Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 169, Bộ Chư Tông IX, Số 1916- 1929 (Quyển 4- 10)

Đại Tập 169, Bộ Chư Tông IX, Số 1916- 1929 (Quyển 4- 10)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 862.

Chương 25: Số 1923- Quán Tâm Luận, Quyển Hạ: Phẩm Pháp Niệm Xứ (Trang 443 - 448)

         PHẨM PHÁP NIỆM XỨ
 
Lại nữa Bồ-tát mới học ngồi thiền quán pháp niệm xứ là pháp thiện, pháp bất thiện và pháp vô ký.
-Pháp thiện có hai loại:
1.Mười thiện đạo hữu lậu và định bốn thiền, bốn không là pháp lành thế gian.
2.Thiện xuất thế gian: Định vô lậu bốn thiền, bốn không, định Diệt thọ tưởng, ba mươi bảy phẩm là pháp lành xuất thế gian.
-Pháp bất thiện có hai loại:
1.Mười pháp ác của thân miệng ý.
2.Thân miệng ý gây ra năm tội nghịch.
Lại có một người nặng về năm nghịch, người này học đạo, gặp ác tri thức, ma quỷ nhập vào tâm, thường nói rằng mình hiểu nghĩa Không rất sâu của Đại thừa, phạm bốn tội nặng, dâm dục lừng lẫy, uống rượu ăn thịt, không giữ trai giới, nói rằng: Các pháp đều không, ai dơ ai sạch, ai đúng ai sai, ai làm ai chịu? Nghĩ thế rồi liền phá oai nghi, phá chánh mạng. Vô lượng chúng sinh lười biếng buông lung, không thể cầu đạo, thấy “pháp chấp không sai lầm” dễ thực hành này liền phá giới, cùng nhau làm bè đảng báng Phật, báng pháp, mắng Tỳ-kheo tăng, khinh chê tất cả Tỳ-kheo, khiến cho nghi ngờ thảy đều phá giới, dứt dòng dõi chư Phật, năm tội nghịch, khi chết đều vào địa ngục A-tỳ. Thường dối trá xưng ta như Pháp sư gốc lành, hiểu nghĩa sâu xa. Người tinh tấn khác đều là Tỳ-kheo háo thắng, chẳng bằng ta. Dối gạt như thế làm hư hỏng chúng sinh. Nếu chấp vào “không có đường ác”, thật không biết Phật pháp, hủy báng Tam Bảo, gây năm tội nghịch. Trong kinh Đại Tập, Phật bảo vua Tần-bà-sa-la: Đời vị lai có các Tỳ-kheo tội ác, hành dâm phá giới, uống rượu ăn thịt, nói với bốn chúng, là mình hiểu nghĩa Không của Đại thừa như thế, lãnh đạo vô lượng quyến thuộc phá giới. Bốn chúng không có thế lực, không trị họ được. Phật lại bảo vua rằng: Nay ta phó chúc kinh pháp Đại thừa này, cho Đại vương, để trị các Tỳ-kheo tội ác phá giới. Nếu vua không trị, chết vào địa ngục. Vua Tần-bà-sa-la nghe xong, đều cho là pháp ác. Pháp hành của tỳ-kheo thì không thực hành pháp ác phá giới này.
-Pháp vô ký:
1.Chẳng phải mười điều thiện.
2.Chẳng phải mười điều ác .
Ở giữa tâm tán loạn vô ký, chẳng thuộc thiện ác gọi là Vô ký. Lại
nữa, trong A-tỳ-đàm nói: Trong sắc, một có thể thấy mười thì nói có đối. Vô ký có tám loại, ngoài ra là thiện, bất thiện. Đây là mười hai nhập. “Trong sắc, một có thể thấy” là nhãn có hai nhập. Chỉ thấy cảnh trước, các sắc thiện ác không tự thấy. Nhãn căn biết gọi là một có thể thấy, nếu thấy người v.v… người trong oán thân có thể ghi nhớ, vọng phân biệt trải qua thời gian lâu, sau gặp lại nhau, dường như đã quen biết. Tôi từng ở chung với nọ, gặp các chúng sinh khác không phải sắc chúng sinh, cũng giống như thế, đều thuộc một sắc nhập. Cho nên nói “Trong sắc, một có thể thấy”. “Mười thì nói có đối” là tai đối với âm thanh, mũi đối với mùi thơm, lưỡi đối với vị, thân đối với các xúc chạm, ý đối với pháp, cho nên nói “mười thì nói có đối”. “Vô ký là tám loại”: Nhĩ căn đối với tiếng không thể gặp nhau, chẳng biết nơi chốn, không thấy sắc tượng, chẳng thể ghi chép, cũng lại không biết người oán thân và âm thanh khác, tiếng vang của phi nhân. Nếu mắt không thấy, tâm ý không biết, đều không thể ghi nhớ, nhưng có thể đối nhau. Thí như có người ngồi dưới tòa nói pháp, tâm duyên việc ngoài, cảnh ngoài. Mắt cũng không nhìn cảnh giới, cho đến duyên theo tòa, không hề nghe tiếng nói của Pháp sư, các căn mũi, lưỡi, thân cũng như thế, chẳng thể ghi nhớ nên gọi là Vô ký. Dù cho có nhớ, phải có ba việc hòa hợp ý v.v.… mới ghi nhớ được. Một mình thì không thể ghi nhớ. Bốn căn đối bốn trần nên nói tám loại chẳng thể ghi nhớ nhau, cho nên nói “vô ký là tám loại”. “Ngoài ra thì thiện, bất thiện”: Ý và pháp đối nhau, đều có thể ghi nhớ việc thiện, bất thiện. Tôi từng ở đâu, làm bao nhiêu pháp lành, công đức như thế. Tôi từng ở đâu gây ra bao nhiêu tội nặng, bao nhiêu tội nhẹ. Tôi ở chỗ nọ không gây thiện ác, tùy nghi mà an trụ, không gây ra điều gì cả. Tôi từng ở chỗ ấy làm được bao nhiêu điều tốt, bao nhiêu vật chẳng tốt. Pháp thiện và bất thiện cũng giống như thế. Nhưng ý căn này không có nơi chốn, có thể thấy xa chính đáng việc của năm trần, ví như con rùa thần nhận biết việc kín, đều có thể ghi nhớ, chẳng gọi là vô ký, nhưng được gọi là tâm của pháp thiện, bất thiện. Có thể xem khắp pháp mười hai nhập, sáu thức do tâm, ý chỉ biết phần ít không thể biết hết, phan duyên tính toán gọi là Tâm, thuộc đang nhận giữ gọi là Ý. Cho nên trong kinh Đại Tập nói ngồi thiền học đạo theo pháp hành của tỳ- kheo nên quán ba tánh: 1- Tâm tánh. 2- Nhãn tánh. 3- Ý tánh. Ba pháp này nhẹ nhàng tiện lợi, việc dùng mạnh mẽ. Lại nữa, pháp niệm xứ có pháp trong, pháp ngoại, pháp trong ngoại. Pháp trong là sáu căn, pháp ngoại là sáu trần, gọi là sáu cảnh, pháp trong ngoại là sáu thức, cũng gọi là sáu trần. Mười tám giới, ba độc, bốn đại, năm Ấm, mười hai nhập,
thập nhị nhân duyên đều là ở đây. Nay chỉ nói chung, các pháp khác cũng gồm nhiếp tất cả. Tất cả phiền não, vô minh là chính. Do mắt thấy sắc sinh tâm tham ái. Ái tức là vô minh, vì ái gây ra nghiệp gọi là Hành, chí tâm chí niệm gọi là Thức. Thức cộng với Sắc và Hành gọi là danh sắc. Sáu chỗ sinh tham gọi là sáu nhập. Nhân nhập mà cầu thọ gọi là xúc. Nghĩ sắc đến pháp gọi là Thọ. Tâm tham đắm gọi là Ái. Tìm kiếm khắp nơi gọi là Thủ. Pháp sinh như thế gọi là hữu. Lần lượt không ngừng gọi là Sinh, thứ lớp dứt gọi là Tử. Các khổ ép ngặt gọi là não, cho đến thức pháp nhân duyên sinh tham cũng giống như thế. Mười hai nhân duyên này, một người trong một niệm tâm đều đầy đủ gọi là phiền não, sinh già bệnh chết. Mười hai nhân duyên chẳng phải giải thoát. Giải thoát, nhân mắt thấy sắc sinh tâm tham ái gọi là Vô minh, vì ái mà tạo nghiệp gọi là Hành. Lúc chưa gặp sắc gọi là độc đầu vô minh, cũng gọi là Vô thỉ vô minh, cũng gọi là Bất công vô minh. Nếu mắt không đối sắc thì không thể sinh ái vì không có bạn cùng hợp. Không có hai pháp ái và hành, không thể ở trong đó gieo trồng hạt giống thức, nên gọi là Vô minh, độc đầu vô minh, bất cọng vô minh. Hàng Nhị thừa Thanh văn và các hành giả mới nhập đạo không thể dứt được vô thỉ vô minh này. Chư Phật, Bồ-tát và hành giả Nhị thừa chỉ đoạn hữu thỉ cộng bạn. Vô minh hợp với ái gọi là bạn, có thể tạo hành nghiệp gọi là thỉ sinh, bắt đầu sinh là nhân đầu tiên của thân. Cho nên là vô thỉ vô minh. Vô minh là cha, tâm ái là mẹ, hành nghiệp hòa hợp sinh hạt giống thức, cũng được gọi là trồng hạt giống thức. Trồng thân vị lai nên gọi là trồng. Danh sắc là mầm nên gọi là sinh. Như thế nên biết là có thể dứt trừ. Người cầu giải thoát nên quán sát cha mẹ sinh tử, dứt cho hết không để sót. Người quán sát lúc mắt thấy sắc nên nghĩ rằng: Căn trần rỗng sáng, ý thức chú vào vọng tưởng hòa hợp cùng sinh ra nhãn thức. Thấy các sắc tượng tạm gọi là Mắt. Lại nghĩ: Cái gì là mắt? Rỗng không là mắt ư? Sáng là mắt, trần là mắt hay ý là mắt? Hay là thức sinh một mình gọi là mắt? Xương vành mắt là mắt? Hay nước mắt là mắt? Hay con ngươi là mắt? Nếu rỗng không là mắt thì không sắc không đối chẳng thấy gì lẽ ra không phải là mắt. Nếu sáng là mắt thì không căn, không hay, không biết gì, lẽ ra không phải mắt. Nếu căn là mắt, nước mắt, con ngươi, vành con mắt khác nhau, không và sáng chưa hiện nhìn không thấy sắc. Không và sáng nếu hiện, người mù bẩm sinh, mắt không hư mà không thể thấy sắc. Nên biết không, sáng và căn đều không có mắt. Nếu sắc là sáng thì tánh sắc vô tri, không thể tự thấy. Hư không chẳng có chỗ sinh, không có tình, không có đối, không hòa hợp với căn. Nên
biết sắc trần, hư không chẳng có mắt. Vì sao? Vì dù căn trần đối nhau mà hư không và ánh sáng không hiện, ý không chú ý thì không thấy sắc. Nên biết căn, trần, hư, không chẳng có mắt. Lại nghĩ rằng: Ý là mắt. Nếu ý là mắt, là cái thấy được sắc, thì người mù ý căn không hư mà chẳng thấy được sắc, nên biết không phải mắt. Dù cho người có mắt không mù, lúc mắt không đối, ý căn chẳng hư, chẳng thể thấy sắc, vì thế nhất định biết là ý không phải mắt. Ý rỗng không, chẳng có căn, bất sinh bất diệt, không danh không tự. Nhãn rỗng không, không căn, không có sinh diệt, cũng không có tên gọi các nhân duyên; không tụ không tán, không biết gọi là gì. Lúc quán như thế, chẳng thấy chỗ mắt bắt đầu đến, pháp vô thỉ cũng không, vì cầu pháp vô thỉ không thật có, gọi là “vô thỉ không vô”, vì có vô thỉ để phá, cũng không có vô thỉ không. Vì sự lưu truyền ở đời gọi là phương tiện tuệ, hiểu rõ vô thỉ không, gọi là phương tiện tuệ. Vô thỉ không cũng không, tánh không không cũng không có gọi là tuệ tánh. Nếu phá hòa hợp, cộng bạn vô minh là trí phương tiện. Nếu phá vô thỉ vô minh gọi là Độ. Nên gọi trí độ là mẹ Bồ-tát, phương tiện tuệ là cha. Tất cả mọi đạo sư, đều do đây mà sinh ra muôn hạnh, được chỗ ban đầu thì sinh vào nhà Như Lai, gọi là bất sinh sinh. Lại có một lối hiểu khác, nếu dứt hữu thỉ hòa hợp vô minh, đó là Vô sinh. Nếu biết vô thỉ vô minh có thể dứt, có thể biết không chỗ đoạn gọi là pháp Vô sinh, gọi là Tuệ, đó là Trung tuệ. Phá hữu thỉ vô minh gọi là Tận trí tuệ, cũng được gọi là tận trí. Dứt vô thỉ vô minh gọi là trí vô sinh. Nếu biết không có vô thỉ , thì vô thỉ rỗng không gọi là Vô sinh pháp nhẫn. Pháp không cũng thấy. Chẳng phải không vô mà cũng chẳng có. * Là quán vô minh sinh cũng không, cũng chẳng thấy không có tánh, không thấy không có tánh vô, cũng chẳng phải không thấy, chẳng phải chẳng không thấy, mà không có chỗ chẳng thấy, cũng chẳng phải chẳng có vô, có chỗ không thấy. Không gọi là có sở đắc, không gọi là không sở đắc, gọi là tánh như như. Vô sinh pháp nhẫn tuệ thì trí không thể nói đến được. Mười tám loại trí Không có thể nhiếp mà không có tên để nói, cũng chẳng phải vô minh. Cho nên Phật nói pháp năm Ấm đã không phải có, cũng chẳng phải không, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng ở Trung đạo. Chẳng không, chẳng vô tướng, cũng chẳng vô tác, chẳng hợp cũng chẳng tan, pháp danh tướng cũng không. Đã thấy có chúng sinh, chẳng thấy không chúng sinh. Niết-bàn chẳng phải có, cũng chẳng phải không. Đó là pháp niệm xứ. Tuy biết các pháp như thế mà tinh tấn thiền định, khổ hạnh cầu Phật đạo, chẳng rơi vào cái không của đường ác, thệ độ tất cả chúng sinh tâm không lui sụt, lại nói
sơ lược.
Lại nữa, mắt thấy sắc lại quán sát ngược trở lại bên trong, tìm cầu mắt, ai thấy được sắc? Cái gì là mắt? Từ chỗ nào sinh? Lúc quán như thế, đều không thấy mắt, cũng không có chỗ sinh, cũng không thấy, cũng không sinh, không tên gọi, đều là tướng vô minh. Lại quán sắc từ chỗ nào sinh? Ai khiến nó đến? Lúc quán như thế chẳng thấy chỗ sinh, cũng không người sai đến, tìm chỗ sinh chẳng thật có, như bóng dáng trong hư không, như thấy trong mộng, như huyễn hóa, bất sinh bất diệt, tức không có sắc vì không thật có. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng giống như thế. Sáu thức là cành nhánh, tâm thức là gốc rễ, sóng mòi vô minh dấy, tùy duyên sinh sáu thức. Tên của sáu thức giả gọi là phần trương thức, theo duyên không tự tại nên gọi là giả danh thức. Tâm thức gọi là động chuyển thức, dạo chơi sáu căn gây ra phiền não. Sáu thức duyên hành nghiệp thiện ác, theo nghiệp thọ báo khắp sáu đường. Có thể quán sáu căn rỗng không, không chủ, tức ngộ các pháp rốt ráo không. Quán tâm vọng niệm vô sinh diệt, tức dứt vô thỉ vô minh không, hiểu sáu thức rỗng không thì được giải thoát. Không có sáu thức rỗng không cũng không có trói mở. Vì sao? Sáu thức chẳng phải có, cũng chẳng phải không, không danh không tự, không tướng mạo, cũng không trói buộc, không giải thoát. Vì muốn giáo hóa chúng sinh nên giả gọi là phương tiện mà nói giải thoát. Tâm giải thoát không, gọi là trí Kim cương. Vì sao? Tâm không ở trong, không ở ngoài, không ở giữa, không sinh diệt, không tên gọi, không tướng mạo, không trói, không buộc, không giải thoát. Tất cả kết sử vô chướng ngại, tạm gọi là trí Kim cương. Lại nói chung về tâm tạo tác, hai phần gọi là tâm tướng, hai phần gọi là tâm tánh. Tướng thì thường cùng sáu thức hành, tâm tánh rốt ráo thường vắng lặng, không có sinh diệt, không có ba thọ thì không có tất cả phiền não.
Lại nữa, người tu hành muốn phá các phiền não nghiệp chướng, hãy nghĩ rằng: Do vì ta có thân nên các nghiệp nhóm họp sinh ra nay thân ta từ đâu đến? Vốn không từ đâu sinh thì ai làm ra? Lúc quán như thế liền biết thân này do vô minh hành nghiệp đời quá khứ hòa hợp nhóm họp mà sinh đến đây. Nay ta chẳng thể thấy nhân duyên tạo nghiệp đời quá khứ. Chỉ thấy đời này từ sinh đến nay gây nghiệp thiện ác, so sánh biết quá khứ. Nghĩ như vật rồi, quán rằng đời hiện tại tà mạng sát sinh, trộm cướp, tà dâm. Các tâm thiện ác và vô ký. Trước quán dâm dục vì cảnh ái dục mạnh. Ta ở nơi nọ, năm nọ, giờ nọ cùng người nọ. Ai khiến ta tạo nghiệp? Ở chỗ nào? Nếu nghiệp thuộc khắp thân ta, trong ngoài, khoảng giữa, quán sát đều không thấy nghiệp. Nếu nghiệp ở ngoài thân thì ở

 
nơi chốn nào? Quán sát khắp đều không chỗ nơi tức không thấy nghiệp. Quán tâm tạo nghiệp. Nếu nghiệp và tâm, tâm niệm niệm diệt thì lẽ ra nghiệp cũng diệt. Lúc quán như thế cũng chẳng thấy bất diệt. Niệm đầu thấy hòa hợp, quán sát liền không, vô niệm vô diệt, lặng lẽ chánh định. Niệm khởi thì lại quán, thường quán sát lại, chẳng niệm thấy hòa hợp, niệm sinh chẳng sinh nữa. Đã không có tâm vọng niệm thì không có đời hiện tại. Quá khứ cũng vậy. Lại nghĩ rằng: Nếu tâm hành vô thường, ta cũng không có nghiệp báo. Vì sao? Vì niệm niệm đã diệt hết. Nếu tâm hành là thường, ta cũng không nghiệp báo. Vì sao? Vì pháp thường như hư không, chẳng biến đổi. Nếu niệm luống dối như việc thấy trong mộng. Không có người tạo mộng huống chi là thấy pháp mộng. Tâm tướng như người mộng, các hành như pháp mộng. Không mộng không pháp mộng cũng không người quán mộng. Mộng chẳng phải sinh diệt, cũng chẳng phải không sinh diệt. Người quán mộng cũng như thế. Quán sát tâm tướng và hành nghiệp, chẳng đoạn chẳng thường, quán cũng như vậy. Đó là quán tâm tướng phá tất cả nghiệp chướng, gọi là giải thoát. Tức lúc quán tâm tánh, tâm tánh không sinh diệt, không tên không tuổi, không đoạn thường, không đầu, không nguồn, không thật có. Nên biết không tâm, chẳng phải không tâm, cũng không tên gọi tâm. Quán sát như thế xong, ngồi thiền mắt không ngủ, giác quán không còn sinh, tuần tự đi vào các thiền. Quán thân như bọt bóng, tuần tự phát sinh năm thông. Đó gọi là giải thoát.
 
/56
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »