vì quả trí đã viên mãn. Bản dịch xưa ghi: “Mà phân biệt diệu trí của Phật”. Văn thật trái nhau; chẳng đồng với Nhị thừa thì lý mới thành tựu. Bát chánh đạo của Nhị thừa đã viên mãn, nhưng nhàm chán và trái nghịch với tà đạo. Bồ-tát tám Chánh đạo cũng đã viên mãn, nhưng chẳng nhàm chán, mà thường giáo hóa họ. Bản xưa ghi: “Mà thích thực hành vô lượng Phật đạo”. Cầu quả viên mãn, Nhị thừa chẳng cầu làm Phật, cho nên chẳng thích làm.
Kinh: Nếu cầu chỉ quán… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đây là ba câu nói về chẳng đồng chứng vô vi hữu vi. Hai câu đầu nói chẳng đồng chứng vô vi, một câu sau nói chẳng đồng chứng hữu
Nhị thừa cầu hai nhân chỉ quán, đọa vào rốt ráo diệt; Bồ-tát khởi chỉ quán chẳng rơi vào rốt ráo diệt, mà thường giáo hóa chúng sinh. Tư lương tức là nhân. Nhị thừa quán lý vô sinh diệt, chẳng có tướng quý và vẻ đẹp trang nghiêm thân và thành tựu Phật sự. Bồ-tát bên trong quán lý vô sinh, nhưng vẫn dùng tướng quý và vẻ đẹp trang nghiêm thân thành tựu các Phật sự. Đó là hai câu nói về việc chẳng đồng chứng vô vi. Sau là nói sự nghiệp hữu vi bất đồng. Nhị thừa khởi oai nghi, xả bỏ tất cả tâm duyên lự về Phật pháp. Đã phát khởi việc thế tục rồi thì chẳng thể quán sự lý xuất thế nữa; còn Bồ-tát hiện các oai nghi của Nhị thừa mà bên trong hay duyên với tất cả sự lý Phật pháp, vì sức gia hạnh lớn.
Kinh: Nếu tùy các pháp… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Ba mươi bốn câu trên là nói về việc bất đồng với sở hành của phàm phu và Nhị thừa, ba câu này thì nói về hạnh được sự thù thắng chẳng bỏ pháp thua kém, gọi là sở hành của Bồ-tát:
1. Nhập định hiện oai nghi.
2. Chứng lý hiện các tướng.
3. Đắc quả hiện tu nhân.
Đoạn  này  gồm  hai  câu.  Bản  tánh  rốt  ráo  thanh  tịnh,  chân  như thường tịch. Diệu định tức là Định năng quán. Tuy được chân như nhưng lại hay duyên với định, tùy theo định mà thực hành, chẳng bỏ oai nghi mà hữu tình ưa thích, hoặc chẳng khởi diệt định mà hiện oai nghi, đó là một câu. Tất cả cõi Phật, tánh vốn không tịch, không thành, không hoại như hư không, đó là cõi pháp tánh. Tuy quán thù thắng tất cả cõi pháp
tánh không vô tướng, nhưng chẳng phải không có các loại trang nghiêm cõi Phật, lợi lạc hữu tình, tu tập báo hóa độ kém. Đây là câu thứ hai.
Kinh: Nếu thích thị hiện… là sở hành của Bồ-tát.
Tán: Đoạn này gồm một câu. Tuy cầu hiện tám tướng thù thắng, nhưng vì Phật sự, nên chẳng bỏ việc tu tập các hạnh Bồ-tát kém thấp. Trong đó lại nói hai tướng của quả. Ba câu sau nói về việc hay thực hành việc thù thắng mà chẳng xả bỏ việc kém nhỏ.
Kinh: Khi thuyết tất cả… phát tâm thú hướng.
Tán: Đoạn thứ năm, kết luận nêu lợi ích. Tuy kế đến nói sở hành của Bồ-tát, Thiên tử phát tâm, nhưng là một phẩm nên cuối cùng nói lợi ích, vì thế thuộc về đoạn thứ năm của phẩm này mà chẳng thuộc văn sau.
 
-------------------------------
PHẨM 6: BẤT TƯ NGHỊ
 
Sau phẩm Phương Tiện gồm năm phẩm nói về hạnh lợi tha. Bốn phẩm đầu thuộc về ẩn tích lợi tha, vì chưa hiện đại thần thông, tùy loại mà cứu độ, cho nên gọi là ẩn tích lợi tha, tức mật quyền. Phẩm này hiện đại thần thông, nói về hiển tích lợi tha tức hiển quyền. Thần thông diệu dụng bậc thượng vị mới biết được, cho nên chẳng phải là chỗ suy nghĩ đến của người hạ vị, lại chẳng phải là chỗ tính bàn của hàng hạ vị. Nay ở phẩm này bàn luận rộng đến, cho nên gọi là phẩm Bất Tư Nghị. Bất tư nghị lấy tuệ căn vô lậu làm tánh, và thần thông làm thể, cảnh thần thông diệu dụng kia lại chẳng thể lường được, nên cũng gọi là Bất tư nghị.
Kinh: Lúc bấy giờ, Xá-lợi Tử… nên ngồi ở đâu?
Tán: Toàn phẩm được chia làm bốn đoạn lớn:
1. Ngài Thu Tử suy nghĩ.
2. Ngài Vô Cấu chê trách.
3. Hiển  thị  Bất  tư  nghị,  tức  là  câu:  “Hỏi  ngài  Diệu  Cát  Tường mười phương ngồi…”.
4. Chúng đương thời được lợi ích tức là câu: “Tám ngàn Bồ-tát được giải thoát”.
Đây là văn đầu. Tâm nghĩ đến tòa ngồi, mong được ngồi. Văn xưa chỉ có ba, không có đoạn nói về chúng được lợi ích.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… mong cầu tòa ngồi sao?
Tán: Đoạn thứ hai ngài Vô Cấu chê trách. Gồm bốn phần:
1. Hỏi ngài Thu Tử.
2. Ngài thu Tử phản vấn.
3. Ngài Vô Cấu giải thích rộng.
4. Chúng đương thời được lợi ích.
Đây là văn thứ nhất, hỏi do xưa nghĩ rằng chúng ta hôm nay vì nghe pháp, cả hai nên cùng nhau theo đến đó, đã chẳng cầu mong tòa ngồi cho nên nêu câu hỏi này.
Kinh: Xá-lợi Tử… chẳng phải cầu tòa ngồi.
Tán: Ngài Thu Tử đáp lại.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… huống gì là tòa ngồi.
Tán: Thứ ba, ngài Vô Cấu giải thích rộng. Gồm ba phần:
1. Nói tổng quát về cầu pháp.
2. Nói riêng về cầu pháp.
3. Tổng kết việc cầu pháp, tức là câu: “Cho nên Xá-lợi Tử! Nếu
muốn cầu pháp…”.
Đây là văn đầu. Phàm cầu pháp phải nên ở nơi năm minh mà cầu nghe chánh pháp của Phật, nên mạnh mẽ tha thiết cầu nghe, dẫu có được một câu thiện pháp mà khó khăn gian khổ cũng vui vẻ mà vào, huống gì là muốn nghe nhiều ngôn nghĩa vi diệu. Tuy có yêu thích tự thân và các vật riêng tư, nhưng chẳng thể so sánh được với sự kính trọng ưa thích chánh pháp. Chẳng bao giờ đủ, chẳng bao giờ mỏi mệt, nhu hòa, tin sâu, tâm ngay thẳng, kiến giải ngay thẳng, mến đức mến pháp. Khi đến chỗ của pháp sư thì không có tâm cật vấn, chỉ khởi tưởng tuệ nhãn, diệu bảo trí minh, thắng quả, tâm ý vui thích, không lỗi lầm, rất mực cung kính, không có tâm cống cao ngã mạn, chẳng khởi tưởng phá giới, chủng tộc thấp kém, văn từ thô lậu, ý nghĩa sai khác. Chỉ cầu điều thiện, không khoe đức hạnh của mình, không vì danh lợi mà cầu chánh pháp, luôn luôn ân cần cung kính nghe học; không nên khởi tâm tổn hại tìm cầu lỗi, chỉ cầu hiểu biết, chuyên tâm lắng nghe, thanh tịnh lãnh thọ giữ gìn, như thế gọi là cầu chánh pháp. Vì thế, nơi Tuyết sơn nghe được nửa bài kệ mà xả thân chẳng khó, Hương thành nghe được hết giáo mà bán thân rất dễ. Tất cả đều vì tôn trọng chánh pháp, mà chẳng kể đến thân mạng hà huống gì tòa ngồi?
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… cõi Vô sắc.
Tán: Nói riêng về cầu pháp, gồm mười đoạn. Sở cầu nghĩa là tu cầu chứng pháp, sở bất cầu nghĩa là tuy có cầu biết, nhưng không cầu chứng đắc, gọi là chẳng cầu.
Đây là văn thứ nhất, chẳng cầu pháp hư huyễn. Uẩn, xứ, giới và các pháp trong ba cõi đều hư huyễn.
Kinh: Ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải cầu pháp.
Tán: Thứ hai, chẳng cầu pháp Nhị thừa. Nhị thừa chấp có tam bảo và bốn đế, đây chẳng cầu chấp biệt tướng tam bảo, chẳng phải không cầu Tam bảo; chẳng cầu hý luận phân biệt sai biệt biết khổ, đoạn tập chứng diệt, tu đạo nhưng chẳng phải không cầu chứng chân lý phi an lập đế.
Kinh: Ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải cầu viễn ly.
Tán: Đoạn thứ ba, chẳng cầu pháp hữu lậu, có hai phần. Đây nói chẳng cầu ngăn chặn các pháp hữu lậu, vì pháp gọi là tịch tĩnh, là chân như và pháp cận tịch tĩnh là các pháp vô lậu khác. Nếu thực hành pháp hữu lậu sinh diệt thì chẳng phải là cầu pháp vô lậu và cầu pháp chân như viễn ly.
Kinh: Các người cầu pháp… chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Trong phần chẳng cầu pháp hữu lậu, đoạn này nói chẳng cầu pháp phiền não tùy tăng. Pháp không có tham nhiễm, là chân như, lìa các tham nhiễm là các pháp vô lậu khác, đều chẳng có thể tham nhiễm.
Kinh: Ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là đoạn thứ tư, chẳng cầu pháp sở trí. Có hai cách giải thích. Một là chẳng cầu cảnh giới mà vọng tâm chấp thủ, vì chân như nhân duyên chẳng phải là cảnh vọng. Nếu tâm phân biệt chấp cảnh giới này thì chẳng phải là cầu pháp. Số tức là kế (chấp trước). Hai là, chẳng cầu cảnh giới hữu tướng sai biệt, vì chân như chánh pháp không sai biệt, số tức phân biệt.
Kinh: Ngài Xá-lợi Tử… ngài chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đoạn thứ năm, chẳng cầu pháp nhiếp khí. Thủ nghĩa là nhiếp thủ (lấy), xả tức khí xả (bỏ). Các tâm phân biệt cho rằng pháp có lấy bỏ, nhưng nhân duyên chân như không có lấy bỏ, hoặc pháp có sinh diệt, có thể lấy bỏ; còn chân thì không sinh diệt, đâu có gì để lấy bỏ?
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là câu thứ sáu, chẳng cầu pháp ái nhiễm. Hay thâu giữ thì yêu mến (ái). Cái được thâu giữ này là sở duyên của ái. Vậy đã chẳng cầu tham ái, cho nên pháp chẳng thể thâu giữ, chẳng phải là cảnh ái nhiễm.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là câu thứ bảy, chẳng cần pháp hữu tướng. Chân như chánh trí đều là vô tướng, nếu tùy pháp tướng mà xa lìa, tức là cầu pháp tướng mà chẳng phải cầu pháp.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là câu thứ tám, chẳng cầu pháp thế tục. Các người cầu pháp chẳng cùng trụ nơi tất cả pháp thế tục, vì trong pháp chân như thì vô sở trụ.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… Chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là câu thứ chín, chẳng cầu pháp bốn cảnh. Luận Đối Pháp ghi: “Nhãn thọ nhận là nghĩa kiến, nhĩ thọ nhận là nghĩa văn, tự nhiên suy nghĩ mà biết như thế là nghĩa giác, sở thọ bên trong là nghĩa tri (biết)”. Nhưng đối với Đại thừa thì căn thức và tâm hòa hợp thì gọi là thấy… Nhưng năm căn, nghĩa mạnh hơn cho nên được lấy làm tên. Luận Du-già ghi: “Kiến tri thuộc hiện lượng, văn thuộc Thánh ngôn lượng, giác thì thuộc tỷ lượng”. Cho nên biết nhãn thì gọi là kiến, còn tỷ thiệt thân đều được gọi là tri, ý duyên với giáo gọi là văn, chỉ có riêng ý tư
duy thì gọi là giác. Đối pháp lấy nhĩ làm cửa mà cho rằng ý duyên với giáo, cho nên nhĩ thọ nhận gọi là văn, kỳ thật văn (nghe) là do ý duyên với giáo. Bốn pháp này đều nương vào tâm hữu lậu sai biệt mà kiến lập, cho nên nói chân như chẳng phải là kiến văn.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… Chẳng phải là cầu pháp.
Tán: Đây là câu thứ mười. Chẳng cầu các pháp phiền não ác ng- hiệp tạo tác. Các pháp vô lậu chẳng phải là chỗ tạo tác của các nghiệp ác phiền não, cho nên gọi là vô vi, vốn là cầu pháp này. Hoặc chỉ có chân như gọi là vô vi, vì đó là gốc của pháp.
Kinh: Vì thế, ngài Xá-lợi Tử… nên không có chỗ cầu.
Tán: Kết luận về việc cầu pháp. Các người cầu pháp chẳng nên cầu tất cả pháp phi pháp, đối với pháp phi pháp nên không cầu. Đối với pháp thì không cầu mà cầu, đó chính là cầu pháp.
Kinh: Khi thuyết pháp này… được pháp nhãn tịnh.
Tán: Đoạn thứ tư, chúng đương thời được lợi ích, đạt được quả Dự lưu.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… tòa sư tử cao lớn.
Tán: Phần thứ ba, hiển thị bất tư nghị; có hai phần:
1. Hiện sự bất tư nghị.
2. Thuyết sự bất tư nghị, tức là từ câu “có pháp giải thoát gọi là chẳng thể nghĩ bàn”…
Trong phần hiện sự bất tư nghị lại chia làm bốn đoạn:
1. Hỏi về tòa ở phương nào.
2. Ngài Cát Tường chỉ.
3. Nói về việc đặt tòa.
4. Ngài Thu Tử khen; theo văn có thể biết.
Đây là đoạn đầu hỏi về tòa ngồi ở phương nào.
Hỏi:
- Vì sao trước trách là nên cầu pháp chẳng nên cầu tòa ngồi, sau lại hỏi cầu tòa ở phương nào, mới đem đến mà đặt.?
Đáp:
- Lý thì nên cầu chân chẳng nên cầu tục, vì thế đầu tiên là trách, lễ xong thì vì thuận theo cơ nghi, cho nên nay đặt tòa ngồi.
Kinh: Ngài Diệu Cát Tường nói… an ổn trụ trì.
Tán: Bồ-tát Diệu Cát Tường chỉ nơi chốn. Gồm hai phần: Chỉ nơi chốn; tán thán.
Trong phần thứ nhất lại gồm chín câu:
1. Chỉ nơi chốn; là phương Đông.
2. Nêu xa gần, cách ba mươi sáu khắc-già-sa cõi Phật.
3. Chỉ cõi Phật, là Sơn tràng.
4. Nêu Đức Phật; là Phật Đăng vương.
5. Nêu sự an lạc tức hiện đang trụ trì.
6. Nêu thân lượng của Phật, tức tám mươi bốn ức du-thiện-na.
7. Nêu tòa Phật cao rộng, tức sáu mươi tám ức du-thiện-na.
8. Nêu thân lượng của Bồ-tát, tức bốn mươi hai ức du-thiện-na.
9. Nêu tòa Bồ-tát cao rộng ba mươi bốn du-thiện-na.
Đoạn này có năm câu, phối hợp riêng có thể biết được.
Kinh: Thân Đức Phật ở cõi này cao… du-thiện-na.
Tán: Đoạn văn này gồm bốn câu.
Kinh: Cư sĩ! Nên biết… đầy đủ các công đức.
Tán: Đây là khen ngợi tòa thù thắng, chỉ ra để ông Vô Cấu lấy đem về, hoặc chỉ hóa tướng độ, hoặc chỉ tha báo độ, vì thế thân và quốc độ đều rất lớn.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… thần thông tự tại.
Tán: Đoạn thứ ba, chính thức đặt tòa. Theo văn thì có ba phần:
1. Khởi thần thông.
2. Tòa đến.
3. Khuyên ngồi lên tòa.
Đây là văn thứ nhất. Đặt thứ tám trở lên, luôn ở nơi định, thuận theo thế tục mà khởi thần thông, khi nhiếp niệm thì lại nhập định.
Kinh: Liền khi ấy ở phương Đông… trượng thất của Vô Cấu Xưng.
Tán:  Đoạn  này  nói  về  việc  ngài  Vô  Cấu  dời  tòa  đến.  Có  ba phần:
1. Tòa đến.
2. Việc kỳ lạ đặt biệt.
3. Dung chứa.
Đây là văn đầu tiên. Ứng theo số chúng đương thời nên có ba mươi hai ngàn ức tòa ngồi, hiển thị tòa chẳng thật, do sức thần tạo ra, nương hư không mà đến.
Kinh: Các Bồ-tát này… trước chưa từng nghe.
Tán: Đây là nói về việc kỳ lạ. Nghe có thể nghe ở xa mà xưa chưa được nghe, thấy là thấy việc ở gần, xưa chưa được thấy, khoảng giữa xa và gần cũng đều chưa có, cho nên nói là kỳ lạ.
Kinh:  Ngôi  trượng  thất  tự  nhiên  rộng  lớn…  chẳng  ngăn  ngại nhau.
Tán: Nói về ngôi trượng thất dung chứa; gồm có hai:
1. Ngôi trượng thất biến hiện ra dung chứa tòa ngồi.
2. Thế giới chẳng bị ép chật.
Đây là văn thứ nhất. Ngôi trượng thất rộng lớn, sạch sẽ trang ng- hiêm mà chẳng dơ uế, có thể dung chứa tất cả các tòa sư tử. Khiến nhỏ thành lớn là thuộc về thư biến (duỗi) trong mười tám biến. Hoặc nhỏ có thể dung nạp lớn gọi là rộng, chẳng phải là biến thành rộng.
Kinh: Thành Đại Quảng Nghiêm… trước sau không khác.
Tán: Đoạn này là nói thế giới chẳng bị ép chật. Cõi Nam Thiệm- bộ nhỏ, tòa thì rất lớn, cả hai ở cùng một vị trí mà không ngại nhau. Thế giới nhỏ chẳng bị tòa lớn chướng ngại ép chật, cho nên nói vẫn như cũ, trước sau không khác. Trong hai mươi tám biến thuộc về biến các ảnh tượng nhập thân.
Hỏi: Vì sao khiến trượng thất rộng, mà không làm cho thế giới cực nhỏ biến thành lớn?
Đáp: Phương trượng là ngôi thất riêng. Đại chúng vân tập cho nên biến, thế giới là cõi chung, nên chẳng cần biến. Tính ngôi thất luận tòa ngồi, thì tất cả đều lớn hơn thế giới. Do sức thần thông tự tại mà có biến và chẳng biến.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… lên tòa sư tử.
Tán: Từ đây xuống là phần thứ ba, chánh thức khuyên lên tòa ngồi, có hai:
1. Khuyên thỉnh ngài Cát Tường lên tòa.
2. Thỉnh đại chúng lên tòa.
Đây là văn thứ nhất. Ngài Cát Tường dùng thần lực, chẳng đợi ông Vô Cấu thỉnh, theo phép tiếp khách, phải mời lên tòa, cho nên mới khuyên thỉnh.
Kinh: Cùng với các Bồ-tát… xứng hợp với tòa sư tử.
Tán: Mời những người khác lên tòa. Có hai:
1. Mời.
2. Ngồi.
Đây là lời mời. Đạo lực chẳng cao, nên khuyên hiện thần lực, sợ chẳng tương xứng với tòa, cho nên phải biến thân.
Kinh: Những vị được thần thông… đoan nghiêm mà ngồi.
Tán: Đây là nói về lên tòa ngồi. Có hai:
1. Bồ-tát lên tòa.
2. Thanh văn lên tòa.
Trong phần một lại có hai:
1. Hiển năng lực của chính mình.
2. Năng lực của người khác.
Đây là văn thứ nhất. Thân và tòa ngồi tương xứng, cho nên gọi là đoan nghiêm.
Kinh: Các vị Bồ-tát mới học… tòa sư tử.
Tán: Hiển năng lực của người khác. Gồm có ba:
1. Nói chẳng thể lên.
2. Nói lợi ích.
3. Mới lên được.
Đây là văn đầu, những vị chứng lên được, tức các Bồ-tát trước Thập địa.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… được năm thần thông.
Tán: Đây là nói lợi ích, được năm thần thông.
Kinh: Tức dùng thần lực… đoan nghiêm mà ngồi.
Tán: Đây là nói nhờ tha lực mới ngồi được.
Kinh: Trong đó lại có… tòa Sư tử.
Tán: Thanh văn lên tòa. Có năm phần:
1. Chẳng thể lên.
2. Hỏi.
3. Đáp đã khuất phục.
4. Nói lợi ích.
5. Mới lên được.
Đây là văn đầu nói về việc các Thanh văn không thể lên được. Thần lực của Nhị thừa, tuy đến Đại thiên, nhưng do tha lực chế phục nên không thể lên tòa, hoặc chẳng thể hiện thần thông, tùy thân lên tòa. Tòa đã cao rộng, vì thế chẳng thể lên được.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… chẳng thể lên tòa này.
Tán: Đây là lời cật vấn. Chúng Thanh văn rất nhiều nhưng khó có thể đối đáp, ngài Thu Tử là bậc Thượng thủ, vì thế mới hỏi, để ông Vô Cấu biết được đạo của Thanh văn.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… tôi chẳng thể lên tòa.
Tán: Trả lời đã bị khuất phục. Tòa quá phần sức của mình cho nên chẳng thể lên.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói rằng… mới có thể ngồi.
Tán: Thứ tư, nói lợi ích. Tòa xuất xứ từ Phật Đăng Vương, cho nên bảo lễ kính. Cần phải được thêm thần lực mới có thể lên tòa, để hiển thị nếu quy kính thì nguyện ắt viên mãn, cũng hiển thị việc Phật gia trì để thực hiện các việc thiện. Nhưng trước thuyết cho Bồ-tát, khiến được thần thông mà lên tòa. Là vì căn cơ và giai vị đã kham nhận được.
Còn ở đây các Thanh văn chỉ lễ Phật mà lên được tòa, chẳng được thần thông, vì căn cơ chưa thể kham nhận.
Kinh: Lúc bấy giờ, các đại Thanh văn… đoan nghiêm mà ngồi.
Tán: Phần thứ năm, mới lên tòa được. Thân và tòa tương xứng gọi là đoan nghiêm mà ngồi. Lễ tạ để được ngồi; quy kính gá nương, hiển thị chẳng phải là Thắng đạo để khiến phát tâm. Luận Thành Duy Thức ghi: “Nếu do sức định biến hiện, thì căn thân, khí giới, tự tha đều chẳng quyết định.” Do đó có thể biết tòa ngồi, thân lượng và thân đều do sức thần thông của người khác dẫn phát; thức tùy theo lớn nhỏ mà biến đổi, không trái nhau.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… chẳng ngại nhau.
Tán: Trong phần hiện sự bất tư nghị, đây là đoạn thứ tư nói về việc ngài Thu Tử khen ngợi. Gồm hai:
1. Khen ngợi trượng thất dung chứa.
2. Khen thế giới vẫn như cũ.
Đây là văn thứ nhất.
Hỏi: Trước biến thành rộng lớn, thì ngôi thất chẳng phải là nhỏ, nay nói thất nhỏ, thì trái nghịch sao?
Đáp: Có hai cách giải thích:
Ngôi thất chẳng phải biến thành lớn, mà dùng nhỏ dung chứa lớn, nên gọi là rộng lớn; thất chẳng phải lớn, cho nên gọi là thất nhỏ.
Ngôi thất biến thành lớn, lược có ba cách giải thích: Do thần lực biến thành lớn, cho nên trước nói rộng, hàng Thanh văn chẳng thể lường được nên còn thấy thất nhỏ, vả lại xưa nói đến mạt (ngọn) hôm nay, cho nên nói rộng lớn, nay luận đến bản, (gốc) khi xưa, cho nên nói nhỏ. Theo lý thật có biến thành lớn. Trước nói rộng lớn, đều thấy là nhỏ, nay nói thất nhỏ, thì cũng không trái nhau.
Kinh: Thành lớn Quảng Nghiêm… trước sau không khác.
Tán: Đây là khen thế giới vẫn như cũ. Về chỗ thấy theo trước giải thích thì thế giới lớn thất nhỏ; y theo cách giải thích sau thì thất lớn thế giới nhỏ, cho nên không bị ép chật.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… bất khả tư nghị.
Tán: Đoạn thứ hai, nói về bất tư nghị. Nhân trước khen tặng mà giải thích rộng về việc hy hữu. Theo văn thì gồm có ba:
1. Thuyết bất tư nghị.
2. Ngài Ca-diếp tán thán.
3. Lặp lại về giải thoát.
Văn thứ nhất lại có ba phần:
1. Nêu tổng quát.
2. Nói rộng; tức từ câu: “Thưa ngài Xá-lợi-phất…”.
3. Kết luận.
Đây là phần một. Địa thứ tám trở lên gọi là bất thoái. Có thần thông tên là giải thoát; vì chứng chân giải thoát mới có thể phát khởi; cũng tên là giải thoát giải thoát định chướng cho nên gọi là giải thoát. Vì dụng của thần thông này khó lường, nên gọi là Bất tư nghị.
Kinh: Nếu trụ như thế… hình lượng chẳng giảm.
Tán: Từ đây trở xuống là phần nói rộng. Gồm có sáu phen mỗi một phen đều có phần nêu lên và kết luận. Sáu phen:
1. Lớn nhỏ dung nhập nhau.
2. Rộng hẹp lãnh nạp nhau.
3. Đến đi tự tại.
4. Kéo dài hay rút ngắn tùy ý.
5. Vận chuyển tùy tâm; đồng loại đều đến.
Năm phen đầu là chuyển cảnh; một phen sau là biến tâm. Trong phen thứ nhất lại gồm có năm:
1. Nêu người năng biến.
2. Chánh thức nói về thân biến.
3. Không duyên nào chẳng biết.
4. Căn cơ thành thục có thể ủy thác.
5. Kết luận nói về sự sâu xa vi diệu.
Đây là phần một; gồm có hai đoạn: Một là nêu người năng biến, tức Bồ-tát giải thoát; hai là nói về thần biến, núi và hạt cải dung nhập lẫn nhau.
Hỏi:  Núi  lớn  chẳng  giảm,  hạt  cải  nhỏ  chẳng  tăng,  cả  hai  khác nhau làm sao mà dung nạp lẫn nhau?
Đáp:  Không  Lý  Nghĩa  ghi:  “Thế  tục  hư  giả,  Thắng  nghĩa  vốn không. Vì mê không và giả nên ngại nơi tâm, thì lớn nhỏ phân cách, nếu ngộ được huyễn hóa mà ý thông đạt, thì sao chẳng dung nạp nhau? Huống hồ lớn nhỏ cách xa, do mê nên chấp có, nếu đạt thắng nghĩa không, thì ngại gì chẳng thông? Ứng Lý Nghĩa ghi: “Lược có tám cách giải thích:
1. Chấp có chỗ chấp thì lớn nhỏ sai biệt; biết chỗ chấp là không thì đâu có lớn nhỏ?
2. Chẳng đạt y tha, cho rằng có thật lớn nhỏ, nếu thể hội được hư giả, thì lý nào chẳng thông?
3. Sự có lớn nhỏ hoặc cho rằng chẳng thể dung nhập, nhưng lý đều
viên thành, sao chẳng dung nhập được?
4. Chấp pháp có tác dụng thì lớn nhỏ liền trái, biết pháp do nhân duyên, đồng như hư huyễn, thì nào có cách ngăn?
5. Mê tâm chấp cảnh, cảnh thật thì khó dung chứa, biết cảnh đều do tâm đâu có gì chẳng được?
6. Pháp chân có tướng thì lớn nhỏ chẳng dung nhập, biết Pháp vô tướng là chân, thì đâu có lớn nhỏ?
7. Chưa khế hợp chân như thì tâm ngu tăm tối ngăn cách, biết chân đạt giả, thì trí sáng suốt thông đạt.
8. Hàng giai vị thấp chẳng thể thông đạt; bậc Thượng nhân có oai lực thì việc gì chẳng hay.
Đây là sức bất tư nghị chẳng phải là những hạng người khác có thể lường được. Hợp với trước thành mười câu, phần sau đều căn cứ theo đó mà biết. Nhưng tùy theo khả năng mới có thể làm được, mà chẳng thể cho là bất tư nghị thì liền trái với chánh lý. Lời này thành thật, người trí nên suy xét.
Kinh: Tuy hiện như thế… đâu có đến, đâu có nhập?
Tán: Đoạn thứ ba nói không duyên nào chẳng biết.
Kinh: Chỉ khiến những người khác… nhập vào hạt cải.
Tán: Đoạn thứ tư, căn cơ thuần thục. Hạng người thấy sức thần thông mà điều phục, tức là những người cần thấy thần thông để nhập đạo, là người có căn cơ thuần thục.
Kinh: Như thế an trụ… Độc giác chẳng thể lường được.
Tán: Kết luận, sâu xa vi diệu. Nhập tức chứng. Đây là sở chứng của trí thiện xảo của Bồ-tát, chẳng phải là cảnh giới mà hàng Nhị thừa phàm phu có thể biết được. Đã nói hơn Nhị thừa, thì phàm phu cũng không thể lường biết.
Kinh: Ngài Xá-lợi Tử… hình lượng chẳng giảm.
Tán: Phen thứ hai, hẹp rộng dung nạp nhau. Theo văn gồm có năm. Đoạn này có ba ý đầu là nói về người có thể biến hiện, và chánh thức nói về thần biến.
Kinh: Tuy hiện như thế… lo sợ não hại.
Tán: Thứ ba, không duyên nào chẳng biết. Có hai:
Nói về sự linh nghiệm chẳng lường, tức là đoạn văn “nào có đến, nào có nhập” nói ở trước.
Loài hữu tình chẳng kinh sợ tức là đoạn “Cũng chẳng làm cho chúng…”
Kinh: Chỉ khiến những kẻ khác… chẳng phải là hàng Độc giác có
thể lường được.
Tán: Đoạn này có hai là: thứ tư hàng căn cơ thuần thục có thể ủy thác và thứ năm là kết thành sâu xa vi diệu.
Kinh: Lại ngài Xá-lợi Tử… không có tăng giảm.
Tán: Phen thứ ba là nói đến đi tự tại, theo văn gồm có năm. Đây là hai đoạn đầu: Nêu người năng biến hiện, chánh thức nói về thần biến. Đào gia luân tức là bánh xe ép gạch của người thợ gốm, đặt trong lòng bàn tay tự xoay chuyển mà ném ra rồi lại thâu về.
Kinh: Tuy hiện như thế… cũng không làm lo sợ.
Tán: Đoạn thứ ba nói không duyên nào chẳng biết. Sức vận động đã lớn, mà chẳng làm cho họ sinh khởi ý tưởng là có qua lại và không sợ hãi.
Kinh: Vả lại thưa ngài Xá-lợi Tử… mà làm cho họ điều phục.
Tán: Phen thứ tư, kéo dài rút ngắn tùy ý. Theo văn cũng có năm. Đây là đoạn đầu chánh thức nói về thần biến, lại có hai:
1. Nói về việc làm.
2. Nói về thần biến.
Có thấy sinh tử tương tục ở thời gian dài thì mới có thể điều phục, vì kéo ngắn thành dài, có thấy sinh tử tương tục trong thời gian ngắn thì mới có thể điều phục, vì rút dài thành ngắn. Đây là nói việc làm, để hiển rõ việc thần biến nói ở sau.
Kinh: Có thể dùng thần thông… mà khiến cho được điều phục.
Tán: Thứ ba, chánh thức nói về thần thông.
Kinh: Tuy hiện như thế… rõ biết được kéo dài hay rút ngắn.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Không duyên nào chẳng biết, tức câu “thời gian dài ngắn…” trở lên.
           2. Căn cơ thuần thục mới ủy thác, tức câu: “Chỉ làm cho những người khác…” trở xuống.
Kinh: An trụ như thế… Độc giác chẳng thể lường được.
Tán: Kết luận nói sâu xa vi diệu.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… chỉ bày các hữu tình.
Tán: Phen thứ năm, vận chuyển tùy tâm. Theo văn cũng có năm.
1. Nêu người hay biến hóa.
2. Chánh thức nói về thần biến.
Phần chánh  thức nói về thần biến, gồm bảy câu:
1. Gom các cõi Phật.
2. Biến khắp mười phương.
3. Hiện vật cúng tốt đẹp.
4. Hiện khắp các sắc tượng.
5. Có thể hút phong luân.
6. Có thể hút lửa vào bụng.
7. Ném các thế giới.
Đoạn này có một câu nói về gom các cõi Phật.
Kinh: Vả lại dùng thần lực… mà chẳng di chuyển.
Tán: Biến khắp mười phương. Có hai cách giải thích:
1. Ý thế thông, nghĩa là chẳng phải dùng thân để đi mà dùng thế lực của ý, biến làm hữu tình đi khắp cõi nước trong mười phương để chỉ các cõi Phật, chẳng phải chỉ biến thân đi cùng khắp. Các hữu tình ấy trụ tại một cõi Phật, chưa từng di chuyển.
2. Ý thế thông, tức vận động chỗ tạo tác của thân, tùy thuận thế lực của ý thì rất nhanh chóng, trong một sát-na đến khắp mười phương, chẳng đồng với việc thân của Tiểu thừa đến khắp mọi nơi.
Tuy mang hữu tình đến các thế giới ở mười phương, nhưng đó chỉ là các Báo độ, các cõi Phật riêng biệt, vì pháp tánh tự tại, hoặc trụ ở Báo độ, trong một cõi Phật mà không di động.
Kinh: Lại dùng thần lực… các sắc tượng như tinh tú…
Tán: Đoạn này có hai: Câu thứ ba là nêu lên vật cúng tốt đẹp, câu thứ tư là hiện các sắc tượng.
Kinh: Lại dùng thần lực… đều không tổn hại.
Tán: Đoạn này có hai câu: Câu thứ năm có thể hút phong luân, câu thứ sáu là nói có thể hút lửa vào bụng.
Kinh: Lại dùng thần lực… đều không tổn hại.
Tán: Câu thứ bảy, ném các thế giới, tức thân trụ ở phương dưới lấy một thế giới; ném qua phương trên cách đây hơn vô số thế giới, tuy đặt ở một cõi khác nhưng thế giới ấy vẫn không bị tổn giảm, như dùng một cây kim găm vào một lá táo không có gì khó khăn.
Kinh: Tuy hiện như thế… liền thấy việc này.
Tán: Đây là đoạn thứ ba trong phần vận chuyển tùy tâm, nói về không duyên nào chẳng biết và đoạn thứ tư là hàng căn cơ thần phục mới được ủy khác.
Kinh: An trụ như thế… Độc giác chẳng thể lường được.
Tán: Kết luận nói sâu xa vi diệu.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi-phất… các loại sắc tượng.
Tán: Phen thứ sáu nói về đồng loại đều đến. Văn chỉ phân làm hai:
1. Biến thân.
2. Biến ngữ.
Biến thân lại có hai:
1. . Biến mình.
2. Biến người.
Đoạn này là nêu người hay biến và biến mình. Hoặc Thánh hoặc phàm, hoặc thầy hoặc trò, như văn đã nói, chẳng cần lặp lại.
Kinh: Hoặc dùng thần lực… các loại sắc tượng.
Tán: Đây là biến thân người khác.
Kinh: Hoặc dùng thần lực… vi diệu bậc nhất.
Tán: Đây là nói biến ngữ. Ví như biến lời nói của mình có năng lực quyết định. Gồm hai phần: Một là, biến âm thanh pháp vô ngại; biến âm thanh từ ngữ vô ngại. Một phen sau cùng từ câu: “Hoặc dùng thần lực… trở xuống”.
Trong phần đầu lại có ba:
1. Chuyển thành âm thanh của Phật làm căn bản.
2. Có thể thuyết pháp… từ âm thanh của Phật lưu xuất.
3. Kết luận nêu lợi ích.
Đây là văn thứ nhất có thể chuyển âm thanh của ba phẩm hữu tình, đồng thời tạo thành âm thanh Phật, đều là bậc nhất.
Kinh: Từ âm thanh của Phật này… ngôn từ sai biệt.
Tán: Từ đây xuống là phần thứ hai; hay thuyết pháp, từ âm thanh Phật lưu xuất. Có ba câu:
1. Thuyết pháp.
2. Hiển ba thừa.
3. Xuất âm vận.
Đây là câu đầu.
Kinh: Cho đến tất cả… đều từ trong đó lưu xuất.
Tán: Đây là hiển âm thanh Tam thừa thuyết pháp.
Kinh: Cho đến mười phương… từ âm thanh Phật lưu xuất.
Tán: Đây là nói về âm vận. Âm vận của chư Phật, đều có thể lưu xuất.
Kinh: Khiến cho tất cả… đều điều phục.
Tán: Kết luận nêu lợi ích. Tùy theo các loại căn cơ khác nhau, tất cả đều điều phục.
Kinh: Hoặc dùng thần lực… mỗi mỗi đều được lợi ích.
Tán: Đây là nói biến âm thanh ngôn từ vô ngại, đều khiến cho được lợi ích.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi-phất… rốt cuộc chẳng cùng tận.
Tán: Trong phần thuyết Bất tư nghị, từ đây trở xuống là phần thứ ba, kết luận để thành tựu nghĩa nói ở trước, có hai:
1. Kết luận nói trí của mình biện biệt khó cùng.
2. Nói sự giải thoát của người khó tận.
Đây là văn đầu.
Kinh: Như trí tuệ của ta… vì vô lượng.
Tán: Đoạn này là nói sự giải thoát của người khó tận.
Kinh: Lúc bấy giờ, Tôn giả… khen là điều chưa từng có.
Tán: Trong phần thuyết Bất tư nghị, từ đây trở xuống là phần thứ hai, Ca-diếp khen và tự hận, gồm hai câu:
1. Khen và tự hận.
2. Nói về lợi ích.
- Đây là văn đầu, gồm có hai:
1. Khen.
2. Tự hận.
Đây là phần khen ngợi.
Kinh: Liền nói với Tôn giả… cũng chẳng thể liễu ngộ.
Tán: Tự hận gồm có sáu câu:
1. Hận mình chẳng biết.
2. Nói trí có thể ngộ.
3. Than không phát thú.
4. Oán mình mà buồn khóc.
5. Mừng người đạo cao.
6. Hiển thị hay phá ác.
Đây là đoạn nói về hận mình chẳng biết. Theo văn gồm có hai là dụ và hợp.
Kinh: Ai là bậc có trí… tâm Chánh đẳng Chánh giác.
Tán: Thứ hai nói về trí có thể ngộ, vì thế mà phát tâm.
Kinh: Chúng ta hôm nay… lại nên làm thế nào?
Tán: Thứ ba là than không phát thú. Tuy đã có nhân Đại thừa, nhưng lại bị cực quả của Thanh văn làm tổn hại, đã đoạn phiền não mà như hạt giống hư thối, không thể làm gì được; đó là khi chưa phát tâm, mà tự khiêm nhường, chẳng phải nơi hội Pháp Hoa thì chẳng được thọ ký làm Phật.
Kinh: Chúng ta tất cả… đại thiên thế giới.
Tán: Thứ tư, oán mình buồn khóc.
Kinh: Tất cả Bồ-tát… thế lực tin hiểu.
Tán: Thứ năm, vui mừng thấy người đạo cao, vì có thế lực hay sinh, hay tưởng, tin hiểu kiên cố.
Kinh: Nếu có Bồ-tát… không có khả năng tạo tác.
Tán: Thứ sáu, hiển thị có thể phá ác, chẳng thể làm gì được.
Kinh: Nên ở nơi Tôn giả… tâm Chánh đẳng giác.
Tán: Kết luận nêu lợi ích.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… Bồ-tát giải thoát.
Tán: Trong phần thuyết Bất tư Nghị, từ đây trở xuống là phần thứ ba lặp lại nghĩa giải thoát. Có hai đoạn:
1. Nói ma vương phần nhiều là giải thoát.
2. Nói người ăn xin lớn phần nhiều cũng giải thoát.
Trong đoạn một lại có hai:
1. Nói ma vương phần nhiều là giải thoát.
2. Giải thích lý do. Đây là văn đầu.
Kinh: Phương tiện khéo léo… vì các hữu tình.
Tán: Đây là giải thích lý do dùng phương tiện độ làm nhiều ma vương để lợi ích chúng sinh.
Kinh: Đại Ca-diếp-ba… Bồ-tát giải thoát.
Tán: Sau đây là nói về người hành khất lớn phần nhiều cũng giải thoát. Có hai:
1. Hiển.
2. Kết luận.
- Trong phần hiển bày lại có ba:
1. Nói về chỗ tạo tác.
2. Giải thích lý do.
3. Lặp dụ để rõ nghĩa.
- Đoạn thứ nhất lại có hai:
1. Nói về vật xin.
2. Nói về người xin.
Vật xin có hai loại: Nội tài vật và ngoại tài vật. Ngoại tài vật gồm có bảy:
1. Thân thuộc.
2. Đất đai ở thế gian.
3. Địa vị tôn quý.
4. Ẩm thực.
5. Vật trang sức.
6. Bốn sự.
7. Tài sản riêng tư.
Kinh: Dùng xảo phương tiện… ý lạc vững chắc.
Tán: Giải thích lý do. Đầu tiên là nêu lên, sau là giải thích.
Đây là phần nêu lên. Muốn khiến cho ý lạc của Bồ-tát vững chắc, cho nên làm đại hành khất để thử nghiệm.
Kinh: Vì sao?… vì việc này mà cầu xin.
Tán: Đây là hiển rõ nghĩa trước. Vị đại hành khất là Bồ-tát dũng mãnh vì làm lợi ích chúng sinh mà làm việc khó làm này, chẳng phải hàng hạ liệt có thể làm đại hành khất được vì ý chí kém cỏi.
Kinh: Đại Ca-diếp-ba… vì việc này mà cầu xin.
Tán: Đây là dụ để hiểu rõ. Có hai ví dụ:
1. Nói về lực lớn hay bức bách.
2. Nói về lực đối địch hay bức bách.
Đây là văn đầu. Bồ-tát trước Địa thứ bảy làm vị đại hành khất giống như lửa đom đóm, vì giai vị thấp, chẳng thể bức bách bậc đại thí Bồ-tát, Bậc đại thí Bồ-tát giống như mặt trời oai thế rất lớn. Bồ-tát Địa thứ tám trở lên là Bồ-tát giải thoát mới có thể làm đại hành khất, mà bức bách được, vì có oai lực rất lớn, hoặc mới có thể bố thí lớn, chẳng phải là việc các giai vị thấp làm được.
Kinh: Đại Ca-diếp-ba… cộng tướng bức bách.
Tán: Đây là nói lực đối địch bức bách. Theo văn ý có thể biết.
Kinh: Đó gọi là an trụ… cảnh giới giải thoát.
Tán: Đây là thứ hai, kết luận.
Kinh: Khi thuyết pháp này… cảnh giới giải thoát.
Tán: Đoạn thứ tư của phẩm là phần kết luận nêu lợi ích. Cảnh giới giải thoát là Bồ-tát Địa thứ tám trở lên. Nay ở đây nói nhập, thì đều là chứng quả vị bất thoái.
 
-------------------------------
PHẨM 7: QUÁN HỮU TÌNH
 
Năm phẩm: Phương Tiện, Thanh Văn, Bồ-tát, Vấn Tật, Bất Tư Nghị nói về hạnh hay lợi ích. Còn phẩm này nói về chỗ được lợi ích. Sợ rằng nói chỗ được lợi ích thì chấp có thật chúng sinh, nên nay phá chấp kia, chỉ rõ tất cả đều chẳng thật, chỉ có giả hữu tình để làm chỗ lợi ích, cho nên một phẩm này gọi là chỗ được giáo hóa. Quán nghĩa là quán xét, hữu tình tức cảnh chúng sinh được hóa độ. Trí tuệ phân biệt, chúng sinh được hóa độ, tuy có hóa độ nhưng chẳng phải thật có, nên gọi là quán hữu tình. Phẩm này nói rộng về việc ấy nên gọi là phẩm Quán Hữu Tình. Tuy phẩm này lại nói về hạnh thù thắng, nhưng chúng sinh được hóa độ là chủ, nên gọi là quán hữu tình; hoặc do quán hữu tình mà khởi thắng hạnh nên gọi chung là phẩm Quán Hữu Tình.
Kinh: Lúc bấy giờ, ngài Diệu Cát Tường… quán các hữu tình.
Tán: Toàn phẩm được chia làm hai đoạn lớn:
1. Bồ-tát Diệu Cát Tường hỏi đáp để nói về hạnh Bồ-tát.
2. Thiên nữ đối đáp pháp chấp của Thanh văn.
Trong đoạn lớn thứ nhất thì đầu tiên quán sở hóa và sau đó là nói về hạnh lợi lạc. Trong phần quán sở hóa lại có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là lời hỏi.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… tất cả hữu tình.
Tán: Đây là lời đáp. Có hai, Không Lý Nghĩa ghi: “Đầu tiên quán tục đế giả có hữu tình; kế đó quán chỗ chấp trước vốn không có hữu tình”.
Đây là văn đầu. Tánh y tha khởi như việc huyễn, chỉ tương tợ mà chẳng chân thật.
Kinh: Lại ngài Diệu Cát Tường… quán uẩn thứ sáu.
Tán: Không Lý Nghĩa ghi: “Ở sau nói quán chân đế vốn không có hữu tình”. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Sau nói quán chỗ chấp trước vốn không có hữu tình”, văn có hai ý: Đầu tiên nói rộng về dụ để chỉ rõ không có, sau kết luận nghĩa trước, giải thích nguyên do là không. Trong phần đầu gồm có ba mươi ba câu, bản xưa chỉ có hai mươi chín câu. Đoạn này gồm mười câu đầu, tức là câu: “Như có người trí…” trở xuống là thuộc về dụ. Từ câu “Các Bồ-tát…” trở xuống là theo lời vấn nạn mà giải thích. Những ý khác thì dễ biết. Quán mé trước như bọt nước tụ mà có, mé trước vốn không, vì xưa nay không.
Kinh: Quán căn thứ bảy… các độc tham, sân, si.
Tán: Đoạn này gồm mười câu. Tiếng Phạm Tát-đỏa, Hán dịch là hữu tình, tức nói sáu căn. Bản xưa do đó nói là tình thứ bảy, nay nói căn. Trong cõi Vô sắc có định cảnh sắc, không có Nghiệp quả sắc. Ở đây nói nghiệp quả sắc. Tát-ca-da kiến chung cho câu sinh phân biệt, quả Dự lưu trở lên không có phân biệt, chẳng phải là không có câu sinh. Kinh Lăng-già ghi: “Đức Phật bảo Đại Tuệ rằng thân kiến có hai loại là câu sinh và vọng tưởng; vọng tưởng tức phân biệt Tát-ca-da kiến”. Quán hữu thứ ba là nhất lai, người đạt quả Nhất lai lại có hai lần sinh, tức từ cõi trời sinh làm người, chỉ có hai lần sinh; đây là căn cứ theo nghĩa sinh Tiểu thừa, chẳng phải theo nghĩa sinh của Đại thừa. Quả bất hoàn, chẳng sinh vào Dục giới, nên không vào thai.
Kinh: Quán Bồ-tát đắc nhẫn… chẳng sinh phiền não.
Tán: Đoạn này gồm mười câu. Bồ-tát Địa thứ tám trở lên gọi là đắc nhẫn, vì nhẫn được tương tục, cho nên không bỏn sẻn… Địa thứ bảy còn khởi tâm này vì lợi ích. Hoặc cho rằng Sơ địa trở lên được tánh giới, hoặc mới được nhẫn, không có bỏn sẻn… Đệ tứ thiền trở lên không còn hơi thở ra vào hà huống gì diệt định. Bán-trạch-ca, Hán dịch là tuyệt thế, tức là hoàng môn, tất cả gồm năm loại: Sinh tiện, trừ khử, tật đố, bán nguyệt, quán sái. Địa thứ tám trở lên tuy chưa đoạn tất cả phiền não nhưng vô lậu đã được tương tục; vì thiếu duyên nên phiền não chẳng sinh, do đó gọi là rốt ráo chẳng sinh phiền não.
Kinh: Quán cảnh mộng khi đã tỉnh dậy… sau có tương tục.
Tán: Đây là ba câu sau. Trong giấc mộng thấy cảnh, chưa biết là cảnh không, cho nên nêu lên khi đã thức quán cảnh mộng kia. Bậc vô học thì phần đoạn hậu hữu đều không, chẳng phải không có biến dịch.
Kinh: Như thế Bồ-tát… không có hữu tình.
Tán: Kết luận nghĩa đã nói ở trên, giải thích lý do của không. Không  Lý  Nghĩa  ghi:  “Trong  Thắng  nghĩa  đế,  các  pháp  vốn  không, chẳng có hữu tình”; Ứng Lý Nghĩa ghi: “Biến kế sở chấp, các pháp đều không, không có hữu tình”.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói… tu tập đại bi.
Tán: Đây là nói về hạnh lợi lạc. Gồm hai phần là:
1. Nói về hạnh lợi tha.
2. Hạnh tự lợi.
Phần thứ nhất gồm có bốn đoạn nói về bốn Vô lượng, mỗi mỗi đoạn đều có hai phần là hỏi và đáp. Đây là câu hỏi thứ nhất.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… rốt ráo an lạc.
Tán: Đây là lời đáp, có ba:
1. Nêu tổng quát.
2. Nói rộng.
3. Kết luận.
Đây là văn thứ nhất. Từ có ba như trước đã nói:
1. Vì hữu tình, duyên với hữu tình mà khởi gọi là hữu tình duyên từ.
2. Thuyết  pháp  như  thế,  duyên  với  pháp  mà  khởi,  gọi  là  pháp duyên từ.
3. Ban cho niềm vui rốt ráo, duyên với như mà khởi gọi là vô duyên từ.
Kinh: Như thế Bồ-tát… lìa trong ngoài.
Tán: Đây là nói rộng về từ, gồm ba mươi tám câu, phân làm hai, ba mươi câu đầu nói riêng về tu tập vô duyên từ, pháp từ và hữu tình từ, đây là theo thứ tự chứng đắc hơn kém. Tám câu sau là nói riêng về tu tập hữu tình từ, pháp từ và vô duyên từ, đây là căn cứ theo thứ tự trước sau của quán hành. Trong ba mươi câu đầu lại phân làm ba: Chín câu đầu nói về vô duyên từ, vì duyên chân như, mười một câu kế nói về tu pháp duyên từ, duyên pháp mà khởi, mười câu sau nói về tu hữu tình từ, duyên hữu tình mà khởi. Pháp duyên từ có hai:
1. Duyên với hữu tình đều không thật thể, chỉ có pháp năm uẩn mà ban cho niềm vui, nên gọi là pháp duyên.
2. Duyên với diệu pháp mà giáo lý hạnh quả đã có, gọi là pháp duyên từ.
Ở đây chỉ nói đến loại sau, chẳng nói đến loại trước. Ở đây cũng chỉ lấy tăng thượng làm sở duyên; như tu tập chánh pháp rồi ban cho chúng sinh, vì trước duyên với pháp cho nên gọi là pháp duyên từ, như duyên với hữu tình mà tu tập chánh pháp, trước duyên với hữu tình, cho nên gọi là hữu tình duyên từ. Cả hai hoặc gọi chung là pháp hữu tình duyên, vì cả hai đều có. Chân tục cùng quán, ba loại từ đều có, theo lý cũng không trái nhau. Bản xưa chỉ có hai mươi chín câu. Hai mươi bốn câu đầu giải thích riêng về vô duyên từ, pháp duyên từ và hữu tình duyên từ; năm câu sau giải thích riêng về hữu tình duyên, pháp duyên và vô duyên. Hai mươi chín câu đầu thì chín câu thứ nhất nói về vô duyên từ, chín câu kế nói về pháp duyên và sáu câu cuối nói về hữu tình duyên. Đây là nêu lên năm câu đầu. Tâm Từ vô duyên xa lìa năng thủ và sở thủ, cho nên tu tập tịch diệt; lìa sự nhiễu loạn của phiền não, cho nên tu tập không nóng đốt; lý ba đời đều như nhau, cho nên tu tập
như thật; không có nhân đẳng khởi, cho nên tu tập không trái nghịch; có sự sinh khởi từ bình đẳng, vì đồng là hữu vi, có thuận có nghịch; chân như không có nhân, không có chỗ mê chấp, cho nên tu tập không trái nghịch; chân như không trong ngoài, cho nên tu tập không hai.
Kinh: Tu tâm Từ không hủy hoại… đồng như hư không.
Tán: Đây gồm bốn câu sau của vô duyên từ. Chân thì rốt ráo trụ, cho nên tu không hủy hoại, vì không có thời gian hoại diệt. Bản xưa ghi: “Rốt ráo tận”, tức rốt ráo diệt tận các phiền não, cho nên thể chẳng hoại; hay duyên với ý lạc giống như kim cang, cho nên sở quán bền chắc khó phá. Tâm từ được tu tập gọi là tâm từ kiên cố. Chân tánh vốn tịnh, cho nên tu thanh tịnh. Chân như hư không, cho nên tu bình đẳng.
Kinh: Tu tâm Từ A-la-hán… không nghỉ ngơi.
Tán: Từ đây về sau là mười một câu, nói về tu pháp duyên từ, được chia làm ba: Ba câu đầu nói về ba thừa; hai câu kế nói về hai thân pháp báo, sáu câu sau nói về quả vị. Đây là ba câu nói về tâm Từ của ba thừa. Tâm Từ A-la-hán, lược có ba nghĩa:
1. Giết giặc phiền não.
2. Không có phần đoạn sinh tử.
3. Đáng được nhận của cúng dường quý báu.
Ở đây nói theo nghĩa thứ nhất. Chỉ riêng chứng Bồ-đề cho nên chẳng cầu thầy, chẳng cần trò, chẳng thể lợi cho người, nuôi dưỡng đệ tử. Hai hạnh của Bồ-tát làm lợi lạc chúng sinh cho nên duyên với hạnh của Nhị thừa mà khởi tâm từ.
Kinh: Tu tâm Từ Như Lai… vì các hữu tình.
Tán: Hai, đây là tâm Từ hai thân pháp và báo. Chân như là lý pháp của pháp thân Như Lai, báo thân gọi là quả vị Phật, hai thân khác nhau.
Kinh: Tu tâm Từ tự nhiên… vì yêu ghét đã đoạn.
Tán: Đoạn này gồm sáu câu nói về quả vị. Đây là ba câu đầu. Tại nơi quả thì tự tại bình đẳng biết các pháp, cho nên tu tự nhiên. Chánh giác và chân như bình đẳng, nên tu Bồ-đề. Vì tham sân vĩnh viễn đoạn, nên tu vô lậu.
Kinh: Tu tâm Từ đại bi… vì quán tánh không.
Tán: Đây là ba câu sau. Hiển phát Đại thừa, cho nên tu đại bi để lợi lạc chúng sinh. Quán đều vô ngã, cho nên tu vô tánh, nếu thấy có ngã thì khởi hoặc tránh (tranh luận phiền não). Vì quán pháp tánh không, cho nên tu không nhàm chán, nếu pháp tánh có thì liền có nhàm chán.
Kinh: Tu tâm Từ pháp thí… khiến không tổn giảm.
Tán: Sau đây là mười câu nói về tu hữu tình duyên từ, tức tu mười độ. Đoạn này có ba câu. Quyện tức là co rút lại, như người ban thí vật, lúc đầu thì mở tay ra, sau thì co nắm lại; pháp bỏn sẻn cũng như thế, đầu tiên thì cho, sau thì thôi không cho nữa, các văn khác tự có thể hiển.
Kinh: Tu tâm Từ tinh tấn… vì hiện biết pháp.
Tán: Đoạn này gồm ba câu. Chẳng đắm trước mùi vị thiền gọi là không ái vị. Luôn thành tựu chủng trí gọi là hiện biết pháp, đều là vì hữu tình, nên gọi là hữu tình duyên từ.
Kinh: Tu tâm Từ phương tiện… tánh tướng các pháp.
Tán: Đoạn này gồm bốn câu. Do có phương tiện khéo léo, nên không việc gì mà không lợi lạc, vì thế gọi là các môn, thị hiện khắp tất cả, mà tu tâm Từ phương tiện. Do mười nguyện lớn dẫn phát mà tu tâm Từ diệu nguyện để cứu giúp chúng sinh, vì thành tựu các việc lợi lạc, cho nên tu đại lực; thấu suốt pháp tánh để khai ngộ chúng sinh, cho nên tu trí độ. Nhã-na gọi là trí, tức trí ba-la-mật.
Kinh: Tu tâm Từ thần thông… vì các hữu tình.
Tán: Đoạn này gồm tám câu, nói riêng về tu tập hữu tình duyên, pháp duyên và vô duyên từ. Hai câu đầu nói về hữu tình, năm câu kế nói về pháp duyên, một câu sau nói về vô duyên. Đoạn này là nói về hữu tình duyên. Vì chẳng hoại chân như tánh của các pháp, là nhân của pháp tướng, cho nên tu thần thông. Tuy hiện thần thông, biến hiện các việc, mà chẳng làm hoại tánh tướng của các pháp.
Kinh: Tu tâm Từ không chấp trước… vì lìa cấu uế.
Tán: Đoạn này gồm năm câu nói về tu pháp duyên từ. Tâm không bị chướng ngại và không nhiễm ô cho nên tu không chấp trước. Vì ý lạc thanh tịnh cho nên gọi là không kiêu mạn, trá ngụy. Vì gia hạnh thanh tịnh nên gọi là không xiểm khúc, vì mọi việc chẳng hư giả nên gọi là không luống dối. Tâm không dơ uế cho nên tu thâm tâm. Hà tức là vết trầy xước trên viên ngọc, bệnh của ngọc. Tuy tướng bên ngoài là thiện, nhưng nội tâm có cấu nhiễm, nên gọi là hà uế.
Kinh: Tu tâm Từ an lạc… vì sự an lạc.
Tán: Đây là một câu nói về vô duyên từ. Sự an lạc vốn chỉ là chân như. Bản xưa, trong năm câu nói về hữu tình duyên, pháp duyên và vô duyên sau, thì một câu nói về hữu tình, ba câu nói về pháp duyên và một câu nói về vô duyên.
Kinh: Thưa ngài Diệu Cát Tường… tu nơi đại Từ.
Tán: Đây là lời kết luận.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói:… tu đại bi.
Tán: Đây là câu hỏi thứ hai.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… tu đại bi.
Tán: Đây là lời đáp thứ hai. Ban phát vật của mình mà không bỏn sẻn, để nhổ trừ các khổ mà người hiện đang phải nhận chịu, cho nên gọi là đại bi. Vì thực hành tâm này rất rộng lớn, không tham tiếc không bỏn sẻn, gọi là đại bi, vì chỉ chuyên ban vui cho người.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói:… tu đại Hỷ.
Tán: Đây là câu hỏi thứ ba.
Kinh: Vô Cấu Xưng đáp… tu đại Hỷ.
Tán: Câu trả lời thứ ba. Làm việc lợi ích mà không hối tiếc, vì khéo sinh niềm vui; không chỉ khuyên cho người vui mà gọi là Hỷ.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói… tu đại Xả.
Tán: Đây là câu hỏi thứ tư.
Kinh: Vô Cấu Xưng đáp… tu đại Xả.
Tán: Câu trả lời thứ tư. Trong đó thực hành tâm xả và gồm cả bình đẳng, chẳng mong cầu báo đáp; không chỉ khuyên xả bỏ điều ác mà gọi là Xả.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường hỏi… nên nương vào nơi đâu?
Tán: Từ đây về sau là nói hạnh tự lợi, có mười đôi hỏi đáp xoay vần phát sinh. Đây là câu hỏi thứ nhất. Bồ-tát trước mười Địa, vào sinh tử giáo hóa chúng sinh, nếu có sợ hãi thì nên nương vào đâu? Còn Bồ- tát Thập địa thì không sợ khổ sinh tử.
Kinh: Vô Cấu Xưng đáp… đại ngã của chư Phật.
Tán: Đây là lời đáp. Đại ngã của chư Phật là đại Niết-bàn. Ngã trong bốn đức gọi là đại ngã, trụ mà vô trụ, gọi là chánh y trụ.
Kinh: Lại hỏi: Bồ-tát… trụ trong giải thoát.
Tán: Câu hỏi đáp thứ hai. Khi chân như xa lìa phiền não thì giả danh là giải thoát, thể của giải thoát là trạch diệt vô vi.
Kinh: Lại hỏi: Muốn trụ… trừ phiền não.
Tán: Câu hỏi thứ ba. Cần phải trừ sự trói buộc vì thân giải thoát.
Kinh: Lại hỏi: Muốn trừ… quán xét tác ý.
Tán: Câu hỏi đáp thứ tư. Lý tức đạo lý chân như nhị đế, thuận với đây mà tác ý, gọi là như lý tác ý, thể của nó là tư tuệ.
Kinh: Lại hỏi: Muốn tu… chẳng sinh chẳng diệt.
Tán: Câu hỏi đáp thứ năm.
Kinh: Lại hỏi: Pháp gì… pháp thiện chẳng diệt.
Tán: Câu hỏi đáp thứ sáu. Đoạn ác tu thiện, gọi là chẳng sinh diệt;
vì tư duy, khởi sự tu tập chân chánh này.
Kinh: Lại hỏi: Thiện… lấy thân làm gốc.
Tán: Câu hỏi đáp thứ bảy. Vì có thân cho nên thiện và bất thiện sinh; tất cả đều nương gá mà khởi, chẳng phải nhân đó mà cảm gốc.
Kinh: Lại hỏi: Thân… dục tham làm gốc.
Tán: Đây là câu hỏi đáp thứ tám, nêu lên nhân nhuận sinh cận vật và ái ở cõi Dục, cho nên chỉ nói dục tham do si.
Kinh: Lại hỏi: Tham… phân biệt là gốc.
Tán: Đây là câu hỏi đáp thứ chín. Do chấp tâm hư vọng phân biệt, cho nên dục tham sinh.
Kinh: Lại hỏi: Hư vọng… điên đảo tưởng sinh.
Tán: Đây là câu hỏi đáp thứ mười. Đảo tưởng tức cảnh. Do có cảnh điên đảo nên vọng tâm sinh. Vì thế, luận ghi: “Loạn tướng và loạn thức, nên chấp nhận là sắc thức và phi sắc thức. Như vô dư cũng không”. Bản dịch xưa nói đảo tưởng là hình tượng điên đảo do tâm phân biệt sinh.
Kinh: Lại hỏi: Đảo tưởng… vô trụ làm gốc.
Tán: Câu hỏi đáp thứ mười một. Vô trụ tức chân như. Do mê chân như nên cảnh điên đảo sinh.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói… tất cả các pháp.
Tán: Câu hỏi thứ mười hai. Chân như không gốc, vì chẳng do pháp khác sinh, cũng chẳng có chỗ trị, lại chẳng có chỗ y cứ. Từ gốc này mà lập tất cả pháp. Tánh nhiễm ô thì mê liền sinh, tánh đã tịnh thì phát ngộ, cho nên duy thức nói đó là chỗ y cứ của mê ngộ. Gọi lập tất cả pháp, chẳng phải là nói hay sinh ra. Đó nghĩa của ứng lý; Không Lý Nghĩa ghi: “Vô trụ tức chân như tánh không, cũng là căn bản của hai pháp mê ngộ. Vả lại nhân duyên tánh không, từ tánh không mà sinh tất cả pháp, cho nên nói từ vô trụ lập tất cả pháp. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Nếu ngoại đạo nói hay sinh tất cả, thì chân như của ta chẳng phải là hay sinh, chỉ là sở y của pháp, cho nên nói từ vô trụ lập tất cả pháp mà chẳng nói sinh”. Trong kinh nói tâm tạo tất cả, đó là tâm nhân duyên, chẳng phải là tâm pháp tánh. Cho nên không trái nhau. Pháp tánh chẳng phải là năng khởi, vì sao mà nói là năng tạo tác được?
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… các đại Thanh văn.
Tán: Phần thứ hai của phẩm nói về Thiên nữ đối đáp phát dương phá chấp của Thanh văn. Toàn văn gồm có ba phần:
1. Thiên nữ rải hoa.
2. Ngài Thu Tử hỏi đáp.
3. Ngài Vô Cấu khen ngợi.
Trong phần đầu lại có ba:
1. Hoan hỷ rải hoa.
2. Dính và không dính.
3. Hỏi đáp để phá chấp.
Đây là đoạn thứ nhất. Nói bản trụ tức để hiển thị Thiên nữ chẳng cùng đến chung với ngài Cát Tường. Thiên nữ, tức là vị Bồ-tát Địa thứ tám, thị hiện làm thân Thiên nữ. Cho nên cuối phẩm ghi: “đã đạt được trí tuệ du hý thần thông, chứng vô sinh nhẫn, đối với đạo giác ngộ vô thượng, vĩnh viễn không còn thoái chuyển. Thừa sức bản nguyện, tùy sự ưa thích mà thành tựu tất cả hữu tình. Cho nên biết đó chẳng phải là phàm phu, quỷ, thần… nhưng vì người nữ nhiều từ ái, tâm thương xót nhớ nghĩ sâu nặng, được lợi ích sâu kín, dùng phương tiện để cứu giúp hữu tình; huống hồ lại muốn giáo hóa hàng Thanh văn khiến họ xa lìa nhẫn trước nên thị hiện việc rải hoa để trợ giúp cho năng lực của ngài Vô Cấu, vì thế mà hiện thân nữ, chẳng hiện tướng nam. Đã là hóa hiện thì chẳng nhất định là vị trời nào. Nhưng căn cứ theo sự đoan nghiêm thù thắng của thân, thì đó là Thiên nữ ở cõi Tha hóa. Khi trước thất của ngài Tịnh Danh trống không, nên ẩn hình, bây giờ vì đã thuận lợi cho việc giáo hóa, cho nên hiện thân. Thiên nữ rải hoa, hoa có nhiều mùi hương thơm lạ, dễ nhiễm tâm của phàm tục thế gian, đó là muốn nêu lên hàng Thanh văn, còn chấp trước. Bồ-tát thì đã xa lìa, cho nên mới rải hoa. Vả lại hoa ở Am viêm hôi, gặp hương thơm của hoa trời, thì liền có khả năng nở đẹp và tươi tốt, mai sau sẽ kết quả, cho nên chỉ rải hoa mà không rải những vật khác.
 
 
----------------------------------
/32
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »