Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 138, Bộ Kinh Sớ XXIV, Số 1779- 1782 (Quyển 6- 10)

Đại Tập 138, Bộ Kinh Sớ XXIV, Số 1779- 1782 (Quyển 6- 10)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1150.

Chương 31: Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ - Quyển 6 (Phần 2) (Trang 1103 - 1139)

THUYẾT VÔ CẤU XƯNG KINH TÁN
QUYỂN 6
(Phần 2)
 
PHẨM 12: QUÁN NHƯ LAI
 
Mười một phẩm chính thức nói về phần bản tông, được phân làm ba: Chín phẩm đầu nói về cảnh Bồ-tát, một phẩm kế nói về hạnh Bồ- tát và phẩm này nói về quả Bồ-tát. Có tu hành ắt đương lai sẽ thành quả lớn. Danh từ Như Lai thì như trước đã giải thích. Quán tức quán xét, trí kiến chiếu soi, gọi là quán. Sợ người tu hành chấp có thật Như Lai, chẳng biết chánh quán ba thân sai biệt, nên nay dạy chánh quán, cầu chứng làm Phật. Nhân nơi ý của ngài Vô Cấu mà trình bày diện thể Như Lai. Phẩm này nói rộng về việc trên, cho nên gọi là phẩm Quán Như Lai.
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… quán Như Lai ư?
Tán: Thân Phật có hai là thân thật và thân quyền, do hai thân này mà phẩm được phân làm hai đoạn:
1. Như Lai hỏi để nói về quán pháp thân Như Lai, hoặc gồm cả thân thọ dụng; tức từ câu chứng hội Nhất thiết trí trí… là nói về thân tự thọ dụng và thật thân.
2. Thu Tử hỏi, nhân thấy Phật Vô Động, nói về quán thân tha thọ dụng, gồm hiển bày việc Đức Thích-ca trụ ở cõi tạp uế là Phật hóa thân đều là thân quyền hiện.
Đoạn dưới Thu Tử khen ngợi Vô Cấu Xưng rằng: “Có thể xả bỏ cõi Phật thanh tịnh kia mà thích đến cõi có nhiều tạp uế này.” Cho nên biết Phật Vô Động là thân tha thọ dụng, Phật Thích-ca là hóa thân. Thân của chư Phật chẳng ngoài hai thân quyền thật, ở đây nói quán Như Lai thì cả hai đều đầy đủ, nhưng lấy Thích-ca làm quyền hóa, tùy sự mà quán xét hai thân pháp báo, lý sâu kín khó hiểu, nhờ vào đây để nêu câu hỏi làm rõ pháp quán Như Lai, chẳng phải chỉ quán hóa thân của Đức Thích-ca. Luận Phật Địa ghi: “Thân Phật có hai là Pháp thân
và sinh thân. Chân như pháp thân và tự thọ dụng thân đều gọi là pháp thân vì do pháp công đức chân thật tích tập thành. Phật tha thọ dụng và Phật hóa thân đều gọi là sinh thân, vì chẳng phải do thật đức tạo thành”. Do đó phân khoa văn này căn cứ theo đó mà chia làm hai. Văn đầu tiên lại có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là lời hỏi nêu lên ý trước kia là quán Như Lai: “Ông nên quán Như Lai như thế nào? Là quán tướng quyền hay quán thật.”
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… nên quán như thế.
Tán: Đây là lời đáp, gồm có ba:
1. Nêu chung.
2. Giải thích riêng.
3. Kết luận.
Đây là văn thứ nhất. Không Lý Nghĩa ghi: “Thân Thích-ca là thân thế tục quyền hiện, có tướng mạo để thấy; thể của Phật chân thật tức các pháp tánh không, không hình không tướng, chẳng thể thấy được. Nay quán chân Phật cho nên nói là: “Con quán đều chẳng thấy”. Kinh Bát-nhã ghi: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu được ta, người ấy đi vào trong tà đạo, chẳng thể thấy ta được, cho nên quán Như Lai đều chẳng thể thấy. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Chân lý pháp thân, không hình không tướng, thân tự thọ dụng tuy là năm uẩn, nhưng vi tế thù thắng, Bồ-tát Địa thứ mười còn chẳng thể biết, huống gì là hàng giai vị thấp. Thể đầy khắp cả pháp giới, chẳng thể dùng sắc tướng mà có thể nắm bắt, cũng chẳng thể thấy được cho nên ở đây trả lời chung: “Nên quán như thế.” Bản dịch xưa ghi: “Như tự quán thật tướng của thân, quán Phật cũng thế.” Thật tướng tức chân như, hơi khác với bản dịch mới; chỉ được giải thích pháp thân mà thôi.
Kinh: Vì sao?… hiện tại chẳng trụ.
Tán: Sau đây là giải thích riêng. Không Lý Nghĩa ghi: “Sau đây nói quán chân thân, có hai:
1. Giải thích sơ lược.
2. Giải thích rộng.
Đây là phần một, thân y cứ theo thế tục mà hóa hiện, từ mé trước ở quá khứ tu tập cho đến mé sau ở vị lai hóa đạo và hiện tại xuất thế giáo hóa chúng sinh, đều có thể thấy được. Chân đế thì vô hình, tánh vốn không, không có ba thời đến đi và hiện trụ, thì làm sao có thể thấy được? Cho nên quán Như Lai đều không thể thấy. Bát-nhã ghi: “Diệu
thể của Đức Như Lai kia tức là pháp thân của đấng đạo sư, thể ấy chẳng thể thấy, thức ấy chẳng thể biết. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Văn sau giải thích có hai:
1. Từ câu “đến vắng lặng giải thoát…” là nói về pháp thân.
2. Từ câu “chứng hội…” là nói về quán tự thọ dụng thân.
Trong phần đầu có hai:
1. Sơ lược.
2. Giải thích rộng.
Vì sao quán pháp thân đều không thấy, vì chẳng phải ba thời, nếu thuộc ba thời thì có thể thấy.
Kinh: Vì sao?… tánh ấy chẳng thể biết.
Tán: Không Lý Nghĩa ghi: “Sau đây giải thích về quán chân thân, vĩnh viễn xa lìa các tướng thế tục, tuy có nhiều văn từ khác, nhưng ý nghĩa đều hiển bày chân thân lìa các tướng, lìa các uẩn, tánh không”. Nhưng chẳng phải một bề như thế, cho nên quán ngoài các uẩn, chân tánh chẳng phải thức. Ứng Lý Nghĩa ghi: Sau đây là giải thích pháp thân, gồm có sáu:
1. Lìa tướng năm uẩn.
2. Khác thân trong ba cõi.
3. Thuận đạo xuất thế.
4. Trừ pháp và phi pháp.
5. Đồng chân vượt tục.
6. Lìa trói buộc và giải thoát.
Đây là văn thứ nhất. Năm uẩn chân như là pháp thân Phật, nên quán năm uẩn như phi năm uẩn, cho nên kinh Bát-nhã ghi: “Nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành tà đạo, chẳng thể thấy được ta”. Diệu thể của Như Lai tức pháp thân Phật, thể ấy chẳng thể thấy, thức ấy chẳng thể biết. Nhưng kinh Niết-bàn… ghi: “Xả bỏ sắc vô thường mà đạt được sắc thường, thọ tưởng hành thức cũng như thế”, đó là nói là Phật báo thân, cho nên không trái nghịch. Bản xưa ghi: “Chẳng quán sắc, chẳng quán sắc như, chẳng quán sắc tánh”, theo Không Lý Nghĩa ghi: “Sắc tức có tướng, như tức không tướng, tánh tức nhân duyên. Sắc thuộc nhân duyên thì đều không có tự tánh”. Ứng Lý Nghĩa giải thích: “Sắc là y tha, như là viên thành, tánh là sở chấp. Cả ba nương vào lời nói mà diễn bày, pháp thân thì xa lìa điều đó, cho nên chẳng thấy”. Tuy giải thích như thế nhưng trái với bản mới, mà nghĩa có thể giống nhau.
Kinh: Chẳng trụ bốn giới… xa lìa ba cấu.
Tán: Thứ hai, khác với thân ba cõi, gồm có sáu:
1. Chẳng trụ bốn giới đất, nước, lửa, gió, vì chẳng do bốn giới này tạo thành.
2. Đồng  với  hư  không  giới,  vì  không  ngăn  ngại,  chỉ  dụ  như  hư không mà thôi.
3. Chẳng phải sáu xứ bên trong, vì tánh phát khởi tự thường hằng, bản xưa ghi: “Sáu nhập không tích tập, vì chẳng phải tích tập sáu trần làm tự tánh.
4. Siêu việt sáu căn thế gian, vì do chánh trí chứng ngộ.
5. Chẳng phải ba cõi xen tạp vì thuần là vô lậu.
6. Xa lìa ba cấu vì lìa tham, sân, si có cấu là tự thể.
Kinh: Thuận ba giải thoát… không có bờ mé chướng ngại.
Tán: Thứ ba là thuận đạo xuất thế. Có ba:
1. Thuận ba giải thoát, thể của ba giải thoát là Không Vô tướng, Vô nguyện; pháp thân là cảnh diệu trí thuận chánh trí năng quán.
2. Tùy sáng tỏ, ba trí: túc mạng, thiên nhãn và lậu tận, vì đoạn trừ ngu của ba thời, chiếu soi ba thời, cho nên gọi là minh, chí tức là đến, đến ba minh tức là pháp thân Bồ-đề trí Phật, tùy thuận ba minh hay đến (năng đáo). Thể của chân như này chẳng phải là tuệ minh vô lậu, mà gọi là minh, mà là chân tánh của tuệ nên giải thích là minh. Chẳng phải hay đến mà gọi là đến mà vì thể là tánh của hay đến và được đến (năng đáo sở đáo) nên giải thích là đến.
3. Đến bờ mé không chướng ngại của tất cả pháp, đây là tánh chân như đến tất cả pháp, hoặc phẩm trí chướng, không chướng không ngại cùng tận bờ mé.
Kinh: Thật tế chẳng phải bờ mé… tánh đều lìa.
Tán: Thứ tư, lìa pháp và phi pháp, có bốn mươi bảy câu, bản xưa chỉ có hai mươi chín câu. Đoạn này có ba câu, trong đó đều một bề ngăn chấp trước. Nhưng có lời nói có phân biệt thì chẳng phải là bản tánh của pháp thân, vì lời nói phân biệt chẳng xứng hợp với lý. Nay vì ngăn dứt điều này cho nên nói là phi (chẳng phải). Vả lại câu đầu, tuy nói thực tế nhưng chẳng phải là bờ mé của danh ngôn và phân biệt, chân như cũng thế, chẳng phải nhất định là chân như, cả hai đều vô sở trụ, cũng chẳng phải là trí năng duyên, cho nên chẳng phải tương ưng. Vì thời bình đẳng, chỗ y bình đẳng, xứ bình đẳng, sự bình đẳng cho nên gọi là tương ưng, và cũng đều lìa cảnh chân như và trí.
Kinh: Chẳng phải do nhân sinh… chẳng phải dị tướng.
Tán: Đoạn này có sáu câu:
1. Chẳng phải do nhân duyên khởi.
2. Chẳng phải tướng hữu vô.
3. Chẳng phải tướng tự tha.
4. Chẳng phải tướng nhất dị.
5. Chẳng phải tướng sở.
6. Chẳng phải tướng năng nhân gần là chỉ cho nhân duyên, duyên xa là ba duyên còn lại.
Tướng sở tức chỗ biểu hiện, tướng năng tức hay biểu hiện, cả hai đều có tức lìa đồng dị, tất cả đều chẳng phải. Bản xưa ghi: Chẳng phải một với tướng không, chẳng phải khác với tướng hữu, chẳng phải tự tướng, chẳng phải tha tướng, cộng tướng, chẳng phải không có tướng, ngăn trừ tướng, chẳng phải chấp thủ tướng.
Kinh: Chẳng phải bờ này… chẳng phải trụ chẳng phải khứ.
Tán: Đoạn này gồm chín câu: Ba câu khứ, hiện tại và vị lai hợp thành một câu. Bờ này là sinh tử, bờ kia là Niết-bàn, giữa dòng là phiền não, chẳng phải “đều”, tức chẳng phải cũng trong ngoài. Chẳng phải “chẳng đều” tức chẳng phải chẳng phải trong, chẳng phải chẳng phải ngoài. Bản xưa ghi: “Nhưng vì hóa độ chúng sinh mà quán nên tịch diệt; mà chẳng phải vĩnh viễn tịch diệt; chẳng phải là pháp thân mà hay hóa độ, chẳng phải là thể của đây kia. Chẳng dùng đây kia tức là chẳng lấy đây kia để hiển bày, trí thế gian chẳng thể biết, tâm thức chẳng thể phân biệt.
Kinh: Không danh không tướng… không có nghĩa lý gì.
Tán: Đoạn này gồm bảy câu. Danh tức năng thuyên, tướng tức sở thuyên, chẳng trụ trong thân sắc uẩn có phần lượng cũng chẳng lìa thân này, không có một thể để chỉ bày, không có một nghĩa lý gì để nói cho người.
Kinh: Không bố thí, không bỏn sẻn… chẳng trí tuệ, không ngu si
Tán: Đoạn này gồm sáu câu. Sáu độ đối đãi với sáu tệ (sáu điều xấu ác).
Kinh: Chẳng thật (đế) chẳng dối… chẳng phải sở thủ.
Tán: Đoạn này gồm tám câu. Đế tức thật, vọng tức hư dối. Tất cả lời nói việc làm đều dứt bặt.
Kinh: Chẳng phải tướng… bình đẳng, bình đẳng.
Tán: Đoạn này gồm sáu câu. Chẳng phải có tướng trạng, chẳng phải không tướng trạng, chẳng phải làm chẳng phải chẳng làm. Thể không tính toán được, xa lìa các sự tính toán; thể không bị chướng ngại, trước sau tương tựa bình đẳng, trước như sau đều bình đẳng, sau như
trước đều bình đẳng.
Kinh: Đồng với mé chân thật… chẳng biết chẳng hay.
Tán: Thứ năm, là nói đồng chân vượt tục. Hai câu đầu là nói đồng với chân, bảy câu sau nói về siêu tục. Mé chân (chân tế) tức trí vô phân biệt, không có chỗ duyên để đến; pháp thân đồng với trí này. Pháp giới tức công đức pháp tánh, vì các nghĩa như pháp thân… đồng với Thể. Hai câu này là nói đồng với chân. Năng xưng tức là năng thuyết, sở xưng tức sở thuyết, chư xưng tánh tức là tánh năng thuyết sở thuyết, lượng nghĩa là trù lượng; ba nghĩa cũng như thế.
Kinh: Xa lìa sự trói buộc, vắng lặng giải thoát.
Tán: Thứ sáu là xa lìa trói buộc và giải thoát. Chẳng bị vật câu thúc gọi là pháp thân.
Kinh: Chứng hội Nhất thiết trí trí… cùng khắp tất cả.
Tán: Đây trở xuống là quán tự thọ dụng thân, tổng cộng có mười bảy câu. Bốn câu đầu nói về thể báo thân, mười ba câu sau nói lìa chấp trước pháp. Đây là bốn câu đầu. Chánh trí năng duyên hay chứng hội trí này mà thành Nhất thiết trí và Nhất thiết chủng trí, tâm cảnh thầm hợp, lý và thần hội, cho nên nói bình đẳng, đạt được bản tánh không hai của loài hữu tình, vì bản tánh chân như vốn không sai biệt. Hoặc bi trí này bình đẳng duyên với hữu tình không hai; đi tức là đến, đến tất cả tánh sai biệt của tất cả hữu tình, đây là thân Bồ-đề tự thọ dụng của chánh trí Phật, cùng khắp tất cả, đồng với chân như. Bản xưa ghi: “Đồng với các trí”, được Nhất thiết trí trí thì chư Phật đều đồng. Đồng với chúng sinh tức quán các chúng sinh không hai vì đồng chân tánh.
Kinh: Chẳng tội chẳng khiên… chẳng khởi chẳng tận.
Tán: Từ đây xuống là mười ba câu lìa các chấp. Đoạn này gồm bảy câu. Tội tức là quả khổ đáng nhàm chán; khiên tức là nghiệp, hoặc tội nặng, trược tức ba nghiệp y cứ vào kiến giải điên đảo của ngoại đạo mà sinh; thuộc về bất tín vẩn đục mà Thánh giáo đối trị; uế nghĩa là ba nghiệp ô nhiễm tương tục, nương vào đó mà phát sinh các nghiệp chướng như thế; vả lại thuộc về tổn giảm kiến, làm tăng sự ô uế của pháp nghĩa thanh tịnh gọi là uế. Tát-ca-da kiến chướng ngại nghĩa chân vô ngã gọi là trược, tất cả đều vô ngại, cũng không chấp trước, xa lìa ba phân biệt và bảy phân biệt; tám phân biệt… không có vật được tạo tác, không có vật được sinh khởi, dứt trừ các tạo tác và sinh tự nhiên… cũng dứt trừ tạo tác và sinh của các pháp có thật, cũng không thật giả và thật có khởi và tận. Hoặc không có cõi sinh khởi, cũng không có các cõi diệt tận.
Kinh: Chẳng đã chẳng sẽ… chớ chẳng thể nói năng.
Tán: Đoạn này gồm sáu câu. Không thật có quá khứ vị lai, cho nên không có đã và sẽ, không có năm sự sợ sệt, không có lậu nhiễm; tám gió chẳng làm lay động, cho nên không vui buồn; đã đến rốt ráo cho nên không còn thích hay chán; hai, ba, bảy đều bình đẳng, phân biệt chẳng thể duyên, vì chỉ có trí hay chứng ngộ; lời nói chẳng thể bàn vì chẳng phải lời nói có thể chứng ngộ; tánh là y tha mà cũng lìa các sự chấp trước.
Kinh: Thế Tôn Như Lai… gọi là tà quán.
Tán: Đây là kết luận nêu chánh quán. Đây là nói quán hai chân thân  là  pháp  và  báo  thân,  gọi  là  chánh  quán.  Quyền  là  chân  và  tà quán.
Kinh: Bấy giờ, Xá-lợi-phất… thế giới kham nhẫn.
Tán: Đoạn thứ hai, Thu Tử hỏi. Nhân thấy Phật Vô Động, tu quán thân tha thọ dụng và gồm hiển Đức Thích-ca trụ ở uế độ là Phật hóa thân; trong thân đều quyền, có bốn phần:
1. Thu Tử hỏi.
2. Như Lai đáp.
3. Vui mừng khi thấy cõi Diệu Hỷ.
4. Thu Tử tán dương.
Đây là lời hỏi. Không chỉ Thu Tử chưa biết nguyên do, mà còn nhờ vào câu hỏi này để nêu lên báo độ tha thọ dụng. Thiên nữ đã nói bản  trụ  nên  hỏi  chỗ  đến  mà  chẳng  hỏi  từ  đâu  đến.  Tịnh  danh  đã  vì chúng sinh nên hỏi từ đâu đến mà chẳng hỏi chỗ đi.
Kinh: Thế Tôn dạy rằng: “Ông nên hỏi ông ấy”.
Tán: Từ đây là phần Như Lai trả lời. Có ba:
1. Suy ra mà trả lời để hiển lý.
2. Tự trả lời để hiển sự. Bản xưa ghi: “Hỏi Duy-ma-cật”, chẳng có lời văn hỏi Phật, sau đó Phật tự trình bày, vả lại không có lời hỏi về nơi chốn, thế thì rất trái nghịch.
Trong phần đầu lại có hai:
1. Suy hỏi.
2. Hỏi Vô Cấu.
Đây là phần đầu. Thu Tử hỏi về sự tích từ đâu đến đây, cho nên Đức Phật cũng trình bày sự tích để trả lời. Nhân lời hỏi hôm nay mà ngộ được lý sâu xa, cho nên suy hỏi.
Kinh: Bấy giờ, Xá-lợi Tử… sinh đến cõi này.
Tán: Phần hỏi Vô Cấu có tám:
1. Chánh thức hỏi.
2. Phản vấn.
3. Chánh thức đáp.
4. Trách vấn.
5. Chánh đáp.
6. Dẫn hỏi.
7. Ấn khả.
8. Chánh thức trình bày.
Đây là phần đầu.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… từ chết sinh sao?
Tán: Đây là phần phản vấn. Khổ nên biết khắp, diệt nên chứng ngộ. Nêu lên sự sai khác giữa hữu lậu và vô lậu khi chính thức chứng lý, mà làm câu hỏi.
Kinh: Xá-lợi Tử nói rằng… có thể chết rồi sinh.
Tán: Thứ ba chánh thức trả lời. Chứng ngộ nhập lý, thì không có việc chết sinh.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… sinh đến nước này.
Tán: Thứ tư, trách vấn, có hai:
1. Trách câu hỏi trước.
2. Lại nêu lên lời trách.
Đây là văn đầu.
Kinh: Lại Xá-lợi Tử… mà sinh đến đây.
Tán: Lại nêu lên lời trách. Trên là dùng lý để biện lý, không có chết rồi sinh, đây là dùng sự để luận nạn về sự, không có chết rồi sinh.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… có chết sinh.
Tán: Thứ năm là chánh thức trả lời. Huyễn hóa đã chẳng phải chân, cho nên không có sinh rồi chết.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… như huyễn hóa chăng?
Tán: Thứ sáu dẫn hỏi, dẫn giáo làm câu hỏi, để nêu lên nghĩa chung.
Kinh: Xá-lợi Tử nói: “Như thế! như thế!”.
Tán: Thứ bảy, ấn khả.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… sinh đến nước này.
Tán: Thứ tám, chánh thức trình bày. Trước dùng lý bình đẳng đã không có chết sinh, nay thì sự bằng nhau thì đâu cần phải hỏi. Phần này có hai:
1. Nói thẳng.
2. Hiển bày.
Đây là nói thẳng.
Kinh: Lại Xá-lợi Tử… các hành tương tục
Tán: Đây là phần hiển thị, có hai:
1. Giải thích riêng về tướng chết rồi sinh.
2. Giải thích.
Nay nói chết tức là tướng đoạn diệt của các hành hữu vi. Sinh tức là tướng tương tục của các hành hữu vi, thể của hai tướng này chẳng phải thường hay đoạn, mà tựa có hai tướng này, nên gọi là chết rồi sinh.
Kinh: Bồ-tát tuy chết… các hành tướng của pháp ác không tương tục.
Tán: Đây là phần chánh giải thích. Tuy thị hiện có chết, nhưng chẳng đoạn hạnh lành, mà không có tướng đoạn; tuy thị hiện có sinh, mà chẳng tương tục hạnh ác, mà chẳng có tướng thường. Ở đây tuy có chết sinh, nhưng không có tướng đoạn thường.
Kinh: Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn… sinh đến cõi này.
Tán: Trả lời để hiển rõ sự, có ba phần:
1. Phật chỉ dạy.
2. Thu Tử tán dương.
3. Vô Cấu vấn đáp.
Đây là đoạn thứ nhất. Thế giới phương Đông tên là Diệu Hỷ, có các loại trang nghiêm, người thấy sinh ưa thích, có Đức Phật hiệu là A- súc, Hán dịch là Vô Động, thế giới này tám gió thổi chẳng động, bốn ma chẳng thể xâm hủy, thường an lạc chẳng biến dịch cho nên gọi là Vô động, vì độ chúng sinh nên ông ấy từ cõi kia sinh sang đây.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… cõi có nhiều tạp uế.
Tán: Thu Tử tán dương kia là tha báo độ cho nên nói thanh tịnh, đây là biến hóa độ cho nên nói tạp uế.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… cùng với tướng tối xen lẫn không?
Tán: Vô Cấu Xưng hỏi đáp, có năm.
Đây là đoạn Vô Cấu Xưng hỏi.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… bóng tối đều diệt.
Tán: Thu Tử trả lời. Sáng sinh thì tối diệt, cho nên chẳng xen lẫn. Ý nói Bồ-tát chẳng thích đồng trụ với ác chúng sinh.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… lưu chuyển ở Nam Thiệm-bộ châu.
Tán: Thứ ba, Vô Cấu hỏi. Vì để giải thích điều nghi rằng: “Nếu chẳng thích xen lẫn thì vì sao Bồ-tát sinh vào cõi này?” cho nên mới nêu câu hỏi trên.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… chiếu sáng.
Tán: Thứ tư, Thu Tử trả lời.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… bóng tối phiền não.
Tán: Thứ năm, Vô Cấu xưng giải thích. Văn hiển rõ ý nghĩa, cho nên chẳng giải thích thêm.
Kinh: Bấy giờ, đại chúng… các chúng như Thanh văn…
Tán: Đoạn thứ ba, vui thích thấy cõi Diệu Hỷ, có bảy phần:
1. Đại chúng đều mong cầu được thấy.
2. Đức Phật bảo hiện.
3. Vô Cấu suy nghĩ.
4. Chính thức khởi thần lực.
5. Thế Tôn hỏi để khuyến khích.
6. Trời người được lợi ích.
7. Việc xong trở về.
- Đây là phần đầu gồm có ba:
1. Mong được thấy cõi nước.
2. Mong được thấy Đấng Pháp Vương.
3. Mong được thấy chúng hội, như văn đã ghi có thể biết được.
Kinh: Đức Phật biết chúng hội… khiến sở nguyện viên mãn.
Tán: Thứ hai, Đức Phật bảo hiện. Vì sao Như Lai chẳng hiện để khiến được thấy mà bảo cho Vô Cấu Xưng hiện? Vì muốn hiển việc cư sĩ trợ giúp Phật giáo hóa còn hiện thần thông, hà huống gì Như Lai? Vả lại bản độ kia còn khiến cho tự hiện, đâu nhờ đến Phật? Lại đâu có phân biệt tự tha, muốn hiện liền được. Hơn nữa muốn hiển thị Bồ-tát đều sinh tịnh độ, ắt phải có thân tha thọ dụng; biết thân Thích-ca là thân quyền hóa, cho nên khiến Vô Cấu biến hiện, theo lý cũng không trái nghịch.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… nam nữ lớn nhỏ.
Tán: Thứ ba, Vô Cấu tư duy, có ba:
1. Di chuyển khí thế gian và hữu tình.
2. Suy nghĩ dời cõi Phật xuất thế và việc lợi lạc.
3. Suy nghĩ dời đại chúng trong cõi đại thiên.
Đây là văn thứ nhất. Từ câu “vương đô…” trở về trước là nói khí giới Diệu Hỷ, từ “Bồ-tát Thanh văn, nam nữ lớn nhỏ…” là nói về hữu tình giới.
Kinh: Cho đến nói rộng ra… đại chúng trong hải hội.
Tán: Thứ hai, suy nghĩ dời Phật xuất thế và việc lợi lạc, có hai:
1. Suy nghĩ dời Phật và đại chúng.
2. Suy nghĩ dời Phật sự.
Đây là văn thứ nhất, có ba:
1. Dời Như Lai.
2. Dời cây Giác (Bồ-đề).
3. Dời hải chúng, tức chúng hội vô biên gống như biển.
Kinh: Các hoa sen báu… làm Phật sự
Tán: Suy nghĩ dời Phật sự, có hai:
1. Dời hoa.
2. Dời thềm.
Đoạn này nói về dời hoa. cõi Phật ở mười phương muốn làm Phật sự, trước phải dùng hoa sen, hoặc gởi hoặc rải, như nói Bát-nhã, tùy xa gần nơi mười phương thế giới đều gởi hoa sen, cùng với Đức Thích-ca mà làm Phật sự. Hóa Phật nơi hội pháp hoa gởi hoa cũng thế. Trong cõi tịnh kia, có loại hoa sen này, cho nên nay dời đi.
Kinh: Ba đường thềm báu… theo thềm báu mà lên.
Tán: Thứ hai dời đường thềm. Đường thềm báu của Đức Thích-ca thì Thiên đế làm ra, đường thềm báu của Vô động thì từ đất xuất hiện ra. Thích-ca thăng lên hư không, trụ ở Đao-lợi, ba tháng kiết hạ là vì báo ân cha mẹ, cuối hạ sắp về Thiên đế sai Đại lực quỷ làm đường thềm cho Phật. Ở khoảng giữa lát vàng ròng, bên trái lát mã não, bên phải lát thủy tinh, cho nên gọi là tam đạo. Đường thềm báu ở cõi kia vì khiến trời người qua lại cho nên từ đất xuất hiện ra cũng không trái ng- hịch với lý. Chư thiên xuống nhân gian là vì muốn thấy Phật nghe pháp; người muốn lên cõi trời là vì muốn xem cung điện vườn rừng của Đế thích, vì thế cần phải có đường thềm báu. Phật sự ở mười phương mỗi mỗi đều chẳng đồng. Cõi kia tuy là tịnh độ nhưng cũng có hiệu Luân vi sơn… như Đức Phật Cực Lạc cũng có vương thành, cha mẹ, vợ con, ma vương, điều-đạt.
Kinh: Thanh tịnh như thế… chỉ cho đại chúng.
Tán: Thứ ba, suy nghĩ dời các đại chúng trong cõi Đại thiên, chỉ cho đại chúng. Dưới từ mé thủy luân, mà không lấy kim luân và phong luân là vì muốn giữ lại chỗ y cứ. Trên đến cõi trời Sắc cứu cánh mà không  lấy  cả  cõi  Vô  sắc  là  vì  không  có  hình  tượng  khí  giới.  Ở  Tây phương hái hoa dùng dây mà xâu để trang sức, đem cõi nước mà đặt vào lòng bàn tay cũng nhẹ nhàng giống như thế.
Kinh: Ông Vô Cấu Xưng… đặt vào thế giới này.
Tán: Thứ tư, phát khởi Phật lực, gồm có bốn:
1. Khởi thần thông.
2. Người có duyên thì kinh ngạc thưa hỏi.
3. Người vô duyên thì chẳng hiểu.
4. Đây kia đều trái nghịch. Đây là đoạn một.
Kinh: Thanh văn ở cõi kia… cứu hộ chúng con.
Tán: Thứ hai, có duyên thì kinh ngạc thưa hỏi. Có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là lời hỏi: Người được Thiên nhãn mới thấy cõi nước bị dời đi. Cho nên nói bạch Thiện thệ! Cứu chúng con! Giúp chúng con!
Kinh: Bấy giờ, Đức Phật Vô Động… chẳng phải là do ta làm ra
Tán: Đây là lời Đức Phật cõi kia nói. Vì hiển thị các Bồ-tát ở cõi này có thần lực lớn, cho nên mới nói chẳng phải là do ta làm, đâu phải Đức Phật không thể phát khởi thần lực này? Do đó mà kinh ghi: “vì giáo hóa chúng sinh mà phương tiện nói như thế.
Kinh: Các trời người mới học ở cõi kia… chẳng biết chẳng thấy.
Tán: Thứ ba, người không có duyên thì chẳng thông đạt; có hai phần:
1. Nói về việc chẳng biết.
2. Nói về việc kinh sợ mà hỏi.
Đây là phần đầu. Trong báo tịnh độ theo lý thì không có các chúng trời người, nay các Bồ-tát là do Như Lai hóa hiện ra, cho nên hiện chẳng biết thì cũng không có lỗi, hoặc cho rằng tịnh độ này chung cho Báo độ và Hóa độ. Trong tịnh độ thì có chúng trời người, có chúng thế giới như sông biển… làm sao lại trái nghịch được.
Kinh: Nghe lời này xong… sẽ đưa đến nơi đâu?
Tán: Đây là kinh sợ thưa hỏi. Nghe các Bồ-tát có duyên thưa hỏi, Đức Phật Vô Động trả lời. Vì nghe lời Phật nói xong mới kinh sợ và han hỏi Đức Phật đã nói trước, nên sau đều xét biết, do đó ở đây không có lời đáp.
Kinh: Cõi Diệu Hỷ… không khác với quốc độ của mình.
Tán: Thứ tư, đây kia chẳng trái nghịch. Tướng của cõi tịnh kia chẳng tùy theo cõi này mà giảm, cũng chẳng tăng trưởng. Cõi này cũng chẳng do cõi kia ép chặt, cả hai chen nhau mà lại không khác…
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… Bồ-tát và Thanh văn chăng?
Tán: Thứ năm, Thế Tôn hỏi và khuyên bảo, gồm bốn:
1. Đức Phật hỏi.
2. Đại chúng trả lời.
3. Vô Cấu cúng hoa.
4.Như Lai lại khuyên.
Đây là đoạn thứ nhất.
Kinh: Tất cả đều nói: “Bạch Thế Tôn! Chúng con đã thấy.”
Tán: Thứ hai, đại chúng trả lời.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… Bồ-tát.
Tán: Thứ ba, ngài Vô Cấu cúng dường hoa. Dùng thần lực biến hóa ra các loại hoa; tự làm và dạy người khác làm, khiến đại chúng cúng dường, các Bồ-tát cõi kia, để hiển thị tâm đại Từ bi khuyên chúng tu hành. Đoạn này là nói về Vô Cấu Xưng khuyên tu; đoạn sau nói Như Lai khuyên tu.
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… các hạnh Bồ-tát.
Tán: Thứ tư, Như Lai lại khuyên. Tức muốn bên ngoài thành tựu tịnh độ, bên trong là Bồ-tát, nên cần phải học hạnh Bồ-tát ở cõi Phật kia. Như các kinh nói: “Độ thoát các chúng sinh, liền sinh vào cõi Bất động, đồng tất cả thắng hạnh”.
Kinh: Vô Cấu Xưng… cõi Phật cư trụ.
Tán: Thứ sáu, trời người được lợi ích. Đầu tiên trời người phát nguyện, sau Phật thọ ký đương lai sinh; theo văn có thể tự biết.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… hai chúng đều thấy.
Tán: Thứ bảy, việc đã xong trở về bản xứ. Khi chia tay đây kia đều thấy.
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… các Bồ-tát… chăng?
Tán: Đoạn thứ tư, Thu tử khen ngợi; có hai:
1. Phật hỏi Thu tử.
2. Thu Tử đáp và khen ngợi.
Đây là văn thứ nhất Phật đã rõ Thu Tử đã thấy mà còn hỏi là muốn Thu Tử phát ra lời ấy, khiến cho hàng Thanh văn đồng nguyện và khen ngợi.
Kinh: Xá-lợi Tử nói: “Bạch Thế Tôn! Con đã thấy.
Tán: Từ đây là lời đáp và khen ngợi, có bốn:
1. Đáp.
2. Nguyện.
3. Vui thích.
4. Khen ngợi. Đây là câu trả lời.
Kinh: Nguyện các hữu tình… như Vô Cấu Xưng.
Tán: Thứ hai là nguyện, có ba:
1. Nguyện các chúng sinh đều sống ở tịnh độ.
2. Nguyện thành tự phước trí như Đức Vô Động.
3. Nguyện đạt được thần thông như ông Vô Cấu Xưng; tất cả như văn kinh, có thể tự biết.
Kinh: Bạch Thế Tôn! Chúng con… Đạo sĩ như thế.
Tán: Thứ ba là vui thích. Vui thích vì mình đã gặp được duyên lành, học được hạnh Bồ-tát siêng tu ở cõi kia.
Kinh: Các hữu tình kia… tinh tấn tu hành.
Tán: Thứ tư, khen ngợi, gồm mười câu:
1. Ba tuệ đều hay làm lợi ích. Chỉ nghe giáo này mà nói là đạt lợi ích lớn, còn vĩnh viễn nhổ trừ gốc sinh tử hà huống gì đầy đủ sáu đức tin hiểu, thọ trì, đọc tụng, thuyết và tu. Luận Trung Biên ghi: “Đó là biên chép, cúng dường, ban cho người nghe, xem, đọc, thọ trì, diễn nói, đọc tụng, suy nghĩ và tu hành. Tu mười pháp hành sẽ đạt được vô lượng phước thù thắng và vô tận, đó là do nhiếp phục người không dừng nghỉ. Đây là đức tin hiểu trong phần nêu chung, tức tư duy chỗ nhiếp phục. Văn sau có hai là cúng dường và biên chép, cộng với văn trước đã nói là thành chín. Đoạn dưới nói tùy hỷ tức là ban phát cho người, tức đầy đủ mười hạnh.
Kinh: Nếu các hữu tình… tương tục kế thừa chư Phật.
Tán: Sau đây gồm chín câu, hiển riêng về đức của kinh. Bản xưa có sáu câu. Đoạn này có hai câu:
1. Tay có được tài bảo. Nếu tay được thì liền được pháp bảo, có thể làm lợi ích lớn, đáng trân trọng thuộc về tu hành.
2. Tin hiểu nối tiếp Phật chủng. Nếu tin hiểu liền kế thừa được thân Phật, khiến thân được tương tục. Tin hiểu tức là tin và có văn tư tuệ, là nhân Phật, cho nên gọi là kế tục.
Kinh: Nếu các hữu tình… chánh pháp vô thượng.
Tán: Đoạn này có hai câu:
1. Đọc tụng là bạn tốt. Nếu đọc tụng thì thân là Bồ-tát, giáo là pháp Phật, chẳng lìa đọc tụng, nên gọi cả hai là bạn.
2. Thọ trì liền gom nhiếp chánh pháp. Nếu có thọ trì thì thâu nhiếp chánh pháp. Nhiếp tức bao quát, thọ tức lãnh nạp, giữ gìn tại tâm, luôn không quên sót, tức có thể nhận lãnh tất cả chánh pháp vô thượng. Thể của chánh pháp vô thượng tức là giáo, lý, hạnh, quả của Đại thừa.
Kinh: Nếu có cúng dường… Nhất thiết trí trí.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Cúng  dường  người  học  pháp  này  biết  trong  thất  ấy  có  Phật. Người học pháp này, sẽ giữ gìn thân Phật, trong thân đã có nhân báo,
hóa thân, sở học tức pháp thân Như Lai, cho nên có thể cúng dường, người học pháp này sẽ biết được ngôi thất ấy có Như Lai.
2. Biên chép gom nhiếp phước tuệ. Nếu biên chép cúng dường pháp này thì có thể gom nhiếp được phước đức trí tuệ. Vì kinh này hay sinh phước tuệ.
Kinh: Nếu có người tùy hỷ… được giai vị bất thoái chuyển.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Tùy hỷ lập hội pháp thí. Có tùy hỷ thì có pháp thí, pháp này hay làm lợi ích cho chúng sinh. Cho nên nếu tùy hỷ thì sẽ làm cho được lưu hành, không chướng ngại, khiến người khác tu học. Nên có tùy hỷ thì thành pháp thí.
2. Diễn thuyết thì đến giai vị bất thoái. Một bài kệ bốn câu, tức bốn câu là một bài kệ tụng. Thuyết bốn câu đầy đủ lý của kinh này gọi là một bài kệ bốn câu.
Bất thoái có bốn:
1. Tín.
2. Vị.
3. Chứng.
4. Hạnh.
Như đã nói ở trước, tùy theo chỗ thích hợp mà đạt bất thoái này.
Kinh: Các thiện nam… đã được thọ ký.
Tán: Đoạn này có một câu, nói về tư duy được thọ ký. Tức đối với pháp môn này mà tin, hiểu, chấp nhận, lãnh nạp, vui thích, quán xét, thì liền được thọ ký nơi đạo Bồ-đề. Có nhân Phật này thì sẽ đắc quả. Tuy không có lời của Phật, nhưng không khác với sự thọ ký, cho nên gọi là “đã được”.
 
-------------------------------------
PHẨM 13: PHÁP CÚNG DƯỜNG
 
Bộ kinh này gồm mười bốn phẩm, một phẩm đầu là phần duyên khởi. Mười một phẩm kế là phần bản tông đến đây đã xong; đến hai phẩm sau là phần tán thán trao cho lưu thông. Phần này gồm có hai: Một là một phẩm này là tán thán và lưu thông, tức khen ngợi người và pháp, khiến tất cả đều tu học. Một phẩm Chúc Lụy sau cùng thì nói về việc trao cho kinh này để được lưu thông. Tức giao phó cho Bồ-tát Di- lặc lưu hành ở hậu thế. Nếu chẳng khen ngợi đạo đức thù thắng thì lấy gì để khuyến hóa lưu truyền đời sau? Tùy thuận phụng sự chỗ cần dùng gọi là cúng, nuôi dưỡng đức của thân gọi là dường. Việc này chung cho cả pháp và tài. Tiền tài là vật dùng để tư dưỡng thân, pháp là điều để trưởng dưỡng đạo. Tài vật là việc cần dùng của thời gian gần, tức thuận theo bấy giờ mà có lợi ích. Pháp là sự lợi ích cho thời gian lâu xa, dùng Thánh đạo mà tư dưỡng. Nay nêu nhân thù thắng này khuyên hữu tình tin học, xả bỏ nghiệp kém nhỏ, trợ giúp pháp thể mà tu trì. Phẩm này trình bày việc trên, cho nên gọi là phẩm Pháp Cúng Dường.
Kinh: Bấy giờ, trời Đế Thích… pháp môn giải thoát.
Tán: Toàn phẩm chia làm ba đoạn.
1. Thiên đế khen ngợi.
2. Thế Tôn ấn chứng.
3. Trình bày việc đã qua, để khuyên phát tâm tu hành thù tháng.
Trong đoạn đầu lại chia làm bốn:
1. Ta nghe được điều hy hữu.
2. Người đạt được lợi ích tốt đẹp.
3. Cung kính cúng dường người học.
4. Tùy nơi khuyến hóa diễn thuyết.
Đây là phần đầu. Xưa gặp hai bậc Thánh thường nghe được diệu pháp, nay nhận lấy cảnh thù thắng; thật chưa từng được nghe. Bản xưa ghi: “Tự tại”, tức là thần thông là sự thù thắng, quyết định thật tướng tức là lý thù thắng, cũng là hai thù thắng tự lợi và lợi tha. Đây là sở thuyên, kinh là năng thuyên.
Kinh: Như con hiểu điều Phật nói… như lý tu tập.
Tán: Thứ hai, người có lợi ích thù thắng. Có hai:
1. Dẫu có tu nghiệp thấp kém thì cũng thành pháp khí, hà huống tu thắng hạnh chẳng được lợi ích lớn sao?
2. Lợi ích của việc tu thắng hạnh. Hạnh thấp kém có sáu: Nghe, tin hiểu, tư duy, thọ trì, đọc, tụng, thuyết cho người khác nghe, còn gọi
là bậc pháp khí; pháp khí tức là vật đựng tu pháp, đựng pháp.
Trên đã nói về văn và tư, tuy là nhân yếu kém mà đã là pháp khí, hà huống gì tinh tấn siêng năng như lý tu hành, y giáo tu tập hành pháp thứ mười, ắt là thành nhân Phật, nghĩa là tu tuệ nương nơi giáo mà thực hành.
Kinh: Hữu tình như thế… mở con đường lành bằng phẳng.
Tán: Nói về lợi ích của việc tu thắng hạnh, như lý tu tập, tất cả gồm bảy câu phân làm ba đôi đối đãi, hoặc chung cho các nghiệp thấp kém nói ở trước đều có năng lực này:
1. Đóng đường ác mở đường thiện.
2. Gặp duyên thiện lìa duyên ác.
3. Được trí quán, diệu cảnh.
Đây là văn thứ nhất, ba ác thú nghĩa là đường ác nguy hiểm khéo đóng bít. Cõi trời người là con đường lành bằng phẳng khéo mở thông. Hoặc ác thú là quả ác, đường hiểm là nhân ác. Thiện thú là quả lành, đường bằng phẳng là nhân lành. Đối với hai con đường này thì khéo léo mở hoặc đóng.
Kinh: Thường thấy tất cả… ma quân bạo ác.
Tán: Đoạn này gồm ba câu nói về gặp duyên thiện lìa duyên ác sẽ thành tựu bảy biện và mười Lực.
Kinh: Thanh tịnh đạo Bồ-tát… con đường sở hành của Như Lai.
Tán: Đoạn này gồm hai câu nói về được trí quán và diệu cảnh. Đạo tức là nhân, do nơi nhân tịnh Bồ-đề, mà an lập được trí diệu giác. Từ đó mà thực tiển quán con đường thắng diệu, là cảnh giới sở hành của Như Lai.
Kinh: Lại nói Bạch Thế Tôn!… Thiện nữ…
Tán: Thứ ba, cung kính cúng dường người có học.
Kinh: Bạch Thế Tôn! Nếu có… làm cho không có chướng nạn.
Tán: Thứ tư, tùy nơi chốn khuyến hóa mà tuyên thuyết. Nếu có nơi lưu thông pháp môn này, thì chúng con sẽ đến nơi đó nghe nhận. Nếu có người chưa tin, khuyên họ tin, người đã tin thì hộ vệ làm cho họ không gặp nạn, đạt đến chứng đắc, hoặc cho rằng lưu thông tức là biên chép…
Kinh: Bấy giờ, Thế Tôn… pháp môn vi diệu.
Tán: Đoạn thứ hai, Thế Tôn ấn khả, có hai:
1. Ấn khả lời nói trước.
2. Thuật lợi ích tốt đẹp của kinh.
Đây là văn thứ nhất. Đối với điều thiện thì chẳng trái, vui mừng
khen ngợi để hỗ trợ, gọi đó là tùy hỷ. Bản xưa ghi: “Ta tán trợ sự tùy hỷ của ông”. Tức Thiên đế chẳng tùy hỷ, ý nghĩa trái nhau.
Kinh: Thiên đế nên biết… lược nói chỉ bày.
Tán: Nói về lợi ích của kinh, có hai:
1. Thuyết hơn cho nên hơn.
2. So sánh số lượng hơn cho nên hơn.
Trong đoạn đầu lại có hai:
1. Đồng tuyên thuyết pháp thù thắng.
2. Thành tựu việc cúng dường.
Đây là ý thứ nhất. Bồ-đề cần phải chứng đắc, chẳng thể bàn luận rỗng suông, tất cả đều ở pháp môn này, cho nên lược nói khai thị.
Kinh: Vì thế, nếu có… hiện tại chư Phật.
Tán: Thành tựu việc cúng dường. Nói Vô thượng Bồ-đề của ba đời chư Phật, vô thượng giác tuệ của chân lý vô tướng. Nay thấy tùy thuận tức là pháp cúng dường ba đời Như Lai. Đức của Như Lai chẳng ngoài hai môn lý và tuệ. Trong phần này có tám ý là nghe, tin hiểu, thọ trì, đọc, tụng, tuyên thuyết, biên chép và cúng dường. Ban phát cho người và tu tập căn cứ theo đây cũng như thế.
Kinh: Lại trời Đế Thích… phụng thí cúng dường.
Tán: So sánh cho nên hơn, có ba:
1. So sánh làm câu hỏi.
2. Trời Đế Thích đáp.
3. Như Lai lại thành tựu cho.
Phần một lại có ba:
1. So sánh hiện tại.
2. So sánh sau khi diệt.
3. Chánh thức hỏi.
Trong phần một lại có ba:
1. Dụ Phật nhiều ít.
2. Thời gian cung kính.
3. Tứ sự cúng dường.
Nhân dân ở Ấn Độ trồng rất nhiều mía, tre lau, lúa mè. Cây trên rừng núi thân rất thẳng, cứng có thể làm đòn gánh, mọc dày kín, rất nhiều. Như trong núi sâu tự tạo thành rừng cây, cho nên lấy làm dụ. Quả viên mãn của Như Lai cũng như thế. Trải qua một kiếp hoặc hơn một kiếp, thân cung kính, ý tôn trọng, miệng khen ngợi, ba nghiệp thực hành việc phụng sự không thiếu sót trái nghịch. Vật cúng gồm có ba:
1. Ẩm thực.
2. Ngọa cụ.
3. Thuốc men.
Chỗ ở chỉ có một là phòng ốc. Dùng bốn vật thượng diệu ấy để cúng dường, để sinh an lạc, cho nên gọi là an lạc cúng cụ, thủ cư.
Kinh: Đối với các Như Lai… trang nghiêm đệ nhất.
Tán: Sau khi diệt so sánh, có hai:
1. Xây tháp để cúng dường Xá-lợi.
2. Cúng dường trải qua thời gian.
Đây là văn thứ nhất, có ba:
1. Cúng Xá-lợi.
2. Tạo tháp.
3. Nói về trang nghiêm.
Tốt-đổ-ba, xưa dịch âm Phù-đồ, là sai lầm. Hán dịch là Cao hiển, rộng bao trùm cả bốn châu, cao đến trời Phạm thế, trên đỉnh có đặt luân báu, hai bên có hương hoa phan lọng, ở giữa có vật báu, dùng kỹ nhạc cúng dường, thù thắng bậc nhất.
Kinh: Kiến lập như thế… tán thán cúng dường.
Tán: Cúng dường trải qua thời gian, có ba:
1. Nói về thời tiết.
2. Nói về ngoại cúng.
3. Nói về nội nghiệp.
Ngoại cúng có mười hai thứ là tràng hoa hương đốt, hương xoa, hương bột, y phục, phan, lọng, tràng báu, lồng đèn, vật báu, kỹ nhạc và các loại khác. Cúng dường có ba: thân cung kính, ý tôn trọng và miệng khen ngợi. Ngoài mười hai loại này ra lại phải trải qua thời gian lâu xa cúng dường. Thiêu hương tức là loại trầm hương dùng để đốt, đồ hương tức là mùi hương chiên-đàn để xoa trên tháp, mạt hương tức nghiền hương thành bột để rải trên tháp.
Kinh: Vì sao… được phước nhiều chăng?
Tán: Chính thức hỏi.
Kinh: Trời Đế Thích nói… phước ấy tụ rất nhiều.
Tán: Thứ hai, Đế thích trả lời.
Kinh: Đức Phật bảo Thiên đế… rất nhiều nơi đó.
Tán: Thư ba, Như Lai lại thành tựu cho nghĩa trên; gồm có ba:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là phần một.
Kinh: Vì sao?… chẳng thể dùng tài vật.
Tán: Giải thích nguyên do. Trí vô thượng của Phật từ đây mà có, pháp thân nhân nơi đó mà hiển, báo thân nhân đó mà sinh. Kinh chỉ nói sinh, vì nêu Bồ-đề của báo Phật. Chỉ có pháp cúng mới gọi là cúng, vì lợi ích của pháp này rất lớn, chẳng phải tài vật, tài vật cúng Phật và pháp không hiển được pháp thân, chẳng sinh báo Phật. Cho nên học kinh này, đạt được phước nhiều hơn kia.
Kinh: Thiên đế nên biết!… phước ấy rất nhiều.
Tán: Đây là kết luận. Quả Vô thượng giác, công đức rất nhiều, cúng nhân pháp này thì phước cũng chẳng nhỏ.
Kinh: Bấy giờ Đức Thế Tôn… Phật Thế Tôn.
Tán: Đoạn thứ ba, nêu việc xưa để khuyến phát tu nghiệp thù thắng, có ba:
1. Nói việc xưa.
2. Dùng xưa tức nay.
3. Khen ngợi pháp, trước nên tu tập thắng pháp.
- Phần đầu có năm:
1. Phật tại cúng dường.
2. Khuyên con tu học.
3. Nguyệt cái tư duy và nêu lợi ích.
4. Dược Vương chỉ dạy.
5. Nguyệt cái truyền bá lưu thông.
- Văn thứ nhất lại có bảy:
1. Thời gian.
2. Nêu tên Phật.
3. Tên cõi.
4. Tên kiếp.
5. Thọ lượng của Phật.
6. Tăng số của hai bộ.
7. Luân vương cúng dường.
Đây là đoạn một có hai ý đầu. Kiếp có rất nhiều ở đây chỉ nói đến đại kiếp. Trong mười hiệu của Phật thì hiệu Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác như trước đã giải thích. Du-già tám mươi ba ghi là Minh Hành Viên Mãn, tức ba minh, già hạnh và hạnh, hạnh hạnh đều viên mãn. Vả lại thanh tịnh ba nghiệp, hiện hành chánh mạng và bốn tâm tăng thượng, hiện pháp lạc trụ, tất cả đều viên mãn. Trước là hành hạnh sau là trụ hạnh, thầm giữ gìn căn môn là già hạnh viên mãn. Hai hạnh này có thể hiển bày ba pháp chẳng hộ trì, làm quên sót. Do chẳng tạo
lỗi lầm, tĩnh lự thế gian có thể ngăn trừ tự khổ hạnh. Thiện thệ nghĩa là nơi đêm dài có đầy đủ tất cả đức của hai loại lợi ích. Ở đây ý nói là như ở thế gian thấy người đạt được sự giàu có thì liền nói người này đã đi rồi. Nay Đức Phật đến quả vị thì nói đã khéo đi rồi. Cho nên gọi là Thiện Thệ. Thế gian giải nghĩa là thông đạt tất cả các loại hữu tình và khí thế gian do khéo ngộ nhập hữu tình và thế gian, cho nên có thể y cứ vào mé trước mé sau mà túc trụ sinh tử, y cứ vào tất cả thời mà có tám mươi bốn ngàn hạnh sai biệt. Đối với khí thế gian thì trong mười phương thế giới như phương Đông… những việc vô biên, thành hoại đều khéo rõ biết. Lại còn rõ biết được tự tánh, nhân duyên, đắm trước, lỗi lầm, xuất ly, hạnh thú hướng… của các pháp thế gian. Vô thượng Trượng phu, Điều ngự Sĩ, vì trí không ai bằng, không gì hơn; đối với hiện pháp thì làm Điều ngự của nhiều phần, làm Trượng phu của vô lượng, là bậc nhất. Thiên nhân sư, do ngài mà hàng trời người hiểu được nghĩa sâu xa, siêng năng tu chánh hạnh, có năng lực. Phật-đà nghĩa là rốt ráo đoạn trừ tất cả tập khí phiền não, hiện Chánh đẳng giác A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Bạc-già-phạm, bình thản ngồi yên, được tòa diệu Bồ-đề, tự tại phá dẹp tất cả ma quân, vì có thế lực lớn. Trong đó Như Lai là từ chung nêu đầu tiên, Ứng Chánh Đẳng Giác tức vĩnh viễn giải thoát khỏi phiền não chướng và sở tri chướng. Trong phần riêng lại có hai là cộng đức và bất cộng đức. Trong cộng đức là nói giải thoát phiền não chướng và sở tri chướng, còn các câu khác như Minh hành Viên mãn thì thuộc về bất cộng đức, xét kỹ văn nghĩa cũng có thể biết được. Tuy kinh Niết-bàn, Bát-nhã… cũng có nêu lên mười hiệu, nhưng ở đây hãy theo luận, tùy ý lấy bỏ.
Kinh: Thế giới của Đức Phật kia… mười hai câu-chi.
Tán: Đoạn này gồm có bốn:
1. Nêu tên cõi.
2. Tên kiếp.
3. Thọ mạng của Phật. Trong hai mươi loại kiếp thì đây là dùng số ngày tháng năm làm kiếp, chẳng phải kiếp tăng giảm… vì trái với chánh lý.
4. Số tăng chúng, tức Thánh chúng ba thừa là đệ tử.
Kinh: Bấy giờ, có Luân vương… hay chế phục các quân khác.
Tán: Thứ bảy, Luân vương nói cúng dường, có hai:
1. Nói về Luân vương.
2. Nói về cúng dường.
Đây là phần thứ nhất. Bảy báu tức là voi, ngựa, vị quan thống lãnh
quân lính, vị quan chủ về kho tàng, ngọc nữ, châu và bánh xe báu; Kim luân vương mới đủ bảy báu vật này, cho nên mới cai quản bốn châu. Đây cũng là vật mà Đế Thích đã có. Luân vương xuất thế từ trời giáng hạ. Bảy báu này mỗi mỗi đều có công dụng thù thắng riêng biệt, như kinh Chánh Pháp Niệm Xứ hai và Di-lặc Thành Phật Kinh Sớ đã giải thích.
Kinh: Bấy giờ, Luân vương Bảo Cái… dâng lên cúng dường.
Tán: Đây là nói dùng tài vật cúng dường.
Kinh: Đã qua năm kiếp… cung kính cúng dường.
Tán: Thứ hai, khuyên các người con tu học, có hai:
1. Khuyên.
2. Nghe theo.
Đây là đoạn văn thứ nhất.
Kinh: Bấy giờ, một ngàn người con… đều nói lành thay!
Tán: Thứ hai, nghe theo, có hai: Cha chỉ dạy đã quý trọng, nên lời nói và hành động đều thuận theo, hiệp tức là hòa, không tranh cãi.
Kinh: Bấy giờ, có một Vương tử… hơn pháp này chăng?
Tán: Thứ ba, Nguyệt Cái tư duy làm lợi ích, có năm:
1. Tư duy lợi ích.
2. Hư không phát ra tiếng nói.
3. Đặt câu hỏi.
4. Chư Thiên đáp.
5. Cầu thỉnh.
Đây là văn thứ nhất. Ta nay ân cần tôn trọng sống ở thế gian đã không, lại nêu có pháp nào hơn thì nên tu pháp ấy.
Kinh: Nhờ thần lực của Phật… rất thù thắng.
Tán: Hư không phát ra tiếng nói. Cúng dường tài vật là việc của thế gian, chưa đủ để quý trọng, pháp cúng là việc xuất thế mới là thù thắng nhất.
Kinh: Liền hỏi rằng: Thế nào là pháp cúng dường?
Tán: Thứ ba, hỏi.
Kinh: Chư Thiên đáp rằng: Này Nguyệt Cái!… giảng thuyết chỉ bày.
Tán: Thứ tư, chư Thiên trả lời.
Kinh: Vương tử Nguyệt Cái… tướng ấy như thế nào?
Tán: Thứ năm, cầu thỉnh. Từ câu “lại trụ” trở lên là nói về phép tắc thưa thỉnh. Từ câu “Bạch rằng…” trở xuống là chánh thức cầu thỉnh giải thích.
Kinh: Dược Vương Như Lai… tổng trì kinh vương
Tán: Thứ tư, Dược Vương Như Lai chỉ dạy, có hai:
1. Nói về việc nương vào giáo, Bồ-tát trước mười Địa phần nhiều thực hành cúng dường pháp.
2. Nói về việc nương vào hạnh, Bồ-tát mười Địa phần nhiều hành cúng dường pháp.
Trong phần đầu lại có ba:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
- Trong phần giải thích có hai:
1. Nói về pháp được cúng dường.
2. Từ câu “Như thế! Kinh điển thích nghe…” là nói về pháp cúng dường.
- Trong phần nói về pháp được cúng dường có hai ý:
1. Nói về thể của kinh.
2. Nói về dụng của kinh.
Đây là phần nói về thể của kinh. Có hai loại kinh: Kinh chân thật rất sâu xa, và kinh tương tợ sâu xa. Không Lý Nghĩa ghi: “Loại đầu là giáo thắng nghĩa tam vô tánh không, loại sau là giáo thế tục tam vô tánh hữu”. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Loại đầu là giáo chẳng không, chẳng có ba tánh bình đẳng, loại sau chỉ nói về giáo “không”, ba vô tánh. Hai loại kinh này gồm mười nghĩa:
1. Thế gian khó tin nhận.
2. Khó vượt qua, để tu học đến rốt ráo.
3. Khó thấy.
4. U huyền sâu xa.
5. Vi diệu sâu kín.
6. Không tạp nhiễm.
7. Đại thừa liễu nghĩa.
8. Chẳng thể phân biệt có thể biết.
9. Thuộc Bồ-tát tạng, chẳng thuộc giáo Nhị thừa.
10. Tổng trì kinh vương, bao hàm tất cả.
Giáo lý đều gồm đủ là vua của các kinh. Bản dịch xưa chỉ ghi bảy nghĩa.
Kinh: Là sở ấn của ấn Phật… nên nhiếp thọ.
Tán: Nói về dụng của kinh, gồm ba mươi câu. Bản dịch xưa chỉ có hai mươi lăm câu. Đoạn này có bốn câu:
1. Sở ấn của ấn Phật; chân như vô tướng gọi là ấn Phật, những chân như được chứng khác còn chưa được viên mãn, vì thế chỉ có gọi là Phật ấn. Giáo là sở ấn của lý, cho nên nói là sở ấn của ấn Phật. Bản xưa ghi là Đà-la-ni ấn, là sở ấn của Tổng trì tánh, cũng là ấn lý chân như vô tướng.
2. Hay phân biệt chỉ bày bốn bất thoái chuyển.
3. Sáu đáo bỉ ngạn do đây mà khởi.
4. Khéo gồm thâu sở nhiếp và sở ứng nhiếp, nghĩa là giáo trình bày các đạo lý vi diệu và giáo làm lợi ích tất cả hữu tình. Bản xưa ghi: “Khéo phân biệt các nghĩa?” Tức là hai loại này.
Kinh: Pháp Bồ-đề phần… duyên khởi sâu xa.
Tán: Đoạn này gồm sáu câu:
1. Pháp Bồ-đề phần thực hành tùy theo chỗ hành, tức là tùy theo giáo mà hành Bồ-đề phần.
2. Bảy Giác chi tự có thể dẫn phát, nghĩa là giáo là do giác chi dẫn phát, phát khởi. Nếu bảy Giác chi là do giác dẫn dắt, do giáo phát khởi thì sẽ không phân biệt được với Bồ-đề Phần chính là pháp tùy hành. Bản xưa ghi: “Trên hết trong các kinh”. Vì do giác chi dẫn phát cho nên được gọi là trên hết.
3. Hay luận thuyết, chỉ bày, đại Từ, đại bi.
4. Nhổ sạch gốc khổ cho hữu tình, ban cho hữu tình sự an lạc. Hoặc do nói Từ bi cho nên hay trừ khổ. Bản dịch xưa không có ý này.
5. Xa lìa năm kiến, sáu mươi hai kiến thú và bốn ma oán.
6. Phân biệt diễn nói mười hai duyên khởi.
Kinh: Luận bên trong thì vô ngã… vô khởi tương ưng.
Tán: Đoạn này có hai câu:
1. Luận bốn chỗ lìa ngã là bên trong vô ngã, bên ngoài không có hữu tình, khoảng giữa không có thọ mạng và người nuôi dưỡng, tất cả đều không có số thủ thú. Đây là tên khác của ngã.
2. Tương ưng với lý tánh Không, Vô tướng, Vô nguyện, vô sinh khởi, vì giáo thuận với lý.
Kinh: Hay dẫn sinh diệu giác… khen ngợi cúng dường.
Tán: Đoạn này có ba câu:
1. Dẫn sinh diệu giác, diệu giác tức là Phật.
2. Chuyển pháp luân, vì giáo xoay chuyển bánh xe Thánh đạo.
3. Tám bộ chúng cúng dường.
Kinh: Dẫn dắt chúng sinh… từ tự đại pháp.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Dẫn sinh cúng dường pháp tất cả ruộng tốt mà khởi mười hạnh.
2. Viên mãn tất cả những từ tự của chúng sinh. Từ tự là hội pháp thí, tức hay thành tựu viên mãn những hội pháp thí. Bản dịch xưa hợp hai câu này làm một và ghi là: “Vào kho tàng Phật pháp”.
Kinh: Tất cả Thánh hiền… là chỗ quy về.
Tán: Đoạn này có ba câu:
1. Được Thánh hiền nhiếp thọ; vì đó là giáo cùng tột.
2. Khai phát diệu hạnh vì nhân nơi giáo mà biết rõ.
3. Pháp nghĩa đều nương tựa quy về.
Pháp chân thật và nghĩa đều ở nơi đây, cho nên gọi là chỗ quy về.
Kinh: Tối thắng vô ngại… bốn loại pháp Ôn-đà-nam.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Bốn vô ngại thù thắng nhân đây mà khởi. Bản dịch xưa không có câu này.
2. Luận về pháp lược tập, tiếng Phạm gọi là Ôn-đà-nam, Hán dịch là Lược tập. Pháp Ôn-đà-nam tức là giáo lược tập.
Bốn pháp lược tập là:
1. Các hành vô thường.
2. Hữu lậu đều khổ.
3. Các pháp vô ngã.
4. Niết-bàn tịch tĩnh.
Như kinh Bồ-tát Địa và Bát-nhã Thắng Thiên Vương đã nói. Nếu gọi Ô-đà-nam thì Hán dịch là Tập thí, tức các kệ tập nghĩa trong các kinh, nghĩa là dùng kệ tụng để gom tập các nghĩa lý mà ban cho người học, cho nên gọi là Tập thí. Nay nói pháp lược tập thì chỉ là phần trường hàng, do đó hai bản khác nhau. Hoặc nói bốn nghĩa lược tập mà sinh bốn giáo lược tập, vì phân chia nên có hai.
Kinh: Ngăn trừ tất cả… chúng ác ma quân.
Tán: Đoạn này có bốn câu:
1. Trừ bỏ sáu tệ; bản xưa ghi “hay cứu người phá hủy giới cấm” tức chỉ cho điều tệ ác do giới độ diệt trừ.
2. Làm kinh sợ những ngoại đạo tà kiến, chấp trước.
3. Mở thế lực pháp thiện cho hữu tình, khiến được sinh trưởng.
4. Phá  dẹp  ác  ma.  Bản  dịch  xưa  nói  đoạn  này  đồng  với  ngoại đạo.
Kinh: Chư Phật hiền Thánh… chư Phật cùng thuyết.
Tán: Đoạn này gồm bốn câu:
1. Thánh hiền khen ngợi.
2. Trừ khổ sinh tử.
3. Chỉ sự an vui của Niết-bàn.
4. Chư Phật cùng tuyên thuyết.
Kinh: Kinh điển như thế… gọi là cúng dường pháp.
Tán: Trên là nói pháp được cúng dường, ở đây là nói đến cúng dường pháp, gồm có tám hạnh là nghe, tin hiểu, thọ trì, đọc, tụng (hai hạnh này là lợi ích chung); tư duy khiến cho lý hiểu rõ nơi tự tâm, rồi lập bày, phân biệt, khai thị nghĩa ấy, khiến cho lý rõ ràng hiện tiền, tự thực hành như thế rồi; thì giảng thuyết cho người nghe; phương tiện khéo léo, giữ gìn chánh pháp, như giáo tu hành, gọi đó là cúng dường pháp. Pháp môn có mười như trước đã nói, trong đó biên chép và ban phát cho người thì thuộc về tài cúng, cho nên không nêu lên, chỉ nêu bảy hạnh, tin hiểu thì thuộc về tư duy. Thực hành những pháp này thì đều thuộc về cúng dường. Hạnh tuy có tám mà thể chỉ có bảy. Bản dịch xưa chỉ ghi sáu.
Kinh: Lại Nguyệt Cái… như pháp tu hành.
Tán: Đây là nói nương vào hạnh, Bồ-tát Thập địa thực hành cúng dường pháp, có ba phần:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Trong phần giải thích lại có mười sáu câu. Bản xưa có mười ba câu. Đoạn này có hai câu:
1. Điều phục ba nghiệp xa lìa các pháp ác.
2. Như pháp tu hành tu tập các điều thiện. Bản xưa không có câu này mà hợp làm một câu, nhưng vẫn đủ hai nghĩa.
Kinh: Tùy thuận duyên khởi… và không có hữu tình.
Tán: Đoạn này có ba câu:
1. Tùy thuận quán nhiễm tịnh, thuận nghịch của duyên khởi mà chẳng đồng như Độc giác tu hành chứng ngộ, cho nên nói tùy thuận; hoặc cho rằng tâm thuận cảnh mà quán duyên khởi cho nên gọi là tùy thuận, do đó có thể xa lìa tà kiến bác không có nhân quả.
2. Tu tập Vô sinh nhẫn.
3. Ngộ  nhập  được  nội  thân  vô  ngã,  ngoại  cảnh  không  có  hữu tình.
Kinh: Đối với nhân duyên… không có chỗ nhiếp thọ.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Không có lời trái nghịch với nghĩa lý của duyên khởi, không tranh cãi nên không có các luận thuyết khác.
2. Lìa ngã và ngã sở, không có chỗ nhiếp thọ, nếu nhiếp thọ các pháp thì có chấp trước; vì có chấp hai.
Kinh: Nương nơi nghĩa… thấy có sở đắc.
Tán: Đây là nói về bốn y, có bốn câu có thể tự biết. Như kinh Niết-bàn phối hợp với các giai vị, như luận Du-già pho thứ hai đã nói. Nêu y cứ theo nghĩa lý, vì chẳng phải là văn tự; trí mới có thể quyết định, thức chẳng thể quyết định được, liễu nghĩa thì rõ ràng, chẳng phải là mật nghĩa; pháp mới nên làm quy tắc, chỉ duyên nơi pháp, chẳng phải nương nơi số thủ thú có sở đắc, thì liền tin nhận.
Kinh: Tánh tướng như thế… diệt thức A-lại-da.
Tán: Đoạn này có hai câu:
1. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Như tướng y tha khởi. Tánh viên thành thật mà ngộ giải”. Không Lý Nghĩa ghi: “Tùy các thế gian, tánh tướng như thế mà hiển thành vô đắc”.
2. Ngộ nhập chân như không có sở nhiếp tàng diệt thức A-lại-da.
Kinh: Dứt trừ vô minh… xả các kiến thú.
Tán: Đoạn này có ba câu:
1. Dứt mười hai chi duyên khởi.
2. Dứt quả duyên khởi, trừ phiền não ưu bi sầu khổ; các điều này đều từ lão tử mà sinh là quả của duyên khởi.
3. Quán các tướng duyên khởi dẫn đến vô tận; lìa cùng tận cho nên thường dẫn phát, chưa từng đoạn dứt, bi nguyện cứu độ hữu tình. Vì có duyên khởi này, luôn chẳng xa lìa nên cứu giúp họ. Xả bỏ các kiến thú, tức là trừ các kiến chấp vô nhân, ác nhân…
Kinh: Như thế gọi là… cúng dường pháp tối thượng.
Tán:  Kết  luận;  nương  vào  đây  tu  hành,  hoặc  hạnh  trước  khi  tu thắng quả của Bồ-tát mười Địa gọi là thượng cúng, chưa phải là chánh hạnh, còn đây là nói về chánh hạnh.
Kinh: Đức Phật nói với Thiên đế… được thuận pháp nhẫn.
Tán: Thứ năm, Nguyệt Cái truyền bá lưu thông, có bốn:
1. Xin được truyền bá lưu thông.
2. Thọ ký.
3. Xuất gia đắc quả.
4. Hành hóa sau khi diệt độ.
- Trong phần thứ nhất lại có ba:
1. Nghe pháp được lợi ích.
2. Đáp trả cúng dường y và vật trang nghiêm.
3. Chính thức xin được trình bày.
Đây là văn thứ nhất. Vô sinh pháp nhẫn thì chứng tại Sơ địa, thuận với quyết trạch nhẫn vị trước mười Địa. Nay nghe pháp đạt được Thuận pháp nhẫn. Kinh Nhân Vương phối hợp nhẫn với các vị:
1. Phục nhẫn trước mười Địa.
2. Tín nhẫn tại Địa thứ nhất, hai, ba.
3. Thuận nhẫn tại Địa thứ tư, năm, sáu.
4. Vô sinh nhẫn tại Địa thứ bảy, tám, chín.
5. Tịch diệt nhẫn tại Địa thứ mười và Phật địa.
Nay nói thuận nhẫn là mới chứng Địa thứ tư, cho nên bản dịch xưa ghi: “Được nhu thuận nhẫn”, hai cách giải tùy ý mà chọn một.
Kinh: Liền cởi y báu… Dược Vương Như Lai.
Tán: Thứ hai là đáp trả cúng dường y và vật trang nghiêm.
Kinh: Bạch rằng: Bạch Thế Tôn… tu hạnh Bồ-đề.
Tán: Thứ ba, chánh thức cầu xin. Con mong cầu sau khi Như Lai diệt độ, sẽ nhiếp thọ chánh pháp mà thực hành cúng dường pháp, để giữ gìn chánh pháp. Nếu chẳng nhiếp thọ chánh pháp, thì chẳng thành tựu cúng dường pháp, cũng chẳng thể giữ gìn chánh pháp. Cho nên cầu xin Đức Phật thương xót ban cho Từ bi, thêm oai và lực cho thần thông cứu độ, khiến cho không nạn, khiến hàng ma, giữ gìn chánh pháp và khiến tu hành.
Kinh: Dược Vương Như Lai… có thể giữ gìn thành trì chánh pháp.
Tán: Thứ hai là thọ ký. Thấy nhân tu kia thì liền phát nguyện cầu xin; quán nhân thấy quả, cho nên thọ ký. Chánh pháp như thành trì, hành giả như người sống trong thành. Nguyệt Cái hay giữ gìn chánh pháp cho nên nói là giữ gìn thành trì chánh pháp.
Kinh: Bấy giờ, Vương tử kia… tu các pháp thiện.
Tán: Thứ ba, xuất gia đạt được quả, có năm câu. Đoạn này có hai câu:
1. Hoan hỷ xuất gia.
2. Tinh tấn tu thiện. Tu hạnh Niết-bàn viễn ly gọi là phi gia.
Kinh: Vì siêng năng tu thiện… diệu biện không đoạn.
Tán: Đoạn này gồm ba câu:
1. Được năm thông.
2. Được tổng trì.
3. Được  bảy  biện  hoặc  đạt  được  vô  đoạn  tận  biện  và  Đà-la-ni biện. Bản xưa thêm câu “Thông đến đạo Bồ-tát”.
Kinh: Dược Vương Như Lai… chuyển pháp luân.
Tán: Thứ tư, hành hóa sau khi diệt độ, có hai:
1. Thời gian hành hóa.
2. Chỗ giáo hóa nhiều ít.
Đây  là  phần  thứ  nhất.  Mười  trung  kiếp  tức  là  kiếp  ngày  tháng năm, chẳng phải loại kiếp khác, vì trái với chánh lý.
Kinh: Bí-sô Nguyệt Cái… sinh vào cõi trời.
Tán: Đây là chỗ nói về chỗ giáo hóa nhiều ít, có ba:
1. Khiến chứng bốn vị bất thoái của Đại thừa.
2. Khéo điều thuận tâm Nhị thừa, được quả A-la-hán. Kinh Phật Địa, đầu tiên khen ngợi đức của bậc Vô học, vì tâm đã điều thuận.
3. Dẫn hàng vô chủng tánh sinh vào cõi trời. Câu thứ nhất và hai là nói hàng có chủng tánh tùy thuận được ba thừa; một câu sau nói về vô tánh, cho nên khiến sinh vào cõi trời.
Kinh: Phật bảo Thiên đế… Bảo Diệm Như Lai.
Tán: Đoạn thứ hai, dùng xưa tức nay, có ba:
1. Tức Luân vương.
2. Tức một ngàn Vương tử.
3. Tức Nguyệt Cái. Đây là đoạn một.
Kinh: Một ngàn vương tử con của vua… còn những vị khác sẽ xuất thế ở đời tương lai.
Tán: Đây là nói tức ngàn người con. Một ngàn người con ở đây chỉ nói có một duyên. Lại có các duyên riêng biệt như trong kinh Dược vương Dược Thượng và kinh Thiên Phật Nhân Duyên đã nói, đó chính là Phật Ca-lạc-ca-thôn-đà thứ nhất, Phật Ca-lạc-ca Mâu-ni thứ hai, Phật Ca-diếp-ba thứ ba, Phật Thích-ca Mâu-ni thứ tư đã giải thích trong Di- lặc Thượng Sinh Kinh Sớ. Bốn vị Phật này đã xuất thế, còn các vị khác đương lai sẽ xuất thế; về kiếp số, thứ tự, thời gian, giai vị, mỗi mỗi như Thượng Sinh Kinh Sớ đã nói.
Kinh: Vương tử Nguyệt Cái hộ pháp lúc bấy giờ… tức là thân Ta.
Tán: Đây là nói tức Nguyệt Cái. Hiển thị tự thân Như Lai giữ gìn pháp này, hành cúng dường pháp nay được Bồ-đề, khuyên các hữu tình cũng nên như ta giữ gìn học tập thực hành cúng dường pháp.
Kinh: Thiên đế nên biết… vô thượng, tối thượng.
Tán: Khen ngợi pháp, trước khuyên tu lợi ích thù thắng, có hai:
1. Khen.
2. Khuyên.
Đây là đoạn thứ nhất. Tối tôn vì hạnh cao tột, tối thắng vì hạnh siêu việt, tối thượng vì hạnh bậc nhất; tối diệu, vì hạnh thiện vi diệu; vô thượng vì không có gì hơn; hoặc tùy theo thứ tự; bốn tối thắng đầu tiên là dùng ẩm thực, y phục, ngọa cụ, thuốc men để cúng dường; ý nói vô thượng là do bốn tối thắng trước cho nên thể là vô thượng. Vả lại do cúng dường pháp, nên hay được pháp thân năm uẩn vô lậu, đó là năm uẩn giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, theo thứ tự phối hợp. Hoặc được thanh tịnh pháp giới, đại viên cảnh trí, bình đẳng tánh trí, diệu quan sát trí và Thành sở tác trí, theo thứ tự phối hợp các loại tối thắng… nêu trên. Vì thế mà nêu lên năm nghĩa bậc nhất cùng tột.
Kinh: [Vì thế, này Thiên đế… không nên dùng tài vật.]
Tán: Đây là lời khuyên. Chư Phật Bồ-tát, chỗ làm của bản tâm là đều muốn khiến cho các hữu tình tu tập pháp hạnh, sẽ được xuất thế, cho nên cúng dường pháp thù thắng hơn cúng dường tài vật. Hội Thắng Thiên Vương, kinh Bát-nhã nói rằng: “Hai người xa lìa, giặc của vua, chẳng thể xâm đoạt kho báu lớn, trăm ngàn đại kiếp vui nghe pháp, được nghe chẳng giữ chẳng ban phát, tâm đại Bồ-đề hộ chánh pháp, như giáo tu hành tu cúng dường, tự lợi lợi tha tâm bình đẳng, thế mới thật  là  chân  cúng  Phật”.  Trong  các  loại  cúng  dường  thì  cúng  dường pháp là bậc nhất. Sách thế tục còn nói rằng: “Cho dù một ngày giết ba con trâu để cung dưỡng cho cha mẹ, còn gọi là bất hiếu”, hà huống gì xuất gia? Vì Phật vốn chẳng mong cầu cúng dường tài vật. Kinh Kim Cang ghi: “Mỗi ngày xả bỏ thân ba thường hằng này, còn không bằng thọ trì bốn câu kệ”, cho nên cúng dường pháp thù thắng hơn cúng dường tài vật đến vô lượng. Vì tài vật làm sinh trưởng các hoặc, như cõi nước là bụi, pháp hay diệt ác như mặt trời chiếu phá tối tăm, cho nên chẳng thể ví dụ.
 
-------------------------------------
PHẨM 14: CHÚC LỤY
 
Trong hai phẩm cuối cùng nói về tán thán và trao phó lưu thông, thì phẩm trước nói về tán thán lưu thông, phẩm này nói về phó chúc lưu thông. Nếu chẳng trao phó kỹ càng thì hoặc là sợ người khinh mạn pháp chẳng rõ, cho nên mới trịnh trọng phó chúc, khiến sinh lòng tin mà tu học. Dùng lời mà trao cho, gọi là chúc, lặp lại nhiều lần gọi là Lụy. Phẩm này luận bàn kỹ về việc ấy nên gọi là phẩm Chúc Lụy.
Kinh: Bấy giờ, Đức Phật bảo Bồ-tát Từ Thị… phó chúc cho ông.
Tán: Toàn phẩm được chia làm ba đoạn:
1. Phó chúc kỹ càng.
2. Hỏi tên giữ pháp.
3. Lợi ích đã xong hoan hỷ lưu thông.
- Đoạn đầu lại có hai phần:
1. Phó chúc cho Bồ-tát, tự giữ và hành trì.
2. Phó chúc cho Thanh văn, khiến lấy bỏ.
- Phần đầu lại có ba:
1. Phó chúc cho Bồ-tát Di-lặc.
2. Bồ-tát xin thọ trì.
3. Thiên vương hộ vệ.
- Phần một lại có ba:
1. Như Lai phó chúc.
2. Bồ-tát Di-lặc tán thán lãnh thọ.
3. Thế Tôn khen ngợi.
- Thứ nhất lại có hai:
1. Phó chúc pháp.
2. Nói về đức bị mất.
- Phần một lại có hai:
1. Phó chúc khiến hành trì.
2. Giải thích nguyên do.
- Đầu tiên lại chia làm ba:
1. Phó pháp chung.
2. Nói về pháp thắng diệu.
3. Khiến đời sau truyền bá lưu thông.
Đây là văn thứ nhất. Quả gom tập từ nơi biển nhân Thánh hạnh đem phó chúc cho ông, biểu thị thể dụng đều lớn.
Kinh: Kinh điển như thế… gia hộ.
Tán: Đây là nói về pháp thù thắng vi diệu. Do oai lực của Phật giữ
gìn mà chẳng diệt, nhờ oai lực của Phật gia hộ nên không có tai họa.
Kinh: Sau khi Như Lai Niết-bàn, ông sẽ… chớ khiến bị diệt mất.
 Tán: Đoạn này là bảo đời sau lưu thông. Nhiếp thọ tức gia hộ, nhiếp trì lãnh thọ, là tên khác của gia hộ.
Kinh: Vì sao?… vô lượng thắng lợi.
Tán: Trên là trao phó khiến hành trì, đây là giải thích nguyên do. Có hai:
1. Nói về lợi ích và tổn hại của hai người.
2. Phó chúc nhân pháp.
- Phần thứ nhất được chia làm hai:
1. Nói về tổn hại.
2. Nói về lợi ích.
Đây là văn đầu tiên, ở đây có hai hạng người:
1. Tuy  chưa  phát  tâm  Đại  thừa  mà  đã  gieo  trồng  thiện  căn  tốt đẹp.
2. Đã phát tâm Đại thừa có thắng giải rộng lớn, tức Bồ-tát trước mười Địa; các tâm trước mười Địa trong mười ba trụ tâm gọi là Thắng giải hạnh, cho nên có thắng giải rộng lớn. Hàng phàm phu trước mười Địa nếu chẳng nghe kinh, như người chưa phát tâm thì chẳng thể phát tâm, người đã phát tâm, thì chẳng thể đạt lợi ích, gọi đó là thoái thắng lợi.
Kinh: Nếu kia được nghe… hoan hỷ đảnh lễ vâng thọ.
Tán: Đây là nói về nghe pháp được lợi ích. Bản dịch xưa dùng phát tâm Bồ-đề là một, thích pháp Đại thừa là hai, thứ tự phối hợp với hoan hỷ, đảnh lễ vâng thọ. Nhưng nói nên phát tâm nên ưa thích thì nghĩa cũng đồng như bản dịch mới, không có lỗi.
Kinh: Ta nay trao phó những người thiện nam, thiện nữ ấy… lưu hành rộng khắp.
Tán: Đây là phó chúc nhân pháp. Phó chúc người là khiến được hộ niệm để không bị chướng nạn khi nghe pháp này. Phó chúc pháp là khiến pháp được lưu hành rộng khắp.
Kinh: Từ thị nên biết… tướng ấn của Bồ-tát.
Tán: Trình bày về đức bị mất, có ba:
1. Nêu lên.
2. Chỉ rõ.
3. Giải thích.
- Đây là đoạn văn đầu. Ấn có hai loại:
1. Vô tướng ấn, như trước đã giải thích.
2. Hữu tướng ấn, chính là ấn nói ở đây.
Tướng tức tướng mạo, ấn tức là quyết định, tướng trạng quyết định gọi là tướng ấn. Hai giáo này gọi là ấn, ấn hai hạng Bồ-tát.
Kinh: Thế nào là hai?… ngộ nhập tướng ấn.
Tán: Đây là hiển bày, có hai: Một là, nêu lên; sau là hiển thị.
Đây là đoạn văn thứ nhất. Một là, thích những lời văn thêu dệt thì lý theo đó mà bẻ cong hay uốn thẳng; hai là, tùy thuận tánh tướng mà ưa thích pháp nghĩa sâu xa, là thể của tướng ấn. Nhập tức là chứng giải.
Kinh: Nếu các Bồ-tát… Bồ-tát tu học đã lâu.
Tán: Đây là phần giải thích, có hai:
1. Theo văn có thể biết, tức theo văn chẳng theo lý.
2. Hàng thứ hai là các Bồ-tát không có tạp nhiễm không chấp trước, tức là đối với pháp sâu xa không sợ hãi, nghe liền tin hiểu cho đến tu hành, do đó liền được lòng tin thanh tịnh xuất thế, gọi là hàng tu học đã lâu, nếu chẳng phải hàng tu học lâu, thì chẳng thể tin thích pháp này.
Kinh: Từ Thị nên biết… pháp nhẫn sâu xa.
Tán: Nói về tướng mất, có hai là thứ tự nói về hai hàng Bồ-tát nêu trên. Trong phần một có ba:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là văn thứ nhất. Pháp nhẫn tức trí nhẫn đạt được từ việc quán giáo pháp bốn Đế của Bồ-tát Sơ địa. Do bốn duyên nên Bồ-tát mới học không đạt được Sơ địa.
Kinh: Thế nào là bốn… từ đâu mà đến.
Tán: Đây là phần giải thích có hai:
1. Nêu lên.
2. Hiển bày.
Trong phần hiển bày lại có hai:
1. Hai việc đầu là đối với pháp.
2. Hai việc sau là đối với người.
Đây là lời văn thứ nhất. Đối với pháp chưa nghe thì phát sinh hai việc: một là, kinh sợ nghi ngờ, tâm không tùy hỷ cho nên trái nghịch; hai là dẫu đã nghe thì sau lưng lại trái nghịch phỉ báng, trước mặt lại khinh chê, nói rằng chẳng phải là pháp mà trước kia ta đã nghe, từ đâu mà có đây? Vì cho rằng không có xuất xứ nên khinh hủy.
Kinh: Thứ ba là, thấy có người… phỉ báng.
Tán: Đây là hai việc đối với người.
1.  Thấy người tin pháp này thì chẳng thích gần gủi, chẳng thích cung kính, chẳng thích lễ bái.
2. Đối với người tin pháp này thì về sau thân khinh mạn, tâm ganh ghét, lời thì trước mặt hủy nhục, sau lưng phỉ báng. Bản dịch xưa ghi bốn việc này gom lại hai môn, cũng đồng có nhân và pháp.
Kinh: Do bốn duyên này… pháp nhẫn sâu xa.
Tán: Đây là phần kết luận.
Kinh: Từ Thị nên biết… Vô sinh pháp nhẫn.
Tán: Đoạn văn này có ba, đây là phần thứ nhất. Người được tương tục Vô sinh pháp nhẫn là Bồ-tát Địa thứ tám. Trước nói hàng mới học chưa được Sơ địa, ở đây nói hàng hữu học chẳng được Địa thứ tám, hoặc chẳng được Sơ địa.
Kinh: Thế nào là bốn… trao cho, khuyên bảo.
Tán: Đây là phần hiển bày, có hai:
1. Nêu lên.
2. Hiển thị.
- Hai duyên đầu là đối với người, hai duyên sau là đối với pháp.
1. Khinh người mới học.
2. Không thích thâu họ làm đệ tử, không thích chỉ bày học xứ, không thích dạy cho pháp thiện, không thích khuyên bảo chớ làm việc ác cho người mới học. Do hai duyên này mà khiến cho người mới học không thể tiến tu. Bản xưa ghi: “Chẳng dạy dỗ khuyên bảo”, tức duyên thứ hai.
Kinh: Thứ ba… pháp thí thanh tịnh.
Tán:  Hai  duyên  đối  với  pháp.  Học  xứ  rộng  lớn  là  giới  Bồ-tát. “Thậm thâm” thì Luận Nhiếp Đại thừa ghi: “Bồ-tát hành mười nghiệp như sát sinh… mà không có tội, sinh vô lượng phước, mau chóng chứng Bồ-đề”. Rộng lớn có bốn:
1. Vô lượng học xứ rộng lớn.
2. Vô lượng phước đức rộng lớn.
3. Ý lạc lợi sinh rộng lớn.
4. Kiến lập Bồ-đề rộng lớn, đều như luận đã nói. Hoặc cho rằng thậm thâm tức khó lường. Rộng lớn tức thể dụng rộng lớn. Một là, chẳng kính trọng sâu xa pháp này, mà xem nhẹ; hai là, thích tài thí chẳng thích pháp thí, thấy lợi lạc hiện tại, mà chẳng thấy lợi ích mai sau. Bản xưa không có hai duyên sau, cũng không có văn kết luận.
Kinh: Do bốn duyên này… Vô sinh pháp nhẫn.
Tán: Đây là kết luận.
Kinh: Bồ-tát Từ Thị… rất vi diệu.
Tán: Đoạn thứ hai, Bồ-tát Di-lặc tán thán lãnh thọ. Có ba:
1. Tán thán.
2. Lãnh thọ.
3. Kết luận.
Đây là lời Bồ-tát Di-lặc tán thán. Hy hữu vì rất khó được nghe, vi diệu là vì khó vào.
Kinh: Như lời Phật đã chỉ dạy… rốt ráo xa lìa.
Tán: Bồ-tát Di-lặc lãnh thọ có hai:
1. Tướng lỗi của đức.
2. Lãnh thọ sự phó chúc ở trước.
Đây là văn thứ nhất. Văn mới nói rằng Bồ-tát có các lỗi lầm, tài chưa đủ đức còn thiếu, chẳng dám tự thọ nhận, nên nói lỗi lầm này con xin xa lìa. Đây là hiển bày Bồ-tát còn ở nơi nhân vị, chưa đạt đến quả vị, đến quả mới cùng tận, cho nên nói sẽ xa lìa.
Kinh: Như Lai… khiến chẳng diệt mất.
Tán: Lãnh thọ lời phó chúc đã nói ở trước, có hai:
1. Lãnh thọ pháp.
2. Lãnh thọ người.
Đây là đoạn thứ nhất, giữ gìn pháp này khiến chẳng bị diệt; có người lưu thông thì pháp sẽ thịnh hành.
Kinh: Các thiện nam, thiện nữ ở đời vị lai… giảng nói cho người khác nghe.
Tán: Đây là lãnh thọ người. Có người chân pháp khí cầu Đại thừa, con khiến cho họ nhận được kinh điển này và trao cho niệm lực khiến họ thọ trì cho đến giảng nói cho người khác nghe.
Kinh: Bạch Thế Tôn! Vào đời sau… trụ trì gia hộ.
Tán: Đây là kết luận, thành tựu cho việc lãnh thọ và ban cho niệm lực nói ở trước.
Kinh: Đức Thế Tôn dạy rằng… chánh pháp như thế.
Tán: Thứ ba, Thế Tôn khen tặng. Ba nghiệp chẳng trái gọi là tùy hỷ; nhiếp thọ lãnh nạp, ủng hộ giữ gìn, rất khéo léo vi diệu.
Kinh: Bấy giờ, trong hội… lưu bố tuyên dương khắp nơi. Tán: Đoạn lớn thứ hai, Bồ-tát xin thọ trì, có hai:
1. Ủng hộ chánh pháp.
2. Ủng hộ người.
Đây là phần thứ nhất. Đức Phật tại thế thì nhờ oai thần tự có thể
gia hộ, còn sau khi diệt độ thì con sẽ hộ trì, chẳng những ở phương này tự tại hộ trì mà còn đến phương khác để ủng hộ.
Kinh: Nếu thiện nam… làm cho không bị chướng ngại.
Tán: Đoạn này nói bảo hộ người:
1. Ban cho niệm lực khiến chẳng quên sót giáo pháp.
2. Khiến cho lưu thông rộng khắp mà không bị chướng ngại.
Kinh: Bấy giờ, trong chúng… pháp môn này.
Tán: Đoạn lớn thứ ba, Thiên vương ủng hộ, có hai:
1. Nói về việc ủng hộ.
2. Nói về xa gần.
Đây là phần thứ nhất; thứ nhất là hộ trì chánh pháp, thứ hai hộ trì người. Pháp môn tức là pháp, giả tức người giả.
Kinh: Bốn phương… chẳng được tiện lợi.
Tán: Đây là nói về xa gần. Du-thiện-na, bản xưa ghi là do-tuần. Theo luận Câu-xá thì năm trăm cung là một câu-lô-xá bằng hai dặm; tám câu-lô-xá là một du-thiện-na, bằng mười sáu dặm. Xưa truyền rằng hoặc cho bốn mươi dặm là một du-thiện-na, thì cũng không trái với ở đây. Trong vòng một trăm do-tuần đều làm cho được an ổn, Thiên ma, ngoại đạo, tai chướng, suy hao, hiểm nạn không thể gây chướng ngại, kẻ ác cũng không thể thừa cơ thuận tiện dò xét, trừ người bị nghiệp quyết định.
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… khiến được lưu thông.
Tán: Trên là phó chúc cho Bồ-tát, gồm pháp và người; còn đây là phó chúc cho Thanh văn, chỉ có pháp không có người. Đoạn này có hai:
1. Phó chúc.
2. Thọ nhận.
Đây là phần đầu.
Kinh: A-nan-đà bạch rằng… pháp môn như thế.
Tán: Thứ hai là lãnh thọ.
Kinh:  Bạch  Thế  Tôn!  Pháp  môn  như  thế…  con  thọ  trì  như  thế nào?
Tán: Đoạn thứ hai, hỏi tên và cách thọ trì, có hai:
1. Hỏi.
2. Chỉ dạy.
- Đây là lời hỏi.
1. Hỏi tên pháp môn.
2. Hỏi cách thọ trì.
Kinh: Thế Tôn dạy rằng… nên thọ trì như thế.
Tán: Đây là lời dạy. Nêu chung một tên mà thọ trì, tức là cách thọ trì. Bất khả tư nghị tức là siêu việc sự suy lường của tình thức và ngôn ngữ. Tự tại tức là nhậm vận, nghĩa là tự do; thần biến tức là diệu dụng của thông quả, chuyển biến vô cùng, không mà rõ ràng là có; giải thoát tức định quả vô lậu, thoát khỏi định chướng cho nên gọi là giải thoát. Hoặc cho rằng định quả là tự tại thần biến, chân như ly hệ gọi là giải thoát. Pháp môn là giáo năng thuyên, tức là giáo pháp hiển bày nghĩa sở thuyên. Nên thọ trì như thế tưc là khuyên người tu học, lãnh thọ giáo pháp.
Đây là đoạn thứ ba nói về việc lợi ích đã xong vui mừng lưu thông. Đạo từ nơi không có phiền não, lìa sầu bi khổ mà khởi, vì thế nên hoan hỷ. Thuận mà tâm tịnh, lưu giữ tại lòng, y đó mà lưu truyền tu tập, cho nên gọi là tin nhận, vâng theo đó mà hành trì.
 
*****
 
Vào ngày 27 tháng 12, niên hiệu Hàm Thuần thứ ba. Bấy giờ ngài Khuy Cơ chưa từng đọc các chương sớ của cổ đức, nhưng do chư vị ở chùa Bình đẳng, huyện Đại nguyên, ở Tinh châu ép giảng bản xưa kinh này. Nhân lần giảng đó mà chế lời sớ trên, để nêu lên huyền chỉ. Lúc ấy, ban đêm thì soạn văn, sáng sớm thì giảng thuyết. Cứ tùy thời mà chẳng biếng trễ. Nhưng chưa từng xem hỏi lại, mãi đến tháng 7 niên hiệu Hàm Thuần thứ năm, nhân đến U minh ở đất Tô, lại được mời giảng bản dịch xưa kinh này, thì mới được đọc lại, xét thấy văn tuy sơ lược mà nghĩa lại đầy đủ, lời tuy thô mà lý lại sâu xa. Nhưng vì thời gian bức bách, nên thật chưa được hoàn toàn. Nay kinh văn có những chỗ khác nhau, đều lược nêu lên, hân hạnh được chư vị lưu tâm xem đọc.
(Dương Tín, ở chùa Hưng phước, viết vào tháng 5, niên hiệu Bảo An thứ hai)
 
 
 
/32
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »