Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 153, Bộ Luận Sớ VIII, Số 1828 (Quyển 6-15)

Đại Tập 153, Bộ Luận Sớ VIII, Số 1828 (Quyển 6-15)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 904.

Chương 4: Du-Già Luận Ký - Quyển 7 (Phần Cuối) (Trang 133 - 182)

DU-GIÀ LUẬN KÝ
QUYỂN 7 (Phần Cuối)
 
BẢN LUẬN QUYỂN 29
 
Từ đây trở xuống là thứ hai, giải thích về chánh đoạn, văn chia làm hai phần:
1/ Kết thúc những điều đã nói ở trước.
2/ Từ Vô gián này trở xuống, là nói về bốn chánh đoạn.
“Trong phần đầu nói: “Loại trừ thô thô, điên đảo, thấu rõ pháp thiện, bất thiện”. Pháp sư Thái giải thích tiếng Phạm là “Đa-trọng, giống như  Sát na sát na. Hán dịch là thô thô, về nghĩa cũng như thế”.
Lại, giải thích “Vì bốn đảo (trái ngược) chẳng phải một, nên phải nói lại.”
Lại, giải thích: “Vì thô trái ngược rất sâu nặng, nên nói là thô thô.” Lại Niệm, Trụ ở trước đã hiểu rõ Kiết Cái “có”, hay “không”, nên rõ biết pháp thiện.
Trong văn thứ hai, phần đầu, là giải thích rộng, thứ hai là nói lược về nghĩa.
Trong phần trước là có hai:
1/- Giải thích riêng bốn thứ Chánh đoạn.
2/- Giải thích tên chung.
Trong phần trước, trước là nêu, sau là giải thích.
Từ “Vô gián v.v... cho đến thu nhiếp tâm, gìn giữ tâm”: Nghĩa là nếu theo quyển trước đã nêu đầy đủ về danh:
1- Đối với Pháp ác bất thiện đã sinh, vì khiến cho dứt nên sinh ra sự ham muốn, cố gắng phát tâm siêng năng, tinh tấn, khích lệ tâm, giữ gìn tâm Chánh đoạn.
2- Đối với pháp ác bất thiện, chưa sinh, vì để cho chúng không sinh nên muốn khích lệ v.v....
3- Đối với pháp thiện chưa sinh, vì muốn cho chúng sinh nên sinh tâm khích lệ, v.v...
4- Đối với pháp thiện đã sanh vì muốn cho chúng vẫn được thực hành, không quên mất, khiến cho tu viên mãn, tu tập gấp bội, khiến cho chúng sớm tăng trưởng, rộng lớn, nên phát sinh sự ham muốn cố gắng, khích lệ v.v....
Nay, trong văn này, trước nói về điều ác chưa sinh, pháp bất thiện dứt, nói về đã sinh. Y cứ trong giải thích dưới đây, đầu tiên, là giải thích về thiện ác và sinh, chua sinh. Sau giải thích về dứt ác, tu thiện, sinh ham muốn cố gắng, khích lệ v.v....
Trong phần trước, trước giải thích về pháp ác sinh, chưa sinh, sau giải thích về pháp thiện sinh và chưa sinh.
Và, chủ thể khởi phiền não đã có kia. Nghĩa là phân biệt khởi hoàn toàn và một phần “tu hoặc” phát ra hành động ác.
Trong pháp thiện sinh, chưa sinh, thế nào gọi là tất cả các pháp thiện? Nghĩa là nếu đối trị v.v... kia. Câu đầu này nói là chủ thể đối trị chung. Hai câu dưới là chủ thể đối trị riêng, nói là kia. Pháp sư Khuy Cơ có  hai giải thích:
1/ “Tức chủ thể trị riêng kia, nghĩa là Kiết Cái kia.”
2/ “Ở trước đã giải thích về pháp bất thiện, ở đây, là đối trị của pháp bất thiện ở trước.
Hai câu dưới, phát ra chủ thể trị riêng câu đầu là chung. Kế là giải thích về sự sinh ra ham muốn, cố gắng, khích lệ v.v.... văn chia làm hai:
1- Giải thích về sinh ham muốn, cố gắng khích lệ, phát siêng năng, tinh tấn.
2- Giải thích về khích lệ tâm, gìn giữ tâm.
Trong phần trước lại có hai:
a) Giải thích về sự dứt điều ác, sinh ham muốn.
b) Giải thích về sinh điều thiện, sinh ham muốn v.v....
Trong phần trước có hai:
1/- Giải thích về sinh ham muốn.
Thế nào là tất cả, tất cả? Nghĩa là tất cả nghiệp ác và tất cả phiền não, nên nói lặp lại.
Lại giải thích: “Tất cả sinh và tất cả hòa hợp.”
Kế là, giải thích về dốc sức cố gắng phát siêng năng, tinh tấn có bốn phen:
Phen thứ nhất nói về “Duyên” cảnh quá khứ, vị lai, không trông thấy pháp ác, bất thiện ở hiện tại.
Pháp ác kia chưa sinh, muốn cho chúng không sinh. Nếu chúng đã
sinh rối, muốn cho được dứt hẳn. Đây gọi là sự khích lệ.
Phen thứ hai, đối với “Duyên” hiện tại, cảnh hiện trông thấy pháp ác, bất thiện. Nếu chúng chưa sinh, thì không để sinh. Đã sinh rồi, thì phải dứt hẳn, phát siêng năng, tinh tấn.
Phen thứ ba, nói về hai chánh đoạn ở trước: Nếu hành hiện tại không khiến cho phiền não “Duyên” pháp quá khứ vị lai kia sinh khởi. Dù cho ghi nhận nhanh chóng diệt, gọi là pháp siêng năng tinh tấn.
Phen thứ tư, là nói về pháp ác, bất thiện “duyên” quá khứ, vị lai là do năng lực phân biệt, chứ chẳng phải sức cảnh giới. Nếu điều ác chưa sinh, thì không để sinh, đã sinh thì phải dứt, gọi là là dốc sức cố gắng, khích lệ.
Nếu “Duyên” hiện tại, do năng lực phân biệt và năng lực cảnh giới chưa sinh, làm cho bất sinh; sinh rồi thì dứt hẳn, phát siêng năng tinh tấn.”
Pháp sư Khuy Cơ giải thích “Chỉ do năng lực phân biệt sinh, chứ chẳng phải năng lực cảnh giới, vì vào lúc trụ, tư duy quá khứ v.v..., nghĩa là không hiện hành ở cảnh giới, không có cảnh giới để hiện hành. Vì chỉ “duyên” quá khứ, vị lai, nên gọi là trụ.
Cũng do năng lực phân biệt, năng lực của cảnh giới. Tức hiện hành ở cảnh-giới, gọi là hành. Nếu năng lực của cảnh pháp bất thiện lúc sinh, thì sẽ có phân biệt, nên không có câu riêng này. Phân biệt tức tâm mà sinh bất thiện v.v..., ấy là câu riêng ban đầu, tức “duyên” quá khứ, vị lai, câu sinh thứ hai. Cảnh hiện-tại khởi, là giải thích trái với câu thứ nhất ở trước sự cố gắng khích lệ, đồng với tinh tấn. Dưới đây, sẽ giải thích về sinh thiện, sinh dục v.v.... Trong đó lại có hai: đầu tiên, là giải thích về sinh ra dục. Sau, là giải thích về sự cố gắng khích lệ, tinh tấn, đều nêu văn kinh để giải thích.
Trong giải thích về sự cố gắng khích lệ tinh tấn có ba phen giải thích.
Từ đây trở xuống, là thứ hai, giải thích về khích lệ tâm, gìn giữ tâm. Y cứ chung dứt hai việc ác, sinh hai điều thiện, để giải thích. “Nếu hôn trầm, thì khích lệ; nếu điệu cử thì phải giữ lại; trên đã giải thích riêng rồi.
Về bốn thứ chánh đoạn, sẽ giải thích sau đây: chánh đoạn, danh từ chung, có hai tên:
1/ Chánh-thắng, vì vượt hơn phiền não.
2/ Chánh-đoạn, vì dứt trừ phiền não.
Luật Nghi Đoạn, đoạn, đoạn: Luận sư Cảnh nói: “Chế ngự điều
ác, gọi là Luật nghi. Đầu tiên, tu tinh tấn hữu lậu, chế phục pháp ác đã sinh kia, để cho chúng không lôi kéo về sau, gọi là Luật nghi đoạn. Về sau tu tinh tấn vô lậu, dứt điều ác đã sinh, đã huân tập hạt giống, cũng gọi là luật nghi đoạn. Pháp ác chưa sinh kia vốn có nghĩa sẽ sinh, vì dứt trừ “sẽ sinh” hiện hành, nên, vì dứt hạt giống đó, nên nói đoạn. Vì thế nên nói là “Đoạn, đoạn”.
Pháp sư Khuy Cơ nói “Luận nghi đoạn, Luật nghi gọi là ngăn  lỗi. Ngăn ngừa việc ác đã sinh, không để nó tăng, khiến không tăng trưởng.”
Giải thích riêng. Do mười nhân duyên, giới thiện thanh tịnh. Nghĩa là quyển hai mươi tám ở trước nói có mười pháp thuận với Học.
1- Lìa ấp của mẹ.
2- Lìa yêu đắm.
3- Lìa biếng nhác.
4- Lìa ngã kiến.
5- Lìa vị đoạn thực.
6- Lìa ngôn luận về ái.
7- Lìa mười một lỗi.
8- Lìa vị Định.
9- Lìa tán loạn.
10- Nhẫn nhục.
Ngăn ngừa che chở đoạn, tức tinh tấn này tu không buông lung, ngăn ngừa điều hành đã sinh, vì lìa sự lui sụt.
Từ đây trở xuống là thứ hai, nói về nghĩa giản lược. Nghĩa là vì chỉ bày rõ ràng trong sự việc bỏ, lấy hắc, bạch, cho đến bốn thứ chánh đoạn v.v...
Giản lược trên là chỉ thị rõ: Bỏ hai sự hắc, lấy hai sự bạch.
Sinh ra dục, gọi là ý ưa đầy đủ, do sự cố gắng khích lệ phát siêng năng tinh tấn, khích lệ tâm, giữ gìn tâm, gọi là gia hạnh mãn.
Sự tu Du-già chỉ có ngần ấy việc đúng, nên thực hành, cho đến hy vọng mong cầu ưa muốn, lược lại văn trên, vì dứt ba điều ác, vì tu ba việc thiện mà sinh mong muốn. Vì dứt các triền, nên tu chỉ, nêu tướng xả, đây là giản lược văn trên: nếu ở chỗ gìn giữ tâm, vì đoạn ba việc ác, tu ba điều thiện, lúc tâm trầm mất, liền lấy tướng tịnh, nhằm khích lệ tâm giao động quá, liền dừng tâm ở chỉ, để chế ngự giữ gìn tâm. Nếu không trạo cửa thì tâm xả nối tiếp nhau, có thể dứt các triền. Vì dứt các triền và tùy miên, nên lại phải tu tập pháp thiện để đối trị.
Giản lược ở trên vì dứt hai việc ác hiện khởi Triền và Triền tùy
miên nên lại phải dùng hai cặp thiện: chưa sinh và đã sinh.
Phen thứ ba, giải thích về bốn thần túc, trong đó có hai:
1- Giải thích rộng về tướng của bốn thần túc.
2- Hỏi đáp nhằm phân tích nghĩa của thần túc.
Trong phần trước, trước nêu, sự hệ thuộc, sau, giải thích rộng.
Pháp sư Khuy Cơ giải thích “Thể của bốn thần túc là Định, từ nhân được tên, nên nói là Dục v.v.... Lại, Định là Túc của thần thông. Lại, Đinh gọi là thần, bốn thứ này là tâm túc của Thần. Thần túc ở đây là tâm vương.
Pháp sư nói “Lại hoặc là Định”
“Nếu ở vào lúc này v.v... “ trở xuống, là thứ hai trong giải thích rộng, văn chia làm ba:
1/ Nói về bốn Định hữu lậu chế phục triền.
2/ “Người kia do như thế v.v... “ trở xuống, là nói về bốn Định vô lậu dứt hạt giống.
3/ “Dục” trong đây, nghĩa là ở đây, đó muốn tu hạnh tám đoạn dưới gồm thân bốn Du-già. Trong phần đầu nói: “Nếu vào lúc này, thu- ần túy sinh ưa muốn, cho đến khởi niệm một cảnh, đối với dục đã sinh tự tánh chướng Tam-ma-địa và chướng nhân duyên, muốn tu đối trụ sự nhàm chán, chuyên cầu ở định, khởi niệm một cảnh. Đối với các pháp thiện, cho đến niệm một cảnh, tư duy, quán sát về tự tánh các thiện của Tam-ma-địa và nhân duyên thiện, với hy vọng, mong cầu tu tập trụ niệm một cảnh, đây là phương tiện, tức do trở xuống, là nhân muốn tu tập được Tam-ma-địa, chỉ lìa hiện triền, chưa hại hạt giống.
Kế là, nói về vô lậu định đoạn. Do sức tu bốn Tam-ma-địa như thế, nên đã lìa xa các triền, cho đến đạo gia hạnh v.v....(Luận sư Cảnh nói: “Dù do bốn định hữu lậu được lìa các Triền, là dứt tùy-miên, lại còn siêng năng tu tập các định vô lậu, lại còn khởi riêng tâm thắng-giải, dục, tinh-tấn; quán bốn nhân tu định vô lậu.
Trong tu bốn nhân này, mỗi nhân có khả năng dứt hai điều ác, sinh hai việc thiện. Như đạo-lý gia hạnh của bốn chánh đoạn.
Nói: “Do hai nhân duyên nên phân biệt biết rõ về tùy-miên, nghĩa là do tư-duy cảnh-giới không thấy và do xả cảnh giới hiện đang thấy.
Trong tám hạnh đoạn, chỉ dựa vào hai hạnh đoạn sau mà biết đoạn tùy-miên, vì trong tất cả thời gian phát ra thân, ngữ, đều thường tu chỉ, quán, nên biết ý tứ không hiện thấy đã lìa Tùy-miên. Do trong cảnh phiền-não của ba đời, tâm không có nhiễm ô, và vì biết đã dứt tùy- miên, nên nói rằng: “Và do xả cảnh giới hiện đang trông thấy.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: Kia cho như thế cho đến sai khác mà chuyển, v.v... ở đây nêu là muốn nói lý do tám hạnh đoạn. “Tám Hạnh đoạn xưa gọi là tám lạc; tám tư lương;
Cử trong ý muốn nói, chia ra hai môn:
1/ Vì dứt Tùy-miên. 2/ Vì định Viên-mãn.
Y cứ theo cách giải-thích dưới đây, thì hai thứ có thể đoạn Tùy- miên, cho nên, văn sau nói rằng: “Do hai nhân-duyên phân biệt biết rõ, nên đoạn Tùy-miên. Nghĩa là do Tư-duy hiện thấy và do xả không hiện thấy, nên do hai duyên này có thể dứt Tùy-miên.
Theo trong giải thích đầu tiên về sức cố gắng, khích lệ của quyển này, nói: “Nếu “duyên” cảnh sự quá-khứ, vị lai, gọi là “duyên” không hiện thấy. Nếu “duyên” cảnh sự hiện tại thì gọi là “duyên” cảnh hiện đang thấy”. Nghĩa này tức tư-duy đoạn, hiện tại xả chung cho cảnh sự quá khứ, vị lai.
“Nếu vậy thì vì sao trong giải thích về xả lại nói: “ Rằng hành quá khứ, vị, hiện tại ở ba đời thuận theo các điều ác, tánh bình đẳng của tâm, nếu chia ra Tư là một đời thì xả là hai đời”.Thật ra, nghĩa là Tư, Xả, cho đến đã sinh hôn trầm, điệu cử, vì có thể xa lìa, nên tức dứt chung Tư, Xả của ba đời.”
Hai pháp đã gọi là dứt Tùy-miên, sáu pháp còn lại so sánh mà biết Tam-ma-địa Viên-mãn. Lại, văn dưới đây nói: “Nếu tám hạnh đoạn đã nói ở đây là vì dứt hẳn tất cả Tùy-miên, viên mãn thành xong Tam- ma-địa, tất cả gọi là chung là dục Tam-ma-địa. Xét văn chung này, tức giống với tám thứ đều có hai công-năng. Lại, gồm thâu bốn Du-già, chủ thể dứt tùy-miên.
Lại nữa, tư, chủ thể phát thân, khẩu, sinh ra nghiệp thân, ngữ thiện, dứt thân ngữ ác. Vì thân, ngữ là sắc, nên Tư từ sắc được gọi là Tư hiện thấy. Xả chỉ ở ý, vì chẳng đồng với Tư, nên gọi là xả không hiện thấy; chưa hẳn đồng với văn ban đầu của quyển này.
Tám thứ hạnh đoạn như thế, là hạnh vượt hơn, tức là Du-già vì hại Tùy-miên. Luận sư Cảnh nói: “Du-già, hoặc gọi là phương tiện, hoặc gọi là Tương-ứng v.v...”.
Dưới đây, dùng tám thứ sau, gồm thâu bốn thứ trước. Tám đoạn, tức Tứ Du-già quyển 28 ở trước, nói chủ thể dứt Tùy-miên, tức phương- tiện dục; tinh tấn; tín. Dù đối-pháp có bốn thứ tướng gồm thâu, nhưng hoàn toàn không đồng, không thể hội nhập với Du-già.
Theo thứ lớp của Luận Đối Pháp Kia và tám đoạn này, thật sự không đồng với Tứ Du-già quyển 28 ở trước. Theo thứ lớp tám đoạn
này, như văn trước, sau sinh nhau: Quyển trước nói: “Tín trong Tứ Du- già là Đối pháp đầu tiên cũng đồng. Cho nên tín của Văn luận kia là nhân của Dục.”
Cú nghĩa nói: “Khi dục, tinh tấn, không lìa tín. Tín kết hợp ngay từ ban đầu, bởi có tin Phật v.v..., mói khởi Dục v.v....”
Nay vì lý do không lìa tín, nên cố ý nói tín ở sau. Văn của Đối pháp này tự hội nhập bốn Du-già rồi nói là vì sinh thứ lớp, nên Tín là ban đầu.”
Hỏi: “Vì sao gì, lượt hỏi đáp thứ hai dưới đây nói về nghĩa thần túc? Có phải vì từ chỗ kia đến nơi này, nên gọi là thần túc chăng?”
Luận sư Cảnh đáp: “Ở đây nói Định hữu lậu gọi là thần; Dục v.v... gọi là túc. Như thế, dưới đây, phân biệt về định xuất thế gọi là thần, khởi riêng dục ở trên vượt hơn, tiến đến quán tâm và tám hạnh đoạn, gọi là Túc.
Pháp sư Thái nói: “Định hay khởi các pháp thù thắng công đức, vì không so lường được, nên gọi là thần, vì có thể đạt đến công đức không lường, nên gọi là Túc.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì từ nơi kia đến nơi này, nên gọi là Thần túc, tức có thể đi qua đi lại v.v..., gọi là Thần túc, là hiệu quả của Định. Vì Dục v.v... làm nhân hay được thần định này, nên gọi là Thần túc.
Thứ tư, giải thích về căn, lực, trong đó có bốn:
1- Giải thích tướng của năm căn.
2- Giải thích tướng của năm lực.
3- Y cứ chung căn, lực, nói về tương “tức” còn lại.
4- Y cứ chung căn, lực, biện biệt về bốn thiện căn.
Trong phần đầu, rằng do theo thứ lớp, bốn thần túc định trước tiến tu Du-già tâm học, Tuệ học. Do tinh tấn tu tập Du-già này nên sinh niềm tin thanh tịnh sâu sắc đối với đệ tử Phật. Đức tin này có công năng sinh ra pháp xuất thế gian và khả năng khởi pháp sau, cho đến tuệ căn là tăng thượng v.v... của tín kia.
Tín trong đây có hai tăng thượng:
1/ Có công năng sinh ra pháp xuất thế gian làm tăng thượng.
2/ Vì theo thứ lớp có thể sinh ra pháp sau, làm tăng thượng, nên gọi là căn. Bốn văn trước vì hội đủ cả hai nghĩa. Nên tinh tấn v.v... ở trước cũng là pháp tạo tác. Tuệ kia chỉ có một nghĩa, chỉ hay khởi pháp xuất thế gian mà làm tăng thượng, không có công năng xoay vần sinh nghĩa sau.
Trong giải thích về năm lực, nói: “Nếu lại biết rõ đối tượng chứng
trước, sau mà có khác nhau. Biết rõ đầu tiên do tín căn, lúc sau là pháp xuất thế. Kế là, hiểu rõ về tính tấn căn, sau đó, chứng pháp xuất thế, cho đến tuệ căn chỉ chứng pháp xuất thế, nên nói: “Biết rõ sự khác nhau của đối tượng chứng trước sau.”
Y cứ chung căn lực, phân tích về căn trong “ tức” của tướng khác tức năm câu.
Phải quán tín căn, tín lực, cho đến “ vì sao”? Nghĩa là tín lực hữu lậu ở trước kiến đạo, thì làm sao được tín trong bốn chứng tịnh trong kiến đạo? Nên nói: “ vì sao”.
Dưới đây, là giải thích vì do tín lực, nên sinh niềm tin trong chứng tịnh của kiến đạo kia. Vì thuộc về nhân, quả nên nói rằng: “ Tức là” chứ chẳng phải tức thể kia, chẳng phải tức tướng kia.
Phải quán tinh tấn căn lực trong đây, nghĩa là tinh tấn căn, lực trong bốn thiện căn này “tức là” sở hữu tinh tấn trong bốn chánh đoạn của ba phương tiện trước.
Nói: “đây là chánh đoạn gì cho đến chánh đoạn phương tiện: là giải thích chánh đoạn lại do bốn chánh đọan, và tinh tấn lực trong ba phương tiện trước, dẫn dắt sanh giác chi tinh tấn trong Kiến đạo, dứt kiến hoặc.
Nói là ý trong đây nói về duyên cớ đến pháp ác, bất thiện. Ý trong đây nói do tinh tấn Căn, Lực, dẩn dắt sinh giác chi Tinh tấn trong bốn chánh đoạn của Kiến đạo, rốt ráo dứt ác. Cho nên, Nhân, Quả, trước sau, “tức” nhau.
Phải quán Niệm căn, Niệm lực trong đạy, cho đến tất cả điên đảo. Nghĩa là Niệm căn, Niệm lực, “tức là” chánh niệm đã có trong chi giác Niệm v.v... trong bốn niệm của Kiến đạo.
Rằng bốn Niệm trụ, chủ thể đoạn tất cả điên đảo mê khổ đế v.v....
Trên đây, phát ra thể của bốnNiệm trụ là Niệm Tuệ kia, nên nay, Niệm căn, Niệm lực tức bốn Niệm Trụ.
Phải quán Định căn, Định lực trong đây, cho đến chứng quả Bất hoàn. Luận sư Cảnh nói: “Theo thứ lớp chung của Định căn, Định lực vượt hơn con người mà được. Nếu theo thứ lớp Định căn, Định lực của con người thì là định Vị Chí. Nếu vượt qua con người, vì nương tựa chung bốn tĩnh lự, nên nói đã có chánh định trongbốn Tĩnh lự. Nếu vượt hơn con người, nương tựa định Tĩnh lự căn bản, định lực căn bản, nhập kiến đạo, vượt lên chứng quả Bất Hoàn.
Lượt qua không nói dựa vào định Vị Chí, định căn, định lực là
phương tiện nhập Kiến đạo, chứng quả Dự lưu, Nhất lai v.v... kia.” Pháp sư Khuy Cơ nói “Hai quả đầu trong đây, chỉ được vị lai,
hướng về thứ lớp trước, đến quả Bất Hoàn, được bốn tĩnh lự, phát sinh thần túc, nên ở đây nói riêng, không nói quả thứ tư, chẳng phải vì thứ lớp. Lại, vì ảnh hiển, lại vì lược, qua không nói. Phát sinh thần túc, Như ý túc trong bốn Tĩnh lự, không nói định khác.
Phải quán tuệ căn, tuệ lực trong đây đến khi được quả Sa-môn. Nghĩa là do tuệ căn, tuệ lực trước đây của Kiến đạo, tức trí trong Kiến đạo; do tuệ căn, tuệ lực ở trước dẫn khởi Thánh trí được quả Sa-môn, cho nên, nhân quả trước, sau “tức” nhau.
Thứ tư, y cứ chung vào Căn, Lực để nói trong bốn thiện căn. Luận sư Cảnh nói “Nếu y cứ ở năm căn thêm mạnh, tức là Noãn Đảnh, vì lấy khởi đầu làm nền tảng, nên địa vị Noản, Đảnh kiến lập năm căn. Nhẫn và Đệ nhất sinh gần kiến đạo, khó điều phục gọi là lực.
Nay, trong văn này nói chung cả hai mặt mạnh và yếu: hoặc căn hoặc lực chung cho bốn thiện căn. Có nghĩa năng sinh tăng thượng, gọi là Căn; có nghĩa không chịu khuất phục, khó điều phục, gọi là lực. Căn lực như thế chính là thể của bốn thiện căn.
Nói: “Tức do căn lực như thế, phần nhiều vì tu tập nên phát khởi bốn thiện căn”, là vì y cứ ở công hạnh để thành lập gia vị, nên nói là phát khởi.”
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: “Căn lực trong đây, như luận Trung Biên chép: “Căn ở Noản, Đảnh; Lực ở hai địa vị sau.”
Nay, cho đến nói: “Do căn lực này nên phát sinh Quyết Trạch Phần”, nghĩa là Căn, Lực này là riêng; phần Quyết Trạch là chung. Lấy cái riêng để phát sinh cái chung, nên gọi là phát sinh, tức đều cùng lúc, chẳng phải phát sinh trước, sau khác thời gian, đó là lý do gọi là phát khởi.”
Có người nói “Được Kiến đạo trước đó đã có Vô lậu. Nghĩa là như biện luận theo thứ lớp dưới đây: “ Do căn, lực không có gián cách, nên phát sinh thánh pháp vô lậu xuất thế, cho nên biết trước đây là hữu lậu, không thể nói là vô lậu.”
Thứ năm là giải thích về chi giác. Đây là thế nào? Luận sư Cảnh nói: “Trong pháp đạo phẩm đã nói về năm lực, sau năm lực này, lại nói về pháp nào?, cho nên nói thế”
Nay giải thích về thánh pháp vô lậu mà ở chương trước đã nói riêng, phải biết cũng thế, nên nói: “Đây là thế nào?”
“Rằng bảy giác chi cho đến v.v... nên gọi là chi giác.” Văn này
tức nói là trạch pháp giác tuệ, vừa giác vừa chi giác, sáu pháp còn lại là chi giác, chứ chẳng phải giác, vì ba phẩm gồm thâu nhau, như văn. Quyển chín mươi tám ở sau, y cứ vào bảy thứ báu của Luân vương để thí dụ, hãy xét xem.
Thứ sáu, là giải thích về chí đạo, đầu tiên nói rằng: “đã thấy dấu ấn của Thánh đế rồi, vỉnh viển đoạn diệt v.v..., nghĩa là sắp nói về tám chi đạo, nên kết trước, sinh sau. Y theo phân biệt được chia làm năm:
1- Nói thuộc về ba uẩn.
2- Giải nghĩa chi đạo.
3- Nói về tưởng của chi đạo.
4- Nói về lập chung hai thứ.
5- Nói về giai đoạn của chi đạo.
Chánh niệm, chánh định, thuộc về định uẩn. Vì niệm thuận với định, nên ở đây là định uẩn.
Niệm trong môn giác chi có ở cả hai phẩm; còn niệm của chi đạo này chỉ thuộc về định, vì sao? Vì ở trước, y cứ vào môn Chỉ, Quán để phân biệt về sự gồm thâu, nên về nghĩa có khác với phần nói về tướng.
Nói rằng: Phải biết trong đây, nếu khi chi giác đến kết hợp thì gọi là chánh kiến”. Ngài Tam Tạng nói “Lúc bảy chi giác ở chân kiến đạo, đã được chân trạch giáo pháp. Nay ở tướng kiến đạo, lấy trí hậu đắc nhằm an lập quán, hạnh, như chân kiến đạo, chân chứng mà giác. Vì thế, nên hai giác này kết hợp lại gọi là chánh giác.
Nay, chánh kiến trong Tu đạo cũng có hai:
1/ Chánh kiến của Trí Vô phân biệt.
2/ Chánh kiến xuất hiện Hậu Trí, chánh kiến, như chân kiến kia an lập mà thấy, hợp lại, gọi là chánh kiến.
Chánh tư duy kia kia, nếu tương ưng với trí vô phân biệt, tức là trí vô phân biệt và tư duy đều lìa tà tư duy, gọi là chánh tư duy, tức dùng phân biệt Tư Tuệ, gọi là chánh tư duy. Nếu tâm thu nhập các đối tượng Tầm, Tư, cho đến tất cả Tư, thì phát ra Thể của chánh tư duy ở trước. Vã lại, vì y cứ vào thể của chánh tư duy trong Hậu trí tâm, nên nói rằng Tầm, Tư với tướng trạng như thế. Nếu tâm thu nhập đối tượng ngôn luận cùng cực, là gọi là chánh ngữ, nghĩa là do năng lực của hai thứ giác, chánh kiến ở trước, về sau, khởi tâm thiện, phát ra các thứ ngữ, đều gọi là chánh ngữ. Dưới đây sẽ nói về chánh nghiệp:
Luận sư Cảnh nói: “Đây là nói về Tán tâm. Trong không có sân, si, đã khởi các thứ thân nghiệp chánh tri, gọi là chánh nghiệp”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nếu đúng như pháp cầu mong những việc
y phục, thức uống, ăn v.v..., thậm chí khi theo đuổi mong cầu được cung cấp cho thân những đồ dùng lặt vặt, đây tức là đối tượng mong cầu lúc đeo đuổi cầu mong.
“Hoặc đi qua, hoặc đi lại” trở xuống, là cho đến hoặc lúc trụ,  đây là việc đã làm khi trụ, trái với quyển hai mươi hai nói, hãy nghiêm xét.
Nay tra cứu ở quyển hai mươi hai, đã nói về sự theo đuổi mong cầu phi pháp về phương tiện y phục, ăn uống v.v..., chứng tỏ rằng mình là người có đức v.v..., được gọi là tà mạng. Trái lại là chánh mạng.
Nay, văn này nói lúc như pháp cầu chánh tri mà trụ, gọi là chánh nghiệp. Trái lại là tà nghiệp. Dưới đây nói lúc như pháp cầu, lìa khỏi pháp tà mang, gọi là chánh mang. Nghĩa là tức hai nghiệp thân, ngữ  từ vô tham sinh, lìa hết pháp tà mạng, gọi là chánh mạng, trái lại là tà mạng.
Giải thích về chánh tri mà trụ, vì như quyển hai mươi bốn nói, nên không trái nhau.
“Nếu xa lìa gồm thâu chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, cho đến trước đây đã đạt được”, là nói về chánh ngữ, chánh Nghiệp, chánh Mạng thuộc về xa lìa tu đạo. Người kia ở kiến đạo lúc chứng được các chi giáo, đã được trước đó.”
Hỏi: Vì sao pháp này gọi là giới được bậc Thánh yêu thích? Đây là nói về chánh ngữ, chánh Nghiệp, chánh Mạng, được gọi là lý do tại sao giới được bậc Thánh yêu chuộng.
Nói “ Bất tác luật nghi. Đây là cộng giới của đạo vô lậu, gọi là Bất luật nghi, tức do sức của giới mà bậc Thánh đã yêu mến, nên sự nghiệp nuôi mạng, thân nghiệp, ngữ nghiệp hữu lậu đã có lúc tu đạo, đều được gọi là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
“Do năng lực tăng thượng của bốn Niệm trụ”, cho đến “cùng với chánh định”: Pháp sư Cơ nói: “Ý trong câu này nói: Do bốn niệm trụ  là nhân sinh tâm, Định đồng thời với chín thứ Niệm. Chín thứ niệm tức đồng với an trụ niệm v.v..., đồng với chín thứ định, dùng chín thứ định này làm giúp đỡ. Định cũng là chín thứ, vì chánh niệm là chủ thể gồm thâu, giúp đỡ là bị lệ thuộc (đối tượng gồm thâu).
Trong nói về lập hai thứ, nói rằng: “Vô sở tác”, nghĩa là chánh ngữ, Chánh nghiệp, chánh mạng, do y cứ ở ý tứ, chủ thể lìa tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, khiến cho không có tác động, gọi là vô sở tác, lại không có tự thể riêng.
Trụ sở tác nghĩa là năm thứ còn lại có ba, quán này hai là chỉ,
nghĩa là có thể, có công năng, gọi là trụ sở tác.
Trong phần nói về địa vị, nói dựa vào giới, để tu chỉ, quán, dứt kiết, được A-la-hán. Tu đạo dứt “hoặc” nối tiếp nhau trong thời gian dài, gọi là tu đạo. Trí Suất nhĩ sinh, tức dứt “hoặc” hẳn, được gọi là kiến đạo. Văn này tứcchứng nhất tâm kiến đạo, là nói rốt ráo, hoặc gọi là kiến đạo.
“ Do Nhân duyên này, đến phương mới kiến lập”. Nghĩa là do một tu đạo có phát ra quán, khởi chánh ngữ v.v... chứng tỏ đã có chánh ngữ v.v... trong quán, cho nên lập chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng. Kiến đạo không phát ra quán, khởi chánh ngữ v.v... nên không lập. Lại vì tu đạo nối nhau trong thời gian dài, nên phải nương tựa giới để tu ở “phương” chỉ quán, đều tu hoặc, chứng ba quả sau. Cho nên, “ phương” trong tu đạo mới lập giới. Do kiến đạo kia trí “ suất nhĩ” sinh, tức vì dứt kiến hoặc, nên không lập giới.
Dưới đây là tổng kết:
Thứ mười ba, giải thích về tu quả, trong đó có hai:
1- Nói về tu quả.
2- “ Lại ở trong đây v.v...” trở xuống, là nói về người tu quả, có phần bạt trần phiền não thêm riêng v.v....
Trong phần trước, đầu tiên hỏi; kế là, giải thích; sau là kết.
Trong giải thích có hai:
1- Nêu tên bốn quả và phát ra thể của quả.
2- Hỏi đáp, nói về nhân duyên lập quả.
Trong phần đầu, một người dự lưu do bỏ phàm phu, chứng đế hiện quán, ở dòng họ thánh, nên nói là Dự lưu.
Nhất lai như ở trong loài người, được quả thứ hai, vãng sinh lên cõi trời. Nhất lai được nhập Niết-bàn trong loài người, nên nói rằng Nhất lai.
Đã lìa phiền não cõi Dục, sinh lên cõi trời bất hoàn, nên nói là Bất Hoàn.
A-la-hán, Hán dịch gọi là Ứng Cúng. Trí đoạn đầy đủ, xứng đáng thọ nhận cúng dường, nên nói rằng Ứng Cúng. Hoặc gọi là Sát tặc; hoặc gọi là Bất sinh, như thường phân biệt. Thánh đạo, gọi là Sa-môn, dứt phiền não, gọi là quả, hướng về Thánh đạo, gọi là Sa-môn, Sa-môn, Hán dịch dịch là “Lao quyện”: Siêng năng tu hành, tiêu diệt điều ác, sinh việc thiện nên nói như thế. Tùy dứt phiền não, đã chế phục trạch diệt, gọi là quả. Đây là đối với chân như, tùy “hoặc” dứt được, giả nói là Trạch diệt, gọi là quả vô vi. Lại, đạo sinh sau, hoặc trung, hoặc thượng,
là đạo sinh trước, quả mới được sinh. Nghĩa là đạo giải thoát, hoặc trung hoặc thượng; là do sức của đạo Vô gián trước đã được quả hữu vi, cho nên luận Tiểu thừa nói rằng; “Sức của đạo Vô gián được quả Hữu vi, Vô vi.”
Kế là nói về nhân duyên lập quả. Vì đối trị bốn thứ phiền não, nên kiến lập bốn quả.
Dưới đây sẽ nêu ra bốn thứ phiền não bị đối trị đó là vô sự, cho đến kiến lập quả Dự lưu. Nghĩa là kiến hoặc của ba cõi, Tát-ca-da kiến là đứng đầu. Kiến này chấp ngã hoàn toàn điên đảo: đối với “không” mà chấp “có”, vì trong đối tượng chấp ngã là không, nên gọi là vô sự. Cho nên, kiến hoặc gọi là chung là vô sự. Vô sự phiền não, chủ thể lôi kéo đến đường ác.
Nay, đoạn hoặc này và thường hay tu, khởi đạo đối trị kia, nhằm lập quả dự lưu.
Theo quyển năm mươi tám chép: “Khổ phẩm hạ có mười; ba Đế, mỗi Đế đều có tám; Tu đoạn có sáu. Nếu theo Luận Đối Pháp thì cõi Dục có bốn phẩm hạ, mỗi phẩm có mười “hoặc”, tu đoạn có sáu. Tổng hợp bốn mươi sáu. Cõi Sắc Vô Sắc có năm môn dưới, mỗi môn đều loại trừ sân, đều có bốn mươi mốt. Ba cõi gồm có một trăm hai mươi tám phiền não, trong số đó, mười sáu phiền não là do tu đoạn. Số còn lại có một trăm mười hai là phiền não do kiến đoạn.
“Dự lưu đã dứt phiền não xong, vì sao đức Thế tôn chỉ nói là dứt hẳn ba kiết, lập quả Dự lưu ư? vì chung cho vấn nạn này, nên nói: “mà Đức Bạc-già-Phạm nói v.v... ”, theo cách hành văn rất dễ hiểu.
Quả Dự lưu này, cho đến nhiều đời nối tiếp nhau. Tức nói cùng cực đủ bảy đời, gọi là nhiều đời nối tiếp nhau. Nghĩa là nếu dứt trừ phiền não của lần tái sinh nối tiếp nhau, cho đến lập một quả Nhất lai, thì tu hoặc cõi Dục sẽ được chia làm chín phẩm. Vã lại y cứ ở mười bốn lần sinh để nói, nếu dứt ba pháp trước thì còn dư sáu đời. Nếu dứt thứ năm trong một đời thì phải dứt thứ sáu. Lại tổn hai đời, chứng quả thứ hai, hai đời còn lại, gọi là một lần qua lại được quả trong loài người; một lần vãng sinh lên cõi trời, một lần đến trong loài người được nhập Niết- bàn, gọi là quả Nhất lai. Nếu không dứt hai phẩm năm, và sáu kia, vẫn đối với hữu của trời, hữu của người, đều thọ tái sinh nối tiếp nhau.
Nay dứt hai phẩm phiền não năm, sáu, thì sẽ dứt hẳn cõi trời, cõi người tái sinh nối tiếp nhau mà có phiền não. Nếu đã dứt hẳn, thì có thể dứt “hoặc” lần sinh sau. Phiền não này đến lập quả Bất hoàn, nghĩa là ba phẩm “hoặc” sau, nếu không dứt hẳn thì sẽ sinh lại cõi Dục. Nay đã
dứt hẳn, không còn sinh lại nữa, chỉ có thọ sinh ở cõi Sắc, Vô Sắc.
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: “Chỉ ở cõi trời sẽ có thể thọ sinh, nghĩa là trong khi một người kia ở trên cõi Trời đã thọ một hữu trong cõi người, thì sẽ không còn sinh lên cõi trời nữa, gọi là Bất hoàn. Trong đây y cứ ở tác pháp trong người; đây là từ quả đặt tên, nhân trởi điểm chưa gọi là Bất hoàn, hoặc đã dứt hẳn “hoặc” cõi Sắc, Vô Sắc, sinh ra phiền não, lập A-la-hán. Dưới đây sẽ dẫn thuyết, để chứng thành, chỉ chứng ba quả sau: về quả đầu, đã dẫn chứng xong, như thuyết trước nói, nghĩa là người Dự lưu đã dứt ba kiết, nay, lại tiến đến dứt tu hoặc. Sáu phẩm trước như tham, sân, si v.v..., trụ ở quả sau, gạn chứng quả Nhất lai, cho nên nói rằng: “dứt hẳn ba kiết mỏng tham, sân, si. Lại, người Dự lưu trước đó đã dứt ba kiết trong năm phần dưới. Người quả Nhất lai lại dứt sáu phẩm trước tham, sân. Bấy giờ lại dứt ba phẩm sau của hai kiết trong tham, sân. Vì nhân quả trước, nên nói rằng: “Dứt năm kiết phần dưới, lập quả Bất Hoàn. Người Bất Hoàn này đã lìa kiến hoặc ba cõi và lìa tu hoặc cõi Dục. Vào lúc này lại còn lìa Tu hoặc của tám địa cõi Sắc, vô Sắc. Do nhân quả trước, nên nói rằng dứt hẳn tất cả phiền não, lập quả thứ tư.
Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về người tu quả có đẳng phần riêng phiền não thêm riêng. Trong đó chia làm hai:
1- Nói hạnh riêng của bảy người.
2- Hỏi đáp, nói lại hành tướng khác nhau của đẳng phần, bạc trần.
Ở trước, chia bảy người làm ba hạng:
1- Phiền não tăng riêng.
2- Đẳng phần.
3- Bạc trần.
“Lại, ở trong đây cho đến người siêng năng tu gia hạnh v.v...”. Đây là người tu hành thêm riêng tham v.v..., trước, phải nương tựa đối tượng duyên tịnh hạnh kia, nhằm tịnh tu tâm mình, rồi mới an trụ. Nếu người tu hành kia mang nhiều tham vọng, thì phải tự duyên bất tịnh, Sân nhiều thì tự tu thương xót; si mê nhiều, thì tự quán duyên khởi. Ngã mạn thì tư quán sáu giới; Tầm, tư nhiều, thì tự quán hơi thở, cho nên nói: “mổi người đều có đối tượng duyên riêng, siêng tu gia hạnh. (Rộng như luận trên nói).
Nếu người tu hành đẳng phần thì tùy đối tượng cú, lạc, duyên bám cảnh đó, siêng năng tu gia hạnh. Ân cần tu như thế, chỉ để cho tâm dứt, chứ chẳng phải tịnh hóa hạnh của mình. Người tu hành dẳng phần đã khởi phiền não, đều không thêm riêng nên không quán riêng   cảnh
bất tịnh v.v.... Chỉ tùy theo điều họ ưa thích, chẳng hạn, hoặc quán vô thường khổ, không v.v... với mục đích chỉ sao cho tâm họ được dứt mà thôi, chứ chẳng phải như thêm riêng, tịnh hóa riêng hạnh của họ. Cho nên nói rằng: “chẳng phải tịnh hóa hạnh mình”. Như người ta tu hành đẳng phần, hành giả Bạc phần cũng thế. Tuy nhiên, giữa các hạnh của họ có nhiều điểm khác nhau:
Hành giả tham v.v..., lúc tu, thì phải trải qua thời gian lâu, mới chứng tâm, trụ, Đẳng phần thì không lâu; còn Bạc trần thì rất mau chóng.”
Pháp sư Thái nói: “Trước tu ngũ năm pháp quán dừng tâm để đối trị “hoặc” gia tăng, trước, phải tu tự quán tịnh, nhằm trị “hoặc” của mình, mới mong chứng được tâm định. Nếu là hành giả đẳng phần thì không có “hoặc” riêng để trị, chỉ tùy thuộc vào “hoặc” đã ưa thích, thực hành quán bất tịnh, cho đến quán sáu giới, duyên theo cảnh đó, chỉ để cho tâm dứt. Vì không có “hoặc” tăng thượng để trị, nên chẳng phải tịnh hạnh.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Người tham, sân, si đều có đối trị. Trước đối với năm pháp quán dừng tâm gọi là Định do thế lực khác nhau của đối tượng duyên. Tùy theo hành giả tham, thực hành quán bất tịnh, siêng năng thực hành tu tập tâm, mới an trụ. Với người tu hành đẳng phần thì tất cả có đủ, tùy theo công hạnh đã làm đều được tu hành. Vì thế, nên dưới nói rằng: “Người tu hành đẳng phần đối với năm pháp quán dừng tâm, tâm họ mới được an trụ, chẳng phải tịnh hóa hạnh của họ”
Có người nói: “cũng dứt “hoặc” phi.
Xưa nói là quán Sổ tức, trừ hai phẩm giác, quán. Nay, chỉ trừ giác, nên chỉ nói là hạnh Tầm, Tư, chứ chẳng phải trừ Từ.”
Hỏi: Vì sao không trừ Từ?”. Vì Từ, đói với cảnh, xem xét kỹ rồi mới “duyên”, còn Tầm thì tán loạn, nên nói là trừ tầm?
Kế là, hỏi đáp, nói lại sự khác nhau của hành tướng Đẳng phần và bạc trần. Đầu tiên nói về Đẳng phần khác nhau Sau nói về Bạc trần.
Trong phần đầu, đáp về “Đẳng phần hành”, cho đến “chẳng phải trên, chẳng phải vượt hơn”.
Pháp sư Cảnh nói: “Đẳng phần hành”, nghĩa là có đủ các hành tham, sân, si, mạn, tầm, từ v.v..., không đồng với hành thêm riêng, ng- hĩa là thêm tham v.v..., cho nên nói: “chẳng phải trên, chẳng phải vượt hơn”. Nhưng hành giả đẳng phần này cặp khi gặp duyên tu hạnh bất tịnh, hoặc quán quán từ bi thương xót, cho đến gặp duyên quán về sở tức, với riêng, nghĩa là quán hạnh tương tự”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Người hành tham gặp duyên, liền khởi tham, tức gọi là hành giả tham. Người phần này cũng thế. Tùy theo chỗ gặp duyên, khởi ngay tham v.v... tức gọi là hành giả tham, giống như tham v.v.... Dưới đây, trong phầnt huyết minh về Bạc trần hành, đầu tiên là nêu bảy câu. Kế là, giải thích, sau là kết.
Trong phần giải thích, trước là giải thích về không có chướng nặng, vì không có ba chướng.
Nói nghiệp chướng, cho đến nay che lấp chánh đạo v.v... tức là năm tội nghịch và “ cố tư” khác, tạo nên nghiệp bất thiện nặng nề, chiêu cãm ba đường ác.
Lại thứ tám có nghiệp của thân người nữ, Châu phía Bắc, nghiệp trời Vô Tưởng. Quả Nghiệp kia khởi lên che lấp đạo thánh, không cho sinh khởi.
Chướng Phiền não, tức là phẩm trên mạnh mẽ, nhạy bén thường khởi trong thời gian dài. Tịnh hạnh trong hiện pháp đã duyên quán bất tịnh v.v... không thể làm cho tịnh, gọi là chướng phiền não trong chướng Dị thục.
Luận sư Cảnh nói: “ Rằng hoặc chỗ sinh đến quả Dị thục sinh, tức nghiệp chướng ở trước đã chiêu cãm Dị thục. Vì dựa vào thánh đạo kia không sinh khởi, nên gọi là chướng Dị thục. Phạm vương hoặc ứng, hóa Bồ-tát chẳng phải chướng Dị thục. Nếu người thật sự thọ là chướng Dị thục. Hoặc là có chỗ sinh, cho đến người điếc, lẩn thẩn, ngu đần v.v... như ba thiên hạ được cãm báo người, hoặc mang bệnh điếc, lẩn thẩn v.v... nên không sinh đạo thánh. Do điếc, lẩn thẩn v.v... nên thánh đạo bất sinh.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “hoặc chỗ sinh, nghĩa là tùy theo chỗ sinh. Thánh đạo dựa vào bất sinh kia, tức ba đường ác. Ở chỗ sinh này quả Dị thục sinh, nghĩa là Dị thục ác, sinh ở chỗ này, chẳng phải chỗ thánh đạo dựa vào”
Giải thích đầu tiên được thanh tịnh: Nghĩa là giới tịnh, thiện và người thấy ngay thẳng. Giới là nền tảng đầu tiên của sự lìa lỗi lầm. Chánh kiến, tức là vị nguyên thủ của nhiếp thiện, cho nên nói giới thiện, chánh kiến là đầu tiên của thanh tịnh.
Mười nhân tịnh giới, như quyển hai mươi tám trước đã nói mười pháp thuận học: 1/ lìa ấp của mẹ v.v.... Bốn câu thấy nghe ngay thẳng, giải thích về các Như Lai và đệ tử bậc thánh, cho đến người sinh thắng giải v.v... sâu sắc, nghĩa là đối với chỗ sinh tịnh độ của thần lực khó nghĩ bàn của Phật và đệ tử bậc thánh. Đối với giáo pháp sâu xa Chân
như kia là sự không thể nói, sinh thắng giải sâu sắc, không có sợ hãi. Vì xa lìa sự lừa dối, dua nịnh, nên sự thấy ngay thẳng của người kia là loại ngay thẳng, nghĩa là không có ngay thẳng, giống với chánh kiến vô lậu, gọi là loại chánh kiến.
“Như Thánh giáo kia mà tu hành chân chánh”. Nghĩa là tùy theo tu hành nào, tùy chứng cạn sâu như Chân thật kia mà tự hiện chứng, không quá số lượng đó.
Giải thích về tư lương đã đủ giáo pháp, giáo nghĩa: Nghĩa là tà giáo của ngoại đạo gọi là phi pháp, nay được chân giáo gọi là giáo pháp, thuyết mà ngoại nói hoặc có một ít nghĩa hoặc hoàn toàn vô nghĩa, không gọi là giáo nghĩa.
Các căn thành thục: Nghĩa là được năm căn như tín v.v... và bảy sắc căn đều đầy đủ.
Tư lương hiện pháp. Nghĩa là ít muốn, biết đủ.
Kế là giải thích về môn khác của Bổ-đặc-già-la có sáu:
1- Giải thích Sa-môn, văn chia làm năm:
a, Nêu danh.
b, Tóm tắt thuộc đương.
c, Giải thích sơ lược.
d, Giải thích lại.
đ, Dẫn chứng.
Trong giải thích sơ lược, Pháp sư Thái nói: “Phật gọi là Thiện Thệ, là đạo tối thắng”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Hoạt đạo Sa-môn, nghĩa là lấy đạo để nuôi sống mạng, gọi là Hoạt đạo. Theo Luận Bà-sa, Như lai Độc giác, gọi là Thắng đạo, Thanh văn Vô học, gọi là Thuyết đạo. Tất cả Hữu học gọi là Mạng đạo. Nếu có phàm phu ưa phạm giới cấm, gọi là Hoại đạo.”
Trong giải thích lại, Pháp sư Thái nói: “Các vị Hữu học, Vô học của Ba thừa gọi là chung là Thắng đạo. Hiện đời vì không có Phật, Bồ- tát, nên các Thanh văn thọ trì giáo ba tạng, gọi là Thuyết đạo. Phàm phu giữ giới vì tuệ mạng tồn tại, nên gọi là hoại đạo. Phàm phu phạm giới, phạm giới căn bản đầu tiên trong ba học, vì khó khắc tuệ mạng, nên gọi là hoại đạo.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nếu không có Như Lai và các Bồ-tát vì được Bồ-đề, cho đến các chúng Thanh văn giữ gìn ba tạng, gọi là Sa môn đạo, thì đây là y cứ ở thời kỳ không có Phật, Bồ-tát, Thanh văn soạn luận. Nếu Phật, Bồ-tát ở chúng Thanh văn, thì gọi là Thắng đạo,
Chư Phật, Bồ-tát gọi là đạo Sa-môn.
Nay, ở vào thời kỳ không có Phật, Bồ-tát, Thanh văn được gọi là Thuyết đạo, vì làm cho không dứt hạt giống. Do sự phá hoại kia, trước hết đã có căn bản v.v... của chánh đạo, nghĩa là ý trong đâynói giới là căn bản của chánh đạo.
Nay, vì phá giới, nên gọi là căn bản Đạo.
Trong phần dẫn chứng, y cứ ở luận Bà-sa, dẫn ba Thánh giáo để nói về bốn Sa môn:
1/ Kinh Sư Tử Hống.
2/ Kinh Phổ Hiền.
3/ Kinh Nan-đà.
Nay, kinh được dẫn chứng ở đây là kinh Sư tử Hống.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đức Thế tôn dựa vào kinh kia nói như vậy: “Cho đến giáo của ngoại đạo, Sa-môn, Bà-la-môn đều là không, chẳng thật có v.v... ”. Nghĩa là trong đây ý nói về bốn hạng Samôn. Đức Thế tôn dựa vào chân giáo có nói lời như thế là nói các giáo của ngoại đạo, Samôn kia là tà giáo. Cho đến Hoại đạo cũng không thật có. Vì phải thọ chân giới mới sinh hư hoại, kia đã là tà giới, dù cho hư hoại, cũng chẳng phải Hoại đạo.”
Thứ hai, trong giải thích về Bà la môn, Pháp sư Thái nói: “Từ Bà- la-môn, cha mẹ mà sinh, gọi là chủng tịnh hạnh. Dù từ cha mẹ chủng khác mà sinh, tạo nên tên Tịnh hạnh, gọi là tưởng tịnh hạnh. Tu tập chánh hạnh, gọi là chánh hạnh.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: Gọi là “Tưởng Bà-la-môn, nghĩa là các thế gian v.v..., trong đây có giải thích: “Như cha mẹ Sát-Đế-lợi vì lập giả gọi là Bà-la-môn, thể là Sát-đề-lợi, gọi là chung Bà-la-môn. Lại do tưởng, nghĩa là tưởng danh v.v..., nghĩa là các thế gian v.v... đều đồng với tưởng này gọi là Bà-la-môn. Thứ ba, dưới đây là Bà-la-môn chân thiện:
1/ Thọ pháp bất dâm.
2/ Đạo thế tục, tạm thời đoạn phạm hạnh.
3/ Phạm hạnh rốt ráo dứt Dục, nghĩa là quả Bất Hoàn v.v....
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì sao không nói về quả Sơ, Nhị? Lại, vì sao phạm hạnh thứ hai trước không nói về lìa dục của cõi Sắc, Vô Sắc?”
Nghĩa là không nói quả Sơ, Nhị. Vì lấy lìa toàn phần của cõi Dục để nói, đối với tạm thời, phạm hạnh thành. Tạm thời phạm hạnh vì chỉ nói cõi Dục. Lại, vì sao trong thứ hai ở trước không nói là dục của cõi Sắc v.v..., đây là ảnh hiển, so sánh mà biệt. Như A-la-hán và quả Bất
Hoàn, phải biệt rằng đạo thế gian cũng đối chiếu mà nói. Nên nói là lìa Dục của Hữu sắc, vô Sắc. Nghĩa ảnh hiển này không có trái.
Nói rốt ráo, vì đạo vô lậu dứt hạt giống, nên nói là rốt ráo, chứ chẳng phải quả Vô học gọi là rốt ráo.
Thứ tư, trong giải thích về Bí-sô, ở đây có hai giải thích:
1- Thuận với giáo, xin của cải lìa tà mạng.
2- Nghĩa là thường xin ăn, khất thực v.v....
Tự xưng: như ngày nay, tăng phá giới, tự xưng ta là Bí-sô, hoặc có thể là người chưa thọ giới Cụ túc, tự xưng ta là Đại tăng.
Luật thập Tụng nói về Tự xưng gọi là “Tặc trụ”.
Người tự cạo bỏ râu tóc, mặc pháp phục, gọi là Tưởng Bí-sô khi cạo bỏ râu, tóc, chưa thọ giới, chỉ có danh, tưởng, Bí-sô mà chưa có giới.”
Luận sư Thủ nói: “Danh Tưởng Tỳ-kheo, kinh Niết-bàn nói là Sa di chưa thọ mười giới mà rơi vào số tăng.”
Phá hoại phiền não. Nghĩa là như Luật Từ phần nói là Tỳ-kheo phá kiết, sử.
Thứ năm, trong giải thích về tinh tấn, siêng năng tinh tấn, siêng năng có ba:
1- Dứt hai nghiệp thân, ngữ bất thiện.
2- Dứt cảnh giới duyên bám, giữ gìn, che chở căn môn.
3- Dứt phiền não.
Phải biệt rằng trong đây, đại khái có hai cách dứt bỏ phiền não. Luận sư Cảnh nói “Lược ba thành hai. Nay trong giải thích sự thôi dứt thứ ba, đại khái có chia làm hai:
1- Dứt Tùy Miên.
2- Dứt triền hiện tại.
Quyển thứ sáu, giải thích về xuất gia, như văn, quyển mười lăm hợp giải thích có bao nhiêu thứ kiến lập hai môn Nhân duyên. Trong đó có năm:
1- Nêu chung hai môn.
2- Nêu riêng về số môn đó.
3- Lấy nhân duyên để kiến lập tám người.
4- Kiến lập xong, kết.
5- Dùng năm câu để phân biệt, hoàn thành nhiều, ít.
Khéo biết Du-già, tức khéo biết phương tiện, nghĩa là do trí hạnh tương ưng với lý, nhân trí hạnh, chủ thể tương ưng chung với quả, nên trí được gọi là phương tiện, tức cũng gọi là tương ưng.
Nếu phần đông có căn Bổ-đặc-già-la chưa thành tựu v.v... cho
đến căn thứ hai, dù thành tựu mà chưa khéo giỏi phương tiện thiện xảo hai hạng người này khác nhau thế nào?
Nghĩa là: người trước chưa gieo trồng gốc lành. Người thứ hai, dù có gieo trồng phần ít, nhưng chưa giỏi về phương tiện khéo léo, đó là điểm khác nhau.
Quyển mười sáu hợp giải thích có mấy thứ hai môn của sự ma, trong đó 1/ nêu chung về hai môn khuyên biết, khuyên lìa: kế là, giải thích riêng hai môn. Sau, giải thích xong, tổng kết.
Theo phần giải thích riêng, trước giải thích về sự ma; sau nói về sự ma.
Trong phần trước: 1/ Nêu ra thể tướng. 2/ Phải biết trong đây, Như chỗ đã nương tựa của người chết: Trở xuống phát ra tác dụng của cái chết.
Bốn câu: “ Như chỗ nương tựa của người chết: như thứ lớp bốn ma như uẩn v.v.... Do phiền não nên chiêu cảm đời đời ở đương lai xong, tức là có người chết yểu. Nói chung, do phiền não trong mười nhân quá khứ, hiện tại, chiêu cảm sự sống chết ở mai sau.
Lược qua, không nói về nhân duyên phiền não của quá khứ đã chết, hiện tại đang chết, ở đời trước v.v... các loại hữu tình mạng chết. Nghĩa là lời nói này cũng chung cho tự tánh của đã chết, nay đang chết và sẽ chết.
Khuyên người tu thiện v.v... là giải thích về tác dụng của ma trời.
“Lại ma đối với người kia” trở xuống, là giải thích lại về thời tiết có tác dụng, không có tác dụng  của ma trời.
“ Thế nào là sự ma” trở xuống giải thích môn thứ hai. Đại khái nói có tám ma, nói rộng thì vô lượng.
Quyển mười bảy, giải thích về phát thu trống không, không có quả.
Thứ hai, vì giáo thọ không có thuận theo. Như ngài Xá-lợi tử bảo
người giặt áo thực hành quán sổ tức: người xâu chuổi khởi quán bất tịnh, do sự truyền trao sai lầm nên không được đạo thánh. Trong ba nhân duyên, đủ hai, thiếu một: có một, không có hai, đều không được hiệu quả.
Cơ vị Luận sư nói: do ba nhân duyên trống không, không có quả, nghĩa là đạo quả vô lậu chẳng phải là quả của thế gian. Vì sao biết được? Dưới đây nói rằng: “ Dù được định không có sự giáo hóa truyền trao, tức chân giáo thọ không theo, không có vô lậu sinh, do đó trống không không có quả.
BẢN LUẬN QUYỂN 30
 
Thứ ba, Xứ Du-già, văn chia làm hai:
1) Trước kết, sau sinh.
2) Mở ra chương giải thích.
Đầu tiên nói rằng: “Đã nói Phẩm Bổ-đặc-già-la, đây là kết môn đầu trong mười chín môn của Du-già quyển hai, “Kiếm tập”, nghĩa là kết môn thứ hai.
Và “sở duyên v.v... ”, kết môn thứ ba v.v..., cho đến “Hướng về người tu có quả, không có quả”: là kết môn thứ mười chín.
“Như nên an lập, nay ta sẽ nói” trở xuống có ba môn, như nên thưa hỏi mà an lập.
Thứ hai, trong mở ra chương, giải thích, trước, là tụng nêu ba môn. Sau, là văn xuôi giải thích riêng.
Đại ý trong bài tụng có hai:
1- Nói chung về ba môn.
2- Ở môn thứ ba, chia riêng làm năm, kết hợp với bốn câu tụng này có hai mươi chữ: tám chữ trên, nêu chung về ba môn; mười hai chữ dưới, chia riêng thành năm:
Đến chúc mừng, thăm hỏi là một; tìm kiếm mong cầu là thứ hai; mới an lập là thứ ba.
Theo phần an lập, có riêng năm câu:
1- Che chở nuôi nấng.
2- Xa lìa.
3- Một tánh cảnh.
4- Che lấp tịnh.
5- Tu tác ý.
Trong văn xuôi ở dưới, thì chia làm ba:
1- Giải thích đến chúc mừng thăm hỏi.
“Dùng lời lẽ Noãn mềm mỏng dịu dàng như thế”, là giải thích về sự tìm cầu.
Thứ ba đối với bốn xứ, dùng bốn nhân duyên để chính thức tìm cầu.
“Lại đối với năm xứ” trở xuống, là giải thích an lập. Trong giải thích về môn: 1/ Giải thích chữ “vãng”, tức đến thưa hỏi. 2/ “Thỉnh như thế v.v... ” trở xuống, là giải thích về sự chúc mừng, thăm hỏi.
Trong giải thích về đến thỉnh, gồm có:
1/ Vì chứng tỏ lợi mình, muốn đến thưa hỏi, nên trụ ở bốn chỗ.
2/ “Chánh niệm như thế v.v... ” trở xuống, là lúc cầu thỉnh thưa hỏi.
3/ “Sắp thưa hỏi.” Trở xuống, là nói về oai nghi thưa hỏi. Tiếp theo là giải thích về sự chúc mừng, thưa hỏi.
4/ “Ta đối với v.v... ” trở xuống, là chính thức nói về sự thưa hỏi.
Kế là, giải thích về sự chúc mừng, thăm hỏi, có mười hai câu khen ngợi sức cố gắng, chúc mừng, an ủi.
Thứ hai, trong giải thích về sự tìm cầu môn, trước là dùng bốn pháp để xét hỏi chỗ nên xét hỏi. Kế là, đối với bốn pháp Xứ, dùng bốn nhân duyên thích hợp với chính thức tìm cầu về xứ sở, căn hạnh, chủng tánh của nguyện:
1- Dùng xét hỏi.
2- Dùng ngôn luận.
3- Lấy công việc đã làm
4- Dùng trí biết tha tâm mà chính thức tìm cầu.
Đầu tiên, là dùng xét hỏi về căn hạnh, chủng tánh của phát nguyện kia. Kế là, “dùng ngôn luận để tìm cầu về ba thứ kia” trở xuống, là dùng nhân duyên ngôn luận thứ hai để tìm cầu về chủng tánh, căn hạnh v.v....
Trong dùng xét hỏi đầu tiên về phát nguyện đó, người kia đã tự biết, như hỏi đáp xong. Về chủng tánh, căn hạnh, người kia không tự biết. Do khó biết, nên vẫn còn phải dựa vào ngôn luận, công việc đã làm, trí biết tha tâm mà tìm cầu xem xét.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nhân duyên tìm cầu bốn xứ là đối với người lợi căn. Tại dựa vào ba nhân duyên dưới để tìm kiếm ba xứ, sở là đối với người độn căn, vì sao biết? Vì dưới đây, phát sinh ba nhân duyên tìm kiếm về lý do tự sinh khởi trong ba nơi chốn. Sự xét nghiệm ấy không nói đến người nghe pháp ba thừa trong chủng loại ba Thừa mà rơi lệ v.v.... Về vấn đề này, nếu y cứ ở người có tánh quyết định, thì trong xét nghiệm hạnh nói rằng: “Nếu có hành tham, thì người kia nghe vì nói ngôn luận mầu nhiệm, thanh tịnh, tức là phát niềm tin yêu, ưa thích v.v... rất thanh tịnh. Ý trong đây nói, do hành giả tham, tham giàu, vui, nghe nói cõi nước Phật được hình thành bằng bảy thứ báu, với ngôn luận màu nhiệm thanh tịnh. Rồi phát niềm tin thanh tịnh cùng cực. Chẳng phải là cảnh dục bên ngoài, gọi là mầu nhiệm thanh tịnh, mà là do không thể phát niềm tin thanh tịnh cùng cực.
Trong giải thích về hành si, nói rằng: “Như nói về căn chậm lụt, hành si cũng thế. Ở trước, nói là người căn chậm lụt dù nghe nói về
ngôn luận thô cạn, nhưng với sức cố gắng xét nghĩ về nghĩa pháp, mới mong có thể lãnh thọ, hiểu rõ ràng thông suốt.”
Nay hành si này cũng thế. Nghe nói pháp thô, còn không thể hiểu nổi, huống chi nghe nói Niết-bàn thì làm sao có thể hiểu được một cách nhanh chóng. Cho nên, vì nghe nói thông suốt Niết-bàn, có thể lìa quả báo sinh tử tạp nhiễm, nên sinh tâm sợ hãi. Nếu từ lâu, với sức cố gắng xem xét, tư duy về nghĩa pháp mới có thể lãnh thọ, hiểu rõ ràng thông suốt. Nếu có người thực hành thông thả thì dù có nghe chính hóa, cũng không quy tín ngay. Nếu thực hành tâm, tư, nghe pháp nào mất pháp ấy. Pháp sư Thái nói: “Ở trước, y cứ ở nhập đạo, để nói về hành tham nay y cứ ở tà đạo để nói về hạnh tầm, tư, là vì chỉ muốn nói về hành tướng.
“Thứ ba, trong giải thích về môn an lập, trước, chia ra năm câu. Sau, theo thứ lớp từng tiết để giải thích.
Đầu tiên, giải thích về sự che chở, nuôi dưỡng tư lương định, tư lương tức là hai đạo tư lương của thế gian, xuất thế gian đã nói trong đạo xuất ly của nội Du-già ban đầu, có mười bốn môn.
Từ “Nếu tự viên mãn đến Sa-môn trang nghiêm”, (rộng như luận ấy có giải thích).
Nay, Với tư lương định của sự che chở nuôi dưỡng này, nên lại nêu văn kia, 1/ Nói về Luật nghi giới, từ so sánh mười ba môn; 2/ Giải thích về sự xa lìa. Trước chia ra ba câu. Kế là, giải thích, sau, là kết.
Đạo cán tích v.v.... Cán là nói cọng. Người phương Tây, thu hoạch lúa ngoài đồng ruộng, họ giữ lại rơm chất thành đống. Người thực hành đỗ-đa, hoặc ở chỗ chất chứa.
Giường nằm bờ mé. Nghĩa là giường nằm rất thấp, rất xấu xí, mục nát, vứt vào xó, không ai thèm lấy.
Thứ ba, là giải thích tâm một cảnh tánh của tâm và chướng tịnh, trong đó có ba:
1- Giải thích tâm một cảnh tánh.
2- Giải thích chướng tịnh.
3- Dùng bài tụng gồm thâu chung.
Trong phần trước có ba: 1/ Chính giải thích tâm một cảnh tánh, 2/ nói tâm một cảnh tánh chung cho chỉ quán, 3/ nói về chín thứ gia hành.
Trong phần trước, trước là chung, kế là riêng, sau, là kết.
Trong phần chung có bốn câu:
1- Thường thường tùy niệm.
2- Sở duyên đồng phần.
3- Sự chảy rót tương ưng v.v... với vừa ý, vui vẻ.
4- Không có tội tương ưng v.v... với vừa ý, vui vẻ.
Dưới đây giải thích riêng về bốn câu này. Lại do niệm người kia rất tương ưng với cảnh không có lỗi đối với cảnh không có sở duyên. Trong đây ý nói vì hay bỏ đi nhiểm, nên được đạo rất yên ổn thành xong. Tự thể của sự vừa ý, vui vẻ mà gồm thâu với tương ưng, gọi là không có tội.
Thứ hai, nói về tâm một cảnh tánh chung cho cả chỉ, quán, trước chia ra hai môn, sau; giải thích hai môn, tong đó có hai:
1/ Giải thích bốn thứ tâm trụ của bốn phẩm.
2/ “Thế nào là bốn thứ Tỳ-bát-xá-na” trở xuống, là giải thích về bốn thứ hạnh, tuệ của Phẩm quán.
Tong phần trước có bốn:
1- Nêu ra.
2- Giải thích.
3- Nói về sáu thứ lực thành chín trụ tâm.
4- Nói về bốn thừ trụ tâm có bốn tác chung cho Phẩm Chỉ, Quán.
Trong giải thích, Pháp sư Khuy Cơ v.v... nói: “chưa hẳn là tâm trong định trụ một “duyên” tức là đúng, vì tâm v.v… ghi chép trước nhất chưa hẳn là định, nên ở trước nói phẩm loại Xa-ma-tha này đều  chẳng
phải là Xa-ma-tha.
Pháp sư Thái nói: “Lià chìm, nổi gọi là Đẳng trụ. Xét tra đều quán khắp, gọi là trụ khắp, trước sau không có gián cách, gọi là phướng tiện nối tiếp nhau. Lìa rối loạn, vắng lặng, gọi là lắng sạch. Phá trừ tùy phiền não tầm, từ ác, thất niệm đột nhiên khởi, tầm liền trừ khử ngay, gọi là rất vắng lặng”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Nghĩa là có các thứ tầm, từ ác: dục, nhuế, hại v.v... các tùy phiền não: cái v.v... tham dục làm cho tâm nhiểu động, ở đây vì nêu lên tai họa lỗi lầm, mới sinh tưởng nhàm chán.”
Nói các tùy phiền não: Tham dục cái..., như Đối pháp quyển bảy chép: “Có phiền não đều là tùy phiền não, “Hoặc” căn bản kia cũng là tùy phiền não, có khi tùy phiền não chẳng phải phiền não, nghĩa là hai mươi thứ đẳng tùy hoặc” chỉ theo cái khác sinh, chẳng phải căn bản. Nay, tham dục v.v... vì cặp khi khởi theo cái khác, nên gọi là tùy phiền não.
Kế là nói về sáu thứ lực thành chín trụ tâm, Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Đầu tiên do hai sức lắng nghe, tư duy, thường nghe, thường tư duy v.v... cho đến đẳng biến, an trụ v.v..., trong đây, nếu trước hết, do hai sức lắng nghe v.v... thì chỉ “nội trụ”: thứ nhất; thứ hai:” đẳng trụ”;
thứ ba, thứ tư An trụ, cận trụ do sức nhớ nghĩ, tức sức sơ, nhị gồm thâu hai thứ. Trong văn lại nói rằng: “ Và tức đối với phương tiện lắng sạch, phương tiện nối tiếp nhau này mà an trụ khắp, tức giống như đều lấy an trụ thứ ba. Trước, giải thích về an trụ, nói biết cũng do sức sơ nhị thứ ba, thứ tư ở dưới đồng với sức nhớ nghĩ, làm sao thông suốt ư?
Thuật rằng: “ Thật ra an trụ thứ ba là gồm thâu sức sơ nhị.
Nói an trụ, cận trụ trong sức nhớ nghĩ, ý trong đây nói, do sức nhớ nghĩ trong Cận trụ, chẳng phải tức an trụ hai pháp Cận trụ là sức nhớ nghĩ, tức chỉ cận trụ một thứ là sức nhớ nghĩ.”
Lại giải luận rắng: “ Đầu tiên, do lắng nghe hai sức tư duy, tức, “ nội trụ” là sơ, chỉ một “ nội trụ” đều là Đẳng trụ” là sức sơ, nhị, an trụ kia là sức nhớ nghĩ. Như dưới đây nói: “ điều hòa thuận với vắng lặng là hai thứ định. Nay, nói an trụ Cận trụ là biết rõ gồm thâu hai thứ, chứ chẳng phải an sự hiểu biết trong Cận trụ”.
Nếu vậy, thì vì sao lại nói: “ và, tức đối với lời nói an trụ khắp phương tiện v.v... lắng sạch, nối tiếp nhau này?
Thuật rằng: “ An trụ kia có cả ba lực. Nếu quán chưa thành, thì gồm thâu hai lực sơ, nhị. Nếu quán hạnh thành thì gồm thâu sức nhớ nghĩ. Lại nói đẳng biến an trụ, tức chứng tỏ một thứ đẳng trụ, chứ chẳng phải lấy an trụ. Vì đẳng biến” đối với các pháp v.v... thô động, an trụ là sức nhị. Nay, là tướng văn và tức đối với phương tiện nối tiếp nhau này, an trụ khắp phương tiện lắng sạch, chính là thích đáng với lời giải thích về “Đẳng trụ” ở trước, vì sao văn này lại nói lấy an trụ thứ ba ư? Cho nên, biết sức sơ, nhị chỉ thành “nội trụ”, đồng thời “Đẳng trụ”, là do sức nhớ nghĩ thành cận trụ của an trụ kia.
Thứ tư, nói về chín thứ tâm trụ có bốn tác ý chung cho Phẩm Chỉ, Quán:
1- Nghe, tư duy.
2- Tác ý liễu tướng.
3- Thứ lớp năm tác ý thắng giải.
4- Tác ý của quả rốt ráo gia hạnh.
Luận sư Bị nói: “Hai tâm trụ trước vì là tiền phương tiện của bảy tác ý, nên gọi là sức cố gắng. Kế là năm trụ tâm là thuộc về tác ý liễu tướng, nên gọi là hũu gián.
Tâm trụ thứ tám có năm tác ý, tâm trụ thứ chín có tác ý quả.”
Hỏi: “Có phải là có bốn quán với bảy tác ý nhiếp nhau chăng?”
Luận sư Bị nói: “Vì Luận đã không nói, nên không nhiếp thuộc lẫn nhau. Nay văn này đã nói là tức do bốn tác ý tu Tỳ-bát-xá-na, nên
cũng là phẩm Tỳ-bát-xá-na. Cho nên biết tùy theo sự thích ứng nhiếp thuộc nhau.
Từ đây trở xuống là thứ hai, giải thích phẩm quán, trong đó, thứ nhất, chính giải thích về bốn thứ Tỳ-bát-xá-na. Thứ hai, “Lại, tức Tỳ- bát-xá-na như thế do sáu sự của ba môn” trở xuống, là giải thích về “sở duyên” khác nhau của Phẩm Quán, trong đó có ba:
1/ Giải thích chung về đối tượng Duyên (sở duyên) khác biết sáu sự của ba môn Tỳ-bát-xá-na.
2/ “Thế nào là siêng năng tu quán bất tịnh ” trở xuống, y cứ môn năm độ quán, nói riêng về đối tượng duyên khác nhau của sáu sự.
3/ “Như thế, dựa vào quán sai khác của sáu sự Tầm, Tư, đói tượng duyên của hạnh chỉ tịnh” trở xuống, là tổng kết, dựa vào sáu sự Tầm, Từ, sở duyên của tịnh hạnh, quán xong, Chỉ, Quán giúp nhau về tịnh thiện xảo kia. Hoặc quán sáu sự chỉ sẽ nói là xứ. Trong phần đầu Luận sư Cảnh nói: “Đạo lý pháp nhĩ đối với các pháp như thật đều thành lập pháp-tánh, do đâu mắt thấy, mà tai v.v... không thấy?
Khó tư duy pháp-tánh, nghĩa là như đất cứng v.v.... An trụ pháp- tánh, nghĩa là vì sao thế-giới sắp bày... như thế?
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tuệ gồm thâu sáu việc của ba môn. Bốn thứ Tỳ-bát-Xá-Na, nghĩa là tuệ này mỗi việc đều có cả sáu sự của ba môn.
Nói thành lập pháp-tánh; khó tư duy pháp-tánh; an-trụ pháp-tánh v.v..., nghĩa là như vì tánh tạo tác, nên lại thành lập tiếng vô-thường, đây là thành lập tánh pháp. Như nghiệp, cỏ thuốc, chú thuật, là khó tư duy pháp tánh, nghĩa là hạt giống pháp nhĩ, tánh khác nhau của ba thừa, gọi là an-trụ pháp-tánh. Sự thứ hai của tầm, Tư vì tự-tướng trong tướng thứ ba, nên khởi sự giác bờ mé v.v.... Mỗi tự tướng của sắc, thọ v.v... của Tầm, Tư đều được giới hạn của phần pháp khởi sự giác biên v.v.... Cộng tướng trong tướng thứ ba, phẩm thứ tư, thời thứ năm và lý thứ sáu, vì xứng pháp mà biết, nên khởi giáo như thật.
Thứ hai, y cứ Năm Độ Quán, phân biệt riêng đối tượng duyên của sáu sự. Văn tức là năm.
Đầu tiên, phân biệt về quán Bất tịnh. Nghĩa là sự Tầm, Tư, Trong đó nói rằng: “Xấu hôi sinh ra hôi. Pháp-sư Thới nói: Như thức ăn đến chín, gọi là xấu hôi, chưa đến phần-vị chín, gọi là sinh hôi.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Vì đổi thay, hư hoại, nên hôi, gọi là xấu hôi, như phân như nhớp v.v..., như rau ung, tỏi v.v....”
Nói về chín thắng-giải trong tự-tướng ngoài Tầm, Tư. Dưới đây
y cứ ở ba biến đổi thuộc về chín tướng rất dễ hiểu. Nghĩa là từ cái vạc máu v.v.... Pháp sư Cảnh nói: “ Dạ dày là vạc máu để chứa đựng nhiều máu nóng.”
Pháp sư Thái nói: “Nếu người tự tử, thì các mạch máu vận-chuyển lưu thông bên trong đã hết. Nếu bị người khác giết, thì màu sẽ chảy hết ra ngoài, ở trên nói màu đã chảy hết, là nói ở đây.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đầu, mình, dạ dày là vạc máu, vì công năng tự máu nóng. Một là lấy giả gọi là tơ năm mầu vẻ thành gỗ,     đá, bùn v.v... tạo thành tướng bộ xương. Ngài Tam-Tạng nói “muốn thực hành quán bất tịnh, trước hết, quán xương giả.” Thới Pháp-Sư nói “Hành giả tu quán, muốn quán bất tịnh khi không có xương khác, thì được lấy gỗ, đá v.v... giả làm bộ xương, để tu quán bất tịnh. Vì chẳng phải xương, nên chỉ gọi là bộ xương. Nếu được Xương thật để quán bất tịnh thì mới gọi là quán bộ xương. Do lý này, nên nói về mười tưởng rằng: “ Hoặc Xương, hoặc vòng xích, kể cả bộ xương là đều cùng phẩm đổi thay, hư hoại. Như thế, xương và vòng xích v.v..., bị lửa, nước làm mục nát, gọi là bị cái khác làm hư hoại.”
Cộng tướng Tầm, Tư: bấy giờ, hành giả biết tịnh sắc của tự thân bên trong chưa hư hoại, nhưng đồng với sắc đã đổi thay, hư hoại ngoài thân, đổi thay, hư hoại pháp-tánh giống như bất tịnh, gọi là lá cộng tướng.
Lúc Tầm Tư: là các sắc tướng nội tịnh, sắc bất tịnh bên ngoài đều ở hiện tại. Trong các sự sinh này đã diệt, quá khứ từng là sắc tướng tịnh mà nay đã chết, hiện đang có các thứ bất tịnh nối tiếp nhau mà khởi. Nay, ta hiện có sắc tướng giống như tịnh, ở đời vị lai không tương đương với bất tịnh, như sắc bất tịnh ngoài hiện tại hôm nay thì không có việc đó. Nói rằng như thế trong lý Tầm, Tư, gọi là dựa vào thắng nghĩa của thế tục, kể cả đạo lý của nhân duyên quán đãi Tầm, Tư.
Luận sư Cảnh nói: “Trước nói Vô-ngã, chỉ giả ngôn thuyết nói là tịnh, bất tịnh, là gọi là đạo lý Quán đãi thắng nghĩa. Kế nói là phiền não nghiệp trước của mạng, noãn, thức, tạm giống như tịnh v.v... đó gọi là đạo lý quán đãi nhân duyên của thế tục.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở trước đã giải thích về vô ngã bên trong là thắng nghĩa. Lại, như nói: “Cho đến nói là màu xanh, bầm v.v... cho đến bộ xương, đây là thế tục. Nay, kết tùy theo lời nói, tức là chẳng phải dựa vào kết thứ lớp. Lại, dựa vào kết theo thứ lớp, tư duy, so sánh rất dễ hiểu.”
Nay giải-thích về vô ngã trong, ngoài, giả nói là tịnh, bất tịnh, gọi
là đạo lý quán đãi thắng nghĩa. Lại, như nói rằng: “Cho đến bộ xương, gọi là đạo lý quán đãi thế tục.” Nay, nghiệp phiền não trước của thân này của ta đã dẫn phát v.v..., gọi là đạo lý quán đãi nhân duyên. Dưới đây nói: “Ta cũng tự có thể thấy ở thân trong, ngoài, là hiện lượng của nhãn thức, cho đến hay dứt trừ tham dục là hiện tượng của Diệt trí, nghĩa là nghĩ rằng: “Thế nào là hôm nay, tác ý tư duy về pháp hay đối trị, có thể đối với phiền não sẽ sinh của cảnh giới “sở duyên của chủ thể trị”. Pháp sư Khuy Cơ giải thích trong đây với ý rằng: “Cảnh bất tịnh bên ngoài, gọi là chủ thể đối trị, vì trị tham dục, do “duyên”sắc bất tịnh, nên tất nhiên, chủ thể trị phiền não sẽ sinh của cảnh tịnh sở duyên. Nghĩa là lập lượng rằng.
“Lúc “duyên” bất tịnh, thì lẽ ra chủ thể trị dục tham. Vì “duyên” chủ thể trị. Như lúc “duyên” vô tướng, có thể dứt bỏ hữu tướng.
Thứ hai, là nói về quán tu từ, nghĩa là quán sở duyên khác nhau của sáu sự Tầm, Tư, như văn rất dễ hiểu.
 
---------------------------------------
BẢN LUẬN QUYỂN 31
 
Thứ ba, là nói về quán Duyên khởi. Vì các pháp sinh của sáu sự Tầm, Tư, nên sinh v.v... của các pháp kia vì chi sinh trước trước, nên chi sinh sau sau. Vì chi Diệt trước trước, nên chi Diệt sau sau. Trong đây đều không có tác giả tự Tại, cho đến các pháp chuyển biến. Đây là phá chấp trời tự tại của ngoại đạo là chủ thể tác giả, người sống, người chết. Lại, phá Số Luận chấp có “tánh minh”, gọi là tự tánh, chấp có ngã đế, gọi là sĩ phu. Với Hai mươi ba đế khác, gọi là Trung gian, trung gian là đối tượng chuyển biến.
Hoặc trong, hoặc ngoài. Nghĩa là thuộc về căn trong mười hai chi, gọi là trong; thuộc về trần, gọi là ngoài.
Mé trước không có biết; mé sau không có biết: nghĩa là mười nhân quá khứ dẫn dắt đến cái chết trong hiện tại, vả lại, nêu vô minh, nên nói là mé trước không có biết. Mười nhân hiện tại dẫn đến sự sống, chết ở đương lai, vả lại nêu ở vô minh, nên nói là mé sau không biết.
Phân biệt về tánh của hai chi như thế, gọi là tư duy tự tướng.
Đại lý quán đãi đầu tiên trong lý Tầm, tư. Nghĩa là chỉ quả nghiệp quán đãi, rằng vô minh v.v... giã nói là tác giả, thọ đều không có tác giả, thọ giả chân thật.
Lại, trong đây có hai thứ quả và hai thứ nhân, hai thứ quả là:
1/ Quả tự thể: là pháp sáu xứ v.v... của các Dị thục sinh ở đời nay. Sáu căn, sáu trần gọi là quả tự thể.
2/ Quả của Cảnh giới thọ dụng: Nghĩa là tăng thượng của nghiệp ái, phi ái mà khởi v.v... tức là sáu thọ thọ dung sáu trần. Trần là đối tượng thọ dụng; Thọ là chủ thể Thọ dụng.
Hai nhân là:
1/ Nhân dẫn dắt.
2/ Nhân sinh khởi.
Nhân dẫn dắt: là đối với hai quả, cho đến hạt giống Xúc, Thọ. Do mê hai thứ quả nói trước, nên khởi ngu si. Ngu si phát ra hành, Hành năng dẫn phát thức, gọi là chủng. Gọi là chủng lại hay dẫn phát Hạt giống của danh sắc. Hạt giống của danh sắc lại dẫn hạt giống của sáu xứ. Hạt giống của sáu xứ lại dẫn chủng xúc, hạt giống Xúc lại dẫn hạt giống của Chi Thọ.
Bảy chi như thế, lôi kéo trước, dẫn pjhát sau. Ngài Tam Tạng nói: “Nhân lôi kéo, dẫn phát chính là lấy thể của nghiệp thiện, ác. Nay, trong văn này lấy chúng hành nhân vô minh và Hành đã dẫn sinh hạt
giống của năm chi, đều gọi là nhân dẫn dắt. Dưới đây sẽ giải thích về ý dẫn dắt nhau.
Vì khiến cho Thức, Sinh sắc, Sáu Xứ; Xúc, Thọ theo thứ lớp sinh. Thuộc về tưởng của chi sinh ở đương lai, nên nay, trước là nhiếp thọ hạt giống của pháp kia. Tất cả như thế, gọi là nhân dẫn dắt.
Bảy chi như thế đối với sinh, già chết sẽ khởi thức v.v.... Tất cả đều là thể của nhân dẫn dắt lôi kéo.
Nói thức thuộc về tưởng: Tưởng gọi là chi sinh, thức thuộc về Danh.
Nhân sinh khởi: Nghĩa là nếu khi lãnh thọ các vô minh, xúc mà sinh ra thọ v.v..., chính là lúc ở hiện tại, lãnh thọ thuộc về Già chết của mé trước, khởi ái cảnh giới, cũng khởi tìm ái của thân sau. Nhân hai ái này làm “duyên” sinh ra Thủ, cho nên nói rằng: “Và chủ thể nhiếp thọ phẩm ái, phẩm si mà có các Thủ. Cho nên bốn thủ lấy ái làm thể, nên nói phẩm ái có các Thủ. Thủ này tương ưng với si, lại nói rằng phẩm si đã có các Thủ. Do ái, thủ này thấm nhuần hạt giống của tám chi làm duyên tăng thượng, khiến dẫn sinh hạt giống Thức v.v... cho quả dị thục, tức nói ái, thủ có ba chi, gọi là nhân sinh khởi.”
Ngài Tam Tạng nói: “Nhân sinh khởi chính là lấy trong văn Ái, Thủ, y cứ ở thọ, để nói về ái đã sinh, gọi là nhân sinh khởi. Do sức tăng. Thượng duyên của hai nhân này, tức là đối tượng theo đuổi của ba khổ chiêu cảm, gom góp tất cả uẩn v.v... thần túy khổ lớn, hai nhân tức nói mười chi trước là thể của hai nhân, nhân thành được ba quả khổ theo đuổi.
Thứ tư, là nói về quán sáu giới: Sáu việc tầm tư, tầm tư đời quá khứ, vị lai và hiện tại, sáu giới làm duyên được vào thai mẹ v.v.... Nghĩa là có sinh quán đãi trong xả, có không, thức của bốn đại, nương giá bất tịnh được vào thai mẹ. Lại do các nghiệp phiền não đời trước và hạt giống, danh ngôn của mình để làm nhân duyên v.v..., đều giải thích về nghĩa quán đãi.
Trong đạo lý pháp nhỉ nói rằng thành lập pháp tánh: Như tánh chấp cứng chắc, ẩm ước, noãn, động của bốn đại, chẳng phải nhân duyên nương tựu, mà là tánh tự thành lập.
Khó tư duy pháp tánh, nghĩa là không nên tư duy vì sao đất cứng mà không là ẩm ướt?
An trụ pháp tánh nghĩa là có Phật, không Phật đất cũng thường cứng chắc v.v....
Thứ năm, là nói dùng sáu việc tầm, tư niệm A-na-ba-na, nghĩa
là nương tựa lời Phật dạy, có thể biết đúng buột tâm nơi cảnh của hơi thở ra vào thhấu rõ không có quên mất, là nghĩa của niệm A-na-ba-na. Lại tư duy trong thân hơi thở kia có thể được, vì hệ thuộc thân, nên gọi là trong, là loại gió ngoài, gọi là thuộc xứ ngoại. Sự khác nhau trong, ngoài, gọi là biết sự.
Lại, tư duy hơi thở vào, hơi thở ra, mỗi hơi thở đều có hai:
1, Hơi thở vào có hai khoảng giữa, hơi thở ra cũng thế. Lại, biết hơi thở ra vào, nghĩa là khoảng giữa biết hơi thở vào, hơi thở ra, khởi nối tiếp trong nhiều giờ là dài.
Như thế là hơi thở ra vào ngắn. Nghĩa là khoảng giữa hơi thở vào, ra, khởi tạm, gọi là ngắn. Như thế dựa vào sự khác nhau của sáu việc Tầm, Tư, đối tượng duyên của tịnh hạnh, quán rồi. Dưới đây, là kết và chỉ:
Kết năm pháp quán dừng tâm ở trước, gọi là đối tượng duyên của tịnh hạnh, cho đến hoặc dựa vào đối tượng duyên khéo léo và sở duyên của tịnh “hoặc”.
“Đối với Xứ của mình, về sau, ta sẽ nói” trở xuống, là nói về nơi chốn duyên tịnh “hoặc” của đối tượng duyên thiện xảo, gọi là xứ của mình.
Từ trên đến đây, phần nhiều văn đều là thứ hai, nói về một tánh cảnh của tâm chung cho cả Chỉ, Quán.
Từ đây trở xuống, là thứ ba, nói về chín gia hạnh, trong đó, đầu tiên, nêu chung về pháp hắc, bạch, mỗi pháp đều có chín. Nêu riêng về chín phẩm bạch, gọi là phân biệt tương đối khác nhau.
Kế là, tùy theo giải thích riêng về chín thứ phẩm bạch. Sau, kết hai phẩm, phân biệt về tổng kết thuận, nghịch kia.
Mười tám trị chướng gọi là một tánh cảnh của tâm, do gia hạnh thuộc về chín thứ phẩm bạch, có thể giúp cho tâm kia nhanh chóng được Định. Đây là y cứ trong tâm nghe, tư duy, tạo ra chín gia hạnh, có thể nhanh chóng được định, giúp cho Tam-ma-địa càng tiến thêm lên: Đây là y cứ ở tâm định, tạo ra chín gia hạnh, giúp cho Đẳng trì càng tiến thêm lên. Lại, vì lý do này, nên đối với Địa được thích hợp và tùy theo chỗ thích ứng được nhanh chóng, có thể không có sự chậm trễ. Muốn khởi thần thông đi qua địa khác và tùy theo điều mong muốn, tu khởi công đức. Do chín thứ gia hạnh này nên sự mong muốn chóng thành.
Tùy theo:
1/ Tưởng trong giải thích riêng, nên gia hạnh là người tham dục tu bất tịnh quán v.v... vì tương ưng với thuốc, bệnh.
2/ Người tập gia hạnh, đối với phẩm chỉ quán, đã từng tu tập nhiều, cho đến phần ít chẳng phải đối với tất cả hạnh quán đều mới tu nghiệp.
“Vì sao” trở xuống, là nêu nghiệp mới tu, để làm rõ đã từng quán tập.
3/ Gia hạnh không chậm rãi, nghĩa là khởi ân cần trân trọng vô gián. Hoặc tu nghiệp hòa kính, nghĩa là sáu hòa kính.
4/ Gia hạnh không trái ngược: Như sư khai ngộ, tức học như thế, lìa tự ngạo mạn v.v....
5/ Gia hạnh hợp thời. Tu Chỉ, nêu Xả, kế là, thích hợp thời gian. Lại rất dễ hiểu rõ Chỉ quán, nêu lên thể tướng và thời gian của bốn pháp xả, thể của Chỉ tức chín tướng trụ tâm. Tướng Chỉ có hai:
1- Tướng sở duyên tức là bản chất sở tri của phẩm Chỉ đồng phần với ảnh tượng là tướng sở duyên của Chỉ.
2- Bản ý của tướng nhân duyên, nghĩa là nương tựa Xa-ma-tha huân tập tu Chỉ, vì e dựa vào tu Chỉ, tâm sẽ chìm mất, nên vì khiến Chỉ tâm, lìa chìm mất, được thanh tịnh, nên tu quán gia hạnh. Tu quán gia hạnh đối cới Chỉ thanh tịnh là tướng nhân duyên.
Thế nào là quán? Nghĩa là quán hạnh sở duyên khác nhau của bốn hạnh; ba môn và sáu sự, tức theo thứ lớp, quyển trước nói: “Bốn thứ Tỳ-bát-xá-na, nghĩa là chủ thể chánh tư duy lựa chọn; Tư duy lựa chọn rất tích cực; Tầm, Tư cùng khắp, Từ sát cùng khắp gọi là bốn hành. Ba Môn là:
1- Chỉ tùy theo tướng hạnh.
2- Tùy theo hạnh Tầm, Tư.
3- Tùy theo hạnh Từ sát.
Sáu Sự tức là Nghĩa, sự, Tướng, Phẩm, Thời và Lý.
Tướng quán có hai:
1- Tướng của sở duyên (đối tượng duyên), Nghĩa là Quán, Phẩm, Sở tri, Bản chất, Sự, Đồng phần; Ảnh tượng, tùy theo tâm quán mà khởi.
2- Tướng Nhân duyên, nghĩa là nương tựa Tỳ-bát-xá-na để huân tập tâm, e rằng dựa vào quán tâm sẽ trôi nổi, giao động thái quá, vì muốn cho tâm quán lìa dao động, được thanh tịnh, nên tu Xa-ma-tha, tất cả gia hạnh làm tướng nhân duyên cho quán vượt hơn sau. Hoặc sợ lúc chìm xuống. Nghĩa là biết tâm lúc yếu kém, e sẽ chìm mất.
Đối với Phẩm chỉ, Quán, Điều hòa, Nhu thuận, ngay thẳng: nghĩa là Chỉ, Quán đồng đều, gọi là điều nhu ngay thẳng.
Tướng Xả, nghĩa là do đối tượng duyên, làm cho tâm Xả ở trên v.v... Luận sư Cảnh nói: “Cực lực Xả hôn trầm, trạo cử, để cho tâm xả ở trên. Nếu tinh tấn thái quá thì tâm sẽ xảy ra sự giao động, nên ở đây không được tinh tấn thái quá.”
Pháp sư Thái nói: “Đối với cảnh sở duyên, cực lực lìa Chỉ, điệu cử, gọi là lúc xả duyên tăng thượng, nghĩa là đối với Phẩm Chỉ quán, lập ra lìa điệu cử là khi tu xả, cũng nên nói là đối với phẩm Chỉ quán đã có tâm chìm mất, lúc đã giải thoát là tu xả.” Thứ sáu là hiểu rõ gia hạnh, nghĩa là đối với các tướng đã nói như thế, khéo lấy, khéo biết rõ về nhập, trụ, xuất tất cả các Định tùy ý đều có thể. Hoặc có lúc ruồng bỏ ảnh tượng của Cảnh Định, tác ý tư duy các cảnh giới, bản chất sở duyên của tâm tán cõi Dục, gọi là hiểu rõ gia hạnh, đây là y cứ ở sự hiểu rõ về ảnh tượng tướng phần của Tâm Định, giống như cảnh của bản tánh sở duyên của tâm tán. Như đây gọi là Xả chất quán của ảnh tượng.”
Ngài Tam Tạng nói: “Bỏ ảnh tượng sở duyên trong Xả Định chính là “Duyên” bản chất của bộ xương trong rừng bản tánh”.
Thứ bảy, tám, rất dễ hiểu. Thứ chín, chính là gia hạnh, văn chia làm hai:
1- Lược nêu tướng gia hạnh.
2- “Chánh là dừt bỏ” trở xuống, là giải thích rộng năm môn.
Trong phần đầu, rằng, đối với sở duyên, cho đến các tướng bất tịnh, nghĩa là ban đầu, quán xanh, bầm. Kế là, xả quán sình trướng. Kế là, lại xả quán tướng sình trướng, mục nát v.v.... Do trừ cảnh tướng mà khởi tác-ý, đối với cảnh sở duyên, thường chính dứt trừ biệt cảnh hiện ở trước, gọi là chánh gia-hạnh.
Trong giải thích rộng, đầu tiên, là nêu; kế là, giải thích; sau, là phânbiệt để giải thích.
Trong giải thích, không lấy các tướng không niệm, do “duyên”cảnh của Địa định, vì tư-duy Địa định khác, nên gọi là đối với tác-ý khác, nghĩa là như Sơ tĩnh-lự “duyên” pháp v.v... của Địa trên, tĩnh lự của địa trên duyên với pháp của địa dưới, v.v… gọi là “duyên” cảnh của Địa định khác.
Trong phần phân biệt chính nói chia làm hai:
1/ Nêu chung phân biệt lấy đã nói hai thứ.
2/ Phát ra tướng.
Trong phần trước, dù an lập khắp tất cả sở-duyên, chính là dứt trừ tướng, đều có năm thứ. Nhưng ý nghĩa này là lấy sự thu nhiếp tâm mình bên trong, tác ý không niệm. Nghĩa là thứ chín trong đây, phân
biệt chính thức gia-hạnh, chính là vì có khả năng dứt trừ cảnh-tướng sở duyên, nên ý trong đó lấy:
1/ Thu nhiếp tâm bên trong.
2/ Phát ra Tác-ý không nhớ nghĩ tất cả tướng.
3/ Vẫn “duyên”cảnh của địa khác.
4/ Vẫn quán cảnh bất-tịnh v.v....
5/ Vẫn “duyên” Tác-ý tư-duy cõi Vô-tướng.
Cho nên, ba tướng sau, không thuận với dứt trừ chính thức sự gia hạnh.
Thứ hai nêu tướng tác ý không niệm trong sự giải thích ban đầu trong hành tướng của chánh gia hạnh kia.
“Hai, lại hạnh có tướng, có phân biệt” trở xuống, là giải thích thu nhiếp tâm bên trong.
Trong phần trước, nói là người mới tu nghiệp, hoàn toàn không buộc tâm mình đối với cảnh sở-duyên của năm pháp quán dừng tâm chỉ niệm được không phân tán, cho đến lìa các tác dụng vừa ý bên trong, vui vẻ đối với tướng ngoài, không có tư-duy, dứt trừ sở duyên, nhiếp thọ sự vừa ý vui vẻ trong hạnh tu tập.
Thứ hai, trong giải thích về sự thu nhiếp tâm mình, đầu tiên, pháp; kế là, dụ; sau là hợp.
Đầu tiên là nói rằng: “Lại, hạnh có tướng, có phân biệt các cảnh như bất tịnh v.v... Đây là nói do tác-ý không niệm mà lấy cảnh bất tịnh v.v... của tướng ngoài.
“Thế nào mà hành cho đến không lấy, không bỏ” trở xuống, là giải thích về nghĩa không bỏ, không lấy. Do đối với sở duyên, vì hạnh chỉ chuyển biến, nên không gọi là xả, cho đến không thể qua đến, cho đến hiện quán sự cảnh của sở-tri, đây là giải, thích ngược lại. Do thường thắng giải, thường dứt trừ trở xuống là giải thích thuận thí như thế gian trở xuống là thứ hai, nêu dụ để làm rõ.
Thứ hai, là nêu dụ để làm rõ.
“Đạo lý trong đây v.v... ”trở xuống, là thứ ba, hợp dụ, đối với cảnh hẹp mà khởi thắng giải, tức đối với hẹp nhỏ mà chính thức dứt trừ v.v.... Vả, như ban đầu “duyên” màu xanh hẹp, ít, quán khởi thắng giải xong, dứt trừ “duyên” màu xanh rộng lớn. Hoặc vô lượng màu xanh. Kế là, tức loại trừ, phải biết cũng vậy. Đối với màu xanh hẹp, ít, chính thức dứt trừ xong, hoặc đối với sắc vàng hẹp, ít, lại khởi thắng giải; hoặc đối với màu xanh rộng lớn, hoặc vô lượng màu xanh mà khởi thắng-giải. Đối với màu rộng lớn kia và với vô lượng màu, phải biết cũng vậy.
“Duyên” màu xanh rộng xong, kế là, dứt trừ, lại quán màu vàng rộng lớn; hoặc vô lượng màu xanh v.v.... Hẹp, ít cũng vậy.
Nếu các sắc pháp tất cả ảnh tượng của tướng mạo biểu hiện rõ ràng, phải biết là giống với biến hóa thô, nghĩa là nếu duyên ảnh tượng của sắc pháp là thô, giống với biến hóa, thì các pháp không có sắc giả gọi ở trước như đã lãnh thọ, vì sức tăng thượng, nên ảnh tượng hiện rõ. Nghĩa là nếu quán không có sắc thì pháp được lấy khác sẽ không có tướng mạo, vì Tầm được gọi là sức tăng thượng của sự lảnh thọ. Ảnh tượng hiện rõ, như thể tánh của ảnh tương này là gì? Ngài Tam Tạng nói: “Tùy theo duyên” các pháp phi sắc thọ, tưởng v.v... đã khởi ảnh tượng, tức là loại tánh của bản chất, gọi là pháp kia.
Kế là giải thích về tịnh chướng, trong đó có hai:
1- Giải thích tịnh chướng.
2- Dùng bốn câu phân biệt về hạnh tịnh chướng.
Trong phần trước, trước là nêu, chung. Kế là, tùy theo giải thích riêng, trong đó có hai lượt:
Trong lượt đầu, chướng yếu kém. Nghĩa là đối với pháp Niết-bàn xuất ly và đối với pháp xa lìa của đạo thế gian, xuất thế gian, lúc siêng năng tu hành. Đối với pháp tạp nhiễm, có kính mến, không ưa hoặc vọng, lo lắng, buồn rầu, nên tâm yếu kém che lấp Tầm, Tư. Nghĩa là Tầm, Tư dục, nhuế, hại v.v..., biết tai họa lỗi lầm của chướng, vì chướng này có, nên đói với bốn thư chướng kia lúc còn ở thân, chưa chứng, không chứng đã được lui sụt mất, cho đến đọa các đường ác, gọi là biết tai họa lỗi lầm của chướng.
Trong tu tập đối trị, đầu tiên là nói về đối trị yếu kém. Sau nói về trị cái che lấp v.v....
Trong phần trước đầu tiên, là nói về trị chung, đều dùng chung tùy niệm để làm đối trị. Do tác ý tùy niệm làm vui lòng mình, nghĩa là cầu xuất ly. Về lý cũng không có khó khăn khiến cho các sự yếu kém đã sinh, dứt trừ chưa sinh, bất sinh.
Kế là nói về đối trị riêng. Tác ý phi lý cái che lấp khác v.v... dùng trái nhau đó, tác ý như lý làm đối trị, nghĩa là có tham cái và tầm dục, tưởng bất tịnh đối trị. Cái hữu nhuế, tầm nhuế, tu từ làm đối trị. Hôn tầm, thùy miên, tư duy tướng Ánh sáng làm đối trị.
Nghi dựa vào các hành của ba đời, chấp, “ ngã” là “ có” là “không” v.v... biết rõ các hành của ba đời, chỉ bà con, cõi nước không chết v.v.... Tầm bà con trạo cử, ác tác, tu chỉ, hành vắng lặng là pháp nhân duyên, đã có, sẽ có, nay làm đối trị.
Trong phen thứ hai, giải thích lại. Như văn rất dễ hiểu.
“Phải biết trong đây “trở xuống, là bốn câu phân biệt về hạnh năng tịnh chướng, câu đầu, nói về: Giáo càng nhiều, thuận với quán càng nhiều. Do quán nhiều nên làm cho chỉ cũng nhiều. Quán lại tùy theo phẩm loại của cảnh cũng nhiều.
“Chính tu hành” trở xuống, là thứ hai, nói do quán tập tăng trưởng rộng lớn, làm cho chỉ cũng thế. Thân, tâm khinh an, với một cảnh của tâm giúp đở lẩn nhau, xoay vần lệ thuộc nhau. Thân, tâm khinh an, lìa thô nặng, gọi là “chuyển y” dựa vào trí hiện lượng của cảnh sở tri sinh ra.
Hỏi: “ Ngang đâu sẽ nói v.v... ” trở xuống, là thứ ba, nói về năm pháp quán dừng tâm, giới hạn đầy đủ của hạnh hay tịnh chướng: Trước là hỏi, sau đáp.
Trong đáp: 1- Nói về giới hàn thành mãn của quán bất tịnh. 2- So sánh giới hạn thành tựu viên mãn của bốn thứ như thương xót, v.v…, nên nói rằng: “ phải biết cũng thế” dưới đây là nói về sự khác nhau: nghĩa là phần nhiều hành tướng của tâm từ được thể hiện rõ, chứ chẳng phải tướng sân nhuế. Đối với pháp xứ thuận theo triền sân nhuế, tâm không thu nhập, cho đến nói rộng, tâm không ưa thích, tâm không tin hiểu, an trụ ở xả, nẩy sinh nhàm trái sâu sắc, bấy giờ, người tu hạnh quán, phải tự biết rõ: Nay, tôi đã được quán thương xót. Nay, mình đã được tu quả. Ngang đây, gọi là quán thương xót đã được rốt ráo v.v....
Nếu người kia nặng về ngu si thì phải quán duyên khởi, hiểu rõ mười hai chi chỉ là hành tướng vô thường, khổ, không, vô ngã biểu hiện rõ ràng, chẳng phải chấp thân thường, lạc đều cùng hiện hành, những lời khác giống như trước.
Chấp ngã mạn v.v... Nghĩa là quán giới phân biết, biết rõ thân này chỉ nhiều tánh giới, thân mượn các thứ tướng khác nhau trong nhóm, tưởng hiện rõ, chẳng phải chấp một tưởng của nhóm thân hiện rõ.
Tầm, Tư nhiều. Nghĩa là thực hành quán sổ tức, tầm tư tịch chỉ, gọi là tưởng vắng lặng bên trong hiện ra, chẳng phải lại được khởi các thứ tưởng tầm, tư hý luận, hiện hành.
Hỏi: “Ngang đâu sẽ nói hai thứ Xa-ma-tha, Tỳ-bát-xá-na đều chuyển” trở xuống, là thứ tư, nói về giới hạn vận chuyển song song chỉ quán?
Đáp: “ Nếu có đạt được, cho đến người tu tuệ tăng thượng, trụ đẳng trì thứ chín trong chín tướng trụ tầm, cũng gọi là Đẳng dẫn trụ. Dùng đẳng trì này là dựa vào tu tuệ tăng thượng trong pháp quán thắng nghĩa
đế của thế tục. Bấy giờ, người kia do quán pháp nên trụ đạo nhậm vận chuyển, không có công dụng chuyển không do gia hạnh v.v.... Nghĩa là do thường tu tập, không do công dụng chuyển song song chỉ quán”.
Từ đây trở xuống dùng bài tụng Ốt-Đà-Nam trong gồm thâu chung nói rằng: “ bài Tụng Ốt-Đà-Nam có ba:
1/ Sơ, là lúc nói về pháp, đầu tiên dùng một bài tụng nghĩa là không tụng lại, đều nêu các môn; sau, dựa vào môn để giải thích.
2/ Trung, tức là tụng lại pháp phân biệt chưa rõ, khoảng giữa, nêu tụng để gồm thâu lại nghĩa trước.
3/ Hậu, nghĩa là phân biệt pháp xong, nêu chung tụng lại tụng nghĩa trước.
Nay bốn bài tụng này chỉ là tụng trung, do trong an lập có năm nghĩa. Ngoài ra có môn tu tác ý thứ năm chưa giải thích, tức nêu tụng này gồm thâu lại nghĩa trước nên gọi là Trung.
Nay bốn bài tụng này là tụng hai môn trước. Ba bài tụng đầu, là tụng một tánh cảnh của tâm; một bài tụng sau là tụng về tịnh chướng.
Trong một tánh cảnh của tâm, 1/ Nói về một tánh cảnh của tâm. 2/ Nói về một tánh cảnh của tâm có cả Chỉ, Quán. 3/ Nói về chín thứ gia hạnh chung cho Chỉ, Quán, trong đó, trước nói về Chỉ, sau nói về Quán.
Trong quán, 1- Nói về bốn thứ; 2- Nói về sự của ba môn. Nay một bài tụng đầu trong tụng này, bài tụng về sở duyên khác nhau của sáu sự ba môn. Hai bài tụng kế là, tụng về chín thứ gia hạnh, y cứ trong năm môn an lập.
Từ trên đến đây, ba đoạn nói về bốn môn xong, từ đây trở xuống, là đoạn thứ tư, giải thích môn tu tác ý thứ năm, trong đó có hai:
1- Nói về người mới tu nghiệp, là chứng một tánh cảnh của tâm và dứt hỷ, lạc, tu bốn tác ý.
2- Giáo hóa người mới tu nghiệp, đối với tu tác ý, lấy năm thứ tướng.
Trong phần trước lại có hai:
1- Nhắc lại phần nêu ở trước.
2- Giải thích riêng.
Trong phần trước nói rằng: “Người mới tu nghiệp, đối với trong tướng phổ biến đã an lập do tánh cảnh và tịnh các chướng, lìa tà gia hạnh, học chánh gia hạnh, nghĩa là Du-già thứ ba ở trước, đầu tiên có ba môn:
1- Môn đến chúc mừng.
2- Tìm kiếm.
3- Mới an lập.
Trong an lập có năm môn:
1- Che chở nuôi nấng tư lương định.
2- Xa lìa.
3- Một tánh cảnh của tâm.
4- Tịnh chướng.
5- Tu tác ý.
Nay, nhắc lại thứ ba một tánh cảnh của tâm trong năm nghĩa đã được an lập, vì duyên phổ biến, nên nói rằng: “Một tánh cảnh của tâm trong chướng, lìa chín thứ tà gia hạnh, học chín thứ chánh gia hạnh v.v.... Đây là nhắc lại trước. “Người kia nên trước cho đến bốn thứ tác ý”: đây là nêu số, kế là, nêu bốn tên gọi.
Trong giải thích riêng, có hai lượt giải thích:
Lượt đầu rất dễ hiểu. Trong phen thứ hai, văn chia làm ba:
1/ Giải thích chỗ đáng nhàm chán tai họa, đại khái có bốn thứ:
a) Mình suy tổn.
b) Người suy tổn, gặp nhau hiện ở trước.
c) Mình hưng thịnh.
d) Người hưng thịnh, lìa đổi thay, hư hoại.
2/ Giải thích về chỗ đáng nhàm chán có ba:
a) Tùy niệm Tam bảo, nghĩa là ta và giới cụ túc, đủ đức v.v... cùng làm ban pháp v.v..., ý chỉ lấy giới kia để niệm Tăng Bảo.
b) Tùy niệm Học xứ, thanh tịnh Thi-la. Trong thanh tịnh, lại nói : “Ta được đồng phạm hạnh với người Kia, đồng giới, đồng học và đồng với những gì mà người Kia thấy v.v... với ý niệm thân mình ba tuệ thanh tịnh một với người vượt hơn, làm cho tâm hân hoan vui vẻ.
c) Đối với pháp mà mình đã chứng khác nhau, sinh ra tin, hiểu sâu sắc, không có chỗ yếu kém, khiến tâm hân hoan, ưa thích trong đó có hai:
1) Nghĩ rằng: “ Nay ta có sức, vì có thể được những điều chưa được, nên khiến cho tâm hân hoan, ưa thích, khiến tâm hân hoan ưa thích.
2) Lại do trước, sau mạnh mẽ tinh tấn, đã gánh vác điều đã chứng, hơn nữa, thời gian sau, lại có pháp đã chứng, nên sinh ra tín, hân hoan, vui vẽ là gọi là môn khác. Pháp sư Cảnh giải thích: “Môn khác, nghĩa là mới có đối tượng chứng, tâm vương hân hoan, ưa thích vì khác với chứng cũ, nên gọi là môn khác, cũng có thể khác với lượt giải thích
đầu, lượt đầu chỉ nói rằng: “Do tác ý này đối với pháp đáng ưa chuộng, khiến tâm hân hoan ưa thích, là gọi là tác ý giúp thuận, để giải thích sự ưa chuộng.
Nay, y cứ “duyên” ba cảnh”
1/ Nhớ nghĩ Tam Bảo.
2/ Nhớ nghĩ học xứ thi-la thanh tịnh.
3/ Đối với pháp mình đã chứng, sinh tâm kính tin, hân hoan ưa thích, nên khác với trước.
Nay, giải thích: “Ở trước nói rằng: “Nay ta, có sức, cho đến vì có thể được cái chưa được v.v... trong hiện pháp, nên sinh vui mừng”. Nay lại nói rằng: “Do tùy niệm đã được, lại về thời gian sau sẽ được chứng, sinh tánh giải sâu sắc, nên khác với môn trước.”
Từ đây trở xuống, là đoạn thứ ba, nói nương tựa hai xứ, sinh bốn tác ý, nhằm làm rõ công năng, trong đó, trước là pháp, kế là, dụ, sau là hợp.
 
----------------------------------------
BẢN LUẬN QUYỂN 32
 
Từ đây trở xuống, là giáo thứ hai người mới tu nghiệp, đối với tu tác ý lấy năm thứ tướng. Văn chia làm hai:
1) Trước hết, dạy răn người mới tu nghiệp, dựa vào năm pháp quán dừng tâm, nói pháp dạy lấy năm tướng để tu tập.
2) Như thế mới có người tu nghiệp, nhờ chính dạy răn lúc tu chánh hạnh v.v... ” trở xuống, là nói về nghiệp ban đầu, như dạy tu hành được định cõi sắc.
Trong phần trước lại có hai:
1) Hỏi đáp nêu chung.
2) Giải thích riêng.
Đầu tiên, là hỏi:
“Thế nào là người mới tu nghiệp, như hành giả tham v.v..., an lập bất tịnh v.v... tùy theo chỗ an lập chính đáng tu hành v.v... làm sao trước hết xúc chứng bất tịnh, tánh cảnh của tâm dứt tham hỷ lạc?
Đáp: “Nghĩa là Sự Du-già khéo léo cho đến lấy năm thứ tướng v.v.... Thiện sư bảo người mới tu dựa vào sự thấy nghe, so sánh, suy lường, dùng năm thứ tướng, khi chính tu hành, xúc chứng bất tịnh, một tánh của tâm, dứt tham hỷ, lạc v.v.... Tướng nhàm lìa; tướng tai họa lỗi lầm và tướng của sự rõ biết trong năm tướng này, chính là tác ý điêu luyện đã nói ở trước. Tướng hân hoan ưa thích tức là tác ý tư nhuận trong phần trước chỉ có tướng ánh sáng chẳng phải tướng đã nói ở trước.
Trong giải thích riêng thứ hai, có hai:
1) Dạy hành giả nặng về tham, phải nương tựa năm tướng để tu quán bất tịnh.
2) So với người tầm, tư nhiều sân, si, mạng, tu quán từ v.v....
Trong phần trước trước là hỏi; sau là đáp:
Trong phần đáp có ba:
1) Nói dựa vào năm tướng, tìm kiếm, mong cầu quán sát.
2) “Như thế, ông do giỏi lấy tưởng nhàm lìa như thế nên ngang đồng v.v... ” trở xuống, là kết quán bất tịnh, thu nhập niệm Xứ.
3) Người mới tu nghiệp, khi bắt đầu tu nghiệp, các sư Du-già dựa vào quán bất tịnh, dạy răn v.v... kết hạnh chánh thức dạy bảo.
Trong phần trước, dù năm tướng mà chia làm bốn đoạn, dùng hai tướng: nhàm chán, và ưa hân hoan hợp thành một đoạn cho nên, đoạn đầu, nói bảo lấy nhàm chán, ưa thích, ưa tu quán bất tịnh, trong đó có ba lời dạy bảo:
1) Nói dạy bảo lấy tướng nhàm lìa.
2) Nói bảo lầy tướng hân hoan ưa thích.
3) Nói do hai tướng nhàm lìa, hân hoan ưa thích, sẽ được thân, tâm khinh an, một tánh cảnh của tâm.
Trong phần trước, đầu tiên, là nói do nghe, thấy, mất mát và vì tự thân chứng sự thối mất, nên sinh ra nhàm chán, tức trên đã nói: “ hoặc thấy; hoặc nghe; hoặc tâm so sánh, suy lường.
Hoặc do ác tác, nghĩa là do cầu tâm dục; tiêu tan, mất mát của vật; hoặc do lửa nhà là chuột.
2) Nói dạy bảo tác ý tâm nhàm chán tai họa, thọ trì.
Bệnh, là pháp tánh bệnh. Pháp sư Thái nói: “Bệnh là chủ thể bệnh, là năm uẩn, đối tượng nương tựa hiện tại, gọi là pháp tánh bệnh.
Theo trong dạy bảo lấy tướng hân hoan ưa thích nói rằng: “Như thế, vả, đối với một thứ Thi La thanh tịnh là sự hân hoan, ưa thích ở trước lại đối với trừ chướng, sẽ nẩy sinh mừng vui.
Nếu ông đạt được phần ít pháp đã chứng trước, sau là khác, nghĩa là nêu lên câu hỏi về sự hân hoan vui vẻ, mừng vui trước sau, đối với Phật, hoặc đệ tử Phật và thời gian từ đây về sau, lại có đối tượng chứng, phát ý mừng vui. Các ý thích hợp, vui vẻ của hành tướng như thế ở trước, gọi là hân hoan vui vẻ. Nay, nói mừng vui, là gọi là chung ý vui vẻ. Kết, là gọi chung, riêng:
“Nếu ông trái với các phẩm hắc như thế” trở xuống, là phần thứ hai, giải thích tướng tai-họa lỗi lầm.
Mười tướng như sắc v.v... Có chỗ giải thích: “Bốn đại xanh, vàng, đỏ, trắng, nam, nữ.”
Ở đây giải thích: “Sắc, thinh, hương, vị, xúc, nam, nữ, sinh, già chết.
Tám Tầm, tư như dục v.v... Nghĩa là dục, nhuế, hại, không  chết, bà con, cõi nước vốn đã gặp gỡ, đã được ưa thích. Pháp sư Thái nói tám giác ác: Năm cái như tham v.v... gọi là Tùy phiền não, như Đối-Pháp nói: “Các tướng như thế, có thể làm tâm tác dụng vội vàng, tác dụng của tâm người kia. Đây là nói ba pháp của tướng v.v... Tăng thượng Tai họa lỗi lầm.
Luận sư Bị nói: “Tức ở trước, luận giải thích về sự che lấp tâm Xuất ly, gọi là lo nghĩ, mến mộ; che lấp ý xa lìa, gọi là sự vội vàng, nhiễu loạn.”
Pháp sư Thái nói: “Ba pháp này là thể của khổ-đế chứ chẳng phải thể của bậc Thánh; cho nên nói rằng: “Là khổ chẳng phải Thánh.”
Lại, ông nên nương tựa, cho đến tưởng ưa vắng lặng nghĩa là dạy bảo tu sáu tưởng, đối trị lỗi trước. Đối với sáu tưởng, hai tưởng đầu, là đối trị tai họa lỗi lầm của mười tướng đầu. Trước kia, do dùng mười tướng về sắc v.v..., khiến tâm có tác dụng của việc vội vàng. Nay, quán mười tướng quyết định không có tướng. Tưởng không có tác dụng trong không có tướng, đây là không khởi tác dụng của việc vội vàng.
Kế là, hai đối trị, tám Tầm,Tư, trước là do tám thứ Tầm, Tư phân biệt, sinh ra tư duy, yêu mến. Nay do sự tham nhuế kia v.v... không có tưởng phân biệt, không tác động tư duy kính mến, nhiễu loạn, cho nên, hai tưởng này trị Tầm, Tư. Nhưng vốn đã gặp gỡ, đã được niềm vui, hợp trong tám thành một, nên cũng gọi là bảy Tầm, Tư. Hai thứ sau đối trị Tùy phiền não. Trước kia, do khởi tùy phiền não, làm cho tâm nhiễm ô, thường không vắng lặng, thường bị quấy rối não loạn. Nay, tu tướng vắng lặng, không khởi tùy phiền não, nên lìa quấy rối não loạn.
Thứ ba, là giải thích về tướng ánh sáng. Do tu sáu tưởng, sáu tâm chìm lặng, dạy quán ánh sáng.
Thứ tư, trong giải thích về phân biệt rõ sự tướng, trước là chỉ dạy cách lấy tướng xanh, bầm v.v... trong gò mả, rồi trở lại chỗ ở, buộc niệm ở trước, so với thân cũng thế. Về sau, dạy tư duy gia hạnh bất tịnh, trong đó có ba:
1- Nói về dạy tư duy gia hạnh phẩm Chỉ.
2- Nói về dạy tư duy gia hạnh phẩm Quán.
3- Nói về chỉ dạy chung rõ ràng thường tập tu tưởng ánh sáng trong gia hạnh của hai phẩm.
Trong phần trước, đầu tiên, là pháp; kế là, dụ, sau là so sánh.
Trong pháp, tưởng vô tướng, nghĩa là không thấy mười tướng như sắc v.v... của mình, người.
Không có tưởng phân biệt. Nghĩa là do quán thây chết, lại không phân biệt tám thứ phân biệt: như tham, nhuế, hại v.v....
Tưởng vắng lặng. Nghĩa là do quán thây chết, nên tùy phiền não v.v... bất sinh tạo nên tưởng vắng lặng.
Tưởng không có tác dụng. Nghĩa là do quán thây chết không thấy mười tướng, tạo ra không có tướng của tác dụng việc vội vàng sợ hãi, không có gì kính mến, không có tướng vội vã quấy rối: do quán thây chết, không còn phân biệt, tư duy bà con v.v... tạo nên không có tư duy kính mến, không có vội vã quấy rối mà tách rời mọi sự quấy rối não loạn.
Tưởng vui vắng lặng: do quán thây chết, nên tùy phiền não vắng
lặng, tạo nên tưởng lìa phiền não vui vắng lặng.
Lại ở trong đó, cho đến rõ ràng hiện ở trước, đây là khuyên biết rõ cùng khắp loạn, không loạn rõ ràng hiện ở trước. Dưới đây phát ra được biết rõ tưởng rối loạn, không rối loạn: nếu khi chánh quán, các tướng tùy phiền não tầm, tư khởi, nên biết là rối loạn. Nếu khi quán, một tánh cảnh của tâm tùy theo sáu tưởng tu, nên biết rằng không tán loạn.
Lại nữa, ông đối với tướng loạn, bất loạn này cho đến vô tướng, không có phân biệt vắng lặng mà chuyển, là đã hiểu rõ tướng loạn,  bất loạn, thì nên an trụ một cảnh sở duyên, để cho tâm dứt sự nối tiếp truyền nhau. Lại, nếu tâm ông cho đến phát siêng năng tinh tấn, nghĩa là khuyên biết lỗi khởi nhỏ nhiệm khó biết, vì cầu biết lỗi, nên siêng năng tinh tấn”.
“ Đức Thế tôn dựa vào đây v.v... ” trở xuống, là phần thứ hai, nêu dụ: Đại v.v... sinh v.v... Ngài Tam Tạng nói: “ Nên nói đại sinh v.v… sinh, tức con của Trưởng giả. Nếu sinh từ đại phu nhân thì gọi là đại sinh; sinh từ phụ nữ nhỏ thì gọi là “ Đẳng sinh”
Pháp sư Thái nói: kiếp sơ, thời kỳ mới lập chế độ vua chúa, mọi người cùng cho là Đại. Người thừa nhận là Đại chẳng phải một, nên gọi là “Đẳng”. Lại, cho là Đại, nên đều nói rằng “Đại Đẳng”. Từ đây về sau, vì có nhân vương từ “Đại Đẳng” sinh, nên gọi là Đại Đẳng sinh. Về sau, nói “đẳng” là hướng về “Đẳng” ở trên.
Lại giải thích: “Đế vương, gọi là “Đại Đẳng”, chư hầu gọi là “sinh đẳng”, lời nói kiêu sa, lời nói úp mở.
“Như thế, Bí-sô v.v... ” trở xuống, là thứ ba, so sánh.
“Là sư Du-già” trở xuống, là thứ hai, dạy tư duy gia hạnh phẩm quán, trong đó chia làm hai:
1/ Kết tu thiện, bất thiện của đạo Chỉ ở trước. Nếu người không khéo tu.
2/ Quán đạo, tác ý tư duy các tướng bất tịnh. Pháp sư Thái nói: “Phát ra tự quán lý, siêng năng cố gắng mới khởi. Phát ra đối với quán lý, dứt ở quán sự”.
Nay giải thích: “Khuyên phát ra cảnh tướng sở duyên của Phẩm Chỉ, dừng lại ở cảnh tướng của phẩm quán. Về sau, chính nói về quán, trong đó có hai:
1- Nói hai thứ tác ý tu quán bất tịnh.
2- “Lại kphải tu tập v.v... ” trở xuống, là nói môn quán này chẳng quán sát ngay.
Trong phần trước, trước tạo ra giả tưởng thắng giải. Kế là, phải
thu nhập tác ý chân thật.
Hiếp sơn rộng lớn: Pháp sư Thái nói: “Về phía Tây cổng thành Vương Xá, có ngọn núi tên là Tỳ-phú-la, đời Đường dịch là Quảng Đại. Hình dáng núi này trên hẹp, dưới rộng, vì giống như hông người, nên đặt tên là núi Hiếp.
Lại, chẳng phải tu tập, cho đến Tầm, làm cho tâm vắng lặng ở bên trong. Nghĩa là nói chẳng phải quán một thây chết xanh, bầm, mà chính là quán hai thây chết cho đến quán riêng tất cả nối tiếp nhau.  Đã không cần quán, pháp quán thế nào? Nghĩa là vừa nên đối với một thi hài xanh bầm, khởi lên Thắng giải. Tầm, lại nhiếp tâm không quán màu xanh, bầm vắng lặng ở bên trong. Kế lại tiến đến quán hai thây chết xanh, bầm trở lại, tức ở nhiếp tâm không quán xanh bầm, cho đến quán tất cả xanh bầm lại tức nhiếp tâm. Vui mừng, đối với cảnh tướng sở duyên này sáng, sạch, không có các phiền não quấy rối, không miễn cưỡng cố hết sức ngang bằng lúc bấy giờ. Lẽ ra đối với thi hài như thế, phát khởi Thắng giải.
Nói: “Nếu vừa ở đây, cho đến nên tu vắng lặng: nếu quán xanh, bầm với sức cố gắng mới khởi thì nên nhiếp tâm dứt sự vắng lặng bên trong, không “duyên” xanh, bầm. Như thế, khiến cho trong tâm vắng lặng xong, cho đến vắng lăng mà chuyển, nghĩa là ngay từ đầu, quán một thây chết, cuối cùng đến vô lượng. Giản lượng bên trong, tâm họ không lấy vô lượng tướng xanh, bầm v.v.... Nhưng tâm phải khởi màu xanh, bầm kia v.v..., nên nói “không hoàn toàn buông bỏ”, mà lại không khởi sự hiểu biết về màu xanh, bầm v.v... cho nên nói: “Cũng không phân biệt”. Bấy giờ, tâm người kia vẫn không có phân biệt về màu xanh, bầm nên nói: “Chỉ tức đối với cảnh tướng sở duyên này an trụ tâm mình không có tướng, không có phân biệt, vắng lặng mà chuyển.”
Pháp sư Thái nói: “Vi trừ vi, vì giản lược cảnh quán bất tịnh, nên không hiện rõ. Nhưng vì quán sắc nhỏ, nên không hoàn toàn bỏ tướng có phân biệt, cũng không có tác ý phân biệt trong sắc nhỏ, ý nói rằng: “Ta quán sắc nhỏ, tức ngay trong cảnh sở duyên sắc nhỏ nấy, an trụ tâm mình, không có nhiều sắc tướng và tác ý phân biệt vắng lặng mà chuyển.”
Từ đây trở xuống, là thứ ba, tu tướng Ánh sáng trong hai đạo gia hạnh.
Thứ hai, là kết quán bất tịnh, thu nhập trong niệm xứ. Trước là kết năm tướng, nói do thu nhập. Sau nói về nương tựa thôn xóm, che chở thân, tâm.
Trong phần trước, “ở bất cứ lúc nào v.v... ” trở xuống, là phân biệt năm tướng.
Nói: “trong bất cứ lúc nào, nội tâm vắng lặng, nghĩa là tu Chỉ. Do tùy theo tướng trong bất cứ thời gian nào, thực hành Tỳ-bát-xá-na, tư duy, lựa chọn các pháp, nghĩa là tu quán.
Đối với thân mình, người trong, ngoài v.v... Nghĩa là đối với bất tịnh trong, ngoài của thân chưa chết của mình, của người và phần vị xanh, bầm khi khiêng đến gò mả, thường khởi thắng giải, lấy tướng  bất tịnh. Lại thu nhiếp tâm vắng lặng bên trong. Trong trường hợp này, nếu là thân căn của mình, người khác gọi là nội; phù căn trần, gọi là bên ngoài, cũng có thể lấy bất tịnh trong thân của thân mình, của người gọi là nội; lấy tướng bất tịnh ngoài của mình, người khác, gọi là bên ngoài.
Đối với Phẩm Xa-ma-tha cho đến người tu quán Thọ, Tâm, Pháp, do nghe, tư duy, tâm lấy sáu tưởng kia giản lược bên trong đều vận hành bốn uẩn, gọi là Tu quán Thọ, Tâm, Pháp bên trong (nội tại), nhiếp dừng lại ở sáu tưởng, gọi là nội lược. Vì thể tướng của bốn uẩn phi sắc như Thọ v.v... không xen lẫn, nên gọi là không loạn, cũng có thể vì cảnh định, nên gọi là không loạn.
Đối với phẩm không có tán loạn, nghĩa là ở trước tâm tán của ông đã lấy cảnh quá khứ diệt hết bốn uẩn Vô Sắc. Và nay, lúc thực hành hạnh quán, khoảng giữa, quên lấy tướng bốn uẩn Vô Sắc của cảnh tùy phiền não Tầm, Tư, ông nên lấy tâm nghe, tư duy ở đây, để tư duy đúng như lý về tánh của bốn uẩn này là giả huyễn, “xuất nhĩ” hiện ở trước rất nhiều tai họa lỗi lầm không thể đảm bảo niềm tin. Như thế, gọi là tu quán thọ, Tâm pháp ở ngoài.”
Pháp sư Thái nói: “Tác dụng của tâm niệm trụ bên trong tại vượt hơn trụ bên trong bên ngoài. Không “duyên” năm dục, gọi là không có tán loạn.
Đối với phẩm Tỳ-bát-xá-na, cho đến người tu quán thọ, tâm pháp bên trong. Dùng tướng phân biệt biên, gọi là la thọ tâm, pháp bên ngoài.
Lại “Ông nên gia hạnh ở Niệm trụ” trở xuống, là thứ hai, bảo phải nương tựa thôn xóm, che chở thân, tâm. Nếu đối với các tướng cảnh giới như thế, không nên khích phát các căn v.v.... Pháp sư Cảnh nói: “Nếu đối với cảnh nhiễm, không khích lệ căn, chớ không tạo ra công dụng. Nếu đối với cảnh giới sinh thiện, ông nên khích lệ căn, chính tạo nên công dụng, là đường cách biệt.”
Pháp sư Thái nói: “Lúc đi vào thôn xóm, thấy cảnh giới xấu ác, không khích lệ các căn. Nếu thấy ấp mẹ, thì liền sách tấn các căn để trụ trong chánh niệm “như nói hạnh tham là đối tượng mà quán bất tịnh điều phục” trở xứng, là thứ hai, so với bốn pháp quán dừng tâm còn lại, trước so sánh chung thì đồng. Sau làm rõ sự khác nhau là khác.
Quán Bất tịnh, trong đó chia làm bốn:
1- Giải thích về quán từ. Lại chia làm hai:
a- Giải thích về ba phẩm hữu tình tu pháp quán ban vui.
b- “lại, người kia không xả..”trở xuống, là nói về công hạnh từ thu nhập niệm trụ.
Trong phần trước, hoặc dục lạc không có tội, nghĩa là dục lạc không có tội ở cõi Dục.
Địa hạnh sơ, nhị có hỷ, lạc không có tội. Định thứ ba là niềm vui lìa hỷ không có tội.
Trong văn thứ hai nói rằng: “Hữu tình khác cũng đối với người kia, cho đến “như thế, gọi là tu thân ngoài, quán theo thân, nghĩa là hữu tình khác đối với người tu quán kia đồng nói: “Phẩm trong thân, oán của ta cũng là phẩm trung thân, oán của nhà kia. Như ta muốn vui trái với khổ, đối với thân, oán kia cũng muốn vui trái với khổ”. Lúc cảm nghĩ như thế, gọi là tu theo thân ngoài, quán theo thân.
“Như ta đã thế, các hữu tình kia cũng như thế”. Nghĩa là như tự thân của ta, có người trong thân, oán, các hữu tình kia cũng như thế. Có người trong thân, oán, như ta tự mình muốn mong cầu được niềm vui vượt hơn, các hữu tình kia cũng như thế. Nghĩa là như ta dù có người trong thân, oán, nhưng tự mong cầu niềm vui vượt hơn, các hữu tình kia tùy theo có người trong thân, oán cũng với thân mình cầu được niềm vui vượt hơn. Các hữu tình đó với thân mình đều bình đẳng. Đây là nói về thân mình, người đều bình đẳng cho vui.
Trong văn chỉ nói rằng: “Bình đẳng với mình, giống như mình, phải cho người kia niềm vui, đem cái biết bình đẳng cũng cho mình niềm vui, mình người đều cho, gọi là tu quán theo thân trong, ngoài.
Pháp sư Thái nói “Như ta đã muốn vui trái với khổ. Các hữu tình kia cũng muốn vui trái với khổ như thế. Ta phải cho hữu tình kia lợi ích, yên vui, gọi là quán trong ngoài.
Bốn niệm trụ này đều “duyên” các uẩn, gọi là hoại “duyên” Niệm trụ v.v... Đây là nói duyên chung năm uẩn, gọi là lìa duyên pháp niệm trụ. Tu thân niệm trụ sai khác: chỉ lấy các hiển sắc như xanh, v.v… các hình sắc như dài, v.v… thân nghiệp biểu nghiệp, khởi Thắng giãi đối với
ba phẩm, nên lập thân niệm trụ. Pháp sư Thái nói “Nếu bốn niệm trụ đã được thành thục, thì “duyên” chung các uẩn, gọi là hoại “duyên” niệm trụ. Nếu khi dùng phương tiện, chỉ lấy tướng sắc, chỉ thân niệm trụ, thì người kia lại nương tựa vào tác ý thắng giải, có thể chính thú nhập tác ý v.v... chân thật”
Từ trên đến đây, nói chung, là đối với tất cả hữu tình, giả tạo thắng giải kiến lập ba phẩm, cho là trong oán thân, nay nói thu nhập thắng giải chân thật, như văn. Pháp sư Thái nói “Ở mé tất cả ba phẩm chân thật trước, thường thông qua giả tưởng mà tạo ra ba phẩm có số lượng, nên không có phần ít tánh trong oán thân. Dưới đây, trong xem xét suy lường. Pháp sư Thái nói: “Quán Từ chân thật, được chia làm trăm phần. So với giả tưởng của phần đều có, giả tưởng thương xót không đến một phần trăm. Lại, phân tích Thật quán, cho là một ngàn phần giả tưởng, không bằng một phần ngàn, cho đến thật quán là phần tính số, giả tưởng không bằng một phần của thật quán. Lại, phân tích nhỏ nhiệm là phần Ổ-Ba giả không bằng một.
Phần Ổ-Ba Ni Sát Đàm, nghĩa là tối đa tối cực trong số, không có tên gọi là nào để phiên dịch.
Giải thích như trước nói. Nghĩa là có giải thích khác, như quán thương xót ở trước. Nay, giải thích môn sai khác rõ ràng này xong môn khác, như thuyết trong quán bất tịnh, so sánh rất dễ hiểu.
Thứ hai, giải thích trong quán duyên khởi, 1/ Quán duyên khởi. 2/ Từ duyên khởi hướng đến trụ niệm.
Người mới tu nghiệp, cho đến cảm được uẩn khổ lớn thuần là ở đương lai. Nghĩa là người mới tu nghiệp, nghe, tư duy đều phân biệt biết rõ, nghĩa là các hữu tình do ngu si, nên hiện thấy vô thường, bất tịnh, khổ và vô ngã, vọng chấp có bốn điên đão: thường lạc, ngã tịnh. Do ngu si, điên đão, phát ra các thứ nghiệp dùng làm nhân, tức ở hiện thọ mà khởi ra ái và về sau, khởi ái của thân hữu sau trong các tự thể của sinh. Do hai ái này đã thấm nhuần nghiệp. Căn bản của sự sinh đã tạo ra ở trước, cảm được khổ lớn thuần ở đương lai. Đây là quán người khác.
Từ đây trở xuống, là tự quán cũng sinh như thế. Nếu đối với tánh duyên các uẩn đến đi của mình, và người, tác ý tư duy duyên khởi, thì gọi là đối với nhân, thọ, tâm, pháp trong, ngoài, dứt tu quán kia, nghĩa là nếu “duyên” các uẩn đã thọ trong quá khứ của mình, và người, thì gọi là trong. Các uẩn chưa thọ ở vị lai, gọi là ngoài.
Thứ ba, trong giải thích về quán sáu giới có hai:
1) Quán chung các giới trong ngoài.
2) “Lại có môn khác” trở xuống, là chỉ quán sáu giới của thân trong.
Trong phần trước lại có ba:
1) Quán sáu giới thô.
2) “ Lại đối với bốn Đại chủng như thế v.v... ” trở xuống giả tưởng dùng tế để phân tích thô.
Thứ ba, “nếu đối với thân mình v.v... ” trở xuống là nói về thu nhập niệm trụ. Biết rõ trong thân bốn đại như thế, có tự tánh, giới tánh của các hạt giống của tất cả thức, đầy đủ nên nói năm căn, bốn đại và trong sáu thức, có cả hạt giống của sắc, tâm. Nay ở đây nói sơ lược có các hạt giống giới của tất cả thức trong thân bốn đại, là dùng tế để phân tích thô, văn chia làm bốn:
1) Phân tích bốn đại.
2) Phân tích không giới
3) Phân tích thức giới.
4) Phân tích mười cõi sắc.
Như phân tích bốn đại. Pháp sư Thái nói: “Nhờ nhân duyên giúp thân, nên cổ họng nuốt, do cổ họng nuốt này, chỗ cổ họng nuốt, gọi là cổ họng nuốt ở đây.”
Y cứ ở phần thứ hai kia, chỉ quán trong sáu giới của thân trong văn được chia làm hai:
1) Tác động quán thắng giải
2) Tác động quán chân thật
Trong phần (1) trước lại có hai:
a) Nói về quán nước, lửa, đất, gió, không.
b) Tổng kết, dựa vào gia hạnh bất tịnh, nhập sự khác nhau của giới.
Dứt ở quán tu thân, y cứ theo quán chân thật, nói rằng, do tác ý thắng giải như thế, cho đến tướng hư không giới, nghĩa là nêu lên tác   ý thắng giải ở trước: “Ta đã sống chết trôi lăn từ vô thỉ, đã trải qua các cõi vô lượng vô biên, vượt hơn nơi đây. Sống chết từ vô thỉ, đã trải qua các cõi qua nhiều thắng giải này, đã quán sáu giới như đất, v.v....” Dưới đây, là nói về nước, lửa, đất, gió, không, thức, như thứ lớp quán.
Thứ tư, giải thích về niệm A na ba Na, trong văn có ba:
1) Chánh quán gió hơi thở.
2) Nói về nhập thân niệm trụ.
3) Khuyên tu gia hạnh.
Trong phần (1) trước, đầu tiên là nói về phương tiện. Trước hết,
đối với nhà cửa, cổng v.v... khéo lấy tướng đó. Pháp sư Thái nói: “ Giả tưởng ở nhóm ngoài, như gió qua lại. Đối với nội tư như hơi gió thở qua lại đối với hai chỉ chính “ duyên” gió hơi thở ra vào bên trong, trong đo, trước lấy gió vận chuyển qua lại, các lỗ thô của vị trí hông, tim. Kế là, lấy dần nhiều gió, cho đến khắp tất cả lỗ chân lông, giód vào theo.
Như thế, có tất cả nhóm gió của phần thân đã theo, vô lượng nhóm gió chứa nhóm ở đây.
Thứ hai, nói về nhập trong ba quán của thân niệm trụ.
Thứ ba nói rằng: “ Nếu về phần mình khi sắp chết, mà khởi thắng giải, cho đến do “ pháp nhĩ” nên gọi là thân ở trong, ngoài, dứt quán  tu thân. Nếu, “ duyên” thân mình khi sắp chết, hơi thở vẩn chưa dứt; hoặc “ duyên” gió hơi thở lúc sắp chết đã dứt; gọi là “duyên” ở trong do “pháp nhĩ” nên có lý như thế. Khi chưa chếtgió hơi thở chưa dứt, gọi là “ duyên” ở trong. Đã chết, gió hơi thở đã dứt gọi là “duyên” ở ngoài. Nói chung hai thứ này được gọi là dứt quán tu thân ở trong ngoài.
Khuyến tu gia hạnh nói rằng: “ Khắp trong tất cả chánh gia hạnh cho đến như trước nên biết. Pháp sư Cảnh nói: “ khuyên người mới tu khắp trong chín thứ chánh gia hạnh, nên tu gia hạnh không có trái ngược thuộc về phẩm chỉ của A-na-ba-na như thế. Tám thứ chánh gia hạnh, như trước đã nói. Nay, giải thích sơ lược về nghĩa môn khác nhau của quán hơi thở.
Gia hạnh thuận không có trái ngược, trong chín gia hạnh, về nghĩa môn khác, y theo quán bất tịnh ở trước, nên biết tướng của chúng. Cũng có thể tổng kết bốn quán như từ v.v... với nghĩa môn khác nhau của quán bất tịnh là gia hạnh không trái ngược thuộc phẩm Chỉ. Tất cả môn nghĩa khác, như quán bất tịnh ở trước đã nói, nên so sánh mà biết.
Từ trên đến đây, đã dạy người mới học tu năm thứ quán đã xong. Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về nghiệp ban đầu, nghĩa là như giáo tu hành được định cõi Sắc, văn chia làm bốn:
1) Nói chính khi tu hành, thành ba lợi ích:
a) Sáng tỏ.
b) Chánh tri, niệm đủ.
c) Điều phục tham ưu. Trong đó nêu và giải thích kiết như văn.
2) “Trước hết khi phát chánh gia hạnh như thế” trở xuống, là nói trước năng dẫn sau.
3) “ Như thế, cho đến có tướng trước của người kia” trở xuống,  là nói về hạnh tăng dần dứt trừ chướng phiền não, tức có tướng, quán thong thả dần dần, nghĩa là đầu tiên, khởi khinh an, xả diệt dần, nên
gọi là thong thả,
Pháp sư Thái nói: “ Được trong trước của định, ở trên đỉnh đầu mình dường như có vật. Thể nặng mà khởi dậy. Về sau, tức là khắp thân khinh an”.
Thứ tư, “ từ đây về sau, người mới tu nghiệp, gọi là có tác ý” trở xuống, là nói được định cõi Sắc, trong đó, đầu tiên, là nói được định tác ý. Sau, nói về tướng trạng của người có tác ý.
 
 
 
/21
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »