DU-GIÀ LUẬN KÝ
QUYỂN 8 (Phần Đầu)
BẢN LUẬN QUYỂN 33
Thứ tư, trong văn xứ Du-già, trước có hai bài tụng nêu hai môn ấy. Sau, dựa vào môn để nói.
Nói hai môn:
1) Thu hướng thế gian.
2) Thu hướng xuất thế gian.
Thế gian, tức là chế phục “hoặc” được định, tu công đức hữu lậu của năm thông thế gian v.v...
Xuất thế, tức là mười sáu hạnh Thánh, cho đến được quả công đức vô lậu.
Nay, nói tu tập hai công đức này, tức là Thể của Du-già thứ tư. Pháp sư Cảnh nói: “Bài tụng trước nêu Du-già thế gian. Bài tụng sau, nói về Du-già xuất thế gian.
Y cứ Du-già đầu tiên, gồm có sáu môn:
1/ Nói về bảy thứ tác ý chế phục “hoặc”.
2/ Biện biệt rộng về tám Định.
3/ Nói về vô tưởng, Diệt Định.
4/ Biện biệt về năm thông.
5/ Nói về đời đời khác nhau của công đức hữu lậu.
6/ Nói về tướng của người lìa Dục.
Trong phần nói về hạnh xuất thế của bài tụng sau biện biệt, quán sát các Đế tức Kiến đạo trở xuống, là vẫn còn khởi tác ý Thắng giải của tướng liễu. Tác ý tướng liễu ở Niệm Xứ chung, riêng của năm pháp quán tâm. Tác ý Thắng giải ở bốn thiện căn, đều quán bốn Đế.
Như thật mà thông suốt, tức ở Kiến đạo xa lìa tác ý, thấu suốt chân như của bốn Đế, dứt trừ hẳn kiến hoặc.
Phân biệt rộng về người tu, tức là tác ý quán sát, quán sát hai “hoặc” mà kiến, tu dứt trừ, lại khởi gồm thâu tác ý ưa thích, tiến tới dứt
hai quả trong “tu hoặc”, cho đến tiến tới dứt tám phẩm của Phi tưởng xong, trở lại “tu hoặc”.
Lại nữa, khởi tác ý gia hạnh rốt ráo, tức là định Kim Cương dụ của đạo Vô gián thứ chín của Phi tưởng.
Rốt ráo là sau kia, tức là quả vị rốt ráo của gia hạnh, ở vô học, tận trí vô sinh. Pháp sư Khuy Cơ nói: 1- Một bài tụng nói về một Trì có bảy Môn. 2- Một Hạnh nói về bảy tác ý trong môn đầu, trước nói về bảy môn:
1- Tác ý.
2- Lìa dục.
3- Nói rộng các Định.
4- Hai Định.
5- Năm thông.
6- Sinh ra khác nhau.
7- Các tướng ra khỏi, Trì thứ tư, lấy đây làm thể.
Trong quyển ba mươi mốt, ba mươi hai ở trước đã nói chướng tịnh thứ tư. Nay, giải thích tu tác ý thứ năm, tức đại văn trong quyển ba mươi. Nay dựa vào phán quyết ở trước, nói theo môn thì: 1/ Giải thích sơ lược hai môn. 2/ Hỏi: “Trong đây có bao nhiêu thứ v.v... ” trở xuống, là nói rộng.
Trong phần trước, đã được tác ý, các sư Du-già đã hội nhập phần ít ưa đoạn như thế. Đây tức là kết phần đã nói ở trước. Người mới tu nghiệp đã được phần ít bảy tác ý thuộc về Địa Định, ưa dứt phiền não, ưa chứng Niết-bàn. Từ đây về sau, người mới tu nghiệp chỉ có hai thu hướng.
Trong phần nói rộng, đại văn chia làm hai:
1/ Đầu quyển này, nói về thú hướng thế gian.
2/ Giữa quyển nói về thu hướng xuất thế gian.
Trong phần ở trước:
a) Nói lược sáu môn.
b) Nói rộng sáu môn.
Trong phần trước, đại khái có bốn thứ hướng đến thế gian, phát khởi gia hạnh. Người thứ tư kia, nghĩa là tất cả Bồ-tát ưa chứng Đại Bồ-đề ở đời đương lai, chẳng phải hiện pháp. Pháp sư Cơ nói: “Đại ý ở đây nói quả Phật đương lai của Bồ-tát, chẳng phải pháp hiện tại. Đạo thế gian có thể hiện pháp gia hạnh, chỉ ở ngay trong sinh tử thành tựu chúng sinh nơi đạo gia hạnh của thế gian. Người nữ nếu tâm hướng đến quả vị Phật ở tương lai, thì hãy phát gia hạnh ngay đạo xuất thế. Nay,
nghĩa trước, lại có hai thứ:
1/ Còn trói buộc: là các phàm phu.
2/ Không còn trói buộc là các vị Hữu học.”
Hỏi: “Thế nào là Hữu học ưa thu hướng thế gian, phát khởi gia hạnh ư?”
Giải thích: “Thứ hai, thứ tư trong bốn người, phát tâm trở lên đều gọi là Học. Từng phần điều-phục “Tu hoặc”, gọi là không còn trói buộc, nghĩa là ở trước đối với Cõi Dục, quán là tánh v.v... thô, tức là lược phân tích bảy tác-ý lìa dục và các định. “Lại nương tựa Tĩnh lự v.v...” Trở xuống, là phân tích sơ lược về bốn môn sau. Pháp sư Thái nói: “Có bốn hạng người khởi sáu công hạnh điều-phục “hoặc”:
1/ Các ngoại đạo.
2/ Người tu hành định lâu trong nội pháp, chỉ dùng sáu hạnh để điều-phục các triền hiện-tại.
3/ Dù bản tánh Noãn v.v... nhạy bén, nhưng Noãn v.v... không nóng, vì không thành tựu, nên không thể khởi quán Đế, lìa dục, lại khởi sáu hạnh, điều-phục “hoặc”, khởi định, hoặc sinh lên Địa trên.
4/ Đại Bồ-tát để lại “hoặc”, vì chưa diệt hết, nên khởi sáu hạnh. Điều-phục các phiền-não mà phát thần-thông. Lại, nói rằng, “Hữu-học đã dứt bốn địa “hoặc”, vì có thể khởi Diệt Định, nên người Bất Hoàn cũng khởi sáu hạnh.” Đây là ngài Luận-Chủ nêu định vô tâm đáp lại câu hỏi trước: “Làm sao các quả sơ, nhị Hữu học lại không thể điều- phục “hoặc” để được định căn bản ? Nếu được định căn bản, thì ra được Diệt định? Dù đưa ra cách giải-thích này, vẫn không thuận với cách hành văn. Vì lẽ, trong đây dù nói về pháp hạnh của Thinh-văn, nhưng tổng kết hiện pháp lạc trụ, thế gian khởi gia hạnh, nên biện minh Đại Bồ-tát vì lìa dục cõi Dục trở xuống, là thứ hai, nói rộng sáu môn, tức là sáu đoạn. Đầu tiên, giải thích bảy tác-ý lìa dục có hai:
1/ Nói về bảy tác-ý lìa dục cõi Dục.
2/ Nói bảy thứ tác-ý lìa sơ Tĩnh-lự trở lên, cho đến dục của Vô Sở Hữu Xứ.
Trong phần trước, trước là nêu, chung, sau là giải thích riêng, trong đó có bốn:
1/ Theo thứ lớp, giải thích riêng bảy tác-ý.
2/ Nói khi tác-ý chuyễn biến, sự mừng vui tăng dần, cho đến đầy đủ trụ đối-trị tu quả.
3/ Giải-thích lại tác-dụng sai khác của tác-ý.
4/ Nói cung bốn tác-ý gồm thâu nhau.
Y theo đoạn đầu, trước là giải thích về tác-ý nghĩa là liễu tướng , hiểu rõ tướng thô cõi Dục, tướng tĩnh lặng của Sơ tĩnh lự.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trong Tiểu thừa, giải thích sáu hạnh đều phải tác-ý. Nay, Đại-thừa chỉ một hạnh là được ngay, không cần đủ sáu hạnh, tác-ý bất cứ một thứ nào trong sáu hạnh, thuận với chỗ Tạc-thọ, thì chỗ tham-dục nương tựa, là chỗ tưởng, tâm đảo nương tựa. Pháp sư Cảnh nói: “Đại thừa y cứ ở nghĩa tham để nói tưởng đảo, kể cả tâm- đảo, nên chỗ tham nương tựa tức là tưởng đảo, chỗ tâm đảo nương tựa. Thuận với chỗ không khổ, lãc thọ là chỗ ngu si nương tựa. Cho đến là chỗ Kiến đảo nương tựa. Nhân si khởi kiến, nên chỗ si nương tựa, tức là chỗ kiến đảo nương tựa. Trong đây, chủ-thể duyên, gọi là dục phiền não; đối tượng duyên, gọi là dục sự”.
Trong cộng tướng của Dục tầm, Từ nói rằng, tất cả dục, nghĩa là khổ sinh v.v... cho đến khổ cầu mong không được, không nói hành khổ thứ tám. Pháp sư Cơ nói: “Trong đây, y cứ vào thế gian đều biết mà nói, không y cứ ở khổ thắng-nghĩa để nói khổ thắng-nghĩa này, là tất cả dục và các sự đều có, nhưng khó biết, cho nên không nói.”
Nay, giải thích bỏ cái chung, y cứ riêng, nên lược qua không nói. Trong phẩm thô của các dục Tầm, tư nói rằng: “Cũng như bộ xương, cho đến như quả thọ đoan, đây là y cứ ở tám dụ để nói về lỗi.” Luận sư Thái Cơ cùng cho là trong đây, như bộ xương có thể xấu ác, như máu đọng lại, thịt không chắc, có thể xấu; như đuốc cỏ tắt trong phút chốc; như một phần lửa tro có thể đốt cháy núi, đầm; Một chút dục có thể tiêu diệt rất nhiều gốc lành. Pháp khác, như trước đã nói.
Lại, giải thích: “Dùng thân xúc chạm lửa, bèn trở thành bệnh nặng; trong không xúc chạm phải lửa, lại trở thành niềm vui kia. Dục cũng như thế”. Lại, nói “Như một phần tro có lửa, một phần không có lửa, có thể chán ghét”. Nghĩa này không đúng. Vì trong lý thô của Dục Tầm, Tư. Pháp sư Cảnh “Nói: Do tư tưởng lớn, theo đuổi, cầu mong v.v... lớn là đạo lý quán đãi. “Ăn có công năng đối trị khổ đói khát v.v...” trở xuống là nói về đạo lý tác dụng. Lại, các dục kia có hiện lượng, tỉ lượng của lượng Chí giáo, minh chứng thành đạo lý”. Lại, các dục đó từ vô thỉ đến nay v.v... ” trở xuống, là nói về đạo lý “pháp nhĩ”. Nay, phán xét đạo lý tác dụng thứ hai, từ “Lại, các dục kia dù khéo sinh khởi, dù khéo tăng trưởng, cho đến vì trừ bệnh, nên uống thuốc tạp nhạp dơ bẩn, là văn này. Còn lại như sắp xếp ở trước”.
Pháp sư Thái nói: “Nội Xứ cõi Dục có sắc căn, thân thô nặng không đồng với cõi Sắc, tế, nhẹ. Nuôi nấng thì dùng đoạn thực, mặc,
thì dùng xiêm y. hoặc bị người khác phá hoại, cắt đứt; hoặc là chết mất, pháp tánh tự nhiên lìa tan, tiêu diệt. Hoặc là thân mình, tùy theo đối tượng sinh khởi các thứ khổ não, thường phải đối trị.
Giải thích về tác ý xa lìa rằng: “Sinh khởi dứt đạo phiền não. Pháp sư Cơ giải thích: “Hai tác ý trước không nói dứt trừ “hoặc”, tác ý viển ly thứ ba, dứt trừ được phiền não, nên nói trước hết sinh đạo đoạn.
Hỏi: “Như chiếc cân hai đầu thấp, lúc ngang thì đồng nhau. Vì sao được tướng liễu, mà tâm cõi Sắc vẫn còn có “hoặc” của cõi Dục chưa dứt hết?
Thuật rằng: “Hiểu rõ tướng trở xuống là nghe, tư duy cõi Dục dù cho nhàm chán dục nhưng chưa thể thuận theo dứt “hoặc” cõi dưới. Liễu tướng thắng giải kia có thể thuận với xa lìa, dứt cõi Dục dưới, nên, hiểu rõ tướng thắng giải dù không dứt “hoặc” mà “hoặc” bất sinh, như người sơ quả chưa lìa dục tu mà được Vị Chí. Nay liễu tướng cũng thế. Chưa lìa “hoặc” v.v... của phẩm dưới, thì được tướng liễu. Khi tướng liễu khởi, tùy “hoặc” bất sinh, như lúc tâm thiện sinh, tâm ác không khởi, vì chẳng phải dứt, nên không khởi, vì tác ý xa lìa đã dứt, nên không khởi, vì tác ý sơ, nhị vẫn còn nên chưa dứt đối với địa vị Sơ, Nhị.
Nếu có gián đoạn khởi dục ác thì trong giải thích hai tác ý sau, Pháp sư Khuy Cơ lại giải thích rằng: “Giải thích về tác ý rốt ráo gia hạnh nói: “Do nhân duyên này, từ hệ thuộc cõi Dục, cho đến gọi là tác ý rốt ráo gia hạnh, nghĩa là trong đây giải thích về sáu hạnh điều phục “hoặc” không được chứng đạo Vô gián ở trên, cho nên nói tạm thời phục đoạn. Phục đoạnnày, nghĩa là hoặc điều phục tâm phẩm trên, hoặc điều phục hạt giống, cả hai đều phải điều phục. Làm sao biết được? Trong giải thích về tác ý sơ, nhị nói: “Tác ý thứ hai không bị nghe, tư duy xen lẫn. Dù “hoặc” bất sinh, vì chưa điều phục tâm trên, nên chưa được gọi là đạo Vô gián. Đến điều phục hạt giống trong tác ý thứ ba, công năng của quả hiện hành sinh trên, mới gọi là đạo Vô gián, đây gọi là hạnh hữu lậu. Nếu là hạnh vô lậu thì phải dứt hạt giống, mới gọi là đạo Vô gián, dù tâm phẩm thượng không sinh vẫn là đạo Phương tiện. Nay, ở đây cũng thế, điều phục tâm phẩm thượng là đạo Phương tiện, điều phục hạt giống là đạo Vô gián.
Tác ý thứ bảy từ đạo Vô gián này, do nhân duyên này chứng nhập Định v.v... của sơ tĩnh lự căn bản. Trong đây, ý của luận nói là đạo giải thoát thứ chín ở tĩnh lự căn bản; chín đạo Vô gián trước và tám đạo giải thoát đều ở trong định cận phần. Trong vấn đề này, có hai cách giải thích:
1/ Bắt đầu từ Sơ tĩnh lự cho đến đệ Tam thiền, chín Vô gián, chín giải thoát, hoặc ở giải thoát thứ chín trong cận phần; hoặc ở trong định căn bản. Nếu Bốn thiền trở lên, thì đạo giải thoát thứ chín nhất định ở trong định căn bản . Tám giải thoát trước, chín Vô gián trong cận phần. Vì sao? Vì ba tĩnh lự trở xuống, là căn bản có Hỷ, Lạc, nên trong Địa cận phần có Xả. Trong Địa cănbản, hoặc đi vào quán, hoặc dứt trừ “hoặc”, đều không có Xả thọ, do pháp tối tăm, nên quyết định không có, vì hỷ, Lạc sáng suốt, nhạy bén, nên có. Trong cận phần của địa kia, hoặc dứt trừ “hoặc”, hoặc đi vào quán, đều có Xả, chỉ đi vào quán được có Hỷ, Lạc. Hỷ, Lạc chẳng có khi nào dứt “hoặc”.
Ba tĩnh lự trở xuống, là có hai người lợi, độn khởi đạo giải thoát Vô gián. Nếu là người lợi căn, thì đạo Vô gián thứ chín ở cận phần tương ưng với xả. Đạo giải thoát thứ chín ở định căn bản, tương ưng với hỷ lạc. Nếu người độn căn, thì đạo Vô gián thứ chín sẽ ở Cận phần, tương ưng với xả, vì tâm chậm lụt, không thể nhanh chóng nhập định căn bản tương ưng với hỷ lạc. Đạo giải thoát thứ chín kia, tức ở định cận phần, tương ưng với xả.
Nay nói tác ý thứ bảy nhập định căn bản, tức y cứ ở người lợi căn, nhanh chóng có thể nhập căn bản, tương ưng với Lạc v.v... Tác ý thứ bảy này lấy ba tĩnh lự. Nếu ở Cận phần là đạo Giải thoát, tức tương ưng với Xả thọ. Nếu có định căn bản, là đạo Giải thoát sẽ tương ưng với Lạc v.v... Tĩnh lự thứ tư kia trở lên, tám giải thoát trước, chín Vô gián đều ở trong Cận phần. Nếu trong giải thoát thứ chín, tất nhiến, ở trong định căn bản, chứ chẳng phải ở Cận phần, đây là thắng nghĩa.
2/ Lại, nói rằng: “Nếu không phân biệt như thế, thì chín đạo Vô gián trước, tám giải thoát ở trong Cận Phần, đạo Giải thoát thứ chín ở trong định căn bản, bắt đầu từ sơ tĩnh lự cho đến Phi tưởng cũng thế. Vậy thì, nghĩa trước lấy gì làm chứng? Nếu giải thích chung về chỗ không phân biệt sáu tác ý trước là cận phần thì thứ bảy là căn bản, chỉ nói rằng, lấy chỗ đạo giải thoát Vô gián làm chứng. Chưa thấy văn nào lấy sự phân biệt làm mầu nhiệm, nên nghĩa sau, chính là lấy văn này làm chứng. Chỗ trước hội nhập văn này, như trước đây đã giải thích về người lợi, độn. (Đến trong Không xứ dưới đây sẽ giải thích rộng.”
“Lại, đối với xa lìa gồm thâu tác ý lạc lúc chuyễn biến hiện tại v.v... ” trở xuống, là thứ hai, thuyết-minh khi bốn tác-ý chuyễn biến, Hỷ, Lạc đầy đủ, trụ ở quả đối-trị.
Hỏi: “Vì sao trong bảy tác-ý chỉ thuyết-minh bốn tác-ý này là có sự thích hợp vui vẻ kia?”
Giải thích: “Xa lìa, gồm thâu rốt ráo gia hạnh lạc, ba thứ tác-ý này là đạo vô-gián, vì trực tiếp bỏ đi sự thô, nặng, nên thêm thích hợp vui vẻ. tác-ý của quả rốt ráo gia-hạnh dù chẳng phải đạo Vô-gián, nhưng chính có công năng dứt “hoặc”, mà là giải thoát, vì đầu tiên lìa dục rốt ráo, thêm thích hợp, vui vẻ nhiều, cho nên, nói riêng. Hai tác-ý trước trong ba tác-ý khác là đạo gia hạnh. tác-ý quán sát là đạo Thắng-Tấn, không đồng với bốn tác-ý ở trước, cho nên không nói.
Lại, “tác-ý liễu tướng đối với chỗ nên dứt bỏ,” trở xuống, là thứ ba, giải thích lại tác dụng khác nhau của tác-ý. tác-ý liễu tướng biết rõ về dục ác nên dứt trừ; lẽ ra Tĩnh lự được. tác-ý quán sát về giới hạn hiểu biết, lìa tăng-thượng-mạn. Năm tác-ý còn lại như văn.
Pháp sư Thái nói Tiểu-thừa thừa nhận chung về định Vị-chí không có Hỷ, Lạc thọ. Nay, theo luận này nói về Hỷ, lạc thọ: Xa lìa gồm thâu lạc, dứt phẩm Sơ và Nhị, ở định Vị-chí, Hỷ, Lạc đều hiện hành, nhưng vì Xả đã gián đoạn, nên thường khởi gia hạnh rốt ráo đều hiện hành Hỷ, Lạc, chưa khắp thân phần , cũng ngăn cách với Xả. Lúc kết quả, Hỷ, Lạc thường nối tiếp nhau khởi, nên không nói là luôn luôn. Pháp sư Cơ nói: “Hai tác-ý trước đều là đạo gia hạnh. Nay, ở đây chỉ lấy Thắng-giải làm chánh gia hạnh, nghĩa là nay, y cứ ở Xứ trên vượt hơn và tiếp cận chỗ của đạo Vô gián và không bị chỗ gián đoạn của nghe, tư duy, để nói, cho nên chỉ nói thắng-giải là chánh gia-hạnh. Quyển 28 ở trước y cứ ở sự thật để nói. Hiểu rõ tướng cũng là gia hạnh.
Lại giải-thích đây là chính thức phát gia-hạnh, chưa hẳn phân biệt rõ tướng chẳng phải đạo Gia hạnh, vì thắng-giải vượt hơn cận phần, nên nói định chính phát gia hạnh. Vả lại, nói thắng-giải là chánh gia hạnh, không ngăn ngừa sự hiểu rõ tướng, y cứ sự thật, nên không trái. Lại, vì sao dứt phẩm thượng nói là không nói lìa tăng thượng mạn? Lại, không dứt phẩm thứ ba, về sau, nói là lìa tăng thượng mạn? Mà dứt ở phẩm trung, hạ, về sau, nói là lìa tăng thượng mạn?
Có nghĩa là Sáu phẩm “hoặc” trước thô, dễ biết; ba phẩm “hoặc” sau tế khó hiểu. Dứt “Hoặc” của phẩm trung, thượng ở trước xong, không biết “hoặc” phẩm hạ khác vẫn tồn tại, bèn khởi Tăng-Thượng- Mạn cho rằng, chín phẩm đều dứt “Hoặc” hết, đã tu chứng, được căn- bản định. Nay, lìa mạn này, nêu sau phẩm “Hoặc” trong đoạn, nói là lìa Tăng-thượng-mạn, chẳng phải sau phẩm thượng, nói là lìa. Lại, “Nếu tác-ý liễu tướng” trở xuống, là thứ tư, đem sáu tác-ý với bốn tác-ý và hai trị nhàm, đoạn nhiếp thuộc nhau. Pháp sư Khuy Cơ giải thích, nay trong đây ý nói thuộc về bốn mươi tác-ý và bốn thuộc về đối trị . Về bốn
mươi tác-ý như quyển mười một ở trước đã giải thích. Nay, nói rằng, tác-ý liễu tướng, hoặc tác-ý thắng-giải, đều gọi là tác-ý Tùy-thuận đối- trị nhàm chán, hư hoại đều hiện hành, HAI tác-ý trước là Tùy-thuận. Lại, nếu tác-ý xa lìa, tác-ý rốt ráo gia hạnh, gọi là tác-ý đối-trị và đoạn đối trị đều hiện hành thì tác-ý đối-trị phải là hai mươi sáu. tác-ý đối-trị, nghĩa là do đối-trị này, nên chính Xả các“hoặc”, là hai đạo Vô-gián này; cho nên gồm thâu tác-ý đối-trị.
Lại, thâu về tác-ý lạc gọi là tác-ý đối-trị và tác-ý thuận thanh- tịnh, về tác ý thuận thanh tịnh phải là 27 tác-ý thuận thanh tịnh, nghĩa là tu sáu Tùy-niệm, tức Niệm Phật v.v... Hoặc gồm thâu tác-ý Lạc đoạn “hoặc” phẩm trung, nên gọi là tác-ý đối-trị, để nói về “duyên” sáu Niệm, tu lạc riêng, quán Niết-bàn Thanh-tịnh, Phật v.v... cũng gọi là thanh-tịnh. Vì “duyên” riêng ở đây, nên không cùng viễn ly đồng một chỗ mà nói. Lại, xa lìa ở trước v.v... vì không gồm thâu tác-ý thuận thanh-tịnh, nên hai tác-ý này đồng gồm thâu.
“Vì sao trong đây không gồm thâu bốn đối trị?”
Nghĩa là: “Vì ảnh hưởng, ở đây nói đoạn “hoặc”, chỉ xa lìa, nên biết là đối-trị.”
“Nếu vậy, thì vì sao không nói là “Câu hành”?”
Nghĩa là: “Đối trị là tuệ; tác-ý là Ý. Văn trước lại gồm thâu đối- trị. Ý và tuệ đều vận hành, nên gọi là “câu hành”.
Nay, trong đây chỉ nói tác-ý không nói đối trị, vì không có tuệ nên không nói câu hành. Lại nếu tác ý quán sát gọi là tác ý thuận Quán- sát, phải biết là 28 tác-ý thuận Quán-sát, nghĩa là quán các phiền não đoạn, và quán “hoặc” chưa dứt trừ, đạo lý các pháp đã chứng ở trước, đối-trị này so với trước, cũng là đối-trị viễn phần trì. Nay, vì lược qua nên không nói. Đối với xa lìa ở trước, vì là kia tiến đạo nên gọi là đối trị phần xa. Đối với gồm thâu tác-ý Lạc, là vì đạo giải-thoát, nên là đối-trị trì. Nay vì từ sau gồm thâu lạc mới nói, nên không nói đối trị gồm thâu nhau.
Vì ở trước đã không gồm thâu nhau, nên lại nói rằng: “Như thế, bốn thứ tác ý, còn lại phải biết là xếp vào sáu tác ý, nghĩa là tác ý tùy thuận v.v...
Nghĩa là: “Bốn tác ý là ngoài bảy tác ý, nên gọi là “khác”. Bốn tác ý này là tác ý trong bốn mươi tác ý. Nay, xếp vào sáu trong bảy tác ý, nên nói xếp vào sáu tác ý, cho nên nói xếp vào sáu tác ý.”
Hỏi: “Vì sao trong đây không nói về tác ý thứ bảy gồm thâu nhau?”.
Đáp: Vì tác ý thứ bảy là quả, còn bốn tác ý này và sáu tác ý trước đều là nhân. Nhân có thể nhiếp thọ nhau, chứ chẳng phải quả, nên không gồm thân tác ý thứ bảy. Trong đây lấy bảy nhiếp bốn mươi, nên chỉ nhiếp thọ bốn. Tác ý thứ mười một kia, văn dưới đây sẽ dùng bốn mươi nhiếp bảy, tức có bốn mươi tác ý trong bảy gồm thâu hết nghĩa. Nay dùng bảy gồmthâu bốn mươi, chư chẳng phải bốn mươi gồm thâu bảy, nên có không hết, không gồm thâu khác nhau, cần phải xem xét.
Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về bảy tác ý, lìa dục sơ tĩnh lự trở lên, cho đến Vô sở hữu xứ, trong đó chia làm ba:
1/ Nêu Sơ định, so sánh chung địc trên đều có bảy tác ý.
2/ “Nếu đối với có Tầm, có Từ v.v... ” trở xuống, là dựa vào Định trên, lìa Định dưới, có bảy tác ý.
3/ Lại, tướng thô kia. Trở xuống là nói dựa vào hai thứ tướng thô Tầm, Từ của sáu sự, y cứ trong giải thích riêng, người đã chứng nhập, đã được, vấn đề này có hai giải thích:
1- Thân ở cõi Dục, vì nhập Sơ định, nên gọi là đã chứng nhập; vì sinh lên Địa kia, nên gọi là đã được.
2- Vì chính thức ở Định, nên gọi là chứng nhập, dù không nhập vào được, nên gọi là đã được. Nếu ở Địa Định, cho đến đây gọi là Từ. Pháp sư Cảnh nói: “Hạnh Tầm, Từ này vì đã có thô, tế nên không được cùng sinh. Chánh tư duy trong tám chánh đạo là Tầm. Tầm lấy Tư và tuệ làm tánh. Chánh kiến cũng là tuệ. Không có hai tuệ trong một niệm, đều là nghĩa chỉ có thể nói là hai, cũng có thể chánh tư duy lấy Tư làm tánh; chánh kiến dùng tuệ làm Tánh, với thể riêng đều sinh.
Pháp sư Thái nói: “Danh ngôn có công năng giải thích pháp, ý có công năng phân biệt pháp. Tầm đều có ý thô, cũng có công năng phân biệt pháp. Phân biệt nghĩa pháp giống như danh ngôn, nên gọi là ý ngôn.”
Lại giải thích “Ngôn là ngôn tư duy, chứ chẳng phải ngôn ngữ. Ý và tánh của tư, gọi là ngôn “câu hành”, gọi là ý ngôn.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Danh, Tự nói thể của Danh là thô. Ý Tầm hay tư duy các pháp giống như danh ngôn, nên nói là tánh của ý ngôn. Lại, ngôn thuyết gọi là ngôn danh; tư duy gọi là ý danh; Tầm là Tư duy danh, nên gọi là ý ngôn. Tầm, Từ của Tiểu thừa tương ưng với căn bản.”
Có người nói: “Nay, Đại thừa không như thế, Tầm, Từ chỉ ở phương tiện”, là không đúng. Chỗ khác lại nói rằng: “Trong định không có Tầm, Từ, không phát ngôn ngữ tầm tư chứ chẳng phải không có
Tầm,Từ tế. Lại, phân biệt không có năm chi tĩnh lự căn bản lập chi. Lại, chính rõ biết Tầm, Từ như thế là pháp tánh bình đẳng của tâm. Nghĩa là chỉ hiều Tầm, Từ là tánh của tâm sở cùng sinh với tâm , không hiểu Tầm, Từ tự được tương ưng, nương tựa vào trong mà sinh, thể là pháp trần, thuộc về xứ ngoài.
Lại, chính thức biết rõ Tầm, Từ như thế thuộc về ba đời. Từ nhân duyên sinh cho đến theo đuổi các dục v.v... Nghĩa là quán Tầm, từ của sơ tĩnh lự tán, động, không tĩnh, theo đuổi các Dục và thuộc về phần ít ly sinh, hỷ lạc.
Thứ ba trong văn nêu: “khổ trụ tăng thượng.” Pháp sư Thái nói: “Hữu tình của địa dưới đã trụ năm uẩn, kể cả bốn uẩn, vì khô tăng thượng nên gọi là khổ trụ”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Nghĩa là địa dưới dừng lại ở khổ tăng thượng.”
“Lại nữa, người lìa dục trong đây..” Trở xuống, là thứ hai, nói rộng về tám định, sau, y cứ ở tĩnh lự và Vô Sắc đối nhau nói khác.
Trong phần trước, đầu tiên, là giải thích về lìa dục trong sơ tĩnh lự, pháp ác bất thiện có tầm, có từ, ly sinh hỷ, lạc, nhập tĩnh lự, an trụ đầy đủ.
Hai dục, hai ly... Nghĩa là tham gọi là dục phiền não; năm trần gọi là sự dục, lúc đối trị khởi với không tham, đều gọi là với tướng ưng với lìa nhàm trái với năm trần, gọi là lìa cảnh giới.
Nói ly, nghĩa là vì đã đạt được tác ý rốt ráo gia hạnh, vì được Vô gián thứ chín, nên lìa được các pháp bất thiện, nên gọi là lìa.
Nói sinh, là do sinh này làm nhân duyên Vô gián mà sinh, nên nói lý sinh, nghĩa là vì đã được đạo Vô gián thứ chín lìa hết dục ác. Từ Vô gián này được tác ý của quả rốt ráo gia hạnh đều cùng lúc có hỷ, lạc sinh. Nói hỷ, lạc, nghĩa là vì đã đạt được nghĩa đã mong cầu, nên ngang bằng.
Pháp sư Cảnh nói: “Lạc là hỷ thọ, chẳng phải số ỷ (khinh an). Nghĩa là Hỷ thọ này làm cho thân thích hợp, vui vẻ gọi là lạc.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Đây là y cứ đạo giải thoát thứ chín của lợi căn người nhập căn bản tĩnh lự, nên nói là sinh hỷ lạc. Nếu đạo giải thoát thứ chín của người độn căn thì ở định Cận phần về sau, mới nhập được căn bản, khởi sinh hỷ lạc, cho đến bảy ngày bảy đêm, có thể chính an trụ.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Nói về nhập định, có thể đến bảy ngày, đêm mới an trụ. Vì sao không nói nhiều thời gian, mà chỉ nói bảy ngày?
Vì rằng đoạn thục trong cõi Dục trải qua bảy ngày. Nếu quá bảy ngày xuất định, thân người kia liền hư hoại; Vì thế, không được trải qua thời gian lâu. Vả lại, được ngần ấy thời gian mới nhập diệt định, không bỏ nhiều năm, tháng. Nếu quá bảy ngày rồi xuất định, thì thân người kia sẽ bị hư hoại. Nếu xuất định trong bảy ngày thì thân thọ sẽ không hư hoại.
Nay, y cứ vào thời gian không hư hoại để nói, chỉ nói bảy ngày.
Hỏi: “ Quá bảy ngày rồi nhập diệt định. Nếu vậy, khi xuất định, lẽ ra sẽ chết? “
Nghĩa rằng: “ không đúng! Nhập trong nhiều giờ, vì nhờ sức định giữ gìn nên không chết. Nay, cũng xuất định, tức vì nhập định hữu tâm, nên cũng sẽ không chết”.
Hỏi: “ Cũng xuất diệt định, vì diệt định không giữ lấy thân, nên thân sẽ bị hư hoại hay không hư hoại ư?
Đáp: Hư hoại!
Kế là, giải thích về nội đẳng tịnh trong tĩnh lự thứ hai. Luận Tiểu thừa cho là tín. Lúc được định thứ hai, tìn biết cả phiền não của Địa định đều có thể lìa, nên tín được nói rõ ràng. Nay, trong Đại thừa dùng xả niệm, chánh tri, lìa đoạn tầm, từ, gọi là Nội đẳng tịnh. Lại do tâm hỷ dao động, phấn khởi, không yên tĩnh, nên không được gọi là xả niệm, chánh tri.
Trong quyển hai mươi bảy có văn nói về định sanh: Định sinh này khác với sơ tĩnh lự. Sơ tĩnh lự kia gọi là Ly sinh; Đây gọi là Định sinh. Sơ tĩnh lự kia được đầu tiên lìa cõi Dục, gọi là ly sinh. Đây là y cứ ở trước đã được định, nên nói là định sinh.
Nói hỷ lạc nghĩa là đã đạt được nghĩa mong cầu, v.v... định lạc Sơ, Nhị ở trước đều là Hỷ thọ, nghĩa chia làm hai: Nếu để cho bên thích hợp vui vẻ của A-lại-da thì gọi là lạc; còn khiến biên ý thức thích hợp, vui vẻ, thì gọi là hỷ. Ơ trước, mong cầu hỷ, lạc, tu định thứ hai. Giờ đây, đạt được nghĩa mong cầu. Pháp sư Thái nói: “ Hiểu tường tận chỉ thú của luận này, thì tầm, từ chỉ ở định Vị Chí gián đoạn khởi. Nay, khi được định phương tiện thứ hai cũng không có tầm, từ nên nói vượt qua. Từ sơ định căn bản Vô gián mà sinh hai định phương tiện, nên gọi là định sinh.
Trong giải thích tĩnh lự thứ ba, xả niệm, chánh tri đều đối trị hỷ, không đồng với chánh tri của luận Tiểu thừa, bảo vệ niềm vui của đương địa.
Pháp sư Thái nói: “Trong hai định đầu, đều không có lìa hỷ, lạc
và khiến cho ý thức nhóm không có phân biệt lạc. Tuy có xả thọ, nhưng với tầm, từ, hỷ gián đoạn khởi, chứ chẳng phải Vô gián xả.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tĩnh lự thứ ba trở xuống, là không có niềm vui như thế và Vô gián xả, nghĩa là trở xuống có thể của lạc là hỷ, thân, tâm thích hợp, vui vẻ là khác nhau. Nay, tâm thích hợp vui vẻ trong tĩnh lự thứ ba cũng gọi là lạc, vì niềm vui cùng cực, nên nói là địa dưới không có niềm vui này. Trong địa dưới dù có xả, nhưng không phân biệt rõ danh. Lại, vì có gián đoạn, chẳng phải Vô gián xả, nên nói không có. Chẳng phải xả có gián đoạn cũng không có gọi là không có xả.”
Trong giải thích tĩnh lự thứ tư nói: “ Lại nữa, vì thế của chủng loại đối trị trong đây giống nhau, nên cho khiến không xuất ly lạc v.v... vượt hơn trong địa tĩnh lự thứ ba, đây là giải thích cách giải thích trong kinh về ba tĩnh lự dưới đều có phân biệt chi của chủ thể đối trị. Đối với địa tĩnh lự thứ tư kia chỉ giải thích về tác dụng đối trị năng lìa khổ, vui không ngoài thể đối trị, do thế của chủng loại đối trị tịnh thứ ba giống nhau, nên lược qua không nói.
Dưới đây, phát ra tướng đối trị giống nhau cái gọi là xả niệm, chánh tri. Đây là xả niệm trong phần thắng tấn của địa tĩnh lự thứ ba nhàm chán niềm vui của địa mình, mong cầu định không khổ, không vui, thứ tư. Cho nên, có chung xả niệm, chánh tri. Nếu chính thức phát ra thể đối trị trong định thứ tư kia, thì chỉ là niệm chánh tri, vì bỏ đi niềm vui của địa dưới, nên nói rằng, thế của đối trị trong đây là giống nhau, nên lược qua không nói về niềm vui đoạn đối trị, mà chỉ nói là đối trị đã tạo nên sự ưa đoạn v.v...
Pháp sư Thái nói: “ Những gì gọi là chủng loại đối trị của định thứ tư này? Nghĩa là xả niệm chánh tri trong định thứ ba, vì chính trong định thứ ba này thường tu tập, nên nhập định thứ tư, tức là hay bỏ niềm vui vượt hơn trong định thứ ba. Niềm vui trong định thứ ba có thể khiến hành giả không xuất định thứ ba, vì trong bỏ phương tiện kia, chỉ nói đối tượng trị, không nói chủ thể trị. Do nghĩa này nên trong khế kinh nói rằng: “ Do ưa đoạn, nên tu định thứ tư, lúc bấy giờ đã có khổ, vui đều được tiêu diệt. Do niềm vui của định thứ tư vì quyết định nhân duyên ưa đoạn. Hoặc nổi khổ của hai định ở trước đoạn; hoặc niềm vui của bốn định hôm nay đoạn, nói chung, khi định thứ tư vui đoạn, khổ đoạn lo mừng ở trước mất. Chữ “tiên” (trước) trong kinh ấy là hướng lên địa trên, hướng xuống địa dưới. Hướng lên địa trên mà nói là khổ đoạn; hướng xuống địa dưới mà nói ưu, hỷ mất.”
Pháp sư Khuy Cơ nói “Xả niệm, chánh tri trong đây, gọi là chủ thể
đối trị. Niềm vui của thiền thứ ba, gọi là đối tượng đối trị. Trong kinh chỉ nói niềm vui bị dứt trừ, không nói là người năng đoạn Xả chánh tri, là vì thiền thứ ba đã nói về pháp hay đối trị Cã niệm v.v... với pháp hay đối trị của đệ Tứ thiền này giống nhau, nên gọi là chủng loại, vì danh thể giống nhau, nên nói là chủng loại. Vì đều là hai xứ dứt “hoặc” giống nhau, nên nói là thể giống nhau, vì lược qua nên không nói”.
Trong giải thích kinh này không nói về lý do của chủ thể trị thứ tư.
Nói là do, tức ở đây vì trường hợp tu tập nên tức là hay loại bỏ, khiến cho không xuất ly Tĩnh lự thứ ba. Vì niềm vui vượt hơn trong Địa tĩnh lự thứ ba, cho nên nói là do vì niềm vui dứt.
Trong đây, niềm vui trói buộc Tĩnh lự thứ ba, buộc ràng hành giải, làm cho không xuất ly Tĩnh lự thứ ba, không thể được định thứ tư trung thượng kia. Nay, thường tu tập xả niệm v.v... có thể loại bỏ niềm vui của Định này.
Nói: “Do nhân duyên này, hoặc ở trước đã dứt, hoặc nay đang dứt, nói chung là vui dứt khổ dứt, lo mừng ở trước mất. Nghĩa là vui dứt, gọi là nay dứt; thọ căn khác, gọi là ở trước đã dứt, nên trị hạ, trung phú nói: “Cho đến khi nhập sơ Tĩnh lự, ưu thọ mất”.
Trong đây, như quyển mười một trước nói: “Vì sao khổ căn trong sơ Tĩnh lự, nói là chưa dứt ư?”
Vì sự thô nặng của Phẩm kia vẫn còn chưa dứt.
Nếu thân ở cõi dưới thì có thể như thế. Vì sao người ở Sơ Tĩnh lự, khổ căn chưa dứt mà chưa hiện hạnh? Vì giúp đỡ kia, các khổ thuộc ưu căn đối nhau, người kia đã dứt, nên chỉ sự thô nặng kia mà chưa thể dứt. Nếu khổ căn trong Sơ thiền dứt, thì đây là hành giả nhập Tĩnh lự Sơ, Nhị, thọ địa vị sai khác sở tác, đối tượng tạo tác nên không có. Do cả hai đều cùng có Hỷ, Lạc, nên không có khác nhau, chỉ vì thô nặng mà chưa dứt, nên nói là có khác nhau. Nhưng trong kinh nói: “Do phát ra các Định thọ có khác nhau.”
Hỏi: “Chỉ do Tầm, Từ dứt không dứt, đâu không được khác nhau? Vì sao cần phải dứt khổ căn, mà nói là có khác nhau?”
Nghĩa là: “Tầm, Từ đối với hỷ, lạc vì chẳng che lấp nhau, nên không được vì dứt Tầm, Từ mà nói là hỷ khác nhau. Hỷ của Sơ thiền kia vì có khổ căn, nên chưa nói là thắng lợi. Hỷ của đệ Nhị thiền vì đã dứt khổ, nên hỷ đó tịnh vượt hơn. Nếu vì “có” “không” Tầm, Từ mà nói là khác nhau thì pháp “có”, “không có” vô lượng không đồng, thiền kia đâu khác nhau. Nay vấn nạn trái lại, rằng lạc, hỷ thọ lẻ ra không khác
nhau? Vì gốc khổ đồng với hỷ, lạc v.v... vì thọ nên che lấp nhau? Nếu không lấy dứt gốc khổ làm hỷ của thiền Sơ, Nhị, thì hỷ, lạc v.v... của thiền Sơ, Nhị sẽ khác nhau.
Trước kia khi Sơ thiền đã dứt khổ, nên đoạn thô nặng này, còn hạt giống kia không nói rằng: “Do đối với hư không khởi thắng giải, nên lỗi đầu tiên là nhãn thức như xanh, vàng v.v... tương ưng với tưởng. Kế là là nhĩ thức, thân thức và tưởng có đối của ý thức v.v... “duyên” năm căn; ba của lỗi của tĩnh lự thứ tư trở xuống, là “duyên” các thứ tướng của thức uống, ăn, bình, y v.v... cho đến dưới đây nói: “Phải biết rằng, trong đây dựa vào định cận phần chưa nhập căn bản, chỉ “duyên” hư không v.v...” Đoạn văn này nói Định không xứ nhất định có tên từ phương tiện. Lại, trong cận phần cũng “duyên” tất cả các uẩn Địa dưới: Nghĩa là dưới đây, “duyên” Hiển sắc trong tĩnh lự thứ tư v.v... cũng tạo nên quán xanh, vàng v.v... Vì dựa vào quán này, nên có sắc tự tại của định. Pháp sư Thái nói “Y cứ ở Hiển sắc để phân biệt về sự xuất ly siêu việt; y cứ ở sắc hiện tại để nói về tưởng có đối; y cứ vào tụ hình khác nhau để nói các thứ tưởng. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trong các thứ lớp đó, cho đến không tác ý chuyễn v.v... đây là y cứ thân ở địa dưới, dựa vào xứ hư không khi loại trừ tưởng sắc, đối với cảnh sắc cõi Dục cũng dứt trừ, nên nói là nhà vườn v.v... chẳng phải thân sinh ra dục cõi Sắc, nhập hư không mà có sự dứt trừ này. Phải biết rằng, văn dưới trong đây, nghĩa là thuật lại rằng: “Tĩnh lự thứ tư trở lên, trong đó, tác ý thứ bảy của chín đạo giải thoát chỉ ở trong định căn bản. Người mới được đạo giải thoát kia, vào thời gian một sát-na này, chỉ “duyên” các uẩn của Địa mình. Người với tâm sát-na thứ hai, được “duyên” uẩn của địa trên, địa dưới. Nay, vì y cứ ở đạo giải thoát của sát-na trước nhất để nói, nên nói là “cũng duyên” các uẩn của Địa mình. Nếu chín đạo Vô gián trước của Định cận phần thì chỉ “duyên” Địa dưới, vì sinh nhàm chán nên nói: “ cũng “duyên” các uẩn mà Địa dưới đã có. Tám đạo giải thoát ở trước cũng “duyên” các uẩn của Địa trên, địa dưới. Nay, vì nói theo đạo Vô Gián, nên nói: “Cũng “duyên” các uẩn của Địa dưới, mà chỉ không ngăn ngại Định cận phần và căn bản, chỉ “duyên’ các uẩn của Địa trên, dưới và Địa mình. Đối với tám đạo giải thoát của Định Cận phần không nói là biện luận về chín Vô gián, nên nói “duyên” uẩn của Địa dưới. Đối với định căn bản, nói là một sát-na ban đầu tiềm ẩn sát-na thứ hai, vì dứt trừ nên nói: “ Cũng “duyên’ uẩn của Địa mình, cho nên, trong văn luận không nói, chỉ “duyên’ uẩn v.v... của Địa mình, mà nói cũng “duyên”. Đạo giải thoát Vô gián này, như đã giải thích trong Sơ thiền ở
trước. Nếu so quyển thứ hai của Đối Pháp với luận Hiển Dương thì trái nhau. Như với luận Hiển Dương kia có Đại sư giải thích: “Luận sư Bị thuật lại cách giải thích của Ngài Tam Tạng: “Người khởi Không Định, có ba hạng:
1/ Bậc thánh được nhập định căn bản, “duyên” chung từ Địa trên, kể cả hư không.
2/ Nội Phàm phu, khi nhập định căn bản, nhờ sức huân tập nghe ở trước, nên “duyên” Địa trên và hư không.
3/ Ngoại đạo nhập bản định kia, dù “duyên” bốn uẩn của mình, và người, không “duyên” Địa trên chấp hư không định là quả cùng tột. Nay vì y cứ ngoại đạo, nên nói thế này: “Luận chủ của Đối Pháp cũng tạo nên cách giải thích này: Trong giải thích về Thức xứ quán Không xứ, nghĩa là muốn thực hiện quán thức Vô biên, trước hết phải nương tựa định Cận Phần của Thức xứ, quán nơi Không xứ. Vì đối tượng quán hư không đã vô biên, nên chủ thể “duyên” Không thức cũng vô biên. Nhân đây, tức quán thức Thức đương địa cũng vô biên. Nếu nhập Thức xứ căn bản thì tức là quán chung bốn uẩn của đương địa và bốn thức v.v...
Trong giải thích về Vô sở hữu xứ, nghĩa là Vô sở hữu xứ thật sự có bốn uẩn và sắc của định tự tại v.v... mà đã tạo bốn uẩn kia đều không có thắng giải của cảnh khác, nên có tác ý giả tưởng, lìa thức, lại không có một ít ngần ấy cảnh giới, nên nói rằng không có một ít sở hữu. Pháp sư Thái nói: “Vì tạo ra không có cảnh giới, nên có Vô Tướng đương tâm hiện rõ, dựa vào cái khác khởi gồm thâu. Luận Phật Địa chép: “Về lý chân thật, không có gồm thâu Viên Thành Thật; đối tượng mà tâm hiện, không có gồm thâu tánh y tha .”
Trong giải thích Hữu đảnh. Theo Pháp sư Cảnh giải thích vượt qua hai tưởng, gọi là phi hữu tưởng:
1/ Có tưởng sở hữu.
2/ Không có tưởng sở hữu.
Vượt qua Thức xứ trở xuống, là vì có tưởng sở hữu, nên nói rằng: “hoặc có tưởng sở hữu”. Lại, vì vượt qua tưởng của Vô Sở hữu xứ, nên nói rằng: “hoặc không có tưởng sở hữu.” Không có hai tưởng kia, gọi là phi hữu tưởng. Vì có tưởng tế, chẳng phải như các tưởng của hai định vô tâm đều không có, gọi là phi vô tưởng.
Nói “duyên” cảnh vô tưởng chuyễn. Nghĩa là cảnh giới sở duyên của tâm phi tưởng không có tướng mạo thô, gọi là “duyên” vô tướng, chẳng phải cho rằng chỉ “duyên” Diệt Đế, gọi là “duyên” vô tướng.
Pháp sư Khuy Cơ giải thích trong đây có ba:
1/ Chính nói muốn khởi định trên, nhàm chán Vô Sở hữu xứ mà là tướng thô, tức bắt đầu từ “Lại, chẳng đến bèn có thể từ bỏ tưởng Vô sở hữu đến nay.”
2/ Giải thích danh từ Phi tưởng, Phi phi tưởng, trong đó có hai.
a) Giải thích Phi hữu tưởng.
b) Giải thích Phi Vô tưởng.
Bắt đầu từ “Do nhân duyên này trước khi nhập định Vô Sở hữu xứ trở xuống, là đến cho rằng: “hoặc có tưởng sở hữu, hoặc không có tưởng sở hữu đến nay”, là nói Phi hữu tưởng; Thức xứ trở xuống, là có tưởng sở hữu. Vô Sở hữu xứ là không có tưởng sở hữu, cho nên nói rằng: “Phi hữu tưởng, tức chẳng phải có tưởng sở hữu và không có tưởng sở hữu, nay, chẳng phải có hai tưởng trước trong Hữu đảnh.
Trong Phi hữu tưởng có hai hữu tưởng xong. Nay, cũng chẳng phải hai vô tưởng trong Phi vô tưởng, cho nên y cứ phần thứ hai trong đoạn lớn thứ hai, kế là nói về Phi vô tưởng.
Vô tưởng có hai:
1/ Định vô tưởng.
2/ Diệt tận định.
Hai tâm định này đều diệt tận. Nay vì Hữu đảnh không như vậy, nên nói là phi vô tưởng, tức chẳng phải hai tưởng định.
Trong Hữu Đảnh kia có tưởng vi tế. Thứ ba, là nói về thời gian của Hữu đảnh kia vượt qua Vô Sở hữu xứ v.v... cõi dưới, và Cận phần của xứ mình mà nhập căn bản. Nghĩa là tức ở xứ này lúc khởi thắng giải trở xuống.
Thứ ba trong giải thích hai định vô tâm. Pháp sư Cảnh, giải thích: “Đầu tiên thuộc tướng hai người nhập hai định khác nhau, nghĩa là định vô tưởng chỉ nhàm chán về tưởng, tạo nên tưởng xuất ly, tu đoạn dần theo thứ lớp có thể nhập. Nếu định diệt tận từ tâm Phi Tưởng cầu tiến lên. Lúc tâm tiến lên, cầu đối tượng duyên cõi trên, rốt ráo không có sở đắc. Vì không có sở đắc, nên tức là tạm thời thôi dứt tác ý thọ, tưởng, tư duy từ thô đến tế, chín phẩm diệt dần, diệt mà không chuyễn.
Định Diệt tận trong hai định này, nghĩa là mới khởi trong thân cõi Dục. Do cõi Dục có giới pháp, nương tựa giáo pháp tu hành, nên được khởi đầu tiên . Về sau, dừng lại ở bốn định và sinh ở bốn không, đều được khởi sau.
Định vô tưởng. Quyển sáu mươi ba nói: “Trước kia ở định vô tưởng này khởi, về sau, ở cõi Sắc khởi lại hiện ở trước”. Câu-xá chép: “Hai cõi, đầu tiên, khởi diệt định, chung với nghiệp định, bất định sinh
ở sau.” Môn nghiệp của Đại thừa nói về nghiệp ba thời và nghiệp bất tịnh đều thông suốt định và bất định.” Theo văn của Quyết Trạch, tất cả La-hán khi sắp vào vô dư, thì phải nhập diệt tận định. Diệt sáu thức tâm, chỉ dừng lại ở Lại-da mà qua đời.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Hữu học như thế, đã lìa tham Vô Sở hữu xứ, đây là y cứ ở dứt “ hoặc đắc chứng.” Văn chỗ khác nói: “ chỉ người mới khởi diệt định của cõi Dục, đây là y cứ ở “duyên” giáo. Nếu khi sơ học, tất nhiên phải nương tựa cõi Dục. Về sau, lúc mới khởi, ở cõi Sắc cũng được. Như người chứng quả thứ ba, lúc ở cõi Dục ở trước chưa được định này, khi sanh về cõi Sắc rồi mới được định này. Nhưng do do ở trước ở cõi Dục, đầu tiên nghe giáo này, về sau, ở cõi Sắc mới sinh”.
Thứ tư, nói trong năm thông, đầu tiên nói lược, trước phải được tĩnh lự căn bản . Về sau, dựa vào tu thông suốt chánh pháp, lắng nghe, thọ trì. Đầu tiên, dựa vào tác ý văn tư, mà tư duy; kế là, nương tựa vào tác ý của địa định, biét rõ pháp nghĩa. Do biết rõ pháp nghĩa , tu trị tâm mình, phát sinh tu quả, Pháp sư Thái nói:” Có thời, có phần, nghĩa là phần ít thời gian, nên nói rằng có phát sinh tu quảtrong phần vị thời gian.”
“Lại, tức biết rõ như thế về nghĩa về pháp” trở xuống, là thứ hai, giải thích rộng, trong đó, trước là nêu chung mười hai tưởng; kế là, giải thích riêng; sau tổng kết tu tưởng dẫn phát năm thông v.v...
Y cứ trong giải thích riêng, chia mười hai tưởng thành năm loại. Dựa vào năm tưởng ban đầu, tu Thần, Cảnh, Thông; Dựa vào tưởng thứ sáu, tu Túc trụ thông, dựa vào tưởng thứ bảy, tu Thiên nhĩ thông, dựa vào tưởng ánh sáng, tu sinh, tử trí thông; dựa vào tưởng thứ chín, tu tâm sai khác thông; dựa vào ba tưởng giải thoát Thắng xứ, biến xứ sau, tu chủ thể dẫn các Thánh thần thông và chủ thể dẫn phát các thứ công đức bốn Vô ngại giải của Vô chánh nguyện Trí. Như Đố-la-miên, nghĩa là chiếc kén của giả tầm, gọi là Đố-la-miên. Lại, theo phương pháp của phương Tây, phần nhiều trải cỏ trênmặt đất để ngồi, hoặc như nung luyện thành thục, nghĩa là khi muốn có bộ lông thích hợp, tướng luyện lông, gọi là như luyện thành thục.
Thân tâm thuận hợp. Pháp sư Cơ nói “Tức thân đều có thể biến hóa. Nếu biến tức thân nghiệp; nếu hóa tức tâm biến hóa.
Tưởng Thắng giải, nghĩa là tức thuận về luận Tiểu thừa, với ý hiểu xa, làm thành hiểu gần v.v... Pháp sư Cơ nói: “Xa làm nên hiểu gần, nghĩa là nắm lấy dài làm ngắn. Gần, tạo ra hiểu xa, nghĩa là kéo ngắn làm cho dài ra, hiểu về tướng thô, tế là biến hình chất, tướng dất,
nước, tạo ra là biến bốn đại. Trong đây chỉ nói hai biến hóa là sắc, thinh, không nói trần khác, như luận Phật Địa giải thích rộng. Hoặc do một thân thị hiện nhiều thân, nghĩa là do tưởng thắng giải hiện hóa, vốn chỉ một thân, lại từ tâm hóa, hóa hiện nhiều thân. Hóa tâm thông là thuộc Thần cảnh thông.
Hoặc từ nhiều thân thị hiện một thân, nghĩa là vì thắng giải của ẩn hóa. Ngày trước hóa hiện nhiều thân, nay do thắng giải ẩn hóa, ẩn nhiều thân, chỉ để lại một hóa thân. Hai thân này do tưởng thắng giải mà thành. Hoặc vì hân kia xuyên thẳng qua các tường vách không có trở ngại, thậm chí như đi trên đất liền. Đây là do tưởng không giới mà thành. Hoặc như chim bay v.v... Đây là do tưởng nhu nhuyến cất lên nhẹ nhàng mà thành.
Đối với Phạm Thế, một phần tạo sắc của các bốn đại-chủng tự tại hồi chuyễn. Cảnh pháp-sư nói: “Sắc tạo có cả mười. Nay, chỉ thay đổi sắc trần , hoặc đồng với loại kia, hoặc không đồng loại, cho nên nói rằng: “Một phần sắc tạo.”
Thới Pháp-sư nói: “Hai thứ hồi chuyển:
1/ Người có thần-thông, thân qua lại tự tại.
2/ Chủ thể chuyễn biến một phần sắc tạo của Phạm-thế, hoặc xanh, hoặc vàng; tự tại hồi chuyễn, chứ chẳng phải chuyễn đổi một phần của tất cả lời nói.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Một phần sắc tạo, nghĩa là hai thứ sắc, mà thinh, nên nói là một phần; không hồi chuyễn xúc và năm căn v.v... vì chỉ cảnh ngoài, nên nói một phần. Lại, tùy theo đối tượng biến của định, chỉ có hai, biến một phần, không thể chuyễn biến tất cả Phạm-thế, nên nói một phần.”
Trong tưởng thứ sáu nói: “Nghĩa là do tưởng này từ phần-vị đồng tử cho đến nay, tùy theo sự nhớ nghĩ cguyển biến, như Luận Tiểu thừa nói là lúc túc trụ thông, trước, từ hiện thân già, tìm lùi về trung, niên, thiếu-niên, đồng tử, trẻ con, cho đến thân trước chết, có Túc-trụ thành. Nay, ở đây vừa nói rằng từ phần-vị đồng-tử đến nay, nghĩa là vì y cứ ở phương xa, nên nói như thế. Nếu niệm sau hình thành, thì sẽ xuất phát từ hiện thân hướng về trước tìm kiếm dần, cho đến biết được Túc-trụ của tử Uẩn mới thành, cho đến đối-tượng thọ hành ở trước theo thứ lớp không có vượt qua sự nhớ nghĩ biết rõ, nghĩa là y cứ vào lúc mới tu, cần phải theo thứ lớp từ sau tới trước. Nếu biết lại, hoặc theo thứ lớp, hoặc vượt qua tất cả đều biết.
Môn phải kỳ hạn trong tưởng thứ bảy, mọi thứ đều thành chỗ đã
cố gắng được gọi là chúng nghĩa ấp, hoặc chỗ rộng, dài. Pháp sư Thái nói Người phương Tây có hai thuyết:
1/ Chỗ chợ mua bán.
2/ Chỗ trẻ con nô đùa. Pháp sư Cơ cũng đồng với thuyết này.
Lại giải thích: “Lại, vì chỗ rộng, dài, lớn, mọi thứ cũng vô lượng, với ý lấy số nhiều.”
Trong tưởng thứ tám, Nghĩa là hoặc vách, núi che khuất, hoặc chỗ quá xa xôi, tạo ra tưởng ánh sáng soi rọi chỗ sở-tri, tưởng, thấy rõ ràng. Lại, lấy thiện, ác được khổ, vui, dẫn tu sinh tử trí thông, thấy phương- tiện kia kia của sinh tử, chỗ kia kia của hữu tình kia, từ cảnh mà đặt tên.
Trong tưởng thứ chín, nghĩa là hiểu rõ sắc-tướng của hữu-tình như hữu tham v.v... đổi thay khác. Ở đây, vì phần nhiều tu tập, nên phát sinh trí khác nhau của tâm tu quả từ cảnh đặt tên, cũng là công năng đặt tên. Pháp sư Thái nói: “Về lý, Nghĩa, sự của chúng sinh đều có tối tăm, nên nói rằng sự Nghĩa tối tăm. Lời nói được phát ra từ miệng, chẳng được thế gian ưa chuộng, vì thường đặt ra lời nói xấu xa mà không có gì để kế thừa, nên gọi là quê mùa.
Trong ba tưởng sau, văn chia làm hai:
1/ Nói tu ba tưởng, nên dẫn phát thần thông của bậc Thánh v.v...
2/ Nói thần thông của bậc Thánh, phi Thánh khác nhau.
Trong phần trước, tưởng giải thoát Thắng xứ, Biến xứ, nghĩa là trong có tưởng sắc, quán sắc ngoài, trong không có tưởng sắc, quán sắc tịnh xanh, vàng v.v... Hoặc trong Thắng xứ, quán bên trong không có tưởng sắc, quán một ít v.v... sắc ngoài. Hoặc trong Biến xứ, quán tưởng đầy khắp xanh, vàng v.v... vì đối với tưởng này, gần gũi tu tập, phần nhiều tu tập, nên có thể dứt trừ mọi bít lấp đã gây chướng ngại cho thần thông, có thể dẫn phát hơn hết thần thông của các bậc Thánh. Hoặc biến sự thông; hoặc Thắng giải thông. Biến là thể của thông; hóa là quả của Thông, cũng gọi là thần thông.
Thắng giải thông: nghĩa là xa tạo ra hiểu gần, trong khoảnh khắc duỗi cánh tay là đến Sắc Rốt ráo. Và tưởng đất thành nước v.v... gọi là Thắng giải. Bốn vô ngại giải của Vô tránh nguyện trí cũng nhân tu tập giải thoát v.v... trừ ngu cảnh giới mới có thể thành xong, cũng có thể có tướng trạng chuyễn biến của vật thể, gọi là biến; không bỗng nhiên mà có, gọi là hóa, thắng giải, như trước đã giải thích.
Dưới đây, giải thích khác nhau, Luận Trí Độ cũng thế. Hoặc có nghĩa riêng, thông thường sự hóa không quá bảy ngày; Bậc thánh lại
quá, có thể dẫn chứng Luận Trí Độ kia.
Từ đây trở xuống, là tổng kết, y cứ quyết trạch nói về năm thông đều là thế trí, cũng có thể điều mà người học được là hữu lậu, vì chưa hết lậu. Vô học vì lìa cái được trong thân lậu, nên cũng gọi là vô lậu.
Thứ năm nói về tu Định tịnh thế gian, sinh trong chỗ khác nhau. Pháp sư Cảnh nói: “Giải thích rằng: Ba tầng trời của Sơ định, từ lìa nhiễm cõi Dục làm tên, đều gọi là Phạm. Trời thứ hai, thứ ba từ ánh sáng của thân mạnh, yếu mà đặt tên;Trời thứ ba từ tịnh, lạc đã được khắp thân. Không khắp thân đặt tên. Tĩnh lự thứ tư, Thiên tinh liệt cư đều là Địa Vô Vân, đầu tiên được mang tên ấy, gọi là trời Vô Vân.
Trời thứ hai được mang tên từ ruộng phước hơn hết. Trời thứ ba, từ quả đã được mà đặt tên.
Kế là, Năm tầng trời Tịnh cư, do huân tu tạp nhạp nghiệp hữu lậu, vô lậu, sinh năm tịnh xứ, Không xứ định tùy theo ba người tu riêng thiện hạ, trung, thượng, sẽ sinh không xứ, thọ ba quả khác nhau, cho đến Phi tưởng cũng thế.
Trời kia gọi là trời Tùy hành, nghĩa là do các trời kia không có hình sắc, cũng không có nơi chốn. Nhưng chỗ cư trú có khác nhau: Bốn định được báo tuy theo phẩm hạ trung thượng đã tu hành mà sinh lên tầng trời kia, được quả báo hơn, kém, gọi là trời Tùy hành.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Trời Sơ thiền gọi là Phạm, phạm là thanh tịnh. Vì đầu tiên lìa dục, nên được tên Tịnh, nghĩa là do được niềm vui vượt hơn, nên vui vượt hơn được gọi là Tịnh.
Thiền thứ tư, là ba tầng Trời Phàm Thánh ở chung . Đầu tiên được mang trời Vô Vân tên, các trời khác, tùy theo phước tăng mà đặt tên, tên của năm tầng trời Na-hàm.
Trong giải thích cõi Vô Sắc nói rằng, trong chúng đồng phần của Trời Tùy Hành, nghĩa là các tầng trời của cõi Vô Sắc không có chỗ thọ báo riêng, vì ba phẩm Tùy hành thì thọ báo này, nên nói là trời Tùy hành. Nhưng ở đối tượng tạo tác có khác nhau, nghĩa là nghiệp của ba phẩm tạo nên có khác nhau.
Nay, Cách hành văn này lại đồng với văn luận Tỳ-bà-sa: Bốn không của sơ Định tu nghiệp ba phẩm, thọ quả không khác nhau. Ba tĩnh lự sau, tùy theo tu nghiệp ba phẩm, thọ quả có khác nhau.
-------------------------------
BẢN LUẬN QUYỂN 34
Từ đây trở xuống, là phần thứ hainói về thú hướng xuất thế gian, ở đây, trước là kết, sau là sinh, kế nói về bảy tác ý. Sau tổng kết.
Trong phần trước nói lần lược sinh khởi bảy thứ tác ý, cho đến chứng được quả A-la-hán. Ba phương tiện tu tác ý liễu tướng, tự hiểu rõ các tướng trạng mười sáu hạnh v.v... của bốn đế . Tu tác ý thắng giải trong bốn căn lành, do kiến tạo gần với công hạnh tu đế trong tâm thắng giải, tu tác ý xa lìa, trong kiến đạo, co thế thấy hết “ hoặc” của cõi Sắc, Vô Sắc, cho đến tám Vô gián vị lai Phi tưởng là gồm thâu phần vị đã tác động của tác ý lạc. Tác ý quán sát đối với xứ đã dứt, chưa dứt trong phần vị tu, có thể quán sát biết, dứt“ hoặc” Phi Tưởng, định kim Cương dụ của đạo Vô gián thứ chín là tác ý rốt ráo gia hạnh. Tận vô sanh trí là quả vị rốt ráo gia hạnh.
Mượn tướng trong văn để làm phân biệt, luận thật ở mỗi chỗ đều có bảy tác ý.
Y cứ ở phần thứ hai, trong phần nói về bảy tác ý dấy khởi sự tu tập theo thứ lớp, nếu dưa vào bốn câu trong bài tụng đề sắp xếp, thì nên chia làm bốn. Nay, y cứ vào văn này nhằm nói về thứ lớp của bảy tác ý nhằm tu khởi, tức thành bảy đoạn.
1/ Giải thích về tác ý liễu tướng ở đây có hai.
a- Lược nói dựa vào giáo pháp để Tu Tập, dùng mười sáu hạnh đđể rõ tướng bốn đế, gọi là liễu tướng.
b) Nói rộng về mười sáu hạnh nhằm hiểu rõ tướng bốn đế.
Trong phần trước, đế lý riêng, mỗi đế đều có thích biểu riêng, thích biểu đầy đủ, gọi là khéo nói.
Lại giải thích về pháp luân bốn đế trong ba pháp luân, gọi là biểu giản lược.
2/ Thứ hai, lấy bỏ danh làm nói rộng. Nói “hoặc” đã khéo tu tập về tác ý v.v... nghĩa là tác ý trong định Vị Chí đã khéo tu tập, hoặc được tĩnh lự căn bản Vô Sắc.
Y cứ ở nói rộng thứ hai, chia làm hai:
1) Giải thích riêng mười sáu hạnh, hiểu rõ tướng bốn đế.
2) Bày rõ về địa vị.
- Trong phần trước gồm có ba:
a) Nói về quán sát bốn đế cõi Dục
b) Nói về bốn quán đế của cõi trên.
c) “Phải biết rằng trong đây”.
Trở xuống, là tổng kết hai trí, tức là chủ thể sinh chỗ nương của pháp loại trí chủng.
Trong phần đầu trước là giải thích; sau là tổng trong phần trước, chia làm bốn:
a) Giải thích rõ về khổ đế, chia làm ba:
b) Nêu mười hạnh, ngộ nhập bốn hạnh.
c) Giải thích riêng mười hạnh nhập bốn hạnh.
d) Tổng kết mười hạnh thuộc về bốn hạnh.
3/ Trong phần giải thích riêng, đầu tiên tổng kết mười hạnh dựa vào ba lượng để quán, sau đó giải thích riêng.
Trong giải thích được chia làm bốn:
1) Năm hạnh đầu ngộ nhập hạnh vô thường.
2) Ba hạnh kế là hành của ba khổ: Lạc khổ, khổ thọ, và xả thọ, ngộ nhập hành khổ.
3) Hạnh vô sở đắc ngộ nhập “ không hạnh”.
4) Hạnh tụ tại, ngộ nhập vô ngã.
4/ Trong phần đầu, dùng ba lượng để quán tánh chất vô thường.
Y cứ phần đầu, nói dựa vào chí giáo nói rằng: “Như trải qua bảy ngày là nói rộng, tức trải qua kiếp. Vì nói việc của bảy ngày, nên gọi là trải qua bảy ngày. Kế là, nói về hiện lượng dựa vào giáo pháp sinh kính tin. Về hạnh vô thường được quyết định.
Do năng lực tăng thượng của tâm kính tin như thế nên thường tầm, từ, quán sát tất cả, hiện thấy không trái với tánh chất vô thường, nghĩa là ở trước an lập hai sự trong, ngoài: Trong là sáu xứ v.v... ; sự ngoài có mười sáu, thứ như văn đã nêu. Sự trong ở đây có mười lăm thứ đối tượng tác động đổi khác, cũng như văn nêu. Lại có tám thứ nhân duyên đổi khác, cũng như văn đã nêu.
5/ Trong giải thích dưới đây, từ sau tới trước, giải thích về tám thứ nhân duyên đổi thay khác. Kế là giải thích mười lăm sự đổi khác của sự trong: sau, giải thích mười sáu thứ đổi khác của sự ngoài.
6/ Trong giải thích tám nhân duyên đổi khác rằng: Gió bị người vổ trống vội vã, nghĩa là gió to nổi lên, quạt áo ướt v.v... nghĩa là có áo ướt, đôi khi đất ướt. Hoặc lúa mạ v.v... bị gió to quạt, làm cho khô héo, như người đời nói lúa mạ này quá khô.
Dưới đây là phần kết: Tất cả các pháp trong ngoài, sắc, Vô Sắc đổi thay khác nhau đều do tám nhân duyên như thế.
7/ Giải thích mười lăm việc trong rằng: “lời nói thô”. Pháp sư Thái, Pháp sư Cơ đồng nói “vì nóng, nên khô khan khi nói năng. Như
người đời nói: Lời lẽ khô khan nụ cười ướt át.
Loanh quoanh co quắp, nghĩa là do xúc đối với thuận lạc thọ; xúc nhận lãnh lạc; khi xúc “duyên” đối tượng sinh ra lạc, tự nó có thể phân biệt rõ phần vị của lạc thọ.
Pháp sư Cơ nói rằng: “Nay, vì mới nêu lạc, xúc, chưa nói về khổ v.v... nên nói là do xúc đối với lạc thọ xúc, tức là phân biệt với khổ thọ. Nhận lãnh lạc xúc khi “duyên” sinh ra lạc. “Duyên” lạc, xúc tức là cảnh, chủ thể sinh ra xúc lạc. Nay ý nói nhận lãnh thuận với cảnh xúc lạc lúc sinh ra niềm vui, có thể tự biết rõ là phần vị lạc thọ.
Trong 16 việc ngoài, Pháp sư Cảnh nói: “Sàu thứ trước là thuộc về sự thọ; Mười thứ sau, là sự dụng cụ mà thân nhờ vả. Sáu thứ thuộc về sự của thọ, là:
1, Sự của Địa.
2, Sự của vườn tược.
3, Sự của núi non.
4, Sự của nước.
5, Sự nghiệp.
6, Sự của kho lẫm
Mười vật giúp thân là:
1/ Thức uống,
2/ Thức ăn,
3/ Xe cộ.
4/ Quần áo.
5/ vật trang nghiêm.
6/ Sự ca múa, nhạc v.v...
7/ Sự đeo tràng hoa thơm.
8/ Sự dụng-cụ nuôi dưỡng.
9/ Sự sáng, tối.
10/ Sự nam, nữ.
Nếu y theo danh đã nêu ở trước, thì thức uống, ăn đều là một sự. Nay, trong giải thích, thức uống ăn hợp thành một giải thích.
Thứ ba, trong lấy tỉ-lượng quán vô-thường. Rằng, tức do sức tác-ý tăng thượng hiện không thấy như thế nên quán sát tánh chất vô thường của sự đổi khác. Đây là nhắc lại kết ở trước, cho đến “nên chính so sánh, v.v... đến nay, là nói về pháp của các sắc v.v... phần lớn diệt, hoại dễ biết, sát-na sinh diệt khó biết, vì vi tế.
Nay, muốn phân tích trước về phát ra đầu mối của Luân. “Thế nào là so sánh, suy lường” trở xuống, là chính thức nói về vô-thường tế,
ở đây có hai:
1/ Lấy thô sánh với tế.
2/ Lấy quả hiện đã thọ lãnh để so sánh với nhân không hiện thấy trong quá-khứ.
Trong phần trước, dựa theo Pháp sư Khuy Cơ giải thích, cho đến: “Thế nên, các hành nhất định phải có sát-na sinh diệt đến nay”, là nói do đó có sinh diệt tiểu vi-tế, nên được có sinh, diệt biến đổi, chứ chẳng phải do pháp dừng trụ mà có sự biến đổi, chẳng phải do thấy sự sinh, diệt v.v... nhỏ bé mà biết có nghĩa sinh, diệt rộng lớn.
Từ “Các duyên kia kia vì hòa hợp có trở xuống, cho đến sinh xong, không đợi nhân duyên diệt hoại, tự nhiên diệt, hoại đến nay”, là giải thích vấn nạn điều phục rằng: “Diệt có nhân-duyên, nghĩa là vấn nạn điều phục rằng: “không biết sinh, diệt dều có nhân duyên phải không?” Nay, nói chung Pháp này do các duyên hòa hợp nên có sinh, sinh thì có nhân duyên, không đợi nhân duyên mà tự nhiên diệt hoại, tức pháp diệt không có nhân duyên.
Từ “Như thế, đã có nhân duyên đổi khác, cho đến hoàn toàn không sinh khởi đến nay, là nói về giải thích vấn-nạn điều-phục rằng: “Như thế, mặt trời chiếu lá xanh, làm cho nó vàng, là xanh này há không do mặt trời nên khiển màu xanh không biểu hiện, tức mặt trời là duyên màu xanh hư hoại?”
Nay, giải thích rằng mặt trời, có thể đổi thay màu xanh thành màu vàng úa. Như thế, sao ông nói mặt trời là nhân-duyên của sự thay đổi khác? Vì mặt trời này chính là nhân-duyên của màu xanh vàng úa sau, chứ chẳng phải nhân duyên của màu xanh hư hoại ở trước. Vì sao? Vì người đời hiện thấy màu xanh ở trước diệt mất rồi, hiện đang thấy màu vàng úa sinh sau. Màu vàng úa này không giống với màu xanh, có thể được màu vàng này sinh là màu xanh, nên biết được mặt trời làm duyên cho màu vàng úa sinh, chứ chẳng phải màu xanh diệt làm duyên. Nếu mặt trời chiếu màu xanh hoại rồi, về sau, màu vàng bất sinh, thì có thể mặt trời làm duyên cho màu xanh. Sự tắt mất có duyên sinh màu vàng úa sau, tức có sinh, chứng tỏ rằng mặt trời làm duyên cho màu vàng sau sinh, chứ chẳng phải màu xanh hoại làm duyên, chẳng phải tất cả Pháp kia hoàn toàn không thể được. Nếu màu xanh mất rồi, tất cả Pháp sau hoàn toàn không thật có, tức mặt trời làm “duyên” cho màu xanh hoại” Dưới đây giải thích ngược lại: “Hoặc có các hành đã diệt hoại rồi, cho đến cũng không thể được đến nay”, là vấn nạn của ngoại đạo. Nếu diệt này đã có pháp khác sinh, có thể giải thích như trước. Nếu pháp này diệt
rồi, không có pháp khác sinh, thì làm sao nấu nước, làm “duyên” cho nước cạn hết, cho nên biết pháp diệt được có nhân duyên.
Nói “Pháp kia cũng là nhân-duyên sau sau, lần lượt cho đến tác động sự như thế đến nay”, Luận-Chủ giải thích: “Ở đây đồng với giải- thích trước: nấu nước, nước, lửa đều có làm “duyên” cho pháp sinh sau, sau. Sau cùng, lúc không có nước, không do lửa làm cho không có nước. Thế nước tự nó không có khiến cho lửa không có “duyên” Pháp sinh sau, cho nên, giờ đây, pháp diệt cũng không có nhân-duyên.”
Pháp sư Cảnh nói do sức lửa nên giúp cho nước tăng trước trước, sinh nước giảm sau sau, cho nên, lửa là nước tăng trước so với nước giảm sau, để làm nhân cho sinh . Nước tăng trước trước sinh rồi, tự diệt, lại không đợi nhân, cho đến niệm sau cùng, nước không thể làm nhân lại sinh ra nước sau tự nhiên diệt mất. Cho nên, nước sau lẽ ra bất sinh, gọi là nước tiêu hết, chậu đựng nước vỡ nát cũng thế. Đại ý đồng với cách giải thích của Pháp sư Cơ. Pháp sư Cơ lại giúp cho vấn nạn: “Tức mặt trời làm “duyên” cho màu vàng sau sinh, cũng làm “duyên” cho màu xanh trước diệt, há không được ư?”
Đáp: “Không đúng!Vì nếu một nhân-duyên có thể sinh, diệt thì sự sinh, diệt sẽ trái nhau, duyên đã trái nhau, làm sao là một được? Nếu duyên năng sinh là một, thì pháp được sinh lẽ ra không trái nhau, lẽ ra cũng là một? Lại, nếu Pháp diệt có nhân-duyên, thì nhân-duyên có thể có pháp sở hữu tức là diệt. Diệt là nhân duyên, có nhân-duyên tức là chủ-thể sinh, đây là nhân duyên sinh sinh, đâu có quan hệ với sinh, diệt. Cho nên, biết pháp diệt tự nhiên diệt.
Thứ hai là dùng quả đã thọ trong hiện tại để so sánh biết ở quá- khứ không hiện thấy trong nhân. Rằng, nếu chỉ dùng tự-tại kia làm “duyên” thì các hành này và tự-tạikia lẽ ra đều cũng vốn có, đâu cần người sinh? Ý vấn nạn này, nếu tự-tại là vốn có, thì cũng có lúc tự-tại, thì có các hành. Các hành đã đồng thời với tự-tại, nên biết các hành cũng là vốn có. Nếu là vốn có, tức là thường trú, không nên gọi là “hành”, vì “hành” trong nghĩa kia chẳng phải vốn có.
Người khác đã thấy vấn nạn này rồi, bèn lại lập luận: “Tự tại là tự vốn có, còn các hành thì mới sinh ở sau”, nên kế nói rằng: “Nếu nói ở trước có tự-tại v.v...”. Thấy họ thay đổi lập-trường, Luận-chủ lập tức vấn nạn liên tiếp: “Nếu hành tự tại về sau mới sinh, thì đây là các hành chứ chẳng phải chỉ tự-tại sinh. Lại, vì dùng duyên riêng, nên kế luận rằng: “Đây là các hành không chỉ tự-tại làm duyên sinh khởi. Nếu dùng tự-tại làm “duyên”, thì vì khi tự-tại có, sẽ có các hành, nên tức lẽ ra
đều cùng vốn có. Nếu các hành mới sinh, thì đây là do kỳ nguyện, nên kế là cáchành sau mới phát. Nếu các hành dùng dục để kỳ nguyện làm nhân, thì vì sao chỉ nói tự-tại làm nhân? Cho nên, kế nói rằng: “Nếu nói tự-tại tùy theo công dụng kỳ nguyện v.v... mà người ta đã muốn, đã tha hồ lấy dục làm nhân, thì càng phải gạn phá”, nên kế nói rằng: “Nếu vậy, thì sự ham muốn này có nhân chăng? Giả thuyết “dục” có nhân, tức dùng tự-tại làm nhân, thì vì tự-tại vốn có, nên “dục” lẽ ra cũng vốn có. Khi có tự-tại, tức là có dục, như đã phá các hành ở trước, nên kế nói rằng: “Nếu nói có nhân, thì dùng tự tại v.v... Muốn dùng tự tại làm nhân, đã phá rồi, sau, lại còn có nhân khác chẳng phải dùng tự-tại làm nhân”. Nếu vậy, muốn có nhân riêng , như các hành ở trước, dùng công dụng riêng của dục để cầu nguyện làm nhân. Nay, nói: “Lại, dùng công dụng của dục để cầu nguyện pháp riêng ngoài tự-tại làm nhân, đây là các hành có riêng sinh nhân , đâu nêu vọng chấp không có dùng tự-tại”, cho nên kế là nói: “Nếu nói dục này còn có nhân v.v... khác, như thế, đại khác do ba năng lực tác-ý tăng thượng, cho nên đồng, nghĩa là kết tác ý của ba lượng trên.”
Kế là, nói trong hạnh lìa riêng, đầu tiên là nhắc trước, để khởi sau, kế là, giải thích; sau, là kết.
Trong phần trước nói rằng: “Năm hạnh v.v... đã nêu ở trước: quyển đầu nói: “Do mười thứ ngộ nhập Khổ Đế trong bốn hành khổ phẩm hạ, ngộ nhập vô thường trong năm thứ hành ở trước, hành thay đổi khác trong năm hành này, tức ở trước đã nói về tám nhân duyên, mười lăm thứ, mười sáu thứ v.v... thay đổi khác”.
Thứ hai, là Hành diệt hoại, tức trước đây đã nói về sự so sánh, so lường có sát-na sinh, diệt v.v... là hành diệt, nên nói: “Đã nói về hai hành”. Nay, thứ ba, “Sao lại do lìa riêng hành, nên quán tánh chất vô thường?
Trong giải thích nói: “Phi ái” là oán và của cải v.v... chung, nghĩa là đồng tài, hoặc do hạnh ác gia hạnhmất mát hư hoại, nghĩa là vì tạo ra mất lợi, gọi là ác tác.
Trong pháp tánh hạnh nói: “Nghĩa là tức sở hữu đổi thay khác vô thường v.v... Ở đây ý nói như lạc thọ hiện tại, chính khi thức thọ niềm vui chưa đổi thay vô thường, dùng ba thứ hành vô thường đổi thay ở trước để quán lạc thọ hôm nay đối với đời sau, tất nhiên, sẽ vô thường.
Như thế, thông suốt qua lạc thọ như thế, đến đời sau, chắc chắn sẽ vô thường, nên gọi là tánh pháp vô thường.
Hành hợp hội, nên quán vô thường: tức dùng ba thứ vô thường
ở trước để quán pháp hiện tại. Vì kết hợp, hội tụ với ba thứ vô thường này, nên gọi là hợp hội vô thường, tức lạc thọ ở trước truyền vào ba vô thường này trong đời hiện tại.
Thứ hai, là nói về ba hành ngộ nhập trong Hành khổ, rằng: “Như thế, do đạo lý chứng thành và vì tu tăng thượng cho đến thu nhập Hành khổ”, là kết trước, khởi sau, nghĩa là trước đã nói về lượng Chí giáo, và hiện thấy và so sánh so lường. Ba thứ này chính là đạo lý chứng thành trong đây. Và vì tu tăng thượng, tức hiểu đạo lý của Chí giáo”. Kế dưới đây nói: “Nương tựa giáo hạnh: sức tác ý tăng thượng đức tin tịnh, hoặc do sức tăng thượng hiện thấy; hoặc do như thế là vì sức tăng thượng so sánh suy lường, là trong đây và vì tu tăng thượng.
Hiểu lượng Chí giáo v.v... kia trở xuống, là mỗi pháp quan riêng, tác ý này tức tu tăng thượng.
Kế là, giải thích, sau là kết. Giải thích cách giải thích thứ hai, trước hạnh không đáng yêu, kế giải thích thứ nhất, do hạnh kiết phược với thứ lớp trong nêu danh không đồng.
Thứ ba, là giải thích hạnh không yên ổn, trong phần đầu “Thực hiện tư duy này, các hành như thế đều là vô thường”, cho đến “Như thế do hạnh không đáng yêu thu nhập hành khổ v.v... ”, Pháp sư Khuy Cơ giải thích: “Theo văn dưới nói: “Về chủ thể thuận theo các hành khổ thọ và trong khổ thọ, ái hạnh không đáng yêu thu nhập khổ khổ, tức dùng hạnh này thu nhập khổ khổ trong ba. Bảy khổ trước thuộc về hành không đáng yêu này, bảy khổ đều là khổ khổ. Nếu theo luận Đối Pháp và văn ở chỗ khác thì năm khổ trước trong bảy khổ là khổ khổ; hai khổ sau là khổ hoại , trái với văn này”. Lại giải thích: “Bảy khổ trước đều là ái hạnh không đáng yêu. Trong bảy hạnh không đáng yêu thì năm hạnh trước là khổ khổ, nay hạnh không đáng yêu là hạnh kiết phược, hành không yên ổn. Ba hành này và ba tướng của ba khổ, vì từ gồm thâu, tức tướng từ gồm thâu trong không đáng yêu, dù chỉ có hai khổ, nhưng đều thuộc về hành khổ khổ. Vì ít theo nhiều, nên cả hai khổ đều là hạnh khổ khổ. Vì ít theo nhiều nên hai khổ đều là khổ khổ. Lại vì khổ này thuận với sinh khổ thọ v.v... Nên dù có bảy mà đều là khổ khổ. Vì sao? Vì kế là thứ hai, nói trong hành kiết, phược do hành kiết, phược thú nhập hoại khổ, tức ở chỗ kiết, phược tham ái, lại sinh ra tham ái v.v... chiêu cảm (gây nên) uẩn khổ lớn thuần túy sinh, già, bệnh, chết v.v... tức bảy khổ thuận sinh lạc thọ là khổ Hoại. Cho nên, biết thuận sinh khổ thọ là khổ khổ, vì thuận với phi khổ, lạc thọ, sinh Xả thọ là hành khổ. Dưới đây là phần kết thu nhập ba khổ. Văn luận trước, sau không đồng là dùng tánh,
tướng để tìm kiếm nghĩa “Tùy” là hiểu rõ. Lại, gồm thâu môn nghĩa khác nhau. Luận Đối Pháp kia y cứ ba khổ, gồm thâu tám khổ, nên biết năm khổ là khổ khổ. Luận này lấy ba hành gồm thâu tám khổ, nên hành không đáng yêu là bảy khổ trước. Nay vì ba khổ gồm thâu ba hành, nên khổ khổ gồm thâu hành không đáng yêu là khổ khổ, không lấy khổ khổ gồm thâu hành không đáng yêu thuộc về bảy khổ làm khổ khổ. Vì thế không trái nhau.
Môn nghĩa gồm thâu riêng, nói về hữu lậu, “hữu thủ”. Pháp sư Cảnh nói: “Lậu là phiền não, Thủ chỉ là ái. Trừ diệt các khổ, tập khác của ngoại đạo, đều là chủ thể sinh ra lậu. Lại, từ duyên sinh, gọi là hữu lậu. Từ “Thủ” mà sinh, lại vì kiết sinh “thủ”, nên gọi là “hữu thủ”. Do hành không yên ổn thuận theo trong uẩn phi khổ, lạc, thu nhâp hành khổ, nói chung là thể của hành, tức lấy tất cả thuận với các uẩn hữu lậu của ba thọ. Trong văn vì phân biệt thuận với các uẩn khổ khổ, khổ hoại, cho nên, chỉ nói là thuận với các uẩn hữu lậu phi khổ, lạc, dùng làm hành khổ. Trong đây do nói Lại-da, gọi là thuận với “uẩn xả”, do có hạt giống khổ, lạc theo đuổi nhưng trong văn nói thuận với tất cả hạt giống khổ lạc đã theo đuổi các uẩn không chỉ lấy Lại-da kia, nên biết ở đây y cứ ở chỗ chưa lập Lại-da để nói cho nên nói chung, các uẩn khổ, lạc hạt giống tùy theo.
Như thế, do hành kiết, phược, kể cả các thọ sở hữu đều là khổ, nghĩa là đem khổ này để nói về ba hành hội tụ với ba thọ mà trong kinh đã nói, đều là ý khổ.”
Nói về hạnh vô sở đắc, thú nhập không hạnh. Pháp sư Cảnh nói: “Quán tâm nối tiếp nhau, lìa pháp thứ hai chỉ có tâm mình vì ngoài tâm không có ngã, nên gọi là “không”, tức uẩn, ngã là không gọi là vô ngã.
Nói về hành không tự tại, nhập hạnh vô ngã . Pháp sư Khuy Cơ nói: “hai hạnh không, vô ngã đâu có khác nhau. “Không”, nghĩa là nhất định ở thể; vô ngả nhất định ở dụng, tức chấp có tự thể, gọi là “hữu”, lấy “không”để dứt bỏ, chấp có dụng; gọi là ngã, dùng vô ngã để dứt bỏ.
Trong giải thích tập đế có ba lần “Lại nữa”.
Trong “lại nữa” ban đầu, giải thích nhân, tập khởi, duyên rằng: “nghĩa là biết rõ ái, vì chủ thể, dẩn sinh khổ, nên gọi là nhân”. Pháp sư Cảnh nói: “Chỉ có ái kia, hẳn có công năng dẫn sinh khổ, nên ái đối với khổ, nói chung là nhân”.
Pháp sư Khuy Cơ nói “Nếu ở hiện tại gặp phải một cảnh lạc thọ,
qua đó khởi ái thì phải biệt rằng, huân xông ái trở thành hạt giống. Khi ái này đã thành hạt giống, lại giúp cho hạt giống sinh v.v... ở đời sau sẽ được tăng trưởng trong đó. Áii này đối với hạt giống sinh v.v... này, có thể dẫn sinh, nên gọi là Nhân. Đã dẫn sinhkhổ rồi, lại chiêu cảm, nhóm hợp, làm cho nghiệp kia sinh, nên nói là Tập”.
Pháp sư Cảnh nói: “Ái dẫn khổ xong, lại chiêu cảm nhóm họp nghiệp để cho khổ đương lai sinh, gọi là Tập.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tức ái ở trước, chủ thể thấm nhuần chi hành đều thành hữu tập sinh ra quả đương lai. Ái này có thể gom góp nghĩa khác, gọi là tập. Đã sinh khổ rồi, còn khiến cho khổ ấy khởi, nên gọi là khởi”.
Pháp sư Cảnh nói: “Đã gom góp khổ đương lai của nghiệp kia sinh rồi, nay, lại giúp cho khổ khởi, nên gọi là ái là khởi”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tức ái đã huân tập hạt giống rồi, hay khiến cho hạt giống khổ sinh ra hiện hành khổ sinh v.v... Vì ái, haylàm cho hạt giống sinh v.v... khởi hiện hạnh, nên gọi là khởi. Lại nữa, đối với hạt giống các khổ ở đương lai, vì có công năng nhiếp thọ, nên theo thứ lớp chiêu cảm dẫn sinh các khổ, tập, nên gọi là “Duyên”.
Pháp sư Cảnh nói: “Ái này chẳng những trực tiếp dẫn sinh khổ hiện khởi va nổi khổ sẽ khởi, mà còn có thể chiêu cảm dẫn sinh hạt giống khổ của thức v.v... ở đương lai, giúp nó càng tăng trưởng, nên nói là “Duyên”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Chính ái đã có thể nhiếp thọ, huân tập tăng trưởng hạt giống khổ ở đương lai, chủ thể làm cho khổ sinh v.v... ở vị lai theo thứ lớp sinh khởi các sự sinh khổ, tập, được gọi là “Duyên”.
“Lại nữa” đầu tiên này hơi đồng với Luận Đối Pháp quyển sáu, nên cứu xét kỹ. Lại, y cứ về mặt chung, riêng không đồng. Về nghĩa của nhân kia, nghĩa là các ái, chủ thể yêu tự thể ở vi lai, gọi là dẫn khổ là chung, ba thứ còn lại là riêng. Đã dẫn sinh khổ rồi, do ái, chủ thể khiến cho quả của năm đường ba cõi hiện ở trước, vì quả vị lai nhóm họp, nên gọi là tập. Đã dẫn sinh quả năm đường rồi, ái có thể tùy theo khiến cho sinh của một đường người v.v... hiện ở trước gọi là sinh. Đã sinh một đường người hiện ở trước xong, ái còn có thể khiến các phần vị sinh v.v... trong thân người này theo thứ lớp sinh hiện ở trước, gọi là “duyên”. Ba thứ này là thứ lớp sinh riêng. Xét Luận Đối Pháp quyển sáu kia đồng với luận này”.
Đại ý lần “Lại nữa thứ hai, tức chi ái làm nhân cho chi thủ; chi ái đối với chi Hữu là tập, chủ thể nhóm họp các nghiệp, tức chi Ái khiến
chi Sinh hiện ở trước, gọi là khởi, tức Chi Ái, chủ thể theo đuổi dẫn phát chi Già chết hiện ở trước, gọi là duyên xa.
Pháp sư Cảnh giải thích về “lần lại nữa” thứ hai: “Biết Ái trong mười hai chi là nhân của Thủ, nên gọi là nhân. Ái này chẳng những trực tiếp là nhân của thủ kia, mà còn là chủ thể chiêu cảm gom góp “Hữu” mà Thủ đã sinh. Vì e rằng sẽ lẫn lộn với ba Hữu, nên ở đây nêu Thủ làm nhân cho Hữu, nên nói: “Tức lấy Thủ kia làm Nhân cho Hữu”. Lại, vì dẫn phát già, bệnh, chết v.v... nên gọi là “Duyên”. Ý nêu sinh làm “duyên” là đối với già, bệnh, chết đã sinh dùng làm nghĩa “Duyên”.
Trong lần “Lại nữa” thứ ba, Pháp sư Cảnh nói: “Nghĩa là chính biết rõ đến nhân sinh hữu sau, là tác ý liễu tướng. Lại chính thức biết rõ tùy miên ái của Lại-da y là nhân của Hữu sau. Và chính biết rõ tùy miên ái kia đã sinh ra triền, tùy theo những gì thích ứng với nó là duyên tập khởi, nghĩa là giải thích chung tùy miên đã sinh khởi Triền là “duyên” nhóm họp khởi. Dưới đây giải thích riêng, nghĩa là tìm kiếm Ái của Hữu sau, chiêu cảm, nhóm họp Hữu sau, gọi là Tập. Ái của Hữu sau này lại là chủ thể phát ra Hỷ, tham tự thân ở hiện tại, vì đều hiện hành ái, nên gọi là “khởi”, Hỷ Tham đều vận hành Ái, lại làm duyên cho Hỷ Ái kia kia với nhiều thứ của cải, dụng cụ, tức là “Duyên”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý giải thích lần “Lại nữa” thứ ba, là biết rõ hạt giống các “hoặc” phụ thuộc, đã nương tựa bản thức; biết tùy miên ái v.v... nhân sinh ra Hữu sau ở đời đương lai, gọi là nhân, tức biết nghĩa hạt giống của ái: sinh ra quả đương lai, gọi là biết nhân. Một thứ hạt giống hiện hành ở ba thứ sau, gọi là ái. Ái lại chiêu cảm nhóm họp hũu sau, nên gọi là Tập. Ái của Hữu sau này làm “Duyên” lại là chủ thể phát khởi cảnh ở hiện tại, khởi, hỷ, tham “ái câu hành”, gọi là “khởi”, tức lấy ái “câu hành” này làm “Duyên’ cho cảnh ở vị lai khởi lên Hỷ lạc, ái kia kia gọi là “Duyên”. Trong đây không nói bốn thứ ái , ái này yêu đắm tự thân. Lại, ái này tức bốn ái: Thứ nhất gọi riêng là ái, ái này là ái chung, với tướng trạng của nó khó biết. Nay, dùng hạt giống để gọi là, thật ra chung cho cả hiện hành. Văn luận dù nói là phiền não chung, nhưng đại ý lấy ở ái. Ái này có công năng dẫn sinh quả vị lai, ba thứ còn lại là ba ái.
Nói ái của hữu sau này lại có thể phát khởi hỷ tham” ái câu hành” Hỷ tham, ái câu hành, là “duyên” hiện cảnh mà khởi, đều cùng do này “duyên” tự thể ở vị lai, vì yêu thân vị lai. Đối với cảnh hiện tại, vì cũng sinh ra ái, nên gọi là “ái câu hành” do ái của hữu sau làm nhân. Lại do hiện tại tương ưng với cảnh mầu nhiệm, vì khởi ái, nên đối với cảnh
nhiệm mầu ở vị lai, cũng khởi hỷ, ái kia kia, cho nên, hỷ, ái kia kia cũng do “ái câu hành” làm duyên.
Trong giải thích rõ tập đế thuộc bốn hành của diệt đế không có thừa, gọi là diệt, khổ đế không có thừa gọi là Tĩnh, tức hai thứ trước. Đệ nhất tối thắng vô thượng, gọi là diệu tức hai thứ trước. Thường trú xuất ly gọi là lìa.
Trong giải thích về bốn hạnh của đạo, đối với cảnh diệt sở tri, có thể là con đường hành đạo, nghĩa tìm kiếm chung, gọi là đạo. Vì đường đạo đi suốt qua pháp đã tìm kiếm. Đối tượng tìm kiếm có cả luống dối và chân thật; đối tượng tìm kiếm chung này là chân thật, chứ chẳng phải hư vọng, gọi là Như. Vì phân biệt với luống dối, nên chẳng phải chỉ có thể tìm kiếm chân thật đối với diệt đế, mà cũng rất dễ hiểu như thật về môn bốn đế, đều có tùy chuyễn gọi là hành. vì trải qua bốn đế, nên hành trải qua dục của bốn đế, là gì? Là xuất ly sinh tử hoàn toàn, vì nghĩa thú hướng Niết-bàn, nên gọi là ra khỏi, ra khỏi các trần lao.
Trong nói về quán bốn đế của cõi trên, đầu tiên, trước kết, sau sinh. Thứ hai, chính giải thích, nghĩa là sở hữu kia, cho đến đều có tánh như thế v.v...
Pháp sư Cảnh nói: “Đây là nói về thể của khổ đế hữu lậu, hữu vi của hai cõi trên, khắp tất cả chỗ sinh của cõi trên. Thể của Tập như ái v.v... khắp hạt giống của năm môn. Ở khắp ba đời, đều có khổ, tập như thế, có pháp đều tùy theo đạo lý của tập đế như thế”. Đều có tánh của khổ đế như thế.
Dưới đây, là nói về diệt, đạo của cõi trên rất dễ hiểu.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Đại ý trong đây nói, dùng bốn đế lý để quán hiện cõi này đã thấy các uẩn có vô thường v.v... xong, đối với cõi khác không đồng phần giới, không hiện thấy uẩn, đều có thể dùng lý để so sánh, so lường, quán sát, nghĩa là cõi của phương khác kia v.v… tất cả hữu vi, hữu lậu khắp xứ của ba cõi v.v... Đối với tất cả hạt giống các uẩn trong tất cả ba đời, đều có nhóm họp như thế, có sinh ra pháp quả, pháp hòa hợp khổ nạn, khổ đế sinh, già v.v... đều tùy theo các pháp của lý khổ, vô thường như thế. Nghiệp phiền não v.v... do tập đé đều có nhân, tập sinh ra tánh “duyên”. Nếu các hành này có pháp diệt, vắng lặng yên vui là diệt đế. Đạo mà người kia có có công năng trừ các “hoặc” rốt ráo ra khỏi sinh, tử, là đạo lý.
Đại ý đoạn văn này nói về hạnh quán, nghĩa là lấy uẩn mà xứ này hiện thấy đem so sánh với uẩn v.v... mà xứ khác không hiện thấy.
Từ đây trở xuống, là thứ ba, tổng kết hai trí, tức là trí có thể sinh
ra chỗ nương tựa của hạt giống pháp, loại trí.
Pháp sư Cảnh noí: “Từ trên đến đây, đã nói về ba phương tiện trước dựa vào định Vị Chí để tu, khởi tác ý liễu tướng, quán đế lý trên, dưới, tức chủ thể huân tập, phát tướng bản hữu hạt giống của pháp trí, loại trí trong kiến đế, khiến chúng được tăng trưởng, gọi là dùng làm chỗ nương tựa cho hạt giống”.
Pháp sư Thái nói: “Từ trước khi kiến đạo, pháp trí, loại trí quán về đạo. Sau, chân pháp, loại quán thành hạt giống nương tựa, lại đồng với hạt giống giải thoát của định ly tâm.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ý trong đây nói, do niệm xứ chung, riêng của năm pháp quán dừng tâm , tác động hạnh bốn đế này, tức là chỗ nương tựa của hạt giống loại trí vô lậu sau: 1) hữu lậu làm “duyên” vì dẫn sinh vô lậu, nên gọi là chỗ nương tựa của hạt giống, tức nghĩa mới huân tập (hun đúc). 2) Thời gian của năm pháp quán dừng tâm, cũng hay huân tập, tăng trưởng cho hạt giống vô lậu từ vô thỉ. Hạt giống này ở trong phần vị của năm pháp quán dừng tâm, cũng gọi là phần vị gồm thâu của tác ý liễu tướng, chủ thể phân biệt về khể, sinh ra pháp trí, loại trí của kiến đạo ban đầu, gọi là chỗ nương tựa của hạt giống pháp, loại trí. Dưới đây, sẽ nói rõ về địa vị. Nghĩa là trên đã nói về tác ý liễu tướng của mười sáu hạnh, cũng vì phần vị xen lẫn của nghe, tư duy của cõi Dục ở Niệm xứ chung, riêng của năm pháp quán dừng tâm.
Trong giải thích về tác ý thắng giải, 1/ Kết, nêu tóm tắt giải thích trước. 2/ Giải thích rộng.
Trong phần trước, nghĩa là từ tác-ý liễu tướng, kế là, khởi tác-ý thắng giải. Lại đối với pháp của sự khác nhau của bốn đế, tận cùng tánh sở-hữu, phát khởi thắng giải. Bốn đế bình đẳng, một tánh Chân-như, như tánh sẳn có, phát khởi thắng giải ở bốn giai vị căn lành Noãn v.v...
Y cứ trong phần giải thích rộng, nói về bốn căn lành, tức là bốn đoạn: Đầu tiên, giải thích về pháp Noãn. Văn chia làm hai:
1) Nói về “duyên” Đế, tận cùng tánh sở-hữu, tu tướng tác-ý.
2) “Như thế, hành giả siêng tu hạnh Du-già” trở xuống, là nói về “duyên” như tánh sở-hữu, tạo ra hiện quán bốn Đế.
Trong phần trước, tác-ý như thế, chỉ “duyên” cảnh Đế hoàn toàn ở định. Pháp sư Cơ nói trong tác-ý này, muốn dứt trừ chỗ ngã-mạn, văn ở dưới nói: “Ngã-mạn của phẩm thô, gián, Vô gián chuyễn. tác-ý thắng-giải này cũng ngã-mạn gián, Vô gián chuyễn, vì sao chỉ nói hoàn toàn ở định, há không trái nhau ư?”
Giải nghĩa: “Ở trước đã nói về một tâm thiện của tác-ý liễu tướng
khi “duyên” một cảnh, vì nghe, tư-duy xen lẫn đồng “duyên”. Nay, khi thắng giải khởi hoàn toàn là thiện, lúc “duyên” mỗi cảnh, không bị xen lẫn bởi nghe, tư-duy, hoàn toàn ở trong định. Vì phân biệt với liễu tướng kia, nên nói một bề (hoàn toàn).
Y cứ vào nhiều thời gian ở một ngữ quán của tâm thiện, chứ chẳng phải không có xuất quán khởi lên ngã-mạn và lui sụt sinh “hoặc” khác v.v... Không muốn nói về điều phục ngã-mạn, mà nói thật được ngã- mạn, nên nói “gián, Vô gián chuyễn”.
Nay, do thắng-giải phân biệt với liễu tướng, nên y cứ vào thời gian dài ở quán, chứ chẳng phải như hiểu rõ tướng vì nghe, tư-duy gián đoạn, không được nhập quán trong thời gian dài, nên nói hoàn toàn, chẳng trái nhau. “ Rằng sinh tử trôi lăn, các pháp như thế vô biên v.v... Nghĩa là một đoạn này nói đủ bốn đế vô biên. Tư duy Văn , y cứ theo đây mà biết.
Pháp sư Thái nói: “Các pháp sinh, tử không có nương tựa, không có gìn giữ, không thể cho là đối tượng nương tựa, cho nên khởi không có dựa vào hạnh, đều không có gì hy vọng, vì chỉ có tại họa lỗi lầm. Nên khởi công hạnh vô “ nguyện”.
Pháp sư Cảnh nói: “Dù chán khổ, tập ưa thích Niết-bàn, nhưng vẫn chưa thể với tâm sâu sắc thu nhập. Vì sao? Vì người kia vẩn cón ngã mạn của phẩm thô, làm che lấp hiện quán.”
Tác ý tùy nhập gián, Vô gián chuyển: lúc tư duy về sinh tử trôi lăn, tâm kèm theo “ngã giải”, gọi là ngã mạn, nói là mang tâm của ngã, gọi là ngã mạn thô, tác ý tùy nhập với tác ý thắng giải, tâm quán bốn đế gián, Vô gián chuyễn, tác động tư duy này, cho đến các pháp ấy là sở hữu của ngã v.v... Xuất ly ngã mạn của phẩm thô, người kia đã biết ngã mạn như thế là chướng ngại, cho đến tùy theo công hạnh của tác ý, siêng năng tinh tấn, không có gián đoạn v.v... e rằng, lại khởi ngãn mạn kia làm che lấp nữa. Tác ý chế phục cảnh sở tri, thu nhập Niết-bàn, chuyên chú ròng rã không có gián đoạn. Lúc tâm sau khởi, quán sát tâm trước là tà hay chánh? Siêng năng tinh tấn, giữ gìn không gián đoạn, làm cho ngã mạn kia không chấp nhận được sinh”.
Pháp sư Thái nói: “Người tu hành kia không thu nhập, chỉ khởi tu tác ý nhậm vận (tự nhiên). Người kia đã biết ngã mạn che lấp xong, bè có thể nhanh chóng siêng năng tinh tấn không có đứt quãng, xả tác ý tự nhiên mà mình đã tu ở trước. Như thế, mãi cho đến dùng tâm quán sau để “ duyên” tâm quán trước, nên lìa bỏ tướng sở duyên, (đối tượng duyên).
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Người tu hành kia đã nhận biết rõ ràng, cho đến tác ý thu nhập, nghĩa là tác ý tùy chuyễn này tức ngã mạn ở trước, do nội ngã này tùy theo pháp có thể nhập, gọi là tác ý tùy nhập.”
Tác ý thu nhập. Nghĩa là tức ở ngay sinh tử, đã từng trôi lăn từ lâu, sẽ còn trôi lăn nữa, cho đến vô tướng chân như. Vô tướng này “duyên” cảnh ngoài mà sinh, gọi là tác ý thú nhập. Người tu hành kia tùy theo tác ý này, mà chuyên tinh không gián đoạn, quán sát chân lý của bậc Thánh. Tâm quán sát-này đã có lúc diệt, tâm sau không gián đoạn, quán sát phương tiện trôi chảy. Tâm quát sát trước mất, tâm quán sát sau sinh. Dùng tâm sau, “ duyên” tâm trước, siêng năng tinh tấn không thôi. Do nghĩa này, nên ngã mạn của phẩm thô không chấp nhận được sinh, là ý văn trong đây.
Từ đây trở xuống, là thứ hai, nói về duyên; như tánh sở hữu tạo ra quán bốn đế . Như thế, hành giả quán tâm nối nhau, xoay vần riêng, khác mới mới mà sinh, hoặc tăng, hoặc giảm v.v... Pháp sư Khuy Cơ noí: “lúc hành giả tạo ra hành quán, niệm niệm càng thêm vượt hơn, gọi là hoặc tăng. Nếu không vượt hơn thêm, gọi là hoặc giảm. Tạm thời có “ suất nhĩ” một (niệm sát-na) sinh trước, sau. Đã có tăng, giảm, đổi thay, biết rõ là vô thường, tức tâm quán này đã nhập thủ uẩn, biết rõ là khổ. Không như thật, chấp là thật pháp, chỉ là pháp khổ, gọi là tâm quán tánh không là khổ, thật pháp bị chấp là khổ. Vì quán lìa pháp thứ hai, nên không có thật. Thứ hai, là chấp luống dối có thật, gọi là “không”, không có dụng tự. Tại, gọi là hạnh vô ngã; là ý trong đây tức “duyên” đạo đế là vô thường v.v... Vì y cứ giống như tâm thật quán là khổ đế, vì là hưũ lậu.
Nay, y cứ thuận với nghĩa xuất thế. Lại vì nghĩa hữu lậu, vô lậu trong địa vị này, nên nói là Đạo đế. Nếu y cứ ở nghĩa này cũng “duyên”. Đạo đế là vô thường v.v... Nay vì y cứ ở nghĩa thật, nên là khổ đế”.
Pháp sư Cảnh nói: “Biết chỉ có tâm, không có ngã pháp thứ hai, gọi là “không”. Khổ, tập, diệt, đạo đế, chính ngộ nhập, nghĩa là chuyễn gần với kiến đạo. Hạnh quán dần sáng, gọi là chánh ngộ nhập. Chẳng phải hiện quán này gọi là ngộ nhập. Hạnh quán tăng dần, lìa sự phân biệt, nên nói: “Năng duyên” “sở duyên” (chủ thể duyên, đối tượng duyên) bình đẳng, bình đẳng chánh trí được sinh.”
Kế là, nói về Đảnh và Nhẫn.
Pháp sư Cảnh nói: “Bốn căn lành kia yên ổn thọ đế lý, đều gọi là nhẫn, chỉ dùng ba phẩm để lập Noãn, Đãnh và Nhẫn.
Pháp sư Thái nói: “Học làm nhân không vì quán vô ngã, nên bình
đẳng, bình đẳng cũng ấn đế lý, nên đều gọi là Nhẫn.
Thứ tư, trong giải thích về pháp thế đệ nhất, hành giả kia đã như thế, cho đến trụ ở không có gia hạnh, không có tâm phân biệt.
Nghĩa là hành giả kia từ trên đến đây đã tu tập nhiều, nên đã lìa gia hạnh, trụ ở tâm vô phân biệt; giống như không có đối tượng duyên, mà chẳng phãi không có duyên.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Trí vô phân biệt vắng lặng, sâu kín, gọi là đó là Diệt. Nay, trí này giống như trí kia, gọi là dường như diệt. Lại, trí vô phân biệt diệt tâm quán phân biệt, gọi là “diệt”. Lại diệt, định, gọi là diệt. Vì tâm vi tế giống với diệt định kia, nên gọi là dường như “ diệt”. Trí vô phân biệt không có đối tượng duyên (sở duyên) của ảnh tượng. Nay, không có tướng trạng này giống với trí kia mà vì có ảnh tượng, nên nói giống như không có đối tượng duyên. Lại, cảnh sở hữu này vì biểu hiện ở trước, nên chẳng phải không có đối tượng duyên. Tâm sâu kín dường như không có “duyên” mà chẳng phải vô duyên. Lại, trí vô phân biệt lìa có phân biệt; xa lìa các tướng; và xa lìa các “hoặc”. Nay, vì trí này dường như trí kia, nên nói dù giống xa lìa mà chẳng phải thật xa lìa”.
Pháp sư Cảnh nói: “Dù dường như xa lìa, mà không xa lìa, nghĩa là các thiện căn như Noãn v.v... tùy từng phần vắng lặng, giống như tâm Chân Vô lậu xa lìa thể là hữu lậu mà chẳng phải xa lìa.”
Pháp sư Thái nói: “Không có tâm, gọi là xa lìa. Lại, lúc bấy giờ, không bị che lấp bởi thùy-miên tốt, đến đây không như thế.”
Pháp sư Cảnh lại giải thích: “Ở đây nói là nêu lên, chứ chẳng phải chỉ thị rõ trụ này không có tướng như thế trong Noãn v.v... Nay, giải thích trụ ở pháp Thế đệ nhất không có tướng như thế, tức đối với tâm vắng lặng như thế, trụ cùng cực, gọi là pháp thế đệ nhất, nghĩa là tâm vắng lặng đối với bốn thiện căn, trụ một niệm sau cùng đối với các đế lý, khởi tác-ý nội, gọi là pháp thế Đệ Nhất. Ở đây có hai giải thích:
1) “Dùng văn này để chứng minh pháp thế đệ nhất, “duyên” chung bốn đế, tạo ra quán vô ngã . Luận đã nói: “Vì các đế lý thánh, nên biết chẳng phải một đế. Văn này thuận với kinh Niết-bàn nói là pháp thế đệ nhất cũng “duyên” bốn Đế, không đồng với luận Tiểu Thừa chỉ “duyên” “Khổ đế.”
2/ “Pháp Thế đệ nhất chỉ “duyên” một đế, đồng với luận Tiểu thừa nói. Nay, cách hành văn này nêu chung, lấy riêng, nghĩa là đối với đối tượng quán như Noãn v.v... ở trước, một khởi tác-ý nội tại trong các đế lý của bậc thánh. Như kinh Niết-bàn nói là “duyên” bốn đế. Ngài
Viễn-công giải thích: “Quán đế có hai thứ:
1/ Đắc tu, hiện-tại sanh khởi.
2/ Đắc tu, vị lai sẽ thành.
Pháp Thế Đệ Nhất hiện tại đã tu, dù quán một Đế, một hạnh. Vị lai đối với bốn Đế tăng rõ ràng. Nay, y cứ ở đắc tu, gọi là “duyên” bốn đế. Nay, giải thích kinh Niết-Bàn kia cũng nêu chung, lấy riêng, vì dù nêu chung bốn Đế mà ý thì lấy khổ đế.”
Trong giải thích về tác-ý xa lìa, từ vô-gián này cho đến hiện thấy trí sinh v.v... Pháp sư Cảnh nói từ vô-gián của pháp Thế đệ. Nhất này các đế lý thánh, đến pháp Thế đệ nhất về trước đã quán các đế-lý của bậc thánh, khởi tác-ý nội. tác-ý Vô gián tùy theo các đế đã được quán theo thứ lớp ở trước. Hoặc bốn đế cõi Dục là hiện thấy; hoặc bốn đế của hai cõi trên, gọi là chẳng phải hiện thấy. Như thứ lớp của pháp Thế đệ nhất kia, có trí quyết định vô phân biệt của Kiến đạo hiện thấy trí sinh. Do trí sinh này nên tất cả thô nặng kiến hoặc của ba cõi, đều dứt trừ hẳn”.
Pháp sư Thái nói: “Từ chân Kiến đạo Vô gián này, về sau, ở trong tướng Kiến đạo, quán lại các đế đã nói ở trước.
Trên đây luận rằng: “Tâm xuất thế sinh, tức là chân kiến”.
Pháp sư Bị thuật lại hai nghĩa, nói là phân biệt về tiền phương tiện của tướng kiến đạo đã có pháp trí, loại trí, ở trong chân quán, nên biết cũng có. Nhưng pháp loại trí dù có nhiều thứ, nhưng quán sát ý văn này là muốn nói về pháp, quán danh loại trên”.
Lại giải thích: “Y cứ chân Kiến đạo, chỉ khi một niệm tùy phương tiện chia ra bốn Đế Trí, cho nên nói: “Như thứ lớp”. Với người độn căn kia, quán riêng bốn Đế, nên nói “Như thứ lớp”, cách giải thích trước hay hơn.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Từ Pháp thế Đệ Nhất Vô gián ở trước, từ pháp Đệ nhất trước đã quán các Đế Lý của bậc Thánh, nay, đối với chân Kiến đạo Vô gián, khởi tác ý nội. Tác ý Vô gián của chân kiến đạo này tùy theo các Đế đã quán khi pháp Thế đệ nhất ở trước trong tướng Kiến đạo. Hoặc ở đây cũng hiện thấy, ở nơi khác không đồng phần của phương khác, không hiện thấy trong Đế lý các bậc Thánh. Như thứ lớp khổ, tập v.v... hữu lậu, vô lậu, không có phân biệt quyết định. Không do người khác dẫn, tự sinh nghi, trí hiện ở trước, do hiện lượng chứng trí sinh, chứ chẳng phải như kiến đạo ở trước, tức có phân biệt nghi, có thể so sánh suy lường mà sinh, là ý trong đây. Lại, chứng từ pháp Thế đệ nhất Vô gián trước, gọi là từ Vô gián này; nay, ý muốn
giải thích chân kiến đạo khó biết, vượt qua nói là tướng kiến đạo, bèn giải thích đã từ nơi chốn Vô gián, tức pháp Thế đệ nhất. Nay bèn thành trước nghĩa là ở trước đã quán đế lý các thánh, khởi tác ý nội, tức là thời gian của pháp thế đệ nhất. Vô gián tác ý này tùy theo các đế đã quán theo thứ lớp trước kia trong tướng kiến đạo, hoặc hiện thấy, không hiện thấy, trí quyết định hiện thấy trí sinh, cũng là ý trong đây.
Nói về sự dứt trừ hẳn này, nếu người trước đã lìa tham cõi Dục, cho đến không còn sinh trở lại thế gian này nữa. Trong đây, y cứ ở trước đã dùng đạo thế gian để chế phục dục ở cõi Dục. Nay khi nhập kiến đạo chứng quả Bất Hoàn, tức là siêu việt người Bất Hoàn. Nay lại y cứ ở lìa Bất Hoàn của cõi Dục, không biện luận (bất luận) cho đến người ở trước đã lìa Vô Sở hữu xứ.
Cuối quyển trước nói về người thế gian lìa dục, với tướng oai nghi vắng lặng, nói năng thuần hậu, nghiêm túc, mà không có cử chỉ vội vàng, giao động v.v... Nay người này giống với người kia, nên nói: “Phải biết không khác v.v... Lại, dù giống nhau nhưng vẫn có một vài điểm khác nhau, nghĩa là người Bất Hoàn không sinh trở lại cõi Dục, tức ở nơi kia nhập Niết-bàn. người thế gian lìa dục thì không như thế, nên có khác nhau.
Do trí “Năng tri” hòa hợp với cảnh “sở tri” không trái. Vì quán sát hiện ở trước, nên gọi là hiện quán, cho đến Bà-la-môn v.v... phải biết cũng thế, nghĩa là lúc nhập kiến đạo, chứng như vì cảnh như vô tướng, nên trí kia cũng vô tướng. Hai vô tướng hòa hợp, chủ thể duyên, đối tượng duyên (năng duyên, sở duyên) không trái nhau. Vì quán sát hiện ở trước, nên gọi là hiện quán.
Giải thích về danh nghĩa hiện quán, như một người sát-đế-lợi với sát-đế-lợi hòa hợp một chỗ, không có ý trái nhau, do chủng tánh đồng, mà là một loại, cũng gọi là hiện quán. Bà-la-môn v.v... phải biết cũng thế. Ở đây cũng thành tựu rất nhiều tướng trạng v.v... Nghĩa là nói về người nhập kiến đạo có mười hai tướng trạng.
1- Chứng lý quán, đạt được bốn trí:
a) Chỉ pháp trí, nghĩa là lúc ở phàm phu, chấp vọng chấp là thật ngã. Nay, nhập kiến đạo, bác bỏ thật ngã, chỉ có ở pháp.
b) Trí chẳng phải đoạn.
c) Trí phi học, nghĩa là lúc ở phàm phu, vọng chấp đoạn, thường. Nay, nhập kiến đạo, lìa chấp đoạn thường tức trí chẳng phải đoạn, trí chẳng phải thường. Ở đây, y cứ phân biệt đoạn kiến, không biện luận về tu đoạn kiến.
d) Trí duyên sinh, như sự huyễn. Nghĩa là khi ở phàm phu, vọng khởi tà kiến, kiến thủ, giới thủ. Nay, nhập kiến đạo, vì khéo tìm kiếm; mong cầu, nên quán thấy các pháp. Ở đây do như sự huyễn, không như đối tượng chấp của ba kiến kia v.v... đây là tướng trạng thứ nhất.
2- Đối với cảnh giới, quên mất, khởi sự trói buộc mạnh mẽ, nhạy bén, tác ý thì bỏ ngay.
3- Rốt ráo không rơi vào đường ác vì đường ác cũng có đạo đối trị.
4- Không cố tư duy phạm giới.
5- Không lui sụt, bỏ dở điều mình đã học.
Pháp sư Cảnh nói: “Vì đã dứt trừ hạt giống “Hoặc”, nên không có lui sụt, bỏ giở quả vị tu học”. Pháp sư Cơ nói: “Được trí quyết định, nên đối với pháp đã học, tất nhiên, sẽ không lùi bước, đổi thay, bỏ giở điều mình đã đạt được.”
6- Không tạo nghiệp năm Vô gián.
7- Nhất định biết khổ, vui chẳng phải tự làm v.v... Pháp sư Cảnh nói: “ Nhất định biết niềm vui chẳng phải do thần ngã làm ra; cũng chẳng phải trời Tự tại kia đem đến; cũng chẳng phải hai vị đó chung tạo ra cũng chẳng phải không có giả danh kia, mình người tạo ra và không có nhân tạo ra.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Vì tỏ ngộ các pháp duyên sinh, nên dứt bỏ chấp tự tác v.v... trong nhân.
8- Chung qui không mời thỉnh ngoại đạo làm thầy, khởi tưởng ruộng phước.
9- Chung qui không ngắm xem miệng và dung nhan diện mạo của các Sa-môn. Bà-la-môn v.v... khác, cho đến đạt được dứt mọi sự sợ hãi, có nghĩa là không tin đạo khác, xuất gia, thọ học; chỉ dùng pháp trí, thấy pháp trí loại trí, được pháp từ giáo huấn của đấng Đại sư, sinh niềm tin quyết định. Cho nên được không có sự sợ hải đối với các pháp. (Việc này như trong pho thứ chín dưới đây có giải thích rộng). Đối pháp quyển chín cũng có giải thích.
10- Cuối cùng không chấp giả dối những điềm tốt lành của thế gian, cho là thanh tịnh. Nghĩa là chỉ biết Đức Phật là bậc thanh tịnh.
Điềm lành của thế gian, nghĩa là người đời chấp giả dối điềm lành của thế gian. Chẳng hạn như khi sắp ra đi, nhìn thấy nước sạch, hương hoa, là tướng điềm lành khi đi.
11- Cuối cùng không còn sinh hữu thứ tám, chỉ bảy lần sinh v.v...
12- Chứng đắc bốn bất hoại tịnh.
Trong giải thích về tác ý quán sát, đầu tiên, là phân tích sơ lược, sau, giải thích rộng.
Trong phần trước lại có hai:
1) Nói về dứt “ tu hoặc” được tướng của hai quả.
2) Nói về quán sát trong xả. Đầu tiên “Lại từ đây về sau” cho đến “Phải biết cũng thế”, nghĩa là có mười hai tướng đồng với sơ quả.
“ Nhưng một ít sai khác, cho đến nhanh chóng dứt trừ”, nghĩa là với tướng riêng thứ hai của người chứng Sơ quả, chỉ một lần sinh trở lại thế gian này. Đây là sự khác nhau của tướng thứ mười một với người Sơ quả. Kết hợp hai quả đầu có hai tướng khác nhau được quả Bất Hoàn. Như tướng Bất Hoàn lúc siêu việt nhập Niết-bàn.
“Phân biệt quán sát rằng: “phải biết cùng cực trong đây mà chính thức tu tập, nghĩa là tác ý quán sát đi suốt qua chủ thể quán sát” tu hoặc” của ba cõi đã dứt, chưa dứt là đạo thắng tấn (tinh tấn vượt hơn). Nhưng đối với đạo Vô gián chánh đoạn của tu đạo là tác ý lạc từ dứt chín phẩm cõi Dục, cho đến tám đạo Vô gián của Phi tưởng là tác ý rốt ráo gia hạnh. Trong đây chỉ nêu đã dứt “tu hoặc” của cõi Dục, được hai quả giữa, không nói chủ thể trị gồm thâu tác ý lạc. (Việc gồm thâu tác ý lạc, văn sau sẽ nói).
Trong giải thích rộng thứ hai, lại chia làm hai:
1) Hỏi đáp để nói rộng về phẩm loại khác nhau của thể dụng tu đạo.
2) “Như thế, đối với tu v.v...” trở xuống, là nói về quán sát ở giữa. Trong phần trước nói: “Nghĩa là do tác ý của Địa định, chung cho hai pháp định, tuệ của Thế gian, xuất thế gian. Vô gián ân cần trân trọng hai tu tự tánh định.
Pháp sư Thái nói: “Tác ý của Địa định là tu tự tánh. Do hai tu, nên chứng tự tánh của định kia. Lại, có thể hội nhập cảnh đã chứng.
Trong tám thứ tu nghiệp, Pháp sư Cơ v.v... giải thích: Do tu nên được, nghĩa là “đắc tu”, do tu nên tập, tức “tập tu”. Nếu ở trước đã được, chưa khiến hiện ở trước, chỉ do tu tập pháp chủng loại kia, sẽ khiến hiện ở trước, khiến chuyễn thanh tịnh, tươi tắn sinh khởi, gọi là tu, nên tịnh, đây tức ở vào thời gian Pháp Trí, hạt giống của loại trí kia cũng thành tựu, nên gọi là ở trước đã được. Do khi tu tập hạt giống của Pháp trí kia, tức giúp cho hạt giống của loại trí. Đến thời gian Loại Trí, hạt giống này sinh ra Loại Trí, khiến chuyển thành thanh tịnh, tươi tắn sinh khởi, gọi là tu nên tịnh, tức khi Pháp trí tu hạt giống của Loại Trí, làm cho thanh tịnh, lại là lý do sinh loại trí.
Lại, như Kiến đạo trước đã huân tập tăng trưởng hạt giống vô lậu, nhập Kiến đạo, sinh pháp trí v.v... Lại, sở dĩ hạt giống được thành tựu là do tu, nên được. hiện hành thành thục, gọi là do tu nên tập. Tư tại thành tựu, gọi là do tu nên tịnh, là ba thành thục. Nếu đã sinh “hoặc”, có thể diệt đoạn, thì gọi là do tu nên dứt trừ. Các “hoặc” chưa sinh , thì khiến chúng không sinh, biết rõ như bệnh v.v... gọi là do tu nên biết. Dưới đây nói về tu phẩm loại có mười một thứ. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở đây giải thích đạo Vô gián, chủ thể đoạn, không nói đạo gia hạnh, là vì Đối pháp nói định Kim Cương dụ đều lấy đạo gia hạnh, chẳng phải nghĩa chân thật. Nếu dứt hạt giống chỉ có đạo Vô gián, nếu chế phục hạt giống thì đạo gia hạnh cũng có nghĩa này. Luận Đối Pháp kia vì y cứ ở nghĩa chế phục hạt giống, nên định Kim Cương dụ cũng lấy đạo Gia hạnh. Luận này vì y cứ ở dứt hạt giống khó, nên chỉ đạo Vô gián. Người tu đạo Thắng Tấn, nói là do đạo này nên mới cùng cực, hoặc chưa khởi sự thu hướng địa vị rốt ráo. Pháp sư Thái nói: “Thắng Tấn có hai:
1/ Chưa khởi sự thu hướng Gia hạnh của Địa sau đến nay, đều gọi là đạo Thắng Tấn. Luận nói: “cho đến” là ý ở đây.
2/ Y cứ ở dứt “hoặc”, phẩm thứ tám chưa hết, tâm của đạo hạnh thứ chín hướng đến địa vị Vô học, đều gọi là Thắng Tấn. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Đây là y cứ sau khi chưa khởi gia hạnh đối trị phiền não phẩm hạ đến nay, các sở hữu quán dần, tu tập phát tâm v.v... là đạo Thắng Tấn của đạo Đối trị ở trước. Lại được Sơ quả về sau hướng đến cầu quả thứ hai, thứ ba chưa thu nhập địa vị rốt ráo Vô học mà có thể phát tâm tu hành v.v... là đạo Thắng Tấn ở trước.”
Hỏi: “Khởi gia hạnh phẩm sau, vì sao không là đạo Thắng Tấn ở trước?”
Nghĩa là: “Nay, tác pháp riêng, gia hạnh sau “duyên” phẩm sau, vì tùy theo nghĩa này, nên không lấy, thật ra cũng là nghĩa này. Không lấy, thật ra cũng là nghĩa này. Lại, đã dứt “hoặc” của phẩm thứ tám của Phi tưởng đến nay, chưa dứt “hoặc” của phẩm thứ chín, thành tựu sở hữu cđường ác của địa vị rốt ráo, là đạo thắng. Tấn của đạo đối-trị phẩm đầu cõi Dục. Lại là đạo thắng-tấn của người chứng quả thứ ba dứt “hoặc” cõi Dục. Hoặc đến đạo Vô-gián thứ chín của Phi tưởng, cũng là đạo Thắng-tấn. Nếu là đạo giải thoát thứ chín. Vả, không gọi là thắng tấn, do được quả giải thoát là giải thoát thêm vượt hơn, gọi là đạo giải thoát. Nay, với nghĩa “đều được” trong đây chẳng phải tác Phác-pháp đủ.
Trong mọi lúc, đối với pháp đáng nhàm chán, cho đến gọi là pháp gồm thâu tác-ý lạc, đây là phần thứ năm, giải thích về sự gồm thâu tác-
ý lạc. Quyển trước nói gồm thâu lạc. Về sau, nói về quán-sát. Quyển này, trước nói về quán sát, sau, nói về gồm thâu lạc, Nghĩa là trước đây, y cứ ở đạo thế tục lìa dục cõi Dục, hội nhập bảy thứ tác-ý của Sơ Tĩnh-lự, là nói thuận theo thứ lớp. Nay, ở đây, y cứ chung, lìa “tu hoặc”, chứng hai quả giữa, nhằm nói về quán-sát kia dứt và chưa dứt, sau đó, nói lược về gồm thâu lạc, chung cho cả bốn đạo.
“Kia tức ở đây” trở xuống, là thứ sáu, giải-thích gia hạnh rốt ráo, nghĩa là từ dứt “tu hoặc” của cõi Dục, cho đến tám Vô-gián chưa hết của Phi-tưởng, là sức của tác-ý gồm thâu lạc. Nếu người còn bị ràng buộc đủ tu được định này, thì có thể dứt trừ hẳn tất cả phiền não. Nhưng chủ yếu do dứt tám phẩm “tu hoặc” của Phi-tưởng, mới được định này. Khi được định này rồi, thì dứt hết “tu hoặc”.
“Từ Tam-ma-địa vô-gián của định Kim-cương dụ này trở xuống, là thứ bảy, nói về quả rốt ráo, trong đó có ba:
1/ Nói về thể của quả hữu vi, vô vi, để nêu giai vị kia.
2/ “Lại, lúc bấy giờ đến cùng cực rốt ráo v.v... ” trở xuống, là nói lại đức tốt của La-hán.
3/ “Phải biết rằng tác-ý thuộc định Kim-cương dụ trong đây v.v... ” trở xuống, là đối nhân lập quả.
Trong phần trước nói: “ Các lậu đã hết, nghĩa là do ba lậu hết, nên sự sống cũng đã hết, tức là sự sanh tử của ta đã hết; việc làm đã xong, không còn làm nữa, nghĩa là trí của việc làm đã xong.
Chứng đắc nghĩa của mình, nghĩa là do tu rốt ráo thánh đạo, nên chứng nghĩa lợi của quả mình, tức là trí của Phạm-hạnh đã lập.
Hết sạch các kiết “hữu”, nghĩa là kiết “hữu” hết, nên không thọ “hữu”, tức trí không thọ “hữu” sau.
Trong ba trụ. Pháp sư Cơ giải thích: “ Thánh trụ, nghĩa là không, vô nguyện, vô-tướng, diệt định. Trong các luận, chỉ có ba môn giải thoát là Thánh-trụ. Nay, lấy diệt định, vì vô-tướng nên tức nhiều trụ cũng ở trong trụ. Các Luận y cứ ở Tác-pháp của ba giải thoát. Ở đây thông suốt qua sự thật để luận nên không trái. Lại, hội Chánh làThánh. Chủ thể chứng Chánh-pháp của Thánh, gọi là Thánh trụ, tức chỉ có ba môn giải thoát, nếu đối với bậc Thánh thành tựu thì gọi là Thánh trụ, tức là Diệt-định cũng phải. Bốn Thánh còn lại v.v... không lìa Đạo đế, có tâm hội chánh nghĩa là trụ. Nay diệt định vô tâm, không hội nghĩa chánh, nên các luận không có. Luận này vì y cứ ở thành tựu nên có.
Trong Thiên-trụ, các luận chỉ nói bốn tĩnh-lự. Nay, luận này chung cho cõi Vô-Sắc, là lấy nghĩa định, tuệ đồng đều, y cứ ở tiêu-biểu tên
trời, nghĩa là chỉ nói bốn thiền, tức các luận, như đối-pháp quyển mười nói nếu nghĩa hữu, vô lậu, lại “hữu” cũng gọi là trời, thì Vô-Sắc cũng đúng, nên trong đây thông qua không trái Vô-Sắc . Lại vì y cứ ở có định trong sáng, nên gọi là trời, Vô Sắc cũng có định Quang Tịnh nên gọi là Trời, tức cũng là Thiên trụ. Như tác Pháp chân thật của văn này.
Kia y cứ một nghĩa, thứ hai lại nói trong thắng đức có ba mươi hai pháp, cho đến rốt ráo cùng cực, nghĩa là do đến quả Vô-học, nên quả này là bậc nhất.
Rốt ráo Vô-cấu, là thứ hai, La-hán dứt hết “hoặc” của ba cõi.
Rốt ráo chứng được bờ mé của phạm hạnh, là thứ ba, nghĩa là người vượt qua phạm-hạnh của hạnh hữu học, vẫn chưa đạt đến cùng cực. Nay, Vô-học đã đạt đến bờ mé.
Tánh lìa các then chốt. Nghĩa là phiền não của ba cõi bám trụ hữu tình, không cho thoát ra khỏi, cũng như ổ khóa cửa. Bậc Vô-Học đã dứt lìa khóa đó, tức thú tư.
Đã ra khỏi hầm sâu, tức thứ năm, lìa bốn bộc lưu dòng thác đã vượt qua hào sâu, tức thứ sáu, lìa bốn ách. Đã bẻ gãy, chế phục Y-sư- ca kia, đây là bậc Thánh chân thật, tức thứ bảy. Ở phương Tây có ngọn núi tên là Y-sư-ca, cao chót vót. “Pháp sư Cảnh nói Đỉnh núi cao này là dụ cho ngã-mạn, tự đề cao mình lên”. Pháp sư Khuy Cơ nói: Ví như phiền-não của Hữu đảnh cũng cao hơn hết. Bậc Vô-học lìa “Hoặc” Hữu đảnh, như bẻ gãy Y-sư-ca.
Diệt hết Cờ Cao. Pháp sư Cơ nói: Diệt hết ngã-mạn, là thứ tám.
Đã dứt bỏ năm chi, tức là thứ chín. Pháp sư Cơ nói: “Đã dứt trừ năm kiết phần trên va năm kiết phần dưới.” Pháp sư Cảnh nói: “Chỉ dứt năm kiết phần trên, thành tựu sáu chi, tức là thứ mười”. Pháp sư Cảnh nói: Thành sáu chi thường trú, Pháp sư Cảnh nói: Thành-tựu sáu niệm, lại thành sáu chi phép tắc đã thực hành v.v...
Nay, nếu dựa vào kinh A-hàm để giải thích văn này thì nên nói: “Đã dứt năm cái, được sáu hằng trụ. Cho nên, kinh A-hàm nói về quả La-hán: “Diệt hết năm cái, che chở sáu trụ, diệt hết một thân, niệm hàng phục ma”, chỉ văn dưới đây nói: “Thành sáu Hằng trụ”, thì cần gì phải nói lại?
Một bề giữ gìn che chở bốn đối tượng nương tựa thứ mười một. Gìn giữ che chở bốn y như, y pháp, không y nhân v.v... Lại bốn Y chỉ như thường khất thực, mặc y phẩn tảo v.v... Lại thủ hộ bốn niệm trụ, gọi là bốn y chỉ, rất xa lìa, tức là thứ mười hai, hữu học đã lìa các đường ác v.v... Nay Vô học vượt hơn hữu học kia, gọi là rất xa lìa, hoặc lìa tà
hạnh (hạnh bất chánh); hoặc lìa sát sinh v.v... vượt hơn Hữu học, riêng một Đế thật, tức là mười, ba, nói không lừa dối. Lại, lìa nói dối, gọi là Đế thật.
Buông bỏ sự mong cầu tức là mười bốn, vì địa vị vùng cực, lại không có mong cầu. Lại không có không cho mà lấy, nên gọi là không mong cầu.
Không có tư duy vẩn đục, là mười lăm, chỉ tư duy thiện, vô ký vì không có nhiễm ô bất thiện, tư duy vẩn đục, lại, vì không có tư duy vẩn đục về tà hạnh. Lại không có tư duy vẩn đục về sát sinh.
Bốn thứ trên đây, là bốn thứ trước trong mười nghiệp đạo ác, cũng được.
Hành động của thân nhẹ nhàng, là mười sáu. Ở địa vị Hữu học, thân có cứng, nhám. Nay, ở địa vị Vô học thường được khinh an, nên hành động ncủa thân nhẹ nhàng. Ỷ tức ỷ lạc. Tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát, tức là mười bảy. Được câu giải thoát, hoặc chỉ tuệ giải thoát.
Riêng một mình làm bạn, nghĩa là vì hơn hết. Nên gọi là riêng một mình (độc nhất), chứ chẳng phải bạn hữu học v.v... khác, gọi là không có bạn, tức mười tám.
Chánh hạnh đã lập, tức mười chín. Nghĩa là hạnh nhập niết-bàn đã lập. Về danh đã gần gũi đấng Trượng. Phu vô thượng, là hai mươi. Nói là đồng với Phật, chứng “nhân không”. Gần gũi với Phật. Phật là đấng trượng phu vô thượng .
Thành tựu đầy đủ sáu pháp hằng trụ, cho đến ý chánh niệm, chánh tri, là hai mươi mốt.
Nói về thường trú nơi sáu hằng trụ. Sáu pháp hằng trụ lấy ba pháp: Xả, Niệm và chánh tri làm thể.
Người tu hành kia, bấy giờ nhận lãnh tham dục v.v... cho đến ngu si không có thừa, mãi mãi dứt hẳn là thứ hai mươi hai.
Lìa căn bất thiện của ba cõi. Vì tham, sân, si kia đều hết hẳn nên không tạo ra các thói quen xấu ác, gần gủi các người thiện là hai mươi ba.
Sáng suốt dứt ác, tu thiện. Tâm người tu hành kia như hư không, nước trong sạch, là hai mươi bốn. Tâm kia như hư không chẳng có ô nhiễm; như nước sạch không có vẩn đục. Lại, như hư không chẳng có ngăn ngại, như nước sáng sạch, như nước không có bụi bám, như hương Chiên đàn mầu nhiệm, khắp vì tất cả Thiên-Đế, Thiên vương, cung kính, cúng dường, tức là thứ hai mươi lăm.
Pháp sư Cảnh nói: “Như gỗ Chiên đàn thơm trên hết trong thế gian. Hương, được Thiên Đế, thiên vương kính trọng. Pháp sư Khuy Cơ nói: Như ở cung Thiên-đế có cây Chiên-đàn diệu hương được Thiên- đế, Thiên vương thường sanh cung kính. Lại, thân La-hán, như gổ Đàn hương, nói là không có “hoặc”, vì tự tại, nên thường được Thiên-Đế v.v... cung kính, trụ Niết-bàn hữu dư y , là hai mươi sáu.
Nói về được Niết-bàn hữu dư , vượt qua biển sinh, tử, cho đến cũng gọi là nhậm trì thân hậu hữu là công đức hai mươi bảy.
Nói về thân này được Niết-bàn, chỉ gìn giữ một thân. Nghiệp phiền não trước đây đã dẫn sinh các uẩn, cho đến diệt hẳn, nhập Niết- bàn, là hai mươi tám.
Nói được Niết-bàn vô dư; phải biết, trong đây có tướng như thế, cho đến thứ năm là không cất chứa, thọ dụng tư cụ các dục, là hai mươi chín.
Nói về không tập gần, gồm năm nơi chốn. Như thế, không thể vọng chấp khổ, vui v.v... cho đến không có nhân mà sinh, là thứ ba mươi.
Nói về biết các pháp từ duyên mà sinh, không sinh chấp luống dối. Lại cũng không hay sợ hãi tất cả, sự không nên ghi nhận, là ba mươi mốt.
Nói vì đã biết pháp Phật, nên người khác hỏi, đều rất dễ hiểu.
Không sinh sợ hải trong mười bốn việc không nên ghi nhận. Cũng lại, không thể ở trên mây v.v... là ba mươi hai. Vì nói vô ngã nên không sợ hãi.
Trên đây là ba mươi hai công đức của A-la-hán “tất cả như thế gọi là Địa Thanh văn v.v...” trở xuống là văn, tổng kết một địa, vì văn ít, nên gữi trong xứ Du-già xứ thứ tư.
Nói cũng như tất cả danh, cú, văn, thân là căn bản đã tạo ra văn chương; chú thuật, luận căn bản khác lạ. Pháp sư Cơ nói: “Văn chương, luận khác lạ, phải dựa vào danh, cú v.v... mới thành. Nay, hạnh Thanh văn phải nương vào giáo pháp tương ưng này. Giáo pháp là căn bản của hạnh kia, như danh, cú v.v...
Nay giải thích: “Đây là nói lược về Địa Thanh văn, vì Thanh văn kia tương ưng với căn bản giáo rộng.
Địa Độc giác, nếu theo tiếng Phạm, thì gọi là Bát-Lặc-Ế-Ca-Phật- Đà, xưa dịch Bích-chi là lầm. Hán dịch là Độc giác. Khi mới phát tâm, cũng gặp Phật, tư duy pháp thế gian. Về sau, được đạo, thân ra đời không có Phật. Tánh ưa vắng lặng, không muốn cư trú ở chốn tạp nhạp,
tu gia hạnh viên mãn, không có thầy, bạn, giáo pháp, tự nhiên giác ngộ riêng mình, ra khỏi quả trong hành ở thế gian, nên gọi là Độc giác. Hoặc quán “duyên” đối đải mà giác ngộ quả Thánh, cũng gọi là duyên Giác .
Như thế, chủng tánh Độc giác, phát tâm tu hành được quả. Tất cả, nói chung là Địa Độc giác.
Trong văn, 1/ Trước hết, sau triển khai. 2/ Chia ra năm môn để giải thích.
Trong giải thích chủng tánh, Pháp sư Cảnh nói: “Ba loại Độc giác: phiền não nhẹ nhàng kín đáo, gọi là Bạc trần. Đối với các hữu tình, từ bi, kém, mỏng, gọi là Bạc bi. Cầu giác ngộ một mình, được xuất ly, không có thầy, vô địch trong thế gian, gọi là Mạn hành loại. Pháp sư Thái nói: “Tánh chất của Bạc trần ở trước, vì phiền não mỏng, nên dứt trừ dể dàng. “Hoặc” mạn trong phiền não rất mỏng và ít năng nề. Do tánh chất của mạn này nên mong muốn không có thầy”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Về chủng tánh, có ba hạng người. hoặc một người có đủ ba chủng tánh, một người có đủ tánh tùy tăng trong ba, nên nói có ba thứ; hoặc một người vì y cứ ba nghĩa nên nói trong ba thứ đạo”.
Pháp sư Cảnh nói: “Ở đây chính là nói về tu tập, nhập Thánh. Người đầu tiên trong đạo phương tiện ở trước, phải mất một trăm kiếp tu các thiện xảo như uẩn v.v... khi đủ một trăm kiếp rồi, đến thân sau cùng, điều phục Vô sở hữu để trở lại “tu hoặc”. Dựa vào Tĩnh lự thứ tư, khởi quán bất tịnh, cho đến rốt ráo. Người này lấy hai quả sau. Người thứ hai cũng là bản tánh Độc giác, gặp Phật, phát tâm tu đạo trong nhiều đời, cho đến nhân chỉ thủ của thừa, hay khởi ba căn lành, không thể nhập thánh chỉ tu các thiện xảo như uẩn v.v... bèn qua đời. Đến thân sau cùng, chế phục Vô sở hữu, để trở lại tu dứt phiền não, tùy nương địa nào trong năm địa, nhập hiện quán đế, vượt qua chứng Na-hàm, dứt trừ phiền não, mới chứng quả La-hán. Đôi khi người này trụ ba căn lành ở trước rồi qua đời, thọ thân. Ở thân sau, lại khởi hiện quán đế nhân như nhẫn v.v... được Sơ quả rồi dứt chung “tu hoặc” của chín địa, vượt lên chứng La-hán.
Người thứ ba cũng là Độc giác bản tánh. Gặp Phật, phát tâm tu đạo phương tiện, cho đến nhập thánh chứng pháp hiện quán , được quả sơ học, hoặc chứng quả thứ hai, chưa dứt hết lậu mà qua đời. Hoặc bảy lần sinh; hoặc thành Nhất Lai, sẽ không có Phật ra đời, thân nương tựa hai quả, không chứng Na-hàm, vượt lên chứng La-hán. Hai người sau
này đều là bộ hành ít nhất, không dưới bốn đời nhiều nhất không đầy một trăm kiếp, vì không bằng người đầu tiên.
Đại ý của thân thứ hai này nói về ba loại Độc giác, loại mới phát tâm tu đạo phương tiện. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Loại thứ nhất, khi mới phát tâm, gặp Phật, tu một trăm kiếp, đã thành quả Lân giác . Luận này nói riêng, trải qua một trăm kiếp, đã gặp Phật đời. Lại giải thích trong một trăm kiếp, du đã tu hành hay đã chưa tu hành thiện xảo như uẩn v.v... trải quả một trăm kiếp đã gặp Phật ra đời, mơí tu các thiện xảo như uẩn, ở thân sau mới thành đạo Lân giác. Đạo thứ hai, trước gặp Phật được Phật nói pháp cho nghe, tu không đầy một trăm kiếp; hoặc chín mươi kiếp; thậm chí tu tập một kiép xong, tu tập các thiện xảo như uẩn v.v... trong địa vị Noãn v.v... Với thân này không thể chứng quả cùng tột, hoặc chứng Sơ quả; hoặc bảy lần sinh gia gia, một lần qua lại Nhất gian v.v... Đến thân sau, được quả Độc giác.
Đạo thứ ba, gặp Phật, tu tập xong, với thân này được Sơ quả, hoặc bảy lần sinh “Gia gia”, Nhất gian, quả của một lần qua lại v.v... Lại tu các thiện xảo như uẩn v.v... đến đời đương lai sẽ chứng quả Vô học Độc giác. Nếu theo luận Trí Độ quyển hai mươi nói: “Bích-Chi-Phật có hai nghĩa:
1) Độc giác.
2) Nhân duyên Giác.
Như trên nói Độc giác: là người mới Thành đạo trong đời này, tự giác ngộ, không từ người khác nghe (không học hỏi với người khác) là gọi là Độc giác Bích-Chi-Ca-Phật. Độc giác-Bích-Chi-Ca Phật có hai loại:
1) Vốn là người khác, sinh trong người Học, là ở vào thời kỳ không có Phật, pháp Phật diệt, là Tu-đà-hoàn đã mãn bảy lần sinh, không nên sinh lần thứ tám, tự được thành đạo, là con người, không gọi là Phật, không gọi là A-la-hán, mà gọi là Tiểu Bích-Chi-Ca-Phật, không khác với A-la-hán.
2) Hoặc có người không phải là Đại A-la-hán như Đại La-hán Xá- Lợi-phất v.v... Đại Bích-Chi-Phật tạo nên công đức trí tuệ tăng trưởng trong một trăm kiếp, được ba mươi hai tướng phần; hoặc ba mươi một tướng; hoặc mười chín tướng trong ba mươi hai, cho đến một tướng trí tuệ thù tháng nhạy bén tong chín loại A-la-hán. Đối với tướng chung, tướng riêng trong các pháp sâu sác, có thể nhập thu nhập tu tập định lâu, thường ưa ở một mình, với tướng như thế, gọi là Đại Bích-Chi-Ca- Phật.
Lại nếu theo luận Thập địa, lấy một hạnh, một quả để làm thuyết vượt hơn.
Trong tập, Ngài Tam Tạng noí: “Thân của người thứ hai ở trước đủ hai loại Thanh văn, Độc giác, nên đã gieo trồng phần thiện giải thoát của Thanh văn xong. Trải qua ba lần thọ sinh, lại gặp Phật ra đời, chuyễn căn được thành chủng tánh Độc giác, có thể dẩn sinh phần thiện quyết định lựa chọn của Độc giác, để cho được hiện khởi. Ba quả đầu của người thứ ba kia, gặp Phật ra đời, chuyễn thành Độc giác, chẳng phải phàm phu, cho nên quả Bất Hoàn được gọi là chỗ chí cực.
Pháp sư Cảnh nói: “Đạo phương tiện thành, lại tu tập, nhập quán đế, tu tập môn trước của ba tướng đã xong, chỉ biết Độc giác thứ ba phát tâm chứng quả Thánh, không thể dứt hết lậu, mà còn phải trải qua thọ sinh nữa, hai quả ban đầu này chẳng phải Bất hoàn. Nếu là Bất hoàn, thì không thể hết lậu,trụ quả; Nếu qua đời thì sinh lên cõi trên. Vì không có Độc giác sinh lên cõi trên, nên biết Độc giác thứ ba gặp Phật, phát tâm tu đạo chứng quả thánh.
Không thể hết lậu mà qua đời, nghĩa là hai quả đầu tiên này. Kế là, văn tự phán quyết, người đầu tiên gọi là Lân giác, hai người sau gọi là bộ hành.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Tập có ba thứ:
1) Như văn.
2) Tức sử dụng đạo trước có hai, nên tập cũng có hai, giải thích về trụ, như văn.
Trong Hành nêu chung tất cả, nói về hành tướng, chỉ hiện thần thông, không nói pháp, v.v... cho đến xưa nay, một bề hướng về vắng lặng.
Pháp sư Cảnh nói: “Theo đối pháp quyển mười ba nói”.
Bổ-đặc-già-la Độc giác thừa. Nghĩa là thực hành pháp tánh của Độc giác, hoặc nhất định, không nhất định là tánh bậc trung. Tự cầu giải thoát, phát chánh nguyện rộng, tu nhàm chán lìa tham, giải thoát ý lạc, một mình tu chứng Bồ-đề, tức Tạng Thanh văn là cảnh sở duyên, tinh tần tu hành pháp tùy pháp hạnh. Hoặc ở trước chưa khởi, thuận với phần quyết trạch, hoặc ở trước đã khởi thuận phần quyết trạch hoặc ở trước chưa được quả, hoặc ở trước đã được quả, ra đời không gặp Phật, chỉ tư duy nội tại, Thánh đạo hiện ở trước. Hoặc như Lân giác, Độc giác trụ, hoặc lại Bộ hành một mình vượt hơn, được dứt hết mé khổ. Nếu ở trước chưa khởi thuận với quyết trạch phần thì là người đầu tiên của Du-già. Hoặc ở trước đã khởi thuận với phần Quyết trạch, thì sẽ là hai người
sau của Du-già. Hoặc trước đó đã được quả, thì sẽ là người thứ ba của Du-già. Người đầu tiên thành Lân giác, hai người sau thành Bộ Hành, cũng đồng với của Du-già.
Nói nếu nhất định, không nhất định. Nghĩa là người đầu tiên tu giải thoát trong một trăm kiếp, đến thân sau cùng, mới khởi Noãn v.v..., thì được hết lậu, khác với Thanh văn, gọi là nhất định. Người thứ hai, thứ ba gặp Phật, phát tâm, hoặc chỉ khởi Noãn v.v... hoặc cũng được nhập Thánh, chứng quả Dự lưu, đồng với Thanh Văn, gọi là Bất Định. Cũng có thể trong Thừa Độc giác, nếu chỉ thành thục chủng tánh Độc giác, thì đây gọi là nhất định. Nếu đều thành thục chủng tánh của Thừa khác thì gọi là Bất định. Cách giải thích trong văn, đồng với Du-già kia, chỉ nêu nhất định, nghĩa là đại khái không phân biệt Độc giác bất định. Đối Pháp lại nói: “Như nói người Dự Lưu có hai loại:
1/ Xuất ly dần, như thuyết trước nói.
2/ Xuất ly ngay, nghĩa là nhập hiện quán Đế xong, nương tựa Định Vị Chí, phát đạo xuất thế gian, dứt trừ ngay tất cả phiền não của ba cõi. Mỗi phẩm đều dứt riêng, chỉ lập hai quả, đó là quả Dự Lưu và quả A- la-hán. Do hai quả này, như thứ lớp kia, dứt trừ hẳn kiến tu phiền não của ba cõi, vì vô dư đã hiển bày, nên không lập hai quả trung gian. Vì chỉ dứt “tu hoặc” của cõi Dục, vì hữu dư, vô dư đã rõ ràng, nên lại dựa vào người xuất ly ngay như thế. Trong kinh nói Dự lưu Vô gián, tức lập La-hán, là người ở hiện pháp, hoặc lúc qua đời khéo nói ý chỉ của bậc Thánh. Dù không thể nói, do sức nguyện, nên sinh trở lại cõi Dục, ra đời không có Phật, thành quả Độc Thắng. Dù cho người không phân biệt được, vì chưa thể lìa các dục không có thừa, tức do sức nguyện sinh cõi Dục, người đó có thể sớm chứng bát Niết-bàn.
Đoạn văn sau này là nói bản tánh là Thanh Văn bất định. Được Dự lưu xong, muốn vượt lên chứng La-hán mà không thể phân biệt, tức do sức mong muốn ra đời không có Phật, để thành tựu quả Độc Thắng. Do nguyện này nên quay về cầu Độc giác, liền trụ Sơ quả, hoặc bảy lần sinh rồi, đến thân sau cùng, dứt hết kiết còn lại, chứng Độc giác. Đây gọi là Độc giác Thanh văn.
Nói: “Tất cả xưa nay hoàn toàn hướng về vắng lặng, nghĩa là vì tánh ưa vắng lặng, nên gọi là hướng về vắng lặng, chư chẳng phải cho rằng đều là tánh quyết định thú hướng vắng lặng.