Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL

Trí Tịnh Toàn Tập - Tập 4 - Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm

Tác giả: Hòa Thượng Thích Trí Tịnh. Năm xuất bản: 2011. Số trang: 757.

 

Chương 32: Phẩm Nhập Pháp Giới Thứ Ba Mươi Chín - Phần 29 (trang 711-735)

thấy Di Lặc Bồ tát tu những diệu hạnh, thành mãn tất cả môn ba la mật. Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát đắc nhẫn, trụ địa, thành tựu quốc độ thanh tịnh, hộ trì Phật pháp, làm đại pháp sư, được Vô sanh nhẫn. Hoặc thấy thời gian ấy, tại xứ ấy, đức Phật ấy thọ ký thành Phật cho Di Lặc Bồ tát. Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát làm Chuyển Luân Vương khuyên các chúng sanh an  trụ nơi thập thiện đạo. Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát làm Hộ Thế lợi ích chúng sanh, hoặc làm Ðế Thích quở trách ngũ dục, hoặc làm Dạ Ma Thiên vương tán dương hạnh bất phóng dật, hoặc làm Ðâu Suất Thiên vương khen ngợi công đức của Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ, hoặc làm Hóa Lạc Thiên vương vì chư Thiên chúng mà hiện những sự biến hóa trang nghiêm của chư Bồ tát, hoặc làm Tha Hóa Tự Tại Thiên vương vì chư Thiên chúng mà diễn thuyết tất cả Phật pháp, hoặc làm Ma vương tuyên nói tất cả pháp thảy đều vô thường, hoặc làm Phạm vương tuyên nói chư thiền định có vô lượng hỷ lạc, hoặc làm A tu la vương vào biển đại trí rõ pháp như huyễn, vì chúng A tu la mà thường thuyết pháp dứt trừ tất cả kiêu mạn ngạo nghễ. Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát ở xứ Diêm La cứu khổ địa ngục, hoặc thấy ở xứ ngạ quỷ bố thí đồ uống ăn cứu sự đói khát, hoặc thấy ở đạo súc sanh dùng những phương tiện điều
phục chúng sanh.
    Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát vì chúng hội Hộ Thế Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Ðao Lợi Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Dạ Ma Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Ðâu Suất Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Hóa Lạc Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Tha Hóa Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Ðại Phạm Thiên vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Long
vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Dạ xoa vương, La sát vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Càn thát bà vương và Khẩn na la vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội A tu la vương và Ðà na bà vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Ca lâu la vương và Ma hầu la già vương mà thuyết pháp, hoặc thấy vì những chúng hội nhơn, phi nhơn khác mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Thanh văn Duyên giác mà thuyết pháp, hoặc thấy vì chúng hội Bồ tát sơ phát tâm, nhẫn đến Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ trụ quán đảnh vị mà thuyết pháp.
    Hoặc lại thấy Di Lặc Bồ tát khen nói những công đức của Sơ địa nhẫn đến Thập địa. Hoặc thấy khen nói đầy đủ tất cả ba la mật. Hoặc thấy
khen nói pháp môn nhập các nhẫn. Hoặc thấy khen nói những môn đại tam muội. Hoặc thấy khen nói những môn giải thoát thậm thâm. Hoặc thấy khen nói cảnh giới của những tam muội thần thông. Hoặc thấy khen nói những Bồ tát hạnh. Hoặc thấy khen nói những thệ nguyện lớn. Hoặc thấy cùng với chư Bồ tát đồng hành khen nói những phương tiện lợi ích chúng sanh. Hoặc thấy cùng với chư Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ khen nói tất cả môn Phật quán đảnh.
   Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát trong trăm ngàn năm kinh hành, đọc tụng, thơ tả kinh quyển, siêng cầu quán sát vì đại chúng mà thuyết pháp. Hoặc nhập Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm. Hoặc nhập biến xứ và những giải thoát. Hoặc nhập tam muội dùng sức phương tiện hiện những thần biến.
   Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát nhập biến hóa tam muội, nơi mỗi lỗ lông trên thân hiện ra tất cả biến hóa thân vân. Hoặc hiện ra Thiên chúng thân vân. Hoặc hiện ra Long chúng thân vân. Hoặc hiện ra bát bộ chúng thân vân. Hoặc hiện ra Thích, Phạm, Hộ Thế, Chuyển Luân Thánh vương, tiểu vương, vương tử, đại thần, quan thuộc, trưởng giả, cư sĩ thân vân. Hoặc  hiện ra Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Như Lai thân vân. Hoặc hiện ra tất cả chúng sanh thân vân. Hoặc phát ra tiếng vi diệu
khen những pháp môn của chư Bồ tát. Hoặc khen nói môn công đức của đàn ba la mật nhẫn đến công đức của trí ba la mật. Khen nói các nhiếp pháp, các thiền, các vô lượng tâm, các tam muội chánh quán, các thông, các minh, tổng trì, biện tài, các đế, các trí, chỉ, quán, giải thoát, các duyên, các y, các thuyết, các pháp môn. Khen nói niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, lực, bảy phần Bồ đề, tám Thánh đạo, những Thanh văn thừa, những Duyên giác thừa, những Bồ tát thừa, những địa, những nhẫn, những hạnh, những nguyện, tất cả những công đức môn như vậy.
    Hoặc ở trong những lỗ lông ấy lại thấy chư Như Lai có đại chúng vây quanh. Cũng thấy chư Phật nầy: chỗ sanh, chủng tánh, thân hình, thọ mạng, quốc độ, kiếp số, danh hiệu, thuyết pháp lợi ích, chánh pháp ở đời mau hay lâu, nhẫn đến đạo tràng chúng hội đều thấy rõ cả.
    Lại ở nơi những lâu các trong phạm vi Trang Nghiêm Tạng nầy, mỗi lâu các đều cao rộng trang nghiêm tối thượng, trong đó đều thấy Đại thiên thế giới, trăm ức tứ thiên hạ, trăm ức Ðâu Suất Thiên. Mỗi mỗi đều có Di Lặc Bồ tát giáng thần đản sanh. Thích, Phạm và Thiên vương ẵm bồng cung kính. Bồ tát sơ sanh kinh hành bảy bước, nhìn xem mười phương, tuyên bố độc tôn, làm
đồng tử, ở cung điện, dạo chơi viên uyển, vì cầu Nhứt thiết trí mà xuất gia khổ hạnh, thị hiện thọ cháo sữa, đến ngồi đạo tràng hàng phục ma quân, thành Ðẳng Chánh Giác quán sát Bồ đề thọ. Phạm vương thỉnh chuyển pháp luân. Lên cung trời mà thuyết pháp. Kiếp số thọ lượng, chúng hội trang nghiêm, nghiêm tịnh quốc độ, thực hành hạnh nguyện, phương tiện giáo hóa thành thục chúng sanh, phân chia xá lợi, trụ trì giáo pháp, những sự việc chẳng đồng như vậy thảy đều thấy rõ.
     Thiện Tài lại thấy thân mình ở tại chỗ chư Phật Như Lai ấy, cũng dự trong chúng hội ấy, đều nhớ rõ tất cả Phật sự và thông đạt vô ngại.
     Lại nghe tất cả lưới, linh, nhạc khí trong tất cả lâu các ấy đều diễn xướng bất tư nghì pháp âm vi diệu: Hoặc nói Bồ tát phát Bồ đề tâm, hoặc nói tu hành các môn ba la mật, hoặc nói các nguyện, các địa, hoặc nói cung kính cúng dường Như Lai, hoặc nói trang nghiêm Phật độ, hoặc nói chư Phật thuyết pháp sai biệt.
     Lại nghe xứ đó có Bồ tát nghe pháp môn như vậy. Thiện tri thức ấy khuyên phát tâm Bồ đề ở cõi ấy, kiếp ấy, chỗ đức Phật ấy, trong đại chúng ấy, phát tâm, khởi nguyện, gieo thiện căn quảng đại như vậy, trải qua bao nhiêu kiếp tu Bồ tát hạnh, bao nhiêu thời gian sẽ thành Chánh giác
danh hiệu như vậy, thọ lượng như vậy, quốc độ trang nghiêm như vậy, mãn nguyện như vậy, giáo hóa chúng sanh như vậy, chúng Thanh văn Bồ tát như vậy. Sau khi nhập Niết bàn, chánh pháp ở đời bao nhiêu năm lợi ích vô lượng chúng sanh.
    Hoặc lại nghe xứ ấy có Bồ tát tu lục ba la mật. Hoặc nghe xứ ấy có Bồ tát vì cầu pháp mà rời bỏ ngôi vua, cung điện, vợ con quyến thuộc, tài sản, nhẫn đến xả thí tay, chân, đầu, mắt, thân thể. Hoặc nghe xứ ấy có Bồ tát thủ hộ chánh pháp làm đại Pháp sư rộng hành pháp thí, dựng pháp tràng, thổi pháp loa, đánh pháp cổ, mưa pháp vũ, xây Phật tháp miếu, làm hình tượng Phật, bố thí tất cả đồ an vui cho chúng sanh. Hoặc nghe xứ ấy có đức Như Lai ở kiếp ấy thành Ðẳng Chánh
Giác thuyết pháp độ sanh.
    Thiện Tài nghe bất tư nghì vi diệu pháp âm như vậy, thân tâm hoan hỷ, nhu nhuyến liền được vô lượng môn tổng trì, vô lượng môn biện tài, các thiền, các nhẫn, các nguyện, các độ, các thông, các minh và các giải thoát các môn tam muội.
     Lại thấy những hình tượng trong các gương báu: những là chư Phật chúng hội đạo tràng, Bồ tát chúng hội đạo tràng, Thanh văn chúng hội đạo tràng, Duyên Giác chúng hội đạo tràng, những tịnh thế giới, những uế thế giới. Hoặc những tịnh
uế thế giới, những thế giới có Phật, những thế giới không Phật, những Tiểu thế giới, những Trung thế giới, những Đại thế giới, những nhơn đà la võng thế giới, những thế giới úp, những thế giới ngửa, những thế giới bình thản, những thế giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở, những thế giới đầy chúng nhơn Thiên.
    Ở trong những thế giới như vậy, thấy có vô số chúng đại Bồ tát hoặc đi hoặc ngồi, làm nhiều sự nghiệp. Những là: hoặc khởi đại bi thương xót chúng sanh, hoặc soạn những bộ luận lợi ích chúng sanh, hoặc thọ, hoặc trì, hoặc biên, hoặc tụng, hoặc hỏi, hoặc đáp, ba thời sám hối hồi hướng phát nguyện.
    Thiện Tài lại thấy trong tất cả cột báu phóng lưới đại quang minh ma ni vương, hoặc xanh, hoặc vàng, hoặc đỏ, hoặc trắng, hoặc màu pha lê, hoặc màu thủy tinh, hoặc màu đế thanh, hoặc màu hồng nghệ, hoặc màu vàng diêm phù đàn, hoặc làm thành màu tất cả quang minh.
     Lại thấy những bửu tượng và hình đồng nữ bằng vàng diêm phù đàn, hoặc tay cầm hoa vân, y vân, tràng phan, táng cái. Hoặc cầm những hương thoa, hương bột. Hoặc cầm thượng diệu ma ni bửu võng. Hoặc thòng xích vàng. Hoặc mang anh lạc. Hoặc giơ cánh tay bưng đồ trang nghiêm.
Hoặc cúi đầu trút mão ma ni khom mình chiêm ngưỡng, mắt chẳng tạm rời.
     Lại thấy chuỗi chơn châu thường xuất sanh nước thơm đủ tám công đức. Thấy chuỗi lưu ly phóng trăm ngàn quang minh đồng thời chiếu sáng. Những tràng phan bửu cái, bửu võng, tất cả đều trang nghiêm với những châu bửu.
     Lại thấy bốn màu hoa sen, mỗi mỗi đều sanh vô lượng hoa: hoặc bằng cánh tay, hoặc bằng bánh xe. Trong mỗi hoa thảy đều thị hiện nhiều thứ hình tượng để trang nghiêm như là: tượng nam, tượng nữ, tượng đồng nam, tượng đồng nữ, tượng Thích, Phạm, Hộ Thế, Thiên, Long, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, tượng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Tất cả những sắc tượng trên đây đều khom mình, chắp tay kính lễ.
    Cũng thấy đức Như Lai ngồi kiết già, thân ba mươi hai tướng trang nghiêm. Lại thấy nơi đất tịnh lưu ly, trong khoảng mỗi bước hiện bất tư nghì những sắc tượng như là: sắc tượng thế giới, sắc tượng Bồ tát, sắc tượng Như Lai, sắc tượng những lâu các trang nghiêm.
    Lại nơi những nhánh lá bông trái của bửu thọ, đều thấy những sắc tượng bán thân như là: sắc
tượng bán thân của Phật, của Bồ tát, của Thiên, Long, Bát bộ. Sắc tượng bán thân của Hộ Thế Tứ Thiên vương, của Chuyển Luân Vương, của tiểu vương, vương tử, đại thần, quan trưởng và của tứ chúng. Những sắc tượng bán thân nầy hoặc cầm tràng hoa, hoặc cầm anh lạc, hoặc cầm những đồ trang nghiêm, hoặc khom mình chắp tay lễ kính, nhứt tâm chiêm ngưỡng mắt chẳng tạm rời. Hoặc ca ngợi, hoặc nhập tam muội nơi thân đều dùng tướng hảo trang nghiêm phóng những quang minh nhiều màu như là: quang minh màu chơn kim, màu bạch ngân, màu san hô, màu đâu sa la, màu đế thanh, màu tỳ lô giá na bửu, màu châu bửu, màu bông chiêm ba ca.
    Lại thấy trong tượng bán nguyệt phóng ra vô số quang minh của nhựt nguyệt tinh tú chiếu khắp mười  phương. Lại thấy bốn phía vách trong mỗi bước đều dùng châu bửu để trang nghiêm. Trong mỗi châu bửu đều hiện hình Di Lặc Bồ tát thuở kiếp xưa tu hành Bồ tát đạo: hoặc bố thí đầu, mắt, tay, chân, môi, lưỡi, răng, nướu, tai, mũi, máu, thịt, da thứa, xương tủy, nhẫn đến móng, tóc. Hoặc bố thí vợ con, thành ấp, tụ lạc, quốc độ, ngôi vua. Làm cho người ở lao ngục thì được ra khỏi, kẻ bị trói buộc thì được cởi mở, người bịnh tật thì được lành, người vào đường tà thì chỉ cho
đường chánh.
    Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát làm lái thuyền đưa qua biển lớn. Hoặc làm mã vương cứu hộ ác nạn. Hoặc làm đại Tiên khéo giảng luận. Hoặc làm Luân vương khuyên tu thập thiện. Hoặc làm y vương khéo chữa các bịnh. Hoặc hiếu thuận cha mẹ. Hoặc thân cận thiện hữu. Hoặc làm Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát. Hoặc làm Như Lai giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Hoặc làm Pháp sư phụng hành Phật giáo, thọ trì, đọc tụng, tư duy đúng lý. Lập Phật tháp, tạo Phật tượng. Hoặc mình cúng dường. Hoặc khuyên người cúng, thoa hương, rải hoa, cung kính lễ bái. Những sự như trên thực hành luôn không dứt.
    Hoặc thấy Di Lặc Bồ tát ngồi tòa sư tử thuyết pháp khuyên chúng sanh an trụ thập thiện, nhứt tâm quy hướng Tam Bảo, thọ trì năm giới và tám giới, xuất gia nghe pháp, thọ trì đọc tụng, tu hành đúng pháp. Nhẫn đến hoặc thấy những sắc tượng của Di Lặc Bồ tát tu hành các môn ba la
mật trong trăm ngàn ức na do tha vô số kiếp.
    Lại thấy Di Lặc Bồ tát từng kính thờ chư thiện tri thức đều dùng tất cả công đức trang nghiêm. Lại thấy Di Lặc Bồ tát tại chỗ của mỗi thiện tri  thức thân cận cúng dường tuân hành lời dạy, nhẫn đến trụ bực Quán đảnh.
    Bấy giờ, chư thiện tri thức ấy bảo Thiện Tài rằng:
    Lành thay đồng tử! Ngươi nhìn xem những sự bất tư nghì của Di Lặc Bồ tát chớ có nhàm mỏi.
    Lúc đó, vì được sức ghi nhớ chẳng quên, vì được mắt thanh tịnh thấy mười phương, vì được trí vô ngại khéo quán sát, vì được trí tự tại của Bồ tát, vì được quảng đại giải của chư Bồ tát đã nhập trí địa, nên Thiện Tài ở trong mỗi vật của tất cả lâu các đều thấy vô lượng cảnh giới bất tư nghì như vậy.
    Như người nằm mộng thấy những cảnh vật, khi thức dậy bèn biết là cảnh mộng, nhưng có thể nhớ rõ không quên mất. Cũng vậy, nhờ thần lực gia trì của Di Lặc Bồ tát, vì biết những pháp trong tam giới như mộng, vì diệt được tâm tưởng hèn kém của chúng sanh, vì được tri giải rộng lớn vô ngại, vì an trụ cảnh giới thù thắng của Bồ tát, vì nhập trí phương tiện bất tư nghì, nên Thiện Tài thấy được cảnh giới tự tại như vậy.
    Như người sắp mạng chung, thấy tướng thọ báo theo nghiệp của họ: Người gây ác nghiệp thì thấy tất cả cảnh giới khổ nơi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hoặc thấy lính ngục tay cầm binh khí sân mắng trói bắt dẫn đi. Cũng nghe những tiếng kêu
khóc than van. Hoặc thấy sông tro, vạc nước sôi, núi dao, cây gươm, rồi bị bức vào chịu khổ. Người làm lành thì thấy cung điện trời, vô lượng Thiên chúng, Thiên nữ, y phục trang nghiêm, cung điện viên lâm đều đẹp tốt. Dầu thân chưa chết, nhưng do nghiệp lực thấy những sự như vậy. Cũng vậy, do sức bất tư nghì của Bồ tát nghiệp nên Thiện Tài được thấy tất cả cảnh giới trang nghiêm.
   Như có người bị quỷ nhiếp trì thấy các sự việc tùy nơi người hỏi đều đáp được cả. Cũng vậy, do Bồ tát trí huệ nhiếp trì nên Thiện Tài được thấy tất cả sự trang nghiêm, nếu có ai hỏi đều đáp được cả.
    Như có người bị rồng nhiếp trì, tự cho mình là rồng, rồi vào Long cung, trong thời gian ngắn tự cho là đã trải qua nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm. Cũng vậy, vì trụ Bồ tát trí huệ, vì Di Lặc Bồ tát gia trì, nên trong một ít thời gian mà Thiện Tài cho là vô lượng kiếp.
    Như Phạm Thiên cung tên là Trang Nghiêm Tạng, trong đó hiện tất cả sự vật trong Đại thiên thế giới chẳng tạp loạn nhau. Cũng vậy, trong lâu các nầy, Thiện Tài thấy khắp tất cả cảnh giới trang nghiêm, nhiều thứ sai khác chẳng tạp loạn nhau.
    Như Tỳ kheo nhập biến xứ định, khi đi đứng
ngồi nằm, tùy theo định đã nhập, cảnh giới ấy hiện tiền. Cũng vậy, Thiện Tài nhập lâu các nầy, tất cả cảnh giới đều hiện rõ.
    Như có người ở không trung thấy thành Càn thát bà đủ sự trang nghiêm, đều thấy biết rõ không chướng ngại. Như cung điện của thần Dạ xoa, cùng cung điện của người đồng ở một chỗ, mà chẳng tạp loạn nhau, đều tùy theo nghiệp nên chỗ thấy chẳng đồng. Như nơi đại hải, tất cả sắc tượng của thế giới đều hiện trong đó. Như nhà ảo thuật, dùng ảo lực hiện những ảo sự. Cũng vậy, do sức oai thần của Di Lặc Bồ tát, do sức huyễn trí bất tư nghì, do có thể dùng huyễn trí biết các pháp, do được sức tự tại của Bồ tát, nên Thiện Tài thấy tất cả cảnh giới tự tại trang nghiêm trong lâu các.
   Bấy giờ, Di Lặc Bồ tát nhiếp thần lực vào trong lâu các, đàn chỉ ra tiếng bảo Thiện Tài rằng:
   Thiện nam tử dậy! Pháp tánh như vậy. Ðây là những tướng của trí biết các pháp của Bồ tát làm nhơn duyên tụ tập mà hiện ra. Tự tánh như vậy, như huyễn, như mộng, như ảnh, như tượng, đều chẳng thành tựu.
   Nghe tiếng đàn chỉ, Thiện Tài liền từ tam muội dậy. Di Lặc Bồ tát nói:
   Nầy thiện nam tử! Ngươi ở trong giải thoát tự
tại bất tư nghì của Bồ tát thọ những hỷ lạc tam muội của Bồ tát, có thể thấy cung điện trang nghiêm của Bồ tát thần lực gia trì, của trợ đạo lưu xuất, của nguyện trí hiển hiện. Ngươi thấy Bồ tát hạnh, nghe Bồ tát pháp, biết Bồ tát đức, rõ Như Lai nguyện.
   Thiện Tài thưa:
   Bạch đại Thánh! Ðây là sức oai thần gia hộ ghi nhớ của thiện tri thức. Bạch đại Thánh! Môn giải thoát nầy tên là gì?
   Di Lặc Bồ tát nói:
   Nầy thiện nam tử! Môn giải thoát nầy tên là Tạng trí trang nghiêm nhập tất cả cảnh giới ba đời chẳng quên mất. Nầy thiện nam tử! Trong môn giải thoát nầy có bất khả thuyết bất khả thuyết môn giải thoát, là chỗ chứng đắc của Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ.
  Thiện Tài hỏi: “Sự trang nghiêm nầy đi về đâu?”.
   Di Lặc Bồ tát nói: “Ði về nơi chỗ đến”.
   Thiện Tài hỏi: “Từ chỗ nào đến?”.
   Di Lặc Bồ tát nói:
  Từ trong trí huệ thần lực của Bồ tát mà đến, nương thần lực của Bồ tát mà an trụ, không có
chỗ đi, cũng không có chỗ trụ, chẳng phải tích tập, chẳng phải thường hằng, xa rời tất cả.
    Nầy thiện nam tử! Như Long vương làm mưa, chẳng từ thân ra, chẳng từ tâm ra, chẳng có tích tập, mà chẳng phải là chẳng thấy. Chỉ do sức tâm niệm của Long vương mà mưa tuôn khắp thiên hạ. Cảnh giới như vậy chẳng thể nghĩ bàn.
    Nầy thiện nam tử! Cũng vậy, những sự trang nghiêm trong lâu các nầy chẳng ở trong cũng chẳng ở ngoài, mà chẳng phải là không thấy. Chỉ do thần lực của Bồ tát và sức thiện căn của ngươi, mà ngươi được thấy như vậy.
   Nầy thiện nam tử! Như nhà ảo thuật làm những ảo sự không từ đâu lại, không đi đến đâu. Dầu không lại không đi, nhưng do ảo lực mà thấy rõ ràng. Cũng vậy, sự trang nghiêm nầy không từ đâu lại, cũng không chỗ đi. Dầu không lại không đi, nhưng do quen tập sức huyễn trí bất tư nghì và do sức đại nguyện thuở xưa mà hiển hiện như vậy.
   Thiện Tài thưa: “Ðại Thánh từ xứ nào đến đây?”.
   Di Lặc Bồ tát nói:
   Nầy thiện nam tử! Chư Bồ tát không đến không đi, như vậy mà đến. Không đi không ở, như vậy mà đến. Không chỗ, không chấp, không
mất, không sanh, chẳng ở, chẳng dời, chẳng động, chẳng khởi, không luyến, không nhiễm, không nghiệp, không báo, chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng đoạn,
    Nầy thiện nam tử! Bồ tát từ chỗ đại bi mà đến, vì muốn điều phục các chúng sanh. Từ chỗ đại từ mà đến, vì muốn cứu hộ các chúng sanh. Từ chỗ tịnh giới mà đến, vì tùy sở thích mà thọ sanh. Từ chỗ đại nguyện mà đến, vì nguyện lực thuở xưa gia trì. Từ chỗ thần thông mà đến, vì nơi tất cả xứ, tùy thích mà hiện. Từ chỗ không lay động mà đến, vì hằng chẳng bỏ rời tất cả Phật. Từ chỗ không thủ xả mà đến, vì chẳng bắt buộc thân tâm phải qua lại. Từ chỗ phương tiện trí huệ mà đến, vì tùy thuận tất cả chúng sanh. Từ chỗ thị hiện biến hóa mà đến, vì dường như ảnh tượng mà hóa hiện. Nhưng nầy thiện nam tử! Ngươi hỏi ta từ chỗ nào mà đến?
    Nầy thiện nam tử! Ta từ sanh quán, nước Ma La Ðề mà đến nơi đây. Nước ấy có tụ lạc tên là Phòng Xá. Trong tụ lạc có trưởng giả tử tên là Cù Ba La, ta vì hóa độ người ấy vào Phật pháp mà ở nơi đó. Lại vì tất cả nhơn dân đáng được hóa độ nên sanh nơi đó để thuyết pháp. Lại cũng vì cha mẹ quyến thuộc nói pháp Đại thừa cho được xu nhập nên ở nơi đó, rồi từ đó đến đây.
   Thiện Tài thưa:
   Bạch đại Thánh! Những gì là sanh xứ của Bồ tát?
   Di Lặc Bồ tát nói:
   Nầy thiện nam tử! Bồ tát có mười thứ sanh xứ: Bồ đề tâm là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh ra Bồ tát. Thâm tâm là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh thiện tri thức. Chư địa là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh các môn ba la mật. Ðại nguyện là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh diệu hạnh. Ðại bi là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh tứ nhiếp pháp. Quán sát đúng lý là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh bát nhã ba la mật. Ðại thừa là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh thiện xảo phương tiện. Giáo hóa chúng sanh là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh chư Phật. Trí huệ phương tiện là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh vô sanh pháp nhẫn. Tu hành tất cả pháp là sanh xứ của Bồ tát, vì là nhà sanh tam thế tất cả Như Lai.
   Nầy thiện nam tử! Ðại Bồ tát dùng bát nhã ba la mật làm mẹ, phương tiện thiện xảo làm cha, thí ba la mật làm nhũ mẫu, giới ba la mật làm dưỡng mẫu, nhẫn ba la mật làm đồ trang nghiêm, tinh tấn ba la mật làm ông già dưỡng dục, thiền ba la mật làm người rửa giặt, thiện tri thức làm thầy dạy, tất
cả phần Bồ đề làm bạn, tất cả pháp lành làm quyến thuộc, tất cả Bồ tát làm huynh đệ, Bồ đề tâm làm nhà, tu hành đúng lý làm gia pháp, chư địa làm gia xứ, chư nhẫn làm gia tộc, đại nguyện làm gia giáo, đầy đủ các hạnh làm thuận gia pháp, khuyên phát Đại thừa làm nối gia nghiệp, pháp thủy rưới đầu Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát làm thái tử, thành tựu Bồ đề là hay tịnh gia tộc.
  
Nầy thiện nam tử! Bồ tát siêu phàm phu địa, nhập Bồ tát vị, sanh nhà Như Lai, trụ chủng tánh Phật như vậy, có thể tu các hạnh chẳng dứt Tam Bảo, khéo giữ được chủng tộc Bồ tát, tịnh Bồ tát chủng, chỗ sanh tôn thắng, không lỗi ác, tất cả thế gian, Thiên, nhơn, ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn cung kính ngợi khen.
   Nầy thiện nam tử! Ðại Bồ tát sanh nhà tôn thắng như vậy rồi, vì biết tất cả pháp như ảnh tượng nên đối với thế gian không ghét chê. Vì biết tất cả pháp như biến hóa nên không nhiễm trước các cõi hữu lậu. Vì biết tất cả pháp không có ngã nên giáo hóa chúng sanh lòng không nhàm mỏi. Vì dùng đại từ bi làm thể tánh nên nhiếp thọ chúng sanh chẳng biết lao khổ. Vì liễu đạt sanh tử dường như mộng nên trải qua tất cả kiếp mà không e sợ. Vì biết rõ các uẩn đều như huyễn nên thị hiện thọ sanh mà không nhàm mỏi. Vì biết các
giới, xứ đồng pháp giới nên nơi các cảnh giới không bị hoại diệt. Vì biết tất cả tưởng như dương diệm nên vào trong các loài mà chẳng sanh điên đảo mê hoặc. Vì đạt tất cả pháp đều như huyễn nên vào cảnh giới ma chẳng sanh nhiễm trước. Vì biết pháp thân nên tất cả phiền não chẳng khi dối được. Vì được tự tại nên nơi tất cả loài đều thông đạt vô ngại.
    Nầy thiện nam tử! Thân ta sanh khắp tất cả pháp giới, đồng sắc tướng sai biệt với tất cả chúng sanh, đồng ngôn âm sai khác với tất cả chúng sanh, đồng những danh hiệu với tất cả chúng sanh. Đồng những cử chỉ sở thích của tất cả chúng sanh để tùy thuận thế gian giáo hóa điều phục, thị hiện thọ sanh đồng với tất cả chúng sanh thanh tịnh, những sự nghiệp làm ra đồng với tất cả phàm phu chúng sanh. Ðồng với tâm tưởng của tất cả chúng sanh, đồng thệ nguyện với tất cả Bồ tát mà hiện thân mình đầy khắp pháp giới.
    Nầy thiện nam tử! Ta vì hóa độ những người thuở xưa cùng ta đồng tu công hạnh mà nay thối thất tâm Bồ đề. Cũng vì giáo hóa cha mẹ thân thuộc. Cũng vì giáo hóa các Bà la môn, khiến họ bỏ tánh kiêu mạn để được sanh trong chủng tánh Như Lai, nên ta sanh tại nhà Bà la môn nơi tụ lạc Phòng Xá, trong nước Ma La Ðề ở Diêm Phù Ðề nầy.
    Nầy thiện nam tử! Ta ở trong đại lâu các nầy, tùy tâm sở thích của các chúng sanh dùng nhiều phương tiện để giáo hóa điều phục.
    Nầy thiện nam tử! Ta vì tùy thuận tâm chúng sanh, ta vì thành thục chư Thiên đồng hành nơi cung Ðâu Suất, ta vì thị hiện Bồ tát phước trí biến hóa trang nghiêm siêu quá tất cả Dục giới cho họ bỏ rời những dục lạc, vì cho họ biết hữu vi đều vô thường, vì cho họ biết chư Thiên hễ thạnh tất có suy, vì muốn thị hiện lúc sắp giáng sanh dùng đại trí pháp môn cùng chư Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ cùng nhau đàm luận, vì muốn nhiếp hóa những người đồng hành, vì muốn giáo hóa những kẻ mà đức Thích Ca Như Lai để sót lại cho họ đều được khai ngộ như hoa sen nở, nên khi mạng chung, ta sẽ sanh lên trời Ðâu Suất.
    Nầy thiện nam tử! Lúc ta viên mãn bổn nguyện thành Nhứt thiết trí, chứng Vô thượng Bồ đề, thì ngươi và Văn Thù Sư Lợi đều được thấy ta.
    Nầy thiện nam tử! Ngươi nên qua đến chỗ Văn Thù Sư Lợi thiện tri thức mà hỏi rằng: Bồ tát thế nào học Bồ tát hạnh, thế nào nhập Phổ Hiền hạnh môn, thế nào thành tựu, thế nào quảng đại, thế nào tùy thuận, thế nào thanh tịnh, thế nào viên mãn? Văn Thù Sư Lợi sẽ vì ngươi mà phân biệt diễn nói. Tại sao vậy?
   Vì những đại nguyện của Văn Thù Sư Lợi, chẳng phải vô lượng trăm ngàn ức na do tha Bồ tát khác có được.
    Nầy thiện nam tử! Văn Thù Sư Lợi có hạnh quảng đại, nguyện vô biên, xuất sanh tất cả Bồ tát công đức không thôi dứt. Văn Thù Sư Lợi thường làm mẹ của vô lượng trăm ngàn ức na do tha chư Phật. Thường làm thầy của vô lượng trăm ngàn ức na do tha Bồ tát. Giáo hóa thành tựu vô lượng chúng sanh. Tiếng đồn vang khắp mười phương thế giới. Thường làm thuyết pháp sư trong tất cả chúng hội của chư Phật. Ðược tất cả Như Lai khen ngợi, trụ nơi trí thậm thâm, có thể thấy tất cả pháp như thiệt, thông đạt tất cả cảnh giới giải thoát, rốt ráo những hạnh của Phổ Hiền.
    Nầy thiện nam tử! Văn Thù Sư Lợi là thiện tri thức của ngươi, làm cho ngươi được sanh nhà Như Lai, trưởng dưỡng tất cả thiện căn, phát khởi tất cả pháp trợ đạo, gặp thiện tri thức chơn thiệt khiến người tu tất cả công đức, nhập tất cả nguyện võng, trụ tất cả đại nguyện, vì ngươi mà nói tất cả pháp bí mật của Bồ tát, hiện tất cả hạnh bất tư nghì của Bồ tát, thuở xưa cùng ngươi đồng sanh đồng hành. Vì thế nên ngươi phải đến chỗ Văn Thù Sư Lợi, chớ có nhàm mỏi. Văn Thù Sư Lợi sẽ vì ngươi mà nói tất cả công đức. Tại sao vậy?
    Vì trước kia ngươi thấy thiện tri thức, nghe Bồ tát hạnh, nhập môn giải thoát đầy đủ đại nguyện, đều do thần lực của Văn Thù Sư Lợi. Văn Thù Sư Lợi đều được nơi rốt ráo tất cả xứ. Lúc đó, Thiện Tài đồng tử đảnh lễ chân Di Lặc Bồ tát, hữu nhiễu vô lượng vòng, ân cần chiêm ngưỡng từ tạ mà đi.
    *Y lời dạy của Di Lặc Bồ tát, Thiện Tài đi qua hơn một trăm mười thành đến nước Phổ Môn, thành Tô Ma Na, ở nơi cửa thành suy tìm Văn Thù Sư Lợi, trông được gặp gỡ kính thờ. Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát từ xa đưa tay hữu qua khỏi một trăm mười do tuần áp trên đầu Thiện Tài mà nói rằng:
    Lành thay! Lành thay! Nầy thiện nam tử! Nếu rời tín căn thì tâm yếu kém, lo sợ ăn năn công hạnh chẳng tròn đủ, thối thất tinh cần, nơi một thiện căn sanh lòng trụ trước, với chút ít công đức đã cho là đủ. Chẳng thể phát khởi hạnh nguyện, chẳng được thiện tri thức nhiếp thọ, chẳng được Như Lai ức niệm, chẳng biết được pháp tánh như vậy, lý thú như vậy, pháp môn như vậy, công hạnh như vậy, cảnh giới như vậy, đều không thể biết khắp, biết nhiều, tột nguồn đáy, hiểu rõ, xu ________________
* Hán bộ quyển thứ 80.
    nhập giải thoát, phân biệt, chứng biết, chứng đắc, tất cả điều trên đây đều không thể được. Văn Thù Sư Lợi Bồ tát tuyên nói pháp ấy cho Thiện Tài được lợi ích hoan hỷ thành tựu vô số pháp môn, đầy đủ vô lượng đại trí quang minh, khiến được Bồ tát vô biên tế đà la ni, vô biên tế nguyện, vô biên tế tam muội, vô biên tế thần thông, vô biên tế trí, khiến vào đạo tràng Phổ Hiền hạnh. Lại để Thiện Tài ở tại chỗ cũ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nhiếp thần lực chẳng hiện.
    Thiện Tài tư duy quán sát nhứt tâm nguyện thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ tát và muốn thấy đại thiên thế giới vi trần số thiện tri thức để gần gũi cung kính phụng thờ, tuân hành giáo pháp không chống trái, tăng trưởng xu cầu tất cả trí huệ, làm rộng biển đại bi, thêm mây đại từ, quán sát khắp mọi loài sanh lòng hoan hỷ, an trụ pháp môn tịch tịnh của Bồ tát, duyên khắp tất cả cảnh giới quảng đại, học tất cả công đức quảng đại của Phật, nhập tất cả tri kiến quyết định của Phật, thêm pháp trợ đạo cho Nhứt thiết trí, khéo tu thâm tâm của tất cả Bồ tát, biết tam thế Phật thứ đệ xuất thế, vào biển nhứt thiết pháp, chuyển xe nhứt thiết pháp, sanh trong tất cả thế gian, nhập nơi tất cả Bồ tát nguyện hải, trụ tất cả kiếp tu Bồ tát hạnh, chiếu rõ tất cả cảnh giới Như Lai, trưởng dưỡng chư căn
    của tất cả Bồ tát, được quang minh thanh tịnh của Nhứt thiết trí chiếu khắp mười phương, trừ hết tối tăm chướng ngại, biết khắp pháp giới, hiện thân mình khắp tất cả cõi, tất cả loài, dẹp tất cả chướng, vào khắp vô ngại, trụ nơi bực pháp giới bình đẳng, quán sát cảnh giới giải thoát của Phổ Hiền, được nghe danh tự hạnh nguyện của Phổ Hiền đại Bồ tát, cũng nghe trợ đạo, chánh đạo, bực chư địa, phương tiện địa, nhập địa, thắng tấn địa, trụ địa, tu tập địa, cảnh giới địa, oai lực địa, đồng trụ khát ngưỡng.
    Thiện Tài muốn thấy Phổ Hiền Bồ tát, liền ở trước tòa sư tử của Tỳ Lô Giá Na Như Lai nơi Kim Cang Tạng Bồ đề tràng, trên tòa bửu liên hoa tạng, phát tâm rộng lớn như hư không giới, khởi tâm vô ngại, bỏ tất cả cõi, rời tất cả chấp, tâm vô ngại đi trong tất cả pháp vô ngại, tâm vô ngại vào khắp tất cả thập phương, tâm thanh tịnh vào cảnh giới của Nhứt thiết trí, tâm minh liễu quán sát đạo tràng trang nghiêm, tâm quảng đại nhập tất cả Phật pháp hải, tâm châu biến hóa độ tất cả chúng sanh giới, tâm vô lượng tịnh tất cả Phật độ, tâm vô tận trụ tất cả kiếp, tâm cứu cánh xu hướng Như Lai thập lực
    Lúc Thiện Tài phát khởi những tâm như vậy, do sức thiện căn của mình, được sức gia hộ của
    tất cả Như Lai, do sức đồng thiện căn của Phổ Hiền Bồ tát, nên Thiện Tài thấy mười thứ thoại tướng, như là: thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả Như Lai thành Đẳng Chánh Giác. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, không các ác đạo. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, nghiêm sức với những diệu liên hoa. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh thân tâm thanh tịnh. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, trang nghiêm với những châu bửu. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh tướng tốt nghiêm thân. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, những mây trang nghiêm che phía trên. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh mến yêu nhau, giúp ích nhau, chẳng hại nhau. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, đạo tràng trang nghiêm. Thấy tất cả Phật độ thanh tịnh, tất cả chúng sanh tâm thường niệm Phật.
    Thiện Tài lại thấy mười tướng quang minh, như là:
    Thấy bao nhiêu vi trần của tất cả thế giới, trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật quang minh võng vân chiếu sáng khắp nơi.
    Trong mỗi mỗi vi trần xuất sanh tất cả thế giới vi trần số Phật quang minh luân vân nhiều thứ sắc tướng cùng khắp pháp giới.
   
/35
 

  Ý kiến bạn đọc


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây