THUYẾT VÔ CẤU XƯNG KINH SỚ
QUYỂN 5
(PHẦN 2)
Kinh: Lúc bấy giờ, hoa trời kia… liền dính chẳng rơi.
Tán: Đoạn này nói về hoa dính và không dính, gồm có hai:
1. Nói dính và không dính.
2. Nói phủi chẳng rơi.
Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Lúc bấy giờ, các Thanh văn… chẳng thể rơi.
Tán: Đây là nói phủi chẳng rơi.
Kinh: Lúc bấy giờ các Thiên nữ… vì sao lại phủi hoa?
Tán: Hỏi đáp để phá chấp, gồm có ba:
1. Thiên nữ hỏi.
2. Ngài Thu Tử đáp.
3. Thiên nữ thuyết. Đây là lời Thiên nữ hỏi.
Kinh: Xá-lợi Tử nói rằng… cho nên tôi phủi hoa.
Tán: Ngài Thu Tử đáp.
Kinh: Thiên nữ nói: Thôi!… chẳng như pháp.
Tán: Thiên nữ thuyết. Gồm hai phần là nêu lên và giải thích.
Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Vì sao?… tự chẳng như pháp.
Tán: Đây là phần giải thích; có hai ý:
1. Dùng hoa và người đối đãi nhau.
2. Dùng Đại, Tiểu đối đãi nhau.
Trong ý thứ nhất lại có hai:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
Đây là phần nêu lên.
Kinh: Vì sao?… có phân biệt khác.
Tán: Đây là giải thích lý do hoa và người khác nhau. Không phân biệt tức không có các chấp trước phân biệt. Không phân biệt khác tức
không có phân biệt sai khác. Vả lại đầu tiên nói không thuộc tướng chung, sau nói không thuộc tướng riêng.
Kinh: Trong phần Thiện thuyết pháp của Tỳ-nại-da… là như pháp.
Tán: Đây là nói về đại tiểu đối đãi, gồm có hai ý:
1. Nói về người có sai biệt.
2. Nói hoa dính thân có khác.
Đây là văn thứ nhất. Nơi giới luật của Phật mà xuất gia, nếu có hai phân biệt trên thì gọi là chẳng như pháp, vì trái đạo lý; không có hai phân biệt, thì gọi là như pháp, vì thuận chánh lý.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… và phân biệt khác.
Tán: Đây là nói về hoa dính có khác, gồm hai ý:
1. Nói phân biệt khác nhau, thì hoa dính và chẳng dính.
2. Tập khí đoạn trừ khác nhau thì hoa có dính và chẳng dính.
Trong ý đầu tiên lại có hai câu:
1. Nói phân biệt có khác nhau thì hoa có dính và chẳng dính.
2. Sợ và chẳng sợ thì hoa có dính và chẳng dính.
Đây là câu một. Bồ-tát không có hai phân biệt cho nên hoa chẳng dính; Thanh văn có hai phân biệt nên hoa dính thân.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… chẳng được tiện lợi, thừa cơ.
Tán: Đây là nói về sợ và chẳng sợ thì có dính và chẳng dính. Đầu tiên là nêu dụ sau là hợp.
Đây là phần dụ. Phi nhân tức quỷ thần…
Kinh: Nếu sợ sinh tử… chẳng được tiện lợi, thừa cơ.
Tán: Đây là hợp. Nhị thừa sợ sinh tử, các cảnh được tiện lợi, thừa cơ nhiễu loạn tâm ý; Bồ-tát không sợ sinh tử, nên các cảnh chẳng nhiễu loạn tâm ý của các ngài được.
Kinh: Lại, thưa ngài Xá-lợi Tử… hoa chẳng dính.
Tán: Đây là nói về tập khí đã đoạn có sợ hãi, thì hoa có dính và chẳng dính. Tập tức tập khí, thuộc thô trọng. Lìa ngoài chủng tử có thể tánh riêng biệt. Như chủng tử ác khẩu, chủng tử ca múa…
Kinh: Xá-lợi Tử hỏi rằng… đến nay đã bao lâu?
Tán: Thiên nữ đối đáp để phá chấp, đây là phần thứ hai ngài Thu Tử hỏi đáp. Theo văn gồm có năm:
1. Hỏi trụ ở trượng thất này lâu mau.
2. Hỏi phát tâm thừa nào.
3. Hỏi khiến chuyển thân nữ.
4. Hỏi về sau sinh cõi nào.
5. Hỏi về thời gian chứng quả.
Trong đoạn hỏi đáp, gồm mười hai câu. Đây là câu hỏi thứ nhất.
Kinh: Thiên nữ đáp rằng… trụ giải thoát.
Tán: Thứ hai là lời đáp. Giải thoát ở đây tức trạch diệt vô vi, Niết- bàn hữu dư, bản tánh là trụ không, cho nên nói là trụ giải thoát.
Kinh: Xá-lợi Tử hỏi… lâu như thế sao?
Tán: Thứ ba là câu hỏi.
Kinh: Thiên nữ lại đáp… cũng lâu như thế chăng?
Tán: Thứ tư, câu phản vấn. Ngài giải thoát lâu giống như thế ư?
Kinh: Xá-lợi Tử im lặng không đáp.
Tán: Thứ năm, chẳng đáp.
Kinh: Thiên nữ hỏi: Tôn giả… im lặng chẳng đáp.
Tán: Thứ sáu, Thiên nữ lại hỏi. Là bậc có tuệ biện tài bậc nhất, vì sao chẳng trả lời.
Kinh: Xá-lợi Tử đáp… rốt cuộc biết nói thế nào?
Tán: Thứ bảy, Xá-lợi Tử đáp. Niết-bàn vô danh, vì tánh lìa danh ngôn, hà huống bản tánh lại có thể trả lời là trụ lâu mau sao?
Kinh: Thiên nữ nói… đều là tướng giải thoát.
Tán: Thứ tám, giải thích về giải thoát, gồm ba phần:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận.
Đây là phần nêu lên.
Kinh: Vì sao… lìa trong ngoài và khoảng giữa mà có thể được.
Tán: Đây là phần giải thích, có hai:
1. Giải thích tướng giải thoát.
2. Giải thích tướng văn tự.
Đây là giải thích tướng giải thoát, lấy chân như làm thể.
Kinh: Văn tự cũng thế… chẳng phải lìa trong ngoài và khoảng giữa mà được.
Tán: Đây là thích tướng văn tự chỉ là giả lập trên âm thanh, không thật có văn tự, thì đâu có trong ngoài.
Kinh: Vì thế… tánh của nó bình đẳng.
Tán: Vì tất cả pháp, tánh chân như, thể chân giải thoát đều bình đẳng, không sai biệt.
Kinh: Xá-lợi Tử hỏi… là giải thoát chăng?
Tán: Thứ chín là câu hỏi. Ngài Thu Tử cho rằng lìa phiền não trói buộc là chứng đắc trạch diệt được giải thoát. Cho nên nêu câu hỏi này.
Kinh: Thiên nữ đáp rằng Đức Phật… bản tánh là giải thoát.
Tán: Thứ mười là giải thích. Nhị thừa là người tăng thượng mạn, vì chưa được quả Phật mà cho là bậc nhất, lại chẳng mong cầu gì nữa, được ít đã cho là nhiều, gọi là người tăng thượng mạn, đều thuộc về tánh vô phú. Đức Phật vì những người này mà nói lìa phiền não chứng Trạch diệt gọi là giải thoát. Các Bồ-tát gọi là bậc viễn ly, vì họ mà Đức Phật nói bản tánh của phiền não là chân như, đó là giải thoát.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… trí tuệ biện tài như thế?
Tán: Thứ mười một, Xá-lợi Tử lại hỏi Thiên nữ chứng được gì mà có tuệ biện tài như thế?
Kinh: Thiên nữ đáp… là tăng thượng mạn.
Tán: Thứ mười hai, Thiên nữ đáp. Các pháp vốn không, không được không chứng, nói có được có chứng, thì gọi là tăng thượng mạn. Thật chỉ có được một ít, chẳng phải được nhiều.
Kinh: Xá-lợi Tử nói rằng… phát tâm thú hướng thừa nào?
Tán: Phần thứ hai hỏi về phát tâm hướng đến thừa nào? Gồm có bốn:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Vấn nạn.
4. Giải thích.
Đây là lời hỏi.
Kinh: Thiên nữ đáp rằng… đều phát tâm thú hướng đến.
Tán: Thứ hai là trả lời.
Kinh: Xá-lợi Tử hỏi… nói như thế?
Tán: Thứ ba là vấn nạn. Theo căn cơ mà học pháp thì gọi là thừa. Phát thú đến cả ba thừa thì lời thật khó hiểu. Cho nên gọi là mật ý.
Kinh: Thiên nữ đáp… ta là Đại thừa.
Tán: Thứ tư, giải thích, gồm có ba phần:
1. Tự hành hạnh của người khác.
2. Ứng theo người mà trình bày pháp.
3. Giải thích các điều nghi.
Đây là văn thứ nhất. Bản dịch xưa không ghi phần này. Thanh văn có hai nghĩa:
1. Phẩm thứ hai kinh Pháp Hoa nói nghe pháp tin nhận.
2. Trong phẩm Tín Giải dùng đạo khiến được nghe.
Ở đây căn cứ theo nghĩa thứ hai, cho nên gọi là Thanh văn. Tự nhiên giác ngộ chân pháp tánh, chẳng đợi người khác dạy, chỉ thích tịch
tĩnh cho nên gọi là Độc giác. Chẳng thuyết quán đãi duyên mà khởi giác ngộ cũng gọi là Duyên giác. Chẳng lìa bỏ Từ bi cho nên gọi là Đại thừa.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… tôi là Đại thừa.
Tán: Đây là ứng hợp theo người mà trình bày pháp. Tùy thuận theo chúng sinh mà tuyên thuyết diệu pháp, hoặc hiện thân tướng của họ. Vì thế mà gọi là ba thừa.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… không thích ngửi mùi hương của các loài cỏ cây khác.
Tán: Đây là giải thích nghi nạn. Nghĩa là có người nghi rằng: “Thiên nữ hiện cả ba thừa, vì sao trong trượng thất này không thấy người Nhị thừa, chẳng nghe pháp Nhị thừa?”. Văn sau có bốn đoạn giải thích mối nghi này. Ta tuy là Tam thừa có đủ đức của ba thừa, nhưng trong trượng thất chỉ có Đại thừa, cho nên chẳng thấy hàng Nhị thừa, chẳng nghe pháp Nhị thừa. Trong bốn đoạn sau thì: Đoạn một, chỉ nói hạnh Đại thừa, đoạn hai nói về lý Đại thừa, đoạn ba nói về quả Đại thừa, đoạn bốn nói về giáo Đại thừa. Hạnh như hương thơm xông ướp, làm tăng trưởng gốc thiện; lý như thể của hương, hay dứt trừ điều ác; hai việc sau tự có thể biết được. Văn thứ nhất gồm có ba:
1. Dụ.
2. Pháp.
3. Giải thích.
Đây là nêu dụ. Chiêm-bát-ca, xưa âm là Chiêm-bặc, hương thơm vi diệu bậc nhất, ở cõi này không có.
Kinh: Như thế nếu trụ ở thất này… hương công đức.
Tán: Đây là pháp.
Kinh: Do trong ngôi trượng thất này… thường xông ướp.
Tán: Diệu Hương công đức là hạnh Đại thừa.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… mùi hương vi diệu mà đi ra.
Tán: Thứ hai nói về lý Đại thừa. Na-ca tức là rồng. Tất cả đều thấy các bậc Đại thừa, nghe được nghĩa lý đã nói, liền hiểu và quy hướng nhận mùi hương mà đi ra.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… lời nói tương ưng.
Tán: Thứ ba nói về giáo Đại thừa. Mười hai năng tức mười hai trụ của Bồ-tát, đó là chủng tánh, thắng giải hạnh, cực hỷ, tăng thượng giới, tăng thượng tâm, tam tuệ, vô tướng hữu công dụng, vô tướng vô công dụng, vô ngại giải, tối thượng Bồ-tát trụ và Như Lai trụ. Mười hai trụ trước gọi là Bồ-tát nhập vào giai vị Bồ-tát, chẳng từng nghe thuyết
giáo pháp Nhị thừa. Giáo và lý thuận nhau gọi là tương ưng. Chẳng từng nghe thuyết giáo tương thuận với đạo lý của Nhị thừa, chỉ nghe thuyết giáo pháp tương ưng với Đại thừa.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… pháp thù thắng.
Tán: Phần thứ tư nói về quả Đại thừa. Do tu Đại thừa, nên được quả có tám loại thù thắng. Gồm ba câu:
1. Nêu lên.
2. Giải thích.
3. Kết luận. Đây là câu thứ nhất nêu lên.
Kinh: Những gì là tám?
Tán: Đây là câu giải thích, có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là câu hỏi.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử! Đó là… pháp thù thắng.
Tán: Đáp, có tám. Việc hy hữu thứ nhất về sự trụ nơi trượng thất trống có tám việc hy hữu này, biểu thị cho việc trụ ở chân không hay phát sinh tám việc, tùy theo chỗ thích ứng có thể nêu đầy đủ, nay sợ văn rườm rà cho nên không nêu. Bên trong có trí tuệ, nên cảm bên ngoài phóng ánh sáng. Thứ nhất là biết tri, ánh sáng màu vàng ròng luôn luôn, chiếu soi cùng khắp tất cả, ngày đêm không dứt, chỉ thuyết Đại thừa, không lấy ánh sáng mặt trời, mặt trăng Nhị thừa để chiếu soi.
Kinh: Lại, ngài Xá-lợi Tử!… là pháp thù thắng.
Tán: Việc hy hữu thứ hai. Nghe pháp làm duyên, phiền não chẳng thể làm hại được.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử!… là pháp thù thắng.
Tán: Việc hy hữu thứ ba. Gần gủi duyên lành, cho nên các chúng đều vân tập đến, chẳng để thất trống.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử!… pháp thù thắng.
Tán: Điều hy hữu thứ tư. Giáo pháp sâu xa vi diệu, luôn tuyên thuyết pháp luân bất thoái sáu độ.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử!… là pháp thù thắng.
Tán: Việc hy hữu thứ năm. Vật cúng rất tốt đẹp cho nên có niềm vui pháp.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử!… là pháp thù thắng.
Tán: Viêc hy hữu thứ sáu. Bốn đại tạng thâu nhiếp vô lượng pháp. Vì bên trong hạnh đã đầy thì bên ngoài cảm được bốn tạng, vì pháp tuệ đầy đủ cho nên tài thí sung mãn. Thiếu tài bảo gọi là bần, hoàn toàn
không có tài bảo gọi là cùng, không có vợ thì gọi là quan, không có chồng thì gọi là quả; không còn cha mẹ thì gọi là cô, không anh chị em thì gọi là độc, không còn thân tộc, gọi là không có chỗ nương (vô y).
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… pháp thù thắng.
Tán: Điều hy hữu thứ bảy. Trong thấy pháp thân, ngoài thấy báo Phật, hà huống hóa thân làm lợi ích, vì sao lại cầu mà chẳng đến? Cho nên biết chí tâm cầu thỉnh, thì ứng theo sự nghĩ nhớ mà đến; cảm tha thiết về pháp hy hữu, nên nghe xong liền đi. Tổng cộng gồm mười một vị Phật ứng thỉnh.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi-phất… pháp thù thắng.
Tán: Việc hy hữu thứ tám. Cõi chúng sinh đến kiếp tận thì tịnh độ vẫn thường an ổn. Phàm phu thì thấy đó chỉ là ngôi thất nhỏ, bậc Thánh biết đó là tịnh độ, huống gì có thể hóa hiện mà chẳng có thiên cung? Nhưng do bên trong đầy đủ đức nên bên ngoài cảm được tướng trang nghiêm. Thất nhỏ còn có tám điều hy hữu, thì cõi nước lớn có hằng hà sa điều khó có. Vì cứu tám nạn, thương xót tám bộ, đoạn tám thức, trừ tám tà, hiển tám Chánh đạo, được tám giải thoát, vì thế chỉ nêu tám điều hy hữu.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử!… là pháp Độc giác sao?
Tán: Phần thứ ba, kết luận; cho nên không thấy có Nhị thừa nghe pháp, chỉ có pháp Đại thừa mà thôi.
Kinh: Lúc bấy giờ, Xá-lợi Tử… chuyển thân nữ này.
Tán: Đây là câu hỏi khiến chuyển thân nữ. Có ba:
1. Khiến chuyển thân nữ.
2. Chuyển Xá-lợi Tử.
3. Trở lại thân cũ.
Trong đoạn một có năm câu:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Phản vấn.
4. Lại đáp.
5. Giải thích.
Đây là câu hỏi. Thu Tử ở giai vị thấp chẳng thể suy lường được trí đức của bậc thượng vị, cho rằng có thật thân nữ, cho nên bảo nên chuyển.
Kinh: Thiên nữ đáp rằng… nên chuyển thế nào?
Tán: Đây là lời đáp. Mười hai năm, hoặc để biểu thị mười hai nhân duyên, nên mượn câu nói mười hai năm tự sống trong sinh tử tìm
cầu thân nữ chân thật đều chẳng thể được. Hoặc cho rằng đó là mười hai trụ của Bồ-tát, nên mượn nói mười hai năm; từ khi phát tâm đến nay, tìm cầu thân nữ chân thật, đều chẳng thể được. Hoặc cho rằng tự thân vào ngôi thất này đã mười hai năm để đợi ngài Tịnh Danh, chẳng nên mượn lời để ẩn dụ. Không chỉ hóa làm tướng người nữ, mà cầu tướng thật người nữ cũng không thể có được, đã không có thật người nữ, thì nên chuyển thế nào?
Hỏi: Trước đáp là sống ở đây như trụ giải thoát, không có niên hạn, vì sao bây giờ nói là mười hai năm?
Đáp: Trước là trả lời theo chân lý giải thoát nên đáp không có thời gian. Nay theo sự tu hành và phần hạn trụ nơi sinh tử, cho nên trả lời là mười hai năm. Cả hai không trái nhau.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi Tử… có phải là câu hỏi đúng chăng?
Tán: Thứ ba là lời phản vấn, hiển thị đã là nữ huyễn hóa, chẳng phải là chân thật.
Kinh: Xá-lợi Tử đáp… làm sao mà chuyển?
Tán: Thứ tư lời đáp.
Kinh: Thiên nữ nói như thế… chẳng chuyển thân nữ?
Tán: Thứ năm, chánh thức giải thích. Tất cả hữu vi giống như huyễn hóa, thân nữ đã chẳng chân thật làm sao chuyển được mà bảo chuyển?
Kinh: Liền khi ấy Thiên nữ… chẳng chuyển thân nữ?
Tán: Thứ hai là chuyển thân Xá-lợi Tử. Gồm ba:
1. Chuyển và hỏi.
2. Trả lời chẳng biết.
3. Giải thích.
Đây là chuyển và hỏi. Chuyển đổi đây thành kia mà hỏi ngài Thu Tử.
Kinh: Bấy giờ Xá-lợi Tử… chuyển thành thân nữ.
Tán: Đáp chẳng biết. Chẳng biết nguyên do thân nam biến mất mà trở thành thân nữ.
Kinh: Thiên tử lại nói… cũng có thể chuyển được.
Tán: Đây là phần giải thích. Có ba đoạn:
1. Lược nêu ví dụ.
2. Thành tựu cho tất cả.
3. Dẫn giáo.
Đây là đoạn một.
Kinh: Như ngài Xá-lợi-phất… mà thật chẳng phải nữ.
Tán: Đây là thành tựu cho tất cả người nữ. Nêu lên người để hiển rõ mình là nữ thân huyễn hóa chẳng phải thật.
Kinh: Đức Thế Tôn y cứ vào đây… chẳng phải nam chẳng phải nữ.
Tán: Đây là dẫn giáo. Tướng thì có nam nữ mà thật không có nam nữ. Sự thì có nam nữ, lý thật không có nam nữ. Trong lời nói chỉ có ẩn ý như thế cho nên gọi là mật ý.
Kinh: Lúc bấy giờ, Thiên nữ… nay ở đâu?
Tán: Thứ ba, trở lại hình tướng cũ, có ba:
1. Trả lại hình tướng và hỏi.
2. Theo lý mà đáp.
3. Khen ngợi và dẫn giáo.
Đây là văn thứ nhất.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… không tại đâu, cũng không biến đổi.
Tán: Theo lý mà đáp. Tướng nữ đã không, sao lại có tại? Vốn chẳng phải là người nữ thật thì đâu có biến? Vả lại pháp tánh không thì cái gì tại, cái gì biến? Bản xưa ghi: “chẳng tại đâu, chẳng phải chẳng tại đâu”. Không có người nữ thật xưa tại, nay chẳng tại; không có người nữ thật thì đâu có tại và chẳng tại?
Kinh: Thiên nữ nói: Thưa Tôn giả… là lời nói chân thật của Phật.
Tán: Khen ngợi và dẫn giáo. Pháp tánh vốn không, đâu có gì là tại là biến, vả lại không phải như tướng kia. Lập tất cả pháp đều không tại nơi đâu, vì pháp mỗi mỗi luôn luôn sinh khởi, không có tự tánh chân thật; vì sao lại có biến chuyển? Bản xưa nói: “Tất cả pháp cũng chẳng tại và chẳng phải chẳng tại”, vì không có thật tánh.
Kinh: Lúc bấy giờ, Xá-lợi Tử… sẽ sinh vào nơi đâu?
Tán: Thứ tư là hỏi sinh vào nơi đâu; gồm có bốn:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Vấn nạn.
4. Giải thích.
Đây là lời hỏi. Chẳng hỏi từ đâu đến mà chỉ hỏi chỗ sinh về là vì đã nói trụ ở đây như trụ giải thoát, cho nên chẳng hỏi từ nơi nào đến, chỉ hỏi chỗ sinh về.
Kinh: Thiên nữ đáp… tôi sẽ sinh vào nơi ấy.
Tán: Lời đáp. Nơi mà hóa Phật sinh đến tức là chỗ của ta sinh đến.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… là chỗ sẽ sinh về.
Tán: Thứ ba là hỏi. Hóa thì chẳng phải chân thật, chẳng chết chẳng sinh, vì sao nay lại nói sẽ có chỗ sinh về?
Kinh: Thiên nữ nói: Thưa Tôn giả… sẽ sinh nơi nào?
Tán: Không Lý Nghĩa ghi: “Trong Thắng nghĩa đế, các pháp về hữu tình đã không có thể tánh, thì nào có chỗ sinh?” Ứng Lý Nghĩa ghi: “Pháp Biến kế sở chấp và hữu tình đều không có thật thể, thì đâu có chỗ đến, huống gì ta hóa hiện mà có sinh?”
Kinh: Lúc bấy giờ, Xá-lợi-phất… Chánh đẳng Bồ-đề.
Tán: Đoạn thứ năm là hỏi về thời gian chứng ngộ Bồ-đề, gồm có chín câu. Đây là câu hỏi thứ nhất. Người bao lâu nữa sẽ được Bồ-đề? Lâu như thế nào?
Kinh: Thiên nữ đáp rằng… lâu cũng như thế.
Tán: Đáp cũng như thế. Như ngài trở lại thành người giả dị sinh, trong thân khởi hữu lậu dị sinh, lâu như thế, ta sẽ được Bồ-đề.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… pháp dị sinh.
Tán: Bốn, đáp lời phản vấn, không thể có đạo lý mà nói có nơi chốn thời gian để trở lại thành dị sinh.
Kinh: Thân nữ nói… người chứng Bồ-đề.
Tán: Thứ tư, phản vấn để thành tựu cho nghĩa trên. Lý chân như là Đại Bồ-đề, cho nên không có chỗ trụ, cũng không có thời gian để có thể chứng đắc và người chứng ngộ. Cho nên kinh Bát-nhã ghi: “Thật không có một pháp gọi là Bồ-đề.”
Kinh: Xá-lợi Tử nói… đã chứng sẽ chứng.
Tán: Thứ năm, dẫn giáo để vấn nạn. Hiện tại thì hiện chứng, quá khứ thì đã chứng, vị lai thì sẽ chứng.
Kinh: Thiên nữ nói rằng thưa Tôn giả… vượt qua ba thời.
Tán: Thứ sáu, dùng đạo lý để giải thích. Kinh nói ba thời sẽ được Bồ-đề, đó là căn cứ theo văn tự ngữ ngôn thế tục mà nói có, chẳng phải y cứ theo Bồ-đề chân như thắng nghĩa có ba thời mà nói có chứng đắc. Vì Bồ-đề chân như vượt cả ba thời.
Kinh: Thưa ngài Xá-lợi-phất… A-la-hán chăng?
Tán: Thứ bảy, lời phản vấn. Muốn làm cho nghĩa lý sáng tỏ hơn, nên đặt câu hỏi này.
Kinh: Xá-lợi Tử nói… được cái không thể được.
Tán: Thứ tám, trả lời. Từ xưa chẳng được, hôm nay đã chứng đắc giải thoát; từ xưa đã được hôm nay chẳng được cảnh vọng. Khi chứng vô học thì cái trước chẳng được nay lại được, cái trước đã được thì nay chẳng được, cho nên gọi là được mà chẳng được. Vả lại nói chẳng được
tức có chỗ được. Nếu muốn được tức không có được.
Kinh: Thiên nữ nói: Thưa Tôn giả… chứng không có chỗ chứng.
Tán: Thứ chín giải thích. Bồ-đề cũng như thế, từ xưa chưa chứng, nay chứng chân như. Không có chỗ chứng tức nay chẳng chứng chỗ chấp trước hoặc cảnh vọng.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… vĩnh viễn chẳng thoái chuyển.
Tán: Đoạn thứ ba, ngài Vô Cấu khen ngợi. Đầu tiên khen đức, sau giải thích người nữ.
Đây là phần thứ nhất. Gồm sáu đức:
1. Gặp duyên tốt.
2. Được sức thần thông.
3. Được trí tuệ.
4. Nguyện đầy đủ.
5. Được vô sinh phần.
6. Đến giai vị bất thoái
Kinh: Nương sức bản nguyện… thành thục cho hữu tình.
Tán: Đoạn này giải thích nguyên do làm thân nữ. Do nương vào nguyện lực, tùy ý muốn mà thọ sinh, cho nên vào thất này, thuận theo căn cơ của hữu tình, mà tuyên nói diệu pháp, vì thế mà hiện thân nữ.
------------------------------------
PHẨM 8: BỒ ĐỀ PHẦN
Năm phẩm từ phẩm Phương Tiện trở xuống là nói về hạnh lợi tha thù thắng, kế đó một phẩm trên là nói giáo hóa. Kế đó hai phẩm dưới là nói về chân thật nghĩa xứ, là hạnh tự lợi. Trong đó một phẩm đầu là nói về sự hạnh thế tục hữu vi chân thật. Một phẩm sau là nói về lý hạnh xuất thế vô vi chân thật; vì sau lợi tha ắt phải nói đến tự lợi. Muốn chứng ngộ được lý ấy, trước phải tu sự. Bồ-đề là quả giác ngộ, phần tức là nhân, tức đạt được hạnh nhân vị của Phật Bồ-đề, nay nói rộng về nghĩa này nên gọi là Bồ-đề Phần, chẳng phải chỉ nói ba mươi bảy Bồ-đề phần.
Kinh: Lúc bấy giờ, Bồ-tát Diệu Cát Tường… đến nơi rốt ráo.
Tán: Toàn phẩm được phân làm ba đoạn lớn:
1. Bồ-tát Diệu Cát Tường hỏi để lược nói về nhân Bồ-đề.
2. Ngài Vô Cấu Xưng hỏi để nói rộng về dòng giống Như Lai.
3. Ngài Thiện Hiện hỏi để nói rõ về nghiệp Bồ-đề.
Có thể đến được cõi Phật là nhân Bồ-đề, là hạnh chánh tu. Nhân năng sinh là dòng giống Như Lai, là luận về bản tánh; các pháp, cha, mẹ… là nghiệp Bồ-đề, là quả đầy đủ. Không có nhân Bồ-đề thì quả Phật lấy gì làm thể; không có dòng giống Như Lai thì giác phần làm sao mà sinh. Không có cha mẹ… quả Phật do tướng gì mà viên mãn. Vì thế phân làm ba đoạn. Thứ nhất là thuận nhân, thứ hai là lập nhân, thứ ba là quả đức; khi được Bồ-đề thì pháp thiện và bất thiện đều gọi là Phật tánh, cho nên cả hai đều là nhân; thiện là nhân của báo thân, bất thiện là nhân của pháp thân. Kinh Thắng Man ghi: “Có hai loại Như Lai tạng, trí không và phiền não gọi là Như Lai tạng”.
Trong đoạn thứ nhất gồm có bốn:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Nêu lên.
4. Giải thích.
Đây là câu hỏi. Các Phật pháp tức là chung cho nhân và quả; nơi rốt ráo tức là Bồ-đề Niết-bàn trong quả Phật, làm sao có thể đạt đến nhân của giác? Chẳng phải là ba mươi bảy Bồ-đề phần, vì đó là chung cho ba thừa, còn ở đây thì chẳng chung cho ba thừa.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… đến nơi rốt ráo (cứu cánh thú).
Tán: Thứ hai là lời đáp. Chỗ trở về của phàm phu gọi là thú, chỗ trở về của bậc Thánh chẳng phải là chỗ trở về của phàm phu. Đi trên
con đường chẳng phải này gọi là hành phi thú. Hoặc cho rằng thú có hai: Một là, sở thú gọi là thú, đó là quả pháp Phật; năng thú chẳng phải là thú, tức là Bồ-đề phần. Nay tu tập giác phần năng thú, cho nên nói hành nơi phi thú. Hành nơi phi thú này có thể đạt đến chỗ rốt ráo. Xưa ghi: “Hành nơi phi đạo” đạo tức là thú, như năm đạo…
Kinh: Diệu Cát Tường nói… hành nơi phi thú.
Tán: Thứ ba, nêu lên.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… phiền não trần cấu.
Tán: Thứ tư là giải thích, gồm hai phần là giải thích và kết luận. Trong phần giải thích gồm có ba mươi ba câu được chia làm hai: Mười chín câu đầu luận về việc chẳng đồng phàm phu, mười bốn câu sau thì nói chẳng đồng Nhị thừa. Nhưng chính thức thì được phân làm bảy đoạn:
1. Sáu câu đầu căn cứ theo thú (các đường) mà xa lìa các hạnh ác.
2. Ba câu kế y cứ theo căn để diệt các hạnh độc hại.
3. Mười câu kế căn cứ theo chướng để tu hạnh Ba-la-mật.
4. Hai câu kế căn cứ theo Tiểu thừa để tu hạnh Đại thừa.
5. Năm câu kế căn cứ theo pháp ác để hành pháp thiện.
6. Bốn câu kế căn cứ theo pháp kém để tu pháp cao hơn.
7. Ba câu cuối nói về tu hạnh bất trụ.
Bản dịch xưa chỉ có ba mươi mốt câu, đoạn đầu chỉ có năm câu, đoạn cuối chỉ có hai câu.
Sáu câu đầu y cứ theo các thú để lìa hạnh ác, thì hai câu đầu nói về địa ngục, một câu nói về bàng sinh, một câu nói về A-tố-lạc, một câu nói về ngạ quỷ, một câu nói về cõi trời. Không nói đến cõi người và cõi sắc. Bản dịch xưa ghi có cõi sắc là sai, vì kinh chỉ muốn nêu lên những nơi khó tu nhất, cho nên không có cõi người và cõi sắc và Bồ-tát thường giáo hóa hai cõi này, dễ tu nên chẳng luận đến. Đoạn này gồm hai câu y cứ theo địa ngục. Năm vô gián, đó là phạm năm tội nghịch như giết cha, giết mẹ… đây là chung cho ba thừa, nếu chỉ có Đại thừa thì năm tội nghịch là phá chùa, phá tháp… thì mãi mãi không gián đoạn sinh vào đó, đã sinh vào đó thì chịu khổ không lúc nào dứt, cho nên gọi là vô gián. Sinh vào năm vô gián, ắt phải là kẻ cực ác phần nhiều khởi các tâm sân hận độc ác. Bồ-tát sinh vào đó, vì lợi ích chúng sinh nên không có tâm sân hận mà tu tập Bồ-đề Phần. Na-lạc-ca, Hán dịch là ác giả (kẻ ác); Nại-lạc-ca dịch là khổ khi, xưa gọi là địa ngục. Người sinh vào nơi khổ này (khổ khí) gọi là ác giả (kẻ ác). Hữu tình sinh vào đây ắt phiền não
trần cấu phải rất sâu nặng. Bồ-tát sinh vào đây nhưng không có phiền não. Ở đây nêu cõi thấp nhất này, còn các địa ngục khác, như các câu sau nói “ở nơi ấy”, đều là Bồ-tát tùy loại hóa sinh, thị hiện ở nơi ác, khởi pháp ác, mà ở nơi đó không tạo tác mà thực hiện Bồ-đề phần, tất cả đều theo đó có thể biết được, không cần phải giải thích lại.
Kinh: Tuy ở nơi đường bàng sinh… chẳng sinh khởi ngạo mạn kiêu căng.
Tán: Bàng sinh gọi là hắc ám, phi thiên phần nhiều tự thị, ngạo mạn, kiêu căngg. Bồ-tát thì xa lìa các lỗi này.
Kinh: Tuy ở nơi cõi Diêm-ma vương… chẳng thích thú hướng đến.
Tán: Diêm-ma, Hán dịch là tĩnh tức; bản xưa dịch là Diêm-la. Dưới mặt đất năm trăm do-tuần là cõi nước của vua Diêm-ma. Vua này hoặc là vị Bồ-tát bất thoái hóa hiện, hoặc là hữu tình đảm nhiệm. Phàm người sống ở cõi Diêm ma, phần nhiều chẳng có tu tập nhân thù thắng, còn Bồ-tát sinh vào cõi đó thì hay tích tụ phước tuệ; phàm đạt được định vô sắc, tĩnh lự giải thoát, phần nhiều đều thích hướng đến định này mà sinh vào đó, còn Bồ-tát tuy ở nơi đó chẳng thích sinh nơi định kia.
Kinh: Tuy ở nơi tham dục… mà tự điều phục.
Tán: Đoạn thứ hai gồm ba câu; y cứ vào căn để diệt các hạnh ác, tức tham, đối với sự ham muốn, phần nhiều sinh nhiễm trước; sân, đối với cảnh hữu tình mà chẳng hợp tình thì sinh sân hận oán hại; si, đối với tất cả cảnh hắc ám thì không biết không tự điều phục được. Bậc Bồ-tát tuy ở nơi ba căn bất thiện mà hay diệt trừ tánh của ba độc.
Kinh: Tuy thị hiện ở nơi… kinh sợ vô cùng.
Tán: Đoạn thứ ba gồm mười hai câu, nói nương vào chướng để tu các độ. Đoạn này gồm hai câu đầu. Tuy hiện tham lam bỏn sẻn, nhưng hay thí tài bảo danh vị, không tiếc thân mạng. Tuy thị hiện phạm giới, mà hay lập mười hai đổ-đa mát trong, ham muốn ít chẳng cầu nhiều; biết đủ chẳng cầu, mà hay cầu tám điều giác ngộ của bậc đại nhân và bốn chi giới, ví như có phạm tội nhỏ thì sinh tâm sợ hãi lớn. Đổ-đa nghĩa là trừ bỏ, tức trừ bỏ điều ác như Thanh văn Địa và biệt kinh đã nói. Tám điều giác ngộ của bậc đại nhân, như Niết-bàn, Di Giáo đã nói, còn bốn chi giới thì quyết trạch phần đã ghi.
Kinh: Tuy hiện ở nơi sân hận… tinh tấn chẳng bỏ.
Tán: Tuy hiện có sân hận nhưng an trú nơi tâm từ bi, nhẫn nhịn không giận dữ; tuy hiện giãi đãi nhưng luôn luôn tu thiện không bao giờ thôi nghỉ.
Kinh: Tuy thị hiện thực hành các căn loạn động… Ba-la-mật-đa.
Tán: Tuy hiện căn tán loạn nhưng thường an tĩnh vắng lặng trụ nơi định. Tuy hiện ác tuệ, nhưng thường đạt được cảnh tín và sở tín, đến tuệ đáo bỉ ngạn.
Kinh: Tuy thị hiện hành dối trá… thành lập cây cầu tế độ.
Tán: Xiểm khúc trá ngụy khiến cho người vui, làm chướng ngại phương tiện thiện xảo; còn Bồ-tát tuy hiện xiểm khúc trá ngụy, nhưng thường tu tập phương tiện khéo léo, cũng khiến cho người vui. Do kiêu mạn nên phần nhiều có lời nói bí mật, tự phóng túng lấn hiếp người, sinh khởi tà nguyện thế gian; làm chướng ngại nguyện rộng lớn. Bồ-tát tuy thực hành tà nguyện kiêu mạn mà hay thành tựu diệu nguyện, làm chiếc cầu xuất thế, cứu độ quần sinh. Vì hay cứu vớt, hay làm chiếc cầu độ các hữu tình, như thế gian nguyện cầu không bệnh, được sống lâu, thì Bồ-tát cũng tùy thuận mà chú nguyện cho họ; ý phù hợp với đạo xuất thế mà làm chiếc cầu cho thế gian.
Kinh: Tuy thị hiện thực hành tất cả phiền não của thế gian… chẳng tùy theo duyên của ma.
Tán: Tuy có khởi phiền não mà lại thành sức mạnh tốt đẹp, vì tánh thanh tịnh không nhiễm ô. Tuy hiện các ma mà chứng tuệ giác ngộ của Phật chẳng bị ma trói buộc. Tùy theo duyên của ma, tức là tùy theo duyên trói buộc của ma. Mười chín câu trên là nói về việc chẳng đồng với hạnh phàm phu; mười bốn câu sau là nói chẳng đồng với hạnh Nhị thừa. Nhị thừa có các việc kém xấu nhơ bẩn cùng căn khuyết… văn phân làm bảy câu, ý nghĩa rất rõ ràng,
Kinh: Tuy thị hiện hạnh Thanh văn… thành thục cho hữu tình.
Tán: Đoạn thứ tư, gồm hai câu, căn cứ theo Tiểu thừa mà tu Đại thừa. Hàng Thanh văn thì tự lợi, chẳng biết cứu độ chúng sinh. Bồ-tát tuy ở vị Thanh văn, mà lại thuyết pháp cho Thanh văn nghe. Hàng Độc giác cũng thế, không có tâm đại Từ bi, Bồ-tát thì có đầy đủ, luôn thành thục cho loài hữu tình.
Kinh: Tuy thị hiện ở nơi bần cùng… diệu sắc trang nghiêm thân.
Tán: Đoạn thứ năm gồm năm câu, nương vào pháp ác mà tu pháp thiện. Tuy ở nơi bần cùng mà thường được đôi tay đầy của báu, ban phát vô tận. Tuy hiện các căn thiếu khuyết, mà đầy đủ các tướng quý, vẻ đẹp. Tướng có xấu nhưng tâm thì đạt được thiện.
Kinh: Tuy hiện ở nơi ti tiện… phước tuệ tư lương.
Tán: Tuy thị hiện sinh vào gia đình ti tiện mà thật sinh vào nhà Phật pháp giới thanh tịnh, có dòng họ tôn quý, tu tập nhân phước tuệ.
Kinh: Tuy hiện ở nơi thô lậu, yếu kém đáng ghét… khởi sự chết
đáng sợ hãi.
Tán: Thân hình tuy hiện tướng xấu xí gầy yếu đầy dẫy sự đáng ghét mà thường được thân đẹp, mạnh như trời Na-la-diên; thân trời Na- la-diên là bật nhất, mọi người đều thích nhìn. Tuy hiện có bệnh, già mà hay xa lìa hoặc nghiệp căn bản, vượt khỏi năm sự sợ hãi trong sinh tử.
Kinh: Tuy thị hiện cầu tài bảo, danh vị… tu tập hạnh xa lìa.
Tán: Đoạn thứ sáu gồm bốn câu, nương vào chỗ kém để tu hạnh tốt đẹp. Dự lưu và Nhất lai còn có năm điều kém, Bồ-tát không như thế, các việc khác đều thông suốt, bậc vô học đều có đủ. Tuy hiện làm các việc mua bán mà luôn quán xét vô thường, chẳng sinh tham trước, đoạn dứt tâm mong cầu. Tuy ở nơi vui chơi mà vượt ra ngoài vũng bùn năm dục, tu hạnh xa lìa.
Kinh: Tuy thị hiện nơi ngoan hiêu… độ các thế gian.
Tán: Miệng chẳng nói lời trung tín gọi là ngoan, tâm chẳng tính lường đến lý nhân nghĩa đạo đức thì gọi là hiêu. Bồ-tát tuy hiện ở nơi loại ngu si, mà đầy đủ biện tài, tuệ niệm tổng trì. Tuy thị hiện hành tà đạo, ở nơi ngoại đạo mà thường dùng chánh đạo hóa độ tất cả.
Kinh: Tuy thị hiện ở nơi tất cả các loài sinh… sinh tử tương tục.
Tán: Đoạn thứ bảy gồm ba câu nói về tu hạnh chẳng trụ. Đoạn gồm hai câu nói chẳng trụ sinh tử Niết-bàn. Bản dịch xưa chỉ có hai câu. Ở nơi sinh tử mà vĩnh viễn đoạn, ở nơi Niết-bàn mà thường chẳng trụ.
Kinh: Tuy thị hiện được diệu Bồ-đề… tương tục không gián đoạn.
Tán: Đoạn này gồm một câu nói về việc chẳng trụ nhân và quả. Tuy hiện được quả mà vẫn tu nhân hạnh.
Kinh: Thưa ngài Diệu Cát tường… đến chỗ rốt ráo.
Tán: Phần thứ hai kết luận.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… nguyện xin được chỉ bày.
Tán: Phần thứ hai, ngài Vô Cấu hỏi để làm rõ Như Lai chủng. Gồm bốn đoạn:
1. Hỏi.
2. Đáp.
3. Nêu lên.
4. Giải thích.
Đây là câu hỏi. Chủng tức là nhân, tánh tức là loại. Thể loại nhân của Phật gọi là chủng tánh của Như Lai.
Kinh: Bồ-tát Diệu Cát Tường đáp… là chủng tánh của Như Lai.
Tán: Thứ hai là đáp, có hai:
1. Nói riêng.
2. Kết luận lược nêu. Trong phần nói riêng lại có hai:
1. Trình bày riêng.
2. Nói về loại.
Đây là phần trình bày riêng, có bốn. Nghĩa của Phật tánh có rất nhiều, kinh Niết-bàn ghi: “Hoặc có Phật tánh, người có thiện căn thì có, kẻ xiển đề thì không. Hoặc có Phật tánh, người xiển-đề có, người có thiện căn không có. Hoặc có Phật tánh, cả hai người đều có. Hoặc có Phật tánh, cả hai đều không”. Kinh Niết-bàn lại ghi: “Khi chưa đắc A- nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, thì tất cả pháp thiện và bất thiện đều gọi là Phật tánh”. Kinh này cũng nói các trần lao là chủng tánh của Như Lai. Chủng tánh có hai loại là vô lậu và hữu lậu. Vô lậu lại có hai:
1. Tánh vô vi; kinh Thắng Man ghi: “Tại triền gọi là Như Lai tạng, xuất triền gọi là pháp thân”. Kinh Niết-bàn ghi: “Sư tử rống, tức là quyết định thuyết, tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”.
2. Tánh nhân duyên, tại triền gọi là chủng tử pháp nhĩ, do nghe nhiều huân tập, xuất triền gọi là báo thân. Kinh Lăng-già ghi: “Thức A-lê-da gọi là Không Như Lai tạng; vì đầy đủ các pháp vô lậu huân tập nên gọi là Bất không Như Lai tạng”. Kinh Thắng Man y cứ vào nghĩa vô vi, phiền não là hay che lấp, còn chân lý là thường bị che lấp. Kinh Lăng-già y cứ theo nghĩa hữu vi, nên nói thức A-lê-da hay gom giữ, còn chủng tử thì được gom giữ. Hai loại hay che lấp, gom giữ, hai loại bị che lấp gom giữ đều gọi là Như Lai tạng. Hữu lậu cũng có hai, đều là Tăng thượng duyên:
1. Gia hạnh thiện, tùy thuận tánh, tùy thuận tăng trưởng chủng tử vô lậu.
2. Các bất thiện khác thì trái với tánh, chướng ngại pháp vô lậu.
Do đoạn pháp này mà chứng đắc Bồ-đề, do phiền não này mà chân lý bị che lấp, cũng do công đức tăng thượng này hiện khởi cho nên gọi là Như Lai tạng. Do đủ hai nghĩa này mà bất thiện gọi là Như Lai tạng. Vì thế các giáo nói: Khi chưa được Bồ-đề thì Bồ-đề là phiền não, vì bất giác cho nên mê, sau ở nơi khổ. Khi đã được Bồ-đề thì phiền não là Bồ- đề; vì chẳng mê cho nên giác; do đoạn trừ duyên kia nên được Bồ-đề. Chủng tánh của thân hư giả là thân năm uẩn duyên với Tát-ca-da kiến. Hữu ái, tức sau khi nhuận sinh thì hữu ái, do thân kiến làm gốc, vô minh làm nhân. Hữu ái là nhân, thì sinh tử trong ba cõi lấy đó làm chủng tánh, ba độc bốn đảo tùy theo đó mà sinh khởi, cũng đều như thế.
Kinh: Chủng tánh năm uẩn có như thế… là chủng tánh của Như Lai.
Tán: Đây là nói về loại. Năm uẩn, sáu xứ, tám tà, mười nghiệp bất thiện thì như trước đã nói. Bảy thức trụ là:
1. Thân khác tưởng khác, như người, trời cõi Dục và Tĩnh lự thứ nhất, trừ kiếp sơ khởi tưởng, còn lại khởi tưởng cho rằng có khổ vui và không khổ vui.
2. Thân khác tưởng đồng, như trời Phạm chúng, cho rằng kiếp sơ khởi, thân hình đã khác, nhưng đồng tưởng Phạm thiên là cha của chúng sinh.
3. Thân một tưởng khác, tĩnh lự thứ hai thân tướng chẳng khác, lạc và xả lẫn lộn nhau.
4. Thân một tướng cũng chỉ một như tĩnh lự thứ ba chỉ có tướng vui thích, cho nên gọi là tưởng một.
Trong sơ tĩnh lự, do tưởng nhiễm ô cho nên nói tưởng một. Tĩnh lự thứ hai do tưởng hai thiện cho nên nói tưởng khác. Tĩnh lự thứ ba do tưởng dị thục cho nên gọi tưởng một. Trên là bốn thức trụ, dưới đây là ba vô sắc gọi là biệt tự thành. Năm uẩn, bốn uẩn tùy theo chỗ thích ứng mà gọi là thức trụ. Những nơi khác vì thức có tổn giảm nên không gọi là thức trụ. Đường ác quá khổ, tĩnh lự thứ tư, trời Vô tưởng định, cõi Phi tưởng đều có diệt tận định, làm tổn hoại thức, khiến thức luôn gián đoạn, cho nên chẳng phải là thức trụ. Vả lại còn một cách giải khác, như Câu-xá luận tụng ghi: “Thân khác và tưởng khác, thân khác tưởng là một, thân tưởng đều chỉ một, vô sắc sau có ba”. Cho nên biết có bảy thức trụ, những chỗ khác chẳng phải, vì thức có tổn hoại. Chín não, thể đều là sân; thích oan gia của ngã, ghét thân hữu của ngã và thân của ngã, tất cả là ba, nhân với ba thời thành chín việc não hại chúng sinh, nên gọi là chín não sự.
Kinh: Tóm lại… là chủng tánh của Như Lai.
Tán: Đây là phần kết luận tóm lược, chẳng thể nói đầy đủ cho nên tóm lại. Tất cả pháp phiền não, ác bất thiện đều là Phật chủng; trước đã nói, thức trụ của thân hư giả là quả hữu lậu, nghiệp đạo bất thiện là nghiệp hữu lậu, còn tất cả pháp còn lại đều là phiền não, trừ pháp hiện thuận với nhân, còn tất cả đều gom nhiếp vào pháp sinh tử khác.
Kinh: Vô Cấu Xưng nói… nói như thế.
Tán: Thứ ba là nêu lên. Chủng nghĩa là nhân, tức là liễu nhân năng sinh, trái với tánh bất thiện. Vậy thế nào là chủng? cho nên hỏi nói như thế có mật ý gì? Lời nói thật khó hiểu.
Kinh: Ngài Diệu Cát Tường nói… Tâm chánh đẳng giác.
Tán: Thứ tư, giải thích, gồm có hai:
1. Giải thích rộng.
2. Khen ngợi.
Phần một lại có hai là giải thích và kết luận. Trong đoạn giải thích lại gồm ba pháp dụ:
1. Dụ trên đồi cao hoa không thể sinh, mà ở vùng ẩm thấp mới sinh trưởng được.
2. Dụ trong hư không, không thể gieo trồng, mà ở nơi đất đai ẩm thấp mới có thể gieo trồng được.
3. Dụ biển mới có châu ngọc quý, chẳng có biển thì không có vật quý.
Đầu tiên lại có ba là pháp, dụ và hợp. Đây là pháp. Chánh tánh tức đế lý. Nhập tức dự vào… Sinh tức là dị sinh. Lìa khỏi dị sinh này thì gọi là lìa sinh. Vị tức là giai vị. Dự vào đế lý này tức là lìa giai vị của dị sinh; tức là Dự Lưu… chẳng phải là người có thể phát tâm Chánh đẳng giác, mà phải ở ngay nơi phiền não mới phát tâm được. Đoạn văn này có rất nhiều thuyết. Bậc Thánh Nhị thừa chưa phát tâm, chẳng phải là vĩnh viễn không phát tâm, nhưng ở đây phần nhiều là nói phát tâm nhanh chóng mạnh mẽ siêu việt, cho nên nói Nhị thừa chẳng thể phát tâm, chẳng phải Nhị thừa không thú hướng đến Đại thừa. Ở hội Pháp Hoa có ba vòng thọ ký cho Thanh văn. Niết-bàn cũng nói bậc Tu-đà- hoàn tám vạn kiếp sẽ đến, cho đến Bích-chi mười ngàn kiếp sẽ đến, nói đến tức là đến tâm A-nậu-đa-la tam miệu Tam-bồ-đề. Lại nói, Ta trong một lúc nói Nhất thừa, Nhất đạo, Nhất duyên, Nhất hạnh, có thể vì tất cả chúng sinh mà làm bậc Đại tịch diệt, vĩnh viễn đoạn trừ tất cả sự trói buộc, sầu khổ và nhân khổ, khiến chúng sinh đến nơi Nhất hữu. Nhưng đệ tử của ta không hiểu ý của ta, bèn nói Như Lai thuyết tất cả chúng sinh đều được Phật đạo…, nói Tu-đà-hoàn cho đến A-la-hán đều chẳng được Phật đạo, tất cả không hiểu ý của Ta. Cho nên biết Nhị thừa cũng có người đạt được, như luận đã nói rõ. Vì thế nói chẳng nên luận theo một chiều.
Kinh: Ví như trên vùng cao… bốn loại hoa này.
Tán: Đây là dụ. Ôn-bát-la là màu xanh, Bát-đặc-ma là màu vàng, Câu-mẫu-đà là màu đỏ và Bôn-trà-lợi là màu trắng. Đây là nói bốn loại hoa sen.
Kinh: Như thế chủng tánh Thanh văn… các Phật pháp.
Tán: Đây là hợp. Nhị thừa như đồi cao, chẳng thể sinh phiền não như bùn lầy có thể sinh trưởng hoa. Do hoặc che mờ lý, lý hiển thì đạo sinh, đạo như hoa sen, phiền não chướng ngại trí, đoạn diệt nó thì trí
sinh, trí như hoa sen. Do khởi phiền não làm lợi lạc chúng sinh, tăng trưởng trí tuệ, tuệ dụ như hoa sen.
Kinh: Này thiện nam… mới được sinh trưởng.
Tán: Dụ thứ hai. Đầu tiên nên dụ, sau là pháp.
Đây là phần dụ.
Kinh: Chủng tánh Thanh văn, Độc giác như thế… các Phật pháp.
Tán: Đây là pháp. Nhị thừa như hư không, chẳng thể gieo trồng trên đó, vì vô ngã. Thân kiến như đất, có thể sinh ra thiện. Nhị thừa chứng không chẳng thể tiến tu; làm ngã xuất thế, hay cứu độ chúng sinh, chẳng sinh mà có thể tiến tu.
Kinh: Này thiện nam… châu báu vô giá.
Tán: Dụ thứ ba. Đầu tiên là dụ, sau là pháp. Đây là dụ.
Kinh: Chẳng vào sinh tử… Nhất thiết trí tâm.
Tán: Đây là pháp. Cần phải vào biển hoặc chướng mới biết được nó, mới phát khởi nó, mới đoạn được nó, mới phát được tâm Đại thừa.
Kinh: Vì thế nên biết… là chủng tánh của Như Lai.
Tán: Thứ hai, kết luận.
Kinh: Lúc bấy giờ, Tôn giả… là chủng tánh Như Lai.
Tán: Đoạn thứ hai là khen ngợi. Có ba:
1. Khen ngợi và nêu lên.
2. Giải thích nguyên do.
3. Kết luận thành tựu ý nghĩa.
Đây là văn thứ nhất. Khéo thuyết là tổng quát; thật, như, vô dị là riêng biệt. Trong câu đầu lại có ba, như theo thứ tự phối hợp với ba dụ ở trước, hoặc thứ tự phối hợp với phiền não nghiệp khổ. Hoặc cho rằng lời nói chẳng dối là thật, lời nói thuận nghĩa lý gọi là như, chẳng khác gọi là vô dị.
Kinh: Vì sao… tâm Chánh đẳng chánh giác.
Tán: Đây là đoạn giải thích nguyên do. Có hai là lược nêu và giải thích rộng. Phần một lại có hai:
1. Nói chẳng thể được.
2. Nói dẫu có thể được.
Đây là đoạn văn đầu. Tương tục tức là thân; trong thân tâm chủng tử phiền não, đã bị đoạn trừ tiêu hoại, nhưng tâm chán ghét chẳng sâu, tâm tu hành chẳng mạnh, cho nên chẳng thể đạt được.
Kinh: Dẫu có thể thành tựu… cứu cánh giải thoát.
Tán: Đây là nói dẫu có thể được. Dẫu có tạo nghiệp vô gián, còn có thể phát tâm mà chẳng phải là Nhị thừa…
Kinh: Vì sao?… vĩnh viễn không có năng lực này.
Tán: Giải thích rộng. Có hai:
1. Giải thích ý trước.
2. Nêu dụ để hiển.
Đây là phần thứ nhất. Từ câu thành tựu trở xuống là giải thích rộng ý “Dẫu có thể” nói ở trên. Từ câu: “Chúng tôi…” trở xuống là giải thích rộng ý “Chẳng thể được” ở trên. Ý văn có thể hiểu. Trước hội Pháp Hoa phát tâm chưa mạnh, chẳng thể tự biết, cho nên tự khiêm mà trách mình.
Kinh: Như hàng thiếu căn… diệu pháp của chư Phật.
Tán: Đây là dụ để hiển rõ. Tùy theo năm căn, nếu thiếu căn nào thì không thể lãnh thọ cảnh ấy. Bậc A-la-hán thiếu căn phiền não cho nên không có chí cầu Phật pháp.
Kinh: Vì thế hàng Dị sinh… rốt cuộc chẳng thể báo đáp.
Tán: Kết luận nghĩa trước. Trước lược nêu, sau nói rộng.
Đây là phần lược nêu.
Kinh: Vì sao?… tất cả Phật pháp.
Tán: Nói rộng để kết luận.
1. Nói rộng về hàng Dị sinh báo ân.
2. Nói rộng về Nhị thừa không thể báo ân.
Đây là văn thứ nhất. Hàng Dị sinh có thể nhanh chóng mạnh mẽ phát tâm tu hành, mau chứng ngộ Phật pháp, hàng Nhị thừa thì không thể như thế, cho nên kinh Niết-bàn ghi: “Tu-đà-hoàn tám vạn kiếp mới đến, cho đến Bích-chi mười ngàn kiếp mới đến”. Nay nói nhanh chóng mạnh mẽ phát tâm, hàng Nhị thừa không thể được, nhưng chẳng phải hoàn toàn không thể. Vả lại nói hàng quyết định tánh không thể, chẳng phải là hàng bất định tánh. Nói phần nhiều không thể chứ chẳng phải hoàn toàn không thể.
Kinh: Thanh văn Độc giác… tâm Chánh đẳng giác.
Tán: Đây là nói rộng Nhị thừa chẳng thể có được ý nghĩa như trước đã nói.
Kinh: Bấy giờ, trong chúng hội… đều ở đâu.
Tán: Đây là đoạn thứ ba, ngài Thiện Hiện hỏi để làm rõ nghiệp Bồ-đề. Có hai:
1. Hỏi.
2. Đáp.
Đây là lời hỏi.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… tư duy thắng nghĩa không, lấy đó
gọi là nhà.
Tán: Đây là lời đáp, gồm bốn mươi hai câu phân làm hai: Bốn mươi câu đầu chính thức trả lời câu hỏi trước; câu sau kết luận khuyên phát tâm.
Trong bốn mươi câu đầu thì ba mươi chín câu là trả lời riêng, một câu sau là trả lời tổng quát. Trong ba mươi chín câu được phân làm ba:
1. Mười hai câu đầu dùng pháp xuất thế tùy thuận phối hợp với pháp xuất thế để trả lời câu hỏi trước.
2. Năm câu kế là dùng pháp xuất thế tùy thuận phối hợp với việc thế gian, để trả lời câu hỏi trước.
3. Hai mươi hai câu cuối, nêu lên việc tùy thuận việc thế gian để trả lời câu hỏi trước.
Tuy về sự cũng có thân tộc, nhưng muốn khiến cho các hữu tình vui thích đức hạnh, cho nên mới tạm dùng đức hạnh phối hợp với vợ con, hoặc đầu tiên nói về hạnh, kế đến nói về cảnh và sau cùng nói về trí. Cho nên đoạn sau tổng đáp ghi: “Vô biên hạnh, vô biên sở hành và vô biên trí viên mãn như thế để độ tất cả chúng sinh. Đoạn thứ nhất lại chia làm hai: Ba câu rưỡi đầu dùng pháp xuất thế tùy thuận phối hợp với hữu tình; tám câu rưỡi sau dùng pháp xuất thế tùy thuận phối hợp với phi hữu tình. Hữu tình có năm: Cha mẹ, vợ con, nô bộc, bạn bè, quyến thuộc. Hoặc phân làm mười, tức chia riêng cha, mẹ, vợ, con trai, con gái, phòng xá, kỹ nữ… Tuy phòng xá cũng gọi là phi hữu tình, nhưng vì lấy lý làm chỗ y cứ chính, cho nên nêu lên ở đây. Theo tông chỉ mà luận thì gọi chung là hữu tình. Một câu thứ nhất có một dụ là cha mẹ, câu thứ hai có một dụ là vợ con. Tuệ là độ thứ sáu, là trí vô phân biệt, là gốc của các pháp thiện, cho nên gọi là mẹ. Phương tiện là độ thứ bảy là cha, đó là Hậu đắc trí. Chư Phật, Bồ-tát bậc thầy của thế gian đều do hai trí này sinh ra. Bản dịch xưa ghi: “Trí độ là mẹ” tức là độ thứ mười, chẳng phải là gốc của các đức, thì làm sao gọi là mẹ? Cho nên biết trí độ là trí vô phân biệt mà chẳng phải là độ thứ mười. Pháp lạc là vợ, vì nghe pháp sinh niềm vui phát sinh hạnh thiện; Từ bi là con gái, vì hay nhu hòa. Đế pháp là con trai, vì quả thiện được tương tục. Do nghe đế giáo nên chủng tử pháp thiện sinh, kế thừa Tam bảo. Không Lý Nghĩa ghi: “Các hữu được tư duy trong thế tục đế, trong Thắng nghĩa không thì lấy đó làm nhà, là chỗ về của tất cả Bồ-tát.” Ứng Lý Nghĩa ghi: “Các”không” được tư duy, trong thắng nghĩa chân như lấy đó làm nhà.” Nhà Như Lai tức là lý chân như. Hỏi kinh Phật Địa ghi: “Pháp lạc là thức ăn”, vì sao trong đây lại nói là vợ? Đáp: Căn cứ theo tên thì có
khác biệt, như kinh kia thì căn cứ theo nhậm trì (giữ gìn) nên gọi là thức ăn, kinh này căn cứ theo năng sinh nên gọi là vợ, cũng không trái nhau. Kinh Pháp Hoa ghi: “Tâm Từ bi là nhà, các pháp không là tòa ngồi”, vì sao ở đó lấy không làm nhà, cả hai khác nhau. Vì hữu vi và vô vi cho nên nhà có hơn kém khác nhau.
Kinh: Phiền não là nô bộc thấp hèn… bốn nhiếp là kỹ nữ.
Tán: Đoạn này có ba:
1. Nô bộc.
2. Thân hữu.
3. Quyến thuộc.
Kỹ nữ cũng được xếp vào quyến thuộc. Phiền não là kẻ nô bộc thấp kém, mặc tình khởi diệt. Giác phần là thân hữu, vì có thể thành Bồ-đề, nhân để thành Phật đều gọi là giác phần chứ chẳng phải ba mươi bảy Bồ-đề phần. Sáu độ là quyến thuộc vì thâu nhiếp vạn hạnh, bốn nhiếp là kỹ nữ, vì hay sinh lợi lạc.
Kinh: Lời kết tập chánh pháp… tẩy trừ các cấu uế.
Tán: Đây là tám câu tụng rưỡi dùng pháp xuất thế, tùy thuận phối hợp với hữu tình. Phi hữu tình gồm mười sáu: Kỹ nhạc, vườn rừng, hoa quả, ao sen, xe ngựa, đường xá, vật trang nghiêm, y phục, tràng hoa, tài bảo, giường nệm, thức ăn thức uống, tắm rửa, hương thoa, diệt giặc, trừ oán, lập tràng. Đoạn này có bốn:
1. Pháp âm là nhạc, vì làm vui vẻ tâm ý.
2. Tổng trì là vườn rừng; vì gom giữ các hạnh, pháp Đại thừa là rừng vì vạn đức từ đây tươi tốt.
3. Ba mươi bảy phẩm là hoa, vì sẽ cho quả Niết-bàn giải thoát, trí tuệ Bồ-đề là quả, nhân nói hoa mà có.
4. Tám Giải thoát là ao tắm, vì trừ các cấu uế như tham… nước định tràn đầy lặng trong, nghĩa là trong ao tám giải thoát thường có nước định, chẳng xao động, ao rộng nước đầy, như lý nên tư duy, hoa bảy thanh tịnh thường nở đầy khắp trong đó, như hoa sen trong ao. Ao tắm để làm gì? Để trừ dơ bẩn (cấu uế). Cấu tức sáu cấu: hai, hận, não, xiễm, cuống, kiêu. Bảy thanh tịnh là giới tịnh, tâm tịnh, kiến tịnh, độ nghi tịnh, đạo phi đạo tri kiến tịnh, hành tri kiến tịnh, hành đoạn tri kiến tịnh. Hoặc phân tất cả làm ba mươi ba, ở đoạn này có chín là phân chia rừng, cây, hoa và trừ cấu.
Kinh: Thần thông là voi ngựa… hồi hướng đại Bồ-đề.
Tán: Đoạn này gồm năm dụ:
1. Thần thông là voi ngựa, vì hay vận chuyển. Đại thừa làm xe,
hay chuyển vận sự lợi ích. Thể của Đại thừa là hai chân trí, cho nên có thể chuyên chở lợi ích. Căn cứ theo Pháp Hoa thì hậu đắc trí là thể của Nhất thừa. Vô phân biệt trí là trâu trắng.
2. Hay điều ngự tâm Bồ-đề giong ruổi trên con đường bất chánh.
3. Dùng ba mươi hai tướng quý và tám mươi vẻ đẹp phụ để trang nghiêm thân, trang nghiêm nội đức.
4. Tàm quý là y phục vì ngăn ngừa các điều ác; thắng ý lạc là tràng hoa vì làm tươi tốt tâm đầu.
5. Chánh pháp là tài bảo hoặc là thất Thánh tài, như trước đã nói, hoặc là các Thánh pháp, đều gọi là tài, ban phát cho chúng sinh, nêu rõ pháp này là phương tiện, tự mình không có hạnh điên đảo là lợi ích thù thắng, hồi hướng Bồ-đề mà tự thọ dụng. Tài bảo có đức tự tha thọ dụng, cho nên dụ cho chánh pháp. Hoặc đoạn này có mười hai dụ là chia riêng, xe, người cỡi, trang sức, tốt đẹp ý mạn, phương tiện, hành, sở hành và hồi hướng
Kinh: Bốn tĩnh lự là giường… kiến lập Bồ-đề tràng.
Tán: Đoạn này gồm có bảy:
1. Bốn tĩnh lự là giường, vì đó là nơi tâm hằng an trụ; không tham; tịnh mạng là mền nệm, vì đó là nơi ba nghiệp luôn luôn gần gũi nương tựa. Nhân là nệm, Xưa ghi: “Từ tịnh mạng sinh” thì nghĩa hẹp mà khó hiểu, vì đó là vật mà thân gần gũi. Do ghi nhớ kỹ và trí quán xét nên thường tự giác ngộ, luôn ở trong định, cho nên lấy tĩnh lự làm giường, bản xưa ghi: “Đa văn tăng trí tuệ”, vì nhân nơi định mà tuệ tăng; lấy đó làm âm thanh tự giác tức dùng pháp được hỏi làm âm thanh tự giác, không có phối hợp riêng khác.
2. Đã thực pháp chân như bất tử, vì không khởi diệt, lại uống vị giải thoát trạch diệt, xa lìa các khổ. Xưa ghi: “Giải thoát vị ghi là tương (nước) trừ khát nóng đốt phiền não.
3. Nơi ao tám giải thoát tắm mát tâm tịnh diệu, khiến không nhiễm ô.
4. Xoa giới hương thượng diệu nơi tâm này, để diệt trừ các ác pháp, xông ướt thân tâm bằng giới Bồ-tát.
5. Diệt trừ giặc phiền não, cho nên dũng mãnh không ai hơn.
6. Phá dẹp bốn oán.
7. Dựng cờ Bồ-đề; vì Vô thượng Bồ-đề vô cùng cao lớn, cho nên dụ như cột cờ.
Hoặc ở đây gồm mười hai dụ, tức là chia riêng mền nệm, niệm trí, thường định, ẩm vị và dõng kiện.
Kinh: Tuy thật không khởi diệt… lợi vật không mỏi mệt.
Tán: Đoạn này gồm năm bài tụng dùng hạnh xuất thế phối hợp với việc thế gian để trả lời câu hỏi trước. Gồm có sáu việc:
1. Thọ sinh.
2. Hiện cõi nước.
3. Cúng dường.
4. Tu nghiệp.
5. Biến hiện.
6. Phá ác.
Đoạn này gồm có bốn:
1. Tuy không có sinh tử mà cố tư duy nơi cõi Dục và Sắc để thọ sinh.
2. Hay hiện cõi Phật sáng rỡ như mặt trời chiếu soi quần sinh.
3. Ba việc cúng dường Như Lai, thể của nó đều không, tất cả đều không phân biệt, gồm cả vật cúng cũng thể không.
4. Tuy biết cõi Phật và hữu tình đều không, nhưng do tu tịnh nghiệp và lợi sinh, nên chẳng từng thôi nghỉ, cũng không mỏi mệt.
Kinh: Tất cả loại hữu tình… có biểu sự đều thành.
Tán: Đoạn này có hai:
1. Các pháp sắc thanh, oai nghi… của hữu tình, Bồ-tát học bốn Vô úy, mười Lực, trong một sát-na đều có thể hiện khởi.
2. Ma nghiệp sinh tử, tuy có thể biết rõ, nhưng có thể thị hiện, tùy chúng khởi chuyển, khi đến cứu cánh thì dùng tuệ phương tiện đoạn trừ tất cả.
Đầu tiên biết ma nghiệp mà thị hiện sinh khởi, sau đó thì đoạn diệt, khi đến chỗ rốt ráo dùng tuệ phương tiện đoạn trừ hết, cho nên gọi có biểu sự đều thành, sự mong cầu của bản tâm, nay đã đầy đủ. Bản dịch xưa ghi: “Tùy ý đều hiển hiện”, tức đều có thể hiện tiền đoạn dứt.
Kinh: Hoặc thị hiện tự thân… chiếu khiến cho chóng diệt.
Tán: Đoạn thứ ba gồm hai mươi hai bài tụng, nêu việc tùy thế sự để trả lời câu hỏi trước. Đoạn này được chia làm sáu:
1. Hai bài đầu nói về vô thường.
2. Một bài kế là khuyên cầu Phật.
3. Hai bài kế nói về đạt biến tri.
4. Bảy bài kế nói về trừ lo khổ.
5. Ba bài kế nói về hiện thiện xảo.
6. Bảy bài kế nói về cứu khổ nạn.
Đây là văn đầu. Như vật vui chơi mà làm huyễn thuật, thị hiện bệnh, chết. Chẳng phải chân thật cũng như thế. Hữu tình phần nhiều chấp thế giới là thường, nên hiện lửa cháy và thân có già bệnh, khiến cho họ biết là mau chóng biến diệt.
Kinh: Ngàn câu-chi hữu tình… đều hướng đến Bồ-đề.
Tán: Đây là một bài tụng khuyên cầu Phật, thọ nhận người kia đến cúng dường, khuyên thú hướng đến Bồ-đề.
Kinh: Đối với cấm chú thuật… mà chẳng đọa vào các kiến.
Tán: Đây là hai bài nói về đạt biến tri, bài đầu nói biết sáu nghề cho đến rốt ráo làm lợi ích. Bài sau tùy các đạo pháp mà xuất gia lợi lạc quần sinh, tuy theo đó xuất gia mà chẳng theo kiến giải của họ, vì đã đoạn kiến nhiễm ô.
Kinh: Hoặc làm trời nhật nguyệt… lợi ích các hữu tình.
Tán: Từ đây xuống là bảy bài tụng nói về trừ ưu khổ. Gồm bốn đoạn. Đoạn này có một bài nói về tùy thời làm lợi ích cho vật và hữu tình.
Kinh: Thường nơi kiếp dịch bệnh… vui vẻ không sân hận.
Tán: Đoạn này gồm ba bài nói về cứu chúng sinh bị tam tai.
Kinh: Ở nơi chiến trận lớn… khuyên phát tâm Bồ-đề.
Tán: Đoạn này có một bài nói về khuyên các nước gây chiến tranh nên giải hòa và phát tâm.
Kinh: Các cõi Phật vô lượng… lợi lạc là bản sinh.
Tán: Đoạn này gồm hai bài nói về việc vào ác đạo để cứu độ. cõi Phật vô lượng, cho nên Bồ-tát cứu độ chúng sinh cũng vô biên, chúng sinh trái nghịch chánh pháp, thực hành hạnh ác, cho nên đọa vào địa ngục cũng vô biên. Bi tức mau chóng cứu khổ, từ tức ban cho an lạc. Hiện thành loài cá lớn nuôi dưỡng các loài trùng nhỏ trong vảy, để cho chúng thức ăn, hiện làm nai chúa để cứu nai có mang, hiện làm chim trĩ để cứu các loại hữu tình bị thiêu đốt. Như thế luôn luôn làm lợi lạc, việc này cho đến khi thành Phật rồi, gọi đó là bản sinh, chính là việc Bản sinh của Bồ-tát.
Kinh: Thị hiện thọ các dục… sau khiến tu Phật trí.
Tán: Đoạn này gồm ba bài tụng nói về hiển bày thiện xảo. Gồm có hai:
1. Hai bài đầu hiện hai thiện xảo, một là theo cảnh dục mà thường tu định, hai là nhiễu loạn các ác ma làm cho chúng không thể tiện lợi, sau đó là giải thích lại việc thọ cảnh dục mà tu định.
2. Câu thứ ba, thị hiện làm dâm nữ mà khuyên tu Phật trí, tất cả
gồm ba loại thiện xảo.
Kinh: Hoặc làm chủ thành ấp… khiến hưởng đại Bồ-đề.
Tán: Từ đây xuống gồm bảy bài tụng nói về cứu nguy, được phân làm sáu. Đoạn này gồm hai bài tụng, một nói về việc làm người tôn quý để lợi lạc kẻ dưới, bài thứ hai hiện tài bảo để cứu kẻ bần khổ.
Kinh: Đối với kẻ kiêu mạn… khiến phát tâm Bồ-đề.
Tán: Đoạn này gồm hai bài tụng:
1. Có năng lực trừ kiêu mạn.
2. Khéo léo diệt sự sợ hãi.
Quý tức khiếp sợ. Người kinh khiếp sợ hãi, thì khéo léo trấn an và khiến họ phát tâm.
Kinh: Hiện làm Tiên ngũ thông… đều hay khéo tu học.
Tán: Đoạn này cũng có hai bài:
1. Tự hiện làm tiên, tu tập Phạm hạnh, lại khuyên các loài chúng sinh an trụ nơi giới, nhẫn, từ.
2. Thấy người nghèo cần giúp đỡ, thì phương tiện mà làm người hầu hạ giúp đỡ.
Tùy theo các loại hữu tình mà dùng trí tuệ phương tiện khuyên răn tiến tu, để theo nhận pháp lạc; nơi sự tu hành của Bồ-tát, đều dùng phương tiện khiến cho tùy thuận tu học.
Kinh: Vô biên hạnh như thế… độ thoát chúng vô biên.
Tán: Đoạn này gồm một bài tụng, trả lời tổng quát:
1. Hạnh nghiệp vô biên.
2. Vô biên cảnh sở hành.
3. Trí vô biên.
4. Dùng ba vô biên kể trên để độ thoát chúng vô biên.
Do dùng trí chứng cảnh khởi hạnh vô biên mà độ thoát chúng sinh.
Kinh: Giả sử tất cả Phật… đều không có trí tuệ.
Tán: Đoạn này gồm hai bài tụng, kết luận khuyên phát tâm. Bài tụng thứ nhất kết luận nêu công đức thù thắng, cho nên khen ngợi chẳng thể cùng tận. Bài tụng sau khuyên phát tâm tu học. Từ trên là lược giải ý văn, các người có trí suy nghĩ có thể biết được, chẳng nên vì tâm chưa khai ngộ mà trách người. Bản dịch cũ và mới khác nhau mỗi mỗi đều đã trình bày, sợ văn dài dòng cho nên lược bớt chẳng nêu.
--------------------------------
PHẨM 9: BẤT NHỊ PHÁP MÔN
Phẩm Bồ-đề Phần và phẩm này đều nói về chân thật nghĩa xứ là môn tự lợi. Phẩm trước nói về sự hạnh thế tục thuộc chân thật hữu vi, phẩm này nói về lý hạnh xuất thế thuộc Chân thật vô vi. Hành lợi tha ắt là vì tự lợi. Muốn chứng lý thì trước phải tu sự, hai có nghĩa là sai biệt, hai và chẳng hai đều là hai; một, ba, bốn gọi là chẳng phải hai. Bồ-tát Hoa Nghiêm… cho một là hai; Bồ-tát Pháp Tự Tại cho hai là hai; Bồ-tát Thậm Thâm Giác… cho ba là hai; Bồ-tát Quang Tràng cho năm là hai; Bồ-tát Hỷ Kiến… cho sáu là hai; căn cứ theo các chấp một… cho nên đều gọi là hai.Ở đây trừ phân biệt và các sai biệt sự thì gọi là Bất nhị. Nhờ vào danh từ hai mà biểu thị hai và chẳng hai, chẳng phải do nói thể của hai mà chỉ trình bày hai. Đầu tiên có mười sáu vị Bồ-tát cho hai là hai, sau có mười lăm vị Bồ-tát lấy chẳng hai làm hai. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi lấy lời nói và tâm làm hai; Vô Cấu Xưng lấy hữu thuyết làm hai, đến đoạn sau sẽ biết. Không Lý Nghĩa ghi: “Tánh không không sai biệt, tục vọng có sai biệt, nay nói chân đồng tánh và tục vọng có sai biệt khác nhau, cho nên nói pháp chẳng hai. Không này tức là môn, duyên nơi đây thì hay sinh ra trí chân không, mà nói về chân tánh thì chẳng hai chẳng phải chẳng hai. Nay ngăn che pháp hai vọng, cho nên nói pháp chẳng hai. Vọng thì chẳng sinh trí không, chân thì mới sinh trí không. Ngăn trừ chẳng phải môn, cho nên chẳng phải môn gượng nói là môn. Phẩm này nói rộng về việc trên cho nên gọi là phẩm Pháp Môn bất nhị”. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Tục sự và lý vọng sở chấp đều khác nhau, chân lý chẳng hư vọng, cho nên chẳng phải vọng có khác nhau. Nay nêu rõ lý chân như vô tướng chỉ là một, e rằng nghe một liền chấp nhất định có một, mà chẳng nói nơi một chỉ là nói để ngăn dứt vọng khác nhau, vì thế mà phải nói chẳng hai. Lý chẳng hai, có thể làm khuôn mẫu, cho nên gọi là pháp. Pháp này thông từ sinh tử đến trí giải vô lậu, nên đặt tên là môn. Theo thật lý thì chân như chẳng phải chẳng hai, chẳng phải pháp chẳng phải phi pháp, chẳng phải môn chẳng phải chẳng môn. Ngăn trừ hai cho nên phải lập chẳng hai, ngăn dứt phi pháp cho nên lập pháp, dứt trừ chẳng phải môn cho nên lập môn, phẩm này bàn rộng về việc ấy nên gọi là phẩm Bất Nhị Pháp Môn.
Kinh: Bấy giờ, Vô Cấu Xưng… mỗi mỗi tùy ý thích mà nói ra.
Tán: Toàn phẩm gồm hai đoạn lớn:
1. Nói pháp môn bất nhị.
2. Vào pháp môn bất nhị. Tức là câu “Vô Cấu Xưng vào pháp
môn bất nhị…”.
Trong đoạn lớn thứ nhất lại có hai:
1. Vô Cấu Xưng hỏi, các Bồ-tát nói pháp môn bất nhị.
2. Các Bồ-tát hỏi, ngài Diệu Cát Tường nói pháp môn bất nhị. Hoặc nói ba mươi mốt vị Bồ-tát dùng phân biệt chấp làm hai, lý vô phân biệt làm chẳng hai, trí hội được lý này gọi là vào pháp môn bất nhị. Ngài Văn-thù dùng ngôn thuyết làm hai, pháp tánh lìa ngôn thuyết làm chẳng hai, trí đạt được tánh này là vào chẳng hai. Vô Cấu Xưng thì cho giả trí và ngôn thuyết đều là hai, chân như các pháp mới là chẳng hai; chánh trí chứng chân gọi là vào chẳng hai. Cho nên mỗi mỗi khác nhau.
Trong phần một lại chia làm hai, là hỏi và đáp. Đây là lời hỏi. Nhập (vào) tức là chứng là thấu hiểu. Chứng hiển chân lý gọi là vào chẳng hai, mỗi mỗi tùy theo biện tài, tùy theo ý thích mà luận nói.
Kinh: Bấy giờ, trong chúng hội… lần lượt giải nói.
Tán: Đây là phần đáp, có hai:
1. Lược nêu.
2. Nói rộng.
Đây là lược nêu.
Kinh: Bấy giờ, có Bồ-tát tên là Pháp Tự Tại… pháp môn bất nhị.
Tán: Nói rộng, gồm có ba mươi mốt vị Bồ-tát, đáp riêng câu hỏi đã nêu. Trong mỗi lời đáp toàn văn đều chia làm bốn phần:
1. Nêu tên Bồ-tát.
2. Trình bày pháp hai.
3. Nói về pháp chẳng hai.
4. Tổng kết.
Nhưng Không Lý Nghĩa đều cho tục vọng có hai, chân không thì không hai. Ứng Lý Nghĩa thì cho y tha sở chấp có hai, chân như Viên thành thật chẳng hai. Hai nghĩa này, văn giải thích về ngăn trừ chấp trước tuy đồng mà ý nghĩa lại khác, sợ dài dòng nên ở đây không đối chiếu phân biệt, mỗi mỗi điều sớ, người đọc văn có thể biết rõ.
Sinh diệt là hai, lý là chẳng hai, chứng đắc chánh trí vô sinh này gọi là nhẫn. Sơ địa trở lên, nhẫn này chứng chân như vào chẳng hai. Không Lý Nghĩa ghi: “Không thì vô, hữu thì có”. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Lý thì không, sự thì có hai, vì sinh diệt là hai, cho nên chẳng lìa phân biệt”.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Thắng Mật… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Phân biệt ngã và ngã sở gọi là hai, lý không hai gọi là chẳng
hai, chứng được lý không hai này gọi là vào chẳng hai. Dưới đây đều là dùng lý để ngăn dứt chấp hai, cho nên nói chẳng hai. Vì thế trong hai đều nói là phân biệt. Bản dịch xưa không ghi từ phân biệt, là ý còn giữ lý không.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Vô Thuấn… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Hữu thủ tức chấp trước, vô thủ tức không chấp trước. Phân biệt có chấp trước và không chấp trước là hai. Nếu có chấp trước tức có sở đắc, vì có sở đắc nên có tăng giảm, có tăng cho nên có khởi và tạo tác, có giảm cho nên có thôi dứt. Nếu liễu ngộ không chấp trước, tức không có sở đắc, không có sở đắc tức không có tăng giảm, không tăng giảm tức khởi không diệt. Vì thế trong các pháp không có chỗ chấp trước, không có tâm chấp trước. Đạt được lý này tức gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Thắng Phong… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Tịch diệt tích tức là chân lý, lý tức là dấu tích của trí. Trí dụ như chân, vì hay bước đi; lý là dấu vết, dấu bước đi.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Diệu Tịnh… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Tán động tức là tâm giong ruổi theo ngoại cảnh. Tư duy tức là nhiếp niệm và duyên bên trong. Đầu tiên thấu hiểu được không hai, thì đã có tác ý, sau trụ nơi chẳng hai thì không tác ý.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Diệu Nhãn… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Nhất tướng tức là lý cộng tướng không, vô ngã… vô tướng tức chân như liễu tri các pháp, không có cộng tướng, cũng không có tự tướng, tự tướng tức là tướng sai biệt. Biết rõ hai tướng hữu vi cộng và tự này đều không, cũng là thể không chân không tướng, biết được lý hữu vi và vô vi này, hai trí bình đẳng thì gọi là vào chẳng hai. Cộng tướng tự tướng đều là hữu vi, đối lại là vô vi, cho nên gọi là hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Diệu Tý… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Hai tâm nhân duyên của Bồ-tát và Thanh văn, tánh của tâm này như huyễn, đạt được lý hai như huyễn này gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Dục Dưỡng… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Thiện và chẳng thiện không có chỗ sinh khởi, hai pháp hữu tướng và vô tướng này đều bình đẳng, không có thiện để lấy, không có ái để xả bỏ, liễu tri như thế gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Sư Tử… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Có tội thì gọi là trói buộc, không tội gọi là giải thoát, dùng trí kim cang vô lậu để đạt được không có trói buộc giải thoát, thì gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Sư Tử Tuệ… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Hữu tưởng tức tưởng hữu lậu, vô tưởng tức là tưởng vô lậu. Hoặc hữu lậu sinh, gọi là hữu tưởng, vô lậu sinh gọi là vô tưởng, hoặc có tâm tưởng gọi là hữu tưởng, không có tâm tưởng gọi là vô tưởng.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Tịnh Thắng Giải… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Xa lìa tất cả các hành hữu vi, sinh khởi giác tuệ, tức là trí quán vô vi như không, cùng cực thanh tịnh. Hoặc xa lìa hạnh hữu vi, tức trí vô vi giác tuệ như không, cùng cực thanh tịnh đã không có chỗ chấp trước, cũng không có chỗ ngăn dứt gọi đó là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Na-la-diên… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Có thể hủy hoại nên gọi là thế gian, đối lại là xuất thế gian. Thấu suốt thế gian là không thì đầu tiên chẳng có nhập sau chẳng có xuất. Vì chẳng nhập nên chẳng theo dòng sinh tử; bản xưa nói dật tức trôi theo dòng, vì chẳng xuất, cũng không tan rã tiêu diệt nên lìa thế gian, cảnh đã như thế, nên tâm cũng không chấp trước.
Kinh: Lại có Bồ-tát Điều Thuận Tuệ… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Biết sinh tử không, vốn không lưu chuyển cũng không có Niết-bàn. Hai cảnh vốn không thì phân biệt liền diệt.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Hiện Kiến… thì gọi là vô tận.
Tán: Đây có hai phen giải thích, phen thứ nhất liễu tri không có tận và vô tận, cần phải rốt ráo tận mới gọi là tận, tức phiền não… pháp rốt ráo tận gọi là hữu tận, đã rốt ráo tận, lại chẳng thể được gọi là thường tận, thì đó gọi là vô tận, có hữu tận thì không có vô tận, thể vô tận liền không, vô tận tức hữu tận nên hữu tận cũng không có thể, cho nên cả hai đều không.
Kinh: Vả lại hữu tận… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Đây là phen giải thích thứ hai. Đoạn trước là căn cứ theo tương tục để giải thích bất nhị, đây là căn cứ theo sát-na; hoặc trước căn cứ theo pháp nhiễm, đây là căn cứ theo pháp tịnh. Một sát-na tạm thời diệt thành không, nhất định là không có tận tức vô tận, trong một sát-na không có hữu tận thì vô tận cũng không, liễu tri cả hai vốn không, phân biệt chẳng khởi, gọi đó là chẳng hai. Xưa nói: “Nếu rốt ráo tận thì lại chẳng thể tận”, cho nên hữu tận tức là vô tận.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Phổ Mật… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Thể của ngã và vô ngã, tánh của nó đều không, chẳng thể luận là hai, phân biệt hai này gọi là hai, rõ biết hai cảnh đều không thì sự phân biệt kia đoạn diệt. Trí đạt được lý này gọi là vào pháp môn bất
nhị.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Điện Thiên… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Rõ biết vô minh bản tánh vốn không, lý tức là minh, chấp hai pháp này là thật đều chẳng thể được, chẳng thể tính lường là có, siêu việt con đường tính lường, quán hai pháp này chẳng hai, gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Hỷ Kiến… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Mười sáu vị Bồ-tát kể trên lấy hai làm hai, còn mười lăm vị Bồ-tát từ đây trở xuống là lấy chẳng phải hai làm hai, hoặc có thể nói chung lấy hai làm hai, năm uẩn là một, không là một, văn sau sẽ biết rõ. Không Lý Nghĩa ghi: “Tánh thủ uẩn thế tục tức chân không, Thể của không và uẩn không khác nhau; thủ uẩn hiện tại tức có chân không, chẳng phải uẩn diệt rồi mới có tánh không. Do đó mà nói ngay nơi sắc là không, chẳng phải sắc diệt mới thành không; đây là phá hai chấp:
1. Chấp ngoài sắc của thế tục riêng có chân không, vì phá chấp này, cho nên nói tức sắc là không, sắc và không chẳng khác.
2. Chấp sắc của thế tục diệt rồi mới có chân không, vì phá chấp này nên nói chẳng phải sắc diệt rồi mới thành không, mà uẩn hiện tiền đã có không. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Lược có hai cách giải thích: Một là sắc sở chấp tức là không, sắc không chẳng có hai thể, chẳng phải sắc sở chấp diệt rồi mới có không, khi sắc tướng hiện tiền tánh của nó đã không. Sắc đã là sắc sở chấp, không cũng là không vô; hai là sắc sở chấp và sắc y tha đều là chân như không, thể không và chân như chẳng riêng khác, cũng chẳng phải hai sắc diệt rồi mới có chân như không, khi hai sắc hiện tiền, chân như đã có. Đã không có hai pháp khác nhau nên gọi là vào pháp môn bất nhị.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Quang Tràng… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Bốn giới tức đất, nước, lửa, gió. Không thì Không Lý Nghĩa ghi: “Không tức là tánh chân không” Ứng Lý Nghĩa ghi: “Sở chấp tức không vô, chân như là tánh không”. Căn cứ theo hai cách giải thích thủ uẩn và không ở trước thì mé trước, khoảng giữa và mé sau, quá khứ vị lai và hiện tại, tánh của nó đều không đảo lộn tức là chân lý.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Diệu Tuệ… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Nhãn và sắc, phân biệt là hai cho đến ý và pháp, phân biệt là hai vì căn cảnh đối đãi. Rõ biết tánh của sáu pháp hai này đều không; kiến và nhãn tánh không, đối với cảnh chẳng khởi ba độc, cho đến ý và pháp cũng như thế; kiến đã an trụ vắng lặng nên gọi là vào chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Vô Tận Tuệ… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Bố thí là một, hồi hướng nhất thiết trí tánh là một, cho nên gọi là hai. Nhất thiết trí tánh tức lý chân như, là thể của trí. Biết bố thí… là tánh chân như, cho nên gọi là chẳng hai.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Thậm Thâm Giác… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Không quán ngã… là Không, Vô tướng, Vô nguyện, duyên vô vi hữu vi là hữu; rõ biết ngã không đều không có tướng, trong vô tướng này cũng không có nguyện, trong vô nguyện này thì tâm ý thức đều không thể khởi, sở thủ không, năng thủ cũng không, lại chẳng ngoài vô nguyện mà sinh tâm, vì không tức là vô nguyện. Kinh Lăng-già ghi: “Tàng thức gọi là tâm, tánh suy lường là ý, rõ biết các tướng cảnh, là thức”. Như thế đối với một môn không, giải thoát gồm thâu ba pháp. Thông đạt được lý này gọi là vào chẳng hai. Luận Thành Duy Thức ghi: “Không, Vô tướng, Vô nguyện, đối với biến kế sở chấp, y tha và viên thành hoặc đều là duyên chung, hoặc là thứ tự duyên riêng biệt”. Đây là căn cứ theo duyên chung nên gọi là chẳng hai, cho đến Vô nguyện cũng là Không, Vô tướng, đều căn cứ theo đây mà biết.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Tịch Tĩnh Căn… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Phật là trước, Pháp, Tăng là sau, Tam bảo, có thể riêng biệt, phân biệt là hai; rõ biết Phật tức Pháp, Tăng, Tam bảo đồng thể đều là tướng vô vi bình đẳng như hư không không đâu chẳng có. Các pháp cũng như thế, đều là tánh chân như, gọi đó là chẳng hai. Nghĩa của đồng thể Tam bảo như trước đã giải thích.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Vô Ngại Nhãn… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Tát-ca-da là thân hư giả; diệt tức là chân lý. Thân hư giả và như, phân biệt là hai, biết thân hư giả tức là diệt, chẳng khởi kiến chấp thân hư giả, cho nên đối với thân hư giả và diệt không có phân biệt chung và phân biệt riêng, chứng ngộ hai chân như, tánh của nó rốt ráo diệt, không nghi ngờ, không kinh sợ. Nếu chấp có thân kiến thì có hoài nghi, lại có kinh sợ.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Thiện Điều Thuận… vào pháp môn bất
nhị.
Tán: Hai sắc thân ngữ và phi sắc là ý, phân biệt là hai. Không Lý
Nghĩa ghi: “Rõ biết ba pháp này vốn không đều không có tướng tạo tác, không có tướng tạo tác nên hai tướng đó chẳng hai, thân không tức ngữ không, ngữ không tức ý không, ý không tức tất cả pháp không. Nếu có thể tùy thuận vào tất cả pháp không, không có tướng tạo tác thì gọi đó là vào chẳng hai”. Ứng Lý Nghĩa ghi: “Rõ biết ba luật nghi vốn là tánh
chân như, đều không tạo tác, thân chân như tức ngữ chân như, ngữ chân như tức ý chân như, ý chân như tức nhất thiết pháp chân như, có thể tùy nhập vào chân như không tạo tác, gọi đó là vào chẳng hai.”
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Phước Điền… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Các nghiệp bất thiện có thể nhàm chán phá hủy nên gọi là tội hạnh; thiện nghiệp ở cõi Dục có thể ưa thích yêu mến cho nên gọi là phước hạnh; các thiện định tâm ở cõi Sắc và Vô sắc trụ ở một cảnh nên gọi là bất động hạnh. Hai cõi định và tán phân biệt là hai. Về tướng vô tác, tức là tướng vô tác của không, ly tức là tánh chân không, tướng vô tác của ứng lý, tánh của nó tức chân như. Cho nên trong “không” này không có ba pháp sai biệt.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Hoa Nghiêm.. vào pháp môn bất nhị.
Tán: Các vị Bồ-tát này đều lấy một làm hai. Tất cả pháp hai này tức là tất cả pháp phân biệt sai biệt đều từ ngã sinh khởi. Biết được lý ngã chân thật tức chẳng khởi hai. Vì chẳng khởi hai thì không có năng liễu, không có năng liễu thì không có sở liễu, gọi đó là vào chẳng hai, không có đầu cuối sai biệt,
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Thắng Tạng… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Pháp hai tức là tất cả phân biệt sai biệt. Có sở đắc tức bản kiến có tướng, nếu rõ biết bản có sở đắc thành không có sở đắc, thì không có khởi các kiến chấp lấy bỏ, đầu cuối sai biệt hai, đã không có lấy bỏ là hai, gọi đó là vào pháp môn bất nhị.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Nguyệt Thượng… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Thấu suốt được chân lý thì không có tối sáng, tối sáng đã không hai, như ở diệt định vô tâm, không còn tâm lậu minh, không còn tâm lậu ám, tất cả đều không phân biệt, cho nên nêu lên làm dụ.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Bảo Ấn Thủ… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Rõ biết sinh tử Niết-bàn vốn là tánh chân lý không hai, thì không có thích hay chán. Lý rốt ráo tức sinh tử chẳng có trói buộc, Niết- bàn chẳng phải giải thoát, thì đâu có gì thích và chán.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Châu Kế Vương… vào pháp môn bất
nhị.
Tán: Khéo trụ nơi chánh đạo, thì tà đạo liền diệt, chẳng còn hiện hành. Nếu thấy có tà đạo thì thấy có chánh đạo. Tà đạo đã chẳng thấy hiện hành, thì làm sao có chánh đạo được? Hai cảnh đã không hai năng giác chẳng có, không có giác hai, gọi là vào giáp môn bất nhị.
Kinh: Lại có Bồ-tát tên là Đế Thật… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Hư giả tức là các việc hữu vi, thật tức là lý vô vi. Lý đế thật có thể chứng ngộ còn chẳng thể thấy là thật, huống là pháp hư giả chứng ngộ mà có thể thấy ư? Tánh chân lý này nhục nhãn chẳng thể thấy, chỉ tuệ nhãn mới có thể thấy được. Khi tuệ nhãn vô phân biệt tri chứng ngộ, thì đối với tất cả đều không còn phân biệt, chẳng thấy chẳng phải không thấy, gọi đó là vào chẳng hai.
Kinh: Như thế các vị Bồ-tát trong hội… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Từ đây xuống là phần thứ hai, các vị Bồ-tát hỏi ngài Diệu Cát Tường nói về pháp môn bất nhị. Đầu tiên kết luận nghĩa trước phát sinh ý sau để làm câu hỏi, kế đến là tùy theo câu hỏi mà trả lời. Từ câu “mỗi mỗi lại trình bày riêng…”, trở lên là kết luận ý trước, từ câu “đồng thời đều hỏi rằng…” trở xuống là phát sinh ý sau để làm câu hỏi. Khách đến ở giai vị thấp thì giải thích đã xong, cho nên hỏi đến khách tôn quý để luận rõ về nghĩa Đại thừa.
Kinh: Bấy giờ, Bồ-tát Diệu Cát Tường… còn gọi là hai.
Tán: Tùy theo câu hỏi mà có lời đáp. Đầu tiên bác bỏ ý nghĩa các Bồ-tát đã nói, sau đó chính thức trình bày. Đây là phần đầu. Các ông tuy ngăn dứt phân biệt hai mà gọi là chẳng hai, nhưng lại dùng có lời và phân biệt, nên còn gọi là hai. Ta nay trừ bỏ lời nói và bặt dứt phân biệt, mới gọi là chẳng hai. Cho nên biết hai tức là phân biệt sai biệt, chẳng phải là hai pháp, mà gọi là hai.
Kinh: Nếu các Bồ-tát đối với tất cả pháp… vào pháp môn bất nhị. Tán: Đây là phần chính thức trình bày. Không có ngôn thuyết, không có biểu hiện, không có chỉ bày, xa lìa ngôn thuyết hý luận, dứt bặt tâm phân biệt khởi, gọi đó là chẳng hai. Dùng lý chẳng thể nói, chẳng thể phân biệt để ngăn dứt ngôn thuyết phân biệt cho nên gọi là chẳng hai.
Kinh: Bấy giờ, ngài Diệu Cát Tường… vào pháp môn bất nhị.
Tán: Từ trên đến đây là nói về pháp môn bất nhị thuộc về phương tiện nhân vị, giáo hóa lợi ích chúng sinh. Từ đây trở xuống là nói về pháp môn bất nhị chứng nhập quả vị, nội chứng tự lợi. Đầu tiên là lời hỏi, sau là khen ngợi. Đây là lời hỏi.
Kinh: Lúc bấy giờ, Vô Cấu Xưng im lặng không nói năng gì.
Tán: Đây là nhập. Chánh lý u huyền, lời nói chẳng lường được. Dẫu cho dùng lời chẳng phải lời để trừ bỏ lời thì rốt cuộc cũng chẳng khế hợp với diệu lý. Cho nên mới im lặng không nói, dùng trí thầm hợp với chân, gọi đó là vào chẳng hai, thật là vô cùng sâu xa.
Kinh: Ngài Diệu Cát Tường nói… lời nói phân biệt.
Tán: Đây là lời khen ngợi. Ta nói chẳng hai là dùng lời để dứt lời, ông vào chẳng hai thì dùng trí hợp chân, chỗ thể hội tuy đồng, mà xa gần lại cách biệt. Nói khế hội chân, chân do nơi chứng thì nói là xa, chứng ngộ chân tức lìa lời nói, thì chứng là gần.
Kinh: Các Bồ-tát… Vô sinh pháp nhẫn.
Tán: Đây là đoạn thứ hai nói về lợi ích. Vừa vào Sơ địa gọi là ngộ nhập chẳng hai, lý chẳng hai tức là pháp chân như. Chứng hội vô sinh cũng là mới chứng đắc, hoặc Địa thứ tám tự tại vào chẳng hai, vì tương tục vô sinh cũng thuộc Địa thứ tám.