DU-GIÀ LUẬN KÝ
QUYỂN 7 (Phần Đầu)
BẢN LUẬN QUYỂN 27
Từ trên đến đây đã giải thích về hai phần đầu trong năm pháp quán dừng tâm xong. Từ đây trở xuống, là phần thứ ba, Duyên Khởi Quán, trong đó, trước hỏi, kế giải thích, sau là kết.
Trong phần hỏi, “Tánh duyên”, là bốn duyên, Duyên khởi, là duyên mười hai chi.
Trong phần giải thích gồm có hai:
a) Nói về dựa theo bốn đạo lý, nhằm tìm kiếm ba hành của ba đời, chỉ có các pháp, không có tác giả, thọ giả.
b) Nói do tư duy nên tâm si thanh tịnh.
Trong phần trước có hai:
Một, là đối với ba đời, chỉ nhận thấy có hành; chỉ pháp; chỉ sự, chỉ nhân, chỉ quả.
Hai, nương tựa bốn đạo lý để tìm kiếm, mong cầu:
Vì quán đối đãi vô minh v.v... nên có hành v.v... Vô minh, hữu chỉ sinh ra tác dụng của hành, cho đến sinh không có tác dụng dã sinh ra già chết.
Có lượng của chí giáo nói là có duyên khởi; có khổ, tập trí hiện lượng, nói là chứng biết.
Biện luận đối địch có tỷ lượng: Có Phật hay không có Phật; vô minh duyên hành v.v... tánh của việc đó là pháp vốn như thế (pháp nhĩ) vì không có người tạo, kẻ thọ lãnh.
Ở đây, chỉ có các pháp như vô minh v.v... các pháp có công năng dẩn phát hành v.v..., tức là duyên khởi. Vô minh v.v... đối với hành v.v... là duyên nhiều ít, tức là tánh duyên.
Phần thứ tư, trong quán sai khác của cõi, đầu tiên là giải thích rộng về tánh tướng khác nhau của sáu cõi:
Hai, “Nếu các hành mạn v.v...” trở xuống, là nói về ngã mạn,
nghĩa là đối với sự khác nhau của cõi, tác ý tư duy tâm ngã mạn được tịnh.
Trong phần trước, gồm có hai:
Một/ Nêu ra sáu tên gọi là.
Hai/ Giải thích rộng về sáu giới tức là sáu đoạn.
Nếu dựa theo kinh Niết-bàn thì quán mười tám giới, được gọi là giới phân biệt quán. Nay, ở đây nói về sáu giới là sao?
Khuy Cơ Pháp sư nói: “Sáu giới này vì chung cho cả cõi Dục, cõi Sắc có đủ, nên dù địa không đủ, chẳng phải mười tám giới có giới này đủ;
Nói rằng, tánh giới riêng trong thân này, thuộc tánh cứng chắc v.v..., thuộc cứng chắc là đất. Căn thân bên trong thuộc về đất này, có trần là chấp thọ của A-lai-da. Nay giới địa này phần lớn nương tựa gần căn trần chấp thọ kia. Vì địa đại trong đây cũng là chấp thọ của A-lại- da, nên nói rằng nương tựa gần chấp thọ như thủy v.v... ở dưới, một phần chỉ ở đây.
Trong giới Địa ngoài, nói rằng, chẳng nương tựa gần, chẳng phải chấp thọ. Nghĩa là nếu giới địa bên trong nương tựa gần, đã dựa gần ở bản thức, thì có thể chấp thọ v.v... Nay, giới đọa bên ngoài chẳng phải là lửa ngoài có thể đốt cháy một phần v.v... các thôn xóm v.v... Luận sư Cảnh nói: “ Hoặc khiến đốt một làng, hoặc đốt một phần làng, cho nên nói rằng:” đốt một phần v.v... thôn xóm. Cho nên nói hoặc từng phần của các thân, nay lại giải thích rằng: Hoặc thiêu đốt xóm làng hoặc giới ngoài xóm làng, nghĩa là trừ chỗ có rác rưỡi, v.v...
Như luật đã nói: “Gió bên hông khi nằm trong giới phong bên trong. Luận sư Cảnh nói:” có người mắc phải chứng bệnh phong, chỉ được nằm ngửa, gọi là Tích ngọa phong (gió dưới xương sống lúc nằm). Hoặc có người mắc chứng bệnh phong. Chứng bệnh của thân như bị nhiều lưỡi dao lớn, nhỏ cắt, cũng như kim châm chích. Hoặc có người khi bị bệnh phong, trên mặt nổi những chấm đen, mỗi chấm đều như hình dáng Tất-Bát-La”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: gió v.v... của hông khi nằm, nghĩa là thứ gió này dứt trong hông mà được nằm v.v... có thứ gió như lưỡi dao to, nhỏ làm hại con người.
Gió Tát-bát-la. Như Luận sư Cảnh giải thích: “lại giải thích về Tát-bát-la, tức con người ăn Tát-bát-la. Gió này cay, gây đau đớn, vì giống như Tất-Bát. Trong gió ngoài, nói rằng gió Tỳ-thấp-Bà, Hán dịch là gió của các thứ Khéo Trang Nghiêm. Như nơi Tỳ-Chấp-Yết-Ma v.v...
gọi là xảo thiên. Gió Phệ-Tam-Bà, Hán dịch là toàn Phong (gió xoáy), tức là thứ gió thổi mạnh, gió xoáy vòng trong núi Tô-mê-lô.
Bàn tay Đa-La v.v... Phương Tây có một cây, hình dáng chiếc lá giống như cây móc, cây cọ (tông lô). Cắt bỏ đót lá, chỉ thừa lại thân lá, cũng quạt mát được.
Trong giải thích thức giới, đầu tiên, y cứ ở sáu thức. Sau nói rằng, Tâm, ý, thức. Nghĩa là lấy chung cả tám thức hữu lậu.
Hỏi: “ Như bậc thánh thành tựu thức vô lậu v.v..., có phải cũng được y cứ ở thức Vô lậu đi để lập làm Thánh Nhân không?”
Đáp: “Chỉ có y cứ chung cho năm uẩn vô lậu, có phải cũng được y cứ ở thức vô lậu, người đó được nói là bậc Thánh. Tuy nhiên không được nói là thức vô lậu v.v..., được lập trong sáu giới, vì sáu giới là gốc của sự sinh.
Lìa một hợp tướng, tức chấp làm ngã, thật ra, các giới bị thân chấp làm một hợp ngã. Nay lìa tướng này, tức kinh Bát Nhã nói rằng: “Như Lai nói là một hợp tướng v.v....”
Thứ năm, trong A-na-ba-na niệm quán, trước là hỏi, kế là, giải thích, sau, là kết thành nghĩa kia.
Trong giải thích có hai:
1/- Nêu sơ lược; 2- Giải thích rộng.
Trong phần truớc, trước là giải thích về niệm; sau, giải thích đối tượng duyên (sở duyên):
A na, Hán dịch là Trì lai, tức là hơi thở vào; Ba-na, Hán dịch nói là Trì khứ, tức hơi thở ra.
Pháp sư Thái nói: “Đời Đường gọi là Trì tức lai, trì tức khứ.”
Trong giải thích rộng dưới đây, trước là giải thích vể thể hơi thở của đối tượng duyên (sở duyên); sau phân tích chủ thể tu tập niệm.
Trong phần trước có bảy câu:
1- Phân tích về thể của hơi thở ra vào, mỗi hơi thở đều có hai phần khác nhau.
2- Nêu ra nhân duyên.
3- Phân tích đối tượng nương tựa của hơi thở.
4- Nói về sự vận hành của hơi thở.
5- Nói về địa sở y.
6- Phân tích tên khác.
7- Người tu quán hơi thở có hai tai hại lỗi lầm.
Thở vào v.v... Luận sư Cảnh giải thích “Thở vào, lúc vào khắp trong thân, cho đến chỗ rún.
Khoảng giữa thở vào. Nghĩa là hơi thở vào diệt rồi, hơi thở ra chưa sinh, ở khoảng giữa tạm thời có hơi thở giống như làn gió thoáng nhẹ. Dưới đây, nói về niệm lúc hơi thở vào ngắn, duyên thở vào của khoảng giữa này.
Hơi thở ra cũng thế v.v.... Nghĩa là phát ra từ rún cho đến miệng, mũi. Hoặc thở ra ngoài mũi, là hơi thở ra dài. Hơi thở ra đã diệt, hơi thở vào chưa sinh. Khoảng giữa từ rún đến mũi, tạm thời có hơi thở ra, giống như làn gió. Dưới đây, sẽ nói về niệm khi hơi thở ra ngắn, “duyên” hơi thở ra của khoảng giữa này.”
Cơ Pháp sư nói: “Khoảng giữa hơi thở ra vào. Nghĩa là khoảng giữa hơi thở vào, ra dù hơi thở chưa ra vào, ở khoảng giữa đó cũng vẫn có hơi thở nhỏ nhiệm chuyển biến, gọi là hơi thở khoảng giữa.”
Xưa, ngài Viễn Công nói: “Hơi thở ra xuất phát từ rún, tam sinh đến ngoài liền diệt. Hơi thở vào bắt đầu từ ngoài thân mà đến vào thân, tức là diệt, tùy tâm thô, tế, xa gần không nhất định.”
Pháp sư Thái, Pháp sư Cơ đồng nói: “Hơi thở kia vì chỉ đến rún, vì phía dưới rún không có con đường của hơi thở, lại không có chỗ thoát ra, trở lại, tức là cho đến từ miệng thở ra và thở ra từ chóp mũi.”
Hơi thở có hai nhân duyên. Luận sư Cảnh nói:
1/ Nghiệp dẫn dắt là nghiệp quá khứ. 2- Con đường của gió đã nương tựa và chỗ nương tựa của các lỗ chân lông. Chỗ nương tựa cũng được gọi là nhân duyên.”
Pháp sư Thái nói: “1/- Do nghiệp dĩ vãng đã dẫn phát gió nghiệp. 2/- Giữa rún có lỗ nhỏ, hoặc phía trên miệng, mũi. Giải thích về đối tượng nương tựa rằng: “Một thân, hai tâm, do phải nương tựa ở chỗ thân, tâm, thì hơi thở ra vào mới vận chuyển như các đối tượng thích hợp với nó. Luận sư Cảnh nói: “Tức là Tỳ-Bà-sa nói: “Nương tựa thân, nương tựa tâm, tu theo điều mà hơi thở cảm thấy thích hợp.”
Tùy theo sự thích hợp của hơi thở. Có thuyết nói: “Lúc trẻ thơ hơi thở ít, lúc trung niên, hơi thở vừa; khi tuổi già, hơi thở nhiều.”
Có thuyết nói: “Do bốn việc, nói là tùy theo sự thích hợp:
1- Nương tựa thân.
2- Đường gió thông suốt qua.
3- Lỗ chân lông mở ra.
4- Tâm thô của Địa hơi thở hiện ở trước, nếu chia nương tựa thân, không nương tựa tâm, thì hơi thở kia của hai định vô tâm lẻ ra quay trở về. Lúc bấy giờ, dù có thân là đối tượng nương tựa của hơi thở đi nữa, thì đường gió cũng thông suốt qua lỗ chân lông, cũng mở ra, chỉ không
có tâm thô hiện ở trước, nên hơi thở không quay về.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Hoặc nương tựa thân, tâm; hoặc nương tựa ở nghiệp; hoặc theo lỗ hỏng, nên nói: “Như đối tượng thích hợp với nó. Chỗ nương tựa được thích hợp, đều nương tựa.
“Nếu chỉ nương tựa ở thân mà hơi thở được vận chuyển” v.v..., trong đây, ý vấn nạn rằng: “chẳng phải chỉ dựa vào thân mà hơi thở được vận chuyển, như khi nhập định vô tâm v.v..., thân ở cõi dưới mà hơi thở của người kia không chuyển vận, cho nên, chẳng phải chỉ nương tựa thân, mà hơi thở được chuyển vận. “Nếu chỉ dựa vào tâm mà hơi thở được vận chuyển v.v... “. Trong đây, ý vấn nạn rằng: “chẳng phải chỉ dựa vào tâm mà hơi thờ được vận chuyển. Nếu không như thế thì khi nhập định Vô Sắc, hơi thở của người kia chuyển vận? “Nếu chỉ nương tựa vào thân, tâm mà hơi thở được vận chuyển”: Trong đây, ý vấn nạn rằng: “Cũng nương tựa lỗ hổng, nghiệp v.v... mà hơi thở được chuyển vận?”, chẳng phải chỉ nương tựa thân, tâm, như bốn phần vị thời gian ở trong bụng mẹ, không có nghĩa hơi thở. Vì thế nên luận nói là phần vị đóng cửa v.v...
Hơi thở có hai lối đi. Nghĩa là hơi thở vào đi trở xuống, là vì từ mũi, miệng, hướng xuống phía dưới chỗ rún. Hơi thở ra đi trở lên, vì từ trên chỗ rún, đi đến miệng, mũi.
Hai Địa. Nghĩa là lấy đường gió, tế là lỗ chân lông. Đối tương nương tựa gọi là Địa trước cứ ở chỗ vì nhân lỗ chân lông, nên hơi thở được ra vào, tức gọi là nhân duyên. Có hai tai họa lỗi lầm: Nếu phương tiện quá chậm, thì biếng nhác hôn trầm, thùy miên. Nếu phương tiện quá gấp thì cả hơi thở đều kết tụ, làm nảy sinh nỗi khổ không đồng đều của thân, tâm.
Từ đây trở xuống, là phần thứ hai, giải thích về chủ thể tu niệm, trong đó, đầu tiên, là chia ra năm môn. Kế là, dựa vào môn để giải thích. Sau, là tổng kết.
Nếu y cứ theo Luận tạng v.v... thì có sáu, nghĩa là thường tùy chỉ quán trở lại tịnh. Nay môn đầu ở đây sẽ là thường tùy chỉ quán kia, môn khác không đồng.
Trong phần giải thích về môn đầu, trước là chia ra bốn câu; sau, giải thích bốn câu, trong đó có bốn:
1- Giải thích bốn câu.
2- Nói về toán số thắng tấn.
3- Nói về lợi độn, khác nhau.
4- Nhắc lại chung để kết.
Trong phần đầu, nói lấy một làm một toán số: Luận sư Cảnh nói: “Đầu tiên, “duyên” hơi thở vào, vì không quán hơi thở ra, nên nói rằng hơi thở ra dứt ở niệm”.
Pháp sư Thái nói: “Đây chỉ “duyên” hơi thở vào, nhưng niệm từ cảnh mà đặt tên, gọi là hơi thở ra vào dứt ở niệm.
Lấy hai làm một số tính. Nghĩa là hai hơi thở ra vào hợp số thành từ một đến mười thuận theo toán số, tức là hai số trước từ một đến mười gọi là Thuận.
Số tính ngược. Nghĩa là nếu lấy một làm số một, từ số mười đến số một, cái gọi là vào mười, ra chín, vào tám ra bảy, vào sáu ra năm, vào bốn ra ba, vào hai ra một. Nếu dựa theo lấy số hai làm số một, thì đầu tiên, hơi thở ra vào là số mười. Kế là, hơi thở ra vào là thứ chín. Kế là, hơi thở ra vào là thứ tám. Kế là, hơi thở ra vào là thứ bảy, cho đến thứ nhất.”
Hỏi: “ Chỉ lập số thuận là được rồi, đâu cần phải số nghịch?”.
Giải thích: “Vốn vì Chế Trì nhiều tầm từ, nên tạo ra tính số để quán. Nay, lập ra nhiều môn nhằm đếm hơi thở, hoặc một, hoặc nhiều, hoặc thuận, hoặc nghịch, điều phục tầm từ, để cho không được khởi, nên tạo ra quán này,”
Pháp sư Thái nói: “Đếm xuôi đến mười xong, không đếm mười một, đếm ngược lại từ số chín, kế là, nói tám, cho đến hai. Kế là, nói một, nên gọi là đếm ngược. Bà-sa không có cách đếm này.”.
Hỏi: “Niệm này hoàn toàn “duyên” cảnh hiện tại, sao lại từ số một đếm ngược lại số chín, tám, bảy v.v... quá khứ?”.
Ngài Tam Tạng đáp: “ Chỉ giả tưởng quán số mười. Tiếp theo là chín cho đến số một, không “duyên” thể của chín, tám, bảy v.v... trong quá khứ để làm số ngược.
Thứ hai, trong nhân tích về số tính của thắng tấn, nghĩa là nêu y theo lấy một làm một số tính, thì thời nay, hoặc hợp hai hơi thở ra vào làm một số đến mười. Hoặc hợp một vào, hai ra; thứ ba vào làm một số đến mười số, cho đến tăng dần. Tổng hợp năm mươi tám hơi thở vào, năm mươi hơi thở ra, hợp một trăm hơi thở làm một số đến mười. Nếu dựa vào lấy số hai làm một số tính, thì đầu tiên, hợp bốn hơi thở: hai vào, hai ra làm một số đến mười, cho đến tăng đến một trăm vào, một trăm ra, có hai trăm hơi thở, tổng hợp thành một số đến mười.
Như thế, người siêng tu niệm đếm hơi thở, mười mười là một trăm số dùng làm một, cho đến đủ mười, vì sao từ một số đều đến mười? Do đây, lấy mười làm một số tính, khoảng giữa số đó, tâm không tán loạn.
Ngang đây, gọi là người đã tu tập xuyên suốt.”
Khởi Pháp sư nói: “Đầu tiên, lấy một trăm làm số một đến thứ mười, tức là mười trăm, gọi là ngàn. Lại lấy mười mười trăm làm một, nên nói rằng mười mười đếm là một, dần đếm cho đến đủ mười, tức là muôn. Vì mười cái mười trăm, nên nói rằng mười mười.
Lại, đây là người siêng năng tu niệm đếm hơi thở, Nghĩa là từ số một chưa đủ mười, đếm đến khoảng giữa lại lầm lộn, nên bỏ không đếm nữa, lại khởi sự đếm từ một. Hoặc có lúc vì số tính rất quen, cho nên trước khi hơi thở vào, đã có thể lấy chuyển nghĩa là lúc có biết có, hơi thở vào diệt xong, đối với phần vị trống không của hơi thở, có khả năng lấy chuyển, lúc không có, thì biết không có. Kế là, đối với hơi thở ra trở xuống, là đối với hơi thở ra kia biết có, biết không. Như thế, lần lược rót chảy nối tiếp nhau cho đến giúp cho tâm an trụ.
Từ trên đến đây, đã nói rất nhiều quán hạnh lần lượt nối tiếp nhau, cho đến khiến tâm an trụ. Đối với hơi thở ra vào, nên chính đáng thực hành theo, nên xem xét rõ ràng, thấu đáo. Nghĩa là về hơi thở ra vào, đếm riêng; đếm kép; hoặc đếm xuôi; đếm ngược; hoặc không lầm lẫn, nên chính thức thực hành theo. Nếu có sự lầm lộn, nên xem xét, hiểu rõ một cách thông suốt. Về hơi thở ra vào, và hai khoảng giữa, hoặc chuyển tiếp, hoặc trở lại phần vị khác, đều khéo biết rõ. Nếu lúc hơi thở vào ra sanh khởi thì gọi là hoặc chuyển. Khoảng giữa đã diệt, sau lại chưa sinh, gọi là hoặc hoàn. Như thế sự khác nhau của phần vị chuyển vận, trở lại, đều phải khéo hiểu biết rõ ràng. Như thế, gọi là tu tập toán số.
Thứ ba, trong phần nói về lợi, độn. Nghĩa là nếu đối với người căn tánh chậm lụt (độn căn), thì vì họ nói pháp tính số để giúp cho tâm an trụ. Nếu khác với tính số, thì sẽ bị triền hôn trầm v.v... khuấy nhiễu. Nếu đối với người lợi căn, hoặc vì họ nói pháp tính số, cũng có thể nhanh chóng thấu rõ không có ngăn cách, nhưng họ không ưa thích.
Thứ tư, trong nhắc lại chung để kết, nếu theo giải thích của Luận sư Cảnh, thì theo thứ lớp như đã nêu ở trước.
Phần nhiều gia hạnh vì làm nhân duyên, nên được thân, tâm khinh an, chứng một tánh cảnh. Cho nên, biết từ trên đến đây, đa số quán đều là văn, tư và đều có nhân sinh ra tuệ. Tu tập này được định Vị chí, gọi là tánh cảnh. Nói nếu là xứ chuyển”: Là nhắc lại kết trên, về nghĩa của bốn thứ tính, là lấy một làm một v.v....
“Hoặc cho đến chuyển”. Nghĩa là kết tính số thắng tấn ở trên.
“Hoặc như đã chuyển”. Nghĩa là kết “ Sự lầm lộn, nên lùi trở lại,
bắt đầu đếm từ một”.
“Hoặc có lúc chuyển vận”. Nghĩa là kết “Hoặc có lúc tính số mất quen thuộc, nên biết có, biết không v.v... nói trên.
“Đối với pháp này do an trụ ở niệm v.v... “ là Kết: “Như thế lần lượt chảy rót nối tiếp nhau” trên, cho đến khiến tâm an trụ v.v....”
Pháp sư Thái nói: “Các chỗ lỗ hổng”, gọi là “nếu là xứ chuyển”. “vào thân cho đến vùng rún” gọi là “cho đến chuyển”. “Như hơi thở ra vào” gọi là “Nếu như đối tượng được chuyển”: Là thời gian hơi thở ra vào dài, ngắn nối nhau” gọi là “Hoặc có lúc mà chuyển”.”
Luận sư Bị nói: “Hoặc hơi thở vào bắt đầu từ chóp mũi, cuối cùng đến vùng rún. Hoặc hơi thở bắt đầu từ chỗ rún đến chóp mũi, gọi là “hoặc là chỗ chuyển”. Hơi thở vào từ mũi, dần dần đến rún, dần dần đến mũi, gọi là “hoặc cho đến chuyển”, tức vị trí lúc hơi thở vào, ra chuyển vận, có thể tùy thuộc vào chỗ mà hai hơi thở ra vào đã vận hành, gọi là “Hoặc cho đến chuyển”. Hai hơi thở ra vào lúc vô tâm định không được mà chuyển. Phần vị chuyển khác này hoặc tùy thuộc vào lúc đi mà chuyển, gọi là “Hoặc có lúc mà chuyển”.
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: Nếu là đối tượng chuyển, nghĩa là nhắc lại các lỗ huyệt trên, tức lỗ thô, lỗ tế v.v..., chính là xứ chuyển ở đây. “Hoặc cho đến chuyển”, tức nêu “Từ lỗ huyệt rún cho đến chỗ rún, tức hơi thở vào thân cho đến chỗ rún chuyển”.”Hoặc như đối tượng chuyển”, nghĩa là nêu lấy một làm một hơi thở ra vào ở trên. Ngoài ra, lúc thở, như đối tượng thuận, nghịch v.v... chuyển. “Hoặc có lúc mà chuyển’, tức là nhắc lại “Hoặc có lúc hành giả lấy một làm một v.v... cho đến mười lần mười làm một. “Thời gian, dài, ngắn, nối tiếp nhau” gọi là có lúc mà chuyển”, tức với ngần ấy thời gian, đếm hơi thở nên chuyển. Về sau, vì đã thành tựu, nên không nêu.
Thứ hai, trong giải thích về ngộ nhập uẩn tu tập, đầu tiên, là nói chung về ngộ nhập.
“Rằng, đối với hai việc đối tượng lấy, chủ thể lấy, tư duy ngộ nhập cac uẩn, nghĩa là tư duy về đối tượng lấy, thể của hơi thở ra vào và thân, đối tượng nương tựa, ngộ nhập sắc uẩn. Tư duy chủ thể lấy niệm hơi thở vào, ra đồng thời với bốn uẩn, tức là ngộ nhập của bốn uẩn còn lại.
“Thế nào là ngộ nhập?” trở xuống, là kế là, nói về riêng ngộ nhập.
Pháp sư Thái nói “Như nhãn thức “duyên” màu xanh, là gọi là chứng lượng, đồng thời có tưởng, tưởng không có công dụng. Khởi tâm tìm cầu màu xanh này chẳng phải màu vàng, trở lại là cộng tướng, vì
duyên pháp giả, đó gọi là Tỷ lượng. Nếu nói thể cực vi này là xanh, vì màu xanh là thể, nên là cảnh của chứng lượng, không chung cho các màu xanh, cho nên là tự tướng. Nếu nói đây là màu xanh thì lìa màu xanh, sẽ không có, màu xanh riêng, cho nên là pháp giả, gọi là cảnh của Tỷ lượng. Chẳng phải, chẳng phải là nghĩa màu xanh cùng khắp tất cả màu xanh, nên gọi là công tướng. Lại nữa, màu xanh này lấy màu xanh làm thể. Vì thể không khắp nhau, nên là tự tướng, gọi là cảnh chứng lượng.
Chẳng phải, chẳng phải xanh, thì chẳng có cái không, vì thể khắp tất cả, nên là công tướng. Hiểu rõ cộng tướng này, gọi là “đẳng liễu”.
Tác ý tư duy, ngộ nhập tướng uẩn. Tưởng đồng thời này nhất định có thức, thọ, nhưng vì công dụng yếu kém, cho nên không nói.
Phần thứ ba, trong ngộ nhập duyên khởi, trước chung, sau riêng.
Trong giải thích riêng, đầu tiên, là tìm cầu thể của hơi thở vào, ra, nên nương vào duyên thân, tâm. Kế là tìm kiếm thân, tâm. Nên dựa vào “duyên” mạng căn. Ba thứ này tức là thể của sinh, già chết của mé giữa, đồng thời mạnh yếu để chia ra chủ thể sinh, đối tượng sinh. Lại mong cầu mạng căn hiện tại. Từ các hành mé trước đã sinh, lại tìm kiếm hành này từ vô minh sinh ra. Từ mười nhân của mé trước, đại khái nêu hai vô minh với hành ở đầu.
Từ trên đến đây, là nêu quả để tìm nhân, theo thứ lớp nghịch đã xong. Từ đây trở xuống là thuận với thứ lớp.
Như thế, là biệt rõ vô minh, nương tựa vào “duyên” trước hành, cho đến thân, tâm đều nương vào “duyên” hơi thở kia.
Từ trên đến đây, đối với phần vị khởi tác, ngộ nhập duyên khởi. Lại biết rõ vì vô minh diệt, nên hành diệt v.v... Lại y cứ vào phần vắng lặng, ngộ nhập duyên khởi.
Phần thứ tư, trong ngộ nhập thánh Đế, trước là ngộ nhập bốn lý của khổ Đế, đó là vô thường khổ; không, vô ngã. Nhận biêt rõ nỗi khổ này sinh ra từ tham, ngộ nhập tập Đế. Lại chính ngộ nhâp sinh khổ là do ngộ nhập tham ái, vô dư dứt trừ hẳn. Ngộ nhập diệt đạo.
Phần thứ năm, trong mười sáu thắng hạnh, văn chia là ba:
1- Nhắc lại trước để nêu chung.
2- Giải thích.
3- Kết.
Đầu tiên, vì dứt tu hoặc, nên lại tiến tu mười sáu hạnh thù thắng.
Nói thắng hạnh là có nghĩa gì? Xưa ngài Viễn Công nói: “Vì tám nhân duyên nên gọi là thắng hạnh.”
Pháp sư Bị nói: “Vì tánh trí tuệ không chung với ngoại đạo, nên gọi là thắng hạnh.”
Nay, giải thích: “ Vì vượt hơn kiếm đạo ở trước, nên gọi là thắng hạnh.
Trong giải thích, trước nêu sau giải thích.
Trong phần nêu, y cứ theo luận chánh lý dần kinh nêu ra mười bảy niệm. Trước nói chung, sau, nói riêng. Có mười sáu luận này cũng thế.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ trong đây, trước là “duyên” chung niệm trụ. “ hoặc dài, hoặc ngắn”. Trở xuống, là mới nêu mười sáu. Trong câu hỏi dưới đây sẽ giải thích.
Mười sáu niệm nương tựa bốn Niệm trụ. Xưa nay, bốn với bốn phối hợp:
1- Quán hơi thở dài.
2- Quán hơi thở ngắn.
3- Quán hơi thở khắp thân.
4- Hơi thở trừ hành của thân. Bốn thứ này là quán thân.
5- Quán hỷ hơi thở vào, ra trong hỷ.
6- Quán lạc hơi thở vào, ra trong lạc.
7- Quán hơi thở ra vào của tâm hành.
8- Quán hơi thở trừ tâm hành trong hơi thở ra vào. Bốn thứ này là quán thọ.
9- Quán hơi thở ra vào của tâm.
10- Quán hơi thở của tâm vui mừng.
11- Quán hơi thở của tâm chế trừ.
12- Quán hơi thở của tâm giải thoát.
13- Quán hơi thở vô thường.
14- Quán hơi thở đoạn.
15- Quán hơi thở lìa dục.
16- Quán hơi thở diệt. bốn thứ này là quán pháp.
Trong phần giải thích, trước là nêu giới hạn của tu. Nghĩa là học kiến tích đã được bốn niệm trụ v.v... ba mươi bảy pháp phần Bồ-đề, đối với đối tượng duyên (sở duyên) của hơi thở, tác ý tiến tu, vì dứt trừ các kiết còn lại, nên nghĩ rằng: “ đối với niệm hơi thở ra vào, nay tôi có thể học.
Giải thích riêng mười sáu. Trong giải thích thân bốn. Ngài Tam Tạng nói: “hà hơi ra, hit hơi vào thì hơi thở dài. Lúc tạm dứt ở khoảng giữa hơi thở vào và khoảng giữa hơi thở ra, gọi là ngắn. Giác biết rõ hơi thở kháp thân, nghĩa là lúc đầu tiên quán hơi thở, chỉ ở chóp mũi. Về
sau, khi quán thành, có thể nhận biết được hơi thở kia ra vào khắp thân, nên được gọi là “ Giác”.
Hơi thở trừ thân hành: Thân hành, nghĩa là hơi thở ra vào, khiến hơi thở bỏ thân hành, gọi là hơi thở trừ thân hành.
Trong thọ bốn, lại tức giác biết rõ hỷ như thế, giác biết rõ lạc, là bằng nhau.
Giải thích tâm hành trong đây, hoặc có quên niệm, khởi ngã, ngã sở và mạn, rằng ta sẽ có Vô Sắc v.v....
Cơ pháp giải thích: “ Kiến Đế này được gọi là tạm quên Niệm sinh, chứ chẳng phải “ kiến” trong sáu mươi hai kiến này, nếu y theo kiến trong sáu mươi hai kiến này thì ngã sẽ có là thường kiến, người thấy Đế ở chỗ nào mà khởi thường kiến? Vì không có văn nào nói là tu Đạo khởi thưòng kiến cả. Nay ở chỗ này tức hiện khởi: hoặc” nào? Hơn nữa, đây là ở đọa vị phàm phu khởi, vì chưa kiến Đế, nên không ngại”.
Nếu vậy, thì người thấy Đế ở trước tạo nên mười sáu thắng hạnh này, làm sao được khởi thường kiến v.v... nghĩa là với mười sáu hạnh này, phàm phu cũng tạo ra hay sao?
Nói người thấy Đế ở trước, nghĩa là y cứ vào người thấy Đế để nói, chứ chẳng phải chung cho phàm phu, thật ra là chung cho cả phàm phu. Khởi thường kiến v.v... này tức là chứng. Nay giải thích: “cũng có thể địa vị Thánh tạm thới quên niệm, khởi nhỏ nhiệm đoạn, thường kiến v.v... mà chẳng phải thuộc về sáu mươi hai kiến tức lấy văn này để làm chứng ở trong “tâm”.
Lại, nếu được ba tĩnh lự căn bản trước thì định kia đã được vị chí của cận phần sơ tĩnh lự nương vào định. Dựa vào định này quán sát sinh khởi tâm mười cặp, gọi là giác biết rõ tâm v.v....
Trong pháp bốn nói: “Lại thời gian ở trước, hoặc dựa vào ba tĩnh lự của địa dưới, hoặc dựa vào Vị Chí. Dựa vào định xong, đối với Xa- ma-tha tu hạnh Du-già “. Văn này chính là thừa nhận phương tiện căn bản của ba tĩnh lự dưới đều được tạo ra quán sổ tức, không đồng với luận tiểu thừa chỉ ba cận phần.
Nơi năm địa trung gian của cõi Dục tao ra giới, đoạn, ly, diệt, nghĩa là nếu theo luận Chính Lý, quyển Bảy mươi hai chép: “Ba cõi đoạn v.v..., tức phân biệt thuyết trước nói vô vi gọi là giải thoát dùng làm tự thể. Nhưng thể của ba cõi y cứ ở giả có khác. Nếu y cứ vào thật thì sẽ không có khác nhau.
“Sao gọi là y cứ ở giả có khác? Nghĩa là kìa kiết tham, gọi là lìa
giới. Dứt trừ tám kiết, gọi là đoạn giới. Diệt trừ tất cả các kiết như tham v.v..., đối tượng trói buộc thể của sự, gọi là diệt giới.”
Vì sao ba cõi khác nhau như thế? Nghĩa là pháp hữu lậu lược chung có ba:
1/- Chủ thể trói buộc chẳng phải chủ thể nhiễm.
2/- Chủ thể trói buộc cũng là chủ thể nhiễm.
3/- Chẳng phải cả hai thuận với pháp trói buộc ô nhiễm.
Dứt trừ ba pháp này, được chứng vô vi, như thứ lớp gọi là ba cõi như đoạn v.v....
Nay, Đại thừa này không đồng với thuyết kia.
Hỏi “mười sáu hạnh này đến địa vị nào mới được tu tác?”
Pháp sư tuệ Viễn nói “Theo nói chung bắt đầu từ phàm phu đến quả Vô học, đều thực hành quán này. Nếu nói theo tướng riêng thì bốn hạnh đầu, bắt đầu quán ở năm pháp quán dừng tâm, thành tựu ở bốn niệm xứ. Tám hạnh kế là đều ở Vị niệm xứ. Bốn sinh sau từ Noãn đến quả Vô học”.
Từ đây trở xuống, là thứ ba, giải thích đối tượng duyên (sở duyên) của thiện xảo. Trong đó, trước hỏi, kế là, giải thích, sau là kết.
Trong giải thích có ba:
1/- Nêu năm thiện xảo.
2/- Giải thích theo thứ lớp.
3/- Dùng tự tướng, cộng tướng gồm thâu năm.
Nhưng thiện xảo này, hoặc lược, hoặc rộng, chỗ văn không đồng. Nếu theo Tỳ-bà-sa quyển sáu nói thì có bốn pháp thiện, đó là giới, xứ, duyên khởi và xứ, phi xứ. Nếu theo Du-già ở quyển nấy nói thì có năm thiện xảo. Quyển Năm mươi bảy nói sáu thiện xảo, nghĩa là nói năm thiện xảo trên, thêm căn thiện xảo. Luận Hiển Dương, quyển mười bốn nói bảy thiện xảo, lại thêm Đế thiện xảo. Biện Trung Biên quyển hai nói có mườithiện xảo.
1- Uẩn; 2- Giới; 3- Xứ; 4- duyên khởi; 5- Xứ, Phi Xứ; 6- Căn; 7- Thế; 8- Đế; 9- thừa; 10- Hữu vi, vô vi. kinh Bồ-tát Tạng Quyển 17 nói có mười thiện xảo:
1- Pháp;2- Giới; 3- Xứ; 4- Đế; 5- Vô ngại giải; 6- Y thú; 7- bốn y, như y nghĩa, không y văn v.v... 8- Đạo pháp, tức 37 phẩm trợ đạo; 9- Duyên khởi; 10- Tất cả pháp gồm thâu khắp tất cả hữu vi vô vi.
Trong giải thích về uẩn thiện xảo, thế nào là tưởng uẩn?
Có tướng, không tướng v.v..., nghĩa là duyên tưởng của tục Đế, gọi là có tướng. “duyên” tưởng của thắng nghĩa, gọi là không có tướng. Lại
“duyên” pháp có thể y tha, viên thành gọi là có tướng. Nếu “duyên” pháp vô thể của biến kế sở chấp, thì gọi là vô tướng. “Duyên” cõi Dục, gọi là tướng nhỏ, “Duyên” cõi Sắc, gọi là rộng lớn; “duyên” “không”; “thức”; xứ, gọi là vô lượng. Không có các xứ sở hữu v.v... là vô sở hữu xứ.
Thức uẩn, nghĩa là tâm, ý, thức. Đây có hai giải thích:
1- “Tức thể của sáu thức có nghĩa tập khởi, gọi là Tâm; có nghĩa tư lương, trù tính, lo nghĩ, gọi là ý; liễu biệt, gọi là Thức.”
2- “Lại-da gọi là Tâm; Mạt na gọi là Ý; Sáu thức gọi là Thức. Thọ, Tưởng, Hành, Uẩn trước và thức uẩn này, đều có quá khứ v.v.... Nghĩa là thể của bốn uẩn như thọ v.v... có ở cả ba đời rất dễ hiểu. Nếu theo “duyên” trần bên ngoài, tùy cảnh, gọi là ngoài; nếu “duyên” trong thân, tùy theo cảnh, gọi là Trong Năm thức tương ưng với bốn uẩn, gọi là thô; ý thức tương ưng với bốn uẩn, gọi là tế. Bốn uẩn có cả ba tánh thiện, gọi là tốt, gồm hai tánh, gọi là xấu. Quá khứ, vị lai, gọi là xa, hiện tại, gọi là gần.
Trong giới thiện xảo, nếu lại ở trong mười tám thứ pháp kia, cho đến gọi là giới thiện xảo, thì thể của mười tám giới chính là lấy chủ thể sinh hạt giống để làm giới. Nhưng trong văn lại nói mười tám pháp như nhãn, sắc, thức, giới v.v..., cũng gọi là giới, là vì “theo nhau” cũng là giới, chẳng phải thể của chính giới. Vì thế, nên văn này lại nói mười tám pháp từ giới riêng riêng, hạt giống riêng riêng sinh khởi, xuất hiện, cho nên biệt mười tám thứ pháp chẳng phải là thể của chính giới. Vì giới và chủng tử, chủng tánh, danh khác, thể đồng. Đồng là hạt giống là thể của mười tám giới.
Nay, đem sự biệt rõ hạt giống của mười tám thứ pháp đều riêng, gọi là giới thiện xảo, tức đồng với nhân duyên trong bốn duyên mà được thiện xảo.
Trong Xứ thiện xảo, nghĩa là hiểu rõ mười hai xứ tạo ra ba duyên sinh ra sáu thức. Thức thứ sáu đồng thời với căn tăng thưọng duyên, tức là Mạt na, nên luận nói rằng: “Mạt na này sinh tác ý là “duyên” tăng thượng. Cũng có thể ý thức đồng thời với tác ý thường làm “duyên” tăng thượng. Nếu theo nghĩa này, tức ý, pháp xứ cả hai làm duyên sinh ra ý thức, nghĩa là duyên Tăng thượng và duyên sở duyên (đối tượng duyên, chủ thể duyên) sẽ không bằng cách giải thích ở trước.
Trong duyên khởi, chỉ có các pháp thấm nhuần các pháp v.v..., thấm nhuần có hai:
1/ Chủ thể thấm nhuần tức ái.
2/ đối tượng thấm nhuần tức “hữu” và “thức” v.v....
Đẳng nhuận cũng có hai: Đối tượng thấm nhuần đồng với trước; chủ thể thấm nhuần tức “Thủ”. Cũng có thể Ái, Thủ, gọi là thấm nhuần, còn các phiền não khác giúp cho nhuận sinh thì gọi là Đẳng nhuận.
Mười nhân gọi là chủ thể dẫn, hai quả, gọi là đối tượng dẫn, nên dưới đây nhắc lại các hành, nói là sinh, già chết, cũng có thể mười hai duyên khởi, đều gọi là các hành. Sinh gần (trực tiếp sinh) gọi là “nhân” giúp làm rõ nghĩa, gọi là “duyên”. Lại, xứ, phi xứ, thiện xảo, phải là sự khác nhau, đồng của duyên khởi thiện xảo.
Xứ, phi Xứ Thiện xảo thứ năm kia vì xuất phát từ môn duyên khởi, sao lại là khác nhau? Sơ tâm ở đây, nói chung là vô minh “duyên” hạnh thiện, bất thiện, được quả sinh, già chết ở vị lai, chứ chẳng phải nhân bất bình đẳng là để nói về xứ. Khác với đây, gọi là “phi xứ”. Về sau, nói riêng về pháp thiện, cảm quả đáng yêu; bất thiện cảm quả chẳng đáng yêu v.v..., gọi là “Thị xứ”, khác với đây gọi là “Phi Xứ”.
Trong gồm thâu năm thành hai, do uẩn thiện xảo làm rõ tự tướng thiện xảo. Nghĩa là trên nói có ba nghĩa trong uẩn thiện xảo:
1- Các thứ tánh khác nhau.
2- Chẳng có đa tánh một nhiều.
3- Ngoại pháp này, không còn có sở đắc (Đối tượng có được), không có đối tượng phân biệt (sở phân biệt).
Vì y cứ ở hai nghĩa trước để nói về thiện xảo, cho nên là tự tướng. Do thiện xảo khác đã làm thiện xảo cộng tướng, nghĩa là do giới có mười tám đồng với nhân duyên mà được thiện xảo. Mười hai xứ đồng với nhân duyên mà được thiện xảo. Mười hai duyên khởi đồng là vô thường v.v... mà được thiện xảo.
Trong xứ, phi xứ, nói chung về nhân quả bình đẳng của Duyên khởi ba đời, gọi là “xứ”, nhân quả bất bình đẳng, gọi là “phi Xứ”, vì thế, nên bốn thiện xảo khác, đều gọi là cộng tướng.
Trong giải thích về sở duyên (đối tượng duyên) của tịnh “hoặc” có hai:
1- Nói về đạo thế tục, quán địc dưới là thô; quán địa trên là tĩnh. Khuất phục vô sở hữu xứ xong, lại tu “hoặc”.
2- Nói duyên bốn Đế, đạo xuất thế dứt các phiền não tất cả tùy miên, chế phục. Dứt trừ dù khác nhau nhưng đều gọi là đạo tịnh “hoặc”.
Tánh thô là sắc uẩn cõi Dục có nhiều phẩm loại, nên biết, nên dứt v.v.... Nghĩa là như trong cõi Dục có căn nam, nữ, sắc, hương, vị v.v...,
Sơ định thì không có. Lại trong bốn uẩn cõi Dục có ba thọ, thọ tương ứng với sáu thức. Sơ định thì không như thế. Tưởng, hành, thức tùy theo nghĩa rất dễ hiểu đều là thường thô.
Như thế, ở các địa trên lần lượt so sánh nhau. Tất cả khổ não của địa dưới. Đa số là mạng sống lâu giảm, địa trên thì ít khổ, thọ mạng tăng thượng, là tướng thô tĩnh.
Kế là nói về đối tượng duyên của tịnh “hoặc” trong đạo xuất thế. Nghĩa là trí bốn Đế. Trong đó trước nêu chung. Kế là, giải thích, sau là kết.
Trong giải thích có bốn:
1- Nêu ra thể của Đế.
2- Giải thích nghĩa Đế.
3- Giải thích nghĩa thánh Đế.
4- “Lại sinh khổ.” Trở xuống, là giải thích nghĩa loại khác nhau của khổ Đế v.v....
Trong phần đầu trước là pháp, sau là dụ.
Nói: “Như ái”trong tập Đế, câu này là chung “Nếu về sau có ái.”, nghĩa là mong cầu ái trong thân, hai thứ ái dưới là tìm kiếm ái của cảnh ngoài. Đối với cảnh đã được, khởi hỷ, lục, ái kia.
Chủ thể được, chủ thể chứng. Nghĩa là Tập năng được, khổ, Đạo năng chứng Diệt.
Hỏi: “Luận Đối Pháp nói: “trong tám khổ bảy khổ trước là cảnh của trí thế tục; một khổ sau là cảnh của trí xuất thế. Vì sao luận này lại nói tám khổ đều là cảnh của trí xuất thế?”.
Đáp: “ Tục trí có hai:
1/ Trí sáu hạnh.
2/ Trí Thánh hạnh.
Luận Đối Pháp vì y cứ ở trí Thánh hạnh, nên “Duyên” bảy khổ trước, còn Luận này thì y cứ vào trí sáu hạnh, nên “duyên” tĩnh thô. Về nghĩa thì không trái nhau. Hơn nữa, Luận Đối Pháp kia vì y cứ ở phần vượt hơn để lập khổ Đế, nên không lấy khổ khổ và khổ hoại, mà y cứ toàn phần để lập ba Đế. Cho nên nói các “hoặc” “nghiệp” diệt và chủ thể đối trị, gọi là ba Đế. Văn luận này thì y cứ vào toàn phần để lập khổ Đế, phần vượt hơn để lập ba Đế.”
Hỏi: “Tham và ái, danh khác, thể đồng, vì sao nói rằng. Hỷ, Tham đều cùng hành ái? “
Đáp: “Theo luận chánh lý nói rằng: “Do định này biết y cứ chung các “hoặc” để kiến lập tên ái. Khác với đây (trái lại) không nên gọi là
tham đi chung.
Nay giải thích: “Văn này nói hỷ và tham đều có tham, tức gọi là ái, chẳng thể cho rằng tham và ái đi chung.
Trong giải thích nghĩa Đế, nói rằng: “Lại nghĩa khổ của Khổ đế, cho đến vì chẳng phải điên đảo để giải thích Đế, tức là để lại giáo thật khổ, không thể làm cho vui v.v....
Lại, tự tướng ấy không có sự lừa dối, (Tức tương đương với Tạp Tâm nói: “Lại, tự tánh không giả dối và nhận thấy người kia vì được giác biết không điên đảo, nên gọi là Đế.”
Nếu theo Bà sa, thì lược có năm nghĩa:
1- Thật; 2- Chân; 3- Như; 4- Không điên đảo; 5- Không giả dối.
Nay, trong văn này cũng có năm nghĩa:
1- Như; 2- Thật; 3- Không có trái ngược; 4- Không giả dối; 5- Thấy người kia được thí chính biệt.
Trong giải thích về nghĩa loại khác nhau, đầu tiên, là giải thích về văn của khổ Đế, chia làm hai:
Trước, nói lược về nghĩa của tám khổ rất dễ hiểu. Sau, giải thích ba khổ, qua đó có ba:
1- Gom tám thành ba, nghĩa là do môn khác như sinh v.v..., chỉ hiểu rõ khổ khổ v.v.... Luận sư Cảnh nói: Do y cứ ở môn khác, nên bảy nổi khổ trước chỉ làm rõ khổ khổ, do nhân sinh v.v... phần nhiều thêm khổ thọ.
Trong nổi khổ của năm thủ uẩn, có đủ ba khổ. Vì sao? Vì như năm thủ uẩn gồm thâu đủ ba thọ, cũng với khổ khổ trước là đồ đựng, cũng tức có đủ hai nỗi khổ Hoại, và khổ Hành. Nếu gồm thâu nghĩa tùy thuộc của môn chung để luận, thì mỗi khổ trong tám khổ đều có đủ ba khổ.
Pháp sư Khuy Cơ nói “Lấy bảy khổ làm khổ khổ, nếu nói theo sự thật, thì chỗ khác chỉ nói năm khổ trước là khổ khổ, vì từ khổ tăng thượng, nên nói là khổ khổ.”
2/ Hỏi đáp để nói về danh: Ý hỏi vì sao hai nỗi khổ còn lại, lấy tiếng “hoại”, tiếng “hành” để nói là khổ? Một khổ đầu lấy tiếng “khổ” để nói là khổ?
Trong phần đáp có bốn:
a- Khổ Hành, khổ hoại chỉ bậc thánh biết, khổ khổ, người ngu cũng biết, nên từ tiếng để nói.
b- Khổ khổ, là tai họa rất đáng nhàm chán.
c- Vừa nói khổ khổ, liền dễ dàng lãnh hội.
d- Có thể giáo hóa hữu tình nghe nói dễ dàng hội nhập Đế.
3/ Kiến lập ba khổ.(Bảy nỗi khổ trước, thì nói về khổ thọ và bốn uẩn mà thọ đã nương tựa. Tướng năm uẩn từ chung, gọi là khổ khổ trong Kiến lập khổ Hoại. Nghĩa là cách “hữu” là bảy khổ kia trừ sinh khổ, sáu nỗi khổ còn lại là pháp bị đối trị. Lại có “khổ thọ” và Xứ mà khổ thọ đã nương tựa, hoặc căn, hoặc trần, “duyên” các đối tượng đó mà sinh ra phiền não.
Lại có người vì ở trước không bị bệnh v.v... thuận với sinh “lạc thọ”. Và nhân “lạc thọ” mà sinh ra phiền não.
Như thế, nói chung là tánh chất của khổ Hoại.
Do chí giáo này là chí giáo bậc nhất. Xưa nói là Thánh giáo, bản Phạm không có từ ngữ này, chỉ nói rằng Chí giáo, là giáo chí lý. Chí giáo gồm có nhiều hoặc liễu, không liễu. Nay vì dẫn liễu nghĩa, nên nói là bậc nhất.
Phiền não được gọi là Khổ Hoại, không chung với Luận của Tiểu thừa. về nghĩa khổ thì khó nhận thức nên cần phải dẫn chứng.
Do nghĩa này nên y cứ chung Khổ Hoại, chung cho cả ba cõi, chỗ khác chỉ nói “lạc thọ” nên đến định thứ ba trở xuống, là kiến tập Khổ Hành.
Nói rằng: “Nếu tánh của “Khổ Hành” cùng khắp, tánh chất của “Khổ Hành” hiện hành khắp tất cả đồng đẳng trong năm thủ uẩn”. Nghĩa là thủ uẩn vô thường, gọi là Hành. Có tất cả tham lúc “duyên” ba thọ, thì có sự thô nặng, tánh không điều hòa nhu thuận, vì luôn bị theo đuổi. Thể của “hành” kia vì không an ổn, nên gọi là Khổ Hành. Tóm lại, trừ các pháp thuộc về khổ khổ “Khổ Hoại” thì còn lại là không khổ, không vui, lạc cùng đi chung. Nếu pháp trừ Xả thọ sinh ra; hoặc sinh ra Duyên của Xả thọ kia, hoặc “Xả thọ” sinh ra đã nương tựa, dứt ở các uẩn, tương ưng với sinh diệt, đều là thể của hành. Hành này do có bốn thủ, bị sự thô nặng theo đuổi, không được yên ổn, nên gọi là “Khổ Hành”.
Kế là, lại nói rằng: “không thoát khỏi khổ khổ, kể cả Khổ Hoại, không tự tại chuyển”. Nghĩa là nếu dựa vào thể của Xả thọ hành của Lý tùy chuyển, thì ắt sẽ không thoát khỏi hạt giống của khổ khổ, Khổ Hoại, nên gọi là Khổ Hành. Nếu khổ thọ tạo ra từ đầu, cũng không thể lìa hạt giống của hai khổ còn lại. Nếu dựa theo môn chân thật lý, thì Xả thọ Lại Da là thể của hành, vì thường có hạt giống của hai khổ còn lại đã theo đuổi, nên gọi là Khổ Hành. Dưới đây sẽ giải thích về ba Đế sau:
Sở Y Diệt (đối tượng nương tựa diệt).
1/ “Là dị thục diệt”
2/ Chướng “Phiền não lấy Chướng Sở tri làm đối tượng nương tựa.
Vì diệt tri chướng này, nên gọi là Sở Y Diệt. Giải thích về đối tượng duyên (Sở duyên xong).
Từ đây trở xuống, là phần thứ tư, giải thích về môn Giáo thọ, trong đó, trước giải thích về bốn thứ Giáo thọ. sau giải thích ba thứ Giáo thọ:
Pháp sư Thái nói: “Do nhìn thấy thần biến, nên sinh tâm tôn trọng, đối với người kia, chuyên tâm thuộc về tai nghe pháp, tư duy, sinh tâm- tôn trọng. Do tha tâm luân, tìm kiếm, mong cầu hành riêng như tham v.v... của tâm người khác. Do lậu tận luân, như căn của ba thừa, như phương tiện của Ba thừa. Như ba Thừa ngộ nhập Thánh Đế, vì họ nói pháp. Hoặc có thể ba phẩm căn hiện hành và ngộ nhập Đế, dùng ba luân này để nhiếp hóa công hạnh người khác, chẳng có gì không làm, nên gọi là gồm thâu tướng viên mãn.
-----------------------------------
BẢN LUẬN QUYỂN 28
Thứ năm trong giải thích về ba học, đầu tiên, chính là giải thích. Kế y cứ ba học để kiến lập ba căn. Sau, y cứ vào Định học, để thành lập ba môn giải thoát.
Trong phần trước có sáu môn:
1- Phân tích thể của ba học.
2- Giải thích chỉ ba lý do.
3- Nói về thứ lớp trước, sau.
4- Nói về lý do ba Học được gọi là tăng thượng.
5- Nói về thành tựu nhiều, ít.
6- Nói nương tựa ba học này nhập Thánh được quả không đồng. Nhưng dựa vào Tĩnh lự, có thể trước, nhập vào hiện quán của Thánh đế v.v.... Dưới đây, văn Quyết. Trạch cũng nói thế này: “rằng, tri kiến như thật về bốn đế, gọi là người tuệ học tăng thượng”.
Pháp sư Khuy Cơ giải thích: ở “đây chỉ y cứ tuệ vô lậu để gọi là tuệ học, chứ chẳng phải gọi là hữu lậu. Nếu theo thứ lớp trước giải thích trong định học, thì một lượt giải thích ban đầu, chỉ y cứ vào bốn Tĩnh lự vô lậu để nói về định học. Vì sao biết được? Kế là, văn dưới đây sẽ nói: “Nhưng dựa vào Tĩnh lự, có thể trước, nhập vào hiện quán của Thánh đế, chánh tánh ly sinh, chứ chẳng phải hoàn toàn xa lìa tất cả tĩnh tự mà thành tựu được việc v.v... này.”, đây là giải thích trái lại. Một loạt giải thích trước chỉ dựa vào Tứ thiền, gọi là định học, trong lượt giải thích thứ hai, lại các vô sắc và giải thích tất cả đẳng trì, Đẳng chí khác cũng gọi là định học tức định vô sắc và cõi sắc đẳng chí, đẳng trì hữu lậu khác, đều gọi là định học, tức ở đây có cả lậu, vô lậu, vì sao tuệ học chỉ vô lậu, còn định học có cả hữu lậu. Nghĩa là định kia cũng chỉ có vô lậu. Trướckia đã nói: “Lại định vô sắc la lấy định vô lậu, và đã có Đẳng trì, Đẳng chí khác cũng gọi là Định học, đây là bốn Tĩnh lự có thể dẩn phát định vô lậu chung. Định học chỉ, có nghĩa Tuệ học vô lậu ngang bằng cũng không có ngăn ngại. Lại, Định chung cho cả hữu lậu, vô lậu; Tuệ cũng thế. Đây là y cứ ở sự vượt hơn của vô lậu mà nói, không đồng với tác pháp đủ của định không có trở ngại. Y theo văn dưới nếu có giới định, chưa hẳn là có tuệ, có tuệ thì chắc chắn có giới định, cho nên giải thích ở trước là hơn. Vì chấp tuệ vô lậu là Học, lại đâu ngại gì tuệ học chỉ có giới định vô lậu, có cả hữu lậu, rộng hẹp không bằng nhau chẳng ngại.
Trong giải thích về nghĩa tăng thượng, đầu tiên, chia ra hai môn.
Kế là, giải thích, sau, giải thích lại nghĩa chưa tường tận:
“Có tuệ tăng thượng dẫn tâm tăng thượng, nghĩa là đệ tử bậc Thánh, cho đến bỏ chi giác, có tâm tăng thượng, dẫn phát tuệ như trước”: Đây là nhân trước kia nói là vì thu hướng tuệ tăng thượng mà tu tâm định, vì nghĩa này không tường tận, nên hay nói lại.
Trong giải thích về thành tựu, trước, nói về thành tựu nhiều, ít. Sau khuyên tu.
Có giới tăng thượng, không có hai giới còn lại. Nghĩa là người có giới Biệt giải thoát, chưa được định, đây là vì y cứ ở tu tuệ vô lậu.
Trong nhập Thánh, đắc quả không đồng:
1/ Chưa lìa dục, nghĩa là lúc ở giai đoạn phàm phu, nếu chưa chế phục “hoặc”, hoặc khuất phục năm phẩm “Tu hoặc” của cõi Dục trở lại, đều gọi là chưa lìa dục.
2/ Lìa dục gấp bội. Nghĩa là trước hết, chế phục sáu phẩm, cho đến tám phẩm.
3/ Đã lìa dục. Nghĩa là đã chế phục chín phẩm tu “hoặc” cõi Dục, cho đến hoặc chế phục Vô sở hữu xứ rồi, trở lại “tu hoặc”, gọi là đã lìa dục. Phải biệt rằng, trong đây, đối với tất cả Dục, hoàn toàn chưa lìa, nghĩa là người đã nhập hiện quán Đế, chứng quả Dự lưu, vả lại, vì y cứ ở người hoàn toàn chưa chế phục “Tu hoặc”, nên nói rằng: “Hoàn toàn chưa lìa dục”.
Về mặt đạo lý, người chế phục năm phẩm trở lại, cũng chứng Sơ quả.
Lìa dục gấp bội. Nghĩa là lìa sáu trong chín phẩm, gọi là lìa dục gấp bội.
Trong kiến lập ba căn: Nghĩa là kiến lập trước, sau trong ba vị của mười căn. Nói mười căn, đó là năm căn như tín v.v..., ý căn; ưu hỷ, lạc và xả căn. Mười căn này nếu ở trong bảy phương tiện và lúc ở mười lăm tâm của Kiến đạo, thì gọi là căn “vị tri”, “đương tri”. Nếu lúc ở phương tiện, chưa thể nhận biệt đúng đắn về Đế lý, vì muốn nhận biết đúng nên gọi là “chưa biết sẽ biết”. Nếu khi ở mười lăm tâm, chưa thể biệt lại; sắp muốn biết lại, gọi là “chưa biết” “sẽ biết” (vị tri, đương tri). Đến tâm thứ mười sáu, đã bỏ, thì gọi là Dĩ tri căn. Đã thấy lý cùng tận, không có nghĩa chưa biết, sẽ lại biết, cho đến lìa dục chưa hết trở lại, vẫn có mười căn là “Dĩ tri căn”.
Chín căn như thế trong địa vị Vô học, là Cụ tri căn. Tuy nhiên theo Quyết Trạch nói là ba chuyển, mười hai hạnh pháp luân. Ba chuyển tức nói ba căn này, nghĩa là đức Phật nói khi Bồ-tát đầu tiên biết khổ v.v...,
tức nói “Vị tri căn”. Vì được dứt hết lậu còn lại nên lại sẽ biết khổ đã tập v.v..., gọi là “Dĩ tri căn”. Lúc được thành Phật, ta đã biết nỗi khổ rồi, đã dứt tập rồi; đã chứng diệt xong, tu đạo v.v..., gọi là Cu tri căn.
Y cứ trong Định để lập ba giải thoát, nghĩa là đối với cảnh Sở tri có hai: Hữu vi, vô vi. “Duyên” cảnh năm thủ Uẩn, lập vô nguyện; “Duyên” vô vi lập vô tướng; “Duyên” pháp chẳng thật có: “ngã”, hữu tình v.v..., nên lập ra trống không.
Do văn này tức nói là “duyên” “không, vô ngã hạnh”, lập môn “không”. “Duyên” bốn hạnh khổ, vô thường; Tập trở xuống, là để lập vô nguyện; bốn hạnh Diệt trở xuống, để lập vô tướng.
Chẳng có cầu nguyện, nghĩa là phân biệt với vô tướng; chẳng phải không có kỳ nguyện, là phân biệt với vô nguyện. Như chẳng phải có kia, biết là chẳng phải có, lập “không giải thoát”.
Do bốn hạnh như đạo trở xuống, là chẳng phải là ba môn giải thoát. (Phân tích rộng môn khác, gồm thâu nhau như trước).
Thứ sáu, trong giải thích về pháp thuận theo Học, có hai thứ mười pháp: trong mười pháp đầu, trước, nêu chướng bị trị; kế là nêu mười tưởng, chủ thể trị (năng trị), theo thứ lớp đối trị.
Trong mười sở trị;
1/ Các hành sinh khởi ái chấp mắc, thuộc Tát-ca-da.
2/ Nghĩa là đối với các hành có thân,
3/ chấp thường, ái chấp mắc.
4/ Lười biếng giải đãi.
5/ Chấp mắc niềm tin, tự an, cho nên biếng nhác.
6/ Đối với các thứ hý luận v.v... của các thế gian.
7/ Nghĩa là vì thân mạng, mà làm nghề nông, mua bán, thờ vua, làm thuốc, chú thuật, lập vườn, dựng đài quan sát, ca hát, cười đùa, làm thơ, ngâm vịnh v.v...
8/ Tất cả đều là hý luận.
9/ Tư duy các pháp.
10/ Tác ý Du-già đã có tai họa lỗi lầm, có mười một thứ:
1- Nghi ngờ.
2- Do thô, nặng, không thể ưa đoạn, ưa tu.
3- Do hôn trầm, thùy miên, nên chậm chạp, khinh lờn đối với phương tiện chỉ quán.
4- Thân mõi mệt, tâm sầu não, che lấp mạnh mẽ tinh tấn.
5- Tinh tấn kém, mỏng, pháp thiện suy thoái.
6- Ham ưa danh, lợi.
7- Điệu cử.
8- Cảm thấy sợ hải đối với Niết-bàn.
9- Về phương tiện ngôn thuyết chẳng phải phận sự của mình, miển cưỡng làm cho tốt, vì muốn thuyết phục người khác, nên xảy ra đấu tranh, kiện tụng.
10- Đối với các cảnh giới, tâm rong ruổi, tâm phân tán.
11- Đối với chỗ không nên tư duy, mà miển cưỡng trầm tư.
Những thứ trên đây đều do tâm u tối, vì tư duy các pháp không hiểu rõ, nen bị tai họa lỗi lầm. Dưới đây lấy tưởng ánh sáng để đối trị. Ánh sáng có hai:
1/ Ánh sáng của pháp. Tức là Văn Tuệ, vì liễu đạt giáo pháp, nên được gọi tên như thế.
2/ Ánh sáng của nghĩa, tức là Tuệ tư duy về nghĩa, vì quyết định rõ ràng, nên gọi như thế về hai nghĩa sau rất dễ hiểu.
Luận sư Cảnh nói rằng: “Trong mười một pháp này, nếu đối với giáo pháp người tối tăm, mê lầm, tức dùng ánh sáng của pháp Văn tuệ để trị. Nếu đối với nghĩa đã được giảng nói, tâm tối tăm khởi chướng, tức lấy ánh sáng của nghĩa Tư tuệ để trị. Cũng có thể trong đây, chỉ lấy ánh sáng của nghĩa pháp Văn, tư để trị các pháp mang tai họa lỗi lầm của tư duy kia. Không lấy ánh sáng của Chỉ, quán để đối trị, vì Chỉ, Quán chính là thể của Học.
Nay, trong môn này chỉ nói về pháp thuận theo Học, không nói thể của Học, nên trừ Chỉ, Quán. Cho nên trong Văn dưới đây, sẽ dẫn bốn hào quang sang sau, tức trừ Thủ.
Nay trong nghĩa này, y lấy chủ thể dứt các pháp tư duy, pháp chướng ngại của Tác ý Du-già. Nghĩa là trước khi chưa được Văn, Tư, tư duy các pháp không thể bị chướng ngại. Nay vì được Văn, Tư, nên có thể dứt trừ”.
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: “Nay trong nghĩa này, ý lấy chủ thể dứt, tức hiểu rõ chỉ có bốn thứ trong ánh sáng ở trước, với ý lấy hai ánh sáng hào quang nghĩa, pháp, có thể dứt pháp chướng ngại lúc tư duy Du-già.
Trong mười pháp sau, nói về nhân kiếp trước, nghĩa là ở trước đã tập các căn thành thục, do đời trước đã từng tu tập các căn như tín v.v... thành thục, chứa nhóm tăng trưởng.
Thuận theo giáo. Nghĩa là giáo pháp đã nói, không trái ngược mà theo thứ lớp, nghĩa là nghe nói là lúc mới tu hành, trước là tu gia hạnh, kế là, được nhập Thánh, kế là, khởi sự tu đạo, sau, là tiến lên bậc Vô
học. Nghe nói như thế, khởi sự tu dần dần, không điên đảo, tâm giáo có thể thuận theo.
Trong Chỉ tức thân tâm thô nặng, có bốn lần “Lại nữa”, hai lần “Lại nữa” trước, nói về sự thô nặng nhân phát khởi trong sự sắc tâm kia, lại y cứ trong sự dễ thoát khỏi chỉ tức.
“Lại nữa” lần thứ ba, tướng thô nặng do hôn trầm, thùy miên đã phát, do Tuệ tác ý lấy tướng mầu nhiệm, tịnh tức là Chỉ.
“Lại nữa” thứ tư, tướng thô nặng thân phiền não có nhân nối tiếp này, tu đạo Chỉ tức.
Văn này nói rõ về tướng thô nặng, không chỉ là phiền não kia, mà ngay như tánh không điều hòa, nhu thuận khác, đối với điều ác kia, làm, không làm, không chuyển biến; đối với việc thiện nọ làm, làm mà không lui sụt, làm sự việc không làm kia, nên nói rằng: “không làm không lui sụt”
Lìa Tăng thượng mạn nghĩa là đối với chỗ mình chưa được, không nghĩ là được, không có tăng thượng mạn. Đối với chân đã được, khởi tưởng được đồng đẳng, nghĩa là nói về giới hạn của thức.
Thứ bảy, là giải thích về hoại Du-già. Rốt ráo Du-già hoại. Nghĩa là không có nhân chủng Niết-bàn. Rốt ráo hoại mất Định, tuệ xuất thế.
Tam thời hoại. Nghĩa là có nhân chủng Niết-bàn, duyên ngoài chưa đủ, chưa được Niết-bàn.
Thối mất sở đắc hoại. Luận sư Cảnh nói “Như đầu tiên, người Dự lưu v.v... chế phục cõi Dục tu được Tĩnh lự trên. Gặp phải duyên lui sụt mất an lạc trụ v.v....”
Pháp sư Thái nói: “Lui mất thiền định hữu lậu, hoặc tri kiến mà phàm phu đã tiếp xúc, đã chứng.”
Pháp sư Khuy Cơ chỉ nói rằng: “Tức thiền định v.v... hữu lậu mà thôi.”
Tà hạnh đã làm hư hoại Du-già. Dù có chủng tánh Niết-bàn, nhưng không như lý tu, và cho tu ba học, nhưng không đồng với lý của ba tạng, đều gọi là làm hư hoại Du-già, tìm Văn, sẽ thấy rõ.
Pháp sư Thái nói “Hoặc có người tu hành, tánh nặng về phiền não, giác tuệ mạnh mẽ, nhạy bén, tánh dễ dàng sinh ra phiền não. Ở tánh thông thái tinh nhuệ, đều cùng sinh giác biết (câu sinh giác tri), tức mất Du-già, hồi chuyển đệ tử.”
Pháp sư Khuy Cơ nói “Vì tùy theo lời thầy dạy, nên gọi là hồi chuyển.”
Thứ tám, là giải thích về hai hành, tướng tính trong Du-già. Luận
sư Cảnh nói:
1/ Hành tướng tin thuận, nghĩa là khi nghe nói Đế thật v.v..., tâm sinh tin, thuận.
2/ Tướng thanh tịnh:_nghĩa là tâm không tin, gọi là không thanh tịnh. Nay nói tin, thuận, gọi là hành tướng thanh tịnh. Nay theo Luận Đối Pháp, hành tướng nhẫn khả, hành tướng tin thuận, Hành-tướng thanh- tịnh, gọi là Hành tướng thanh-tịnh.
Hai y xứ:
1/ Y xứ quán-sát đạo lý các pháp.
Ví dụ: Như nghe nói về đạo lý bốn-đế, trong đó, quán-sát về nhân, quả nhiễm, tịnh là thật có, không giả dối, rồi y theo đó mà sinh lòng tin, nên gọi là y-xứ.
2/ Y Xứ Tin hiểu Bổ-đặc-già-la thần lực.
Nghĩa là thấy hiện thầm biến, cho nên sinh tín, cũng gọi là y xứ.
Trong dục bốn, vì thuận theo dục Du-già.
Nghĩa là đối với gia hạnh vô gián, ân cần, trân-trọng trong đạo gia hạnh tu tập, phát sinh hy vọng v.v....
Hai thứ gia-hạnh, là tùy-thuận các hạnh. Các hạnh, tức là Du-già. Nay vì hy vọng, mong cầu tùy-thuận hai thứ gia-hạnh Du-già, nên tâm sinh hy vọng, kính mến, hy vọng, kính mến là “dục”.
4 Phương tiện. Luận sư Cảnh nói rằng:
1/ Giữ gìn thi-la, khéo gìn giữ ý niệm của mình.
2/ Không buông lung.
3/ Nhất tâm nội, tu Xa-ma-tha.
4/ Pháp Tuệ tăng-hượng, tỳ-bát-Xá-na.”
Pháp sư Thái và Cơ đồng nói:
1/ Thi-la.
2/ Niệm.
3/ Không có buông lung.
4/ Định, Tuệ.
Pháp sư Thái lại giải thích: hoặc có phương tiện không đồng với ở đây, đem hỏi Pháp sư. Pháp sư nói: “Về nghĩa phương tiện Du-già có rất nhiều, nếu tùy theo một phương tiện là nhất định, là trái với đạo lý. Nếu theo quyển hai mươi chín dưới đây với thuộc tám hành tướng đoạn nói rằng năm pháp phương tiện là thể.”
Thứ chín, trong giải thích về Tác-ý có ba:
1/ Nói về hai thứ bốn tác ý.
2/ Nói về tướng đã tư duy của tác ý.
3/ Nói về chín thắng_giải tác Ý “duyên”Cảnh, mà Khởi.
Tác-ý của sức cố gắng vận-chuyển. Nghĩa là người mới tu nghiệp, chưa được tâm định của cõi Sắc, chỉ với tán tâm nghe, tư duy của cõi Dục, bằng sức cố gắng an trí tâm ở bên trong, dứt, an trụ v.v.... Hoặc đối với các pháp, phân biệt không có ngược-ngạo. Cho đến khi chưa được Tác-ý của Địa-định đã tu, cố sức vận-chuyển trong nghe, tư duy.
Vận chuyển hữu gián. Nghĩa là từ gia-hạnh nghe, tư duy, đã được Tác Ý trong định Vị-chí đã tu. Từ đây về sau, đối với đạo thế, xuất thế, có thể dần dần tiến vượt hơn, có thể được Tác-ý để tu Tam-ma-địa. Về tướng liễu ở ngay từ ban đầu, cũng vì tư tuệ cõi Dục xen lẫn với tướng sắc ra, vào, không thể hoàn toàn thuần túy tâm định vận chuyển, nên gọi là “Hữu gián”.
Pháp sư Thái v.v… nói “Tác-ý, là nhớ. Nhưng đặt tên cho định, nói định gọi là tác-ý.
Vô gián vận chuyển: Nghĩa là từ Tác-ý về tướng “liễu” ban đầu, tiến vào năm tác-ý sau, thì khả năng nối tiếp nhau sẽ không bị gián đoạn bởi Tư-tuệ. Gia-hạnh kia rốt ráo, đây là ba phẩm Đạo Vô Gián sau khi đã lìa dục.
Vận-chuyển Vô Công Dụng. Nghĩa là tác ý của quả rốt ráo gia hạnh, tức là quả qiải thoát thứ chín của lìa dục.
Đã lìa dục xong, đối với “hoặc” của cõi Dục, không còn có công dụng.
Lại có bốn thứ tác-ý
1/ Tác-ý tùy thuận. Trở lại là tác-ý “liễu” tướng và thuộc về một phần trong lạc. Đối với “duyên” sinh nhàm chán, tức là Đạo gia hạnh lìa dục.
2/ Tác-ý đối-trị. Nghĩa là Đạo vô gián, tức là gồm thâu một phần trong lạc và tác-ý viễn-ly, tác-ý gia-hạnh rốt ráo.
3/ Tác-ý thuận với thanh tịnh:Tức là Tác-ý thắng-giải.
4/ Tác-ý thuận với quán sát: Nghĩa là Tác-ý quán-sát là Đạo tinh- tấn, quán sát ngược lại phiền não dứt chưa dứt, cũng có thể thắng-giải liễu tướng và gồm thâu một phần lạc, gọi là Tùy-thuận gia hạnh viễn-ly và gồm thâu một phần lạc gọi là đối trị, gồm thâu một phần lạc, gọi là thuận với thanh tịnh.
Tác-ý quán-sát, gọi là thuận với quán sát, nên, bốn tác-ý gồm thâu sáu tác-ý trước.
Từ đây trở xuống, là nói khi chánh tác-ý bốn tướng đã tư duy; đối với tướng nhân duyên. Luận sư Cảnh : giải thích: Tư-lương, chứa nhóm
Tam-ma-địa, nghĩa là tư duy v.v...nhân duyên tư lương của đẳng trì mà sinh dục lạc. Đói với pháp đáng nhàm chán, cảm thấy nhàm chán sâu sắc về tai họa. Nhân tư duy hay che lấp nhân duyên của Đẳng trì mà sinh nhàm chán tai họa, hay xem xét biết khắp loạn, nghĩa là khi chánh tư duy, có thể xem xét biết khắp “ngã”.
Nay, đối với định loạn, bất loạn, dưới đây, sẽ nói về nhân loạn, bất loạn.
Người khác không gây xúc não. Nghĩa là nói về nguyên nhân bất loạn, hoặc người đã tạo, cho đến công dụng tạo ra, biết nhân duyên loạn. Nếu Tỳ-bà-xá-na mà làm thượng thủ, thì bên trong, giản lược rất mạnh mẻ tâm mình, quán đầy đủ về tướng nhân duyên sau: lại tư duy người kia mới tu về quán, cùng với chỉ tâm ở sau là tướng nhân duyên.
Hoặc Xa-ma-tha, cho đến tướng của nhân duyên sau: cũng tư duy người kia mới tu chỉ với quán vượt hơn đã phát sau làm tướng nhân duyên.
Pháp sư Khuy Cơ nói “Hoặc người tạo tác; hoặc phi nhân tạo tác v.v... : Tức biết tướng loạn, đây là nghĩa của Pháp sư. Lại xét trên, dưới đều không đúng. Trong xa lìa dưới đây đều nói là do nhân duyên, cho nên biết được nhân duyên này tức sinh ra nhân duyên tham v.v... cho nên, văn dưới đây đều nói là do nhân duyên.
Hoặc do công dụng tạo ra: Đây là do nhân gia hạnh này sinh rối loạn.
a/ “Nếu Tỳ-bà-xá-na” trở xuống là nói về nhân duyên không tán loạn rất mạnh mẻ, quán đầy đủ về tướng nhân duyên sau: tức là tu tập tư lương.
Về sau, nhân duyên thành tựu viên mãn, sánh trong định dưới sẽ biết.
Tướng trầm trong tướng xa lìa. Nghĩa là chỉ dựa vào chỉ, lúc tư duy về ảnh tượng đồng phần, làm cho tâm thấp kém.
Tướng trạo cử. Nghĩa là đối với tướng nhân duyên, nương tựa riêng vào quán, tư duy ảnh tượng, làm cho tâm tự đề cao, chấp mắc tướng, nghĩa là “duyên” tướng ảnh tượng của đối tượng duyên, hoặc khởi tham ái, không thể nhàm chán tai họa, sinh ra nhiễm chấp mắc sâu đậm.
Tướng rối loạn: là lúc duyên tướng ảnh tượng kia, gây xúc não trong nhân, phi nhân v.v..., tâm rong ruổi bên ngoài.
Các tướng như thế, như trong ba mươi hai tướng của Tam-ma-hý đa địa trước đã nói, tướng nên xa lìa mà Địa Đẳng Dẫn ở trước đã nói
rất tỉ mỉ, chín chắn, nên giản lược qua không giải thích.
Dưới là nói về tác ý “Duyên” cảnh, khởi chín thắng giải và ý giải thắng giải của đối tượng duyên nhỏ hẹp: y theo văn kết dưới đây nói: “Vì đối tượng duyên nhỏ hẹp”, đây tức là cõi Dục. Nếu cõi Sắc thì gọi là đối tượng duyên rộng lớn, vô lượng nghĩa là cõi Vô Sắc.
Thứ mười, trong giải thích về sở tác (tác ý) của Du-già: Cảnh Luật Sư giải thích “Sở y (đối tượng nương tựa) diệt và chuyển: do tu tác ý Du- già, khiến cho thân thô nặng trong tự nối tiếp nhau diệt, thân khinh an trở lên, nghĩa là hoặc có đối tượng duyên của biến tri; đối tượng duyên của ái lạc và đối tượng nương tựa diệt, chuyển mà làm Thượng thủ v.v..., nghĩa là do biết khắp đối tượng duyên sự lý và ái lạc, vì quán đối tượng duyên sự lý đó, nên có công năng làm cho thân diệt và chuyển, hoặc có đối tượng duyên của biết khắp, đối tượng duyên của ái, lạc, dùng đối tượng nương dưa thanh tịnh làm vị đứng đầu. Trước đã nói: Do hai đối tượng duyên (sở duyên), khiến thân diệt, chuyển. Đến lúc này, lại do khinh an, đối tượng nương tựa chuyển, nên làm cho sở duyên của biết khắp, sở duyên của ái lạc này khéo được thanh tịnh.”
Pháp sư Thái nói: “Câu trước là nói do hai Du-già sau làm địa vị đứng đầu khởi trước, cho nên giúp cho nghĩa hai chuyển y” được thành. Câu sau, phân tích do “chuyển y” thanh tịnh làm nương tựa hàng đầu, nên khiến cho hai Du-già sau được thanh tịnh.
Khi chuyển y của hai Du-già trước đã thành xong, chuyển y của hai Du-già sau bắt đầu.
Sáu hạnh đạo trong đây được gọi là đối tượng duyên của biến tri. Vì pháp ưa nhàm chán của Biến-tri, cho nên “duyên”.
Đạo xuất thế, gọi là đối tượng duyên của ái lạc, vì chỉ “duyên” pháp xuất thế mới sinh ái lạc.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Khi tác-ý Du-già kia đã thành xong, thì chuyển: là công việc làm đã thành xong, sở y kia thanh tịnh. Vì sở-y thanh tịnh, nên khiến ái lạc đầy khắp thanh-tịnh, cho nên nói lúc thành xong, thì chuyển.
Thứ 11. Giải thích Sư Du-già, có hai lượt giải thích:
Trong lượt giải thích đầu, sơ nghiệp có hai:
1/ Người mới tu nghiệp đối với tác-ý, chưa được bảy thứ tác-ý sở tu, dựa vào văn, tư của cõi Dục, An trụ một “duyên”.
2/ Người mới tu nghiệp tịnh phiền não. Đã được tu tác ý liễu tướng sở tu, đối với các phiền não, muốn tịnh tâm mình thì chính phải siêng năng tu tập tác ý “liễu” tướng.
Trong lượt giải thích thứ hai nói: “Lại nữa, bắt đầu từ khi tu tập pháp thiện như dục v.v..., tức là đầu tiên tu tập năm pháp quán dừng tâm chung, riêng, gọi là mới tu nghiệp. nếu khởi Noãn v.v..., được gọi là hạnh đã tu tập. Nếu đã chứng đắc, nhập chánh tánh ly sinh, được hiện quán đế, thì được gọi là độ tác ý. Người được hiện quán do đã chứng đắc bất hoại tín, nên không bị tà duyên của ác ma, ngoại đạo lôi kéo, cướp đoạt.
Mười hai thứ, giải thích về tu Du-già: trước, chia ra hai chương. Sau giải thích riêng.
Đầu tiên giải thích về tu tưởng có bốn trường hợp:
1/ Tu tưởng ưa Địa trên, chán Địa dưới của đạo thế gian.
2/ Tu tưởng ba cõi Niết-bàn, Chỗ kiến hoặc hết gọi là Đoạn giới (giới đoạn); chỗ tu hoặc hết, gọi là giới lìa dục; chỗ sự hữu lậu khác hết, gọi là giới diệt. “Duyên” ba cõi này, gọi là tưởng ba cõi.
3/ Tu tưởng phẩm trên, dưới của chỉ.
4/ Tu tưởng trước, sau của phẩm quán.
Hai lối tu sau vì khó hiểu rõ, nên sẽ giải thích riêng.
Tưởng trên dưới: là quán sát thân này, như đối tượng mà nó trụ, như điều mà nó mong muốn v.v... Như đối tượng mà thân kia nguyên cầu, tùy quán trên, dưới, an trụ tâm mình, nên nói rằng: “Như đối tượng mà thân kia trụ, quán địa trên, quán địa dưới.
Trong giải thích về tưởng, trước sau, đầu tiên là chia ra ba môn hệ thuộc về tướng chung của ba môn; sau, giải thích riêng về hệ thuộc tướng riêng của ba môn.
Ba môn là:
a) Đứng, quán ở chỗ ngồi.
b) Ngồi, quán ở chỗ nằm.
c) Ở sau, quán trước.
Quán đã rời khỏi, gọi là trụ. Đối tượng quán vị lai sắp khởi, gọi là ngồi. Đối tượng quán của quá khứ, đã diệt gọi là nằm. Chủ thể quán hiện tại sắp diệt, gọi là ngồi. Về sau, mới khởi quán vô gián diệt xong, khởi các hạnh. Kế là, giải thích về tu pháp phần Bồ-đề, trong đó có bảy:
1- Hỏi chung.
2- Đáp chung.
3- Gạn.
4- Chia ra đại khái bảy môn.
5- Nêu tế ba mươi bảy danh.
6- Nói rộng về nghĩa ba mươi bảy phẩm.
7- Tổng kết tu Bồ-đề Phần.
Nếu theo Câu-xá, thì thể thật của ba mươi bảy Phẩm, Chỉ có mười, nghĩa là Tuệ, cần, định, tín, niệm, hỷ, xả, khinh an và giới tầm. Nay theo Đại thừa, thể thật chỉ có chín, vì chánh tư duy là thuộc về Tuệ, chẳng phải tư làm thể. Như quyển năm mươi bảy ở dưới nói: “Ba mươi bảy bao gồm năm căn như tín v.v... ; năm căn như tín v.v... không gồm thâu sáu, bốn, nghĩa là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng trong tám chánh, thêm vào đó hỷ, an, xả, tức gọi là sáu. Nếu kết hợp với giới thành một, cộng với hỷ, an, xả, thì có bốn thứ. Như vậy sáu, bốn thứ chẳng thuộc về tín v.v... “
Giải thích: “Nếu chánh tư duy dùng số tư làm Thể, thì lẽ ra nói năm căn không gồm thâu bảy, năm vì trong năm căn không bao gồm tư. Vì nghĩa này nên biết thể chỉ có chín.
Theo trong phần nêu Tế, bốn chánh đoạn nghĩa là hai thứ trước, siêng tu chân chánh có đối tượng dứt; hai thứ sau, siêng tu chân chính có chủ thể dứt đều gọi là chánh đoạn.
Bốn thần túc, nghĩa là dùng số định trong Biệt. Cảnh làm thể. Định này có thể phát năm thần thông, nên nói Định này được gọi là thần túc. Thần túc này là bốn pháp mong cầu thành tựu, gọi là bốn thần. Bốn pháp tức là Dục, cần, Tâm, Quán. Dục, và Cần là hai thứ trong bảy thiện, tâm là ý thức; Quán là tuệ trong biệt cảnh, đều nói là đoạn hành thành tựu. Đoạn tức là tên khác của Diệt, cũng là vì bỏ đi năm điều lỗi lầm, tu tám diệt tư lương, như trong luận Thành Thật nói: “Dục Tam-ma-địa cho đến quán Tam-ma-địa, đều đem nhân gọi là quả, nên nói năm căn như Dục v.v..., năm lực, nghĩa là năm thứ như tín v.v... có nghĩa năng sinh, gọi là căn, có nghĩa tăng thượng không thể khuất phục, gọi là lực.
Trong bảy giác chi, Pháp sư Cảnh giải thích: “ Đều nói là “đẳng”, nghĩa bình đẳng này, tận Vô Sinh đều bình đẳng, khai giác, gọi là Đẳng giác. Chi nghĩa là phần, nghĩa là nhân. Bảy thứ này có thể cùng với trí Tận Vô Sinh, Đẳng Giác là phần, gọi là chi Đẳng Giác”. Pháp sư nói: “Tức bảy pháp này bình đẳng, chia ra giác, đồng thời giúp nhau, gọi là Chi.”
Pháp sư Khuy Cơ giải thích: “Đều có chữ “Đẳng”, Pháp sư nói: “Đẳng-giác, tức nói là bảy chi Như lai, Vì có thể nhân thành Đẳng- giác, nên đều có chữ “Đẳng”. Nếu vậy, tám chi thánh đạo sau cũng thế. Trong năm vị trước, vấn nạn nghĩa này vì trở ngại. Có nghĩa bảy giác ở
Kiến-đạo, tám chánh ở Tu-đạo. Kiến-đạo vô tướng; Tu đạo phân biệt, cho nên có tướng; vì vô tướng, nên bình đẳng mà giác, nên nói đẳng giác. Nghĩa này trên, dưới đều không ngại.”
Dựa theo luận Trung-Biên nói về năm vị kia, nghĩa là bốn niệm trụ, bốn chánh đoạn, bốn thần-túc ở trong phần giải-thoát của ba phương tiện trước. Năm căn ở Noãn, Đảnh; năm lực ở pháp Nhẫn thứ nhất; bảy giác ở Kiến-đạo, vì mới giác ngộ. Tám chánh ở Tu đạo, vì lìa tu đoạn tám pháp tà, chỉ có Trí Luận nói: “ Vì công dụng của Tu-đạo, nên gọi là giác, vì công dụng của Kiến đạo nên gọi là đạo, nghĩa là vì tùy tướng nói, nên không có ngại.
Trong Du-già này, dẫn bảy báu của Luân-Vương, so sánh với Vua xuất thế có báu bảy giác. Nói rộng trong nghĩa ba mươi bảy có sáu đoạn: Đầu tiên, giải thích Niệm-trụ có bốn:
1/ Nói về thể của niệm trụ.
2/ Giải thích về niệm trụ, trong ngoài không đồng.
3/ Nói về ý kiến lập bốn niệm trụ.
4/ Giải thích chung về nghĩa niệm trụ.
Trong phần trước lại có hai:
1/ Giải thích về thân, tướng niệm trụ.
2/ Giải thích ba niệm trụ còn lại.
Trong phần trước, đầu tiên, là nêu bốn câu hỏi, sau, là đáp theo câu hỏi.
Thế nào là Thân? Nghĩa là nói về thân tướng của đối tượng duyên.
Thế nào là đối với thân trụ, tu thân quán? Là hỏi về Thể “năng quán”.
Thế nào là niệm trụ? Là hỏi về nghĩa không quên mất của thân, đối tượng duyên.
Thế nào là niệm trụ? Nghĩa là hỏi về đối tượng duyên. Nếu vì lo nghĩ, xem xét có thể như thế, không thể như thế v.v... an trụ ở niệm?
Trong đáp câu hỏi đầu, thân tướng có ba mươi lăm: là lược có mười bốn cặp:
1- Cặp trong, ngoài.
2- Cặp căn, chẳng phải căn.
3- Cặp tình, chẳng phải tình.
4- Cặp thô nặng, khinh an.
5- Cặp chủ thể, đối tượng tạo.
6- Cặp danh, sắc thân.
7- Cặp năm đường.
8- Cặp có thức không có thức.
9- Cặp trung biểu.
10- Cặp biến hóa, không biến hóa.
11- Cặp thành căn không thành căn.
12- Cặp người thân kẻ oán.
13- Cặp diệu trong kém.
14- Cặp trẻ, già.
Trong đây căn trần, sắc thân của mình, gọi là trong thân. Căn trần của người khác và phi tình bên ngoài, năm căn của mình, người khác, gọi là thân thuộc về căn. Năm trần của mình, người khác và năm trần bên ngoài, gọi là thân mà thuộc về phi căn. Căn trần nội của mình, người khác, được gọi là thân của số hữu tình. Núi, sông, cỏ, cây v.v..., được gọi là thân của số phi hữu tình. Chưa được tĩnh-lự, gọi là thân khinh an đều hiện hành. Đã được Tĩnh-lự, gọi là thân khinh an đều hiện hành. Bốn đại trong, ngoài là thân năng tạo (chủ thể tạo) căn trần khác của mình, gọi là thân được tạo (đối tượng tạo).
Danh thân, sắc thân: là nêu chung danh thân, vì đối nhau. Ý trong đây lấy sắc-thân, không lấy danh thân, là cảnh của ba Niệm trụ còn lại.
Luận sư Bị nói lại lời giải thích của Tam-Tạng: “duyên” là nghĩa trong thân, được chia ra hai thân là danh và sắc. Thân của Tổ, Phụ, Nước, tức là thân quỷ. Vì Tổ phụ đến, đều trông mong ở chỗ Nam, Nữ cúng tế thần, đều có nguyện vọng này, cho đến vì tổ trên, nên nói nước Tổ phụ. Giải thích rộng, như Luận Trí Độ.
Lại, thân có thức: là thân có mạng-căn, thân không có thức, là thân người chết. Thân giữa, thân ngoài, à trung gian trong, gọi là thân giữa. Tướng ngoài thân, gọi là thân biểu. Chết, trải qua thời gian lâu, gọi là thân đổi khác, mới chết và thân chưa chết, gọi là thân không đổi khác.
Thân Bán-trạch-Ca. Pháp sư Cảnh nói: “Phiến-Để-Ca, xưa dịch là Huỳnh-môn. Bán-trạch-ca, xưa dịch là Bát-tra. Lời nói không đúng, nghĩa là không có tướng căn. Chẳng phải thân của bạn thân: là thân kẻ thù, thân Trung-dung, nghĩa là thân của người xử trung.
Thân mầu nhiệm trong kém: là nhiệm mầu trong kém của phần khác tốt, xấu. Hoặc sức có phần mạnh, yếu, mầu nhiệm trong kém. Hoặc y cứ ở phần lớn, nhỏ, mầu nhiệm trong kém?
Trong đáp câu hỏi thứ hai, trụ theo thân quán, lược có ba thứ, tức
văn, tư, tu. Do ba tuệ này vì quán sát, tìm cầu các thân trước, nên gọi như thế.
Đáp câu hỏi thứ ba, niệm, là nương tựa thân, thọ lãnh, giữ gìn Chánh pháp, tư duy nghiã pháp. Tâm không có quên mất trong tu tác chứng. Đầu tiên khi tạo ra thân niệm trụ, thì phải dựa vào giáo pháp để tu, nên tư duy nghĩa pháp không quên, gọi là niệm.
Trong đáp câu hỏi thứ tư, có hai phen:
Phen thứ nhất, nếu xét tư duy đối với giáo pháp và nghĩa, xúc chứng trong giải thoát v.v... tư duy có thể như thế, không thể như thế v.v... an trụ trong đối tượng duyên, gọi là Niệm trụ.
Phen thứ hai, “ lại vì giữ gìn chánh niệm” v.v... trở xuống, là giải thích lại Niệm trụ:
1- Chia ra ba môn.
2- Giải thích theo thứ lớp.
3- “Do đây v.v...” trở xuống, là kết gọi là Niệm trụ.
Từ trên đến đây, bốn trường hợp giải thích về thân niệm trụ đã xong. Kế là, giải thích ba niệm trụ còn lại. Nếu soạn văn, đầy đủ thì đều có bốn trường hợp:
1- Phân biệt thể của thọ, tâm, pháp sở quán.
2- Giải thích về tu quán thọ, tâm, pháp.
3- Giải thích Niệm.
4- Giải thích trụ Niệm. Nhưng trong văn trường hợp trước, kèm chung giải thích về thể của thọ, tâm, pháp, đối tượng quán. Ba trường hợp sau, chỉ giống với thân niệm trụ ở trước.
Trong giải thích ở trước, trước là nêu về số của thọ, tâm, pháp, sau nhắc lại để giải thích.
Trong phần trước, thọ có hai mươi mốt, hoặc chín thứ, Pháp sư cảnh nói: Về phần vì tế có hai mươi mốt thứ, gộp chung thành chín:
1- Nói về ba thứ lạc, khổ, xả, đây là chung.
2- Y cứ năm thức tương ưng với thân, thọ được chia làm ba.
3- Ý thức tương ưng với tâm thọ, chia làm ba, vì nói ưu là khổ.
4- Y cứ hữu ái vị, có ba.
5- Y cứ không có ái vị có ba.
6- Y cứ dựa vào sự thọ lãnh say mê có ba.
7- Y cứ dựa vào xuất ly là ba.
Như thế, ba nhân với bảy là hai mươi mốt thọ, hoặc chín thứ thọ. nghĩa là y cứ môn ba thọ trước trong bảy thọ ở trước mà nói, tức gồm thâu ba thọ sau.
1- Môn ba thọ là chung làm ba.
2- Y cứ ở thân để phân tích ba thọ, lại có ba.
3- Y cứ ở tâm, để nói về thọ, lại có ba là riêng chung riêng là chín.
Về mặt đạo lý, y cứ trực tiếp ở môn đầu, ba thọ gồm thâu tất cả thân thọ, tâm thọ; nhiễm thọ; không có nhiễm thọ, tất cả đều hết, như chỗ khác đã nói.
Pháp sư Thái nói: “Ba thọ là ba, bốn là thân thọ; năm là tâm thọ; sáu ái vị Thọ; bảy không là có ái vị thọ; tám là Đam thị thọ; chín là xuất ly thọ”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Hai mươi mốt thọ, tức như đã nêu, hoặc chín thứ thọ, Pháp sư nói: “Tức ba giai đoạn đầu, vì mỗi vị đều có ba, nên thành chín”. Chín thọ này gồm thâu hết tất cả thọ, không có chia riêng ra môn khác.
Lại giải thích đồng với Pháp sư Thái: “Tâm có hai mươi thứ, nghĩa là đều thuộc về ý xứ. Pháp hai mươi là để nói về tâm, số so sánh là để nói về pháp, đều thuốc về pháp xứ.
Hoặc tham, tham Tỳ-nại-da v.v... Vì vô tham, có công năng điều phục tham, nên gọi là Tham Tỳ-nại-da. Sân, si cũng thế.
Hoặc giản lược pháp, hoặc phân tán pháp. Nghĩa là trừ giản lược Tâm vương va Thọ, giản lược pháp tương ưng với tâm khác và pháp Bất tương ưng, đều gọi là pháp lược, cho đến pháp giải thoát bất thiện cũng thế.
Như thế, phải biết rằng, kiến lập phẩm hắc; phẩm bạch; phẩm nhiễm tịnh; hai mươi thứ pháp, nghĩa là pháp bất thiện, gọi là hắc, pháp hiện hữu lậu, gọi là bạch; pháp trói buộc ba cõi, gọi là nhiễm, pháp lìa ba cõi, gọi là tịnh. Dựa vào bốn pháp này để lập thành hai mươi thứ. Dưới là nhắc lại để giải thích về tướng của thọ, tâm, pháp tức là ba đoạn. Lại, Lạc thọ nghĩa là thuận với Lạc thọ, xúc làm duyên sinh ra v.v..., nghĩa là y cứ xúc của Lạc, để giải thích về Lạc thọ, vì phải nhân xúc mới sinh ra thọ. Ở đây hoặc tương ưng với năm thức, gọi là Nhân thọ; hoặc tương ưng với ý thức, gọi là tâm thọ, tức nói về Lạc thọ trong ba thọ của thân, Lạc thọ trong ba thọ của tâm. Như xúc thuận với Lạc thọ; xúc thuận với không khổ, không lạc thọ, làm duyên sinh ra thọ bất bình đẳng, thuộc về thọ. Thọ bất bình đẳng tức Khổ Thọ. “Câu phỉ” tức là Xả thọ. dưới đây sẽ nói về khổ, xả trong ba thọ của thân tâm rất dễ hiểu.
Các Thọ như thế, nếu thuận với Niết-bàn v.v..., gọi là Thọ không
có ái vị: Pháp sư cảnh nói: Thọ vô lậu gọi là không có vị ái, thọ hữu lậu gọi là có ái vị.
Thọ tương ưng với tám thứ định tịnh, có thể vì nhàm chán địa dưới, ưa thích địa trên, chế phục, xa lìa “tu hoặc” của địa dưới gọi là “Xuất ly Y”. nếu trói buộc cõi Dục, không thuận với lìa dục, gọi là thọ dựa vào sự say mê, ham uống ăn.
Pháp sư Thái nói: “Thọ thiện của phần đạo. gọi là không có vị ái. Nhiễm ô vô ký và Thọ thiện của phần phước, chấp mắc ba cõi, gọi là có vị ái.
Thọ thiện của hai cõi trên và văn, tư của cõi Dục, đều thuận theo lìa dục, gọi là xuất ly Y. Thọ của cõi Dục khác, gọi là Đam thị Y (dựa vào sự say mê ăn uống).
Pháp sư Khuy Cơ nói “Nếu thuận theo Niết-bàn v.v... thì nói là các vô vi; thuận theo quyết trạch, nói là tâm pháp vô lậu. Nếu tùy thuộc theo cõi, nghĩa là ba cõi hữu lậu, gọi là ái vị. Nếu pháp hữu lậu hai tánh của cõi trên và người xuất gia nghe, tư duy cõi Dục thì đều dựa vào Thọ xuất ly. Nếu pháp của hai tánh cõi Dục và thể của năm cảnh tham dục, gọi là say mê ăn uống.
Trong giải thích về tướng của tâm, trước nói về sáu tâm; sau nói về mười bốn.
Trong phần đầu, vì dựa vào chủ thể trị, đối tượng trị, nên có sáu lời nói. sáu tâm như thế, phải biết đều là do lúc hiện hành mà khởi v.v.... Luận sư Cảnh nói chẳng phải khi thúc liễm niệm trụ duyên mà khởi cho nên gọi là lúc nương theo hạnh mà khởi. Pháp sư Khuy Cơ nói: “Sáu tâm trước đều khởi lúc động tác, gọi là khi đi. Khi đi đã thế, lúc đứng, so sánh mà biết. Như trước đã nói: “Khi chưa trụ trong định mà khởi, gọi là lúc đi, lúc ở định khởi, gọi là khi trụ”
Kế là nói về mười bốn tâm. Luận sư Cảnh nói: “Nhân khi thu nhiếp tâm dứt ở duyên, rồi khởi, trong đó, đầu tiên có tám tâm, bốn tâm là chủ thể trị dựa vào định Vị Chí, dứt trừ được năm cái. Nghĩa là giản lược tâm, nêu tâm là đạo gia hạnh, tâm không trạo cử đổi là đạo Vô gián. Tâm vắng lặng là đạo giải thoát, còn có bốn tâm khác là chướng; gọi là tâm tán; tâm thấp; tâm trạo cử tâm không vắng lặng.
Tâm thấp, là hôn trầm đều hiện hành. Tâm cử, là tâm chìm, không “duyên” cảnh tịnh, mầu nhiệm, khiến cho tâm cử.
Tâm trạo cử là tâm lông bông, bị triền ràng buộc.
Tâm định trở xuống có sáu tâm, là dựa vào bốn tĩnh lự, bốn Vô Sắc khởi. Ba tâm là chủ thể trị, trị phiền não của cõi Sắc, Vô Sắc; ba
tâm là chướng.
Đầu tiên nói tâm định, nghĩa là được giải thoát các cái: nêu lên định Vị Chí. Lại, người có thể chứng nhập Tĩnh lự căn bản, được nhập bốn Tĩnh lự, tâm lìa phiền não cõi Sắc; tâm của đạo Vô gián gia hạnh.
Tâm bất định: là tâm lỗi chướng của người chưa thể nhập.
Tâm khéo tu: tức là tâm của đạo giải thoát, đã lìa hoặc cõi Sắc. Tâm không giỏi tu, tức là chướng.
Tâm khéo giải thoát, nghĩa là từ tất cả rốt ráo giải thoát, là lìa “hoặc” của bốn không, gia hạnh đạo giải thoát Vô gián.
Tâm không khéo giải thoát: là chướng.
Mười bốm tâm như thế, nhân khi trụ mà khởi.(Nghĩa là nhân khi nhập định, trụ duyên, mà khởi. Văn này nói chung, là dựa vào lúc trụ ở Địa Tịnh Cái mà khởi, có tám thứ tâm v.v..., nghĩa là bốn trong tám là tâm “năng trị”, thuộc về định Vị Chí, lìa được năm Cái, gọi là địc Tịnh Cái.
Dựa vào lúc trụ ở Địa Tịnh phiền não, có khởi sáu thứ tâm v.v.... Nghĩa là ba tâm là chủ thể tri, hay trị được “hoặc” của cõi Sắc, Vô Sắc, đã phân biệt như trước.
Pháp sư Thái nói: “Tám tâm trước trong mười bốn tâm là đạo phương tiện của định, dựa vào Địa thanh tịnh, hàng phục hiện Cái, mà khởi. Sáu tâm sau, là dựa vào dứt phiền não, khởi lúc ở trong Định”.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Dựa vào Địa Tịnh Cái v.v... : Nghĩa là trong giải thích về mười bốn tâm lúc ở trong Định, chưa được Định vô gián đạo trong đạo Gia hạnh, gọi là Địa Tịnh Cái, khởi tám thứ tâm. Dựa vào đạo Định Vô gián, dứt phiền não, khởi sáu tâm kia.”
Hỏi: “Vì sao tám tâm trước gọi là Tịnh Cái là Gia hạnh Định, chứ chẳng phải Vô gián? Sáu tâm sau là Tịnh, hoặc một Định, một đạo Vô gián?”
Nghĩa là như tham, sân si là Cái bị trị; vô tham điều phục v.v... là chủ thể trị, thì sáu hợp lấy ba bị trị (ba đối tượng trị), tức ba cái. Đây là lúc đi (thời gian hiện hành), thấp là tám thứ lúc trụ, hoặc giản lược hoặc tán loạn lược là tưởng chỉ, tán là tán loạn”.
Hoặc thấp hoặc cao cử, thấp là hôn trầm, cao cử là tướng trạo cử. Nếu trạo cử lìa trạo cử, tức là trạo cử. Nếu vắng lặng không vắng lặng, ác tác gọi là không vắng lặng thiện tác gọi là vắng lặng. Lại nghi thì không vắng lặng, quyết định, gọi là vắng lặng. Lại, hợp với đạo năng trừ ở trước, gọi là vắng lặng; hợp với đối trị ở trước, gọi là không vắng lặng. Đây đều có đối trị riêng, gọi là Địa tịnh chư Cái, Cái là năm Cái.
Mười tám thứ sau là nói tướng chung, chứ chẳng phải có riêng đối tượng trị. Lúc được sáu tâm sau, thì phải được tịnh cái trước, mới có thể nhập định căn bản.
“Nếu vậy, đối tượng trị, chủ yếu tức là đồng thời, vì sao Cái là Định của đạo Gia hạnh, hay là đạo Vô gián?”
“Như chủ thể trị vắng lặng ở trước, nếu nói các Cái của đạo Gia hạnh chỉ điều phục chứ chẳng phải dứt hẳn. Lại, chủ thể trị ở trước lúc điều phục là đạo gia hạnh, đối tượng trị diệt đạo vô gián đồng thời là đối tượng dứt của đạo Vô gián, vì phải đối tượng trị diệt rồi thì chủ thể trị mới sinh, nên luận chép: “Từ Cái được giải thoát xong, mới chứng nhập Định căn bản. Tâm bất định trong đạo vô gián, tức đối tượng trị, vì tám tâm trước có đối trị riêng, nên đạo Gia hạnh do tâm phân biệt quán. Đạo Vô gián sau, là quán tướng chung, hoặc nói là đạo Vô gián. Lại nữa, chưa hẳng nói về phương tiện. vì đối tượng trị của tám tâm trước của đạo Vô gián đều là Cái có đối tượng trị riêng. Sáu thứ sau chẳng phải trừ cái riêng mà là dứt chung các phiền não.
Phân biệt như thế, đây là thứ lớp của phương tiện, vô gián. Tám tâm chỉ đều phục “hoặc” chẳng phải Vô gián, tại bên trong có cái, dưới đây trong giải thích về tướng pháp, đầu tiên, là biết rõ kiết cái, đối tượng trị, “có”, hay “không”. Kế là, hiểu rõ chủ thể trị, bảy pháp chi, vì đều là cảnh của pháp niệm; chỉ có hỷ giác chi là cảnh của thọ niệm trụ, chứ chẳng phải là cảnh của pháp niệm trụ, vì theo nhau.
Nếu như thật biết khắp như thế về các pháp tạp nhiểm v.v.... là rất dễ hiểu kiết cái “có” hay “không”.
Đối. Trị tai họa lỗi lầm, của tự tánh, nhân duyên, nghĩa là kiết bảy giác chi, chủ thể trị trước kia.
Đây là thể của pháp niệm trụ. Nghĩa là biết trị chướng ở trước là chủ thể của pháp niệm trụ.
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Ở đây, xét văn trên không có giải thích riêng bốn thứ này, ở đây chỉ có tự tánh và đối trị tai họa lỗi lầm, không có nhân duyên riêng nào khác.
Nếu theo Cái đối tượng trị đã nói trên, thì gọi là tự tánh kế là, ở trước đã nói là biết rõ nhãn xứ có tai họa lỗi lầm của kiết, gọi là tai họa lỗi lầm, cho nên đạo chủ thể trị. Gọi là đối trị. Lại không có giải thích riêng về nhân, duyên, xứ, hoặc nghĩa không có chướng ngại. Nghĩa là ba thất thiện căn trong thời gian sáu hành, gọi là nhân duyên của các “hoặc”, nhân duyên sinh ra các “hoặc”. Lại tức hạt giống của tự tánh, gọi là nhân duyên. Lại nữa, do chỗ nào duyên chỗ nào mà sinh tự tánh,
tức gọi là nhân duyên. Lại, dựa vào nhãn, cho đến Tác-ý mà sinh, hoặc các xứ như nhãn v.v... tức gọi là nhân duyên. Như nói so sánh thân niệm-trụ dưới đây để giải thích về quán-trụ, thọ, tâm, pháp. Niệm và trụ cũng thế, rất dễ hiểu.
Từ trên đến đây, là thứ nhất, nói về thể đã xong. Từ đây trở xuống, là thứ hai, giải thích về niệm, trụ trong, ngoài không đồng. Trước là nêu ba câu hỏi. Sau là đáp. Trong phần đáp, đầu tiên, dùng sáu lần “lại nữa” để giải thích về ba quán. Sau, là kết, nói rõ một ít.
“Thế nào là đối với trong v.v... thân trụ quán theo thân v.v... ? Nghĩa là nêu trong thân v.v..., lấy thọ, tâm, pháp bên trong, hai pháp còn lại y theo đây”.
Đáp: Trong sáu lần “Lại nữa”, lần “lại nữa” đầu nói rằng: “Nếu “duyên” hữu tình khác bên ngoài, gọi là trong ngoài, thì vì số hữu tình này, nên gọi là nội, chẳng phải sắc thân của mình, gọi là bên ngoài”.
Pháp sư Khuy Cơ giải thích: “ Bốn duyên trong thân này là duyên chung, không có lựa chọn là chủ-thể tạo, đối-tượng tạo. (năng tạo, sở tạo). Nếu phần thứ tư dưới đây, thì chỉ nói chủ-thể tạo, chẳng phải đối tượng tạo, cho nên khác nhau.” Phen thứ hai, nói rằng: “Nếu “duyên” năm căn của mình, người mà có chấp thọ sắc, thì gọi là “duyên” trong thân. Nếu “duyên” phi căn bên ngoài mà không có chấp-thọ sắc thì gọi là “duyên” ngoài thân. Nếu “duyên” phù căn năm trần của mình, người mà có chấp thọ sắc, thì gọi là “duyên” trong ngoài thân.
Phen thứ ba nếu “duyên” sắc “ khinh an câu hành” của Địa Định bên trong của mình, thì gọi là trụ quán thân trong-thân hành qiả ở cõi Dục do được định, nên lìa tướng thô, nặng. Thân này tức là “Khinh an câu hành” Do “Duyên” sắc này, nên gọi là trụ trong thân, cũng có thể y cứ thân sinh cõi Sắc, gọi là đi chung với “Khinh an câu hành”. Nếu song “duyên” cả sắc v.v... khinh an, thô nặng câu hành của người khác: Duyên sắc khinh an câu hành của người thì gọi là trụ trong, còn “ duyên” sắc “ thô năng câu hành” của người khác, gọi là bên ngoài.
Trong phen thứ tư, nếu “duyên” sắc tạo năm căn trần của bốn đại tạo trong, ngoài, thì gọi là trụ trong ngoài.
Trong phen thứ năm, Luận sư Cảnh giải thích: “Nếu “duyên” có thức thân chưa chết, thì gọi là trụ thân nội. Nếu “duyên” sắc rồi chết, không có duyên thức thân, phần-vị xanh, bầm v.v... của số hữu tình, thì gọi là trụ thân ngoại. Nếu “duyên” thây chết hiện-tại, không có sắc của thức thân, đối với quá khứ của niệm trước, khi chưa chết, có thức tánh, có sắc của thức thân, gọi là trụ bên trong.
Lại, “duyên” chủng loại nối tiếp nhau của thây chết ở hiện tại, vào thời gian vị lai, không có pháp tánh giống với thức-tánh, pháp- tánh bình đẳng, gọi là bên ngoài. Kết hợp quán cả hai đầu, gọi là trụ thân trong ngoài, bình đẳng với pháp bên ngoài, gọi là pháp-tánh bình đẳng.”
Pháp sư Thái nói: “Nếu “duyên” thây chết hiện-tại không có sắc của thức thân, thì gọi là bên ngoài. Thây chết hiện tại này đã có thức-tánh lúc chưa chết trong quá khứ. Nay dù không có thức, mà là giống với sắc có thức ở trước bình đẳng không khác, tức gọi là nội. Nếu “duyên”sắc có thức thân chưa chết trong hiện tại, thì gọi là nội. Sắc này trong tương lai, sẽ phải chết, không có thức, thì gọi là bên ngoài. So với sắc trước có thể hiểu.”
Pháp sư Khuy Cơ lại nói: “Ý trong đây nói, là nhìn thấy thây chết lúc đã từng có thức trong quá khứ. Thây chết hiện tại này, gọi là bên ngoài. Vào lúc sẽ có thức, gọi là nội “duyên” thức thân hiện có, không có thức thân ở vị lai, trong ngoài cũng thế. Do hiện tại có thức, vị lai không có thức, giống với pháp tánh, một tướng của pháp-tánh bình đẳng không khác, cho đến quá khứ cũng thế.
Trong phen thứ sáu, Ngài Tam-Tạng nói: “Văn này nói giống như tướng ngoài của thây chết, gọi là “Thân nội biểu”; “duyên” tướng ngoài của thây chết của người, gọi là “thân ngoại biểu”.
Luận sư Cảnh nói: “Thân nội gọi là thân trong, lại “duyên” trong thân của người khác, gọi là thân trong, đối với người khác, gọi là bên ngoài.”
Pháp sư Thái nói “Nếu “duyên” tướng ngoại biểu sắc thuộc thân nội của mình, thì sẽ có tướng xanh, bầm v.v... thay đổi, không thay đổi và “duyên” tướng thay đổi, không thay đổi của biểu sắc của thân người khác, nên gọi là nội, ngoại.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “Nếu “duyên” thân giữa của mình, tức thân nội của mình, thì gọi là trong thân, tức trong thân trong của mình.”
Sáu phen giải thích trong ngoài này, tức tương đương với bảy cặp trong mười bốn cặp ở trước, nghĩa là đầu tiên là cặp trong ngoài.
2/ Cặp căn, phi căn.
3/ Cặp khinh an, thô năng.
4/ Cặp “năng” tạo “sở” tạo.
5/ Cặp “có” thức, “không” thức.
6/ Cặp biểu trung và
7/ Cặp thay đổi, không thay đổi.
Dưới đây là kết, nói rõ một ít. Nghĩa là mười bốn cặp v.v... trước tùy theo đối tượng thích ứng đi đều cũng tạo ra nghĩa của ba quán, nên có nhiều thứ. Nay ở trong đây lại làm rõ sự khác nhau của bảy cặp, nên nói rằng một ít.
Thứ ba là nói ý kiến lập bốn niệm, trụ vì đối-trị bốn trái ngược nên lập bốn niệm-trụ.
Văn có bốn lượt:
Hai lượt đầu, phá chấp, hai lượt sau, là trực tiếp nói về pháp.
Bốn con đường khiếp sợ: Luận sư Cảnh nói: “Con đường khiếp sợ ở của bốn phương.”
Luận sư Bị nói: Tham có bốn thứ:
1/ Tham hiển sắc.
2/ Tham hình sắc.
3/ Tham thừa sự.
4/ Tham sự xúc chạm êm ái.
Đối với bốn thứ tham này, mà thực hành bất tịnh quán, nên quán bất tịnh cũng có bốn đường, tức rừng Thi-đà vắng vẻ không có bóng người, gọi là nẻo đường khiếp sợ. Như thật biết rõ về tự tướng, cộng tướng của các uẩn bị chấp, dứt trừ sự trái ngược của “ngã”. Nhận biết rõ các uẩn chỉ có pháp-tánh, mỗi uẩn đều, khác nhau, đều không có tên “ngã” hiểu rõ về tự tướng; nhận biết rõ các uẩn đồng là vô “ngã” hiểu rõ về cộng tướng, cho nên trừ “ngã” trái ngược.
Nếu nói một cách tinh tế hơn thì bốn thứ như thân v.v... mỗi thứ đều có bốn. Luận Trí Độ nói: “Dù bốn thân đều có bốn thứ: thân nên thường quán bất tịnh; thọ thường quán khổ; Tâm thường quán Vô- thường; pháp thường quán Vô Ngã.”
Trong phen thứ hai, do nương vào thân, nên thọ dụng khổ, vui, v.v.... nghĩa là do “ngã” nương vào thân, nên thọ dụng khổ, vui. Lại, chấp ngã bị khổ vui. Lại, do “ngã” mà tâm hay khởi nhiễm, tịnh đối với pháp, phi pháp.”
Pháp sư Khuy Cơ nói: “ Người thọ khổ, vui. Theo trong giải thích lại nói rằng: “Người ngu chấp ngã ở tâm, ý, thức. Vì ngu sự ngã, nên lập Tâm Niệm Trụ, tức chấp này, cho là “ngã”, trái với tướng thứ nhất trước.
Trong phen thứ ba, nghĩa là nếu nương theo thân này tạo nghiệp; vì thọ này, nên tạo nghiệp; Nếu người tạo nghiệp, hoặc do pháp thiện, bất thiện mà tạo nghiệp. hệ thuộc văn dưới đây, sẽ rất dễ hiểu.
Trong phen thứ tư, cho rằng nếu nương theo thân này, sẽ có nhiễm,
tịnh. Nếu vì thọ này, nên khởi nhiễm tịnh; hoặc tâm làm chủ nhiễm, tịnh; hoặc do các pháp, nên thành nhiễm, tịnh, hệ thuộc rất dễ hiểu.
Thứ tư, là giải thích chung về nghĩa Niệm Trụ:
Nếu Trụ ở đây mà niệm, là đối tượng duyên Niệm Trụ, nghĩa là đối với đối tượng duyên Thân, thọ, tâm, pháp này, vì an niệm mà trụ, nên gọi là Niệm Trụ. Do người Trụ niệm cho đến “Là niệm trụ của tự tánh, nghĩa là Tuệ và Niệm này, vì gồm thâu, giữ gìn Định, nên nói rằng do trụ niệm trụ tuệ này nên hai thứ đều là tự tánh (bản chất). Thể của Niệm trụ đồng với Luận Đối Pháp nói: Không đồng với luận Tiểu thừa chỉ nói một số Tuệ là tự tánh Niệm, Trụ. Lại, do Thân, Thọ, Tâm, Pháp tăng thượng mà được sinh v.v....
Từ trên đến đây dù nói về thể của Tuệ và Niệm là tự tánh Niệm trụ, nhưng vẫn chưa biết tuệ là tuệ gì, cho nên, trong đây phát ra chỉ “duyên” thân v.v... mà khởi ba tuệ, hoặc hữu lậu, vô lậu đều là niệm, trụ.