KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG PHẬT
HOA NGHIÊM
QUYỂN 41
Phẩm 33: XA LÌA THẾ GIAN (Phần 6)
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ chân. Những gì là mười?
1. Chân giới, gom chứa tròn đủ tất cả đại nguyện.
2. Chân tinh tấn, gom chứa tất cả cành Bồ-đề đến chẳng thoái chuyển.
3. Chân các thông, tùy theo ý nguyện của chúng sinh khiến cho họ hoan hỷ.
4. Chân thần thông, chẳng rời khỏi chỗ ngồi mà có thể đi đến tất cả cõi Phật.
5. Chân thâm tâm, rốt ráo tất cả pháp thắng diệu.
6. Chân kiên thệ, các sự mong cầu đều rốt ráo.
7. Chân nhiếp thiện pháp, chẳng phải tất cả lời dạy quan trọng.
8. Chân nghe pháp không chán, nghe trì tất cả pháp Phật đã nói không mệt mỏi.
9. Chân vật dụng của Như Lai, vào tất cả chúng, các căn không khác.
10. Chân chánh hướng hạnh Bồ-tát, lìa khỏi tất cả ác.
Này Phật tử! Đó là mười thứ chân của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở chân này thì được chân thù thắng vô thượng của tất cả chư Phật, có thể nhấc một chân đều đến khắp tất cả thế giới.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tay. Những gì là mười?
1. Tay đức tín đối với tất cả chánh pháp Phật đã nói, lòng tin một hướng, thọ trì rốt ráo.
2. Tay chẳng đắm trước tài thí, có người đến xin thì khiến cho họ hoan hỷ.
3. Tay ý tốt đến trước thăm hỏi, bàn tay phải hiển hiện với nhau.
4. Tay cung kính cúng dường tất cả Phật, nuôi lớn vô lượng công đức không mệt chán.
5. Tay khéo hiểu đa văn, trừ các nghi hoặc của tất cả chúng sinh.
6. Tay xa lìa ba cõi ly sinh tịch tĩnh, đưa chúng sinh khỏi bùn dục nhơ bẩn.
7. Tay an trí bờ kia, cứu tế chúng sinh đang trôi dạt chìm đắm trong bốn dòng.
8. Tay lìa pháp bỏn sẻn, có thể khai mở hết tất cả pháp.
9. Tay những trí luận của tất cả thế gian và ly thế gian, trừ diệt tất cả bệnh của tâm.
10. Tay trí tuệ báu, trừ diệt tất cả các phiền não si ám, thị hiện tất cả ánh sáng pháp nhiều chẳng thể nói hết.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tay của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở tay này thì được tay vô thượng của tất cả chư Phật, có thể dùng một bàn tay che khắp tất cả thế giới mười phương.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ bụng. Những gì là mười?
1. Bụng lìa dối trá, lòng ngay thẳng trong sạch.
2. Bụng lìa dối gạt, nghiệp thân, miệng, ý đều chân chánh.
3. Bụng chẳng vì sự việc mà xa lìa sự chứa ác.
4. Bụng không cùng tận, ở nơi tất cả pháp không chấp trước.
5. Bụng diệt phiền não, trí tuệ minh tịnh.
6. Bụng lòng trong sạch, lìa tất cả ác.
7. Bụng quán sát tất cả tưởng về thức ăn, chánh niệm pháp chân thật.
8. Bụng quán sát tất cả hạnh, khéo giác ngộ duyên khởi.
9. Bụng giác ngộ tất cả đạo, thành tựu đầy đủ hy vọng chân chánh.
10. Bụng lìa tất cả các tà kiến phiền não, khiến cho tất cả chúng sinh được bụng Như Lai.
Này Phật tử! Đó là mười thứ bụng của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở bụng này thì được bụng vô thượng của tất cả chư Phật, có thể dung chứa hết tất cả chúng sinh.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười tạng. Những gì là mười?
1. Chẳng gián đoạn chủng tánh Như Lai là Bồ-tát tạng, nói rộng pháp Phật, nuôi lớn vô lượng pháp lành.
2. Thọ trì thủ hộ chánh pháp Như Lai là Bồ-tát tạng, khai thị trí sang lớn của chúng sinh.
3. Trưởng dưỡng Tăng bảo là Bồ-tát tạng, nắm giữ bánh xe chánh pháp không thoái.
4. Giác ngộ chúng sinh chánh định là Bồ-tát tạng, độ thoát chúng sinh chẳng mất thời cơ.
5. Giáo hóa thành thục chúng sinh bất định là Bồ-tát tạng, nhờ căn lành nối nhau chẳng dứt đoạn.
6. Phát tâm đại Bi cứu hộ chúng sinh tà định là Bồ-tát tạng, khơi dậy cho chúng sinh nhân duyên căn lành đời vị lai.
7. Viên mãn đầy đủ mười Lực của Như Lai chẳng thể ngăn cản, hư hoại là Bồ-tát tạng, thu phục ma quân, thành tựu đầy đủ căn lành chẳng thoái chuyển.
8. Trụ ở bốn vô úy, rống tiếng đại sư tử là Bồ-tát tạng, khiến cho tất cả chúng sinh đều vui mừng.
9. Được mười tám pháp Bất cộng của Phật là Bồ-tát tạng, tất cả trí tuệ không gì chẳng đạt đến.
10. Giác ngộ bình đẳng tất cả chúng sinh, tất cả cõi, tất cả pháp, tất cả Phật là Bồ-tát tạng, ở trong một niệm vào sâu bình đẳng.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tạng của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở tạng này thì được tạng Đại trí tuệ căn lành vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tâm. Những gì là mười?
1. Tâm dũng mãnh khi phát khởi sự nghiệp đều được rốt ráo.
2. Tâm không giải đãi, gom chứa tướng tốt các căn lành.
3. Tâm dũng kiện lực, tiêu diệt, thu phục tất cả các ác ma.
4. Tâm chánh tư duy, trừ diệt tất cả bẩn phiền não.
5. Tâm chẳng thoái chuyển, đi đến đạo tràng rốt ráo Bồ-đề.
6. Tâm thanh tịnh tánh, giác ngộ tâm không chỗ đến, không sự chấp trước.
7. Tâm biết chúng sinh, tùy theo tánh chúng sinh mà khiến cho họ giác ngộ được giải thoát.
8. Tâm vào Đại Phạm thiên trụ pháp Phật các chủng tánh chúng sinh đều cứu hộ.
9. Tâm Không, Vô tướng, Vô nguyện, Vô hạnh, xa lìa thấy tướng, chẳng nhiễm trước ba cõi.
10. Tâm Kim cang trang nghiêm, dù ma nhiều như chúng sinh, chẳng thể động đến một sợi lông.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tâm của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở tâm này thì được tâm Kim cang tạng vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ trang nghiêm. Những gì là mười?
1. Đại Từ trang nghiêm, cứu hộ tất cả chúng sinh.
2. Đại Bi trang nghiêm, kham chịu tất cả khổ.
3. Đại nguyện trang nghiêm, điều đã phát nguyện đều rốt ráo.
4. Hồi hướng trang nghiêm, kiến lập diệu trang nghiêm công đức của tất cả chư Phật.
5. Công đức trang nghiêm, lợi lạc cho tất cả chúng sinh.
6. Ba-la-mật trang nghiêm, độ thoát tất cả chúng sinh.
7. Trí tuệ trang nghiêm, trừ diệt phiền não, ngu si, tối tăm của tất cả chúng sinh.
8. Phương tiện trang nghiêm, sinh ra các căn lành phổ môn.
9. Tâm Nhất thiết trí trang nghiêm kiên cố chẳng loạn, chẳng ưa các thừa khác.
10. Quyết định trang nghiêm, ở trong chánh pháp diệt nghi hoặc.
Này Phật tử! Đó là mười thứ trang nghiêm của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được trang nghiêm vô thượng của tất cả chư Phật, thu phục tất cả ma.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ khí trượng. Những gì là mười?
1. Khí trượng tâm bố thí xa lìa bỏn sẻn, diệt trừ tất cả keo kiệt sân tham.
2. Khí trượng trì giới, vượt ra khỏi các giới ác.
3. Khí trượng quán sát bình đẳng tất cả pháp, xa lìa tất cả pháp hư vọng.
4. Khí trượng trí tuệ, trừ diệt các phiền não của chúng sinh.
5. Khí trượng chánh mạng, xa lìa tất cả các tà mạng.
6. Khí trượng phương tiện, thị hiện tất cả.
7. Nói tóm lại tham, sân, si, tất cả phiền não là khí trượng của Bồ-tát, dùng phiền não môn để hóa độ chúng sinh.
8. Khí trượng sinh tử, chẳng đoạn hạnh Bồ-tát, giáo hóa chúng sinh.
9. Khí trượng nói pháp thật, tất cả không dính mắc.
10. Khí trượng Nhất thiết trí môn, chẳng lìa khỏi cửa hạnh Bồ-tát.
Này Phật tử! Đó là mười thứ khí trượng của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì có thể diệt trừ phiền não, kết sử, tập khí gom chứa lâu dài của tất cả chúng sinh.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mưới thứ đầu. Những gì là mười?
1. Đầu Niết-bàn không thấy đỉnh.
2. Đầu cung kính tôn trọng thì tất cả trời người thế gian cung kính cúng dường.
3. Đầu thâm diệu thì tối đệ nhất trong tất cả tam thiên đại thiên thế giới.
4. Đầu tất cả căn lành thì chúng sinh ba cõi cúng dường.
5. Đầu gánh vác tất cả chúng sinh thì được đỉnh Kim cang vô thượng.
6. Đầu vô lượng, vô biên thì gom lấy tất cả pháp Tối thắng.
7. Đầu Bát-nhã ba-la-mật thì ưa pháp của Pháp vương.
8. Đầu phương tiện thì thị hiện đầu bình đẳng tất cả chúng sinh.
9. Đầu giáo hóa thành thục tất cả chúng sinh thì làm Thầy vô thượng của tất cả chúng sinh.
10. Đầu thủ hộ chánh pháp Như Lai thì chẳng đoạn tuyệt Tam bảo.
Này Phật tử! Đó là mười thứ đầu của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được đỉnh trí vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ mắt. Những gì là mười?
1. Mắt thịt, thấy tất cả hình sắc.
2. Mắt trời, thấy tất cả chúng sinh chết nơi này, sinh chỗ kia.
3. Mắt tuệ, thấy các căn của tất cả chúng sinh.
4. Mắt pháp, thấy tướng chân thật của tất cả pháp.
5. Mắt Phật, thấy mười Lực của Như Lai.
6. Mắt trí, phân biệt tất cả pháp.
7. Mắt minh, thấy ánh sáng của tất cả Phật.
8. Mắt vượt sinh tử, thấy Niết-bàn.
9. Mắt vô ngại, thấy tất cả pháp không ngăn ngại.
10. Mắt thấy khắp pháp môn bình đẳng thấy pháp giới.
Này Phật tử! Đó là mười thứ mắt của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu mắt này thì được mắt đại trí tuệ vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tai. Những gì là mười?
1. Nghe tiếng khen ngợi thì đoạn trừ tham ái.
2. Nghe tiếng hủy bang chê trách thì đoạn trừ sân hận.
3. Nghe tiếng Thanh văn, Duyên giác thì chẳng khởi tâm cầu.
4. Nghe tiếng đạo Bồ-tát thì phát khởi lòng vui mừng kỳ đặc.
5. Nghe âm thanh bần khổ của địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, vua Diêm-la, A-tu-la…tất cả chỗ nạn thì phát khởi đại Bi trang nghiêm mà tự trang nghiêm.
6. Nghe âm thanh thắng diệu của cõi trời, người thì quán tất cả pháp đều vô thường.
7. Nghe âm thanh công đức của Phật thì siêng tu tinh tấn, rốt
ráo viên mãn đầy đủ tất cả công đức.
8. Nghe âm thanh Ba-la-mật, bốn Nhiếp pháp, Kinh tạng Bồ-tát thì phát tâm rốt ráo đến với bờ kia.
9. Nghe tất cả âm thanh của mười phương thế giới thì đều rõ biết như tiếng vang.
10. Đại Bồ-tát từ khi mới phát tâm cho đến lúc ngồi tại đạo tràng thường chánh thọ tai pháp mà chẳng bỏ việc giáo hóa thành thục tất cả chúng sinh.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tai của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu tai này thì được tai đại trí tuệ vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ mũi. Những gì là mười?
1. Ngửi uế khí thì quán sát chẳng thối.
2. Ngửi mùi hương thì quán sát chẳng thơm.
3. Ngửi thơm, thối thì quán sát bình đẳng.
4. Ngửi chẳng phải thơm, chẳng phải thối thì quán sát lìa bỏ.
5. Ngửi mùi thơm của y phục, giường mùng, ngọa cụ và các bộ phận của thân thể thì biết người đó tham lam, sân nhuế, ngu si… phiền não.
6. Ngửi mùi thơm những dược thảo của kho báu lớn thì đều có thể rõ biết tất cả kho báu.
7. Ngửi mùi thơm của chúng sinh xuống đến địa ngục A-tỳ, lên đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng đều có thể rõ biết bản hạnh các căn.
8. Ngửi mùi thơm thí, giới, văn, tuệ của Thanh văn thì trụ ở tâm Nhất thiết trí chưa từng tán loạn.
9. Ngửi mùi thơm hạnh của tất cả Bồ-tát thì gom lấy trí địa của Như Lai.
10. Ngửi mùi thơm cảnh giới của tất cả Phật, chẳng đoạn hạnh của Bồ-tát.
Này Phật tử! Đó là mười thứ mũi của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu mũi này thì được mũi thanh tịnh vô thượng vô lượng, vô biên của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ lưỡi. Những gì là mười?
1. Lưỡi phân biệt giải nói hạnh vô tận của tất cả chúng sinh.
2. Lưỡi phân biệt giải nói pháp vô tận.
3. Lưỡi khen ngợi công đức vô tận của chư Phật.
4. Lưỡi biện tài vô tận.
5. Lưỡi diễn nói pháp Đại thừa vô tận.
6. Lưỡi che khắp cõi hư không mười phương.
7. Lưỡi soi khắp tất cả thế giới Phật.
8. Lưỡi khen ngợi bình đẳng tất cả chúng sinh.
9. Lưỡi thuận theo chư Phật, khiến cho các Ngài hoan hỷ.
10. Lưỡi hàng phục tất cả ma và các ngoại đạo, trừ diệt tất cả phiền não sinh tử khiến cho hết thảy chúng sinh đến Niết-bàn.
Này Phật tử! Đó là mười thứ lưỡi của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu lưỡi này thì được lưỡi đại Kim cang vô thượng của chư Phật, che khắp tất cả thế giới.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ thân. Những gì là mười?
1. Thân người, giáo hóa thành thục tất cả loài người.
2. Thân không phải người, giáo hóa thành thục địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, Diêm-la vương.
3. Thân trời, giáo hóa thành thục chúng sinh cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc.
4. Thân Hữu học, thị hiện quả vị Hữu học.
5. Thân Vô học, thị hiện quả vị A-la-hán.
6. Thân Duyên giác, giáo hóa khiến vào quả vị Duyên giác.
7. Thân Bồ-tát, tích tập Đại thừa.
8. Thân Như Lai, thọ ký Như Lai trí.
9. Thân Ma-dật-ma, phương tiện khéo léo sinh ra vô lượng công đức.
10. Thân vô lậu pháp, dùng ít phương tiện hiện khắp tất cả thân chúng sinh.
Này Phật tử! Đó là mười thứ thân thanh tịnh của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu thân này thì được Pháp thân vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ ý. Những gì là mười?
1. Ý thượng thủ sinh ra tất cả căn lành.
2. Ý thuận theo lời Phật dạy, đúng như lời nói mà tu hành.
3. Ý thâm nhập, giải lý tất cả Phật pháp.
4. Ý bên trong, thâm nhập vào nguyện vọng của chúng sinh.
5. Ý chẳng loạn, chẳng bị sự loạn động của phiền não.
6. Ý thanh tịnh, chẳng thọ cấu nhiễm.
7. Ý khéo điều phục, chẳng làm mất thời cơ.
8. Ý chính tư duy nghiệp, xa lìa tất cả ác.
9. Ý điều phục các căn, ở trong cảnh giới, các căn chẳng buông lung.
10. Ý định sâu, Tam-muội Phật chẳng thể xưng lường.
Này Phật tử! Đó là mười thứ ý của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu ý này thì được ý vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ đi. Những gì là mười?
1. Đi nghe pháp, ưa nghe nhận pháp.
2. Đi nói pháp, làm lợi ích cho chúng sinh.
3. Đi chẳng theo ái, sân, si, sợ, điều phục được lòng mình.
4. Đi Dục giới, giáo hóa thành tựu chúng sinh cõi Dục.
5. Đi Tam-muội cõi Sắc, cõi Vô sắc, khiến cho mau chóng biến chuyển…
6. Đi nghĩa pháp, mau chóng thành tịnh tuệ.
7. Đi tất cả các cõi, giáo hóa chúng sinh.
8. Đi tất cả cõi Phật, cung kính lễ bái cúng dường tất cả Phật.
9. Đi Niết-bàn, đoạn tuyệt sinh tử nối tiếp nhau.
10. Đi thành tựu chưPhật, chẳng đoạn hạnh Bồ-tát.
Này Phật tử! Đó là mười thứ đi của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát thành tựu mười đi này thì được hành Như Lai hạnh phi hạnh của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ đứng. Những gì là mười?
1. Đứng ở tâm Bồ-đề, chưa từng quên mất.
2. Đứng ở Ba-la-mật, chẳng chán công đức.
3. Đứng ưa nghe chánh nghĩa, trí tuệ minh tịnh.
4. Đứng ở chỗ A-lan-nhã, thành tựu các Tam-muội lớn.
5. Đứng ở bốn dòng Thánh, thuận theo Nhất thiết trí, uy nghi Đầu-đà thì ít dục, biết đủ.
6. Đứng ở tùy thuận thì thuận với chánh pháp.
7. Đứng gần gũi Như Lai thì thành tựu viên mãn oai nghi Phật.
8. Đứng ở các Minh thì đủ đầy đại trí.
9. Đứng ở Vô sinh nhẫn thì thọ ký đầy đủ.
10. Đứng ở Bồ-đề đạo tràng thì đủ đầy mười Lực, bốn Vô úy… tất cả Phật pháp.
Này Phật tử! Đó là mười thứ đứng của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở sự đứng này thì được chỗ đứng Nhất thiết trí vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ ngồi. Những gì là mười?
1. Ngồi Chuyển luân vương, phát khởi mười điều lành.
2. Ngồi bốn vua trời, muốn ở trong chánh pháp chư Phật của tất cả thế giới mà được tự tại.
3. Ngồi Đế Thích, đối với tất cả chúng sinh là tối đệ nhất.
4. Ngồi Phạm thiên, tâm ta, tâm người được tự tại.
5. Ngồi sư tử, phân biệt diễn nói lý nghĩa thậm thâm.
6. Ngồi chánh pháp, muốn sáng tỏ những lực biện Đà-la-ni.
7. Ngồi Tam-muội kiên cố, rốt ráo thệ lớn.
8. Ngồi đại Từ, khiến cho chúng sinh ác tâm đều vui mừng.
9. Ngồi đại Bi, có thể nhịn chịu tất cả các khổ não.
10. Ngồi Kim cang, điều phục bọn ma và các ngoại đạo.
Này Phật tử! Đó là mười thứ ngồi của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở sự ngồi này thì được chỗ ngồi vô thượng tôn của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ nằm. Những gì là mười?
1. Nằm tịch tĩnh, thân tâm đạm bạc.
2. Nằm thiền định, chánh niệm tư duy quán các pháp.
3. Nằm các Tam-muội, thân tâm nhu nhuyến.
4. Nằm Phạm thiên, chẳng não hại mình và người.
5. Nằm tư duy nghiệp, lòng không hối tiếc về sau.
6. Nằm thuận chánh pháp, chẳng thể khuynh động.
7. Nằm chánh đạo, giỏi biết giác ngộ.
8. Nằm diệu nguyện, giỏi biết hồi hướng.
9. Nằm tất cả việc hoàn tất, việc làm rốt ráo.
10. Nằm bỏ phương tiện, rốt ráo bản sự.
Này Phật tử! Đó là mười thứ nằm của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được đạo nằm vô thượng của tất cả chư Phật, có thể giác ngộ hết tất cả chúng sinh.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ Trụ (ở). Những gì là mười?
1. Trụ ở đại Từ, lòng bình đẳng quán sát tất cả chúng sinh.
2. Trụ ở đại Bi, chẳng khinh chúng sinh chưa học.
3. Trụ ở đại Hỷ, diệt ưu não.
4. Trụ ở đại Xả, hữu vi, vô vi đều bình đẳng.
5. Trụ ở tất cả Ba-la-mật, Bồ-đề tâm làm đầu.
6. Trụ ở tất cả thứ rỗng không, khéo rõ biết các pháp.
7. Trụ ở Vô tướng, lìa sinh thọ chứng chẳng thoái chuyển.
8. Trụ ở Vô nguyện, bỏ thọ sinh.
9. Trụ ở niệm tuệ, pháp nhẫn thành tựu viên mãn.
10. Trụ ở tất cả pháp bình đẳng, được pháp thọ ký.
Này Phật tử! Đó là mười thứ trụ của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở trụ này thì được trụ vô ngại, vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ hạnh. Những gì là mười?
1. Hạnh chánh niệm, đầy đủ bốn Niệm xứ.
2. Hạnh các cõi hướng đến, chánh giác về các pháp.
3. Hạnh tuệ, thuận theo chư Phật.
4. Hạnh Ba-la-mật, đủ đầy Nhất thiết trí.
5. Hạnh bốn Nhiếp, giáo hóa thành thục các chúng sinh.
6. Hạnh sinh tử, nuôi lớn tất cả các căn lành.
7. Hạnh nói đùa của tất cả chúng sinh, vượt khỏi chúng sinh.
8. Hạnh tham cháy rực, giác ngộ các căn của tất cả chúng sinh.
9. Hạnh phương tiện khéo, nuôi lớn Bát-nhã ba-la-mật.
10. Hạnh đạo tràng, giác ngộ Nhất thiết trí, chẳng đoạn hạnh Bồ-tát.
Này Phật tử! Đó là mười thứ hạnh của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở hạnh này thì được hạnh đại trí tuệ vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ quán sát. Những gì là mười?
1. Quán sát nghiệp lành, cho đến đối với hình sắc cực nhỏ cũng đều soi thấy.
2. Quán sát chết nơi này, sinh chỗ kia, chẳng chấp trước tất cả chúng sinh.
3. Quán sát các căn của tất cả chúng sinh, quyết định biết rõ pháp vô căn.
4. Quán sát diệu pháp, pháp giới chẳng thể hoại.
5. Quán sát hiện tiền, đối với tất cả Phật pháp tu Phật nhãn.
6. Quán sát trí tuệ, tùy theo căn cơ mà nói pháp.
7. Quán sát Vô sinh pháp nhẫn, quyết định được Phật pháp.
8. Quán sát chẳng lùi Phật địa, trừ diệt tất cả phiền não, vượt ra quả Nhị thừa của ba cõi.
9. Quán sát pháp cam lồ rót xuống đỉnh, đối với tất cả Phật pháp được tự tại chẳng động.
10. Quán sát Tam-muội Phật, ở trong tất cả mười phương làm Phật sự.
Này Phật tử! Đó là mười thứ quán sát của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được đại trí quán sát vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ quán sát cùng khắp. Những gì là mười?
1. Quán sát cùng khắp những người đến cầu, lòng Từ thí cho họ thỏa lòng.
2. Quán sát cùng khắp những người phạm giới, an trí vào giới thanh tịnh của Như Lai.
3. Quán sát cùng khắp chúng sinh tâm hại, an trí vào sức kham nhẫn của Như Lai.
4. Quán sát cùng khắp những người biếng nhác, khiến cho chúng sinh đó siêng tu tinh tấn, rốt ráo Đại thừa.
5. Quán sát cùng khắp chúng sinh loạn tâm trừ cho họ tâm loạn, an trí ở Nhất thiết trí địa của Như Lai.
6. Quán sát cùng khắp chúng sinh ngu si, trừ tất cả hữu kiến nghi hoặc của họ.
7. Quán sát cùng khắp các Thiện tri thức, tùy theo lời dạy của Như Lai mà trụ ở Phật pháp.
8. Quán sát cùng khắp theo pháp đã nghe, thành tựu đầy đủ nghĩa vô thượng.
9. Quán sát cùng khắp tất cả chúng sinh, chẳng bỏ đại Bi.
10. Quán sát cùng khắp tất cả Phật pháp, giác ngộ Nhất thiết trí.
Này Phật tử! Đó là mười thứ quán sát cùng khắp của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được đại trí quán sát cùng khắp vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ mạnh mẽ. Những gì là mười?
1. Sắc mạnh mẽ, ở trong tất cả chúng Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già… hiện tối thắng.
2. Voi mạnh mẽ, thị hiện tâm báu của voi.
3. Rồng mạnh mẽ, hưng khởi mây đại pháp che khắp tất cả, ánh chớp giải thoát sáng ngời, sấm thật nghĩa chấn động, tuôn xuống mưa pháp cam lộ các Căn, Lực, Giác ý, Thiền định, Giải thoát Tam-muội.
4. Vua chim cánh vàng lớn mạnh mẽ, hoại diệt ngu si, tiêu diệt nước ái, ở trong biển khổ lớn tóm bắt những rồng ác phiền não.
5. Sư tử mạnh mẽ, an trụ ở vô úy, trang bị giáp đồng đại trí
binh khí bình đẳng, tiêu diệt hàng phục bọn ma và các ngoại đạo.
6. Dũng kiện mạnh mẽ, có thể ở trong trận chiến lớn sinh tử tiêu diệt tất cả đại oán địch phiền não.
7. Trí tuệ mạnh mẽ, quyết định rõ biết ấm, giới, các nhập, mười hai duyên khởi, hiện tất cả pháp Phật tự tại.
8. Đà-la-ni mạnh mẽ, nghe giữ tất cả pháp chưa từng quên mất, rộng vì quần sinh phân biệt giải nói.
9. Biện tài mạnh mẽ, phân biệt tất cả câu, chữ không chỗ ngăn ngại, theo câu hỏi liền đáp lại đều khiến cho người hỏi vui mừng, lời nói chẳng hư rỗng.
10. Như Lai mạnh mẽ, ngồi tòa Sư tử hàng phục bọn ma điều phục ngoại đạo, đầy đủ Nhất thiết trí, đủ một niệm tuệ tương ưng đều rõ biết sở đắc, sở tri, sở giác, sở hành, thành Bồ-đề vô thượng.
Này Phật tử! Đó là mười thứ mạnh mẽ của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được mạnh mẽ tự tại vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ sư tử hống. Những gì là mười?
1. “Ta nhất định thành Phật” là tiếng rống sư tử của tâm Bồ-đề.
2. Đối với tất cả chúng sinh khởi lòng đại Bi: Kẻ chưa độ được độ, người chưa giải thoát được giải thoát, kẻ chưa yên được yên, người chưa Niết-bàn được Niết-bàn là tiếng rống sư tử của đại Bi.
3. Thủ hộ thọ trì chẳng đoạn dứt tánh Tam bảo là tiếng rống sư tử báo ân Như Lai.
4. Khiến cho tất cả cõi Phật đều thanh tịnh hết là tiếng rống sư tử đại thệ.
5. Trừ diệt các nạn của tất cả đường ác là tiếng rống sư tử tự trì tịnh giới.
6. Đủ đầy tướng tốt trang nghiêm thân, miệng, ý của Như Lai là tiếng rống sư tử gom chứa công đức không chán đủ.
7. Thành tựu viên mãn trí tuệ tất cả chư Phật là tiếng rống sư tử gom chứa tròn đủ trí tuệ không chán đủ.
8. Trừ diệt tất cả việc ma, chuyên cầu chánh đạo là tiếng rống sư tử trừ diệt phiền não.
9. Biết tất cả pháp không ngã, không ngã sở, không mạng, không con người, Không, Vô tướng, Vô nguyện… quán tất cả pháp sạch như hư không là tiếng rống sư tử đối với tất cả pháp được Vô sinh nhẫn.
10. Đại Bồ-tát Nhất sinh bổ xứ, nghiêm tịnh chấn động tất cả cõi Phật; Đế Thích, Phạm vương, bốn vua trời đều thỉnh cầu Bồ-tát giáng thần hạ sinh, dùng mắt tuệ vô ngại quán sát khắp thế gian. Tất cả chúng sinh không ai hơn ta. Bồ-tát thị hiện tiếng rống sư tử lớn sinh ra bước đi bảy bước: “Ta đối với thế gian là tối thắng nhất, ta vĩnh viễn chấm dứt pháp sinh, già, chết là tiếng rống sư tử theo như lời nói mà tu hành.”
Này Phật tử! Đó là mười thứ tiếng rống sư tử của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được tiếng rống đại sư tử Vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh thí. Những gì là mười?
1. Lòng bình đẳng thí, không ghét chúng sinh.
2. Tùy ý thí, thỏa mãn tất cả nguyện.
3. Lòng không loạn thí, chẳng thoái chuyển.
4. Tùy ứng cúng thí, phân biệt biết rõ nhân ngã.
5. Chẳng chọn lựa thí, chẳng cầu quả báo.
6. Một hướng thí, đối với tất cả vật lòng không nhiễm trước.
7. Trong ngoài tất cả thí, rốt ráo thanh tịnh.
8. Bồ-đề thí, xa lìa hữu vi, vô vi.
9. Giáo hóa thành thục chúng sinh thí, cho đến đạo tràng chẳng lìa bỏ.
10. Ba thứ viên mãn thanh tịnh thí, người thí, kẻ nhận, tài vật đều bình đẳng, trong sạch như hư không.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh thí của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở thí này thì được đại thí thanh tịnh vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh giới. Những gì là mười?
1. Tịnh giới thân, phòng hộ ba điều ác của thân.
2. Tịnh giới khẩu, xa lìa bốn lỗi của miệng.
3. Tịnh giới tâm, vĩnh viễn lìa khỏi tham, sân hận, các tà kiến.
4. Tịnh giới đủ tất cả, tối thắng vi diệu ở trong trời, người.
5. Tịnh giới thủ hộ tâm Bồ-đề, chẳng ưa tiểu trí.
6. Tịnh giới thủ hộ điều học của Như Lai, cho đến rất kinh sợ tội nhỏ.
7. Tịnh giới vi mật, khéo cứu vớt chúng sinh phạm giới.
8. Tịnh giới chẳng làm tất cả ác, gom chứa hết tất cả các pháp lành.
9. Tịnh giới xa lìa tất cả hữu kiến, đối với giới không chấp trước.
10. Tịnh giới thủ hộ tất cả chúng sinh, sinh ra đại Bi.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh giới của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở giới này thì được tịnh giới xa lìa mọi ác vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh nhẫn. Những gì là mười?
1. Nếu người khác mắng chửi hủy nhục đều có thể kham nhẫn, hộ tâm người đó.
2. Nếu người khác dùng dao gậy gia hại cũng kham nhẫn, bảo hộ kẻ đó.
3. Biết nhẫn tất cả sân nhuế, tự nhiên chẳng động.
4. Nhẫn tự tại thì sự có thể hại chẳng hại được.
5. Nhẫn nơi chỗ chúng sinh hướng về thì chẳng tiếc thân mạng.
6. Nhẫn xa lìa ngã mạn thì chẳng khinh hạng chưa học.
7. Nhẫn cắt xẻo các bộ phận thân thể thì quán sát như huyễn.
8. Nhẫn tất cả việc ác thì lìa khỏi tư tưởng phân biệt mình, người.
9. Nhẫn phiền não thì xa lìa cảnh giới phiền não.
10. Nhẫn thuận theo trí phương tiện của tất cả Bồ-tát thì được Vô sinh nhẫn, đối với cảnh giới trí chẳng do người khác giác ngộ cho.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh nhẫn của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở nhẫn này thì được pháp Nhẫn vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh tinh tấn. Những gì là mười?
1. Tinh tấn tịnh nghiệp thân, cung kính cúng dường cung cấp tất cả chư Phật, Bồ-tát, tôn trọng ruộng phước chẳng thoái chuyển.
2. Tinh tấn tịnh nghiệp miệng, nghe trì chánh pháp của tất cả chư Phật chưa từng quên mất, khen ngợi Như Lai, theo điều pháp được nghe mà rộng vì người giảng nói không mệt mỏi.
3. Tinh tấn tịnh nghiệp ý, phương tiện khéo léo nhập vào Tam-muội Từ, Bi, Hỷ, Xả, thiền định giải thoát nối tiếp nhau khởi lên không thoái chuyển.
4. Tinh tấn tịnh tâm ngay thẳng, ngay thẳng xa lìa dối trá, tất cả việc, tất cả phương tiện rốt ráo chẳng thoái chuyển.
5. Tinh tấn tịnh thâm tâm, thường hướng về cõi tối thắng tích tập trí tuệ vô thượng, pháp Bạch tịnh.
6. Tịnh tinh tấn hành chẳng hư vọng thì bao gồm lấy bố thí, trì giới, nhẫn nhục, đa văn và chẳng phóng dật… cho đến đạo tràng chẳng dừng nghỉ giữa chừng.
7. Tịnh tinh tấn hàng phục tất cả ma quân, oán địch thì có thể trừ diệt hết tham, sân nhuế, ngu si, phiền não, tà kiến, các trói buộc ngăn che.
8. Tịnh tinh tấn đầy đủ ánh sáng tuệ, có điều gì hành dụng thì khéo tư duy, lòng hối tiếc không giữa chừng, rốt ráo mọi việc, được pháp bất cộng của tất cả chư Phật.
9. Tịnh tinh tấn không chỗ nhiễm trước, xa lìa cảnh giới tâm, bằng pháp môn thậm thâm tướng của thân, miệng, tâm đều là phi tướng quán sát khắp cảnh giới quyết định rõ biết chân thật Như Như.
10. Tịnh tinh tấn thành tựu đầy đủ pháp minh, thứ lớp tiến vào tất cả các địa, ở chỗ chư Phật được cam lộ quán đảnh, Pháp vương thọ ký, Pháp thân vô lậu hiện xả thọ mạng, giáng thần thế gian, xuất gia thành đạo, chuyển bánh xe pháp thanh tịnh, vào đại Bát-niết-bàn, rốt ráo tròn đủ hạnh Phổ Hiền.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh tinh tấn của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở pháp này thì được Đại tịnh tinh tấn vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh thiền. Những gì là mười?
1. Tịnh thiền thường ưa xuất gia, bỏ lìa tất cả hữu.
2. Tịnh thiền than cận Thiện tri thức, hỏi han, thọ trì, tu tập đạo chánh pháp.
3. Tịnh thiền ưa chỗ A-lan-nhã, xa lìa pháp ngã, ngã sở.
4. Tịnh thiền lìa nơi chợ búa nói cười ồn ào, ưa tịch diệt.
5. Tịnh thiền tâm nhu nhuyễn, các căn chẳng loạn.
6. Tịnh thiền trí tuệ tịch tĩnh, tất cả âm thanh, các thiền định khác chẳng thể làm loạn động.
7. Tịnh thiền bảy Giác ý, tám Thánh đạo, đối với tất cả cảnh giới thì trí tuệ luôn quyết định.
8. Tịnh thiền lìa khỏi thiền vị cùng các cấu bẩn phiền não, chẳng chọn lấy cõi Dục.
9. Tịnh thiền các thần thông sáng tỏ, quyết định biết rõ các căn của tất cả chúng sinh.
10. Tịnh thiền dùng ít phương tiện để hiện ra trước mắt du hý thần thông, Tam-muội của Như Lai chẳng thể xưng lường.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh thiền của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở thiền này thì được tịnh thiền vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh tuệ. Những gì là mười?
1. Tịnh tuệ biết nhân mà chẳng hoại quả báo.
2. Tịnh tuệ hiểu tất cả duyên mà chẳng hoại sự hòa hợp.
3. Tịnh tuệ hiểu tất cả pháp chẳng thường, chẳng đoạn, rõ biết duyên khởi Như như.
4. Tịnh tuệ phá trừ tất cả tà kiến, quán sát tất cả pháp đều như huyễn.
5. Tịnh tuệ các biện tài thắng trí, tùy theo chỗ hỏi mà trả lời không ngăn ngại.
6. Tịnh tuệ hàng phục ma quân và các ngoại đạo, vượt hẳn Thanh văn, Duyên giác, thâm nhập vào trí phương tiện của Như Lai.
7. Tịnh tuệ thấy Pháp thân thanh tịnh của tất cả Phật, thấy tất cả chúng sinh đều thanh tịnh, thấy tất cả pháp đều tịch diệt, thấy tất cả thế giới đều hư không, đối với tất cả tướng, trí tuệ không ngại.
8. Tịnh tuệ gom lấy tất cả Biện Đà-la-ni, các phương tiện thiện xảo Ba-la-mật, được tất cả thắng trí.
9. Tịnh tuệ một niệm tương ứng với trí Kim cang.
10. Giác ngộ tất cả pháp bình đẳng thì thành tựu đầy đủ trí vô thượng.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh tuệ của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở tuệ này thì được đại trí vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh Từ. Những gì là mười?
1. Tịnh Từ tâm bình đẳng, chẳng chọn lựa chúng sinh.
2. Tịnh Từ lợi ích, đối với tất cả chúng sinh có điều gì hành dụng đều có thể hoàn thành.
3. Tịnh Từ cứu hộ, độ thoát rốt ráo hiểm nạn sinh tử của tất cả chúng sinh.
4. Tịnh Từ thương xót chẳng bỏ tất cả chúng sinh, nuôi lớn căn lành hữu vi.
5. Tịnh Từ giải thoát, diệt các phiền não của tất cả chúng sinh.
6. Tịnh Từ sinh ra Bồ-đề khiến cho tất cả chúng sinh ưu cầu Bồ-đề.
7. Tịnh Từ không ngại đối với tất cả chúng sinh, phóng ra vô lượng ánh sáng soi khắp chúng sinh.
8. Tịnh Từ hư không, cứu hộ tất cả chúng sinh.
9. Tịnh Từ pháp duyên, giác ngộ pháp chân thật.
10. Tịnh Từ vô duyên, chứng lấy pháp ly sinh của Bồ-tát.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh Từ của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở Từ này thì được đại Từ thanh tịnh vô thượng của tất cả chư Phật.
Này Phật tử! Đại Bồ-tát có mười thứ tịnh Bi. Những gì là mười?
1. Tịnh Bi bất cộng tức là đại Bi tự tại.
2. Tịnh Bi chẳng chán, thay tất cả chúng sinh chịu khổ lớn.
3. Tịnh Bi ở tất cả đường ác, chịu sinh tử để độ chúng sinh.
4. Tịnh Bi ở trong tất cả trời người thọ sinh, thị hiện tất cả pháp đều vô thường.
5. Tịnh Bi vì chúng sinh tà định, ở trong vô lượng kiếp chẳng lìa bỏ đại thệ nguyện trang nghiêm.
6. Tịnh Bi chẳng chấp trước niềm vui của mình thì cùng vui với chúng sinh.
7. Tịnh Bi chẳng cầu báo thì tâm mình trong sạch.
8. Tịnh Bi diệt trừ tất cả lỗi lầm của chúng sinh thì nói pháp chân thật, biết tất cả các pháp tự tánh thanh tịnh, các sự nhiễm ô của khách trần đều không, không sở hữu.
9. Bồ-tát ở đó mà khởi lên đại Bi, nói pháp chân thật, nói tất cả pháp như vết chân ở hư không.
10. Chúng sinh bị si che khuất chẳng biết chân thật, Bồ-tát ở đó mà khởi lên tịnh Bi, muốn khiến cho chúng sinh phát tâm Đại thừa, rốt ráo Niết-bàn.
Này Phật tử! Đó là mười thứ tịnh Bi của Đại Bồ-tát. Nếu Đại Bồ-tát an trụ ở Bi này thì được đại Bi thanh tịnh vô thượng của tất cả chư Phật.