PHẨM TÂM NIỆM XỨ
Lại nữa, hành giả! lúc mới học thiền, nhiều niệm suy nghĩ, giác quán phan duyên như vượn nhảy, chẳng hề tạm dừng. Dù cho hành giả thường quán theo tâm cũng không thể nhiếp, liền nghĩ rằng Ba cõi luống dối đều do tâm tạo, tức quán tâm này từ chỗ nào sinh, nếu tâm ở trong thì ở chỗ nào? Quán khắp trong thân tìm tâm chẳng được, không lúc mới sinh, cũng không tướng mạo. Nếu tâm ở ngoài thì trụ ở đâu? Quán khắp ngoài thân tìm nơi ở của tâm đều chẳng thấy. Lại quán khoảng giữa, cũng chẳng thấy tâm. Lúc quán như thế, chẳng thấy tâm từ trong vào, chẳng thấy tâm từ ngoại vào, chẳng thấy tâm trong ngoại vào, chẳng thấy tâm trong Ấm, chẳng thấy tâm trong giới, nên biết tâm này rỗng không, không có chủ, không danh, không danh hành, không tướng mạo, không theo duyên sinh, không từ phi duyên sinh, cũng chẳng phải tự sinh. Cái danh này, có thể quán tâm niệm, tâm niệm sinh diệt, quán niệm niệm sinh diệt, tướng quán niệm niệm chẳng thật có, cũng không sinh diệt. Quán tâm người cũng Như quán tâm mình, lại quán tâm tánh, không có tâm tánh cũng không tướng mạo, rốt ráo không có tâm, cũng không chẳng thấy tâm. Quán như thế xong, thân tâm rỗng lặng, tuần tự nhập thiền, có thể khởi thần thông. Lại nữa, Đại Bồ-tát quán tâm niệm xứ, học được tất cả thiền định giải thoát khởi thần thông Như ý, lập thệ nguyện rộng lớn, độ tất cả chúng sinh, trước tiên phải quán tâm này nhập Sơ thiền, tuần tự nhập đến đệ tứ thiền, cho đến định diệt thọ tưởng, lại nhập tâm Sơ thiền quán niệm xứ trong tâm, ngoại tâm, trong ngoại tâm, cũng lại quán sát ba độc, bốn đại, năm Ấm, mười hai nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên. Quán như thế xong, quán các giải thoát khắp tất cả tha-tâm-trí Tam-muội. Dùng tha tâm trí Như ý thần thông, cũng nhập thiên nhãn, túc mạng, lậu tận thần thông quán khắp. Các thần thông như thế rồi, quán bảy phần giác, trụ Tam-muội tha tâm trí, dùng niệm giác phần, trạch giác phần và tinh tấn giác phần quán khắp tâm tâm tánh dục của tất cả chúng sinh mười phương, dùng thập lực trí phân biệt chúng. Mỗi chúng sinh cảm nghe pháp gì, nghe âm thanh gì, thấy sắc tượng gì, ở môn giải thoát nào mà được giải thoát. Quán như thế xong, dùng hỷ giác phần thần thông Tam-muội, đều khiến cho chúng sinh trong sáu đường khắp mười phương đều rất vui mừng, dùng trừ giác phần, định giác phần, xả giác phần, dùng như ý thần thông hiện khắp sắc thân, thượng trung hạ căn, tùy cơ nói pháp khiến đều giải thoát. Tâm niệm xứ này, lúc mới tu học, thân tâm được tự chứng, tự dứt tất cả
tâm tưởng vọng niệm, các kết sử phiền não, cũng có thể dạy người khác tu học như mình. Nếu chưa được thần thông thì không có năng lực rõ được, chẳng biết các thứ căn tánh của chúng sinh, chỗ nghĩ khác nhau, chẳng xứng hợp với căn cơ của họ, lợi ích rất ít, suy nghĩ rằng chỉ là lúc học, chưa phải lúc nói, chẳng nên gượng nói lời không đ1ung lúc. Nếu tu thiền định, được thần thông rộng lớn như ý tự tại, được tha tâm trí sai biệt Tam-muội. Một niệm đều biết tâm khác nhau của phàm Thánh, thông đạt vô lượng A-tăng-kỳ kiếp quá khứ vị lai như đời hiện tại. Học như thế xong thì có thể nói pháp. Suy nghĩ đã xong, lại nhập Sơ thiền quán về thân tâm rỗng không như bóng dáng, hơi thở như gió trong hư không, tâm không tướng mạo, nhẹ nhàng tự tại, liền được thần thông, trụ đệ tứ thiền, phát ra ánh sáng rực rỡ.
1.Sắc quang chiếu khắp sắc thân phàm Thánh mười phương.
2.Phát ra ánh sáng trí tuệ chiếu khắp trí tuệ của phàm Thánh trên dưới khắp mười phương chín đường, có thể biết khắp hết chỗ đúng, chỗ sai của họ, và biết nhân duyên quả báo đời trước, cũng như Tam-muội thân niệm xứ, thọ niệm xứ. Hiện tất cả thân, như thế mười phương xa gần như ở trước mắt vì họ nói pháp, đều khiến giải thoát. Lúc muốn nói pháp, hiện việc ít có làm an lạc chúng sinh, khiến họ rất vui mừng. Dùng năng lực thần thông biến chỗ dơ uế xấu ác ở các thế giới mười phương thành tịnh độ. Tất cả những vật báu như vàng bạc lưu ly xen lẫn trong đất ở chỗ này, đầy dẫy thế giới, chiên đàn thượng diệu, hàng cây bảy báu, hoa quả xum xuê, từng dãy song song, đài quán lầu gác, thành ấp xóm làng, giường phòng bảy báu, như ý bảo châu, ánh sáng chiếu nhau như mặt trời mặt trăng hiện, giống như Tịnh độ mà Như Lai ở. Chư Phật, Bồ-tát đầy đủ ở đó, mỗi vị hiện thần thông hàng phục ma trời, phá các ngoại đạo. Hoặc có chư Phật lặng lẽ thiền định, từng phần thân trên dưới phát ra ánh sáng rực rỡ, giống như đám mây. Trong ánh sáng đầy khắp mười phương hiện tất cả Phật sự. Hoặc có Bồ-tát hiện việc không thể nghĩ bàn, đặt nước bốn biển lớn vào một lỗ chân lông, các loài thuộc thủy tánh chẳng biết qua lại, để núi chúa Tu-di vào trong hạt cải, cũng chẳng ép hẹp, rồi mang về chỗ cũ. Trời Tứ thiên vương và trời Đao-lợi chẳng hay chẳng biết, thế giới Tam thiên đặt trên một sợi lông cũng không nghiêng đổ, tất cả đại chúng chẳng biết rộng hẹp, như cũ chẳng khác. Trời, người giao tiếp nhau, đều thấy được nhau. Tất cả trời, người chưa đắc đạo và các Thanh văn, Bồ-tát hạnh nhỏ đều thấy được việc không thể nghĩ bàn này. Chư Phật mười phương, các Tứ thiên vương và A-tu-la, Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già v.v.… đều cùng
Bồ-tát đối diện nói chuyện, có thể đem một mặt đối với tất cả mặt. Như hình ảnh trong gương, mặt cũng không khác, sau đó nói pháp, khiến mọi người nghe, cùng lúc đắc đạo. Đó gọi là Bồ-tát trụ tâm niệm xứ như ý thần thông như nguyện Tam-muội. Ba mươi bảy phẩm tất cả Phật pháp đều ở trong đó. Quán tâm niệm xứ là gốc, cho nên tâm niệm xứ là chính, chỉ nêu tên này giảng về nghĩa tâm mà nói kệ rằng:
Tâm trong, tâm ngoài, tâm ở giữa
Tất cả đều là tâm, tâm sổ
Tâm tánh thanh tịnh không danh tướng
Không tại trong, ngoài, chẳng ở giữa
Chẳng sinh, chẳng diệt, thường vắng lặng
Không dơ không sạch không sáng tối
Chẳng định, chẳng loạn, chẳng duyên lự
Không động không trụ không đến đi
Không sinh, không chết, không Niết-bàn
Chẳng đoạn ,chẳng thường, không trói mở
Chẳng Như Lai tàng chẳng, phàm Thánh
Không rõ là phàm, rõ là Thánh
Hành giả lúc mới học cầu đạo
Quán sát tâm sổ và tâm tánh
Quán sát tâm sổ là phương tiện
Biết rõ tâm tánh gọi là tuệ,
Lúc mới ngồi thiền quán bất tịnh
Quán thở ra vào tướng sinh diệt
Quán bất tịnh và thở ra vào
Là tâm tâm sổ, chẳng tâm tánh,
Quán tâm, tâm sở, dứt phiền não,
Tánh tâm tức là tánh phiền não
Tâm sổ, tâm tánh, bình đẳng quán
Đầy đủ thiền tuệ thành đại Thánh
Bất tịnh mới học dứt năm dục
Tu lâu đạt được như ý thông
Quán hơi thở, hiểu giả danh không
Tu lâu bay đi không chướng ngại
Hai quán đầy đủ thành một quán
Đạt được ba minh thấy ba đời
Thân niệm, thọ niệm và pháp niệm
Biết rõ ba niệm do quán tâm
Trong giả, ngoại giả, trong ngoại giả
Ba giả danh này chẳng pháp thật
Tâm niệm chẳng giả, chẳng chân thật
Cầu rõ ba giả nên quán tâm
Một gọi là tướng, hai gọi tánh
Ba giả do tướng, chẳng do tánh
Từ vô minh duyên đến già chết
Đều là do tâm tướng tạo ra
Thân giả danh này và các thọ
Pháp thiện, bất thiện và vô ký
Đều do tâm vọng niệm tạo thành
Quán tâm vọng niệm không chỗ sinh,
Tức chẳng phiền não, chẳng vô minh,
Tâm tánh vô niệm, không thể quán
Quán bốn Niệm xứ tâm tưởng hết
Phiền não dứt sạch tức tận trí
Nếu quán tâm tánh rõ bốn niệm
Hiểu pháp vô sinh, trí vô sinh
Chẳng tâm vọng niệm, chẳng duyên lự
Không tạp nhiễm nên không sáu đường
Nếu người thuận theo tâm vọng niệm
Giữ giới ngồi thiền muốn cầu đạo
Như mưa áo đẹp bị biến mầu
Không chứng vô lậu đắm thiền vị
Chẳng được giải thoát, về bốn đường
Huống chi phá giới không thiền định
Điên đảo vọng tâm chấp văn tự
Tâm tánh thanh tịnh như ngọc sáng
Chẳng bị các sắc làm ô nhiễm
Ví như châu như ý thanh tịnh
Vật nhiều màu bỏ vào trong nước
Khiến cho nước trong tuy màu đổi
Lúc trong vật xanh thì nước xanh
Vàng, đỏ, trắng, đen theo đó đổi
Màu châu, lặng lẽ không đổi khác
Tâm tánh thanh tịnh, như ý châu
Nghiệp thiện ác tạp duyên, mầu tạp
Thiền hữu lậu mười thiện sinh thiên
Gây nghiệp ác đọa bốn đường,
Giữ giới thanh tịnh tu thiền trí
Chứng được đạo vô lậu giải thoát
Từ mé sinh tử đến Niết-bàn
Tâm tánh lặng lẽ không biến đổi
Ví như châu như ý thế gian
Tùy chỗ người cầu đều ứng hiện
Châu không tâm tướng, không niệm khác
Tùy chỗ niệm cầu thảy tròn khắp
Tâm tánh không thể, không tên gọi,
Tùy nghiệp người học phàm Thánh hiện
Nếu người muốn cầu đạo giải thoát
Đầy đủ mười thiện quán ba tánh,
Tâm tánh, nhãn tánh và ý tánh
Đầy đủ ba tin, ba giải thoát
Quán thân tâm không, giữ tịnh giới
Chứng chân như hiểu gọi tin giới
Quán thân như bóng như hóa sinh
Quán tâm không chủ, không tên gọi,
Quán tội, không tội như mộng huyễn,
Cho đến mất mạng không phá giới
Giữ giới rốt ráo chứng vắng lặng
Chóng lìa được phân biệt về tướng
Giữ giới tuy không, chẳng lẫn đời
Cũng cẳhng chấp không, theo thế pháp
Thâm nhập niết-bàn giải thoát ý
Chẳng bỏ mười hạnh lành thế gian
Đạt được trí tuệ thiền vô lậu
Tâm chẳng loạn định, tức tin vững
Tu bốn Niệm xứ dứt bốn đảo
Chứng Bốn chân đế, một đế tướng
Gọi là Bát-nhã ba-la-mật
Tánh như của pháp, như tuệ tín
Nếu người đầy đủ ba tin này
Là người có thể được pháp thí,
Tín, thí, giới, văn, tuệ, hổ, thẹn,
Bảy tài sản này là đạo sư
Nếu không đầy đủ bảy pháp này
Người này không nên lên tòa cao
Đã không tin chứng tự chẳng biết,
Nói dối với chúng giảng điều
Người nay tự dối lại dối người
Loạn tâm hời hợt báng lời Phật
Như trưởng giả giàu tự có của
Đem ra bố thí là thật cho
Nếu người tu đạo chứng giải thoát
Như trưởng giả giàu lành thật thí
Người nhận, người học đều theo đây
Trước học tự chứng nói như thật
Chẳng nên hời hợt loạn đời sau
Ý Phật rất sâu khó thể biết
Như giáo tu hành, chứng bèn hiểu
Tánh này tuy không, chẳng sinh diệt
Tùy hỉ nghiệp ác ắt có báo,
Ví như hư không, chẳng sáng tối
Gió mây tĩnh loạn, có sáng tối
Nếu sớm bình thường không gió mây
Mặt trời mọc hư không sáng sạch
Nếu gió mạnh, mây mù nổi dậy
Hư không bụi mù gió tối tăm
Tánh hư không này chẳng dơ sạch
Không bị sáng tối làm ô nhiễm
Tâm tánh chúng sinh cũng như vậy
Sinh tử Niết-bàn không thể nhiễm
Tâm tánh chúng sinh cũng như vậy
Không bị đoạn thường làm ô nhiễm
Tâm tánh chúng sinh nếu vô thường
Niệm niệm diệt hoại không nghiệp báo
Tâm tánh cũng chẳng không vô thường
Dứt phiền não nên được giải thoát
Vì sinh tử, giải thoát chẳng mất
Nếu nói tâm tánh chẳng vô thường
Cầu đạo chẳng nên được giải thoát
Nếu bỏ sinh tử được giải thoát
Nên biết giải thoát tức vô thường
Nếu tánh sinh tử không bỏ được
Nên biết sẽ không có giải thoát
Nếu nói sinh tử không thể bỏ
Lời của người này không thể bỏ
Nếu nói sinh tử là bỏ được
Lời của người này không đáng nương
Nếu nói cái chết không thể bỏ
Chúng sinh sẽ không được giải thoát
Nghĩa này phải như thế, vì sao?
Chúng sinh chẳng phải pháp sinh tử,
Nếu chúng sinh là pháp sinh tử
Bỏ sinh tử thì bỏ chúng sinh
Chúng sinh nếu là người tự bỏ
Cũng nên tự bỏ pháp giải thoát
Tánh của chúng sinh tức tâm tánh
Tánh chẳng sinh tử, chẳng giải thoát
Như tánh hư không chẳng sáng tối
Không có sinh tử, không giải thoát
Tâm tánh chúng sinh như ngọc sáng
Sinh tử giải thoát dụ như nước
Muôn ác, muôn thiện, dụ các mầu
Tùy nghiệp thiện ác hiện đủ loại
Điên đảo vọng niệm gây thiện ác
Theo nghiệp thọ báo khắp sáu đường
Nếu giữ tịnh giới tu thiền trí
Pháp thân nơi nơi đều ứng hiện
Tuy theo bóng nghiệp hiện các thứ
Tâm tánh ngọc sáng chưa hề đổi.
Xá-lợi-phất hỏi một tỳ-kheo:
Tỳ-kheo! Thầy được giải thoát ư?
Tỳ-kheo trả lời Xá-lợi-phất
Nay tôi đạt được các phiền não
Pháp nay không ở tại Niết-bàn
Cũng lại không ở trong sinh tử
Nếu nói sinh tử tức Niết-bàn
Lìa Ấm là ta, tức ngoại đạo
Nếu nói chẳng tức cũng chẳng lìa
Cũng không chẳng tức, không chẳng lìa
Người này đầy đủ sáu mươi hai,
Đều là bọn tà kiến ngoại đạo
Chúng sinh chẳng phải tướng chúng sinh
Cũng lại chẳng không phải chúng sinh
Sinh tử Niết-bàn giả danh nói
Chỉ Phật và Phật biết điều này.