Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 4 - Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.

 

Chương 28: Phẩm Nhập Pháp Giới Thứ Ba Mươi Chín - Phần 25 (trang 611-635)

mật môn tên là Đại lưu thoan khích chúng phong tề trĩ.
    Lúc xướng chữ GIẢ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Phổ an lập.
    Lúc xướng chữ THA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Chơn như bình đẳng tạng.
    Lúc xướng chữ XÃ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Nhập thế gian hải thanh tịnh.
    Lúc xướng chữ TỎA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Niệm nhứt thiết Phật trang nghiêm.
    Lúc xướng chữ ÐÀ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Quán sát giản trạch nhứt thiết pháp tụ.
    Lúc xướng chữ XA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tùy thuận nhứt thiết Phật giáo luân quang minh.
    Lúc xướng chữ KHƯ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tu nhơn địa trí huệ tạng.
    Lúc xướng chữ XOA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tức chư nghiệp hải tạng.
    Lúc xướng chữ TA ÐA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Quyên chư hoặc chướng khai tịnh quang minh.
    Lúc xướng chữ NHƯƠNG, thì nhập môn bát
nhã ba la mật tên là Tác thế gian trí huệ môn.
    Lúc xướng chữ HẠT LÃ ÐA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Sanh tử cảnh giới trí huệ luân.
    Lúc xướng chữ BÀ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Nhứt thiết trí cung điện viên mãn trang nghiêm.
    Lúc xướng chữ XA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tu hành phương tiện tạng các biệt viên mãn.
    Lúc xướng chữ TA MẠ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tùy thập phương hiện kiến chư Phật.
    Lúc xướng chữ HA BÀ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Quán sát nhứt thiết vô duyên chúng sanh phương tiện nhiếp thọ linh xuất sanh vô ngại lực.
    Lúc xướng chữ THA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tu hành xu nhập nhứt thiết công đức hải.
    Lúc xướng chữ GIẢ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Trì nhứt thiết pháp vân kiên cố hải tạng.
    Lúc xướng chữ TRA, thì nhập môn bát nhã ba
la mật tên là Tùy nguyện phổ kiến thập phương chư Phật.
    Lúc xướng chữ NÃ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Quán sát tự luân hữu vô tận chư ức tự.
    Lúc xướng chữ TA PHÃ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Hóa chúng sanh cứu cánh xứ.
    Lúc xướng chữ TA CA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Quảng đại tạng vô ngại biện quang minh luân biến chiếu.
    Lúc xướng chữ DÃ TA, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Tuyên thuyết nhứt thiết Phật pháp cảnh giới.
    Lúc xướng chữ THẤT, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Nhứt thiết chúng sanh giới pháp lôi biến hống.
    Lúc xướng chữ SÁ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Dĩ vô ngã pháp khai hiểu chúng sanh.
    Lúc xướng chữ ÐÀ, thì nhập môn bát nhã ba la mật tên là Nhứt thiết pháp luân sai biệt tạng.
    Nầy thiện nam tử! Lúc ta xướng những tự mẫu như vậy, thì trước tiên ta nhập bốn mươi hai môn bát nhã ba la mật đây, cùng với vô lượng vô
số môn bát nhã ba la mật.
     Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Bồ tát thiện tri chúng nghệ nầy.
     Như chư đại Bồ tát có thể đối với pháp thiện xảo thế gian và xuất thế gian dùng trí thông đạt đến bỉ ngạn. Những phương pháp lạ, những nghề nghiệp khéo đều thấu đáo không sót. Hiểu rành những văn tự toán số. Y phương chú thuật, trị lành bịnh tật.
    Lại biết rành những chỗ sản xuất vàng, bạc, châu, ngọc, san hô, lưu ly, ma ni, xa cừ, tất cả kho tàng bửu vật, những phẩm loại, những giá trị.
    Những xóm làng thành ấp, cung điện, vườn tược, núi, rừng, suối, ao… phàm những chỗ ở của tất cả nhơn chúng, Bồ tát đều có thể phương tiện nhiếp thọ.
    Bồ tát lại khéo quán sát thiên văn, địa lý, tướng người tốt xấu, tiếng của chim thú, mây ráng khí hậu, trúng mùa, thất thu, quốc độ an nguy, tất cả kỹ nghệ thế gian Bồ tát đều rành rẽ tận nguyên bổn tất cả.
    Bồ tát lại có thể phân biệt pháp xuất thế, chánh danh biện nghĩa quán sát thể tướng, tùy thuận tu hành, trí nhập trong đó, không nghi ngại,
không ngu tối, không ngoan độn, không ưu não, không trầm một, đều hiện chứng tất cả.
     Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.
     Nầy thiện nam tử! Nước Ma Kiệt Ðà có một tụ lạc, trong đó có thành Bà Ðát Na. Trong thành ấy có một ưu bà di tên là Hiền Thắng. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, tu Bồ tát đạo?
    Thiện Tài đảnh lễ Tri Nghệ đồng tử, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng, từ tạ mà đi.
    Thiện Tài đến thành Bà Ðát Na đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu cung kính, chắp tay thưa rằng:
    Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
    Ưu bà di Hiền Thắng nói:
    Nầy thiện nam tử! Ta được môn Bồ tát giải thoát tên là Vô y xứ đạo tràng. Nơi môn giải thoát nầy, ta đã thông đạt và đem dạy người. Ta lại được môn Vô tận tam muội, vì có thể xuất sanh Nhứt thiết trí tánh nhãn vô tận, nhĩ vô tận, tỷ vô
tận, thiệt vô tận, thân vô tận, ý vô tận, công đức vô tận, trí huệ vô tận, thần thông vô tận.
    Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn Bồ tát giải thoát Vô y xứ đạo tràng nầy. Như chư đại Bồ tát, tất cả công đức hạnh không chấp trước, ta thế nào biết được, nói được.
    Nầy thiện nam tử! Phương nam có thành Ốc Ðiền. Trong thành ấy có trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát. Ngươi nên đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?
   Thiện Tài đảnh lễ Hiền Thắng, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ mà đi qua hướng nam đến chỗ trưởng giả đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng:
    Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
    Trưởng giả nói:
    Nầy thiện nam tử! Ta được môn Bồ tát giải thoát tên là Vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Từ khi ta được môn giải thoát nầy đến nay, ta siêng cầu chánh pháp nơi thập phương chư Phật không thôi dứt.
    Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát vô trước niệm thanh tịnh trang nghiêm. Như chư đại Bồ tát được vô úy sư tử hống, an trụ nơi phước trí quảng đại, mà ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy.
    Nầy thiện nam tử! Chính trong thành nầy có một trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, nhà ông thường có quang minh. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?
    Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Kiên Cố Giải Thoát, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi đến nhà trưởng giả Diệu Nguyệt đảnh lễ hữu nhiễu, cung kính chắp tay thưa rằng:
     Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
    Trưởng giả Diệu Nguyệt nói:
    Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát tên là Tịnh trí quang minh.
    Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát nầy. Như chư đại Bồ tát chứng được vô lượng môn giải thoát. Ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh ấy.
   Nầy thiện nam tử! Phương nam có thành Xuất Sanh. Nơi đó có trưởng giả tên là Vô Thắng Quân. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?
    Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Diệu Nguyệt, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi qua phương nam, đến đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, cung kính thưa rằng:
    Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
    Trưởng giả Vô Thắng Quân nói:
    Nầy thiện nam tử! Ta được Bồ tát giải thoát tên là Vô tận tướng. Ta do chứng môn Bồ tát giải thoát nầy nên thấy vô lượng chư Phật, được vô tận tạng.
    Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Vô tận tướng nầy. Như chư đại Bồ tát được vô hạn trí, vô ngại biện tài, ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh ấy.
   Nầy thiện nam tử! Thành nam nầy có tụ lạc Chi Vi Pháp. Trong đó có một Bà la môn tên là Tối Tịch Tịnh. Ngươi đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo?
    Thiện Tài đảnh lễ trưởng giả Vô Thắng Quân, hữu nhiễu vô số vòng, luyến mộ chiêm ngưỡng từ tạ đi đến đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu cung kính chắp tay thưa rằng:
    Bạch đức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề, mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo. Tôi nghe đức Thánh khéo dạy bảo, xin chỉ dạy cho.
    Bà la môn nói:
    Nầy thiện nam tử! Ta được môn Bồ tát giải thoát tên là Thành nguyện ngữ. Chư Bồ tát quá khứ, hiện tại và vị lai do dùng lời nói chơn thành nầy nên được không thối chuyển đạo Vô thượng Bồ đề, không đã thối, không hiện thối, không sẽ thối. Do ta trụ nơi lời nói thành nguyện, nên làm điều chi cũng được toại ý.
    Nầy thiện nam tử! Ta chỉ biết môn giải thoát Thành nguyện ngữ nầy. Như chư đại Bồ tát đi đứng đều chẳng trái với thành nguyện ngữ, lời nói ra quyết là chơn thành chưa bao giờ hư vọng, do đây xuất sanh vô lượng công đức. Ta làm sao biết được, nói được công đức hạnh đó.
    Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có thành tên là Diệu Ý Hoa Môn. Nơi đó có đồng tử tên là Ðức Sanh, lại có đồng nữ tên là Hữu Ðức. Ngươi
đến đó hỏi Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo.
     Thiện Tài đảnh lễ Tối Tịch Tịnh, hữu nhiễu vô số vòng, từ tạ đi qua phương nam.
  * Thiện Tài đi lần đến thành Diệu Ý Hoa Môn, đảnh lễ đồng tử Ðức Sanh và đồng nữ Hữu Ðức, hữu nhiễu cung kính chắp tay bạch rằng:
     Ðức Thánh! Tôi đã phát tâm Vô thượng Bồ đề mà chưa biết Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo? Xin đức Thánh từ mẫn chỉ dạy.
     Ðức Sanh và Hữu Ðức nói:
     Nầy thiện nam tử! Chúng ta chứng được Bồ tát giải thoát tên là Huyễn Trụ. Vì được môn giải thoát nầy nên thấy:
     Tất cả thế giới đều là huyễn trụ, do nhơn duyên mà sanh khởi.
     Tất cả chúng sanh đều là huyễn trụ, do nghiệp phiền não mà sanh khởi.
     Tất cả thế gian đều là huyễn trụ, do vô minh, hữu, ái xoay vần làm duyên sanh khởi.
     Tất cả pháp đều là huyễn trụ, do những huyễn duyên, ngã kiến, v.v… sanh khởi.
_________________
* Hán bộ quyển thứ 77.
    Tất cả tam thế đều là huyễn trụ, do những trí điên đảo như ngã kiến, v.v... sanh khởi.
    Tất cả chúng sanh sanh diệt, sanh lão bịnh tử ưu bi khổ não đều là huyễn trụ, do hư vọng phân biệt sanh khởi.
    Tất cả quốc độ đều huyễn trụ, do tưởng đảo, tâm đảo, kiến đảo và vô minh hiện khởi.
    Tất cả Thanh văn và Bích chi Phật đều là huyễn trụ, do trí đoạn phân biệt mà thành.
    Tất cả Bồ tát đều là huyễn trụ, do những hạnh nguyện hay tự điều phục và giáo hóa chúng sanh mà thành.
    Tất cả Bồ tát chúng hội biến hóa điều phục những công hạnh đều là huyễn trụ, do nguyện trí huyễn mà thành.
    Nầy thiện nam tử! Huyễn cảnh tự tánh bất tư nghì. Chúng ta chỉ biết môn giải thoát huyễn trụ nầy. Như chư đại Bồ tát khéo nhập vô biên sự huyễn. Chúng ta thế nào biết được, nói được công đức hạnh đó.
    Ðồng tử và đồng nữ nói môn giải thoát của mình đã chứng xong, dùng sức thiện căn bất tư nghì làm cho thân Thiện Tài được nhu nhuyến bóng sáng, mà nói rằng:
     Nầy thiện nam tử! Phương nam đây có nước Hải Ngạn. Trong nước ấy có khu vườn Ðại Trang Nghiêm. Trong vườn có một tòa lâu các rộng lớn tên là Tỳ Lô Giá Na Trang Nghiêm Tạng. Lâu các nầy là do thiện căn quả báo của Bồ tát sanh ra; do niệm lực, nguyện lực, tự tại lực, thần thông lực của Bồ tát sanh ra; do phương tiện thiện xảo, do phước đức trí huệ của Bồ tát sanh ra.
     Nầy thiện nam tử! Bồ tát trụ bất tư nghì giải thoát dùng tâm đại bi vì các chúng sanh mà hiện cảnh giới như vậy, chứa họp những trang nghiêm như vậy. Di Lặc đại Bồ tát ở trong lâu các ấy để nhiếp thọ phụ mẫu quyến thuộc và nhơn dân, làm cho họ được thành thục. Lại muốn cho những chúng sanh đồng thọ sanh, đồng tu hành ở trong Đại thừa được kiên cố. Lại muốn cho tất cả chúng sanh ấy, tùy bực, tùy thiện căn đều được thành tựu. Lại cũng muốn vì ngươi mà hiển thị môn Bồ tát giải thoát, hiển thị Bồ tát khắp tất cả chỗ thọ sanh tự tại, hiển thị Bồ tát dùng nhiều thân hiện khắp nơi thường giáo hóa chúng sanh, hiển thị Bồ tát dùng sức đại bi nhiếp tất cả tài sản thế gian mà chẳng nhàm, hiển thị tu đủ tất cả công hạnh biết rõ tất cả hạnh lìa các tướng, hiển thị Bồ tát thọ sanh khắp nơi vì biết rõ tất cả sanh đều vô tướng. Ngươi đến đó hỏi: Bồ tát thế nào thực hành Bồ tát
hạnh, thế nào tu Bồ tát đạo, thế nào học Bồ tát giới, thế nào tịnh Bồ tát tâm, thế nào phát Bồ tát nguyện, thế nào chứa nhóm Bồ tát trợ đạo, thế nào nhập bực Bồ tát, thế nào thành mãn Bồ tát ba la mật, thế nào được Bồ tát Vô sanh nhẫn, thế nào đủ Bồ tát công đức, thế nào thờ Bồ tát thiện tri thức?
   Nầy thiện nam tử! Di Lặc Bồ tát thông đạt tất cả Bồ  tát hạnh, biết rõ tâm chúng sanh, thường hiện thân trước họ để giáo hóa điều phục.
   Di Lặc Bồ tát đã viên mãn tất cả ba la mật, đã ở tất cả bực Bồ tát, đã chứng tất cả Bồ tát nhẫn, đã nhập tất cả Bồ tát vị, đã được Phật thọ ký, đã dạo đi tất cả cảnh giới Bồ tát, đã được thần lực của tất cả Phật, đã được đức Như Lai đem pháp thủy cam lộ Nhứt thiết trí quán đảnh.
   Nầy thiện nam tử! Di Lặc Bồ tát có thể nhuận trạch thiện căn của ngươi, có thể tăng trưởng tâm Bồ đề của ngươi, có thể kiên cố chí của ngươi, có thể thêm pháp lành cho ngươi, có thể lớn căn Bồ tát cho ngươi, có thể chỉ bày pháp vô ngại cho ngươi, có thể làm cho ngươi vào bực Phổ Hiền, có thể nói nguyện Bồ tát cho ngươi, có thể nói hạnh Phổ Hiền cho ngươi, có thể vì ngươi mà nói tất cả Bồ tát hạnh nguyện làm thành công đức.
    Nầy thiện nam tử! Ngươi chẳng nên tu một
điều lành, chiếu một pháp, hành một hạnh, phát một nguyện, được một thọ ký, trụ một nhẫn mà cho là rốt ráo. Ngươi chớ nên đem tâm có hạn lượng mà thực hành lục độ, trụ nơi thập địa, tịnh Phật độ, thờ thiện tri thức. Tại sao vậy?
      Nầy thiện nam tử! Vì Bồ tát phải gieo vô lượng thiện căn, phải chứa vô lượng Bồ đề cụ, phải tu vô lượng Bồ đề nhơn, phải học vô lượng xảo hồi hướng, phải giáo hóa vô lượng chúng sanh giới, phải biết vô lượng chúng sanh tâm, phải biết vô lượng chúng sanh căn, phải rõ vô lượng chúng sanh giải, phải quán vô lượng chúng sanh hạnh, phải điều phục vô lượng chúng sanh, phải đoạn vô lượng phiền não, phải tịnh vô lượng nghiệp tập, phải diệt vô lượng tà kiến, phải trừ vô lượng tâm  tạp nhiễm, phải phát vô lượng tâm thanh tịnh, phải nhổ vô lượng tên độc khổ, phải cạn vô lượng biển ái dục, phải phá vô lượng tối vô minh, phải xô vô lượng núi ngã mạn, phải chặt đứt vô lượng dây sanh tử, phải qua khỏi vô lượng dòng hữu lậu, phải khô vô lượng biển thọ sanh, phải làm cho vô lượng chúng sanh ra khỏi bùn lầy ngũ dục, phải khiến vô lượng chúng sanh lìa ngục tù tam giới, phải đặt vô lượng chúng sanh ở trong Thánh đạo, phải tiêu diệt vô lượng hạnh tham dục, phải trừ sạch vô lượng hạnh sân hận, phải
phá trừ vô lượng hạnh ngu si, phải siêu vô lượng lưới ma, phải lìa vô lượng nghiệp ma, phải rửa sạch Bồ tát vô lượng dục lạc, phải tăng trưởng Bồ tát vô lượng phương tiện, phải xuất sanh Bồ tát vô lượng căn tăng thượng, phải sáng sạch Bồ tát vô lượng quyết định giải, phải xu nhập Bồ tát vô lượng bình đẳng, phải thanh tịnh Bồ tát vô lượng công đức, phải tu tập Bồ tát vô lượng công hạnh, phải thị hiện Bồ tát vô lượng hạnh tùy thuận thế gian, phải sanh vô lượng sức tịnh tín, phải trụ vô lượng sức tinh tấn, phải thanh tịnh vô lượng sức chánh niệm, phải thành mãn vô lượng sức tam muội, phải khởi vô lượng sức tịnh huệ, phải kiên cố vô lượng sức thắng giải, phải tích tập vô lượng sức phước đức, phải lớn vô lượng sức trí huệ, phải phát khởi vô lượng sức Bồ tát, phải viên mãn vô lượng sức Như Lai, phải phân biệt vô lượng pháp môn, phải rõ biết vô lượng pháp môn, phải thanh tịnh vô lượng pháp môn, phải sanh vô lượng pháp quang minh, phải làm vô lượng pháp chiếu diệu, phải chiếu vô lượng phẩm loại căn, phải biết vô lượng phiền não bịnh, phải chứa vô lượng diệu pháp dược, phải chữa vô lượng bịnh của chúng sanh, phải sắm sửa vô lượng đồ cúng cam lộ, phải đến vô lượng Phật độ, phải cúng dường vô lượng Như Lai, phải vào vô lượng Bồ
 tát hội, phải thọ vô lượng Phật giáo, phải nhẫn vô lượng tội chúng sanh, phải diệt vô lượng nạn ác đạo, phải khiến vô lượng chúng sanh sanh về thiện đạo, phải dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp vô lượng chúng sanh, phải tu vô lượng môn tổng trì, phải sanh vô lượng môn đại nguyện, phải tu vô lượng sức đại từ đại nguyện, phải siêng cầu vô lượng Phật pháp thường không thôi dứt, phải khởi vô lượng sức tư duy, phải khởi vô lượng sự thần thông, phải tịnh vô lượng trí quang minh, phải qua đến vô lượng loài chúng sanh, phải thọ vô lượng đời trong các cõi, phải hiện vô lượng thân sai biệt, phải biết vô lượng pháp ngôn từ, phải nhập vô lượng tâm sai biệt, phải biết Bồ tát đại cảnh giới, phải trụ Bồ tát đại cung điện, phải quán Bồ tát thậm thâm diệu pháp, phải biết cảnh giới khó biết của Bồ tát, phải thực hành những hạnh khó làm của Bồ tát, phải đầy đủ oai đức tôn trọng của Bồ tát, phải đi theo chánh vị khó nhập của Bồ tát, phải biết những hạnh của Bồ tát, phải hiện thần lực phổ biến của Bồ tát, phải thọ pháp vân bình đẳng của Bồ tát, phải làm rộng vô biên hạnh của Bồ tát, phải viên mãn vô biên ba la mật của Bồ tát, phải thọ vô lượng ký biệt của Bồ tát, phải nhập vô lượng nhẫn môn của Bồ tát, phải tu vô lượng địa vị của Bồ tát, phải thanh tịnh vô lượng
 pháp môn của Bồ tát. Phải đồng với chư Bồ tát: trụ vô biên kiếp cúng dường vô lượng Phật, nghiêm tịnh bất khả thuyết Phật độ, xuất sanh bất khả thuyết Bồ tát nguyện.
     Nầy thiện nam tử! Tóm lại, phải khắp tu Bồ tát hạnh, phải khắp giáo hóa chúng sanh giới, phải khắp vào tất cả kiếp, phải khắp sanh tất cả xứ, phải khắp biết tất cả thế, phải khắp thực hành tất cả pháp, phải khắp tịnh tất cả cõi, phải khắp mãn tất cả nguyện, phải khắp cúng tất cả Phật, phải khắp đồng tất cả Bồ tát nguyện, phải khắp thờ tất cả thiện tri thức.
    Nầy thiện nam tử! Ngươi cầu thiện tri thức, chẳng nên nhàm mỏi. Ngươi thỉnh hỏi thiện tri thức chớ sợ khổ nhọc. Ngươi gần gũi thiện tri thức chớ có thối chuyển. Ngươi cúng dường thiện tri thức chớ có thôi nghỉ. Ngươi lãnh thọ lời dạy của thiện tri thức chớ có lầm lộn. Ngươi học hạnh của thiện tri thức chớ có nghi hoặc. Ngươi nghe thiện tri thức diễn nói môn xuất ly chẳng nên do dự. Thấy thiện tri thức tùy phiền não hành chớ có hiềm lạ. Ở chỗ thiện tri thức phải sanh lòng thâm tín tôn kính chẳng nên biến đổi. Tại sao vậy?
    Nầy thiện nam tử! Vì Bồ tát do nơi thiện tri thức mà được nghe tất cả Bồ tát hạnh, thành tựu
tất cả Bồ tát công đức, xuất sanh tất cả Bồ tát đại nguyện, dẫn phát tất cả Bồ tát thiện căn, tích tập tất cả Bồ tát trợ đạo, khai phát tất cả Bồ tát pháp quang minh, hiển thị tất cả Bồ tát xuất ly môn, tu học tất cả Bồ tát thanh tịnh giới, an trụ tất cả Bồ tát công đức pháp, thanh tịnh tất cả Bồ tát quảng đại chí, tăng trưởng tất cả Bồ tát kiên cố tâm, đầy đủ tất cả Bồ tát đà la ni biện tài môn, được tất cả Bồ tát thanh tịnh tạng, sanh tất cả Bồ tát định quang minh, được tất cả Bồ tát thù thắng nguyện, cùng tất cả Bồ tát đồng một nguyện, nghe tất cả Bồ tát thù thắng pháp, được tất cả Bồ tát bí mật xứ, đến tất cả Bồ tát pháp bửu sở, thêm tất cả Bồ tát mầm thiện căn, lớn tất cả Bồ tát thân trí huệ, hộ tất cả Bồ tát tạng thâm mật, trì tất cả Bồ tát phước đức tụ, tịnh tất cả Bồ tát thọ sanh đạo, thọ tất cả Bồ tát chánh pháp vân, nhập tất cả Bồ tát đại nguyện lộ, đến tất cả Như Lai Bồ đề quả, nhiếp thủ tất cả Bồ tát diệu hạnh, khai thị tất cả Bồ tát công đức, qua tất cả phương
thính thọ diệu pháp, khen tất cả Bồ tát oai đức quảng đại, sanh tất cả Bồ tát đại từ bi lực, nhiếp tất cả Bồ tát thắng tự tại lực, sanh tất cả Bồ tát Bồ đề phần, làm tất cả Bồ tát lợi ích sự.
      Nầy thiện nam tử! Bồ tát do thiện tri thức nhiệm trì nên chẳng đọa ác đạo, do thiện tri thức
 nhiếp thọ mà chẳng thối Đại thừa, do thiện tri thức hộ niệm mà chẳng phạm Bồ tát giới, do thiện tri thức thủ hộ mà chẳng theo ác tri thức, do thiện tri thức dưỡng dục mà chẳng khuyết Bồ tát pháp, do thiện tri thức nhiếp thủ mà siêu việt hạng phàm phu, do thiện tri thức giáo hối mà siêu việt bực Nhị thừa, do thiện tri thức dìu dắt mà được ra khỏi thế gian, do thiện tri thức trưởng dưỡng mà có thể chẳng nhiễm thế pháp, do kính thờ thiện tri thức mà tu tất cả Bồ tát hạnh, do cúng dường thiện tri thức mà đủ tất cả pháp trợ đạo, do thân cận thiện tri thức mà chẳng bị nghiệp hoặc nhiếp phục, do nương dựa thiện tri thức mà thế lực kiên cố chẳng sợ ma chúng, do y chỉ thiện tri thức mà tăng trưởng tất cả pháp Bồ đề phần. Tại sao vậy?
     Nầy thiện nam tử! Vì thiện tri thức có thể trừ sạch các điều chướng ngại, có thể diệt các tội, có thể dứt các nạn, có thể ngăn các ác, có thể phá đêm dài tối tăm vô minh, có thể làm sập đổ lao ngục kiên cố kiến chấp, có thể thoát khỏi thành sanh tử, có thể bỏ nhà thế tục, có thể cắt lưới ma, có thể nhổ tên khổ, có thể lìa chỗ hiểm nạn vô trí, có thể ra khỏi đồng hoang rộng lớn tà kiến, có thể qua khỏi dòng hữu lậu, có thể lìa những tà đạo, có thể chỉ đường Bồ đề, có thể dạy pháp Bồ
tát, có thể khiến an trụ Bồ tát hạnh, có thể khiến xu
hướng Nhứt thiết trí, có thể tịnh mắt trí huệ, có thể lớn tâm Bồ đề, có thể sanh đại bi, có thể diễn diệu hạnh, có thể nói ba la mật, có thể tẩn ác tri thức, có thể khiến trụ các bực, có thể khiến được các nhẫn, có thể khiến tu tập các thiện căn, có thể khiến thành xong tất cả đạo cụ, có thể thí cho tất cả công đức lớn, có thể khiến đến ngôi Nhứt thiết chủng trí, có thể khiến hoan hỷ nhóm công đức, có thể khiến hớn hở tu các công hạnh, có thể khiến xu nhập nghĩa thậm thâm, có thể khiến khai thị môn xuất ly, có thể khiến trừ tuyệt các ác đạo, có thể dùng pháp quang chiếu diệu, có thể dùng pháp vũ nhuận trạch, có thể khiến tiêu diệt tất cả phiền não, có thể khiến bỏ lìa tất cả kiến chấp, có thể khiến tăng trưởng tất cả Phật trí huệ, có thể khiến an trụ tất cả Phật pháp môn.
    Nầy thiện nam tử! Thiện tri thức như từ mẫu, vì xuất sanh Phật chủng. Như từ phụ, vì lợi ích rộng lớn. Như nhũ mẫu, vì thủ hộ chẳng cho làm ác. Như giáo sư, vì dạy sở học của Bồ tát. Như đạo sư, vì hay chỉ đường ba la mật. Như lương y, vì hay chữa bịnh phiền não. Như Tuyết Sơn, vì tăng trưởng thuốc Nhứt thiết trí. Như dũng tướng, vì dẹp trừ tất cả sự bố úy. Như người đưa đò, vì làm cho ra khỏi dòng sanh tử. Như lái thuyền, vì khiến đến bửu sở trí huệ.
   Nầy thiện nam tử! Thường phải chánh niệm suy nghĩ thiện tri thức là như vậy.
   Lại nầy thiện nam tử! Ngươi kính thờ tất cả thiện tri thức phải phát tâm như đại địa, vì gánh vác trọng nhiệm không mỏi nhọc. Phải phát tâm như kim cang, vì chí nguyện kiên cố chẳng hư hoại. Phải phát tâm như núi Thiết Vi, vì tất cả các sự khổ không lay động. Phải phát tâm như người hầu hạ, vì đều tùy thuận theo lời dạy. Phải phát tâm như đệ tử, vì không chống trái lời dạy bảo. Phải phát tâm như tôi tớ, vì tất cả lao vụ không nhàm. Phải phát tâm như dưỡng mẫu, vì chịu những sự cần khổ không biết nhọc. Phải phát tâm như người làm thuê, vì không trái chỗ sai bảo. Phải phát tâm như người hốt phân, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như cây lúa đã chín, vì có thể hạ thấp. Phải phát tâm như lương mã, vì lìa ác tánh. Phải phát tâm như xe lớn, vì có thể chở nặng. Phải phát tâm như voi điều thuận, vì hằng phục tùng. Phải phát tâm như núi Tu Di, vì chẳng khuynh động. Phải phát tâm như lương khuyển, vì chẳng phản hại chủ. Phải phát tâm như Chiên đà la, vì lìa kiêu mạn. Phải phát tâm như kiện ngưu, vì không hung giận. Phải phát tâm như ghe thuyền, vì qua lại chẳng mỏi. Phải phát tâm như cầu đò, vì tế độ không biết nhọc. Phải phát tâm
như hiếu tử, vì thừa thuận nhan sắc. Phải phát tâm như vương  tử, vì tuân hành giáo mạng.
     Lại nầy thiện nam tử! Với tự thân, ngươi phải tưởng là bịnh khổ. Với thiện tri thức, ngươi phải tưởng là y vương. Với pháp của thiện tri thức dạy, ngươi phải tưởng là lương dược. Với chỗ tu hành, tưởng trừ được bịnh.
    Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đi xa. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là con đường chánh. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến được xa.
    Lại phải ở nơi tự thân, tưởng cầu được độ. Nơi thiện tri thức, tưởng là người lái thuyền. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là thuyền là chèo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đến bờ kia.
    Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là lúa mạ. Nơi thiện tri thức tưởng là Long vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là mưa đúng thời tiết. Nơi chỗ tu hành, tưởng là có thể thành thục.
     Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là nghèo cùng. Nơi thiện tri thức, tưởng là Tỳ sa môn Thiên vương. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là của cải châu báu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là giàu có.
      Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là đệ tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là thợ khéo. Nơi pháp của
thiện tri thức dạy, tưởng là nghề khéo. Nơi chỗ tu hành, tưởng là biết rõ.
    Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là chỗ đáng sợ hãi. Nơi thiện tri thức, tưởng là người dũng kiện. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là dao gậy. Nơi chỗ tu hành, tưởng là dẹp trừ được kẻ oán địch.
    Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là người đi buôn. Nơi thiện tri thức, tưởng là đạo sư. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là trân bửu. Nơi chỗ tu hành, tưởng là lượm châu báu.
   Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là con cái. Nơi thiện tri thức, tưởng là cha mẹ. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là gia nghiệp. Nơi chỗ tu hành, tưởng là nối nghiệp nhà.
   Lại phải ở nơi tự thân, tưởng là vương tử. Nơi thiện tri thức, tưởng là đại thần. Nơi pháp của thiện tri thức dạy, tưởng là lịnh của vua. Nơi chỗ tu hành, tưởng là đội mão vua, mặc áo vua, cột đai vua, ngồi điện vua.
   Nầy thiện nam tử! Ngươi phải phát tâm như vậy, suy nghĩ như vậy để gần thiện tri thức. Tại sao vậy? Vì có tâm như vậy để gần thiện tri thức, thì chí nguyện trọn được thanh tịnh.
    Lại nầy thiện nam tử! Thiện tri thức làm lớn
các thiện căn, như núi tuyết sanh lớn các dược thảo. Thiện tri thức là pháp khí của Phật, như đại hải nhận thọ các dòng nước. Thiện tri thức là chỗ công đức, như đại hải xuất sanh các châu báu. Thiện tri thức thanh tịnh tâm Bồ đề, như lửa hừng luyện chơn kim. Thiện tri thức vượt hơn thế pháp như núi Tu Di vọt lên mặt đại hải. Thiện tri thức chẳng nhiễm thế pháp, như hoa sen chẳng dính nước. Thiện tri thức chẳng  thọ các điều ác, như đại hải chẳng chứa tử thi. Thiện tri thức
tăng trưởng pháp lành, như trăng tròn quang sắc viên mãn. Thiện tri thức soi sáng pháp giới, như mặt nhựt chiếu khắp thế gian. Thiện tri thức làm lớn thân Bồ tát, như cha mẹ nuôi nấng con cái.
     Nầy thiện nam tử! Tóm lại, Bồ tát nếu có thể tùy thuận lời dạy của thiện tri thức, thì được mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha công đức, thì thanh tịnh mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha thâm tâm, thì lớn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Bồ tát căn, thì thành mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha Bồ tát lực, thì dứt mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ chướng, thì siêu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ ma cảnh, thì nhập mười
bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ pháp môn, thì mãn mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ trợ
đạo, thì tu mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ diệu hạnh, thì phát mười bất khả thuyết trăm ngàn ức a tăng kỳ đại nguyện.
    Nầy thiện nam tử! Ta lại lược nói Bồ tát hạnh, tất cả Bồ tát ba la mật, tất cả Bồ tát địa, tất cả Bồ tát nhẫn, tất cả Bồ tát tổng trì môn, tất cả Bồ tát tam muội môn, tất cả Bồ tát thần thông trí, tất cả Bồ tát hồi hướng, tất cả Bồ tát nguyện, tất cả Bồ tát thành tựu Phật pháp, đều do sức của thiện tri thức. Ðều dùng thiện tri thức làm căn bổn. Ðều nương thiện tri thức mà sanh. Ðều nương thiện tri thức mà ra. Ðều nương thiện tri thức mà lớn. Ðều nương thiện tri thức mà trụ. Ðều do thiện tri thức làm nhơn duyên. Ðều do thiện tri thức hay phát khởi.
    Bấy giờ, Thiện Tài đồng tử nghe thiện tri thức có công đức như vậy, có thể khai thị vô lượng diệu hạnh Bồ tát, có thể thành tựu Phật pháp quảng đại, nên vui mừng hớn hở đảnh lễ Ðức Sanh và Hữu Ðức, hữu nhiễu vô số vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ đi qua phương nam.
    Thiện Tài được nghe lời thiện tri thức dạy nhuận trạch tâm mình, chánh niệm tư duy công hạnh của Bồ tát. Tự nhớ đời trước chẳng tu hạnh lễ kính, tức thời phát tâm cố gắng tiến bước. Lại nhớ đời trước thân tâm chẳng thanh tịnh, tức thời phát tâm chuyên tự sửa sạch. Lại nhớ đời trước
/35
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây