PHẨM THỌ NIỆM XỨ
Lại nữa, thiền Ba-la-mật có quán thọ niệm xứ như kệ nói:
Đoạn được tất cả thọ,
Nay sẽ lại nói chung,
Pháp cách dứt trừ ba thọ,
Tất cả thọ cũng hết.
Ba thọ là:
1-Thọ khổ.
2-Thọ vui.
3-Thọ không khổ không vui.
Như trong mười hai nhân duyên nói: Thọ chẳng khổ chẳng vui chỉ là vô minh - có danh không sắc. Hai thọ khổ, vui là hành, thức, danh- sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu- sinh già chết diệt hoại, ưu bi, khổ não. Ba thọ như thế hòa hợp cộng thành sự, không thể mỗi pháp sinh phiền não riêng. Nội thọ, ngoại thọ, nội ngoại thọ.
Nội thọ là sáu căn gọi là sáu tình. Ngoại thọ là sáu trần, gọi là sáu cảnh.
Nội ngoại thọ gọi là sáu thức, cũng gọi là tâm tư duy phân biệt, trong ngoại như thế.
Có ba mươi loại sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ. Đó là ba mươi, đều do vô minh chẳng thể rõ nên tham đắm nghiệp ác, sinh khắp sáu đường. Nếu tu tập giới, định, trí tuệ, trong sạch ba căn độc gọi là sáu Độ. Cho nên luận nói Trí độ. Đại đạo Phật từ xưa đến nay sinh tử qua lại, nói đại đạo trí tuệ; dứt ba thọ nên gọi là độ. Cho nên Phật nói: Trong sạch ba căn độc thành Phật đạo không nghi ngờ. Tất cả tham sân si, ba thọ dùng làm căn, phá giới là cửa đường ác, giữ giới là cửa đường lành. Nếu tu giới định trí, đóng bít các đường ác, thông đạt cửa đường lành thì cũng được gọi là đóng bít tất cả cửa các đường ác, mở cửa vô thượng đại Bồ-đề của Phật. Sáu căn gọi là cửa, tâm là vua tự tại. Lúc gây ra nghiệp sinh tử, tham đắm sáu trần, đến chết chẳng bỏ, không người chế phục được, tự tại như vua, cho nên gọi là Vô thượng Tử vương. Ví như ở thế gian, tháng năm trời mưa lũ dữ dội, cây trái ngũ cốc, gãy nát rơi rụng, người và súc vật đều chết. Mưa lũ dữ dội này ví như kim cương, không gì ngăn nổi, dứt các gốc lành, làm nhất xiển đề, cho nên gọi là Tử kim cương vũ. Ví như thế gian có lòai chim đầu đàn cánh vàng, bay trong hư không, bắt các rồng trong bốn biển lớn, tự tại vô ngại, ăn nuốt đến hết, không gì cản được, cho nên gọi là Tử kim xí
điểu. Thí như thế gian, vua Chuyển luân ác độc, bay đi trên hư không, khắp bốn thiên hạ, bắt giữ các vua tự tại vô ngại, phá hoại sự nghiệp của họ, không ai cản được, cho nên còn gọi là Tử Chuyển Luân Vương. Tất cả vua trời người không ai chế phục nổi, trừ có một người đại lực thần thông, nàh ảo thuật, trí như kim cương, có khả năng hàng phục tất cả, hàng phục được. Tâm vương sinh tử này cũng giống như thế. Trong hai mươi lăm loài không ai chế phục được, chỉ trừ Bồ-tát tu giới - định- trí tuệ đạt được Sơ thiền cho đến Đệ tứ thiền và định Diệt thọ tưởng, thành tựu bốn Niệm xứ, pháp nhẫn đầy đủ, được thần thông rộng lớn là có khả năng hàng phục được Tâm vương sinh tử. Tất cả phàm phu và người Nhị thừa không thể hàng phục tử vương ấy. Vì sự dời đổi của pháp vô thường, không thể hàng phục, chỉ có pháp của Bồ-tát Đại lực, phần sinh đã dứt mới hàng phục được, vì không có tập khí.
Thọ khổ có khổ trong, khổ ngoại.
Khổ trong: Đói khát bi não, sầu lo tức giận, hiềm hận oán cũ, việc không vừa ý, ghét bỏ gặp nhau, trong tâm rất khổ. Các khổ như thế gọi là khổ trong. Lại nữa, cầu vật chẳng được, nếu được lại mất, các thứ năm dục, yêu phải xa lìa, cha mẹ anh em, vợ con quyến thuộc, cướp bóc chết chóc. Nếu bị bệnh ác không thuốc để trị thì chết không nghi ngì gì, lại lo buồn khóc lóc. Các khổ như thế đều gọi là khổ trong. Nghe tiếng xấu bên ngoài, mắng nhục chỉ trích, ôm lòng phẫn nộ, cũng gọi là khổ trong.
Khổ ngoại: Nếu bị phép vua bắt, đánh khảo khổ sở, lao ngục trói nhốt, mang gông mang cùm gọi là khổ ngoại. Cũng gọi khổ trong ngoại. Nếu sư tử, hổ beo, các lòai thú dữ, gió mưa nóng lạnh. Những loại như thế gọi là khổ ngoại. Nếu tự thân bị bệnh, các căn không đủ gọi là khổ thân. Nếu bị người sai khiến, gánh vác nặng nhọc, như đi đường xa, giữa chừng gặp nạn, không nơi dừng nghỉ. Các khổ như thế gọi là khổ thân. Nên học Từ bi, tu tập pháp không, chụ đựnng không sinh tức giận. Đối với kẽ oán ghét thì nên nghĩ rằng: đời trước ta hại người, nay chỉ tự trách, không nên giận họ. Cọp sói sư tử, voi điên vua ác, cũng giống như thế. Đối với tham cầu, nên cầu tâm xã, không nên giận buồn. Quán âm thanh ác như tiếng vang trong hư không. Tiếng kia không đến, lỗ tai không nhận, vừa nghe liền diệt, ai mắng ai chịu, sẽ không tức giận. Nghe âm thanh tốt, khen ngợi đề cao, cũng quán như trước không sinh tâm vui, lễ bái cúng dường, tất cả thọ vui nên nghĩ như vầy: Họ tự cầu phước mà đến chỗ ta, tự làm công đức, chẳng nghe việc ta, chẳng nên vui mừng. Ví như ruộng hoang, có người cày cấy, tự cầu quả báo, đất
chẳng nên vui. Lại có người khác cầm nhiều phân dơ, gai góc cỏ xấu các thứ trong đó, đẽo đục đào hang, cao thấp chẳng bằng. Người ấy tự sinh tâm ác như thế, đất cũng chẳng sân, cũng không nghĩ rằng người kia tự chuốc khổ não. Có người hỏi:
-Oán hại mắng nhiếc, có thể nhịn không sân, việc này có thể làm được, lễ bái cúng dường khen ngợi là thọ vui vì sao không vui?
Đáp: Nay họ tuy cúng dường khen ngợi ta, sau nếu gặp duyên xấu thì sẽ giận ta, hoặc đánh hoặc giết, không nên sinh tâm mừng. Thọ vui thọ khổ đều như huyễn hóa, không có tướng cố định, không nên giận, không nên vui. Như mặt đất kia, không có tâm yêu ghét. Bồ-tát muốn cầu Phật đạo vô thượng, trước nên tu học Tam-muội Đại địa, cũng nên học Tam-muội Như hư không. Thọ không khổ không vui cũng giống như thế. Chẳng nên tham đắm mà nên nghĩrằng: Vì ở giữa khổ vui nên có không khổ, không vui. Nếu không khổ vui, thì không có không khổ, không có vui. Tất cả đều là vô thường sinh diệt, không hề tạm dừng. Vì sinh diệt không, nên không có chỗ sinh diệt, cầu chẳng thể được. Lúc quán như thế tức không có ba thọ, được ba giải thoát. Các tướng nam nữ cũng giống như thế, như huyễn như hóa, không sinh không diệt, không thật có. Như thân niệm xứ, năm Ấm tướng là như, không thật có. Không có mười tám giới nên không có tất cả thọ. Vì sao? Sáu căn, sáu trần, sáu thức là không. Cầu chẳng thể thấy gọi đó là Không. Cầu cũng chẳng được, gọi là không không, cũng chẳng có không.
Lại nữa, trong thiền ba-la-mật, quán thọ niệm xứ, vô sinh vô diệt, không có tất cả thọ tức là Niết-bàn. Quán sát Niết-bàn cũng chẳng thật có, vì không có danh tự, tức không có Niết-bàn. Lúc quán như thế, người mới học sẽ dứt được tất cả phiền não, lại được tất cả túc mạng thông, tự quán thân mình hiện tại lúc mới sinh năm Ấm ca-la-la, sinh diệt chẳng trụ. Cũng thấy năm Ấm sinh diệt trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp ở quá khứ. Dùng năng lực thiên nhãn thân niệm xứ, trụ trong Sơ thiền, sẽ thấy được túc mạng thần thông như thế. Tất cả chỗ sinh, tuổi thọ ngắn dài, thọ báo khổ vui, uống ăn y phục, giòng dõi tên họ, sinh tử ra vào, cõi nước thế giới, tánh dục thiện ác, đều thấy đều biết nhân duyên túc mạng, hiện tại vị lai, tất cả mọi việc đều thấy đều biết. Như đời quá khứ, cũng biết túc mạng ba đời của các vị trời và chúng sinh trong sáu đường, như biết mình không khác. Cũng lại biết tất cả túc mạng của chư Phật, Bồ-tát, Thanh văn, Duyên giác. Trong một niệm tâm cân lường hết nguyện, rõ ràng không ngại. Ở trong tất cả chúng sinh được tuổi thọ tự tại, tùy theo sự chiêu cảm mà dài ngắn khác nhau.Vì chúng sinh nên hiện tất cả thân,
nhận tất cả mạng, muốn độ chúng sinh trong ba đường ác ở khắp mười phương. Muốn độ ngạ quỷ, quán thọ niệm xứ, trụ trong Sơ thiền, dùng Như ý thông, ban thức ăn ngon giúp họ dừng khổ mà nói pháp cho họ nghe. Lúc muốn độ súc sinh, quán thọ niệm xứ vào Sơ thiền, rồi lại nhập Tứ thiền, xuất Tứ thiền, trụ Nhị thiền dùng thần thông Như ý khiến các chúng sinh lìa nghiệp súc sinh, được thân trời người, khiến họ vui mừng mà nói pháp cho nghe. Lúc muốn độ chúng sinh trong địa ngục, quán thọ niệm xứ. Nhập Sơ, thiền rồi nhập Nhị thiền, xuất Nhị thiền nhập Tứ thiền, xuất Tứ thiền trụ Tam thiền, dùng thần thông Như ý biến hóa địa ngục A-tỳ và các địa ngục ở mười phương đều thành cõi trời, tất cả hình phạt biến thành chuỗi anh lạc, như khổ của họ dừng, như vui Tam thiền, tùy ứng nói pháp. Lúc muốn độ chúng sinh phước đức thế lực lớn, thì quán thọ niệm xứ và ba niệm, nhập Sơ thiền, xuất Sơ thiền nhập Nhị thiền, xuất Nhị thiền nhập Tam thiền, xuất Tam thiền nhập Tứ thiền, trụ Hỏa nhất thiết xứ, phát ra ánh sáng rực rỡ chiếu khắp mười phương. Trụ Địa nhất thiết xứ, đại địa mười phương rung chuyển sáu cách, trụ Phong nhất thiết xứ, hương giới định tuệ tràn khắp mười phương. Trụ Thủy nhất thiết xứ, hiện Tam-muội Nguyệt ái, chúng sinh bệnh nặng, khổ não trong mười phương đều được tiêu trừ, thân tâm an vui. Trụ Địa nhất thiết xứ, thế giới nhơ bẩn biến thành tịnh độ, hoa quả ao hồ, bảy báu trang nghiêm, phát ra ánh sáng giữa hai đầu chân mày, vời các đại Bồ-tát ở mười phương đều đến nhóm họp, ánh sáng từ miệng, ánh sáng trên đỉnh đầu, phát ra ánh sáng giữa trung gian, nhóm họp các vị Thiên vương, vua Thánh Chuyển luân, vua A-tu-la, và các Tiểu vương, cùng các trời người trong ba cõi. Phát ra ánh sáng, dưới trùm đến tất cả chúng sinh trong ba đường, nhóm hội nghe pháp, đều thọ ký cho họ. Pháp thọ ký có chín thứ: ba thừa và sáu đường, gọi là chín loại thọ ký khác nhau. Như trong Ma-ha Bát-nhã Phóng Quang luận chép: Phát ra ánh sáng từ nhục kế trên đỉnh đầu, chiếu khắp mười phương, nhóm họp các đại Bồ- tát và nhóm họp Phật Đa Bảo ở quá khứ v.v.… lại đến phân thân ở mười phương. Ứng hóa vô lượng thế giới của chư Phật trong mười phương, vì tất cả chư Phật đầy trong tất cả cõi nước, dời các trời người, ba đường tám nạn đặt ở cõi khác, không cho ở tại hội, không có chúng tạp nhạp khác, nên biết hội này chỉ nói nhất thừa, vì Bồ-tát Nhất sinh Bổ xứ được Như Lai thọ ký, hoặc phát ra ánh sáng rực rỡ giữa hai đều chân mày, việc đồng với phóng quang trên đảnh. Nên biết hội này vì Đại Thanh văn là những vị Bồ-tát mật hạnh, người đã qua Thập địa, vào cảnh giới Phật, được Như Lai thọ ký, như trong kinh Pháp Hoa nói. Hai thứ phát
ra ánh sáng thọ ký, chỉ nói về quả Phật Nhất thừa, trí tuệ Phật, không có tạp chúng khác, nên không nói thọ ký cho chín đường.
Hỏi: Phật đại Từ đại Bi bình đẳng nói pháp, chúng sinh nghe khắp vì sao khi nói Pháp Hoa, ba lần biến thế giới tám phương chung thành một cõi Phật. Lần biến thứ nhất, thế giới chư Phật ở tám phương năm trăm muôn ức na-do-tha hằng hà sát na v.v.… đồng ở cõi Ta-bà. Hai phương trên dưới cũng giống như thế. Lần biến hóa thứ hai, ở tám phương, mỗi phương có hai trăm muôn ức na-do-tha Hằng sa thế giới chư Phật cũng đồng đến Ta-bà. Lần biến hóa thứ ba, tám phương mỗi phương hai trăm muôn ức na-do-tha Hằng hà sát na v.v.… thế giới chư Phật đồng ở Ta-bà. Ba lần biến như thế, mỗi lần phát ra ánh sáng từ sợi lông trắng giữa hai đầu chân mày, dời các trời, người, a-tu-la v.v.…, ba đường tám, bát nạn đặt ở phương khác, chẳng được nghe pháp? Nên biết Như Lai tâm không bình đẳng.
Đáp: Việc này không đúng, trí tuệ Như Lai chẳng phải là cảnh giới của ông, chẳng nên vặn hơi rằng Phật không bình đẳng, vì sao? Vì hội Diệu Pháp Liên Hoa chỉ nói nhất thừa, mau tắt nhất trong các sự mau tắt, trí tuệ Phật vì đại Bồ-tát được Như Lai thọ ký, khó tin khó hiểu, cho nên hàng Nhị từa lậu tận, Bồ-tát mới phát tâm, cho đến các Bồ-tát bất thoái v.v… còn nghi ngờ không hiểu nổi, huống chi người khác. Ví như vua Thánh Chuyển luân ở thế gian, trang nghiêm bốn thiên hạ nhóm họp các vua Chuyển luân cùng bàn luận việc Thánh vương. Chỉ có đại thần trí tuệ ở bên cạnh vua mới tin hiểu, được gần tòa vua, đồng bàn việc vua. Các gian thần khác, ngu si ám độn thì không nghe nổi, chẳng được cùng tòa, huống chi các tiểu vương và các tôi tớ mà gần được toà vua? Như Lai đốn giáo cũng lại như thế. Chỉ có bậc Đại sĩ Nhất sinh bổ xứ vô cấu, được trí tuệ Phật, là người được Như Lai thọ ký mới được nghe. Hội này không nói kinh dẫn đạo, cho nên người khác không được ở tại tòa. Nếu người khác nghe không hiểu sẽ sinh nghi ngờ phỉ báng, rơi vào địa ngục. Cho nên dời họ đến nơi khác. Bốn chúng năm ngàn người cũng giống như thế. Ví như mắt người Diêm-phù-đề không thấy được các vị trời ở thượng giới, nếu người thấy được hai mắt sẽ mù. Trời, người, a-tu-la, ba đường tám nạn cũng giống như thế, thấy ánh sáng thọ ký giữa hai đầu chân mày, nhục nhãn còn chẳng được, huống chi nghe nói được Như Lai thọ ký. Nếu người nghe được sẽ sinh phỉ báng, mất hẳn tín tâm, dứt các gốc lành, làm nhất-xiển-đề. Vì muốn giữ gìn ý của họ nên không cho nghe. Ví như người ở đời đói khát gầy gò, nhịn ăn bụng xép đã lâu, không được một lần đến ăn nhiều cốm khô cho đến
bánh cứng, miến bún, rượu. Nếu ăn no sẽ chết không nghi ngờ gì. Năm ngàn bốn chúng, trời, người, a-tu-la, ba đường tám nạn cũng giống như thế vì phước đức mỏng manh không có khả năng nghe Như Lai thọ ký.
Hỏi: chư Phật có vô lượng phương tiện thần thông, một âm nói pháp tùy loại mà hiểu được, vì sao lại dời họ đi nơi khác?
Đáp: Đúng như ông hỏi, âm của cõi khác có hai nghĩa:
1-Cõi của mình là Như Lai tàng. Tất cả chúng sinh không thể hiểu, tham nghiệp thiện ác, luân hồi sáu đường.
2-Tất cả chúng sinh từ vô lượng kiếp đến nay thường ở trong sáu nẻo, luân hội chẳng lìa như nhà cửa của mình cũng gọi là cõi của mình (bổn độ). Trời, người, a-tu-la v.v.… vì phước đức mỏng nên không thể cảm thấy ba phen biến giường tòa, lại không cảm nghe tiếng rất sâu mầu lời dạy vốn không như. Vốn không nhuư này Như Lai như nhất. Như ,không hai, như gốc ngọn rốt ráo, v..v… Chỉ có Phật với Phật mới biết được, người khác không hiểu. Năm ngàn bốn chúng, trời, người, a-tu-la, ba đường tám nạn chẳng nghe vốn không như, chẳng được hiểu rốt ráo. Cho nên gọi là để ở nơi khác. Lại nữa, năm ngàn trời, người, a-tu-la và những chỗ nạn, chỗ ngồi khác, nghe khác hiểu được cạn cợt, bỏ hẳn sáu đường. Cho nên còn gọi là đặt ở chỗ khác, mà thật không có dời đi, chẳng hay chẳng biết, chẳng rời chỗ ngồi của mình, chúng sinh hiểu không đồng nên nói nơi khác.
Lại muốn nói lại nghĩa thọ niệm, nên Phật nói kệ rằng:
Hành giả lúc mới quán thọ niệm
Ba thứ pháp thọ khó bỏ lìa
Khổ thọ làm sinh các sợ hãi
Cũng sinh chín nẻo các oán hại
Thường ôm phẫn hận làm phương tiện
Thù oán được dịp đoạn mạng họ
Hoặc tham trụ xứ được lợi dưỡng
Thấy người hơn mình muốn đến giết
Hoặc thêm phỉ báng truyền danh ác
Hoặc thời kiếm người sai giết hại
Pháp khổ thọ này có ba loại
Thọ trong, thọ ngoài, thọ trong ngoài.
Nếu muốn dứt trừ các thọ khổ
Nên quán kẻ thù như con đỏ
Cũng như cha mẹ và anh em
Cũng như các thầy và bạn học
Đời đời đều cùng sinh theo họ
Là cha mẹ trong vô lượng kiếp
Ta trong nhiều kiếp từng sinh họ
Tất cả đều là con của ta
Lúc quán này thành, tức giện chết
Đạt được tâm đại Từ đại Bi
Kẻ thù thương khen sinh hối hận
Như thấy cha mẹ đều quy mạng
Ta xưa kia từng học với họ
Tất cả đều là thầy của tà mạng,
Hoặc tu tục lễ và ngũ kinh
Hoặc học đạo xuất thế giải thoát
Học pháp lành nên tiếng tốt truyền
Nhẫn não hại nên được thần thông
Tất cả đều là Hòa-thượng ta
Cũng là các thầy và bạn học.
Phải nên hiếu thuận siêng cúng dường
Cung kính cúng dường nghĩ như Phật
Nếu được vui năm dục hấp dẫn,
Chỗ vua trời người vui tự tại
Vui Thiên vương, nhân vương ba cõi
Lúc vô thường đến đều tan mất
Tất cả thọ vui là gốc khổ
Báo vui hết rồi, báo khổ tới
Tham nhận vinh hoa cho là thường
Lúc thương chia lìa địa ngục đến,
Thọ khổ vui dứt thì không khổ
Không khổ không vui thì vô sinh
Đủ năm phần liền trừ năm dục
Cũng trừ năm cái, nhân chướng đạo
Năm dục, năm cái phiền não hết
Đầy đủ năm chi nhập Sơ thiền
Nhị thiền, tam thiền, đệ tứ thiền
Lại nhập Sơ thiền quán năm Ấm
Thấy thân như bọt, rỗng như bóng
Thở ra vào như gió trong không
Thấy đời quá khứ vô lượng kiếp
Các thọ năm Ấm sinh diệt không
Dứt năm dục nên phiền não hết
Dứt năm cái nên được năm thông
Dứt năm dục nên được như ý
Dứt năm cái nên được ba minh
Cho nên chư Phật có nói kệ
Rằng trong ngoại kẻ thù đều dừng
Trừ cha vô minh cũng diệt lui
Nếu dứt được tham, các ái hết
Tự giác, giác tha gọi giải thoát
Ma mẹ các hành đã diệt xong
Ma cha vô minh cũng phá nát
Đã dứt phiền não được sáu thông
Lập thệ nguyện lớn độ tất cả,
Tự hay dứt trừ ba thọ rồi
Cũng dứt tất cả thọ chúng sinh
Được tự tại tuổi thọ vô lượng
Cũng biết tất cả giải thoát thọ
Biết phàm Thánh chín đường thọ ký
Cũng được Như Lai ký bổ xứ
Nếu muốn nói pháp độ chúng sinh
Trước hiện việc đặc biệt ít có.
Thâm nhập thiền định phát ra ánh sáng.
Chiếu khắp mười phương các thế giới
Biến các uế ác thành tịnh độ
Hàng cây bảy báu để trang nghiêm
Ba đường tám nạn đều giải thoát
Đồng với trời, người đến nghe pháp
Dùng thọ niệm xứ quan sát họ
Sau đó nói cho họ nghe.
Hoặc khiến thế giới tịnh uế khác
Mỗi chúng sinh thấy chẳng biết nhau
Hình sắc âm thanh mọi thứ khác
Mỗi chúng sinh nghe đều chẳng đồng
Đều thấy Phật nói cho nghe.
Đều chẳng thấy trước người có Phật
Tuy lại sai biệt mỗi người khác
Khiến cho cùng lúc đều giải thoát
Tùy chúng sinh tuổi thọ ngắn dài
Năng tự tại thọ các mạng sống.
Hoặc thấy thọ vắn nhập niết-bàn
Hoặc thấy thọ lâu vô lượng kiếp
Thọ niệm xứ này lúc mới học
Dứt được khổ vui, các trói buộc
Trước quán các thọ khổ trong ngoài
Cũng quán các thọ trong ngoại không
Chẳng khổ chẳng vui, thọ cũng không
Dứt Ấm giới, nhập phá vô minh
Quán ba thọ tánh chẳng không hữu
Thì không trói buộc, không giải thoát
Pháp tánh không Phật, không Niết-bàn
Cũng không nói pháp độ chúng sinh
Chúng sinh và Phật một như như
Rốt ráo gốc ngọn không khác nhau
Ngồi đạo tràng được thành Phật đạo
Tức là đạo sư phương tiện nói
Như người trong mộng được thành Phật
Phát ánh sáng nói pháp độ chúng
Đây không Phật đạo, không chúng sinh
Phật pháp tánh tướng cũng như thế
Chúng sinh mê hoặc không hiểu biết
Dính sâu nhân khổ không tạm bỏ
Nhân của các khổ, tham là gốc
Bỏ tâm tham cầu nương vô tướng
Thấy các thọ rỗng, vô sinh diệt
Chứng khổ vô sinh, khổ Thánh đế
Trong ngoài giả hợp gọi là Tập
Không mười tám giới, tập Thánh đế
Sinh diệt diệt rồi gọi vắng lặng,
Chứng vô vắng lặng, diệt Thánh đế
Ấm không trói mở, không tà chánh
Chứng tuệ bình đẳng, đạo Thánh đế
Tứ đế không hai là một đế
Thật không bốn loại đế khác nhau
Nhất đế không nên tức không đế
Không đế xảo tuệ, Phật ba đế
Tất cả chúng sinh từ xưa nay
Không sinh không diệt không trói mở
Năm Ấm tánh như, không sáng tối
Phàm phu và Phật không một hai.
Ba mươi bảy phẩm đều nằm trong này. Quán Thọ niệm xứ nhiều nên thọ niệm xứ làm chủ, nên một mình nhận lấy tên. (Nói lược về thọ niệm xứ xong).