DU-GIÀ LUẬN KÝ
QUYỂN 6 (Phần Cuối)
BẢN LUẬN QUYỂN 25
Tư lương của hai đạo thế gian, xuất thế gian có mười bốn pháp. Từ thứ chín ở dưới giải thích về tánh của bạn lành, trong đó, trước là giải thích rộng; kế là lược, sau là kết.
Trong giải thích rộng lại có hai:
1/ Nói về bạn lành có đủ tám chi.
2/ Nói do có tám chi, nên thành tựu năm việc thiện.
Trong phần trước, đầu tiên, là nêu tám chi; sau, là giải thích theo thứ lớp.
Giải thích trong học rộng đầy đủ, khéo léo thọ trì chung cho ngữ nghiệp, ý nghiệp.
Nói giỏi, thông suốt, nhạy bén. Nghĩa là ngữ nghiệp tự tại, ý khéo tầm tư, thấy thiện, thông suốt, nói về ý nghiệp tự tại.
Trong giải thích về đối tượng chứng, có bảy:
Chứng đầu tiên có hai mươi tưởng. Xét luận Trí Độ có mười tưởng và chín tưởng: từ tưởng vô thường, cho đến tưởng bất tịnh, là gọi là mười tưởng. Từ tưởng màu xanh, bầm, cho đến quán sát tưởng trống không, là gọi là chín tưởng. Như thế tổng hợp có mười chín tưởng.
Lấy pháp nào làm thể? (Như Ngài Tuệ Viễn nói: “Tưởng của chín tưởng làm thể, thì chỉ “duyên” cõi Dục, tuệ của mười tưởng làm thể thì duyên chung các pháp”.
Nay, giải thích mười chín tưởng đều lấy tuệ làm thể, hoặc gồm giúp sức và niệm, tưởng v.v..., nên giải thích mười tưởng trong luận kia, nói hoặc trí, hoặc niệm, hoặc tưởng. Người kia lại hỏi: “Hai tưởng này có khác gì nhau không?”
Đáp: “Chín tưởng bị ngăn che chưa được thiền định, bị dâm dục che lấp. Mười tưởng, chủ thể trừ diệt ba độc tâm dục v.v... Chín tưởng như trói buộc giặc, mười tưởng như chém giặc. Chín tưởng là sơ học, gọi
là nhân; mười tưởng cuối cùng thành tựu quả.
Trong đây, trước là phân tích sự khác nhau của mười tưởng có bốn:
1/ Phân tích về tưởng khác nhau: Tưởng vô thường, khổ, vô ngã, tưởng không đáng vui.
Quán có hai thứ: Quán chung, và quán riêng. Trước quán chung; trong đây quán riêng. Quán riêng có hai:
a/ Quán pháp.
b/ Quán hữu tình.
Trước là quở trách pháp quán tất cả. Nay trong đây quán tội ác của quán hữu tình không đồng.
2/ Tưởng chết khác với vô thường, việc này có hai nghĩa:
a)- Quán các hành sau cùng vô thường, gọi là tưởng chết; quán sát các hành sát na vô thường, gọi là tưởng vô thường.
b)- Quán chấp thọ đâu gọi là tưởng chết? Quán tưởng các hành, gọi là tưởng vô thường.
3/ Phân tích về Bất tịnh, khác với tưởng nhàm chán thức ăn: bất tịnh thì chữa trị tâm tham sân; còn nhàm chán thức ăn, đối trị bệnh tham ăn.
4/ Nói về đoạn ly biệt. Theo Luận Trí Độ giải thích có ba nghĩa:
1/ Dứt trừ ba độc, gọi là tưởng đoạn; vì dứt trừ nhân đường ác, lìa ái, gọi là ly, vì lìa nhân người, trời. Khổ hết, gọi là diệt, vì diệt quả của năm đường.
2/ Tu bốn thiện căn, lìa phiền não, gọi là ly. Tu đạo vô lậu, dứt trừ phiền não, gọi là đoạn. Lúc nhập Niết-bàn, dứt hết các khổ, gọi là diệt.
3/ Dứt trừ phiền não được Hữu Dư diệt, gọi là đoạn. Được vô dư diệt, dứt hết mọi đau khổ, gọi là diệt, hai phương tiện này gọi là Ly”
Hỏi: “Tưởng vô thường, khổ, vô ngã với trí vô lậu đều có; bốn tưởng nhàm chán thức ăn v.v... đều có với tuệ hữu lậu, vì sao trước thì tưởng vô thường v.v... sau nhàm chán cái ăn v.v... ?”
Đáp: “Vì, ba tưởng vô thường v.v... ở nơi kiến đạo phá trừ tà kiến v.v... mà chứng được quả vị Thánh; còn bốn tưởng nhàm chán thức ăn v.v... ở tu đạo vì lìa hẳn các phiền não dâm dục v.v... Nhưng, chính ba tưởng đầu tiên chỉ bày bốn tưởng trong Kiến đạo, biểu dương sáng tỏ tu đạo; ba tưởng sau phô bày đạo vô học. Luận Trí Độ kia lại nói là tưởng vô thường thông qua lậu, vô lậu, chính là được tưởng vô thường là vô lậu; còn Sơ học vô thường là hữu lậu. Nếu vô lậu ở chín địa; hữu lậu ở
mười một địa, cho đến ba tưởng sau là hữu lậu, vô lậu, nên thuộc trong tất cả địa.
Tiếp theo, hiện bày chín tưởng: Đối tượng Xúc có hai:
1/ Yêu bản thân mình, quán bất tịnh đối trị.
2/ Yêu thân người khác, dùng chín tưởng để đối trị. Ở đây có bốn thứ:
a/ Oai nghi, dục ái, cử chỉ đi, đứng, nói năng v.v... của người kia.
b/ Dục ái hiển sắc, là những màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng v.v... kia.
c/ Dục ái xứ sở, là xứ sở của thân, mắt, tai v.v... của người kia.
d/ Dục ái của sự va chạm vi tế, những cảm xúc tế nhị, trơn láng, mềm mại v.v... của người kia, như đã nói trong kinh Niết-bàn v.v...
Ba tưởng xanh, bầm, máu mũ mục nát thành bùn, chữa trị bệnh tham thứ hai. Ba tưởng chấp nối tĩnh, động mạch, nuốt, ăn, lìa tan, trị tham thứ ba. Một tưởng móc xương trị tham thứ tư. Một tưởng quán không, trị tham thứ nhất.
Luận Trí Độ y cứ theo kinh nói về bốn thứ tham, để chia làm bảy nhiễm:
1/ Ưa tiến tới, dừng lại.
2/ Yêu lời ăn tiếng nói.
3/ Chấp mắc về hình sắc.
4/ Chấp mắc về hình dáng, sắc đẹp.
5/ Chấp mắc về cảm xúc tế nhị.
6/Chấp mắc chung năm thứ trước.
7/ Chấp mắc ở tướng người, nam, nữ yêu nhau. Hai ái sau, do chín tưởng đối trị chung.
Nhưng, vì chín tưởng này nhận lấy tánh tướng, nên “duyên” thân cõi Dục. Phần ít chứng nề sũng v.v... trong thân niệm xứ, đều thuộc về đối tượng trong hai định đầu của cõi Dục. Tưởng tượng về xương thuộc về đối tượng của ba căn bản định cõi Dục, trừ định thứ ba vì tưởng lạc nhiều.
Hỏi: “Đã có mười, thì chín thuộc về chín, còn mười là chín thuộc về mười rồi?”
Đáp: “Theo Luận Trí Độ có ba thuyết:
1/ “Tưởng Bất tịnh trong mười gồm thâu đủ chín tưởng”.
2/ “Ba thứ tưởng Bất tịnh, nhàm chán cái ăn và không thể vui gồm đủ chín”.
3/ “Tưởng, quán gồm thâu chung cả mười tưởng”.
Nay, Luận Du-già này dùng mười chín tưởng để giải thích, lại thêm tưởng tai họa lỗi lần thành hai mươi. 1/ Việc khai, hợp không đồng ý Luận chủ có khác: 2-Chứng tám định; 3- Chứng bốn đẳng; 4- Chứng ba quả; 5- Chứng năm Thông. Không nói quả thứ tư và lậu tận thông, là vì tồn tại hoặc vì thành tựu trong A-la-hán, nên mới không nói trước. 6- Chứng tám giải thoát; 7- Chứng ba thần biến:
1/ Thần biến thần lực, tức thần thông luân, với các thứ chuyển biến, khiến người quy phục.
2/ Thần biến ký thuyết, tức ký tâm luân, là tha tâm thông, ghi nhận tâm niệm thiện, ác của người, làm cho họ trở về với chánh tín.
3/ Thần biến giáo đạo, tức thuyết pháp luân, là Lậu tận thông. Nói pháp lậu hết, giáo hóa dẫn dắt chúng sinh, giúp cho họ chứng được lậu tận. Cũng gọi là ba nghiệp thị hiện:
a/ Thị hiện sự không tư duy bàn luận của thần lực, xoay tà về chánh.
b/ Thị hiện nhận thức được căn cơ mà nội tâm của người khác đã nghĩ đến việc tu thiện.
c/ Bảo cho người khác biết rằng chính mình lậu đã hết, diệt chướng, Niết-bàn không dời đổi bản tòa, thì liền ngộ nhập ngay.
Giải thích ngữ đầy đủ viên mãn, nói về ngữ không có sở y của tám ngữ, nghĩa là không vì mưu toan việc cầu danh, lợi v.v... mà phát ngữ nói pháp.
Từ đây trở xuống, là phần hai, do đủ tám chi, có thể làm năm việc, trong đó, trước là nêu năm danh hiệu; kế là giải thích về năm danh hiệu đó; sau là kết.
Trước là trong giải thích về việc can ngăn, nêu tội, người phạm giới, trái phạm hai trăm năm mươi giới v.v... Vi phạm quỷ tắc. Nghĩa là phạm các quỷ tắc khác chung lẫn nhau của đại chúng. Người có năm đức kia do ba căn, nên có khả năng can ngăn, nêu tội.
Nói năm đức. Tức trong đây nói:
1/ Đủ chân thật.
2/ Hợp thới, đúng lúc.
3/ Đem lại nhiều lợi ích.
4/ Mềm mỏng.
5/ Bạn lành, gọi là tâm từ.
Ba căn, tức là thấy, nghe, nghi. Lúcngăn cấm khởi ác, khiến không khởi, nên gọi là can ngăn. Bày tỏ việc xấu ác của mình đã làm, để cho ăn năn chừa bỏ, nên gọi là “cử”.
Thứ hai, trong giải thích về sự nhớ nghĩ. Trước hết, nêu ba nghĩa; kế là giải thích, sau, là kết.
Giải thích, có ba: Thứ ba, trong niệm khiến nhớ nghĩ về nghĩa đầu tiên, khiến người kia nhớ lại nghĩa văn đã quên. Sau, “Lại, nếu có thiện” trở xuống, là khiến cho người kia nhớ nghĩ về nghĩa lợi tu thiện. Người này đã từng tu điều thiện, vì trải qua thời gian khá lâu nên quên mất, hoặc khiến họ nhớ lại. Người này biết sống lâu, tất nhiên, phải dẫn phạm hạnh và nghĩa lợi khác, cho nên, khiến họ nhớ lại.
Thứ ba, trong giáo hóa truyền trao, trước là nói chung; kế là giải thích riêng, sau, khuyến khích.
Trong phần giải thích riêng có ba:
1/ Nói về ngôn luận khuyến tu năm phần pháp thân.
2/ Nói về ngôn luận giáo hóa, truyền trao tiểu dục hỷ túc.
3/ Ngôn luận khuyên chứng lìa dục hẳn, được vắng lặng.
4/ Quán tạp nhiễm của pháp ác tổn giảm, duyên tánh, duyên khởi mà có ngôn luận. Duyên tánh là nhân; duyên khởi là quả.
Thứ tư, trong dạy răn, trước là trị người có trái phạm, khiến điều phục họ. Hai là, đã điều phục họ xong, giúp họ được lợi dưỡng, gom lại nhiếp thọ. Về sau, giải thích danh nghĩa đối với điều thiện nên làm, để cho hiệnhành. Đối với việc ác không nên làm, khiến cho không hiện hành. Đối với nhiều chất chứa tập ác thì khuyên họ nên từ bỏ, và người không gom góp học tập điều thiện thì khuyến khích họ nên thực hành.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Giải thích về sự giáo hóa, truyền trao, dạy răn ở đây, thường khác với chỗ khác, nghĩa là bốn nghiệp truyền trao giáo hóa ở đây là nói chung, còn chỗ khác thì nói riêng. Bốn nghiệp giáo hóa, truyền trao đều không trái nhau”.
Thứ năm, trong khéo nói chánh pháp, trước nói pháp thế gian, nói về pháp tu thí, giới của thế gian, để cho họ lìa đường ác, được sinh người cõi trời, gọi là việc thực hành đầu tiên. Đối với năm dục, chỉ rõ tai hại lỗi lầm, giúp chúng sinh lìa nhiễm, chấp mắc nên nói thí luận. Đối với cõi ác kia, vì muốn cho chúng xuất ly, nên nói giới luận. Vì muốn cho chúng thoát ly cõi dưới, gá sinh tịnh thiên trên, nên nói Luận tu định sinh thiên,
Trong hai thuyết pháp xuất thế, đầu tiên, là nói về Luận Tứ Đế; hai là nói về ý nói, vì duyên cớ thành thục các hữu tình, nghĩa là thành bay phương tiện. Đối với người được thanh tịnh, giúp họ chứng quả Thánh.
Khiến cho chánh pháp được tồn tại lâu dài. Nghĩa là hoặc giáo hóa, hoặc chứng ngộ, truyền đăng bất diệt.
Do hai nghĩa này, nên nói rộng các pháp tương ưng, giúp sức v.v... Trong đây Luận sư Cảnh nói: “Giáo Pháp Tứ Đế tương ưng với lý. Giáo giúp đở hạnh, gọi là trợ bạn. Tượng giáo lại thuận theo diệt Đế thanh tịnh, gọi là thuận với sự trong sáng, vì hợp với căn cơ, đem lại lợi ích cho chúng sinh, nên có công dụng tương xứng”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tương ưng, nghĩa là tương ứng với lý, tức “duyên” Như Trí. Trợ bạn, nghĩa là tâm,tâm pháp đồng thời. Thuận theo, tức trí gia hạnh hữu lậu, vì thuận theo chánh trí. Trong sáng phân biệt với lời vẫn đục, rối loạn. Có dụng, nghĩa là được Niết-bàn. Tương xứng, nghĩa là lời nói không trái nhau, nên thuận với danh, cú v.v... mà có lời nói. Lại, ngôn luận này phát ra hợp thời, nghĩa là hợp thời cơ.
Sự ân cần, trân trọng, xoay vần nôi tiếp nhau đều có, nghĩa là khi muốn (định) nói pháp, phải để ý đến việc phục vụ lợi ích cho người, nên gọi là ân cần trân trọng. Trước nói phương tiện, sau nói căn bản, nên gọi là lần lượt. Vì giải thích pháp nghĩa , tất nhiên, cần nhất là lời lẽ câu văn phải liên đới nối nhau, nên nói rằng ngữ nối tiếp nhau, tất sẽ thể hội với nghĩa, nên gọi là “đều có”.
Như thế mới có thể đem lại cho thính giả kia niềm hân hoan, vui vẻ, thậm chí cùng làm cho họ vui mừng, mạnh mẽ hơn lên, không bị quở trách, xua đuổi. Dưới đây nói bốn thứ không có lỗi:
“Do người kia đã thành thục tám chi như thế v.v...” trở xuống, là kết luận, do tám chi, nên được tốt lành, có thể nói lời can ngăn người khác v.v...”
Pháp sư Khuy Cơ cũng nói: “Do thành thục tám chi như thế”, nghĩa là chính lại là ngôn luận này phát ra hợp thời trở xuống, hoặc theo cách giải thích đầu tiên ở trước là tám giỏi hay nêu can ngăn.
Trong nghĩa giản lược, đầu tiên, là trước kết, sau hỏi; kế là giải thích; sau kết.
Trong giải thích có bốn nghĩa:
1/ Ưa vì lợi ích an vui.
2/ Nói về lợi, lạc lìa điên đảo.
3/ Nói về phương tiện tốt lành, khéo léo lợi lạc, có thể khiến chúng sinh chứa nhóm, dẫn phát công đức.
4/ Nói về lợi ích yên vui là tánh ưa thích phát siêng năng tinh tấn.
Thứ mười, trong nghe chánh pháp, trước, giải thích về chánh pháp;
sau, giải thích về sự lắng nghe.
Trong phần trước, 1/ Nêu chung; 2/ Giải thích riêng; sau là tổng kết.
Chánh sĩ, nghĩa là bốn hướng; chánh chí nghĩa là bốn quả. Đức Phật và đệ tử, gọi là chung là Chánh Thiện Trương Phu.
Y cứ trong giải thích riêng, trước là: giải thích mười hai phần giáo; thứ hai, do ba tạng gồm thâu mười hai.
Đầu tiên giải thích Khế kinh, văn có ba:
1/ Nói đức Thế tôn tùy căn cơ, nói tản mát, trong đó, trước là nói về năm uẩn, mười hai xứ, mười hai duyên khởi; bốn cách ăn, Bốn Đế; mười tám giới ngữ.
2/ Ngài nói về ngữ của ba thừa, tiếp theo nói về ngữ của phẩm Đạo.
3/ Sau, nói về ngữ phương tiện nhập Thánh Bất tịnh, tức niệm v.v... Ở đây có hai giải thích:
1/ “Bất tịnh, sổ tức là nói năm pháp quán dừng tâm. Niệm, nghĩa là nói ngữ niệm chung riêng. Các người học chứng tịnh, là nói bốn ngữ tịnh Bất hoại”.
2/ “Bất tịnh, nghĩa là quán Bất tịnh. Tức niệm, nghĩa là Trì tức Niệm. Các học là ba học. Ngoài ra như trước đã nói.
Kế là nói về pháp Kiết tập, nghĩa là An bố kiết tập, tuyết minh rộng về duyên khởi. Như Tập Tạng Truyện v.v... Sau là giải thích về danh từ Khế kinh. Đại khái có hai nghĩa:
a/ Xuyên suốt v.v... tức nghĩa kết tràng hoa.
b/ Nghĩa dẫn lợi v.v... tức là nghĩa xuất sinh. Tạp Tâm nói có năm nghĩa, Luận Minh liễu nói có bảy nghĩa. (Giải thích rộng như hai Luận đó).
2/ Ứng bài Tụng. Nghĩa là Đức Phật nói kinh được phân nữa, hoặc sau cùng, vì người Đến sau, nói lại bằng Già-đà, Ta vì người độn căn, nghe nói văn xuôi cũng chưa rõ nghĩa. Hoặc đến lúc nữa chừng, hoặc sau cùng, nói lại Già-đà”.
Ngài Tam Tạng nói: “Về Văn xuôi, Đức Phật nói lược chưa rõ ràng, gọi là nghĩa chưa rõ, cho nên ở khoảng giữa hoặc sau cùng, Ngài nói lại bằng Già-đà để cho rõ ràng hơn, nên nói rằng: “Hoặc lại giảng nói nghĩa kinh chưa rõ, cũng chưa nói về cốt yếu, vì người đến sau, hoặc vì độn căn, mới nói lại”.
Pháp sư Thái nói: “Ưng bài Tụng có ba:
1/ Khoảng giữa của nghĩa đã nói, nên dùng kệ, để bài Tụng lại
nghĩa trên.
2/ Đối với nghĩa đã nói, sau cùng, bài Tụng lại nghĩa trước.
3/ Bài Tụng và văn xuôi trong các kinh, vì kinh chưa rõ nghĩa, phải phân biệt lại, nên gọi là ứng tụng.”
Pháp sư Khuy Cơ thuật lại lời ngài Tam Tạng: “Chẳng phải kinh chưa rõ, nghĩa là thính giả chưa nghe rõ, đây là nghe của chưa.”
Thứ ba, là ký biệt v.v... nghĩa là ghi nhận mạng đã qua và sẽ đến của đệ tử, gồm nói rõ về việc thọ ký Niết-bàn, đều gọi là ký biệt. Hoặc là văn xuôi tùy nói nghĩa của pháp nào, tức rõ ràng, cũng gọi là ký biệt.
Thứ tư, phúng bài Tụng v.v... nghĩa là chẳng phải văn xuôi nói thẳng, chỉ dùng lời lẽ mầu nhiệm, khéo léo, điều hòa kết hợp âm vận với câu, hoặc đặt hai câu cho đến phúng bài Tụng sáu câu v.v... để nói pháp, là không bài Tụng lại bài Tụng Già-đà, không đồng với bài Tụng Thất-lộ-Ca, bất luận có nghĩa hay không có nghĩa, chỉ đủ ba mươi hai chữ dùng làm một bài tụng, là phương pháp luận số của kinh.”
Thứ năm, tự nói: nghĩa là không có người thỉnh. Vì muốn cho chánh pháp tồn tại lâu dài, nên không thỉnh mà vẫn nói, như pháp gồm thâu bài Tụng v.v...
Thứ sáu, là nhân duyên. Nhân thỉnh mà nói, tức tất cả kinh, luật, phải có người thỉnh mới nói, đều gọi là kinh Nhân duyên.
Nói: “Và có các Tỳ-nại-da v.v...” Nghĩa là mười hai năm về trước, đại chúng chưa có ai phạm, chỉ dạy răn đại khái. Sau mười hai năm, do đại chúng có phạm, nên mới nói rộng về giới kinh, gọi là kinh Nhân Duyên.
Thứ bảy, là thí dụ: dẫn pháp cạn để so sánh với với pháp sâu để giúp cho chúng sinh được tỏ ngộ, gọi là kinh Thí dụ.
Thứ tám, là Bản sự v.v... Nghĩa là nói chung về nhân. Địa của Đức Thế tôn, sự kiện mà Ngài đã từng trải qua khi chưa phát tâm. Và những sự việc đời trước của chúng sinh khác, gọi là Bản sự.
Thứ chín, là Bản sinh. Đây là nói về nhân địa của đức Thế tôn, kể từ khi mới phát tâm, khởi sự tu hành đến nay, đã từng dấn thân trong chết sống, thực hành những công hạnh khó làm v.v... gọi là Bản sinh.
Thứ mười, là Phương Quảng: Nghĩa là kinh này chỉ nói về sự kiện chứng đắc Bồ-đề của tất cả Bồ-tát. Gọi là Phương Quảng.
Thứ mười một, là pháp Hy hữu. Nghĩa là nói về tất cả công của Đức Phật và bảy chúng, hoặc cộng, bất cộng, vì vượt hơn những pháp khác, nên gọi là pháp hy hữu. Nếu bảy chúng kia vì mong cầu Niết-bàn,
dứt ác, tu thiện, được sinh công đức, cảm gần người, trời, đồng với phần pháp khác, nên gọi là “cộng”. Do đây vì xa cách, Niết-bàn xuất thế, nên gọi là “bất cộng”. Do bất cộng, nên vượt hơn công đức của ngoại đạo khác. Dù chiêu cảm chung người, Trời, nhưng vì vượt hơn trong người, trời, nên gọi là vượt hơn các thế gian biết nghĩa vượt hơn. Tất cả ng trí đều đồng ý thừa nhận là phước vĩ đại thật là mầu nhiệm ít có. Chử “đẳng” ở đây là gồm thâu những chỗ khác đã nói: “Con Thanh ngưu (bò xanh) đi trong bát sành mà không va chạm nhau, chó trắng nghe pháp; khỉ dâng mật v.v...” gọi là pháp ít có.
Thức-Xoa-Ma-Na, Hán dịch nói là Chánh học, vì học sáu pháp.
Mười hai Luận nghị. Nghĩa là nghiên cứu về nghĩa kinh, giảng nói rộng về cương yếu của tông.
Ma-đát-lý-ca, Hán dịch Bản mẫu, lấy trong phần thuộc tạng thứ hai. Nay văn này nói là mười phần thuộc Tố-Đát-Lãm; nhân duyên thuộc tạng Tì-nại-Da; luận nghị thuộc về tạng A-tỳ-đạt-ma.
Ở đây nói rằng nhân duyên thuộc về tạng thứ hai, nghĩa là y cứ theo nhân duyên đã nói ở trên.
Nghĩa trước nên thuộc về ba Tạng chung. Nay y cứ theo nghĩa sau, chỉ thuộc về Tì-Nại-Da.
Quyển hai mươi mốt chép: “Chư Phật vì thương xót các Thanh văn, nên dựa vào bốn Thánh Đế, nói rộng về Khổ, Tập, Diệt, Đạo chân thật, vô lượng giáo pháp, đó là Khế kinh, Ưng bài Tụng; Ký Biệt, Phúng Bài Tụng; Tự Thuyết, Nhân Duyên; Phương Quảng, Hy Pháp; Luận Nghị.”
Quyển ba mươi tám chép: “Nói là phần Phương Quảng, chỉ cho tạng Bồ-tát; các phần còn lại, có tạng Thanh văn”.
Quyển tám mươi lăm chép: “Trong mười hai phần giáo, trừ phần Phương Quảng, các phần còn lại, được gọi là Khế kinh tương ưng với Thanh văn. Phần Phương Quảng, gọi là Khế kinh tương ưng với Đại thừa.”
Kinh Niết-bàn quyển ba chép: “Người giữ gìn Đại thừa, là người thọ trì chín bộ. Người ấy tự nói: “Chỉ không có Nhân duyên; Thí dụ, Luận nghị”.
Pháp Hoa quyển thứ nhất nói: “Thanh văn có chín bộ, chỉ không có Phương Quảng; Tự thuyết và Ký biệt, Đối pháp nói: Khế kinh, Ứng Tụng, Ký biệt Phúng tụng, và tự thuyết, năm pháp này thuộc tạng Tố- Đát-Lãm trong tạng Thanh văn . Duyên khởi; Thí dụ, Bản sự và Bản sinh, bốn pháp này, đều thuộc về quyến thuộc của tạng Tỳ-nại-da trong
hai tạng. Duyên khởi là chính, ba pháp còn lại là quyến thuộc.
Phương Quảng, pháp Hy hữu, hai pháp này thuộc về tạng Tố-Đát- lãm trong tạng Bồ-tát . Còn Luận nghị thuộc tạng A-tỳ-đạt-ma trong hai tạng Thanh văn, Bồ-tát”.
Hỏi: “Vì sao các giáo không đồng?”
Đáp: “Đối với thật Đại, Tiểu thừa đều đủ mười hai, dựa vào xứ như thế và hai mươi mốt, ba mươi tám Thanh văn, Bồ-tát đều đủ mười hai. Tám mươi lăm Bồ-tát chỉ có Phương Quảng; Thanh văn có mười một. Nghĩa là Phật, Bồ-tát đã có mười một phần khác, đều là phần đem lại lợi ích rộng rãi cho hữu tình. Và ý sâu, pháp rộng, đều là nghĩa văn rộng rãi. Vì đủ ba nghĩa này nên đều gọi là Phương Quảng. Chẳng phải trừ mười một phần còn lại, vì Thanh văn không có ba nghĩa trước, nên chỉ có mười một, không có Phương Quảng. Nếu y cứ về mặt lý thì chính văn của Phương Quảng đa số gọi là cộng, nên Thanh văn cũng có Phương Quảng, như quyển hai mươi mốt nói. Kinh Niết-bàn quyển ba chép: “Bồ-tát không có nhân duyên, Thí dụ, Luận nghị, vì Bồ-tát phần nhiều từ xưa đến nay không có phạm, nên không có nhân duyên chế giới. Lại, phần nhiều đức Như lai thường vì nói pháp, không cần nhân duyên khuyến thỉnh; phần nhiều những người nghe pháp đều tỏ ngộ, hiểu biết, nên không nhọc công thí dụ. Phần nhiều hay thể ngộ lý sâu sắc, nên không cần nhờ Đức Như lai bàn luận, phân biệt. Cho nên nói Đại thừa không có ba bộ này.
Pháp Hoa nói: “Sở dĩ Thanh văn không có ba bộ này, là vì họ không có khả năng đem lại lợi ích rộng cho hữu tình, và vì ý hẹp hòi, nên không có Phương Quảng. Hơn nữa, do căn cơ kém cỏi, phần nhiều đức Như lai đợi thỉnh mới nói, nên không có tự thuyết. Dù có ghi nhận riêng những việc thuộc đời đương lai của đệ tử, nhưng chẳng phải như Đại thừa nói rộng về sự kiện thọ ký”.Luận Đối Pháp nói: “Tạng Bồ- tát trừ năm phần đầu, chỉ có bảy phần còn lại. Thanh văn trừ Phương Quảng và pháp Hy hữu, có mười phần còn lại, vì Phương Quảng với lý sâu, đem lại lợi ích rộng lớn cho hữu tình.
Về sự khác nhau của pháp Hy hữu, khó tư duy vì tương ưng với oai đức rộng lớn hơn hết, nên chính là thuộc tạng Bồ-tát, chứ chẳng phải tạng Thanh văn. Dù trong tạng Bồ-tát, cũng có năm phần đầu như khế kinh v.v... nhưng đều thuộc về pháp hy hữu của Phương Quảng, nên không nói tên riêng.”
Hỏi: Luận sớ mà phàm phu đã soạn có thuộc về kinh luận nghị này không?”
Giải thích: “Luận này Quyển tám mươi mốt chép: “ở chỗ này, đức Thế tôn tự phân biệt rộng về thể tướng các pháp. Lại, ở nơi này, đệ tử các bậc Thánh đã thấy dấu ấn Đế, đối với điều mình đã chứng, không phân biệt thể, tướng của các pháp không có trái ngược. Đã nói rằng, người thấy dấu ấn của Đế đã soạn ra, tức biết luận sớ mà phàm phu đã soạn, đều chẳng phải thuộc về kinh Luận Nghị.”
Luận Đại Trí Độ chép: “Luận mà phàm phu soạn, cũng là kinh luận Nghị.”
Thứ mười một, trong tư duy chánh pháp, trước là hỏi, kế là giải thích; sau là kết.
Trong giải thích có hai:
1/ Nói về xa lìa chỗ không nên tư duy.
2/ Nói về phần đầu, phần giữa chỗ nên tư duy.
Chỗ không nên tư duy có sáu:
1- Vì thể của “ngã” là không, nên không nên tư duy.
2- Hữu tình giả lập, vì cũng không có chân thật, nên không nên tư duy.
3- Như khí thế giới trong thế gian, đã được bố trí an định như thế, như tánh của bốn đại “pháp nhĩ” (tự nhiên) như thế, cũng không nên tư duy.
4- Quả nghiệp của hữu tình chỉ có Đức Phật mới biết. Nghiệp lực trong mười lực của Đức Phật rất sâu, vì chẳng phải cảnh (đối tượng) của Thanh văn, nên không nên tư duy.
5- Cảnh giới thần thông được tĩnh lự phát ra, chứ chẳng phải cảnh tư lương, vì thế, không nên tư duy.
6- Vì cảnh giới của Chư Phật chẳng phải cảnh giới của Thanh Văn, cho nên không nên tư duy.
Trong giải thích chỗ nên tư duy, trước giải thích sơ lược, sau giải thích rộng:
Tự tướng, cộng tướng : là lược nói có ba:
1- Lại như mười một tên khác trong sắc uẩn là tự tướng. Đồng có ba nghĩa đổi thay, hư hoại tức là cộng tướng (tướng chung) (khái niệm).
2- Năm uẩn, đều khác nhau, gọi là tự tướng (tướng riêng, cụ thể). Vì đồng có nghĩa giản lược chung của chứa nhóm, nên gọi là cộng tướng.
3- Tướng tánh của năm uẩn như sắc v.v... đều khác, gọi là tự tướng. Lý vô thường; Khổ, Không; Vô ngã đều đồng, gọi là cộng tướng.
Trong giải thích rộng, được chia làm ba:
1- Biện biệt chung về tư duy có hai môn.
2- “Đây là thế nào? Trở xuống, là giải thích rộng hai môn.
3- Tổng kết.
Nếu tư duy của uẩn tương ưng với ngôn giáo: nghĩa là chính nói dùng hai môn để quán sát năm uẩn. Nếu lại tư duy những điều đã nói như trước, nghĩa là so với pháp khác đều dùng hai môn để phân biệt quán sát.
Trong giải thích rộng, trước, y cứ năm uẩn, để nói về hai môn. Sau, so sánh với pháp khác.
Trong phần trước đầu tiên:
Dựa vào môn toán số, quán tưởng năm uẩn, nêu lên khác nhau của năm uẩn để làm rõ số, tức môn toán kế.
Nói: “Hoặc là do đây” cho đến “xoay vần khác nhau ...” nghĩa là nếu sắc uẩn có nhãn trong mười một có nhiều thứ, cho đến sắc pháp xứ, cũng chẳng phải một thứ v.v...
2/ Lấy hình tướng xứng lượng để quán năm uẩn, trong đó có ba:
a/ Nêu lên bốn lý.
b/ Giải thích.
c/ Kết.
Trong giải thích gồm có ba:
1/ Nói về đạo lý quán đãi: gọi là phương tiện Đạo lý Du-già v.v... Như người quán đãi tu Du-già này, vì biết rõ phương tiện, nên lập làm đạo lý quán đãi, gọi là phương tiện Du-già.
2/ Đạo lý của tác dụng. Nghĩa là sáu căn trong các uẩn có tác dụng chấp cảnh. Sáu trần có tác dụng của cảnh hữu vi, cho đến pháp là cảnh của ý, hoặc là mười bảy giới khác là cảnh giới của ý, là đối tượng hoạt động của ý.
So sánh như thế, để giải thích tám thức đều từ nhân duyên sinh. Phân biệt rõ về tác dụng của tự cảnh cũng thế.
3/ Đạo lý chứng thành. Rằng, do ba lượng, nên như thật quán xét:
a/ Dựa vào Thánh quả để chứng uẩn vô thường, bởi vì thánh giáo nói là uẩn từ duyên sinh, đều là Vô thường.
b/ Dựa vào hiện lượng để chứng minh uẩn là vô thường, do dựa vào định, phát trí khổ, vô thường, để chứng minh uẩn là vô thường.
c/ Do tỷ lượng này, xét nghiệm uẩn vô thường, như đối với Số luận lập tiếng vô thường, vì tư duyên tạo tác, cũng như điện v.v...
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở trước nói rằng lời bậc Thánh nói; nay nói là Chí giáo, tức giáo chí cực, do lý chí cực, bất luận nội giáo, ngoại đạo, đều gọi là Chí giáo”.
Trước nói rằng lời Thánh nói thì không như thế.
Lời nói của bậc Thánh trong ba mươi hai thứ lời nói có mười sáu, cần gì phải là lời Phật, gọi là Thánh ngôn. Do trước đây chỉ nói Bậc thánh, Phật, Bồ-tát v.v... nay nói chí giáo, tức không có đối tượng phân biệt về tướng.
4/ Đạo lý pháp nhĩ. Rằng, do bản tánh các pháp kia lẽ ra như thế v.v... Bản tánh nên như thế, nghĩa là từ vô thỉ đến nay, tự tánh các pháp lẽ ra như thế, không đợi các duyên (không đối đãi với các duyên) Đạo lý pháp tướng của pháp tánh nên như thế.
Hoặc tức như thế; hoặc khác như thế, Nghĩa là như bốn Đại với tánh rắn chắc tức là đất, cho đến tánh lay động tức là gió, gọi là “tức” như thế. Chẳng hạn như nói đất có khả năng gìn giữ, cho đến gió hay bày ra v.v... Đây là nói tác dụng của nghiệp khác với thể của bốn Đại; gọi là “khác như thế”.
Như chỗ của sắc, hình là đất, lắng trong là nước, ngọn lửa bốc cháy cũng gọi là lửa, sự va chạm nhẹ là gió. “Duyên” theo sắc sở tạo vốn chẳng phải bốn đại, mà giả nói là bốn đại, gọi là “chẳng phải như thế”. Do nhân gió tăng, tạo nên sự va chạm nhẹ đó chẳng phải là phong đại v.v...
Thứ mười hai, trong không có chướng, trước nêu chung cả hai trong, ngoài đều không có chướng. Sau nói rộng, trong đó có hai:
1/ Nói về chướng.
2/ Nói trái lại là không có chướng.
Trong phần trước có ba: Đầu tiên, giải thích rộng, kế là sau là kết.
Trong phần giải thích rộng, trước nói về, về chướng bên trong; sau nói về chướng bên ngoài. Chướng bên trong có ba:
1/ Thiếu thốn tiền của, thêm đủ tham, sân, si.
2/ Do nghiệp trước và do nhân bất bình đẳng trong hiện tại. Phần nhiều là do các bệnh tật triền miên.
3/ Nhiều sự nghiệp, với đủ các thứ vui chơi, chấp mắc.
Chướng bên ngoài lại có hai:
1/ Theo đuổi bạn xấu ác, không có thầy lành dạy bảo.
2/ Ở chỗ ác, ngày đêm ồn ào phức tạp; hoặc tiếp xúc với kẻ xấu ác, hoặc gặp phải nhiều sự sợ hãi.
Trong nghĩa giản lược, sơ lược về hai chướng trong ngoài ở trước. Phân biệt làm ba: chướng Gia hạnh, chướng viễn ly; chướng Tịch tĩnh. Ba chướng này đều từ đối tượng chướng mà đặt tên.
Trong chướng Gia hạnh, rất nhiều chứng bệnh lên sởi, cách đêm đọng lại ở thân là nội chướng ở trước làm che lấp. Hoặc bị rắn, rít v.v... căn là chướng ngại ở trước làm che lấp. Lại, không thể được áo cơm v.v..., lại là nhằm vào nội chướng ở trước làm che lấp.
Trong chướng Xa lìa có tám:
1/ Ăn thô, nặng.
2/ Làm ra rất nhiều việc.
3/ Ưa nói năng, tức là nói ưa lời nói chấp mắc ở trên.
4/ Ưa ngủ nghỉ, tức là ưa chấp mắc ngủ nghỉ nói ở trên.
5/ Ưa làm ồn chúng, tức là ưa làm ồn chúng nói trên.
Nói dâm nữ hạng luận. Pháp sư Thái, Cơ đồng nói: “Việc dâm nữ là nói dâm nữ hành dâm ở trong hẻm nhỏ hẹp”.
6/ Lại phần nhiều ưa thích vui đùa với chúng hội, tức là phần nhiều với chúng hội nói trên.
7/ Ưa ở chung lẫn lộn với nhau.
8/ Ưa cười giỡn vui đùa.
Trên đây cũng đều là sự việc trong chướng nội.
Trong chướng vắng lặng. Trước hết phát ra đối tượng chứơng, thể của vắng lặng, tức là chỉ, quán. Tiếp theo phát ra chủ thể chướng, tức bốn pháp sau cùng trong chướng nội.
Che lấp chỉ, tức là buông lung và dừng lại ở phi xứ. Che lấp quán, cáigọi là ưa tự cậy, đề cao, kể cả điệu cử, tán loạn. Trong đó, trước hết, giải thích về tự cậy thế đề cao. Sau, giải thích điệu cử, tán loạn, tổng kết.
Thứ mười ba, trong tuệ xả. Trước, là nêu ý thí, sau, hỏi đáp, giải thích.
Nêu ý thí. Nghĩa là vì trang nghiêm tâm vô lậu. Vì dùng làm giúp đỡ cho tâm vô lậu; vì giúp đỡ tu Du-già; và vì nghĩa trên hết của Niết- bàn, nên tu bố thí.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì tâm trang nghiêm, nghĩa là được tâm vô lậu. Vì tâm giúp đỡ, nghĩa là thấm nhuần tác ý v.v... vô lậu.
Bốn nghĩa thí này chính là đồng với nghĩa thí vượt hơn thứ tám trong tám thí của Bà-sa. Chỉ có Luận Trí Độ nói tám thí có lỗi lầm khắp. Nghĩa là vì trừ bỏ chấp có sở đắc, nên nói chung là lỗi lầm.”
Trong hỏi đáp, giải thích thì hỏi có sáu:
1/ Hỏi người năng thí (chủ thể thí).
2/ Hỏi vế người thọ thí.
3/ Hỏi vế vật xả.
4/ Hỏi về thể tưởng của thí.
5/ Hỏi về nhân thí.
6/ Hỏi về duyên thí, cũng gọi là ý thí. Phần đáp tức có sáu:
Trong đáp câu hỏi thứ hai: Phân tích câu: “Giáo dẫn lợi ích, an vui.” Pháp sư Cơ nói: “Nói, chỉ bày, gọi là giáo, thân làm và khuyến khích, gọi là dẫn.
“Là sự nghiệp mà các Bồ-tát đã thể hiện” là đáp trong câu hỏi thứ ba, chẳng phải là ý đã thừa nhận thí v.v... trong nghĩa này.
Luận sư Cảnh nói “Đây là giải thích về vấn nạn nghi ngờ. Nạn rằng: “Bồ-tát thực hành thí cho vốn vì đem lại sự yên vui cho người trước mà làm tuệ thí, sau lại gây bức não cho vợ con, thậm chí con trai lớn, con gái lớn v.v... làm cho chúng phải khổ não khi sắp bị đem thí cho người khác?”
(Vì thông suốt qua vấn nạn này nên nói rằng: “Các Bồ-tát này không bao giờ bức não vợ con thực hành việc thí cho, chẳng phải là ý đã thừa nhận thí cho trong đây, vì không có gây bức não người này để tạo sự yên vui cho người kia.”
“Nếu vậy thì vì sao xưa nói đem cả vợ, con để thí cho?”
Để đáp lại câu hỏi này, nên ý đáp dưới đây là: “Bồ-tát có ba nhân duyên đem vợ con thí cho người:
1/ Có năng lực tự tại, có khả năng chế phục người kia, lúc chế phục đem cho người khác, tự biết không có tội.
2/ Dùng phương tiện khuyến dụ, dẫn dắt, giáo hóa, làm cho họ không có nghi ngờ, hờn dỗi.
3/ Biết người được vợ con ta, thì sẽ không bị tổn não.
Do đủ ba nghĩa này, mới đem vợ, con thí cho, thiếu một không thể được.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý trong đây nói là khi Bồ-tát dùng vật của số hữu tình trước để thí, tất nhiên, phải dùng tâm hoan hĩ thí rồi, mới dùng vật để thí, chư chẳng phải là người kia sinh nghi, hờn dỗi, rồi Bồ- tát vì muốn tự ý cho, liền đem vợ con để thí” (đọc tiếp theo đoạn văn dưới đây):
Nay, đại ý văn này nói, đầu mắt, tay, chân v.v... của thân mình, tùy nguyện thí cho, là việc rất khó có thể làm, là việc mà các Bồ-tát đã
thể hiện, chứ chẳng phải là phần của Thanh văn. Nếu có loại hữu tình kia, do đủ ba nghĩa, nên đem vợ, con v.v... thí cho, gọi là số hữu tình thí không có tội. Đây cũng là phần của Thanh văn.
Đá mã não nhiều mầu: tức một vật, vì đá mã não có nhiều mầu.
Sắc sinh có thể nhiễm: Vàng là sắc sinh, bạc là có thể nhiễm.
Có người nói là tiếng Phạm. Chỉ Ngài Huyền Ứng nói: “Sinh tức là sắc vàng không thể thay đổi, nên gọi là vàng ròng, vàng y, còn sắc trắng có thể nhuộm, thay đổi, nên tức là bạc, gọi là có thể nhuộm.
Vòng xoắn của ngọc đỏ. Nghĩa là văn sức của ngọc này, xoay vòng về bên phải.
Trong phần đáp câu hỏi thứ tư, nói về thể tướng của thí cho, tức Tư tương ưng với Vô tham và nghiệp thân, ngữ. Hoặc tự nối tiếp nhau, hoặc người khác nối tiếp nhau. Hoặc tự thí cho hoặc khuyên người khác thí cho.
Trong Sa-môn trang nghiêm, quyển mười bốn, trước là Tụng và văn xuôi, nêu mười bốn môn, tiếp theo, là dựa vào thứ lớp của môn để giải thích. Sau, là kết thành.
Mười bốn môn trang nghiêm là:
1- Chánh tín.
2-Không có nịnh hót.
3- Ít bệnh.
4- Tinh tấn.
5- tuệ.
6- Ít muốn, hỷ túc.
7- Dể nuôi, dể đầy.
8- Công đức đỗ-đa.
9- Đoan nghiêm.
10- Biết lượng.
11- Pháp của Thiện sĩ.
12- Có tướng thông minh.
13- Nhẫn nhục, nhu hoà.
14- Thành tựu pháp hiền, thánh.
Trong giải thích thành tựu tuệ mầu nhiệm, nói rằng, câu sinh giác tuệ, gia hạnh giác tuệ, tức phương tiện thiện của sinh đắc thiện.
Trong giải thích dể nuôi, dể đầy. Nếu theo thuyết của Bà-sa nói thì khó nuôi, khó đầy: Lựa chọn thức uống, ăn, gọi là khó nuôi; thường ăn uống, nhiều, gọi là khó đầy. Tự có ăn nhiều, thì gọi là dễ đầy, như có một người ăn rất nhiều trong một lúc mà không thường ăn, tự có ăn
ít mà là khó đầy. Như một người ít ăn mà thường thường ăn.
Trong giải thích đỗ-đa, gồm có bốn:
1/ Nêu số danh.
2/ Nói về tướng.
3/ Giải thích danh từ Đỗ-đa.
4/ Nói về trị riêng tham dục.
Trong nêu danh, số nói: “Y chỉ như thế, hoặc ăn, cho Đến hoặc mười ba thứ v.v... nghĩa là nếu theo giải thích của Luận sư Cảnh, thì nêu danh thuộc về mười hai, gồm thâu làm ba loại. Có năm trong xứ của thực bốn, y ba, gọi là chung là đồ trải.
Thứ năm trong xứ, thường kỳ hạn chỗ ngồi đoan chánh, như thường ngồi.
Nếu trong khất thực thứ lớp, sẽ được chia làm hai:
1/ Tùy theo được khất thực.
2/ Khất thực theo thứ lớp từng nhà, tức có mười ba. Nếu dựa theo khất thực không có tánh khác nhau, thì chỉ có mười hai. Do tùy theo được khất thực, vì nhập chung gồm thâu trong khất thực theo thứ lớp.
Lại, Pháp sư Cơ nói: “Mười hai thực Đỗ-đa, bốn y có ba, ngồi có năm, nêu danh và trong giải thích dưới đây được chia làm mười ba. Do triển khai riêng thường kỳ hạn chỗ ngồi ngay ngắn như thường ngồi là hai, ở đây chỉ là một, thường ngồi, không nằm. Như kinh Thập Nhị Đỗ- đa nói.
Trừ chướng dưới đây và trong giải thích rộng, dù lại triển chia, trừ chướng riêng mà vẫn là một.
Nay, giải thích nêu danh có mười ba, gồm thâu làm ba loại, có sáu trong Xứ (thực bốn, y ba). Do thường kỳ hạn khất thực, tức gọi là tùy theo được khất thực. Thứ năm trong xứ, gọi là thường kỳ hạn, ngồi thẳng.
Thứ sáu, gọi là xứ, vì như thường ngồi. Nhưng vì danh của Đỗ-đa này thường khai hợp không đồng. Nếu theo luật Tứ phần thì thức ăn bốn, y hai, xứ sáu, cộng chung có mười hai.
Thực bốn, nghĩa là khất thực, không thực bằng cách khác. 1- Tòa thực; 1- Sủy thực (ăn lường). Y hai, nghĩa là nạp Y, Y ba. Khất theo thứ lớp kia thuộc về khất thực. Quá giữa trưa không uống nước, trái cây ép thuộc về một tọa. Xứ sáu như thường giải thích.
Y ba, Thực ba; Xứ sáu, trong kinh Niết-bàn là mười hai.
Phẩn tảo, Điệp Y, ba Y, gọi là Y ba. Khất thực một tọa, một sủy, gọi là thực ba. Xứ, đồng với luật giải thích.
Luận Trí Độ chép: “Y hai, Thực năm, Xứ năm là mười hai.
Y hai là Nạp, sắc. Thực năm: là thuộc về một tòa. Xứ năm, nghĩa là trừ tùy theo ngồi. Hoặc có kinh nói là mười sáu Đỗ-đa, hoặc có chỗ nói mười một Đỗ-đa. Tuy nhiên nhiều chỗ nói là mười hai. Nay, Luận này chính thức nói là mười hai, gồm chia ra mười ba; trong đó khất theo thứ lớp, thuộc về khất thực. Không thực hành thực khác, thuộc về thực một tòa. Thức tiết, lượng, thuộc về trước chỉ, sau thực. Lược qua không có Y nạp.
Thứ hai, trong phân nói về tướng, văn giải thích khất thực có hai:
1/ Chia ra làm hai.
2/ Giải thích riêng có hai.
Sau, nói về ý khai, hợp.
Tùy theo được khất thực. Pháp sư Thái bói: “Tùy môn cũ, “Từ”đi, lại nhà, khất thực theo thứ lớp”. Đại sư Viễn Công nói: “Phàm phu ngu muội, vì tham vị nên bỏ người nghèo, Đến với người giàu, người Nhị thừa vì tâm bi hẹp hòi, nên bỏ người giàu có, theo kẻ nghèo hèn. Công hạnh của Đại sĩ lìa tham, bỏ hẹp, không phân biệt người giàu, kẻ nghèo, vì thế, nên gọi là khất theo thứ lớp. Nhưng theo văn này, Thanh văn cũng nên không lực chọn giàu, nghèo mà theo thứ lớp lớp khất thực.
Trong giải thích về ba Y. Ba Y thì dùng vải tốt cắt rọc, xếp chồng lên mà may thành.
Tăng già. Chi ở đây phải có nghĩa trên, nghĩa là khi vào cùng vua, thôn xóm y này được mặt trên hết, nên có nghĩa trên.
Cụ túc, nên nói là tăng già chi bà sam, bà-sam-y.
Ốt-đác-la-tăng-già, cũng có nghĩa mặt trên, nghĩa là ở trong chùa thì mặc bảy điều ở trên năm điều. Cụ túc, nên nói là Ốt-đác-la tăng- già-ba-sam. Bà-sam gọi là y.
An-đát-bà-sam, Hán dịch là nội y. An Đắc, gọi là nội; Bà Sam, gọi là y, nghĩa là chỉ ba y. Năm điều choàng thân thể nên gọi là y nội.
Về thuế y (y dệt bằng lông chim). Pháp sư cảnh nói: “Kết lông dê, gọi là thuế. Dùng lông để dệt thành ba y. Hoặc có người chỉ giử y này, hoặc có người chỉ giử ba y phấn tảo, đều gọi là Đỗ-đa” (đầu đà)
Ngài Viễn công nói: theo kinh Niết-bàn thì: “ Lông chim, thú nhuyển, gọi là thuế. Người tu hành, nếu không có phấn tảo, thì có thể được lấy đây làm y.”
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: “Bất luận lông chim, thú nhuyễn đều gọi là thuế, e rằng, ba y dùng vật không có giá trị để may chồng lên, nên lấy lông dê để làm.
Văn này nói hoặc là y dư, nên biết Đỗ-đa cũng có y dư, nên phải nói là tịnh.
luyện-nhã, gọi là chỗ trống, nhàn nhã, cách thôn khoảng một Câu-lô-xá rưởi. Chỗ, như chỗ thường ngồi. Xưa nói: “Tùy ngồi, tùy chỗ đất có cỏ, được chỗ thuận tiện mà ngồi, nên không đồng với luận này.
Thứ ba, trong giải thích về danh.
Xưa gọi là Đầu-đà là sai.nay, gọi là Đỗ-đa, Hán dịch là Tu trị, hoặc dịch là Đẩu tẩu; hoặc dịch là Tẩy hoán.
Trong giải thích về kham nhẫn, nhu hòa, rơi vào trong bát, là thuộc về bát. Pháp sư Thái nói: “Thức ăn đặt vào bát, gọi là rơi vào bát. Theo pháp thanh tịnh của Bà-la-môn, bôi một ít đất lên trên bát để ăn, chỉ ăn vào trên đất bôi thì được thuộc về bát.”
“Sáu thứ như thế rất đáng ưa, rất đáng yêu v.v... tức sáu hòa kính.
Ba nghiệp trước là ba, hòa đồng thọ dụng thành một, giới, kiến đều là một, nên thành sáu.
Trong văn kết thành trang nghiêm nói: “Phàm trăm, nghĩa là gồm nhiều”.
-----------------------------------
BẢN LUẬN QUYỂN 26
Thứ hai, là Xứ Du-già, văn chia làm hai:
1/ Văn xuôi và Bài Tụng, nêu chung mười chín câu hỏi.
2/ Dựa theo thứ lớp câu hỏi để giải thích.
Câu thứ năm trong bài tụng nói: “Sư Du-già tác tu”, trong đó có hai giải thích:
a/ “Sư Du-già sáng tác tụng ở trước, Văn xuôi đã sáng tác câu hỏi thứ mười. Câu hỏi thứ mười một của Bài Tụng Du-già có bao nhiêu thứ tu tức câu hỏi thứ mười hai của Bài Tụng về tu”.
b/ Theo kinh, luận khác, thì bài Tụng ở trước Văn xuôi, chưa hẳn là thứ lớp. Vì thế nên văn bài Tụng này kết Văn xuôi trước, không thuận với thứ lớp, vì tùy theo lời nói thuận tiện. Cho nên Tụng của Sư Du-già là câu hỏi thứ mười một; soạn tụng, câu hỏi thứ mười: Tu tụng là câu hỏi thứ mười hai. Dựa vào trong giải thích, có mười bảy đoạn. Trước giải thích về phẩm loại sai biệt cuả Bổ-đặc-già-la, trong đó, nêu ra danh số, giải thích hai mươi tám người.
Đầu tiên, giải thích về người độn căn: người này có cả Học, Vô học. Độn căn này lại có hai hạng:
1/ Năm thứ tánh trước của độn căn từ xưa đến nay.
2/ Chưa thể chuyển căn thành thứ sáu, lợi căn cũng có cả Học, Vô học. Lợi căn này cũng có hai hạng:
1- Bản tánh bất động.
2- Khách Tánh bất động.
Kế có năm người như tham tăng v.v... và bình đẳng. Sáu người này có cả người chưa nhập Thánh và đã nhập chủng tánh Thanh văn.
Hướng có hai hạng:
1- Thứ đệ hướng.
2- Siêu việt hướng.
Về quả cũng có hai:
1- Quả thứ đệ.
2- Siêu việt.
Lấy quả thứ hai, thứ ba, trừ quả đầu.
Y cứ ở hạnh có siêu việt. Lại, có siêu việt, là lấy La-hán, tức dứt chung tu hoặc của chín địa.
Thời giải thoát thứ chín trụ ở quả thứ tư. Trong giáo lý của Tiểu thừa không có việc đó.
Người tùy tín hạnh. Người này ở kiến đạo trở xuống, tu giai vị bảy
phương tiện. Tùy pháp hạnh cũng thế. Nếu nhập Kiến đạo, thì gọi là vô tướng hạnh, không đồng với phái Tát-bà-đa ở kiến đạo từ gốc đặt tên, gọi là Tùy tín, pháp hạnh. Lại đồng với bốn địa vị Hiện nhẫn của Luận Thánh Thật, gọi là tùy tín hạnh v.v...
Nhập thánh, gọi là Vô tướng hạnh. Luận Đối pháp chép: “Thông qua Kiến đạo, gọi là tín pháp hạnh, thuận với Tát-bà-đa.
Luận Trí Độ nói: “Kiến đạo, gọi là Vô tướng hạnh, đồng với Bát- ma nói, túc tùy tín hạnh trước, lúc trụ quả, gọi là Kiến trí. Hai người này từ căn lập danh hiệu, gọi là Tín căn và Tuệ căn”.
Thân chứng. Nghĩa là vô tâm thứ tám trong tám giải thoát, dựa vào thân mà chứng.
Giải thoát thứ ba thành tựu ở thân, gọi là thân chứng, do vượt hơn ba địa vị trước. Lại, rốt ráo của giới địa không được đem làm thể lệ chung cho năm giải thoát còn lại.
Người thân chứng được năm giải thoát, cũng có thể chứng sắc v.v... kia và “duyên” chân như sắc v.v... mà không bằng “câu giải thoát”.
Cực thất phản Hữu. Nghĩa là người được Sơ quả rồi, không dứt “tu hoặc”, trừ thân mới đắc đạo, lại thọ thân người, trời, đều qua, lại sinh tử bảy lần, gọi là “cực thất hữu”. Trời tự có bảy, người có sáu, Trời sáu, người năm v.v... Không đầy bảy hữu mà được Niết-bàn. Nay, vì y cứ ở những lần rất nhiều, gọi là Cực thất phản hữu.
Thân đầu tiên của bảy hữu, được gọi là dừng ở bờ mé khổ.
Nói dứt ba kiết được Dự Lưu. Nghĩa là chỉ dứt trừ ba kiết đoạn, mà không dứt trừ thân kiến của tu đoạn. Nêu cắt đứt ba phược (trói buộc), cũng dứt Tùy chuyển, mà thành pháp không có đọa, pháp không có đọa vào đường ác.
Những pháp này, như Luận Thành thật nói: “Gồm có mười bốn sinh, vì không thừa nhận Trung hữu”. Đại thừa và Tát-bà-đa nói có hai mươi tám sanh phải thọ trung hữu.
Gia gia: Nghĩa là như Tạp Tâm nói: “Nếu dứt trừ ba, bốn thứ, sẽ thành tựu đối trị kia. Hai sinh còn lại gọi là Gia gia. Nghĩa là nếu dứt trừ ba phẩm, sẽ có. Nếu dứt bốn phẩm thì có hai đời. Số chung của người, trời, chỉ có bảy đời; số riêng của người, trời có mười bốn đời.
Nay, lại y cứ ở bảy sinh của số hợp chung để lập pháp. Tu hoặc của cõi Dục có chín phẩm kia:
1/ Một phẩm tổn nhuần hai đời.
2/ Thấm nhuần chung hai đời.
3/ Phẩm chỉ tổn nhuần một đời.
4/ Cùng tổn nhuần một đời.
5/ 6/ Tổn nhuần chung một đời
7/ Một phẩm chỉ tổn nhuần nữa đời.
8/; 9/ Cùng tổn nhuần nửa đời.
Nay, dứt trừ phẩm đầu trong chín phẩm, tổn hai đời, còn có năm đời. Nếu dứt phẩm thứ hai, thứ ba, hoặc lại tổn hai đời, còn có ba đời. Nếu dứt phẩm thứ tư, lại tổn một đời, hai đời khác. Nếu dứt ba, bốn phẩm thì hai đời, ba đời còn lại là gọi là Gia Gia. Nếu dứt phẩm thứ năm, thì trong một đời tất nhiên đoạn phẩm thứ sáu. Lại, tổn một đời, một đời khác , gọi là quả Nhất lai.
Gọi là môt lần qua lại kia. Là y cứ vào mười bốn sinh để nói, nếu y cứ bảy đời mà luận, thì, hoặc gọi là một lần qua. Trong người, được quả thứ hai; một lần sanh lên cõi trời, tức nhập Niết-bàn. Nếu được sinh lên cõi trời lần thứ hai, thì chỉ một lần đến trong cõi người là nhập Niết-bàn. Nếu dứt phẩm thứ bảy, thì chỉ tổn nửa đời, trong mười bốn đời chỉ tổn một đời. Vì dứt hai phẩm tám, chín cùng tổn nửa đời trong bảy đời. Trong mười bốn đời chỉ tổn một đời. Vì hoặc của hai phẩm tám, chín chỉ gọi là một chủng tử, nên biết phẩm trên trong ba phẩm dưới chỉ nhuần tổn, phẩm trung, hạ đều bị tổn, tức giống với ba phẩm trên, ba phẩm Trung.
Hoặc phẩm thượng chỉ thấm nhuần, tổn riêng; phẩm Trung, hạ thấm nhuần tổn chung, do việc dứt “hoặc” của ba phẩm trên, vẫn còn có ba đời. Cho nên biết phẩm Trung có ba, phẩm Trung thượng thấm nhuần, tổn riêng một đời. Dứt năm tức dứt phẩm thứ sáu trong bảy đời, lại tổn một đời. Cho nên, biết trong ba phẩm Trung, hai phẩm hạ Trung, đều có một đời thấm nhuần, tổn chung của hai phẩm Hạ, trung. Như phẩm Trung thượng của ba phẩm Trung, nhuần thấm, tổn riêng một đời; phẩm Trung, Hạ tổn, thấm nhuần chung một đời. So sánh biết được sức phẩm Thượng trong ba phẩm trên mạnh hơn trong bảy đời, nhuần thắm, tổn riêng hai đời. Sức của phẩm trung hạ yếu hơn hai đời tổn, thắm nhuần chung. Trong đó, chỗ nguyện cầu sở dĩ phó thác ở sức mạnh, yếu mà thông suốt qua.
Bậc Thánh nhàm chán chỗ sinh, nên ở chỗ một nhà xuất hiện, đặc biệt không còn sinh. Nếu sinh trong loài người thì từ một nhà đến một nhà để thọ hai đời, ba đời, đều thay đổi cha, mẹ, không chịu sinh lại, không bỏ chỗ chủ trương đồng tánh. Hai nhà Đông Tây phô trương riêng, cũng được sinh lại. Thọ sinh trong cõi Trời, nhà trời rất nhiều, hoặc hay đổi loại Tứ Thiên vương để thọ sinh, hoặc đổi thay trong sáu
loại trời trên, dưới để thọ sinh. Phải biết rằng hai gia gia của người Trời này dù thọ sinh trong nhất lai hướng, nhưng vì kèm theo Sơ quả nên gọi là Dư Lưu.
Tạp Tâm cũng nói: bậc Tu-đà-hoàn vượt hơn gọi là Gia gia, vì lên dứt hoặc kinh sanh, hơn kia trụ quả kinh sanh gọi là Thắng. Pháp sư Thái nói: “Tường phu nhân, Thiên gia Tây phương có hai thuyết.
Luận sư Nan-Đà nói: “Hoặc đi, hoặc đến hai cõi người, trời”
Luận sư Giới Hiền nói: “Gia gia hai lần thọ sinh, chỉ hai lần thọ sinh qua lại trên cõi trời. Ba lần thọ sinh, y theo đây.
(Hỏi: “Đoạn” “hoặc” của phẩm một, hai là từ gia đến gia. Vậy, vì sao không gọi là Gia Gia?”
Đáp: Xưa nói Gia gia có bốn
1- Dứt một trụ tám.
2- Dứt hai trụ bảy.
3- Dứt ba trụ sáu.
4- Dứt bốn trụ năm.
Pháp sư Huyền Trang nói: Giải thích này không đúng, theo kinh Đại phẩm thì chỉ dứt một hai phẩm là người trung gian, khiến có bốn thứ, Tu-đà-hoàn y theo dị thuyết nào gọi là Gia gia. Pháp sư Hưng nói nếu người chứng quả Dự Lưu dứt được ba phẩm vượt hơn quả Dự lưu, thì gọi là Gia Gia. Nhưng nếu người kia đã không có vượt hơn, thì thuộc về Bất tịnh rồi, nên không gọi là Gia Gia.”
Nhất gián. Nghĩa là chỉ được một lần thọ sinh là đã gián cách, vì không được Niết-bàn, nên gọi là “Nhất gián”. Gian là xen hở, ngăn cách. Xưa gọi là một hạt giống, là không đúng. Vì lẽ, dựa theo bản Phạm nói: “Ế-ca-tỷ-thân Ca, có thể nói rằng một hạt giống, nhưng ở đây nói “Ế-ca-tỷ-chỉ-ca, Hán dịch là “nhất gián”, cho nên, không được nói là một hạt giống.”
Trong mỗi người này được quả Nhất lai, tiến đến dứt “hoặc” của phẩm thứ bảy. Dứt “hoặc” của hai phẩm thứ tám, thứ chín, chỉ “hoặc” của phẩm thứ chín đã thấm nhuần nghiệp trời, nên chỉ thọ một thân trời, liền nhập Niết-bàn. Lại, không trở lại đời sống sau trong loài người, nên gọi là Nhất gián.
Trong đây, là y cứ ở người được quả Nhất lai sanh lên cõi trời, nhập Niết-bàn. Nếu ở trên cõi trời được quả Nhất Lai thì sanh xuống loài người chỉ thọ một thân, liền nhập Niết-bàn, gọi là Nhất gián.
Nói “Dứt hẳn phẩm thượng, phẩm trung.” Gom chín thành ba phẩm thượng, trung, dứt hết nên nói là dứt phẩm Thượng Trung. Đối
với triền phẩm hạ sinh chưa dứt hết, gọi là còn thừa.
Ba người của Trung bát phẩm Hạ:
1/ Người lợi căn, mới bỏ tử uẩn cõi dục.
2/ Lại Đến trong mười sáu xứ cõi Sắc, tùy một Trung hũu hiện ở trước, liền dứt trừ “hoặc” thừa mà nhập Niết-bàn. Đây là Niết-bàn Hữu Dư .
3/ Người thứ ba chưa dứt trừ kiết còn thừa, mà không tự biết, chỉ thọ ý chi Trung hữu qua đến Sinh hữu. Theo Tạp Tâm nói: “Ba thứ Trung bát đều thu hướng sinh hữu.
1- Cõi Dục không xa. Thì nhập Niết bàn hữu dư
2- Hành phân nữa.
3- Lên đến cõi Sắc, mới nhập Niết bàn Hữu Dư. Vì chưa dứt kiết, mà không tự biết, nên đều thu hướng sinh hữu.
Sinh Bát. Nghĩa là ở mười sáu xứ cõi Sắc và Bốn Không Địa, tùy sinh bất cứ một xứ nào, nhanh chóng dứt trừ kiết thừa, liền nhập Niết bàn Hữu Dư. Vô hành tức đạo Thánh vô công dụng hiện ở trước vượt hơn, nhờ vào sức tác dụng hữu hành bát, mới thu hướng, nên ở trước hữu hành bát, không thể mới sinh, tức dứt phiền não, nhanh chóng nhập Niết-bàn, nên Sinh Bát về sau mới nói. Ở đây đồng với Câu-xá: “Vô hành là vượt hơn”, không đồng với Tạp Tâm nói: “Hữu hành bát là vượt hơn”. Hữu Hành Bát dù không có đạo tinh tấn nhanh chóng, nhưng đạo phương tiện siêng năng, gọi là “Hữu Hành”. Người vô hành bát, cả hai tu đều không có, gọi là không có hành, vì kém nên về sau sẽ nói.
Thượng lưu có hai:
1- Ưa tuệ. Tạp tu tĩnh lự, vì có huân tu nghiệp, nên đến Sắc cứu cánh là tột đỉnh.
2- Ưa Định. Không có tạp tu nghiệp, sinh về cõi Vô Sắc, đến Phi Tưởng là cùng cực. Nhưng hai người này đối với Sắc cứu cánh, hoặc đối với phi tưởng, có người hoàn toàn vượt qua phân nửa, vượt kịp Nhất thiết xứ rồi mất.
Người được thời giải thoát chung cho cả năm chủng tánh, người nây căn độn vì phải chờ đợi thời gian mới được giải thoát, nên gọi là thời giải thoát. Năm người, như văn, theo thứ lớp phối hợp.
Bất động, tức người căn trên hết thứ sáu, không bị duyên khác như phiền não v.v... làm dao động, nên được gọi là Bất động.
Người được tuệ giải thoát, như luận Bà-Sa nói: “Tự có tuệ giải thoát dựa vào định Vị chí , có khả năng dứt hết các lậu, nhưng không có khả năng nhập tám định căn bản. Hoặc có người dù nhập một, hai, ba,
bốn Tĩnh lự căn bản mà vẫn không thể nhập định của Bốn Vô sắc, cho đến hoặc có khả năng khởi nhập định căn bản mà không thể khởi Diệt Tận giải thoát. Trong đây cũng thế, cho nên nói rằng: “Đối với tám giải thoát, chưa có năng lực thân chứng đầy đủ, an trụ, gọi là tuệ giải thoát.
Câu Giải thoát. Nghĩa là chướng phiền não và giải thoát đều hết, gọi là “Câu giải thoát”.
Chướng Phiền não tức Kiến, tu phiền não của chín địa. Giải thoát chướng: Tức tánh không thành tựu tám giải thoát.
Luận Đối Pháp Quyển mười ba chép; “Sự khác nhau của Bổ-đặc- già-la có hai mươi bảy, đó là: Tín giải, Kiến chí, Nhân chứng, tuệ giải thoát, Câu giải thoát, Dự lưu hướng, quả Dự Lưu , Nhất lưu hướng; quả Nhất lai , Bất hoàn hướng, quả Bất hoàn , La-hán hướng, quả La-hán , Cực thất phản hữu, Gia gia, Nhất quán, Trung Bát Niết-bàn, Sinh Bát Niết-bàn, Vô hành bát Niết-bàn, Hữu hành bát Niết-bàn, Thượng lưu bát Niết-bàn, La-hán Thối pháp , La-hán Trụ bất động , La-hán Kham Đạt , và La-hán Bất Động .”
Luận Hiễn Dương quyển ba thì nói có hai mươi chín, tức thêm Tùy tín hạnh và Tùy pháp hạnh. Hai mươi chín người kia, tức trừ chín người trong hai mươi tám người. Số còn thừa thuộc về mười chín người sau.
Nếu theo Tát-bà-đa thì có hai mươi bảy thứ lấy, bỏ hơi khác, như luận Thuận Chánh Lý, quyển sáu mươi lăm chép: “Ruộng phước có hai: 1/ hữu học; 2/ Vô học. Hữu học có mười tám, nghĩa là bốn hướng; ba quả, tức là bảy. Và Tùy Tín, Tùy Pháp, Tín Giải, Kiến Chí, Gia Gia, Nhất Gián; Trung Hữu; Sinh Hữu; Hành, Vô Hành và Thượng Lưu gọi là mười tám.
Vô học có chín, nghĩa là Thối Pháp, Tư Pháp, Hộ Pháp, An Trụ, Kham Đạt, Bất Động, Bất Thối tuệ và Câu Giải Thoát, gọi là chín, Hữu Học, Vô Học hợp thành hai mươi bảy.
Theo Kinh Bộ cuối, Luận sư Thành Thật, thì các vị Hiền, Thánh này cũng có khác nhau. Phẩm Hiền, Thánh thứ hai Luận Thành Thật chép: “Hữu học mười tám, vô học chín”
Hữu học mười tám là:
1/ Tùy Tín Hạnh ở giai đoạn Văn, Tư.
2/ Tùy pháp hành ở bốn thiện căn.
3/ Vô tướng hạnh, tức hai người trước nhập Kiến Đạo.
Ba người này gọi là Dự Lưu Hướng.
4/ Quả Tu-đà-hoàn.
5/ Nhất lai hướng.
6/ Quả Nhất lai .
7/ Bất hoàn hướng.
8/ Quả Bất hoàn.
1/ Trung Bác.
2/ Sinh Bác.
3/ Hữu Hành Bát.
4/ Vô Hành Bát.
5/ Ưa Định.
6/ Ưa tuệ.
7/ Chuyển thế.
8/ Hiện Bát.
9/ Tín Giải.
10/ Kiến Chí.
11/ Thân Chứng và bảy người trên, hợp thành mười tám, gọi là Hữu Học.
Vô học có chín:
1- Tướng Thối Pháp.
2- Tướng Thủ.
3- Tướng chết.
4/ Tướng trụ,
5/ Tướng khả tiến,
6/ Tướng Bất Hoại,
7/ Tuệ giải thoát,
8/ Câu giải thoát,
9/ Tướng bất thối.
Luận Trí độ nói Hữu học có mười tám, Vô học có chín. Hữu học có mười tám là:
1- Tín hành,
2- Pháp hành,
3- Thất sanh,.
4- Gia Gia.
5- Trung Gian Hữu.
6- Hiện diệt.
7- Thứ Đệ Hướng Hạnh.
8- Nhất Lai Quả.
9- Một Hạt giống Hữu.
10- Thứ Đệ Hướng.
11- Hiện Bát.
12- Trung Bát.
13- Sinh Bát.
14- Hữu Hành Bát.
15- Vô Hành Bát.
16- Ưa định Thượng Lưu.
17- Ưa tuệ Thượng Lưu.
18- Thân Chứng.
Trên đây là Hữu Học.
Vô học có chín, đồng với Luận Thành Thật.
Trong đây dựa vào Tát-bà-đa, kinh Hiện Bát Đa chép: “Quả Bất Hoàn của Sinh Đắc cõi Dục một, không sinh cõi trên, vì hiện thân bác (nhập) nên gọi là người Hiện Bát. Hoặc tức nhập thân Thánh, không trải qua tử, sinh, được quả Bất Hoàn, hiện thân nhập diệt, gọi là người Hiện Bát, cũng gọi là chuyển thân, không đồng với xưa nói là chuyển thế, thuộc về Bất định. Ở trong cõi không có nghiệp định, chỉ có thuận với bất định nghiệp của ba cõi, chỗ duyên hợp, thì được nhập, nên gọi là Bất định. Vì đã bất định, nên cũng không lầp riêng.
Bất hoàn của Vô Sắc kia, nghĩa là trừ người Trung bát thuộc bốn người còn lại trong năm Bất hoàn. Người bất định kia, có cả năm Bất Hoàn.
Theo Luận Thành Thật, Bất Hoàn của Vô Sắc có cả Tín giải, Kiến chí.
Giải thích về Bất định có hai:
1/ Chuyển thế Bất định, tức người bảy đời, không đủ bảy đời, nhập Niết-bàn v.v...
2/ Thượng Lưu bất định. Vì đối với ưa tuệ, ưa Định, đều không nhất định (trong Đại thừa chưa thấy văn nào nói).
Pháp sư Tuyển nói: “Trai qua sinh cõi dục, được quả Bất Hoàn, gọi là bất định. Nếu nhập thân Thánh tức là nhập Niết-bàn, gọi là Hiện bát. Về lý, thật sự nên nói.”
Trong hai mươi bảy vị lược qua không nói. Tương truyền từ xưa đến nay, y cứ vào năm hạng Bất hoàn hiện hữu để phân biệt lợi, độn khác nhau.
Ngài Tam Tạng nói: “Năm hạng Bất Hoàn đều có sáu thứ chủng tánh khác nhau, khó nhất định lợi, độn (Nhạy bén, chậm lụt).
Từ đây trở xuống là phần thứ hai, trong kiến lập: Trước là nêu chung; kế là giải thích; sau kết.
Ngài Tam Tạng nói: “Dù có mười một đạo lý, nhưng không ngoài chín, bởi vì chúng sai biệt, vì hành tích cũng thuộc về sự khác nhau của đạo quả”.
Luận sư Cảnh nói: “Trong mười một người này, chẳng phải là nói hai mươi tám hạng người trên sự kiến lập kia, mà là nói chung về nghĩa kiến lập đa số người. Trong khác nhau của giải hành.”
Rằng, lại triền tham này trụ ở trong thân, chúng nối tiếp nhau qua thời gian lâu , cho đến bị pháp đáng yêu chế phục, không thể chế phục pháp đáng yêu kia. Trong đây ý nói vì bị tham trói buộc, bị cảnh chế phục tâm, chứ chẳng phải tâm có khả năng khuất phục cảnh. Như tham phẩm hạ, sân, mạn phẩm trung, văn y cứ theo đây nên giải thích.
Dưới đây, trong giải Thích-câu hỏi rộng, phần của bạc Trần hành giả không giải thích v.v... vì ở trên đã nói, lại vì sơ lược, nên không nói.
Trong giải thích về sự khác nhau của nguyện, đầu tiên, là hỏi, kế là giải thích; sau kết.
Trong giải thích có bốn:
1/ Nói về phát nguyện của Ba thừa khác nhau.
2/ Nói về người phát nguyện Ba thừa, mỗi nguyện đều chung cho căn tánh của ba thừa.
3/ Nói về tánh nhất định của Thanh Văn, dù phát Độc giác và nguyện của Đại thừa, những về sau, nhất định sẽ trở lại bỏ Độc giác và nguyện của Đại thừa, bám trụ vào nguyện của Thanh văn. Độc giác của tánh nhất định và căn Đại thừa, nên biết cũng như thế. Nhưng trong văn này chỉ nói về ba thừa của tánh nhất định, không nói về người có tánh bất định, một người thành hai, thành tánh của ba thừa. Gặp duyên liền tỏ ngộ Thánh đạo v.v... của thừa kia, nghĩa là sơ lược.
4/ Phân biệt về lấy nghĩa của địa, rằng, nay, trong nghĩa này, phải biết rằng, chỉ nói về chủng tánh v.v... của Thanh Văn, nguyện của thừa Thanh văn. Pháp sư Thái nói: “Ba thừa đều có tánh định, bất định nhưng vì biện biệt về địa Thanh văn trong nghĩa này, nên chỉ nói về chủng tánh của Thanh văn.”
Luận sư Cảnh nói: “Chỉ nói nguyện của người Thanh văn.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: chỉ lấy người có chủng tánh nguyện của Thanh văn, trong giải thích Gia hạnh, Pháp sư Cảnh nói “Do thấy gia hạnh ở trước có khác, nay ở kiến đạo, từ phương tiện kia lập hai người Tín, Pháp. Trong kiết nói chỗ nêu nghĩa là đã nêu mười một đạo lý. “Đã mở bày là giải thích.
Thứ ba, trong sở duyên (đối tượng duyên), trước chia ra bốn chương; kế giải thích, sau là kết.
Trong giải thích đầy khắp, trước là hỏi, kế là giải thích; sau là kết.
Trong giải thích, trước là giải thích về bốn câu đối tượng duyên đầy khắp. Kế là giải thích riêng về bốn trường hợp khác của kinh. Sau dẫn hai bài tụng trong kinh để chứng thành.
Trong phần trước, trước là nêu, kế là giải thích, sau kết thành đầy khắp.
Trong phần nêu bốn đối tượng duyên:
1/ Hữu phân biệt ảnh tượng, đây là Noãn v.v... cảnh của bản chất giống với tướng phần sở duyên của tuệ trong định, gọi là ảnh tượng. Phân biệt tánh của tuệ, gọi là phân biệt ảnh tượng.
2/ Vô phân biệt ảnh tượng, tức là nhuyễn v.v... định vô phân biệt của tướng phần tâm định, gọi là vô phân biệt ảnh tượng.
3/ Tánh biến tế của sự . Nghĩa là phần vị ở Kiến đạo đã duyên Chân như, gọi là tánh biến tế của sự .
4/ Việc phải làm đã làm xong. Nghĩa là địa vị ở Vô học, đối với ba cảnh trước đều được tự tại, gọi là việc làm đã xong.
Trong giải thích riêng dưới đây, được chia làm bốn đoạn:
I. Trong giải thích Hữu phân biệt ảnh tượng: Trước hết nêu Văn, Tư: lắng nghe chánh pháp của ba phương tiện trước, hoặc nghe bên Giáo Thọ sư v.v... làm đối tượng nương tựa; hoặc đối với chỗ thấy, nghe khác, trong đó phân biệt. Đối với sự sở tri, thì có “Đương tâm”, đồng phần ảnh tượng, dường như bản chất, gọi là đồng phần. Đây là ảnh tượng phân biệt, của đối tượng duyên (sở duyên) của tán tâm Văn, tư sinh đắc tuệ. Do đây làm duyên sinh ở địa Noãn v.v...
Nói “Do Địa Tam-Ma-Hý-Đa, Tỳ-bát-xá-na, hạnh quán sát phân biệt v.v... Nghĩa là lại dựa vào tuệ trong định Vị Chí, quán sát lực chọn ảnh tượng sở duyên trong tâm Văn, tư.
“Sự Sở tri” trở xuống, phát ra sự sở tri gốc của Văn, Tư ở trước, nghĩa là năm pháp quán dừng tâm; năm thiện xảo; sáu hạnh quán; Bốn Đế, gọi là sở tri.
“Sự Sở tri này v.v... “ trở xuống, là nói do nghe pháp với tâm tán làm duyên, khiến cho tác ý trong định kia hiện ở trước. Hoặc “duyên” giáo pháp mà khởi thắng giải; hoặc “duyên” giáo hạ đã giảng nói về sự sở tri mà khởi thắng giải.
Nói: “bấy giờ, người kia đối với sự sở tri, như hiện lãnh thọ thắng
giải mà chuyển” v.v... Nghĩa là do tiền phương tiện “duyên” sự sở tri, nay, ở trong định Noãn v.v... đối với sự sở tri, như hiện lãnh thọ.”
Hỏi: “Sở tri trong định như Noãn v.v... chỉ là ảnh tượng tùy tâm định khởi, vốn chẳng phải là bản sự sở tri của tâm tán, sao lại nói là đối với sự sở tri, như hiện lãnh thọ”
Vì giải thích vấn nạn này, nên kế ý đáp sẽ phải ở vào thời gian Noãn v.v... mà vốn là sự sở tri, dù chẳng phải là hoà hợp với sự lãnh thọ hiện tiền, cũng chẳng phải lìa vốn sở tri, vật loại khác lãnh thọ hiện ở trước. Nhưng do Thắng giải trong định, đã lãnh thọ vốn là sự sở tri của tâm tán, vì dường như ảnh tượng, nên nói là đối với sự sở tri, như hiện lãnh thọ. Do tướng phần của tâm định như Noãn v.v... này, giống như bản sự sở tri kia, gọi là ảnh tượng đồng phần của sự sở tri.
Người tu quán hạnh tìm kiếm ảnh tượng trong định, có lỗi của đức.
Hiện vốn sở tri cũng có thể xét định công đức, lỗi lầm.
II. Trong giải thích vô phân biệt ảnh tượng: Trước giải thích ảnh tượng, sau giải thích tên gọi.
Nhận chấp tướng của ảnh tượng như thế. Xong, là nhắc lại hạnh Noãn ở trước vốn đã phân biệt, không còn quán sát, lựa chọn v.v... nữa, nghĩa là dùng Xa-ma-tha vận hành tâm vắng lặng, lại không tìm cầu lực chọn công đức, lỗi lầm, chỉ lấy chín thứ hành tướng để cho tâm được an trụ. Bấy giờ người kia tùy tâm quyết định có tướng phần riêng, trở thành đối tượng duyên của ảnh tượng vô phân biệt.
Giải thích tên gọi, có tám, cũng gọi là Tam-ma-địa khẩu v.v... Luận sư Cảnh nói: “Do “duyên” dòng định nối tiếp nhau của tướng phần trong mỗi niệm, như thức ăn dựa vào miệng, nối tiếp nhau vào bụng. Dụ gọi là pháp, gọi là Tam-ma-địa khẩu. Như người nương vào cửa mà được ra vào. Như thế, tâm định dực vào “duyên”ảnh tượng để nhập định, xuất định, nên gọi là môn Tam-ma-địa.”
Pháp sư Thái nói: Cảnh năng sinh ra tâm, như miệng bình phát ra vật, nên gọi là tướng của sự sở tri của miệng định, lấy định làm thể, gọi là thể phân biệt, làm cho sự hiểu biết rõ ràng sáng tỏ, nên gọi là quang ảnh (bóng sáng).
III. Giải thích Biến Tế của sự: Tất cả việc sở tri, thuộc về bốn Thánh Đế. Nay, trong Đại thừa Hư không phu Trạch diệt vì lấy “như” làm thể, nên đều thuộc về diệt Đế.
Trong tánh như sở hữu, trước là nói về Chân như, tức là “Lý như”. “Do bốn đạo lý” trở xuống, là nói về “sự như” kia. Nhưng “Tánh tận sở hữu” này và tánh “như sở hữu” có sáu môn không đồng nhau:
1/ Chỗ này nói: “Tánh tận sở hữu” là ngoài ắc uẩn, không còn có sắc nào khác. Ngoài bốn uẩn: như Thọ v.v... không còn có thọ v.v... nào khác”. Rằng: “Như Tánh sở hữu”, nghĩa là tánh chân như và tánh của bốn đạo lý như Quán đãi v.v...
2/ Quyển tám mươi lăm chép: “Thế nào là do hai tướng quán sát tất cả tạp nhiễm, thanh tịnh?
a/ Do tánh như sở hữu.
b/ Do tánh tận sở hữu.
Tánh như sở hữu. Nghĩa là đối với các hạnh, hoặc ái vị; hoặc tai họa lỗi lầm; hoặc xuất ly.
Tánh tận sở hữu. Nghĩa là ở tong các hạnh, tận sở vị hữu ái ; tận tất cả tai họa lỗi lầm và tận tất cả xuất ly.
3/ Theo quyển sáu mươi bảy chép: “Tận sở hữu là y cứ vào mười một trong, ngoài, thô, tế v.v... của ba đời, để nói. Hoặc “Như tánh sở hữu” là nối theo ở Chân như”.
4/ Quyển chín mươi ba chép: “Như Tánh sở hữu”, nghĩa là các pháp duyên sinh vô minh v.v... Với thể tánh, nhân quả lần lượt thích hợp với nhau. Và vì có nhân chưa dứt này, nên mới có quả chưa dứt kia. Vì nhân chưa dứt này sinh, nên quả chưa dứt kia sinh. Như thế gọi là “Như Tánh sở hữu”.
Tánh tận sở hữu. Nghĩa là các “duyên” như vô minh v.v... sinh ra hành, tất cả thứ tướng, như vô tri v.v... của mé trước vô minh kia.
5/ Luận Hiển dương quyển năm chép: “Tánh tận sở tri, nghĩa là cùng tận bờ mé của tất cả thứ sai khác trong pháp tạp nhiễm, thanh tịnh, gọi là nghĩa tận sở tri, như năm số uẩn, sáu số nội xứ, như thế v.v...
Nghĩa như sở tri. Tức thật tánh Chân như trong pháp tạp nhiễm, thanh tịnh, gọi là nghĩa Như sở tri.
Lại, bảy thứ này, nghĩa là lưu chuyển Chân như cho đến chánh hạnh Chân như.
6/ Luận Đối Pháp quyển mười một chép: “Tánh tận sở hữu, là uẩn, giới, xứ. “Như Tánh sở hữu, nghĩa là Bốn Thánh Đế; mười sáu hạnh Chân như, tất cả hành vô thường; tất cả Hành Khổ; tất cả pháp vô ngã; Niết-bàn vắng lặng; không, vô nguyên; vô tướng”.
Hỏi: “Vì sao các giáo như thế không đồng?”
“Vì hai nghĩa “tùy” này không nhất định: hoặc chỉ tự tướng của phần nhiễm so sánh như quyển chín mươi ba nói; hoặc tướng hữu vi; vô vi, so sánh như quyển sáu mươi bảy nói. Vì các pháp không nhất định như thế, nên các Luận không đồng.
IV. Trong giải thích về đối tượng tạo tác thành xong:
“Ảnh tượng của các duyên tất cả tác ý đều được viên mãn, cho đến vì được “chuyển y”, nên vượt qua ảnh tượng v.v... Ý trong đây nói, hễ có vô phân biệt ảnh tượng, thì đều chưa chứng chân, vì đều có ảnh tượng.
Nhập Kiến đạo gọi là Tánh tận như sở hữu của việc Bờ mé.
Nay, đến việc làm của Vô học đã thành xong, được “chuyển y”, chứng vô lậu viên mãn, siêu việt qua ảnh tượng, thì tâm vô lậu không có ảnh tượng.
Phân biệt “có” “không”, hoặc định, hoặc tuệ, văn của luận Đối Pháp dù có mà văn của ảnh tượng thì không. Người phương Tây giải thích có ba:
Tùy ý lấy nghĩa này, tâm vô lậu kia có ảnh tượng, rằng, giải thích văn này siêu việt qua ảnh tượng, nghĩa là Pháp hữu lậu siêu vượt này chấp ảnh tượng, chư chẳng phải tâm vô lậu không có ảnh tượng.
Lại, không có nghĩa ảnh tượng, dùng văn này làm chứng. Rõ ràng như văn của Luận kia.
Văn này thì chứng minh rằng, nhân tâm vô lậu có quả của ảnh tượng, tâm vô lậu không có nghĩa ảnh tượng.
Trong đoạn kết nói rằng: “Sự hệ thuộc nhau của nhân, quả, nghĩa là ngay trong nhânhạnh này đã được quả là việc đã làm thành xong.”
Từ đây trở xuống, là phần thứ hai giải thích riêng bốn trường hợp của kinh khác, trong đó trước là nêu lúc gặp là hỏi. Sau, thuết minh về Phật đáp.
Hiệt-Lệ-Phạt-Đa, Hán dịch là “Ngộ thời”, vì được sinh vào đời có Phật. Về phần hỏi có ba câu:
1- “Vì sao mà “duyên” tâm trụ?”
2- Công dụng của pháp trụ tâm?
3- An trụ tâm khéo đầy đủ vào lúc nào?
Y cứ trong lời Phật đáp có ba:
1- Khen, răn, nghe.
2- Chính đáp.
Trong phần đáp ở trước chia ra bốn trường hợp, kế là giải thích; sau kết đáp lại ba câu hỏi. Chia ra bốn câu:
1/ Hoặc ưa tạo ra năm dừng tịnh hành phiền não. Hoặc ưa tu uẩn, xứ, giới, duyên khởi xứ, phi xứ thiện xảo. Hoặc ưa giải thoát các lậu của ba cõi. Vì có ý này, nên đối với “duyên” tương xứng an trụ tâm mình.
2/ Đối với duyên giống nhau, an trụ tâm mình.
3/ Đối với duyên không trái ngược, an trụ tâm mình.
4/ Đối duyên không xả tĩnh lự. Trong đây, hoặc ưa tịnh hạnh, cho đến khiến tâm giải thoát các lậu, nghĩa là đáp lại câu hỏi đầu tiên.
“Đối với duyên tương ứng an trụ tâm mình”. Trở xuống, là bốn câu đáp lại câu hỏi thứ hai. Dựa vào bốn câu này tu tập hoàn thành viên mãn, nên ở phần sau cùng, kết rằng: “Gọi là khéo an trụ,” lời đáp an trụ này là đáp lại câu hỏi thứ hai”.
Y theo giải Thích-câu đầu rằng, nếu ngu đối với nhân kia, trụ ở nơi khéo léo vì nhân môn nghĩa, nên luận đối pháp nói: “Thành tựu nhãn giới, vì không thành tựu nhãn v.v... Nên nói người ngu nhân, phải quán ở giới. Ngu duyên trụ xứ nghĩa là môn mười hai xứ y cứ ở cảnh giới của duyên tăng thượng, vì “duyên” môn sinh ra thức, cho nên người ngu duyên, nên quán về “xứ”. Nếu ngu vô thường, khổ, không, vô ngã, thì nên đói với duyên khởi xú, phi xứ, thiện xảo. An trụ tâm mình. Nghĩa là duyên khởi định với nghĩa xứ, phi xứ trao dồi nhau: Khéo biết vô minh sinh ra hành; Hành sinh ra thức, cho đến sinh ra sinh, già, chết, gọi là ở nơi duyên khởi, khéo biết nhu nghĩa chân thật, kể cả khéo hành hay vẫn sinh thức v.v... cho đến sinh ra chi sinh, già chết của Người, Trời, gọi là “xứ”. Nếu cảm chi sinh, già chết của đường ác, thì gọi là “phi xứ”.
Vì thế, đối với duyên khởi và thiện xảo xứ, phi xứ, thì biết hữu vi, hữu lậu, Khổ, Không, kể cả Vô thường, Vô ngã.
Nếu một người ưa thông suốt và ưa giải thoát. Luận sư Cảnh nói: “Nghĩa là nếu người ưa thông suốt về nhân quả của thế, xuất thế và ưa giải thoát thân hữu lậu ba cõi v.v... thì đối với bốn Đế như khổ v.v... an trụ tâm mình”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nếu người ưa thông suốt, nghĩa là dứt trừ dục của cõi Dục. Lại nghĩa là nhập Kiến đạo và ưa giải thoát v.v... trở xuống, gọi là Tu đạo, thấy giống như duyên trụ trong tâm, ý nói rằng, Bí-sô kia ở trong tâm định. Đối với sự sở tri trước của tâm phân tán kia, vì muốn phân biệt, lựa chọn lúc tư duy quán sát khắp, do tâm phân tán ở trước đã có sức tăng thượng thấy, nghe, hay, biết, nên khiến tác ý của tâm định phân biệt mà khởi thắng giải.”
Hỏi: “Lúc tâm định khởi có đối tượng phân biệt tướng phần của tự tâm, không biết cảnh sở tri xưa của tâm tán, sao ở đây lại nói là tâm định phân biệt từng là sự sở tri?”. Vì đáp lại câu hỏi này, nên nói rằng: “Thức từ tâm định dù đối với sự sở tri ở trước, vẫn không thể hoà hợp với sự quán sát hiện ở trước. Nhưng vì tướng phần được biến ra trong tâm định giống với gốc nên được nói là phân biệt sự sở tri gốc.
Ở trên, y cứ sự sở tri, để nói về sự giống nhau rời, dưới đây, lại đối với thời gian v.v... của thời gian, y cứ ở tâm năng quán nhằm nói về sự giống nhau; tức là công hạnh thường khởi chỉ, quán. Về sau, lại khởi lên giống như công hạnh trước, gọi là trụ giống nhau, tất cả thô nặng đều dứt mất, tùy theo được đối tượng nương tựa (sở y) xúc chứng thanh tịnh v.v... Đây là giải thích bốn thanh tịnh:
1/ Thân tịnh. Trong đây gọi là sở y (đối tượng nương tựa).
2/ Sở duyên (đối tượng duyên).
3/ Tâm.
4/ Trí Kiến thanh tịnh.
Thứ ba, dẫn hai bài Tụng của kinh để chứng thành nghĩa trước.
Trong dẫn bài Tụng thứ nhất, tụng lại câu thứ tư: “không bỏ tĩnh lự” trong bốn câu sau.
Câu thứ hai tụng lại: “tánh Bờ mé của việc thứ ba” trong bốn câu trước.
Câu thứ ba tụng lại câu thứ hai trong bốn câu trước.
Câu thứ tư tụng lại câu thứ tư: “việc làm thành xong” trong bốn câu trước.
Trong bài Tụng thứ hai, câu đầu kết ba câu đổi tên thuyết khác trong bốn câu trước.
Bốn câu sau của bài tụng trong câu thứ hai.
Trước là ưa đoạn, tức là ưa giải thoát các lậu. Ưa tu, tức là hoặc ưa tịnh hạnh, ưa thiện xảo.
Câu thứ ba (chung cho) thứ tư trong bốn câu sau: “không xả vô gián ân cần trân trọng tĩnh lự, vì tu gia hạnh, nên được tâm thanh tịnh, trí thanh tịnh v.v...
Giải thích về sự đầy khắp đã xong.
Từ đây trở xuống, là phần thứ hai, trong sự sở duyên của tịnh hạnh, trước hỏi, kế giải thích, sau là kết.
Trong phần giải thích, nêu năm môn, tức là môn năm độ quán. Sau giải thích theo thứ lớp.
Quyển này từ trên đến nay, chỉ giải thích hai môn trước, đầu tiên, trong giải thích bất tịnh có ba:
1/ Nêu rộng cử đối tượng duyên của sáu bất tịnh.
2/ Đem sáu đối tượng duyên bất tịnh để trừ năm thứ tham.
3/ Phân biệt lấy pháp đã nói.
Trong phần trước, trước là nêu, sau giải thích:
Phần nhơ bất tịnh có hai:
1/ Dựa vào trong, tức quán thân mình có ba mươi sáu vật bất tịnh.
2/ Dựa vào ngoài, thì quán thân người có mười sáu việc bất tịnh.
Khổ não bất tịnh, tức khổ thọ của cõi Dục.
Nói thuộc về thọ, nghĩa là đồng thời các thân nghiệp, ngữ nghiệp v.v...
Bất tịnh thấp kém là pháp mười tám giới của cõi Dục. Bất tịnh quán đãi là pháp của hai cõi trên. Bất tịnh phiền não là hoặc của ba cõi.
Nhanh chóng hư hoại bất tịnh, thì năm thủ uẩn vô thường.
Thứ hai, trong phần nói về trị tham, trước là nêu năm thứ tham:
1-Là tham, ái dục đối với thân mình.
2- Đối với thân người, vì sự dâm dục, mà khởi tham dâm.
3- Tham các tư cụ của ngoài cõi Dục.
4- Tham cõi Sắc.
5- Đối với ba cõi, có thân khởi tham.
Ở đây, Pháp sư Thái nói: “Đầu tiên đối với trong thân, khởi dục, vì dục nhẹ, nên gọi là dục dục. Tiếp theo khởi dục tham nặng, gọi là tham dục. Lại, đối với thân người, đầu tiên, là khởi dâm nhẹ, nên gọi là dâm dục. Kế là, khởi dâm nặng, nên gọi là tham dâm.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đối với trong thân, lần đầu khởi dục vi của cõi Dục, nên gọi là “Dục Dục”. Kế là vì khởi tham nặng cõi Dục, nên gọi là tham dục”. Cách giải thích này đồng với Pháp sư Thái.
Lại, giải thích: “Trong thân là pháp mà mình mong muốn, nên nói: “Đối với trong thân “. Dục ở trong thân , khởi dục nên dục là tâm của chủ thể dục, đây gọi là tham dục. Chử “Dục” đầu, thuộc về đối tượng dục (Sở dục); chữ Dục thứ hai thuộc về chủ thể dục (năng dục); chữ dục thứ ba là kết tên.
Thứ hai, là nói đối trị nhau. Trước, là nói chung về đối trị. Sau nói riêng về hai pháp:
1/ Trị tham ban đầu. Nghĩa là dựa vào bất tịnh bên trong để chửa trị bệnh tham của trong thân.
2/ Trị tham thứ hai, trong đó, trước là nói lược là do bất tịnh bên ngoài, nhằm chưa trị bệnh tham dâm ở ngoài thân. Kế là nói rộng về phương pháp đối trị chứng tham dâm. Sau là dẫn các thuyết để chứng thành.
Trong phần nói rộng, trước là nêu tham dâm có bốn:
1/ Tham hiển sắc. Nghĩa là yêu sắc mặt ửng hồng v.v...
2/ Tham hình sắc. Nghĩa là tham lưng eo, ngón tay thon dài, trán bằng phẳng, mày cao v.v...
3/ Tham sự xúc chạm êm ái.
4/ Tham thờ phụng.
Sau, nói về đối trị lẫn nhau. Nếu nói theo chánh lý, thì một quán một bộ xương đối trị cả bốn tham; vì không có cảnh bốn thứ tham trong một bộ xương. Nay luận này chỉ nói rằng chửa trị “Tham xúc chạm êm ái. Pháp sư Thái nói: “Nếu theo giải thích về duyên chết của Tiểu thừa, thì đầu tiên là quán màu xanh, sau biến thành màu đỏ, trắng. Nay, Đại thừa giải thích màu đỏ của da, v.v…, bỏ đi hình sắc của da, thịt, gọi là biến thành màu đỏ.
Đối trị tham tướng mạo. Pháp sư Cơ lại giải thích: “Đối với tham hiển sắc trắng trẻo, hồng hào, thì dùng sắc xanh, bầm tím v.v... để đối trị. Đối với hình sắc, khởi tham dài, ngắn, vuông, tròn v.v... thì dùng trừ khử da, thịt để đối trị. Nếu Tiểu thừa nói rằng, biến đổi tướng màu đỏ, nghĩa là thây chết lúc đầu xanh, sau đổi sang màu đỏ, biến thành thân có máu đỏ, để trừ tham hình sắc”. Đại thừa giải thích: “Ở trước, màu da thịt đỏ, bỏ đi hình sắc da thịt, gọi là đổi thành màu đỏ, ngay khi biến đổi thành đỏ. Dưới đây, dẫn thuyết để chứng thành, đều dựa vào bốn thứ đường như sợ hãi v.v... Thới, Pháp sư Thái Cơ v.v... đồng nói: “Dùng hai nghĩa để giải thích:
1/ Đặt thây chết vào chỗ im lặng, vắng vẻ không có người lui tới, nên gọi là sợ khiếp đảm. Vì thực hiện quán bất tịnh, là khả năng dẫn đến Niết-bàn, nên gọi là con đường.
2/ Trước hết, con đường run sợ đầy khiếp đảm là nhìn thấy thây chết nọ trải qua bảy ngày, bỉ chim chóc v.v... cắn ăn rút rỉa, để so với thân của cảnh dâm, cũng có tánh chất giống như thế.
Vì dùng kinh để chứng minh cho luận, nên gọi là “hiển thị”. Một trong ba câu dưới đồng với nghĩa này, về tướng văn rất dễ hiểu.
3/ Đối trị tham thứ ba. Nghĩa là do thứ bất tịnh khổ não thứ ba, cho đến bất tịnh thấp kém thứ ba, làm cho tâm tham phi tình bên ngoài được thanh tịnh.
4/ Đối trị tham thứ tư. Nghĩa là do quán hạnh bất tịnh thứ tư, làm cho tâm tham đối với cõi Sắc được thanh tịnh.
5/ Đối trị tham thứ năm, nghĩa là do phiền não bất tịnh thứ năm. Và với bất tịnh hư hoại nhanh chóng thứ sáu, khiến cho tham có thân của ba cõi được thanh tịnh.
“Tham này làm đối tượng duyên của tịnh hạnh”, là thứ ba kết.
Thứ ba, trong phân biệt lấy đối tượng đã nói, với đại ý là như thế. Nếu y cứ trong năm pháp quán dừng tâm, thì “dừng” đầu tiên hay tịnh hành tham, nói chung là tất cả tham dục. Vì chung cho công hạnh đối trị, nên nói sáu thứ đối tượng duyên bất tịnh mà thôi.
Nay, bản ý trong nghĩa này, chỉ lấy thứ bất tịnh mục rã, nhơ nhớp. Năm thứ bất tịnh còn lại, tự là đối tượng duyên hành tham của chủ thể tịnh khác kia, chư chẳng phải đối tượng mà luận này nói.
Từ bi thương Xót thứ hai, tức là chủ thể tịnh hành sân, qua đó, trước hỏi, kế là giải thích và sau là kết.
Trong giải thích có ba:
1/ Nói chung về duyên từ. Ý ưa thích của ba phẩm hữu tình là bình đẳng, yên vui, lợi ích, công năng dẫn sinh ba phẩm: Diệu lạc, Địa định và Thắng giải.
2/ Giải thích bốn câu trong kinh đã dẫn.
3/ Nói về cảnh duyên của Từ bi với Hỷ không đồng.
Trong phần trước, đầu tiên, là nói, dựa vào ý ưa lợi ích của cõi dục, tâm “duyên” ba phẩm lợi ích bình đẳng của con người, dẫn sinh ba phẩm vui sướng của địa định, kể cả thắng giải.
Trong phần thứ hai, là giải thích về câu chung ở trước có hai chủ thể duyên, đối tượng duyên riêng: Cõi Dục là phương tiện của Từ; cõi Sắc là căn bản. Người tu hành do khởi tâm từ bình đẳng cho vui, cứu khổ. Đối với bản thân mình, tự động có thể được dẫn sinh ba phẩm thượng, trung, hạ, vui sướng thắng giải.
Kế là trong dẫn chứng bốn câu kinh, gồm có:
1/ Nêu ý ưa thích lợi ích, đối tượng duyên của ba phẩm.
2/ Chỉ rõ về ý ưa lợi ích có ba thứ tướng: không có sự oán ghét là chung; không có kẻ thù địch và không gây tổn hại, là giải thích.
3/ Nói về đối tượng dẫn. Tĩnh lự thứ ba v.v... trở xuống, là ba thứ vui sướng. Tĩnh lự thứ tư trở lên, vì không có vui sướng cho nên không nói.
4/ Chỉ rõ về chủ thể dẫn sinh diệu lạc, thắng giải của Địa định. Lại nữa chủ thể dẫn sinh an vui, thắng giải của địa định này đều hiện hành với tác ý của ý ưa thích tăng thượng.
Dưới đây là phần nói về cảnh duyên (Đối tượng duyên) không đồng, so với luận Trí Độ kia.
Bốn tâm vô lượng đều gọi là Từ Bi Quán. Luận này muốn giữ lấy nghĩa ấy, nên phân biệt về cảnh duyên Từ, Bi, Hỷ không đồng, do Xả là chung , nên không nói về cảnh kia.