THUYẾT VÔ CẤU XƯNG KINH SỚ
QUYỂN 6
(PHẦN 1)
PHẨM 10: HƯƠNG ĐÀI
Tám phẩm, từ phẩm Phương Tiện trở xuống là nói về hai hạnh lợi lạc, còn phẩm này nói về hai quả lợi ích, khiến ưa thích mong cầu quả đức. Cho nên phẩm này nói về Bồ-đề xứ. Hoặc cho rằng tám phẩm trên nói riêng về hai lợi ích, phẩm này nói chung về hai lợi ích. Hương Đài là hiệu của Phật, nhờ vào quả đức của một Phật để nêu lên chỗ thù thắng của một Phật, khiến cho hàng giai vị thấp phát tâm mong cầu. Nêu lên hiệu Phật để làm tên phẩm; nói về hai lợi ích để tu tập, ánh sáng của thân Phật hiển bày; hình tướng của đài cao đều do mùi hương tích tụ mà thành, để lợi ích loài quần sinh, cho nên gọi là Hương Đài. Phẩm này nói rộng về việc trên cho nên gọi là phẩm Hương Đài.
Kinh: Bấy giờ, Xá-lợi-phất… sẽ thọ thực nơi đâu.
Tán: Toàn phẩm gồm năm đoạn:
1. Ngài Thu Tử nghĩ đến việc thọ thực.
2. Ngài Vô Cấu Xưng chê trách.
3. Khiến người đến xin cơm.
4. Được cơm trở về.
5. Chúng đương thời được lợi ích.
Đây là đoạn văn thứ nhất. Phật chế đúng thời mới được thọ thực, phi thời không được thọ thực. Giờ thọ thực đã đến, vì thế mới suy nghĩ. Ma-ha tức là Đại, Tát-đỏa tức hữu tình, để phân biệt với giai vị thấp nói ở trước nên nói là Đại hữu tình. Bản dịch xưa ghi: “Bồ-tát sẽ thọ thực nơi đâu”, ở đây nói cũng có Thanh văn.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… mà nghe chánh pháp.
Tán: Đoạn thứ hai, ông Vô Cấu Xưng chê trách bảo thôi. Đây là lời chê trách. Tùy thuận Tiểu thừa thì tám giải thoát là để trừ tham dục, còn tám giải thoát của Đại thừa là trừ định chướng. Vả lại, trong định
chướng thì tham là đầu. Tám giải thoát quán là trừ tham dục của năm cảnh. Nhân giả nay đã trụ, tham dục đã hết, mà tài thực còn mong cầu thì tâm nhiễm ô vẫn còn, chớ nên dùng tâm nhiễm ô mà nghe pháp; cần phải trừ sự ham muốn tài thực mà nguyện phát sinh pháp thực. Kinh A- hàm nói có chín loại thức ăn là: đoàn thực, xúc thực, tư thực, thức thực, thiền diệt thực, nguyện thực, niệm thực, giải thoát thực và hỷ thực, nên phải thường nghĩ xả bỏ bốn loại thực trước, mà nên chuyên cần ưa thích tu tập năm loại thực xuất thế gian kể sau, cho nên nói nhân giả đã trụ giải thoát, chớ để tài thực nhiễm ô tâm mình, tài thực thuộc về đoàn thực.
Kinh: Nếu muốn thọ thực… được thức ăn chưa từng có.
Tán: Đây là bảo thôi dứt. Tức thôi đừng nghĩ đến nữa, hứa sẽ nói.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… thần thông thù thắng.
Tán: Đoạn thứ ba, bảo người đến xin cơm, gồm bốn phần:
1. Nêu lên nơi có thức ăn.
2. Chọn ai có thể đến đó xin.
3. Sai hóa nhân truyền lại lời này.
4. Khiến thừa oai lực đến xin cơm.
Đây là văn thứ nhất, lại gồm có ba:
1. Nêu chung về việc khởi dụng.
2. Nêu riêng điều chỉ bày.
3. Kết luận chúng đều thấy.
Đây là đoạn văn thứ nhất. Tuy thường ở trong định, vì thuận thế tục cho nên hôm nay lại nhập định. Nếu chẳng hiện thần thông, thì rốt cuộc họ chẳng thấy được cõi kia.
Kinh: Chỉ cho các Bồ-tát… an ổn trụ trì.
Tán: Đây là văn thứ hai nêu riêng về điều chỉ bày. Có mười bốn câu. Đoạn này gồm sáu câu:
1. Khiến người thấy, tức Bồ-tát và Thanh văn.
2. Nêu xứ sở, tức là phương trên.
3. Xa gần, tức bốn mươi khắc-già-sa… .
4. Tên cõi, tức cõi Nhất thiết Diệu Hương, vì tất cả cõi nước đều do mùi hương vi diệu tạo thành.
5. Hiệu của Phật, tức Hương Đài.
6. Khởi diệt tức hiện đang trụ trì.
Kinh: Trong thế giới kia… tất cả đều viên mãn.
Tán: Đoạn này gồm hai:1, Nói tổng quát về mùi hương rất thù
thắng, vì do tu nhân năm uẩn thù thắng, nên chúng sinh cõi này nghe được mùi hương đó mà vào đạo; vì việc lợi lạc chúng sinh của chư Phật chẳng phải là một và để phá sự đắm trước mùi hương của loài hữu tình thế gian; hai là hiển thị cây cối phát ra mùi hương xông khắp nơi.
Kinh: Trong đó không có tên Nhị thừa… vì họ thuyết pháp.
Tán: Đoạn văn này có hai:
1. Chỉ có chúng Đại thừa.
2. Đức Phật ứng hợp thuyết pháp.
Kinh: Trong thế giới đó… vô lượng cõi Phật.
Tán: Đoạn văn này cũng có hai:
1. Các việc đều do mùi hương tạo thành.
2. Thọ thực mùi hương là bậc nhất; lìa hương vị và xúc, cả ba là thể của thức ăn, chất hương làm lợi ích, mùi hương là bậc nhất.
Kinh: Bấy giờ, Đức Như Lai kia… và các Bồ-tát.
Tán: Đoạn văn này cũng có hai:
1. Phật… mới cùng thọ thực, thọ thực ắt nương vào đây, là cơ hội làm lợi ích.
2. Hương Nghiêm cúng dường, hiển thị phước điền của Phật, vì chúng sinh tu hành pháp cúng dường. Bản dịch xưa ghi: “Có các Thiên tử đều tên là Hương Nghiêm”. Đây chỉ có một người, hai bản khác nhau.
Kinh: Bấy giờ, đại chúng này… các việc như thế.
Tán: Đây là đoạn tổng kết, đại chúng đều thấy.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… lấy thức ăn Diệu Hương.
Tán: Thứ hai, chọn người có thể đến kia xin cơm. Gồm có bốn:
1. Hỏi đại chúng.
2. Im lặng trả lời.
3. Hỏi lại.
4. Trách cứ.
Đây là văn đầu. Suy cử tất cả chúng chẳng được, mới tự hóa hiện. Vì muốn hiển thị tâm kính nhường là đức, cho nên mới lễ suy cử đại chúng.
Kinh: Do Bồ-tát Diệu Cát Tường… đều im lặng.
Tán: Đây là phần im lặng thay lời đáp. Ý nghĩa của sự im lặng gồm có bốn:
1. Thức ăn dùng để đãi khách, khách chẳng nên đi, ngài Cát Tường lấy làm lạ về việc Vô Cấu hỏi khách, cho nên đều khiến cho im lặng.
2. Đại sĩ cầu pháp, chẳng theo tài thực, tuy có suy cử, nhưng cũng
khiến cho im lặng.
3. Hiển thị việc các Bồ-tát chẳng bị nhiễm ô đối với thức ăn, cho nên đều khiến tất cả im lặng, để làm rõ chỗ sâu xa này.
4. Nên rõ việc ngài Vô Cấu Xưng có thần thông tự tại, chỉ cho các Bồ-tát thấy, khiến vui thích kính ngưỡng.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… khiến họ như thế.
Tán: Đây là phần hỏi lại. Bồ-tát vì lợi ích hữu tình, vâng mệnh đến vấn an, đàm luận, đặt tòa; tòa tuy đặt đã lâu, luận đàm kế đó mới bày, cho nên hỏi ngài Cát Tường vì sao không dùng thần lực gia hộ cho các Bồ-tát, mà khiến cho họ đều im lặng chẳng đáp.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường nói… chớ khinh người chưa học.
Tán: Đây là đoạn trách cứ. Nguyên do khiến im lặng đã trình bày ở trước. Đối với chúng mà chê khinh, nghĩ rằng chẳng phải là điều nên làm, cho nên nay trách cứ chớ khinh người chưa học. Chưa học còn chẳng thể khinh, thì bậc đã có đức sao lại xem thường được? Vì sự việc chưa thể biết được.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… che mờ đại chúng trong hội.
Tán: Đoạn thứ ba, hóa hiện khiến truyền lại lời này. Gồm hai:
1. Nói về thần thông hóa hiện.
2. Khiến truyền lại lời nói.
Đây là văn thứ nhất. Hỏi: Vì sao xin tòa, tâm nghĩ thì tòa đến, nay xin cơm, vì sao phải sai hóa nhân đến xin? Đáp: Thức ăn thì tùy theo khách đến, cho nên khiến hóa nhân, tòa ngồi thì không tùy theo khách xin tòa, cho nên xin tòa chẳng cần khiến đến xin. Vả lại thần thông biến hóa thì quyền nghi chẳng phải là một, hà tất chỉ khiến hóa nhân, chưa hẳn đều không tin.
Kinh: Mà bảo rằng… mới cùng ngồi thọ thực.
Tán: Từ đây là đoạn truyền lại lời nói, gồm có hai:
1. Nêu xứ sở.
2. Truyền lời nói. Đây là văn nêu xứ sở.
Kinh: Ông đến nơi kia… ở có an lạc chăng.
Tán: Đây là đoạn văn truyền lại lời nói. Gồm có bốn:
1. Dạy phép tắc, tức đến đảnh lễ.
2. Khiến cung kính vấn an, nên nói rằng.
3. Xin cơm.
4. Lý do.
Đoạn này gồm hai câu là một và hai. Bản dịch xưa chỉ có truyền
nói và đảnh lễ, không có lời dạy hóa nhân đến đó đảnh lễ.
Kinh: Lóng tâm nhiễu về bên phải… làm Phật sự.
Tán: Chánh thức nói về xin cơm.
Kinh: Khiến cho các hữu tình thấp kém… tiếng tăm vang khắp.
Tán: Nguyên do xin cơm, có hai:
1. Thấy cơm liền phát tâm gọi là vui thích Đại Tuệ; chúng sinh được lợi ích và phát dương đức của Phật gọi là tiếng tăm vang xa. Do hai nghĩa này mà khiến xin cơm.
Kinh: Bấy giờ, vị hóa Bồ-tát… chân của Phật Hương Đài.
Tán: Phần thứ tư, Hóa nhân thừa oai thần đến xin cơm. Có hai:
1. Thấy đến cõi kia.
2. Nghe truyền lại lời dặn dò.
Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Lại nghe nói rằng… trụ có an vui chăng?
Tán: Nghe truyền lại lời dặn. Có ba câu:
Nghe cung kính thăm hỏi.
Nghe xin cơm.
Nghe nguyên do. Đây là câu thứ nhất.
Kinh: Lóng tâm đi nhiễu bên phải… mà làm Phật sự.
Tán: Đây là câu nói về xin cơm.
Kinh: Khiến hữu tình thấp kém… danh tiếng vang xa.
Tán: Đây là nghe nói nguyên do.
Kinh: Bấy giờ chúng hội Bồ-tát ở phương trên… vì sao gọi là hàng thấp kém thích dục lạc?
Tán: Đoạn lớn thứ tư nói về việc xin được cơm trở về. Gồm sáu ý:
1. Còn ở tại cõi kia chưa về.
2. Được cơm trở về.
3. Mọi người nghe đều vân tập.
4. Khuyên mọi người dùng cơm.
5. Chúng cõi này hỏi về Đức Phật cõi kia.
6. Chúng cõi kia hỏi về Phật pháp ở cõi này.
Trong ý thứ nhất lại có bốn câu:
1. Bồ-tát khen ngợi han hỏi.
2. Đức Phật cõi kia trình bày.
3. Xin nói lại nguyên do.
4. Nói rộng về đức tôn quý.
Tán thán thì có thể tự biết được. Về câu hỏi thì có ba:
1. Hỏi đến phương Đông.
2. Hỏi cõi nước.
3. Hỏi về ý tại sao nói thấp kém.
Tất cả đều như văn kinh đã ghi.
Kinh: Liền hỏi Đức Hương Đài Như Lai tối thượng… vì chúng con mà nói việc này.
Tán: Kết luận xin trả lời giải thích.
Kinh: Đức Phật liền dạy rằng… tuyên dương chánh pháp.
Tán: Đức Phật cõi kia chỉ bày. Gồm hai:
1. Nói về Đức Thích-ca.
2. Nói về ngài Vô Cấu.
Đây là nói về Đức Thích-ca, xuất hiện ở đời có năm điều xấu ác, vì độ các hữu tình dục lạc thấp kém mà tuyên dương chánh pháp. Câu trả lời này đã trả lời hai câu hỏi là trả lời về xứ sở tức từ câu phương dưới…, và trả lời câu hỏi về ý nghĩa hạ liệt ý lạc, tức nói hữu tình ở đời có năm điều xấu ác, tiếng Phạm Khứ-tố-ha, Hán dịch là kham nhẫn, tức hay nhẫn chịu các việc khổ não, như các việc Thiên Thọ ra máu, Thiện Tinh quét sạch dấu vết…
Kinh: Cõi ấy có Bồ-tát tên là… khai thị diệu pháp.
Tán: Đây là nói về ngài Vô Cấu, có hai:
1. Nói về thân mình.
2. Nói về sai hóa Bồ-tát. Đây là ý thứ nhất.
Kinh: Sai hóa Bồ-tát… căn lành tăng tiến.
Tán: Đây là nói về sai khiến hóa Bồ-tát. Sở dĩ xưng dương Ta và cõi này là muốn khiến cho các Bồ-tát cõi kia tăng tiến căn lành, tức là ý nghĩa của câu “Sẽ ưa thích đại tuệ” nói ở trước. Đây là trả lời câu hỏi từ đâu đến.
Kinh: Chúng Bồ-tát cõi kia… không sợ sệt như thế.
Tán: Hỏi lại nguyên do. Ông Vô Cấu Xưng kia đạo đức thế nào mà thần thông vô úy đáng kính nể như thế?
Kinh: Đức Phật kia nói rằng… vô lượng hữu tình.
Tán: Đây là nói rộng về Đức Bồ-tát Sơ địa có thể biến khắp trăm trăm ức cõi nước, Bồ-tát Địa thứ hai có thể biến khắp một ngàn trăm ức cõi, cho đến Bồ-tát Địa thứ mười có thể biến cùng khắp tất cả cõi nước trong mười phương. Trong giây lát có thể khiến hóa nhân đi khắp nơi làm Phật sự, lợi lạc loài hữu tình. Ông Vô Cấu Xưng kia, đức và vị đã
cao tột, nên mới được như thế.
Kinh: Bây giờ, Hương Đài Như Lai tối thượng… tay của hóa Bồ-tát.
Tán: Đoạn thứ hai, xin được cơm trở về, gồm bảy câu:
1. Hương Đài và cơm.
2. Bồ-tát xin đi.
3. Đức Phật cõi kia chấp nhận.
4. Bồ-tát đến cõi này.
5. Hóa tòa ngồi tiếp khách.
6. Mùi hương của cơm xông khắp.
7. Đại chúng nghe đều khoan khoái và kinh ngạc.
Đây là văn thứ nhất. Có một vật chứa mùi hương hay sinh ra các
mùi hương đựng đầy loại cơm thơm, trao cho hóa Bồ-tát. Nhờ Phật lực gia bị mà có đầy cơm để trao cho, đó là hiển thị Phật Từ bi muốn lợi ích tất cả, tự làm đầy cơm trao cho thì hoặc để hiển thị do Phật chưa hẳn đã tự đầy.
Kinh: Bấy giờ, cõi Phật kia… nghe chánh pháp.
Tán: Thứ hai, Bồ-tát xin đi. Xin đi đến cõi này lễ kính Tam bảo. Đây là lễ kính Phật và nghe chánh pháp. Bản dịch xưa không có ghi pháp.
Kinh: Đồng muốn chiêm ngưỡng lễ kính… gia hộ cho phép.
Tán: Đây là kính lễ Tăng. Trình bày ý xin đi, nguyện mong cho phép.
Kinh: Đức Phật cõi kia dạy rằng… nay đúng là lúc nên đi.
Tán: Thứ ba, Phật cho phép và dặn bảo. Có hai ý:
1. Cho phép.
2. Dặn bảo.
Đây là ý thứ nhất.
Kinh: Các ông phải nên… mê mờ buông lung.
Tán: Đây là lời dặn bảo, có ba:
1. Bảo nên thâu nhiếp mùi hương.
2. Ẩn dấu sắc tướng.
3. Bảo khi đến thế giới kia chớ nên sinh ý tưởng cho là thấp kém. Hoặc đầu tiên nói về người, kế đó nói về thế giới cho nên dặn bảo. Đầu tiên có hai lời bảo, đây là lời văn thứ nhất. Thế giới kham nhẫn chỉ có mùi hôi chẳng có hương thơm, nên vừa nghe mùi hương vi diệu, e rằng sinh mê mờ đắm nhiễm yêu thích, đã mê muội rồi thì không thể rõ biết bèn sinh buông lung, chẳng tự sách tấn.
Kinh: Các ông nên tự ẩn dấu sắc tướng… tâm sinh xấu hổ.
Tán: Đây là bảo nên ẩn dấu sắc tướng. Bậc Đại Bồ-tát cõi kia có tướng quý và vẻ đẹp trang nghiêm thân, sắc tướng đẹp đẽ bậc nhất. Các vị Bồ-tát nhỏ ở cõi này tùy thuận cõi xém xấu mà sinh, nên bên ngoài không có sắc tướng đẹp đẽ, vậy khi nhìn người xem lại mình thì tâm sẽ sinh hổ thẹn, vì thế nên phải ẩn dấu sắc tướng chớ khiến họ sinh tâm kia.
Kinh: Các ông ở nơi… mà làm chướng ngại.
Tán: Bảo đến cõi kia chớ nên sinh ý tưởng cho là hạ liệt. Đầu tiên là nêu lên, sau là giải thích.
Đây là phần đầu. Thế giới Diệu Hương đều do hương quý giá tạo thành, thế giới này toàn là nơi dơ xấu thật thấp kém. Chướng ngại có hai: Đối với thế giới sinh ý tưởng thấp kém, thì tâm sinh ti tiện chẳng kính Phật cõi ấy chẳng thể độ sinh, tự làm chướng ngại; hai là, đối với thế giới sinh ý tưởng thấp kém, thì tâm sinh thấp hèn chẳng hóa độ người, làm chướng ngại cho chúng sinh ở cõi ấy.
Kinh: Vì sao?… không sai biệt.
Tán: Đây là giải thích ý dặn bảo. Tất cả cõi nước không có thật thể, giống như hư không, hoặc là cõi pháp tánh không có tướng trạng, như hư không, đâu có gì là thiện, là ác? Chư Phật vì hóa độ quần sinh, nên tùy chỗ ưa thích mà thị hiện, nhiễm hay tịnh không nhất định. Nhưng báo độ do Phật cảm nên thì thanh tịnh không sai khác, cho nên biết cõi của Đức Thích-ca là uế là do tùy chỗ ưa thích mà hiện, nhưng bản độ thanh tịnh không khác với cõi của Ta, vì thế chẳng nên sinh ý tưởng cho cõi kia là thấp kém.
Kinh: Bây giờ, vị Hóa Bồ-tát… tự nhiên hiện ra.
Tán: Thứ tư, chúng cõi kia đến cõi này. Đức Phật kia cho phép đến để hợp với ý của Tịnh Danh, tâm Vô Cấu nghĩ để lợi lạc chúng sinh hợp cơ. Cho nên cả hai nương vào oai thần mà tự nhiên hiện đến.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… đều ngồi trên đó.
Tán: Đoạn thứ năm là hóa hiện các tòa ngồi để tiếp khách. Sắp đặt tòa ngồi để tiếp đãi khách là phép tắc thông thường, cho nên phải hóa hiện ra để khách quý ngồi.
Kinh: Bấy giờ, vị Hóa Bồ-tát… mùi hương thơm ngào ngạt.
Tán: Thứ sáu, hương của cơm xông khắp, gồm ba ý:
1. Trao bát chứa cơm.
2. Xông khắp thế giới.
3. Do mùi hương thơm ngào ngạt, tất cả đều như văn kinh đã ghi,
có thể tự biết.
Kinh: Thành lớn Quảng Nghiêm… thân tâm thư thái.
Tán: Thứ bảy, đại chúng nghe mùi hương thân tâm thư thái và kinh ngạc.
Kinh: Bấy giờ, trong thành này… vào thất của ông Vô Cấu Xưng.
Tán: Đoạn thứ ba nói về mọi người nghe mùi hương vân tập đến. Có hai ý:
1. Vua và nhân dân vào trượng thất.
2. Trời thần cùng đến.
Đây là muốn hiển thị việc đáng tôn quý, u và hiển đều đầy đủ. Vua và nhân dân gồm có ba:
1. Vào.
2. Khen ngợi.
3. Lễ kính.
Đây là phần thứ nhất. Người nghe mùi hương ở gần đều đến.
Kinh: Thấy trong ngôi trượng thất này… khen là điều chưa từng có.
Tán: Thứ hai, khen ngợi. Thấy rất nhiều người, thấy tòa cao rộng, cho nên tâm sinh vui vẻ, khen là điều chưa từng có.
Kinh: Lễ các Bồ-tát… lại đứng về một bên.
Tán: Thứ ba là lễ kính. Bồ-tát và Thanh văn biến thân tướng xứng với tòa, các người đến thấy thế, liền kính lễ.
Kinh: Bấy giờ, các Địa thần… đến trượng thất của Vô Cấu Xưng.
Tán: Đây là trời thần đến. Hàng có oai linh nghe hương theo lý phải tìm đến, hà huống các vị có oai đức nghe rồi mà chẳng đến sao? Chư Thiên ở cõi Sắc tuy không có tỷ thức, nhưng các Thánh căn liên quan nhau, cho nên nghe được mùi hương cũng đã đến; lẽ ra phải nói y nơi định mà biết mùi hương, cho nên cũng đến.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… thức ăn có vị cam lộ.
Tán: Đoạn thứ tư, khuyên mọi người thọ thực, gồm sáu:
1. Khuyên tất cả đều dùng.
2. Có người nghĩ cơm ít.
3. Hóa nhân cật vấn.
4. Ăn xong vẫn còn thừa.
5. Ăn xong thân tâm được an lạc.
6. Thân phát ra mùi hương.
Đây là văn thứ nhất, lại có hai câu:
1. Khuyên.
2. Răn dạy.
Đây là lời khuyên. Món cơm này là vị cam lộ do Hương Đài Như Lai ban cho, có thể làm tiêu tất cả những phiền não độc hại, đó là thức ăn có vị thượng diệu.
Kinh: Món cơm như thế… nhất định chẳng thể tiêu.
Tán: Đây là lời răn dạy. Chư Phật thực hành Đại bi, huân kết thân tâm mà biến sinh món cơm này, vốn muốn làm lợi ích loài hữu tình, chớ nên dùng tâm thấp kém có một ít lợi lạc sinh tử mà ăn món cơm này, không có từ bi thì nhất định cơm chẳng tiêu, đó là ý nghĩa răn dạy quần sinh.
Kinh: Bấy giờ, trong chúng… đại chúng nhiều như thế.
Tán:Thứ hai, có vị nghĩ cơm có quá ít.
Kinh: Hóa Bồ-tát… vô lượng phước tuệ.
Tán: Thứ ba, hóa Bồ-tát cật vấn, có hai ý:
1. Lược hỏi.
2. Giải thích rộng.
Lược hỏi lại có hai:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
Đây là phần nêu lên. Món cơm này là do Như Lai ban cho, chớ nên dùng ít phước nhỏ để nghĩ là chẳng đủ.
Kinh: Vì sao… rốt cuộc chẳng thể hết.
Tán: Đây là lời giải thích. Nước ở biển thì vô cùng, món cơm cũng vô tận. Do sức Phật lập bày cho nên như thế.
Kinh: Giả sử vô lượng đại thiên thế giới… còn chẳng thể hết.
Tán: Giải thích rộng nghĩa đã nêu trên, gồm có hai: Đầu tiên là nêu lên, sau là giải thích. Giả sử tất cả hữu tình trong cõi đại thiên, mỗi mỗi dùng tay vắt một nắm cơm này to như núi Diệu cao, trải qua một kiếp mà ăn vẫn không thể hết.
Kinh: Vì sao?… rốt cuộc chẳng thể hết.
Tán: Giải thích lý do. Năm phần pháp thân như trước đã giải thích. Thức ăn từ vô biên nhân này sinh ra, nên quả cũng vô lượng, Phật dùng còn thừa, cho nên hữu tình trải qua một trăm kiếp ăn vẫn chẳng hết.
Kinh: Bấy giờ, đại chúng… mà vẫn còn thừa.
Tán: Ăn xong vẫn còn thừa. Vừa thấy bát cơm thì nghĩ chỉ một người ăn là hết, nhưng nhờ đức của Phật gia hộ, cho nên ăn không bao giờ hết.
Kinh: Bấy giờ, các Thanh văn…
Tán: Thứ năm, ăn xong được an lạc. Đầu tiên là nêu pháp, sau là dụ. Được mùi hương vi diệu giữ gìn, oai đức của bậc Thánh tiếp dẫn, vốn vì muốn cứu giúp chúng sinh, cho nên thân an lạc. Nêu dụ nói rằng người ăn cơm này thì thân như thân an định của các Bồ-tát ở thế giới an lạc trang nghiêm, trong tất cả báo độ ở mười phương, vui vẻ khoan khoái không còn phiền não, giống như cõi kia. Không chỉ ở thế giới cực lạc Tây phương mà cả thế giới an lạc ở mười phương, đều được lấy làm dụ.
Kinh: Các lổ chân lông trên thân… các mùi hương vi diệu.
Tán: Thứ sáu, thân phát ra mùi hương. Người ăn cơm này cũng như các cây Diệu Hương trong cõi Diệu Hương ở mười phương, thường phát ra mùi hương, ngày đêm không dứt. Không chỉ lấy cây hương ở thế giới Diệu Hương ở phương trên làm dụ mà lấy tất cả thế giới Diệu Hương ở mười phương làm dụ, ý nghĩa cũng không khác.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… thuyết pháp như thế nào?
Tán: Đoạn thứ năm hỏi Đức Phật kia, gồm có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là lời hỏi. Giai vị thấp, có người chẳng biết, cho nên thử hỏi xem các ông có biết chăng?
Kinh: Các Bồ-tát cõi kia… thảy đều điều phục.
Tán: Đây là lời đáp, có hai:
1. Trả lời sự bất đồng.
2. Giải thích tướng lợi ích.
Đây là văn thứ nhất. Chẳng giống với cõi nước này căn cứ vào âm thanh mà phát khởi ngôn từ để thuyết pháp, mà chỉ dùng mùi hương vi diệu, khiến họ dứt ác. Cho nên nói điều phục.
Kinh: Các Bồ-tát cõi kia… công đức của Bồ-tát.
Tán: Giải thích tướng lợi ích. Bồ-tát tọa thiền dưới gốc cây hương này, mùi hương phát ra các vị này nghe được liền đạt được định thù thắng. Định là căn bản để phát tuệ, công đức của Bồ-tát đầy đủ do đây mà sinh. Định hay phát sinh tất cả công đức, cho nên gọi là định nhất thiết đức trang nghiêm.
Kinh: Bấy giờ, các vị Bồ-tát ở phương trên… thuyết pháp như thế nào.
Tán: Đây là đoạn thứ sáu các Bồ-tát cõi kia hỏi pháp ở cõi này. Toàn văn gồm có sáu phần:
1. Hỏi về hóa nghi.
2. Trả lời về hóa pháp.
3. Bồ-tát cõi kia khen ngợi.
4. Nói về việc thành tựu.
5. Hỏi về nhân sinh tịnh độ.
6. Trả lời về nghiệp đắc sinh tịnh độ. Đây là phần thứ nhất.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… mà điều phục giáo hóa họ.
Tán: Thứ hai, là trả lời về hóa pháp, có ba:
1. Nêu lên là dùng lời.
2. Luận riêng về tướng của lời nói.
3. Giải thích nguyên do của lời nói.
Đây là ý thứ nhất. Phàm giáo hóa là phải thích ứng với cơ nghi, cơ nghi đã khó điều phục, thì việc giáo hóa phải cứng chắc, dùng lời nói dẫn dắt làm lợi ích. Nếu đầu tiên chúng sinh tin theo, thì nên dùng mùi hương để hướng dẫn. Vì chúng có trái nghịch nên phải dùng lời nói cang cường để giáo hóa mà điều phục họ.
Kinh: Vì sao gọi là… lời nói cang cường?
Tán: Đây là luận riêng về tướng của lời nói, có ba là hỏi, đáp và kết luận thành tựu ý nghĩa. Đây là lời hỏi.
Kinh: Tức nên nói… đây là các căn thiếu khuyết.
Tán: Đây là lời đáp, có hai:
1. Gồm bốn đoạn nêu lên nhân ác quả ác khiến mọi người nhàm chán xa lìa.
2. Gồm hai mươi đôi, chỉ chung về thiện ác khiến người sinh vui thích và nhàm chán.
Đây là đoạn thứ nhất gồm năm câu nêu lên quả ác. Vô hà sinh nghĩa là sinh vào tám cõi không an ổn, nghĩa vô hà như trước đã giải thích. Trong ba ác thú, lẽ ra nên nói xứ sở, hình lượng, tướng khổ thọ mạng có hạn, như những chỗ khác đã nói, nhưng sợ văn dài dòng nên không thuật,
Kinh: Đây là thân làm việc ác… là quả của ý làm việc ác.
Tán: Thứ hai gồm ba câu nêu lên nhân quả ác của ba nghiệp. thể tánh của ba nghiệp có biểu hiện và không biểu hiện. Các văn nhiều ít, thế giới rộng hẹp, đều như đã nói ở chương trước, nhưng chung cho ba loại là căn bản, gia hạnh và hậu khởi, nghiệp nặng nhẹ, tất cả đều thuộc vào đây. Cho nên ngoài mười nghiệp đạo ác lại nói riêng về ba nghiệp. Nghiệp đạo chỉ có nặng vì chỉ thuộc căn bản.
Kinh: Đây là đoạn sinh mạng (sát sinh)… là quả của dục tà hạnh.
Tán: Đoạn thứ ba gồm mười câu nêu lên nhân quả của mười nghiệp đạo ác. Thân có ba ác, “bất dữ thủ” bản xưa ghi là trộm cắp; không chỉ cướp đoạt trộm cắp mới gọi là thuộc tội này; nay muốn hiển thị tất cả những vật người không cho mà cưỡng lấy đều thuộc về tội này, cho nên gọi là bất dữ thủ. Dục tà hạnh, dục tức tham dục, hiển thị tất cả thời đều là tham dục cho nên muốn cái chẳng phải vật của mình. Dẫu là của mình mà hành phi thời, phi xứ, phi lượng, phi độ thì cũng thành nghiệp đạo… khác với của mình mà hành phi nghiệp đạo, nên gọi là tà hạnh.
Kinh: Đây là lời hư dối… là quả của lời nói tạp uế.
Tán: Đây là bốn ác về lời nói. Tâm cảnh trái nhau thì gọi là hư, khiến cho người khác hiểu việc này thì gọi là dối gạt. Nếu lời vọng nói sinh tử là thật ngữ cũng gọi là vọng ngữ, vì thể đều hư vọng. Ly gián ngữ, bản dịch xưa ghi là lưỡng thiệt; lưỡng đầu thủ thiệt có thể gọi là lưỡng thiệt; ngũ đầu thủ thiệt có thể gọi là ngũ thiệt. Do đó nên gọi là ly gián ngữ, tức dùng lời nói chia cách tình thân hảo của người. Thô ác ngữ, bản dịch xưa ghi là ác khẩu, đây chẳng là miệng ác mà là lời ác, vì phát ra lời hèn kém, thô bỉ của thế tục, đáng ghét nên gọi là thô ác ngữ. Tạp uế ngữ, bản dịch xưa ghi ỷ ngữ, trau chuốt gọi là ỷ, các lời khen tặng đều gọi là ỷ ngữ. Nay nói tạp uế, thì dùng văn từ trau chuốt tạp nhạp, bỉ ổi nên gọi là uế, các lời khen tặng không có các lỗi này.
Kinh: Đây là tham dục… quả báo của tà kiến.
Tán: Đây là ba nghiệp ác của ý. Tên của quả ác nghiệp này mỗi mỗi có bốn:
1. Quả dị thục, tức là tạo mười nghiệp đạo ác phẩm hạ, sinh vào ngạ quỷ, tạo mười nghiệp đạo ác phẩm trung thì sinh vào súc sinh; tạo mười nghiệp đạo ác phẩm thượng thì sinh vào Na-lạc-ca. Quả trời người thì đều do nghiệp thiện chiêu cảm. Dẫu cho có nghiệp quả bất thiện của biệt báo thì chẳng gọi là Dị thục. Do đó chỉ nói tại ba ác thú.
2. Quả đẳng lưu, tức là từ đường ác chết đi sinh vào cõi người; do sát sinh, cho nên thân nhiều bệnh thọ mạng ngắn ngủi; do bất dữ thủ cho nên nghèo cùng, do dục tà hạnh nên vợ chẳng trinh thuận; do nói lời hư dối nên luôn bị phỉ báng, do nói lời ly gián nên bạn bè chia cách; do nói lời thô ác nên luôn nghe những âm thanh không như ý; do nói lời tạp uế nên lời nói chẳng nghiêm túc, do tham dục nên tham tâm càng mạnh, do sân hận nên tâm sân càng lớn, do tà kiến nên tà kiến càng tăng.
3. Quả tăng thượng, do sát sinh cho nên tất cả những vật dụng đều thiếu thốn hoặc chẳng có gì, do bất dữ thủ cho nên phần nhiều gặp sương và mưa đá, do dục tà hạnh nên thường gặp bụi bặm; do nói lời hư
dối nên thường gặp mùi hôi thối, do nói lời ly gián nên thường gặp chốn hiểm trở; do nói lời thô ác, nên nơi đất sinh sống thường là dơ xấu, đá sỏi, chua mặn, do nói lời tạp uế nên thường gặp thời tiết biến đổi trái nghịch, do tham dục nên quả hạt được ít, do sân hận nên mùi vị của quả thường đắng cay; do tà kiến nên mùi vị của quả đắng hoặc cay hoặc hoàn toàn không kết quả.
4. Quả sĩ dụng, khiến cho hai pháp tương ưng và câu hữu tăng trưởng, hoặc cho rằng không có một thể riêng biệt, tức do năm uẩn giả của ba quả trên chiêu cảm, không có nhiều tướng riêng biệt, cho nên không kể ra. Mỗi một quả như thế đều đã được luận Du-già năm mươi chín, sáu mươi; luận Đối Pháp bảy, và kinh này đã nói.
Kinh: Đây là xan lận… là quả báo của ngu si.
Tán: Đoạn thứ tư có sáu câu nói về nhân quả của sự xấu ác, cũng gồm có ba quả, theo trước tự có thể biết, tùy theo nghĩa mà phối hợp.
Kinh: Đây là sở học đã thọ nhận… đây chẳng phải là điều nên làm (phi ưng tác).
Tán: Đây trở xuống là hai mươi đôi đối đãi. Bản dịch xưa chỉ có mười chín đôi chung cho thiện ác, khiến người sinh tâm chán ghét hoặc ưa thích. Đoạn này gồm ba đôi. Sở học đã thọ tức là giới luật khi mới thọ. Trì biệt giải thoát tức là giữ già giới, hoặc đầu tiên là già giới, sau là tánh giới; hoặc sau là đầu tiên vì đầu tiên đã xa lìa ác; hoặc đầu tiên là sau cùng, vì khiến lãnh thọ; giải thích theo trên thì có thể biết. Đây là ưng tác tức là tác trì giới; phi ưng tác tức chỉ trì giới hoặc tác phạm giới.
Kinh: Đây là Du-già… đây chẳng phải là chướng ngại.
Tán: Đoạn này gồm ba đôi đối đãi. Du-già nghĩa là quán hành tương ưng. Vĩnh đoạn tức dùng Thánh đạo diệt trừ. Chướng ngại tức là pháp chướng ngại Thánh đạo.
Kinh: Đây là phạm tội… đây là tà đạo.
Tán: Đoạn này gồm ba đôi. Xuất tội tức pháp sám hối. Tạp nhiễm, nhiễm nghĩa là phiền não… cùng với nhiễm xen lẫn, tức các pháp hữu lậu.
Kinh: Đây là thiện… đây là lỗi lầm.
Tán: Đoạn này gồm sáu đôi. Thuận với chánh lý lợi ích hữu tình gọi là thiện; có thể bị hủy hoại gọi là thế gian, đáng chán đáng sợ gọi là tội. Lậu tức phiền não, giống như ngôi nhà rách nát dơ xấu, rất đáng chán ghét. Vì có các phiền não này nên gọi là hữu lậu; làm điều đó nên gọi là tác, có chỗ làm đó nên gọi là hữu vi. Gia công mà được đức này
nên gọi là công đức, giải thích theo trên có thể biết.
Kinh: Đây là hữu khổ… đây là Niết-bàn.
Tán: Đoạn này gồm năm đôi. Bức bách gọi là khổ, vui thích gọi là lạc; pháp ác thì đáng chán, pháp kém thì đáng bỏ, phiền nhiễu là sinh tử, theo trên thì có thể biết.
Kinh: Các pháp như thế có vô lượng môn.
Tán: Đây là đoạn tổng kết. Các môn kể từ trên đến đây gọi là vô lượng nghĩa, sợ dài dòng nên không thuật đủ, nên như lý mà suy tìm, các chúng sinh ở cõi khác căn cơ lanh lợi dễ giáo hóa, thấy ánh sáng… liền có thể vào đạo, cõi này chẳng như thế, cho nên mỗi mỗi cần phải chỉ dạy rõ ràng.
Kinh: Hữu tình ở cõi này… khiến cho họ điều phục.
Tán: Giải thích nguyên do dùng lời nói, gồm ba:
1. Pháp.
2. Dụ.
3. Hợp.
4. Đây là pháp.
Kinh: Ví như voi ngựa… sau đó mới điều phục được.
Tán: Đây là phần dụ. Bản xưa gồm hai dụ. Gia sở độc tức là dùng roi gậy đánh đập khổ sở.
Kinh: Các hữu tình cang cường ở cõi này như thế… hướng vào chánh đạo.
Tán: Đây là phần hợp. Hối tức chỉ bày; dụ tức hiển dụ, tha thiết hiển dụ chỉ bày, khiến cho họ điều phục mà hướng vào chánh vị.
Kinh: Bấy giờ, các Bồ-tát ở phương trên… được pháp chưa từng có.
Tán: Thứ ba là khen ngợi, gồm hai câu:
1. Được pháp chưa từng có.
2. Phát lời khen ngợi. Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Đều nói rằng… điều phục nhiếp ích.
Tán: Đây là lời khen ngợi. Đầu tiên khen ngợi Đức Như Lai, sau khen ngợi các Bồ-tát. Thích-ca tức là Năng là họ của Đức Phật; Mâu- ni tức Tịch Mặc. Hay tịch mặc (vắng lặng) các pháp ác nơi sinh tử, cho nên gọi là Năng Tịch. Thích-ca là họ, Cù-đàm là Vọng; Hán gọi là Nhật Chích, còn gọi là Cam giá, người có họ là Lô là Quỷ tử lô, thuộc về lô này thì trọng vọng còn lô khác thì chẳng phải. Như họ Thích-ca là Cù- đàm Thích-ca, thuộc họ Thích-ca này là đáng trọng vọng, còn Thích-ca
khác thì chẳng phải. Bản duyên của ngài thì có chương riêng. Thật đức của Phật Thích-ca, ca ngợi chẳng bao giờ cùng, nay hiện sinh làm thân thấp kém cho nên gọi là che dấu. Chúng sinh cực ác cho nên gọi là hạ liệt. Không có pháp tài của bậc Thánh cho nên gọi là nghèo cùng, điều phục tức đoạn ác, nhiếp ích tức ban cho điều thiện.
Kinh: Các Bồ-tát này… hữu tình khó hóa độ.
Tán: Khen ngợi Bồ-tát. Nhẫn chịu các sự mệt nhọc, nghĩa là khi làm lợi lạc chúng sinh có nhiều việc khổ não. Tối thắng, hy hữu, vững chắc nghĩa là các việc não loạn không làm cho lui sụt. Vượt trên ngoại đạo… gọi là thắng tinh tấn, thế gian khó gặp nên gọi là hy hữu; chẳng thể lui sụt nên gọi là vững chắc, chẳng thể nghĩ bàn là lời khuyên gắng sâu xa. Đại bi tinh tấn là vì chúng sinh mà phát khởi. Lời tinh tấn này chung cho các nghĩa trên là thắng, hy hữu, vững chắc, chẳng thể nghĩ bàn, đại bi.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… hữu tình khó giáo hóa.
Tán: Thứ tư, thuật lại. Có hai:
1. Thuật lại.
2. Khen những điều hơn.
Đây là thuật lại lời khen ngợi Như Lai đã nói ở trước.
Kinh: Các Bồ-tát… vô lượng hữu tình.
Tán: Đoạn này là thuật lại lời khen ngợi các vị Bồ-tát đã nói ở trước.
Kinh: Đại sĩ nên biết!… công đức đạt được.
Tán: Tán thán những điều hơn, gồm có ba:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là phần đầu.
Ở cõi này tu hành các hạnh Bồ-tát thì hay nhẫn chịu gian khổ mà siêng năng, làm lợi ích rộng khắp, vì thế một đời tu phước còn hơn ở cõi Nhất thiết Diệu Hương, tu tập trăm ngàn kiếp.
Vì các việc ở cõi này đều do mùi hương tạo thành cho nên gọi là Nhất thiết.
Kinh: Vì sao?… chẳng có.
Tán: Giải thích điều hơn, có hai:
1. Nói nguyên do.
2. Nói về hạnh.
Đây là văn thứ nhất. Do tu mười pháp cứu chúng sinh khổ não,
hơn các cõi Phật khác, trong các cõi Phật khác không có hữu tình khổ não và các phiền não… cũng không có hàng Nhị thừa, cho nên một đời tu tập hơn tu nhiều kiếp.
Kinh: Mười pháp ấy là gì?
Tán: Đây là nêu hạnh, có ba:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là phần nêu lên.
Kinh: 1. Dùng tuệ thí… nhiếp phục kẻ ngu si.
Tán: Đây là sáu đáo bỉ ngạn, trừ sáu pháp tệ hại để nhổ trừ gốc khổ cho hữu tình, các cõi Phật khác, chỉ có hạnh thù thắng, không có sáu pháp tệ hại này.
Kinh: 7. Dùng thuyết pháp trừ tám vô hà… người ưa thích pháp nhỏ.
Tán: Đây là bốn luân phá dẹp tám nạn, nhiếp phục tất cả hữu tình như trước đã nói, các cõi khác không có tám nạn. Dùng pháp Đại thừa để nhiếp phục những người thích pháp Tiểu thừa, các cõi khác không có Tiểu thừa, cho nên là thù thắng.
Kinh: 9. Dùng các căn lành… tất cả hữu tình.
Tán: Các cõi khác không có hạng người chưa gieo trồng thiện căn, tất cả đều là hàng thiện căn đã thuần phục, cho nên cõi này hơn các cõi khác. Cõi khác không có hữu tình theo pháp ác, chẳng cần bốn nhiếp pháp; cõi này thực hành bốn nhiếp, nhiếp phục các hữu tình hành pháp ác, cho nên hơn các cõi kia.
Kinh: Đây là mười pháp thiện tu tập.
Tán: Kết luận.
Kinh: Cõi kham nhẫn này… chẳng có
Tán: Kết luận những điều hơn.
Kinh: Bấy giờ, các vị Bồ-tát cõi kia… sinh vào các cõi tịnh khác.
Tán: Đoạn thứ năm hỏi về nhân tịnh độ. Bồ-tát ở cõi này thực hành mười pháp đã nêu, trụ ở giai vị trước mười Địa, thành thục được mấy pháp mà chẳng hủy hoại pháp này, không làm tổn thương hạnh thiện? Hoặc chẳng hủy hoại hạnh thiện, không tổn thương mà khởi pháp ác, được trụ ở giai vị Thập địa, sau sinh vào tịnh độ? Nếu đã trụ ở mười Địa thì tự tại sinh vào tịnh độ, chẳng cần nhờ câu hỏi này.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… sinh vào các tịnh độ khác.
Tán: Đoạn thứ sáu, đáp về nghiệp được tịnh độ, gồm ba phần:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là phần một.
Kinh: Tám pháp là gì?
Tán: Đây là giải thích, có hai:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
Đây là nêu lên.
Kinh: 1. Bồ-tát tư duy rằng… mong cầu thiện báo.
Tán: Đây là lời giải thích thế nào là tám. Thấy người đối với mình mà có ơn, thành Bồ-đề của mình, chẳng phải mình có ích cho người, vì chẳng thấy sự lợi ích lớn. Huống hồ ba việc đều không mà lại có mong cầu thiện báo?
Kinh: 2. Các Bồ-tát nên nghĩ rằng… thảy đều hồi hướng cho tất cả.
Tán: Tâm đại bi vận dụng rộng khắp, thay thế chúng sinh chịu khổ. Tâm đại bi rộng lớn hồi hướng thiện căn cho tất cả.
Kinh: 3. Bồ-tát nên suy nghĩ… tâm không quái ngại.
Tán: Oán thân chẳng hai, bình đẳng thực hành cứu độ, chẳng vì yêu ghét, tâm không chướng ngại. Quái tức là chướng.
Kinh: 4. Bồ-tát nên nghĩ rằng… thương kính như Phật.
Tán: Kiêu tức buông thả, thân tâm buông lung, mạn tức cao ngạo, tôn mình mà khinh người. Kiêu có bảy loại: Kiêu vì thân không bệnh; kiêu do tuổi trẻ; kiêu do sống lâu, kiêu do dòng họ tôn quý, kiêu do có sắc lực; kiêu do giàu sang; kiêu do đa văn. Mạn cũng có bảy loại:
1. Mạn, người kém thì cho là mình hơn, hoặc người hơn thì cho là bằng mình.
2. Quá mạn, đối với người hơn mình thì cho rằng mình bằng người, và nếu người bằng mình thì cho rằng mình hơn người.
3. Mạn quá mạn, người hơn mà cho rằng mình hơn.
4. Ngã mạn tức tự thị cao ngạo.
5. Tăng thượng mạn, tức được ít cho là được nhiều.
6. Ti mạn, tức người hơn mình nhiều phần mà cho rằng mình chỉ kém người ít phần.
7. Tà mạn, nghĩa là mình hoàn toàn vô đức mà cho rằng mình có đức. Xưa do bên trong kiêu nên bên ngoài sinh mạn, vì thế mà trầm luân trong sinh tử, nay nên trừ bỏ, tôn kính người như Phật.
Kinh: 5. Bồ-tát nên suy nghĩa rằng… không nghi không phỉ báng.
Tán: Xưa chẳng nghe pháp, dẫu có nghe thì sinh nghi ngờ bài báng, nên trầm luân nơi sinh tử. Nay được nghe thì nên đoạn nghi, trừ dứt tâm báng bổ.
Kinh: 6. Bồ-tát nên suy nghĩ… chẳng sinh kiêu mạn.
Tán: Xưa thường hay ganh ghét đố kỵ với sự vinh quý của người, còn mình có lợi thì kiêu mạn, cho nên trầm luân nơi sinh tử. Nay thấy người có lợi thì không tật đố, mình có lợi thì không kiêu căngg.
Kinh: 7. Các Bồ-tát nên suy nghĩ… chẳng chê lỗi người.
Tán: Điều phục tự tâm, xa lìa pháp ác. Vì tâm động loạn như khỉ vượn khó chế phục, cho nên cần phải điều phục. Mỗi ngày ta ba lần tỉnh xét còn là lòng nhân của thế gian, huống hồ là luôn luôn xét nghĩ đến lỗi của mình, chẳng hủy báng lỗi người, chẳng phải là Bồ-tát ư?
Kinh: 8. Bồ-tát nên suy nghĩ… pháp Bồ-đề phần.
Tán: Đối với pháp ác chẳng nên buông lung, đối với pháp thiện nên luôn luôn cầu thực hành, tu pháp Bồ-đề phần, từng không si mê biếng trể.
Kinh: Thế giới kham nhẫn… sinh vào tịnh độ khác.
Tán: Đây là lời kết luận.
Kinh: Vô Cấu Xưng… Vô sinh pháp nhẫn.
Tán: Đoạn thứ năm của phẩm nói về chúng đương thời được lợi ích. Người chưa cầu thú hướng thì đồng phát tâm. Người đã tu hành thì được Vô sinh nhẫn.
-------------------------------
PHẨM 11: BỒ TÁT HẠNH
Tất cả mười một phẩm đều chánh thức nói về phần bản tông, trong đó lại có ba: Chín phẩm trên nói về cảnh Bồ-tát, một phẩm này nói về hạnh Bồ-tát. Biết cảnh mới khởi hạnh. Nghĩa của từ Bồ-tát thì như trên đã giải thích. Hạnh tức là nhân nghiệp, tức nhân nghiệp mà Bồ-tát tu tập để thành Phật. Phẩm này nói rõ về việc trên cho nên gọi là phẩm Bồ-tát hạnh.
Kinh: Lúc bấy giờ, Đức Phật còn ở tại vườn Am-la-vệ… đều hiện sắc vàng.
Tán: Toàn phẩm được phân làm ba đoạn:
1. Hiện tướng khi chưa đến Am viên.
2. Trình bày khi đã đến chỗ Phật.
3. Bồ-tát khen ngợi xin trở về.
Trong phần một lại có ba:
1. Chưa đến mà đã hiện tướng.
2. A-nan kinh lạ thưa hỏi.
3. Thế Tôn chỉ dạy.
Đây là văn thứ nhất. Các vị Bồ-tát muốn đến Am viên nên hiện trước các tướng:
1. Biến rộng lớn, vì tăng trưởng hạnh Đại thừa.
2. Biến trang nghiêm thanh tịnh, vì diệt phiền não.
3. Biến thành màu vàng ròng, hiển thị thành tựu quả vị thù thắng bậc nhất.
Kinh: Lúc bấy giờ, A-nan-đà… đều hiện màu vàng ròng.
Tán: A-nan kinh ngạc thưa hỏi, chẳng biết những tướng này, nên hỏi do ai tạo ra.
Kinh: Đức Phật bảo Cụ Thọ A-nan-đà… hiện trước các tướng này.
Tán: Thế Tôn chỉ dạy.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng… nghe nhận diệu pháp.
Tán: Đoạn thứ hai, trình bày khi đến chỗ Phật. Văn gồm bốn phần:
1. Thảo luận về việc muốn đến.
2. Đến rồi kính lễ.
3. Thế Tôn chỉ ra và hỏi.
4. Nghe mùi hương, kinh lạ thưa hỏi.
Trong phần một lại được chia hai:
1. Vô Cấu thảo luận.
2. Ngài Các Tường trả lời nên đến.
Đây là văn thứ nhất. Phật sai bảo đến thăm bệnh, theo lý đã hợp, tự luận biết, huống hồ lại muốn chiêm ngưỡng mà nghe pháp, nên cùng với đại chúng đến chỗ Phật sao?
Kinh: Bồ-tát Diệu Các Tường nói… có thể cùng đi.
Tán: Ngài Các Tường đáp nên đến. Chúng sinh căn cơ đã thuần thục lại thêm Thế Tôn đã vận tâm Từ bi rộng khắp, cho nên đúng là lúc nên cùng đến.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… thẳng đến chỗ của Phật.
Tán: Thứ hai, đã đến và đảnh lễ, gồm có ba:
1. Dùng bàn tay đưa đại chúng di.
2. Đã đến liền kính lễ.
3. Đức Phật bảo ngồi.
Đây là văn thứ nhất. Dùng thần cảnh thông, làm cho đại chúng chẳng rời tòa ngồi, đặt tòa vào lòng bàn tay mang đến chỗ của Phật.
Kinh: Đến xong bèn bước xuống đất… đứng một cánh nghiêm trang.
Tán: Đã đến và đảnh lễ, gồm có ba:
1. Vô cấu đảnh lễ.
2. Bồ-tát đảnh lễ.
3. Đại chúng đảnh lễ.
Đây là đoạn một. Mọi người bước xuống đất, tự lễ kính Đức Thế Tôn, đi nhiễu rồi lại trang nghiêm mà đứng. Đảnh lễ thì năm chi đếu tiếp đất để biểu thị sự tôn kính, nhiễu theo chiều bên phải là biểu thị cho sáu thần thông hiện hóa; bảy vòng biểu thị diệt bảy tùy miên, được bảy giác phần, thành tựu bảy thanh tịnh; hướng về Phật tức biểu thị được Nhất thiết trí địa, được nhất vô tướng, chắp tay biểu thị thầm hợp chân cảnh, nghiêm trang mà đứng là may được Phật dạy bảo.
Kinh: Các Đại Bồ-tát… nghiêm trang mà đứng.
Tán: Đây là Bồ-tát lễ kính.
Kinh: Các đại Thanh văn… nghiêm trang mà đứng.
Tán: Đại chúng kính lễ, mới đến nên tôn kính, liền xuống tòa làm lễ; nghe pháp rồi sẽ đi, cho nên nghiêm trang mà đứng.
Kinh: Bấy giờ, Đức Thế Tôn… mỗi mỗi đều đến tòa của mình.
Tán: Đức Phật bảo đến tòa ngồi. Đầu tiên là bảo. Sau là ngồi. Đây là lời bảo. Tiếp người đến có lễ kính, nên như pháp thăm hỏi. Sắp ngộ Thánh đạo, nên bảo mỗi mỗi trở về tòa.
Kinh: Bấy giờ, đại chúng… cung kính mà ngồi.
Tán: Vâng mệnh chẳng dám xem thường. Mỗi mỗi đều trở về tòa của mình; biểu thị sắp được Niết-bàn, vì thế trước là ngồi, ngồi ắt sẽ đến lúc nằm, nằm là cực Niết-bàn.
Kinh: Bấy giờ, Thế Tôn… chỗ làm.
Tán: Thứ ba, Thế Tôn chỉ bày và hỏi, gồm có bốn:
1. Đức Phật hỏi.
2. Xá-lợi Tử đáp.
3. Hỏi lại.
4. Xá-lợi Tử thuật.
Đây là văn thứ nhất. Đại sĩ Vô Cấu trụ ở vị giải thoát, do việc bậc nhất này mà gọi là trí tối thắng, tự tại hóa hiện nên gọi là tự tại; diệu dụng vô ngại gọi là chỗ làm của thần lực.
Kinh: Xá-lợi Tử… vâng con đã thấy.
Tán: Thứ hai, Xá-lợi Tử đáp.
Kinh: Thế Tôn lại hỏi: “Ông khởi ý tưởng gì?”
Tán: Thứ ba, Thế Tôn lại hỏi. Ông đối với việc này giải thích thế nào?
Kinh: Xá-lợi Tử thưa: Còn khởi tưởng cho rằng rất khó nghĩ bàn.
Tán: Thứ tư, Xá-lợi Tử thuật, có hai: Nêu và giải thích. Đây là phần nêu lên.
Kinh: Con thấy Đại sĩ… chẳng thể nói năng tán thán được.
Tán: Giải thích việc khó nghĩ bàn. Có hai phần:
1. Ngài Vô Cấu xưng khó nghĩ bàn, cho nên nói: “Con thấy Đại sĩ thật khó nghĩ bàn”.
2. Nói về thần lực khó nghĩ bàn, tức nói: “Tác dụng của thần lực, công đức không thể dùng số lượng tính toán, không thể dùng suy nghĩ mà lường; cũng như thế chẳng thể dùng lời khen ngợi, chẳng thể dùng tâm suy lường.” Vì tất cả đều là đường tầm tư. Do bốn nghĩa này mà chẳng thể trình bày tán dương được. Bản xưa ghi: “Chẳng phải ý có thể tính, chẳng phải suy nghĩ mà lường được.” Người chẳng phải ý có thể tính, sự việc chẳng phải suy nghĩ có thể lường.” Vả lại độ tức là căn; người có căn cơ kém chẳng thể lường được hàng căn cơ cao hơn.
Kinh: Bấy giờ, A-nan-đà… là mùi hương của ai.
Tán: Đoạn thứ tư, nghe mùi hương kinh ngạc thưa hỏi, có bốn phần:
1. A-nan kinh nghi thưa hỏi.
2.Thu Tử giải thích.
3. Hỏi được bao lâu.
4. Tán thán nêu Phật sự.
- Trong phần một lại có hai:
1. A-nan nghi hỏi.
2. Thế Tôn trả lời.
Đây là A-nan nghi hỏi.
Kinh: Phật bảo rằng… từ lổ chân lông phát ra.
Tán: Đức Thế Tôn đáp.
Kinh: Bấy giờ, Xá-lợi Tử… cũng có mùi hương.
Tán: Thu Tử phụ giải thích, có ba:
1. Thu Tử đáp.
2. A-nan hỏi.
3. Thu Tử thuật lại.
Đây là văn thứ nhất. A-nan bạch Phật, Phật trả lời là từ lổ chân lông của các Bồ-tát phát ra; Thu Tử chẳng được hỏi mà nói mình cũng có, bèn tự trình bày.
Kinh: A-nan-đà hỏi… do duyên gì mà có được?
Tán: Phần thứ hai, A-nan hỏi. Bồ-tát phát ra mùi hương ắt có thể do tu thành, còn ngài do nhân duyên gì mà có được?
Kinh: Xá-lợi Tử đáp… cúng dường cho đại chúng.
Tán: Thu Tử thuật lại. Đầu tiên thuật nguyên do thức ăn đến, sau là thuật nguyên do có mùi hương. Đây là phần đầu.
Kinh: Trong đó những người ăn món cơm này… đều phát ra mùi hương
Tán: Đây là nói về lý do có mùi hương.
Kinh: Bấy giờ, A-nan-đà hỏi… sẽ còn được bao lâu?
Tán: Thứ ba, hỏi còn được bao lâu, có bốn:
1. Hỏi hương còn bao lâu.
2. Trả lời đến khi cơm tiêu.
3. Hỏi bao lâu cơm tiêu.
4. Trả lời về thời gian cơm tiêu.
Đây là câu hỏi thứ nhất. Thời gian mùi hương còn tại thân lâu như thế nào?
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… mùi hương ấy vẫn còn.
Tán: Trả lời đến khi cơm tiêu hết. Hương tùy theo cơm, cơm còn thì hương còn, cơm phát ra mùi hương, cơm tiêu thì hương hết.
Kinh: A-nan-đà nói… sẽ tiêu hết.
Tán: Thứ ba, hỏi bao lâu cơm tiêu.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… mà chẳng bị bệnh hoạn
Tán: Thứ tư trả lời về thời gian cơm tiêu. Có ba:
1. Đáp chung.
2. Giải thích riêng.
3. Nêu dụ.
Đây là văn thứ nhất. Thế lực của cơm này cũng tùy thuận theo cơm của thế gian, ở trong thân bảy ngày đêm mới tiêu. Nhưng do thần lực của đại bi tuy trải qua thời gian lâu chưa tiêu mà chẳng bị bệnh, chẳng đồng như món cơm thế gian nếu trải qua bảy ngày đêm mới tiêu hóa hết thì sẽ sinh bệnh. Nói bảy ngày là tùy theo món cơm thế gian, lấy số nhiều mà luận, chứ chẳng phải nhất định như thế, hoặc nhiều hoặc ít hơn không định. Như hàng Thanh văn lợi căn đắc quả phải trải qua sáu mươi kiếp, Bồ-tát từ phát tâm đến chứng vô sinh nhẫn ắt phải trải qua một đại a-tăng-kỳ kiếp, nếu chứng đắc rồi cơm mới tiêu, há chỉ bảy ngày mà được quả Thanh văn ư? Chỉ bảy ngày được Vô sinh nhẫn ư? Ba đời mới đắc quả chẳng phải chỉ bảy ngày. Do đó cho nên biết, đây là tùy theo đa phần món cơm thế gian mà luận là bảy ngày.
Kinh: Cụ Thọ nên biết… sau đó mới tiêu.
Tán: Giải thích riêng, gồm hai:
1. Được quả Thanh văn.
2. Được quả Bồ-tát.
Thanh văn có ba: Đây là nói từ phàm phu mà được kiến đế. Cụ thọ bản xưa dịch là Tuệ mạng và gọi A-nan-đà là Cụ Thọ. Hữu tình thế gian phần nhiều yêu thích thân mạng, nghe nói sống lâu thì ai chẳng sinh ham muốn vui vẻ. Người xuất gia phần nhiều thích trí tuệ, nghe nói đến trí tuệ thì ai mà không sinh hoan hỷ, cũng như thế gian yêu thích thân mạng vậy. Do đó bản dịch xưa gọi là Tuệ mạng. Đầy đủ thọ mạng thế gian và mệnh trí tuệ xuất thế gian, chẳng thể nói riêng một bên nào. Mạng nay đã có đầy đủ nên gọi là Cụ thọ. Đã phát tâm Thanh văn chưa vào kiến đế, ăn rồi liền được vào, sau đó mới tiêu, nhanh nhất là ba đời chậm nhất là sáu mươi kiếp. Chánh tánh ly sinh thì như trước đã giải thích.
Kinh: Người chưa lìa dục… sau đó mới tiêu.
Tán: Thứ hai, từ kiến đế được lìa dục. Được ly dục tức quả bất hoàn.
Kinh: Người chưa giải thoát… sau đó mới tiêu.
Tán: Thứ ba, từ hữu học được vô học. Tâm giải thoát tức quả A-la-hán câu giải thoát, vì lìa các dục định chướng giải thoát và Niết-bàn tám giải thoát.
Kinh: Các người có chủng tánh Bồ-tát Đại thừa… sau đó mới tiêu.
Tán: Hiển thị được giai vị Bồ-tát, gồm có bốn: Đoạn này là nói từ phàm phu đầy đủ tánh Bồ-tát, cần phải phát tâm Đại thừa, sau đó cơm mới tiêu, ý nghĩa hiển rõ, nếu hàng vô tánh thì không được món cơm này, vì chẳng thể phát tâm. Tuy đầy đủ năm căn hữu lậu thế gian, nhưng đây là vì lợi ích xuất thế, cho nên những người ấy chẳng được. Ý nghĩa hiển thị rõ món cơm này có thể được cho hàng Bộ hành Độc giác, sau đó mới tiêu, giống như Thanh văn; vì phần nhiều họ chẳng gặp Phật cho nên chẳng nói đến. Giống như nói về hàng Thanh văn có chủng tánh được ăn món cơm này mà phát tâm, sau đó mới tiêu; văn đã lược không ghi, ý nghĩ thì ắt phải có như thế.
Kinh: Đã phát tâm Vô thượng Bồ-đề… sau đó mới tiêu.
Tán: Thứ hai, người đã phát tâm. Cần phải được Sơ địa, vì mới được Vô sinh tức ở vị Sơ địa. Thứ ba, từ Sơ địa được Địa thứ tám, vì đầy đủ Bất thoái phải ở tại địa này. Thứ tư, từ Địa thứ tám đến Bổ xứ, Bổ xứ là vị nhất sinh sở hệ, cũng tức nhất sinh được ăn món cơm này rồi, đến thành Phật cơm mới tiêu. Nhưng thân Nhất sinh sống ở cõi Tri túc, món cơm này chẳng dùng cho thân nhất sinh, cho nên chẳng nói đến, hoặc nghĩa thì có mà văn thì lược bỏ không ghi.
Kinh: Cụ Thọ nên biết… sau đó mới tiêu.
Tán: Thứ ba là nêu dụ. Đầu tiên là nêu dụ, sau là hợp. Đây là dụ.
Kinh: Người ăn món cơm này… sau đó mới tiêu.
Tán: Đây là hợp. Món cơm như vị thuốc quý hoặc như các loại độc. Căn cứ theo pháp dụ này thì chỉ dụ cho việc đắc đạo đoạn trừ hoặc căn bản, chẳng dụ cho chủng tánh mới phát tâm… vì chưa đoạn hoặc. Hoặc dụ này dụ chung cho tất cả phục đoạn và chánh đoạn, vì tất cả đều gọi là trừ.
Kinh: A-nan-đà nói… làm các Phật sự.
Tán: Đây trở xuống là nói về Phật sự và tán thán, có hai phần:
1. A-nan khen ngợi.
2. Nói về Phật sự.
Đây là văn thứ nhất. Phật làm việc lợi lạc hữu tình, cho nên gọi là Phật sự.
Kinh: Phật liền nói rằng… làm các Phật sự.
Tán: Đây là nói về Phật sự. Có ba:
1. Ấn chứng cho việc luận về Phật sự.
2. Nêu những việc khác.
3. Thân Phật đồng dị.
Đây là văn thứ nhất. Như thế! như thế! Tức ấn chứng cho lời đã nói ở trước là nói Phật sự chắc hẳn như thế.
Kinh: Bấy giờ, Đức Phật lại… làm các Phật sự.
Tán: Nêu lên các việc khác, gồm có ba:
1. Nêu việc của Vô Cấu Xưng.
2. Hiển thị các cõi Phật khác.
3. Kết luận nói lợi ích.
Đây là đoạn văn thứ nhất.
Kinh: Như thế ở mười phương thế giới các cõi Phật khác… mà làm Phật sự.
Tán: Nêu cõi Phật khác; có mười bốn câu phân làm bốn:
1. Mười câu đầu nói về ngộ nhập khác biệt.
2. Hai câu kế nói về ngộ nhập ba tánh.
3. Một câu kế, nhân nơi lời nói mà ngộ đạo.
4. Một câu sau cùng, nhân vắng lặng mà chứng ngộ pháp, tất cả đều gọi là Phật sự.
Đoạn này có năm câu, do thấy ánh sáng hoặc xúc chạm ánh sáng mà các khổ tiêu trừ, tu duy được trí tuệ, diệt trừ tối tăm ngu si. Thấy cây Bồ-đề, tư duy sinh cây giác, khởi bốn Tâm vô lượng, che mát quần sinh. Thấy các Bồ-tát, phát tâm tu hành, mong cầu được giống nhau, như nghĩ đến Địa Tạng Bồ-tát mà chẳng nghĩ đến Phật Thích-ca. Thấy tướng quý và vẻ đẹp của Phật thì phát tâm vui thích, chán thân sinh tử, đạt quả lớn. Do thấy hóa nhân thì căn khí mới thành thục; biết thần dụng của Phật mới khởi nguyện ưa thích.
Kinh: Hoặc có cõi Phật lấy y phục… làm Phật sự.
Tán: Đoạn này gồm năm câu: Do thấy y phục mà khởi tâm hổ thẹn; do thấy ngọa cụ mà thích tu bốn thiền, phát khởi tịnh mạng; do thấy thức ăn uống mà tư duy cầu vị giải thoát của nước giác ngộ, vì ham thích pháp thực, do thấy vườn rừng, mà tu tập pháp tổng trì vô lậu; do thấy lầu đài, điện quán mà thích tu tập các cõi thắng diệu như tịnh độ…
Kinh: Hoặc có cõi Phật lấy hư không… làm Phật sự
Tán: Đoạn này nói về ngộ nhập ba tánh, có ba câu, gồm hai phần:
1. Nói riêng về ngộ nhập hai tánh.
2. Một câu sau nói về ngộ nhập y tha.
Đoạn này là nói ngộ nhập Biến kế sở chấp và biết viên thành
do quán hư không đều không có tánh tướng, ngộ nhập sinh và pháp sở chấp, hai ngã vô thể cũng thế. Do đó hữu tình điều phục đoạn chấp ngộ được hai tánh là không, đạt được lý nhị không.
Kinh: Hoặc có cõi Phật vì các hữu tình… mà làm Phật sự.
Tán: Đây là nói về nhập y tha. Do duyên thuyết mười dụ là huyễn… chẳng phải có tựa như có, dối gạt kẻ ngu, nhờ vào các nhân duyên này mà nhập vào y tha.
Kinh: Hoặc có cõi Phật dùng âm thanh… làm Phật sự.
Tán: Đây là một câu nói về việc nhờ nơi ngôn ngữ mà ngộ đạo. Nghe nói thật tánh các pháp liền thấu rõ viên thành, nghe nói tướng tục đế liền biết y tha. Đã biết hai đế thì ngộ được sở chấp là không, chỉ có cảnh tướng, thì liền biết được Biến kế sở chấp. Gọi đó là nhập ba tánh, vì giải thích ba tánh này.
Kinh: Hoặc có cõi Phật thanh tịnh im lắng… mà làm Phật sự
Tán: Đây là một câu cuối cùng, nhân nơi vắng lặng mà ngộ pháp. Do thấy cõi Phật im lặng thanh vắng, không nói ác, không nói thiện, không quở trách, không khen ngợi, không tư duy, không tìm cầu các pháp, cũng không hý luận phân biệt các pháp, không biểu thị, không chỉ bày, nên ngộ bản tánh tánh tướng các pháp tịch mặc, thể lìa đường ngôn ngữ, trên cảnh tầm tư; hoặc trước cho rằng nhờ lời nói mà ngộ thế tục đế, ở đây nhân nơi vắng lặng ngộ Thắng nghĩa đế.
Kinh: Như thế nên biết… cũng vô số lượng.
Tán: Kết luận nói lợi ích tốt đẹp, gồm có bốn:
1. Nói Phật sự rất nhiều.
2. Nói động dừng đều lợi ích.
3. Nói nguyên do nhiều.
4. Khuyên nêu đạo lý.
Đây là văn thứ nhất. Vì thế giới vô lượng, nên cõi Phật vô biên, chư Phật đã vô biên thì việc lợi ích cũng vô số.
Kinh: Tóm lại… đều gọi là Phật sự.
Tán: Đây là nói động dừng đều có lợi ích. Đi đứng nằm ngồi gọi là oai nghi. Hoặc đi hoặc đứng gọi là tấn chỉ, theo duyên lãnh nạp các cảnh gọi là thọ dụng, phàm có phát khởi tạo tác thì gọi là thi vi, chẳng thể nói hết được. Tóm lại tất cả những việc như thế, đều khiến cho chúng sinh được hóa độ điều phục; điều tức sinh trưởng thiện căn, phục tức chế phục đoạn ác; vì thế tất cả đều gọi là Phật sự. Như hỏi A-nan trời sẽ mưa chăng? Biết mà còn hỏi là muốn khiến cho người khác xét kỹ sự việc. Phật biết mà còn hỏi, hà huống gì chúng ta, cho nên tất cả
đều là Phật sự.
Kinh: Lại như bốn ma, tám mươi bốn ngàn phiền não ở thế gian… mà làm Phật sự.
Tán: Đây là nói có nhiều nguyên do, tám mươi bốn ngàn pháp môn, kinh Hiền Kiếp ghi: “Bấy giờ, có Bồ-tát tên là Hỷ Vương, ngồi im lặng tư duy, trải qua bảy ngày rồi đến chỗ Phật bạch rằng: Bạch Thế Tôn nên thực hành Tam-muội gì mà mau chứng được pháp môn? Phật dạy Hỷ Vương rằng: Có môn Tam-muội tên là Liễu chư pháp bản tế, các Bồ-tát thực hành rồi, mau chứng nhập tám mươi bốn ngàn pháp môn”. Như từ ánh sáng tối thắng cho đến cuối cùng phân bố thân Phật có ba trăm năm mươi, mỗi mỗi đều thực hành sáu Ba-la-mật, thành hai ngàn mốt, như trong kinh kia, mỗi mỗi đều nói riêng về tướng của sáu độ. Hai ngàn mốt này mỗi mỗi đối trị với tham sân và si, mỗi mỗi lại tăng đến ba đẳng phần. Bốn loại này trong tâm hành của hữu tình tổng thành tám ngàn bốn trăm, mỗi mỗi lại đối trị với các lỗi trong bốn đại và sáu vô nghĩa sinh ra, như thế tổng cộng thành tám mươi bốn ngàn. Sáu vô nghĩa tức là sáu cảnh, vì chẳng sinh nghĩa lợi cho nên gọi là vô lợi. Do chúng sinh có tám mươi bốn ngàn căn cơ, cho nên bệnh khởi cũng có tám mươi bốn ngàn, trị bệnh cũng có tám mươi bốn ngàn phương, hạnh hay đối trị cũng có tám mươi bốn ngàn. Hạnh đã có tám mươi bốn ngàn thì pháp môn được nói ra cũng có tám mươi bốn ngàn. Chúng sinh đã bị bốn ma nhiễu loạn, tám mươi bốn ngàn phiền não nhiễu loạn, thì Như Lai tức lập bày các Phật sự để đối trị các pháp ấy. Phật sự vốn để đối trị bệnh mê hoặc, thích ứng với căn cơ hữu tình.
Kinh: Ông nay nên biết… tất cả Phật pháp.
Tán: Thứ tư, khuyên chỉ bày đạo lý. Có bốn:
1. Nêu lên việc chỉ bày ngộ nhập.
2. Khuyên trừ việc thuận nghịch.
3. Khiến sinh tin thích.
4. Giải thích để thành tựu nghĩa trước.
Đây là văn thứ nhất. Hay biết pháp cao tột nên gọi là ngộ nhập tất cả Phật pháp. Ngộ biết Phật pháp vốn để lợi sinh. Năng thuyên sở thuyên, năng trị sở trị, năng sinh sở sinh, không ngoài cách giải thích ở trước.
Kinh: Nếu các Bồ-tát… chẳng sinh lo buồn sân hận.
Tán: Khuyên trừ tâm thuận nghịch. Thấy tịnh độ thuận với mình chớ nên sinh vui mừng mà khởi tâm tham trước, thấy cõi tạp uế trái nghịch với mình chớ sinh lo buồn mà khởi sân hận. Tịnh và uế đều lợi
lạc.
Kinh: Ở chỗ của tất cả chư Phật phát sinh… khen là điều chưa từng có.
Tán: Đoạn thứ ba, khiến sinh tin thích. Chớ khởi tâm hạ liệt, nên phát sinh tâm tin thích thượng phẩm.
Kinh: Chư Phật Thế Tôn… cõi Phật khác nhau.
Tán: Giải thích để thành tựu nghĩa trước. Mười phương chư Phật công đức đều như nhau, vì đều được tánh chân như bình đẳng. Vả lại Sơ địa trở lên đã được ba bình đẳng là Phật, Bồ-tát và tất cả hữu tình. Công đức của thân chư Phật đều đồng nhau, hai hạnh của Bồ-tát đồng nhau, đại bi đối với chúng sinh đồng nhau, vì “không” và không có thật ngã đều đồng nhau. Vả lại đã đạt được mười loại tánh bình đẳng:
1. Chứng đắc các pháp tăng thượng ái lạc.
2. Xa lìa dị tướng và phi tướng.
3. Lãnh thọ tất cả duyên khởi.
4. Đại Từ cứu khổ tất cả.
5. Đại bi không đối đãi.
6. Thị hiện tùy theo sự ưa thích của chúng sinh.
7. Tất cả hữu tình đều kính nhận điều đã nói ra.
8. Thế gian vắng lặng đều đồng một vị.
9. Khổ vui của thế gian đều đồng một vị.
10. Gieo trồng vô lượng công đức rốt ráo.
Do chứng chân như, đạt ba và mười bình đẳng, cho nên tất cả công đức của Phật đều bình đẳng, chớ nên sinh các ý tưởng thuận nghịch như lo buồn vui thích, tham sân… chỉ vì chúng sinh mà hiện cõi tịnh uế, chẳng phải pháp không bình đẳng mà cõi nước có tịnh uế. Gốc thì đồng mà ngọn thì khác.
Kinh: Ông nay nên biết!… đều không sai biệt.
Tán: Đoạn thứ ba nói về thân Phật đồng dị. Do nơi cõi đồng và dị cho nên phải nói đến thân. Toàn văn gồm có hai:
1. Nêu dụ hiển nguyên do đồng dị.
2. Nói rộng về tướng bình đẳng của pháp thuyết.
Trong phần đầu lại có hai:
1. Dụ.
2. Pháp.
Đây là dụ. Tuy cõi đất y cứ có hơn kém khác nhau, như vàng bạc tịnh uế tướng có khác nhau, nhưng hư không ở trên đều chẳng sai biệt.
Kinh: Như thế nên biết… đều không sai biệt
Tán: Ứng vật hiện thân, nhiều loại khác nhau, hợp với dụ nghĩa “cõi đất sở y tuy có hơn kém” nói trên. Trí tuệ vô ngại, rốt ráo không cùng tận, đầy đủ không thiếu sót, tất cả đều không sai biệt, hợp với dụ hư không phía trên vô tận cũng không thiếu khuyết”. Phước tuệ tựa như thế, cho nên lấy làm dụ. Thân tha thọ dụng và thân biến hóa đều vì chúng sinh mà hiện nên có các loại khác nhau, nhưng thân tự thọ dụng thì tất cả đều bình đẳng, vì chứng được pháp thân chân như bình đẳng.
Kinh: Ông nay nên biết tất cả Như Lai đều bình đẳng
Tán: Đây là nói rộng về tướng bình đẳng của pháp thuyết. Văn gồm có bốn:
1. Phật đức bình đẳng.
2. Danh hiệu bình đẳng.
3. Khen ngợi sự sâu xa.
4. A-nan tự khiêm xin lui.
Đoạn thứ nhất lại có hai:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
Đây là đoạn nêu lên.
Kinh: Cái gọi là hình sắc oai quang tối thượng, châu viên, vô cực… Phật pháp bất cộng.
Tán: Đoạn này là hiển thị về bình đẳng. Tối thượng tức là bậc nhất; châu viên tức cùng khắp mười phương; vô cực tức về sau vô tận. Ba câu này chung cho các câu kể riêng biệt nêu ở sau, mỗi mỗi đều thông với các câu sau. Trong các câu nói riêng kể dưới đây thì phần thứ nhất nói về nội đức, phần kế nói về ngoại đức, phần sau nói về hai đức.
Đây là phần đầu gồm có chín:
1. Nói về hình lượng và sắc.
2. Oai quang.
3. Tướng hảo.
4. Chủng tánh.
5. Tôn quý.
6. Năm uẩn thanh tịnh.
7. Các lực.
8. Vô úy.
9. Phật pháp bất cộng.
Chín điều này đều tối thượng, châu viên và vô cực. Năm việc trước nói về thân…, bốn việc sau nói về đức…
Kinh: Đại Từ, đại bi… oai nghi sở hành.
Tán: Đây là nói riêng về ngoại đức, gồm bảy việc:
1. Đại Từ.
2. Đại bi.
3. Đại Hỷ.
4. Đại Xả.
5. Lợi ích.
6. An lạc.
7. Oai nghi sở hành.
Bốn vô lượng thì chung cho ba thừa phàm Thánh, hữu lậu vô lậu, tưởng giả thật, nhưng chỉ quán ở cõi Dục chẳng chung cho cõi Vô sắc. Ở đây nói “đại” là riêng cho bậc Thánh chẳng có phàm, chỉ riêng cho Đại thừa chẳng có Tiểu thừa, chỉ vô lậu chẳng phải hữu lậu, chỉ là thật tướng quán chẳng phải là giả tưởng, duyên chung ba cõi, chỉ có Phật mới khởi, vì cảnh đại, hạnh đại và lợi lạc đại, vì thế đặc biệt nêu từ đại. Lợi ích thì nhiếp thọ pháp thiện, an lạc thì xa lìa pháp ác; lợi ích thì lìa khổ. An lạc thì ban vui. Các môn như thế có mười nghĩa riêng như Duy Thức Sớ đã nói. Oai nghi tức là các phương tiện lợi lạc như đi đứng, nằm ngồi. Sở hành tức chỗ thực hành của Phật, nghĩa là cảnh du hóa.
Kinh: Chánh hạnh thọ lượng… tất cả đều bình đẳng.
Tán: Hiển bày hai đức, gồm sáu câu:
1. Chánh hạnh ba nghiệp.
2. Thọ lượng, tức tùy cõi chúng sinh mà thọ lượng vô tận.
3. Thuyết pháp.
4. Độ thoát khiến lìa khổ.
5. Thành thục, khiến được quả xa lìa; trên là nói về nội thân.
6. Nói về tịnh độ; như thế tất cả đều bình đẳng.
Do xưa tạo nhân, đúng thời gặp duyên, siêng năng ý lạc chứng được chân pháp tánh, ba và mười bình đẳng đều được bình đẳng, đến nay đắc quả thì hai pháp trong ngoài, trong thân ngoài cõi nước, tất cả đều không sai biệt.
Kinh: Vì các Như Lai… gọi là Phật-đà.
Tán: Thứ hai, danh hiệu bình đẳng. Vì các Phật pháp là tối thượng cùng khắp, rốt ráo vô tận, vô tận tức vô cực, hai nghĩa như nhau, tên cũng giống nhau. Một là đồng tên là Tam-miệu Tam-Phật-đà nghĩa là Chánh đẳng giác. Tam tức là Chánh, miệu tức là Đẳng, Phật-đà tức Giác giả. Nên nói là Chánh giác. Đẳng giác giả, chánh giác giả gọi chung là chánh đẳng giác giả. Chánh giảc tức phân biệt với phàm phu vì
phàm phu là tà giác. Đẳng giác tức phân biệt với Nhị thừa, Nhị thừa chỉ biết tánh không vô ngã, chỉ biết sinh không vô ngã, chỉ biết pháp. Vả lại giác pháp là phân biệt với Bồ-tát, Bồ-tát tuy chánh đẳng giác nhưng chưa chân chánh viên mãn giác ngộ các pháp. Hai từ chánh đồng nhau nên gọi chung là Chánh đẳng giác. Đồng tên với Đạt-tha-yết-đa, Hán dịch là Như Lai. Kinh Niết-bàn ghi: “Như quá khứ chư Phật thực hành ba mươi bảy phẩm, mười một không… mà đến (lai) Niết-bàn cho nên gọi là Như Lai”. Như người mà tu hành, như người mà chứng lý, đạt đến (lai chứng) Niết-bàn, nên gọi là Như Lai. Phật-đà tức giác giả (người giác ngộ), có đầy đủ Nhất thiết trí, Nhất thiết chủng trí, có thể tự giác ngộ, cũng có thể làm cho tất cả hữu tình được giác ngộ. Như tỉnh mộng, như sen nở, tự giác giác tha, giác là hạnh viên mãn, cho nên gọi là Phật-đà. Phật có mười hiệu nhưng ở đây chỉ kể ba tức chánh đẳng giác là trí đức, vì giác ngộ các pháp; Như Lai là đoạn đức vì đã đoạn tất cả các phiền não, hiển thị chân lý đoạn nên gọi là đoạn đức; Phật-đà tức ân đức vì khiến cho người khác giác ngộ. Vả lại ba hiệu này là bậc nhất cho nên được nêu lên.
Kinh: Ông nay nên biết!… cũng chẳng thể hết được.
Tán: Thứ ba, khen ngợi pháp sâu xa, có bốn:
1. Lược nói chung về thuyết pháp khó cùng tận.
2. Dẫu có chỉ bày thấy nghe cũng khó cùng tận.
3. Chỉ có Phật lực mới có thể nói hết.
4. Tổng kết để thành tựu đức biện biệt khó nghĩ bàn.
Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Giả sử tam thiên… cũng chẳng thể tận.
Tán: Dẫu cho chỉ, bày, thấy, nghe cũng chẳng tận. Niệm tức nhớ rõ; tổng trì nghĩa là nghe văn nghĩa giữ gìn không để quên sót, đa văn tức nghe tất cả ba tạng, nghe lâu tích tập.
Kinh: Chánh đẳng giác này… chỉ trừ chư Phật.
Tán: Chỉ có chư Phật mới nói hết. Trừ Phật, còn tất cả những hàng khác chẳng thể nói rốt ráo đủ ba nghĩa; tuyên dương tức ngôn thuyết; quyết trạch tức tuệ rõ biết.
Kinh: Như thế nên biết… chẳng thể nghĩ bàn.
Tán: Đây là đoạn tổng kết thành tựu đức biện biệt khó nghĩ bàn. Công đức đã vô lượng thì biện biệt kỳ diệu cũng khó nghĩ suy, Bồ-đề vô lượng, cho nên có thể quyết trạch; biện biệt khó nghĩ suy, cho nên hay tuyên thuyết.
Kinh: Nói lời này xong… đa văn bậc nhất.
Tán: Thứ tư, A-nan tự khiêm xin thoái lui.
1. Khiêm nhường xin lui.
2. Phật ngăn.
Đây là phần thứ nhất.
Đối với ba nghĩa này, nghe lâu mà chẳng biết, xưa gọi là đa văn nay lại thành kém hiểu biết, cho nên xin thoái lui, chẳng dám lãnh danh hiệu đệ nhất.
Kinh: Đức Phật liền nói… chẳng phải đối với Bồ-tát.
Tán: Phật ngăn, có ba ý:
1. Để hợp với xưa gọi là đa văn đệ nhất.
2. Ngăn chặn chung chẳng nên suy lường với hàng cao tột.
3. So sánh hơn kém.
Đây là văn đầu.
Kinh: Ông nay hãy thôi… không thể suy lường.
Tán: Ngăn chặn chung. Tổng kết để thành nghĩa chẳng nên suy lường với hàng cao hơn, theo văn có thể biết.
Kinh: Thanh văn các ông… không thể bằng được.
Tán: So sánh hơn kém. Ông chớ nên suy nghĩ đến tất cả cảnh giới của Bồ-tát, vị thấp mà suy lường vị trên cao thì chẳng đến, vì căn cơ, giai vị, nhân độ đều sai khác. Ông Vô Cấu Xưng, trước một bữa cơm đã làm các việc như đặt tòa, xin cơm, dọn thất, tiếp khách đã nêu trên, đó là do thần lực hóa hiện, hàng Nhị thừa dù trong một trăm ngàn kiếp thực hành cũng chẳng thể bằng được. Bậc Bồ-tát giải thoát, đã chẳng phải cảnh khác thì chẳng thể so sánh, vì đó là cảnh thần thông.
Kinh: Bấy giờ, các Bồ-tát ở phương Tây… xả bỏ tâm này.
Tán: Đoạn thứ ba, Bồ-tát khen ngợi để xin trở về, gồm ba phần:
1. Tán thán sám hối xin được nghe pháp.
2. Phật nói rộng.
3. Hoan hỷ cúng dường khen ngợi cao đức mà trở về.
Trong phần một lại có hai:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
Đây là đoạn nêu lên. Vốn trụ tại cõi nước Hương, nay thấy cõi uế thì sinh ý tưởng cho là thấp kém, bấy giờ nghe được lý vi diệu, nên tâm sám hối. Vốn cho rằng thân Đức Thích-ca kém xấu cõi nước dơ uế, nên sinh ý tưởng cho là thấp kém, cho thấp kém hơn cõi Phật Diệu Hương. Đâu biết nội đức của thân Phật và thật tịnh độ hôm nay vốn xưa nay bình đẳng, vì loài hữu tình mà hiện thân và cõi nước khác nhau, do đó
mà hối lỗi tâm trước kia, sinh hổ thẹn.
Kinh: Vì sao?… thị hiện cõi Phật.
Tán: Đây là giải thích việc sám hối hổ thẹn nêu trên, cảnh giới Phật khó nghĩ suy, vì loài hữu tình. Lúc bấy giờ tôi không thể suy lường được cho nên phát lòng sám hối. Như hữu tình, nghĩa là ý thích của hữu tình chẳng phải là một. Như thế! Như thế! Nghĩa là nói việc làm lợi lạc của Phật cũng chẳng phải một. Tùy các sự ưa thích của hữu tình mà chư Phật thị hiện các loại thân và cõi nước. Ta trước kia chẳng hay biết, cho nên sinh ý tưởng cho là thấp kém, nay biết rồi thì sinh hổ thẹn sám hối.
Kinh: Thưa vâng, bạch Thế Tôn!… thường nghĩ đến Như Lai.
Tán: Đây là xin nghe pháp. Thấy vật mà nghĩ đến người, là việc thường tình ở thế tục, huống gì nghe diệu pháp mà chẳng nghĩ đến Như Lai ư?
Kinh: Nói những lời này xong… nên siêng năng tu học.
Tán: Phật nói rộng, có hai:
1. Tổng.
2. Biệt.
Đây là phần tổng. Pháp giải thoát tức lý vô vi. Các pháp vô lậu xa lìa các phiền não nên gọi là giải thoát. Môn tức là giáo, giáo hay hiển thị nghĩa, cho nên gọi là môn.
Kinh: Thế nào gọi là hữu tận vô tận?
Tán: Đây là phần biệt, gồm có ba:
1. Giải thích hai nghĩa khiến cho tận bất trụ.
2. Nói rộng về hai nghĩa bất tận bất trụ.
3. Kết luận hai nghĩa bất tận bất trụ, khuyên siêng năng tu học.
Phần đầu lại có ba:
1. Hỏi.
2. Giải thích.
3. Khuyên nên bất tận bất trụ.
Đây là đoạn thứ nhất.
Kinh: Nói hữu tận… pháp vô sinh diệt.
Tán: Giải thích hai tướng. Tận có hai nghĩa:
1. Sát-na tận diệt.
2. Sau cùng tận diệt.
Hữu vi thì hữu tận, vô vi thì vô tận.
Kinh: Bồ-tát chẳng nên… trụ nơi vô vi.
Tán: Khuyên Bồ-tát chẳng tận hữu vi, chẳng trụ vô vi, khiến chẳng
tận hữu vi tức là diệt tận hữu vi mà chẳng sinh khởi. Vì Bồ-tát thường tu hạnh hữu vi nên gọi là chẳng nên tận diệt hữu vi. Chẳng rốt ráo trụ ở Niết-bàn vô vi, thường ở nơi sinh tử giáo hóa chúng sinh. Đây là hiển thị chẳng trụ đạo Niết-bàn, hoặc lìa hai bên hiển nghĩa trung đạo.
Kinh: Vì sao Bồ-tát chẳng nên tận hữu vi?
Tán: Phần nói rộng hai nghĩa chẳng tận chẳng trụ, gồm có ba:
1. Nói riêng về nghĩa chẳng tận hữu vi.
2. Nói riêng về nghĩa chẳng trụ vô vi.
3. So sánh để luận về hai nghĩa.
Trong phần một lại có ba:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Kết luận.
Đây là câu hỏi.
Kinh: Nghĩa là các Bồ-tát… chẳng bỏ đại bi.
Tán: Đây là lời đáp, gồm hai:
1. Nói về ý chẳng tận.
2. Nói về tướng chẳng tận.
Đây là lời văn thứ nhất. Vì sao chẳng diệt tận hữu vi mà lại khởi tác dụng? Vì Bồ-tát chẳng bỏ từ bi, thường ở nơi sinh tử giáo hóa chúng sinh. Câu “chẳng bỏ Từ bi” chung cho các câu sau. Do chẳng bỏ hai việc trên, cho nên có các việc kể sau.
Kinh: Từng sinh khởi… mà chẳng tạm quên.
Tán: Nói về tướng chẳng tận, gồm năm mươi lăm câu, bản xưa chỉ có năm mươi câu. Đây là câu đầu. Đối với tâm được Nhất thiết trí thì tăng thượng ý lạc, giữ gìn chớ để quên sót. Các giai vị này chẳng nên phối hợp riêng, chỉ nên giải thích chung, hoặc các hạnh này đều là Thập địa, vì chẳng bỏ Từ bi, vì đều nói là đại. Tăng thượng ý lạc nói là từng sinh khởi. Nếu trước mười Địa thì ý tăng thượng ở ngay tại vị ấy mà chẳng nói là “từng”. Do đó nên biết chỉ là nói đến mười Địa.
Kinh: Thành thục hữu tình… rốt cuộc không bao giờ chán.
Tán: Đoạn này gồm bốn câu:
1. Lợi sinh không mỏi mệt.
2. Chẳng bỏ bốn nhiếp.
3. Hộ trì chánh pháp.
4. Đối với pháp thiện thì không bao giờ chán.
Kinh: Thường an lạc… không sợ sệt.
Tán: Đoạn này gồm năm câu:
1. Các pháp thiện đã tu tập thì luôn hồi hướng.
2. Cầu pháp không biếng trễ.
3. Nói pháp không bao giờ rút lại, quyện tức là co, rút lại, cứ một bề ban phát, không tham tiếc.
4. Chiêm ngưỡng cúng dường Phật.
5. Chẳng sợ sinh tử.
Tổng cộng trên là mười câu.
Kinh: Tuy gặp hưng suy… chẳng đắm nhiễm.
Tán: Đoạn này gồm năm câu:
1. Tám gió thổi chẳng động; hưng suy chẳng vui thích sầu lo.
2. Chẳng khinh người chưa học, vì biết đâu về sau sẽ hơn mình.
3. Thương kính người đã học như Phật.
4. Đối với tất cả hữu lậu phiền não tạp uế thì nên tư duy như lý, chẳng tùy theo nó mà tăng trưởng.
5. Chẳng đắm nhiễm Niết-bàn.
Kinh: Đối với việc mình ưa thích… phát sinh ý tưởng là bạn tốt
Tán: Đoạn này gồm năm câu:
1. Điều mình ưa thích thì chẳng đắm trước.
2. Điều người ưa thích thì chẳng nên khinh ghét.
3. Chẳng đắm nơi thiền định.
4. Tuy dạo đi nơi ba cõi, năm đường, bốn sinh mà thường thực hành việc giáo hóa, như dạo chơi nơi thượng uyển, vô cùng vui thú, chẳng nhàm chán xa lìa.
5. Thấy người cầu xin đến thì nghĩ đó là bạn tốt quý, thành tựu đại nghiệp Bồ-đề cho mình. Đến đây tổng cộng là hai mươi câu.
Kinh: Xả bỏ các vật sở hữu… chẳng khiến rốt ráo.
Tán: Đoạn này gồm năm câu:
1. Thích thí xả không bỏn sẻn.
2. Đối với trí thì luôn hồi hướng.
3. Cứu hộ kẻ phạm giới.
4. Chóng viên mãn các độ, trọng như cha mẹ.
5. Ba mươi bảy phẩm, như sự giúp đỡ ở thế gian, hổ trợ cho ta thành tựu chánh đạo, chẳng phải như Nhị thừa, tu tập khiến đến rốt ráo.
Kinh: Đối với các pháp thiện… không ngại, bố thí vô hạn
Tán: Đoạn này gồm năm câu:
1. Thường siêng năng tu thiện.
2. Thích trang nghiêm cõi Phật.
3. Thích khen tặng cõi Phật.
4. Chóng thành tựu cõi Phật. Bản xưa ba câu này hợp làm một câu.
5. Vì việc đầy đủ các tướng quý và vẻ đẹp nên tu hạnh vô ngại bố thí.
Từ trên đến đây tổng cộng là ba mươi câu.
Kinh: Là thân, ngữ, tâm… phiền não như phẩn hận.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Trì giới, nghiêm giữ ba nghiệp.
2. Nhẫn chịu, giữ vững thân tâm. Bản cũ ghi là “ý”, mà có dũng.
Kinh: Vì làm cho việc tu tập… dao gậy, Bát-nhã.
Tán: Đoạn này gồm ba câu:
1. Lưu chuyển sinh tử để tu tập viên mãn; bản dịch xưa ghi là “sinh tử vô số kiếp” thì văn lược nhưng ý vẫn đầy đủ, nên theo bản mới mà giải thích. Nhưng câu này là căn cứ theo câu trước, câu trước căn cứ theo câu sau.
2. Nghe pháp tâm kiên cố.
3. Tu tuệ đoạn phiền não; Bát-nhã như dao gậy, khống chế ngăn dứt các oán giặc phiền não.
Sáu câu trên là nói về sáu độ.
Kinh: Vì muốn gánh vác… cầu trí giáo hóa thiện xảo.
Tán: Đoạn này gồm ba câu:
1. Trí tuệ biết rõ ba khoa gánh vác cho hữu tình. Độ được hữu tình, biết chỉ có pháp mà thôi, cho nên gọi là gánh vác.
2. Tinh tấn hàng phục các ma, ma tức bốn ma. Bốn ma này tức là quân ma, hoặc có mười quân ma, như ngài Long Thọ đã nói. Dục là quân ma thứ nhất của ông, ưu sầu là quân thứ hai; đói khát là quân thứ ba, khát ái là quân thứ tư, thùy miên là quân thứ năm, kinh sợ là quân thứ sáu, nghi hối là quân thứ bảy, sân nhuế là quân thứ tám, lợi dưỡng là quân thứ chín, tự cao khinh người là quân thứ mười. Các quân như thế làm chìm đắm người xuất gia. Ta dùng sức thiền trí phá các quân của ông để thành được Phật đạo, độ thoát tất cả người khác.
3. Xa lìa ngã mạn, cầu trí hóa đạo khéo léo, vì hộ trì chánh pháp, chẳng tự cống cao, khéo cầu trí lợi tha; đối với chánh pháp của Phật có thể giữ gìn được. Bản dịch xưa ghi: thường cầu trí tuệ thật tướng vô niệm. Chánh trí vô lậu không có suy nghĩ gọi là vô niệm, chớ chẳng phải không có tâm niệm.
Kinh: Vì các thế gian… tất cả thế giới.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Thường ham muốn ít chẳng mong cầu nhiều, biết đủ chẳng cầu, tu hành tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân, đó là vì muốn thế gian yêu mến tôn trọng thân mình, mà thọ nhận sự giáo hóa. Nếu mong cầu nhiều thì người thế gian chẳng kính trọng, chẳng thọ nhận giáo hóa.
2. Tuy thuận thế gian mà chẳng nhiễm pháp thế gian. Từ trên đến đây là bốn mươi câu.
Kinh: Đối với các oai nghi… chánh niệm tổng trì.
Tán: Đoạn này gồm ba câu:
1. Thị hiện tất cả các việc làm như sát… mà vẫn giữ gìn oai nghi.
2. Phát thần thông khởi tuệ, lợi lạc hữu tình.
3. Giữ gìn pháp đã được nghe mà khởi tuệ niệm.
Kinh: Phát sinh các căn… thường không trệ ngại.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Phát sinh diệu trí biết rõ các căn hơn kém. Vì đoạn nghi hoặc nên ứng theo căn cơ mà thuyết.
2. Chứng vô ngại biện, thuyết pháp không ngăn trệ.
Kinh: Vì thọ nhận hỷ lạc thù thắng của trời người… bốn trí vô lượng.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Tu mười thiện, vì thọ nhận hỷ lạc.
2. Tu bốn vô lượng, mở đường Phạm thiên. Người sinh vào Phạm thiên thì do tu tập bốn vô lượng; vô lượng chính là nhân lộ của Phạm thiên, khiến người tu vô lượng gọi là mở đường Phạm thiên, bất tất phải sinh vào cõi Phạm thiên.
Kinh: Vì được chư Phật… tâm không nhiễm không dính mắc.
Tán: Đoạn này gồm ba câu:
1. Được âm thanh Phật, khuyên người thuyết pháp, tùy hỷ với điều thiện của người, khen rằng: Lành thay!
2. Vì được oai nghi Phật là do tu tập ba nghiệp vắng lặng.
3. Vì tu tập pháp thù thắng, nên đối pháp không bị nhiễm trước.
Đến đây là năm mươi câu.
Kinh: Vì khéo điều ngự… khuyên chúng sinh tu học.
Tán: Đoạn này một câu, khuyên học Đại thừa, điều phục các Bồ-tát.
Kinh: Vì chẳng mất… các đại nguyện.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Luôn chẳng buông lung, thì công đức chẳng mất.
2. Thường tu diệu nguyện thì thiện căn tăng trưởng, vì do nguyện sách tấn.
Kinh: Vì muốn trang nghiêm… phương tiện thiện xảo.
Tán: Đoạn này gồm hai câu:
1. Tu thiện căn để trang nghiêm cõi Phật.
2. Tu thiện xảo, chỗ tu tập vô tận đều hồi hướng đến trí Phật, cho nên pháp thiện chẳng cùng tận.
Nếu chẳng thế, quả của sự tu tập sẽ cùng tận. Năm câu cuối đã xong. Bản dịch xưa, trước câu nói về cõi Phật thiếu hai câu và thiếu ba câu này cho nên chỉ có năm mươi câu.
Kinh: Này các thiện nam!… chẳng tận hữu vi.
Tán: Thứ ba, kết luận.
Kinh: Thế nào là Bồ-tát chẳng trụ vô vi?
Tán: Đây là đoạn thứ hai giải thích chẳng trụ vô vi, có ba phần:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Kết luận.
Đây là lời hỏi.
Kinh: Nghĩa là các Bồ-tát… chẳng thích chứng ngộ.
Tán: Đây là lời đáp, gồm hai mươi mốt câu. Bản xưa chỉ có mười chín câu, cũng chung cho việc tu tập, chẳng cần phải phối hợp riêng phàm Thánh, giai vị cao thấp. Đoạn này gồm ba câu: Hành tức là duyên theo giác, chứng tức thầm hội. Tuy thực hành ba pháp này, nhưng trí chưa tốt ráo, chỉ thầm hội ba, chẳng đồng Nhị thừa trụ trong ba pháp này. Ba cảnh ở đây đều chỉ giữ lấy vô vi, chẳng phải là rốt ráo chứng vô vi nên gọi là chẳng trụ.
Kinh: Tuy hành vô tác… cho nên ý thọ sinh.
Tán: Đoạn này gồm ba câu. Tác nghĩa là tạo tác, tức do nhân duyên hòa hợp mà tạo tác, thể của nó là hữu vi. Tuy hành pháp vô vi vô tác mà chẳng thích chứng ngộ; tuy quán hữu vi nhưng cuối cùng lại diệt tận vô thường. Đối với pháp thiện chẳng nhàm chán, quán lý khổ, cho nên được tùy ý thọ sinh làm lợi lạc tất cả. Lý vô thường, khổ, không, vô ngã của Đại thừa thì đã giải thích ở phẩm Thanh Văn.
Kinh: Tuy thích quán xét… nhàm chán thân tâm.
Tán: Đoạn này gồm bốn câu: Quán tự thân vô ngã, chẳng nhàm chán thân, chẳng vào Niết-bàn, quán người chẳng phải là hữu tình, nên giáo hóa người không mỏi mệt. Tuy quán Niết-bàn mà chẳng vĩnh viễn tịch diệt, vì còn hóa độ hữu tình. Tuy quán chân như xa lìa thân khổ
hoạn mà được an lạc; chẳng chán nhàm thân tâm vì nguyện cùng tận sinh tử, độ các hữu tình.
Kinh: Tuy thích quán sát… việc lợi ích chúng sinh.
Tán: Đoạn này gồm hai câu; A-lại-da tuy đầy đủ ba tàng, nay lấy nghĩa năng chấp tàng. Không có A-lại-da thì không có nghĩa năng chấp tàng, tuy không có thể năng chấp tàng thì cũng vẫn có pháp năng tàng tức pháp trong trắng cất giữ giáo Đại thừa. Trong mười đức của kinh thì đức thứ tám là thanh tịnh, thứ chín là trắng trong. Thanh tịnh, vì tự tánh giải thoát; pháp được thuyết ra, trong một sát-na cũng không có lỗi lầm, lìa các gốc của ba độc, lìa các sự trói buộc cho nên tánh giải thoát chẳng phải có ba độc mà khởi thuyết pháp. Trắng trong vì tương tục giải thoát, chẳng phải chỉ một niệm không có lỗi, mà tương tục thuyết pháp cũng không có lỗi. Vả lại pháp thể thanh tịnh nói ở trước xa lìa các lỗi, trong đó tánh trắng trong có thể làm cho thân của hành giả trắng trong. Tuy quán sinh tử vĩnh viễn tận, không có thể năng chấp tàng, mà chẳng bỏ pháp thanh tịnh trong trắng, giáo hóa chúng sinh. Tuy quán lý vô sinh mà thường gánh vác việc lợi ích chúng sinh.
Kinh: Tuy quán vô lậu… chẳng bỏ đại bi.
Tán: Đoạn này gồm ba câu. Tuy quán vô lậu vô vi, mà lại thuận hữu lậu lưu chuyển. Hành nghĩa là vận động tạo tác. Không hành tức vô vi. Tuy quán không hành mà thường thực hành lợi lạc. Tuy quán lý trong ngoài vô ngã mà chẳng xả bỏ đại bi, nhổ gốc khổ cho hữu tình.
Kinh: Tuy quán vô sinh… tu tập trí tuệ.
Tán: Đoạn này gồm ba câu. Tuy nhân đồng Nhị thừa quán lý vô sinh, nhưng chẳng rơi vào chánh vị của Nhị thừa; tuy quán không tịch mà chẳng không tịch, tu tập phước đức, tuy quán xa lìa mà chẳng lìa trí tuệ.
Kinh: Tuy quán các pháp … an lập hạt giống Phật
Tán: Đoạn này gồm ba câu: Tuy quán lý hữu vi không thật mà chân như pháp tánh thường an trụ; tư duy viên mãn không thiếu sót. Tuy quán các pháp là chân như, không có chủ tể mà thường cầu tự nhiên trí, siêng năng không giải đãi. Có dấu hiệu tức các pháp hữu vi, như vua lấy cờ xí làm dấu hiệu. Vả lại các pháp hữu vi có năng tướng và sở tướng, dùng bốn tướng năng tướng làm năng tiêu xí (dấu hiệu) lấy tất cả các pháp hữu vi sở tướng làm sở tiêu xí (dấu hiệu). Vô vi thì không có các việc này nên gọi là vô tiêu xí (không có dấu hiệu). Tuy quán vô vi này, nhưng trong giáo liễu nghĩa thường vẫn nghe biết chánh pháp, an lập hạt giống Phật. Các từ quán được nói ở các câu trên đều là quán vô vi.
Nói “mà” tức là nói đều chẳng trụ.
Kinh: Các thiện nam… chẳng trụ vô vi.
Tán: Phần thứ ba là kết luận.
Kinh: Lại, này các thiện nam… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn thứ ba, so sánh hai việc để luận hai loại, gồm mười sáu đôi. Bản dịch xưa chỉ có mười bốn đôi. Đoạn này có hai đôi. Tu tập phước đức hữu vi thì thọ nhận quả sinh tử thiện; chẳng trụ vô vi thì tu trí tư lương cứu khổ cho chúng sinh, cầu đại Bồ-đề, cho nên chẳng tận hữu vi. Nếu trụ vô vi, tận diệt hữu vi thì liền thành Nhị thừa, vĩnh viễn nhập diệt, chỉ có tư lợi mà chẳng có lợi tha. Đây là ý của văn sau, tất cả nên biết. Nếu chẳng trụ vô vi chẳng tận hữu vi thì chẳng đồng Nhị thừa vĩnh viễn nhập diệt, thành tựu hai lợi ích; ban vui đầy đủ không thiếu thì chẳng trụ vô vi; đại bi lợi ích hữu tình thì chẳng tận hữu vi.
Kinh: Lợi ích an lạc… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Lợi sinh chẳng bỏ nên chẳng trụ vô vi, Phật pháp viên thành nên chẳng tận hữu vi. Thành tựu viên mãn thân Phật nên chẳng trụ vô vi, được vô úy… nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Phương tiện thiện xảo… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Khéo léo hóa độ chúng sinh nên chẳng trụ vô vi, diệu trí thường phán xét nên chẳng tận hữu vi; tu tập các cõi Phật báo hóa viên mãn nên chẳng trụ vô vi; báo thân Phật thường trụ vô tận nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Thường làm lợi ích… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Thường lợi ích hữu tình, nên chẳng trụ vô vi, lãnh thọ các pháp, không phế bỏ nên chẳng tận hữu vi. Thiện căn vô tận nên chẳng trụ vô vi; thiện căn chẳng hoại nên chẳng tận hữu
Do sức thiện căn giữ gìn công đức của thân khiến tất cả đều chẳng đoạn dứt nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Vì muốn thành tựu viên mãn… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Vì thành tựu nguyện lợi sinh nên chẳng trụ vô vi; chẳng cần vĩnh viễn vào rốt ráo diệt nên chẳng tận hữu vi; ý lạc viên mãn; khéo léo thanh tịnh, tinh tấn hành lợi tha, nên chẳng trụ vô vi, tăng thượng ý lạc, khéo léo thanh tịnh, tự lợi không cùng tận, cho nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Thường du hý… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Dùng năm thông lợi ích hữu tình nên chẳng trụ vô vi; khéo viên mãn, trí Phật, khéo viên mãn sáu thông, rốt ráo vô tận, nên chẳng tận hữu vi. Các độ tư lợi đã đầy đủ nên chẳng trụ
vô vi; tư duy về lợi tha chưa đầy đủ cho nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Gom tập pháp báo tài bảo… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Đối với pháp và tài bảo không nhàm chán, nên chẳng trụ vô vi, chẳng thích pháp nhỏ của Nhị thừa, chỉ thích pháp rộng lớn của Đại thừa nên chẳng tận hữu vi. Thệ nguyện không lui sụt, luôn độ hữu tình nên chẳng trụ vô vi; thệ nguyện đã viên mãn vì không bao giờ dừng nghỉ, nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Tích tập tất cả… chẳng tận hữu vi.
Tán: Đoạn này gồm hai đôi. Gom tập diệu pháp lạc chẳng dừng nghỉ, nên chẳng trụ vô vi; tùy bệnh cho thuốc chẳng bao giờ ngừng dứt, nên chẳng tận hữu vi. Rõ biết bệnh của chúng sinh vì hay theo ngoại cảnh, cho nên chẳng trụ vô vi; hay vĩnh viễn dứt trừ các bệnh không dừng nghỉ, nên chẳng tận hữu vi.
Kinh: Này các thiện nam… siêng năng tu học.
Tán: Kết luận thành tựu nghĩa chẳng tận chẳng trụ.
Kinh: Bấy giờ, tất cả… thân tâm vui mừng.
Tán: Đoạn thứ ba, hoan hỷ cúng dường, khen ngợi cao đức mà trở về; gồm ba phần:
1. Nghe pháp vui mừng.
2. Rải hoa hương cúng dường.
3. Khen ngợi kính lễ trở về.
Đây là văn thứ nhất. Nghe pháp khai mở được điều chưa từng ngộ, khuyến lệ khiến cho tâm các Bồ-tát khai ngộ, cho nên vô cùng hoan hỷ, thân tâm sung sướng.
Kinh: Dùng vô lượng các hoa… ngập đến đầu gối.
Tán: Dùng hoa hương cúng dường, có hai:
1. Cúng dường ba vị.
2. Rải hoa đầy khắp thế giới, như văn kinh đã ghi có thể tự biết.
Nơi có pháp như chùa tháp Phật theo lý nên cúng dường, huống hồ biểu thị cõi Phật chỉ là tịnh, cũng biểu thị hữu tình diệt ác phiền não, cho nên che phủ mặt đất, đủ để tu hành lợi ích pháp tánh bình đẳng, cho nên nói hoa ngập đến gối.
Kinh: Bấy giờ, các Bồ-tát… liền đến nước kia.
Tán: Đây là khen ngợi lễ bái mà trở về. Thân nghiệp quy kính cho nên đảnh lễ, ngữ nghiệp quy kính nên tán thán. Lợi ích đã đầy đủ cho nên phải trở về cõi nước.