Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Luật Tứ Phần (Tập 5 hết)

Luật Tứ Phần (Tập 5 hết)

Tác giả: Việt dịch: Tỳ - Kheo Thích Đỗng Minh. Dịch giả: Việt dịch: Tỳ-Kheo Thích Đỗng Minh. Năm xuất bản: 2013. Số trang: 208.

Chương 5: Lịch Sử Truyền Dịch (Trang 55 - 64)

LỊCH SỬ TRUYỀN DỊCH

Nền tảng nghiên cứu Luật theo hệ Hán ngữ cho đến thời hiện tại y trên các thư tịch thường được gọi là “Tứ Luật, Ngũ Luận.” (1)
Trong  đó, Tứ  luật, tức Luật hệ của bốn bộ  phái  được  chính  thức truyền  thừa  trong  Hán hệ:  1.  Thập tụng  luật,  thuộc  Tát-bà-đa (Sarvāstivāda, Hữu bộ),  2.  Tứ  phần  luật,  thuộc hệ  Đàm-vô-đức (Dharmagupta, Pháp mật bộ), 3. Tăng lỳ luật, thuộc hệ Ma-ha-tăng-kỳ  (Mahāsaṅghika, Đại chúng bộ), 4. Ngũ phần  luật,  thuộc hệ Di-sa-tắc  (Mahīśāsaka, Hóa địa bộ). Ngoài  ra, còn một hệ Luật được coi  là chính  truyền nhưng chưa được  truyền dịch  trong Hán hệ, đó là Ca-diếp-di (Kāśyapika, Ẩm quang bộ). Chính xác mà nói, đây  là  Quảng  luật của các bộ. Ca-diếp-di bộ tuy chưa có Quảng  luật được truyền dịch nhưng Giới kinh của bộ này cũng đã được phiên dịch trong Hán hệ.
Ngũ  luận, tức năm hệ  luận  giải Luật, gồm  có:  1. Tì-ni mẫu  luận, thuộc hệ Thập tụng  luật; 2. Ma-đắc-lặc-già  luận,  thuộc hệ Tát-bà-đa; 3. Thiện kiến, Đồng diệp bộ, tức Thượng tọa bộ Pāli; 4. Tát-bà-đa  luận, giải  thích  luật Thập tụng; 5. Minh  liễu  luận,  luật giải của bộ phái Chánh lượng (Sammītiya). (2)
Sự phân loại có hệ thống trên cho ta một cái nhìn tổng quan về nền tảng nghiên cứu Luật thuộc Hán hệ. Nhưng sự phân loại này không chính xác. Thí dụ, Thiện kiến  luật  là sớ giải  luật thuộc Thượng tọa bộ Pāli  chứ  không  phải  là  giải  thích  Tứ  phần  luật  như  Bát  tông cương yếu nói. Tuy nhiên, do sự gần gũi giữa Tứ phần và  luật Pāli mà Thiện kiến là sớ giải, cho nên có sự nhầm lẫn như vậy.
__________________________
(1) Tứ phần hành sự sao, Đạo Tuyên; T40n1804, tr. 3b23. Bát  tông cương yếu 1, Nhật, Ngưng Nhiên  (Gyônen, 1286). Bản dịch Pháp, Alfred Millioud, Esquisse de huít sects bouddhistes du Japon. Revue de l’histoire dé religions, tomes XXV, XXVI, 1892.
(2) Chi tiết, xem Thư Mục Luật.
Sự phân  loại hệ  thống  luật của Bát  tông cương yếu thật sự  là quan điểm  được lưu  hành rất sớm tại Trung Quốc,  như  được  ghi  nhận bởi Tăng Hựu trong Xuất Tam tạng ký tập, dưới tiêu đề “Luật phân ngũ bộ.” Lịch sử truyền dịch các Luật bộ này được thuật như sau: (1)
1. Tát-bà-đa bộ, Thập tụng luật, 61 quyển. Tát-bà-đa hay Hữu bộ là một chi phái phân  ly từ Thượng tọa bộ. Nguyên  thủy Luật của bộ phái này gồm 80 tụng. Bắt đầu từ Đại Ca-diếp,  truyền cho A-nan, đến đời thứ năm  là Ưu-ba-cúc-đa (Upagupta) (2). Vì cho rằng đời sau này căn tánh chậm lụt không thể học thuộc hết 80 tụng, Ưu-ba-cúc-đa san định lại  thành 10 tụng. Từ đó  truyền  thừa  tiếp nối đến hơn 50 vị. Trong  khoảng  niên  hiệu Hoằng  thuỷ  (ca AD.  400),  có  sa-môn  người Kế-tân  (Kaśmīra)  hiệu  là  Phất-nhã-đa-la  (Puṇyatara) chuyên học Thập tụng, mang  luật này đến Quan Hữu, Trung Quốc. Lúc bấy  giờ Cưu-ma-la-thập  đang  ở tại  Trường  An,  trong vườn Tiêu  dao,  cùng với  ba  nghìn tăng sỹ,  phiên dịch  kinh  điển. Phất-nhã-đa-la  đọc  Phạn bản. La-thập  chuyển dịch  sang Hán văn. Chỉ mới được hơn hai phần thì Phất-nhã-đa-la tịch, việc phiên dịch phải gián  đoạn.  Sau  đó  có  sa-môn Đàm-ma-lưu-chi  (Dharmaruci)  đến Trung Quốc, là vị chuyên tụng Thập tụng  luật. Huệ Viễn ở Lô Sơn hay  biết,  bèn  viết  thư  cho  Đàm-ma-lưu-chi  đề  nghị  tiếp tục sự phiên dịch Thập tụng. Đàm-ma-lưu-chi đến Trường An, hợp tác với La-thập dịch  tiếp  các  phần  còn lại. Bản dịch Hán Thập tụng  luật được hoàn tất, gồm 58 quyển. Về sau lại có Luật sư Ti-ma-la-xoa (Vimalākṣa),  là vị  đã từng dạy  Luật  cho  La-thập  khi  còn  ở  Tây Vực,  đến  Trung  Quốc,  trú  trong  chùa  Thạch  Giạn.  La-xoa  hiệu chính lại bản dịch,  cuối  cùng bản dịch  chính  thức gồm  61  quyển được lưu truyền.
2. Đàm-vô-đức,  luật Tứ phần, 40 quyển hoặc 45 quyển, chính thức
___________________________
(1) Tam tạng ký tập, Tăng Hựu soạn (AD. 445-518), T55n2145, tr. 20a21.
(2) Ưu-ba-cúc-đa (Skt. Upagupta), theo truyền thuyết phương Bắc, là thầy của vua A-dục, chủ trì Kết tập pháp tạng lần thứ ba. Đồng nhất với truyền thuyết Pāli là Moggaliputta Tissa.
lưu hành hiện nay là 60 quyển. Đàm-vô-đức cũng được phiên âm là Đàm-ma-cúc-đa  (Dharmagupta), mà  Hán dịch  theo Tăng Hựu  là Pháp  Kính  (gương  pháp). Bản dịch  này  do  Phật-đà-da-xá (Buddhayaśas)  thực  hiện.  Da-xá  đến  Trường  An  nhưng  không mang theo Phạn bản của Tứ phần. Do đó, khi được Tư lệ hiệu úy là Dao Sảng  đề  nghị  phiên dịch, Dao  chúa  cho rằng  không  có bản Phạn  làm căn cứ  thì không  thể  tin tưởng được. Vì vậy, công việc phiên dịch không được thực hiện ngay. 
Phật-đà-da-xá, (1) Hán dịch  là  Giác  Minh, vốn  người Kế-tân (Kaśīmra),  thuộc  dòng  dõi Bà-la-môn. Xuất  gia năm  13  tuổi, mà năm 15  tuổi đã học  thuộc kinh điển đến  trên hai, ba vạn lời. Tính tình hơi cao ngạo, cho rằng khó có ai làm thầy cho mình, do đó đến tuổi  thọ  đại  giới mà  không  ai  chịu  làm Hòa  thượng  cho  để  được truyền giới. Mãi đến 27 tuổi mới được thọ đại giới. Khi Da-xá đến nước Sa-lặc, quốc vương và  thái tử nước này rất trọng vọng, thỉnh lại  trong cung truyền giảng Phật pháp. La-thập đến Sa-lặc, học với Da-xá. Sau  đó La-thập  theo mẹ  trở về Qui-tư. Một  thời  gian  sau, tướng Lữ Quang vâng lệnh vua Tần Phù Kiên đánh chiếm Qui-tư. La-thập bị bắt đưa về ở Cô-tàng (Khotan). Hơn 10 năm sau, Da-xá đến Qui tư hoằng pháp. Bấy giờ La-thập tại Cô-tàng gởi  thư mời Da-xá. Da-xá vốn rất trọng nể tài năng của La-thập nên cùng đệ tử rời bỏ Qui-tư,  đến  Cô-tàng  thì  La-thập  đã  đi về  Trường An. Tại đây, La-thập thực hiện công trình phiên dịch. La-thập hay tin Da-xá đã đến Cô-tàng, đề nghị Dao Hưng đến đón. Dao Hưng không chấp nhận. La-thập nói: “Bần đạo  tuy đọc  thuộc văn từ nhưng nghĩa  lý thì  chưa  thấu  suốt. Duy  chỉ  Phật-đà-da-xá mới  thấu  hiểu  sâu sắc đến chỗ tinh vi. Vị ấy nay đang ở Cô-tàng, nguyện xuống chiếu cho trưng triệu về đây. Một lời kinh phải ba lần suy cứu tường tận mới dám hạ bút, như thế thì ngôn từ vi diệu mới không bị sai sót, để cho nghìn năm  sau còn được  tin tưởng.” Dao chúa nghe lời,  sai sứ đi đón Phật-đà-da-xá, cùng với lễ vật  trọng hậu. Da-xá từ chối. Dao
_______________
(1) Tiểu truyện đầy đủ, Cao tăng truyện 2, Huệ Hạo (AD. 497-554). T 50 No 2059.
chúa lại sai đến thỉnh lần nữa, Da-xá mới nhận lời đến Trường An. Vua mời ở lại  trong Tiêu-dao, tứ sự cúng dường. Nhưng Da-xá từ chối hết  thảy. Đến giờ, ôm bát đi khất  thực; mỗi ngày chỉ  ăn một bữa.
Khi  La-thập dịch  Thập  trụ; (1) có  chỗ  nghi  ngờ mà một  tháng vẫn chưa quyết nên chưa  thể hạ bút. Da-xá đến, La-thập đem chỗ hoài nghi ra bàn  luận, được Da-xá giải đáp  thỏa đáng. Tăng tục hơn ba nghìn  thảy đều khâm phục sự hiểu biết sâu sắc của Da-xá. Vả lại, Da-xá vồn là thầy của La-thập, nên càng được trọng vọng.
Dao Hưng muốn trắc nghiệm trí nhớ của Da-xá, bèn khiến đưa cho sách  thuốc có đến hơn 5 vạn lời, yêu cầu đọc thuộc. Trong vòng 2 ngày, Da-xá  đọc  suốt từ  đầu  đến  cuối;  người cầm  sách  dò  theo, không sai sót một chữ. Ai nấy đều hết sức khâm phục  trí nhớ của Da-xá.
Năm Hoằng  thủy 12  (AD. 410), Phật-đà-da-xá khởi dịch Tứ phần luật, hoàn tất gồm 44 quyển. Bản lưu hành hiện tại gồm 60 quyển. Về sau Phật-đà-da-xá trở về nước. Không rõ mất lúc nào. (2)
3. Bà-thô-phú-la: Ma-ha Tăng kỳ  luật, 40 quyển. Bà-thô-phú-la  là phiên âm từ Vātsī-putrīya,  thường biết dười từ Hán dịch  là Độc tử bộ. Tăng Hựu nói, bộ phái này chủ trương hữu ngã, chẳng khác nào trẻ con nên gọi  là Bà-sa-phú-la. Luật của bộ này được gọi  là Tăng kỳ  luật. Nhưng chính xác phải nói đây  là nhóm tỳ-kheo Bạt-kỳ tử (Pāli:  Vajjiputta,  Skt. Vṛjiputra)  ở  Tì-xá-li  (Skt.  Vaiśāli, Pāli Vesāli),  là nhóm đã đề ra 10 điều châm chước từ Luật, được gọi  là mười  phi  pháp, dẫn  đến  cuộc kết tập lần  thứ  hai. Kết  quả, Tăng đoàn nguyên thủy bị phân thành hai. Nhóm không chấp nhập mười phi  pháp gồm  các  Thượng tọa,  nên  được gọi  là  Thượng tọa bộ. Nhóm chấp nhận mười điều này gồm số đông nên được gọi  là Đại chúng bộ, tiếng Phạn là Mahāsaṅghika, phiên âm là Ma-ha-tăng-kỳ.
________________
(1) Thập trụ tì-bà-sa luận, 17 quyển, La-thập dịch; T 26 No 1521.
(2) Ngoài Tứ phần  luật, Hán dịch của Phật-đà-da-xá còn có: Trường A-hàm kinh, 22 quyển, T 1 No 1; Hư Không Tạng Bồ tát kinh, 1 quyển, T 13 No 405.
Phạn bản của  luật Tăng kỳ được Pháp Hiển tìm thấy trong tháp A-dục tinh xá Thiên vương, ấp Ba-liên-phất (Pāṭalāputra), Ma-kiệt-đà (Magadha)  khi  ngài  du học  Tây Vực,  bèn  chép lại rồi  mang về Trung Quốc. Đến  đời Đông Tấn, năm Nghĩa  hy   12  (AD.  416), Pháp  Hiển  cùng với  Phật-đà-bạt-đà  (Buddhabhadra,  Giác  Hiền) khởi sự phiên dịch, đến năm thứ 14 (AD. 418) thì hoàn tất.
4. Di-sa-tắc bộ: Ngũ phần  luật, 34 quyển; hiện lưu hành 30 quyển. Nguyên Phạn bản  được Pháp Hiển  tìm  thấy tại Sư tử  quốc  (Tích Lan ngày nay), bèn sao chép rồi mang về Trung Quốc, nhưng chưa kịp phiên dịch thì tịch. Cho đến Tống Cảnh bình 1 (AD. 423), Phật-đà-thập  (Buddhajīva)  người Kế-tân  (Kaśmīra)  đến  Kinh  đô,  theo yêu cầu của  Thích  Huệ  Nghiêm,  Trúc  Đạo  Sinh  ở  chùa  Long Quang,  khởi sự  phiên dịch.  Phật-đà-thập  đọc bản  Phạn,  sa-môn người Vu-điền  là Thích Trí Thắng  làm thông dịch; đến năm sau thì hoàn tất.
5. Ca-diếp-duy bộ, Skt. Kāśyapīya, chưa có Luật tạng được phiên dịch.  Tuy  nhiên,  Giải  thoát  giới  kinh  do  Bát-nhã-lưu-chi (Prajñāruci) dịch (ca AD. 543), đó là Giới kinh tỳ-kheo của bộ phái này.
Căn cứ cho thuyết “Ngũ bộ  luật” trên đây được  tìm  thấy  trong bản dịch Luật có thể xem  là sớm nhất mà  tiêu đề đầy đủ hiện nay  theo ấn bản Đại  chánh  là Đại Tỳ-kheo  tam  thiên  oai  nghi,  do An Thế Cao dịch vào khoảng Hậu Hán, niên hiệu Kiến hòa 2 (ca AD 148). Thế nhưng, trong bản mục lục của Tăng Hựu, phần  liệt kê các bản dịch của An Thế Cao không  thấy có. Trong phần  liệt kê các dịch bản khuyết danh dịch giả, chúng  ta  thấy có hai bản dịch cùng một tiêu  đề  là  Đại tỳ-kheo  oai  nghi  kinh,  2  quyển. Mục lục của  Phí Trường Phòng cũng gọi  là Đại tỳ- kheo oai nghi kinh, 2 quyển, và cũng được xếp vào mục các bản dịch khuyết danh dịch giả.(1) Tiêu đề  đầy  đủ  như  hiện  nay  có lẽ lần  đầu  tiên  được  tìm  thấy  trong
Chúng  kinh mục lục của Tĩnh  Thái  (ca  AD.  664),  nhưng cũng
______________________________                                        
(1) Lịch Đại Tam bảo kỷ, Phí Trường Phòng (ca. 597). T49n2034, tr. 119c3 .
không  thấy ghi dịch giả.(1) Cho đến Đại Châu  san định chúng kinh mục lục của Minh Thuyên (ca AD. 695) thì dịch giả được ghi rõ  là Trúc Pháp Hộ đời Tấn dịch, căn cứ  theo lời của Đạo An do Tăng Hựu ghi lại. (2) Điều ghi  nhận  này không  thấy được nói ở đâu  trong Xuất Tam tạng ký tập của Tăng Hựu. Ngoài bản dịch này  ra, mục lục Đại Châu còn cho biết bản dịch khác với  tiêu đề đầy đủ  là Đại tỳ-kheo  tam  thiên  oai  nghi  kinh, với số  quyển  sai  biệt  là  4  chứ không phải 2 quyển như hiện có. Mục lục này ghi  là bản  luật được dịch bởi An Thế Cao đời Hậu Hán, căn cứ theo Trường Phòng lục. (3) Nhưng kiểm  trong mục lục của Trường Phòng hiện lưu hành cũng không tìm thấy điều này.
Căn cứ  thứ  hai của  thuyết Ngũ bộ  Luật  là  Xá-lợi-phất vấn  kinh, dịch  giả  khuyết  danh,  được  ghi  là  vào  khoảng  đời Đông Tấn  (ca AD. 317-420), nhưng không thấy được ghi trong mục lục của Tăng Hựu. Bản dịch này được tìm thấy trong mục lục của Trường Phòng, xếp vào mục dịch giả khuyết danh, không ước định niên đại. (4) Ước định đời Đông Tấn được tìm thấy trong Khai nguyên Thích giáo lục của Viên Chiếu (ca AD.794). (5)
Tổng quát mà nói, mặc dù niên đại của hai bản luật không được xác định, nhưng  thuyết Ngũ bộ Luật cũng đã được lưu hành tại Trung Quốc rất sớm. Thuyết này, cho đến thời Huyền Trang lưu trú tại Ấn Độ, còn thấy được lưu hành. Đại Đường Tây Vực ký 3 chép: “Nước Ô-trượng-na (Udyāna)…, sùng  trọng Phật pháp, kính  tín Đại  thừa.Giáp  sông Tô-bà-phạt-tốt-đổ, xưa  có  đến  1400  ngôi  già-lam,  nay phần lớn hoang phế. Tăng đồ một vạn tám nghìn, nay còn lại rất ít; thảy đều học Đại thừa… Luật nghi truyền thừa thì có 5 bộ: 1. Pháp
_____________________                                        
(1) T55n2148, tr. 188a11.
(2) T55n2153, tr. 433a17.
(3) T55n2153, tr. 433a6.
(4) T49n2034, tr. 119c6.
(5) T55n2154, tr. 19b11.
mật bộ, 2. Hóa địa bộ, 3. Ẩm quang bộ, 4. Thuyết nhất  thiết hữu bộ, 5. Đại chúng bộ.”(1)
Đại tỳ-kheo oai nghi  là bản  toát lược các quy tắc  thường hành của tỳ-kheo  trong  đời sống  thường  nhật, từ  việc  truyền  thọ cụ  túc, tư cách Hòa  thượng, phận sự đệ tử, cho đến công việc quét tước, sử dụng nước. Trong  đó,  khi  đề cập  đến màu sắc  y tỳ-kheo, năm hệ truyền  luật được nói đến với năm màu y quy định khác nhau. Thời Phật tại  thế, y phục tỳ-kheo chỉ  thuần một màu. Về sau Tăng phân thành năm bộ, mỗi bộ có màu y riêng để phân biệt. Tát-bà-đa (Hữu bộ), có nhiều vị học rộng  trí cao, khóac y màu đỏ  thẩm. (2) Đàm-vô-đức  chuyên  trì  luật,  y màu  đen  (xám  tro). (3)  Ca-diếp-duy  tinh tấn dũng mãnh, y màu mộc lan (chàm). (4) Di-sa-tắc chuyên tinh thiền tứ, y màu xanh. (5) Ma-ha-tăng-kỳ siêng học các kinh, phô diễn nghĩa lý, y màu vàng. (6)
Xá-lợi-phất vấn  kinh  ghi  các  câu hỏi của Xá-lợi-phất  liên hệ  các vấn đề  luật và tương  lai của giáo đoàn Tăng. Phật dự ngôn về sự xuất hiện của các bộ phái,  trong đó có năm bộ với sở  trường riêng của mỗi bộ; màu sắc  y cũng  khác  nhau. Ma-ha-tăng-kỳ  khoác  y màu vàng. Đàm-vô-quật-đa-ca (Đàm-vô-đức) khoác y màu đỏ. Tát-bà-đa  y  màu  đen.  Ca-diếp-duy  y  màu mộc  lan.  Di-sa-tắc  y  màu xanh. Màu sắc phân biệt này không đồng nhất với tường  thuật của Đại tỳ-kheo oai nghi.
Sự tường  thuật  khác  nhau về màu sắc  y của  các bộ  như  trên  cho thấy  khó  có  thể  phản  ảnh  trung  thực  sinh  hoạt  thực tế của Tăng đoàn  theo từng bộ phái  thời bấy giờ. Tuy nhiên, xét  theo nội dung và các điều khoản  trong các Giới kinh chúng  ta có  thể  thấy  rõ sự
____________________                                        
(1) T51n2087, tr. 882b10.
(2) Giáng ca-sa 絳袈裟
(3) Tạo ca-sa 皂袈裟.
(4) Mộc lan ca-sa 木蘭袈裟.
(5) Thanh ca-sa 青袈裟.
(6) Hoàng ca-sa 黃袈裟.
khác biệt chỉ là tiểu tiết. Trong tất cả các Giới kinh hiện lưu truyền, các thiên tụ quan trọng như Ba-la-di, Tăng-già-bà-thi-sa, Ni-tát-kỳ, thảy  đều  giống  nhau  giữa  các bộ, về số  điều cũng  như nội  dung. Riêng các điều khoản thuộc Ba-dật-đề có một ít sai biệt. Nhưng xét về nội dung, đây chỉ  là sai biệt về số.  Thí dụ, ba-dật-đề 23  trong Giới bản Pāli, phần lớn không có trong các bộ, trừ Ngũ phần, Tăng kỳ, và Giải  thoát giới của Ca-diếp-di. Về nội dung, Tứ phần nhập chung ba-dật-đề này cùng với ba-dật-đề 22 của Pāli thành một điều duy  nhất. Ba-dật-đề  82  trong Pāli cũng  không  có  trong Tứ  phần, nhưng  được  xem  như  là  điều  tách  riêng từ Ni-tát-kỳ  thứ  30. Như vậy, về số, Pāli có 92 pācittiya, Tứ phần có 90; nhưng về nội dung thì cả hai bộ tương đồng.
Về các pháp chúng học, sự khác biệt giữa các bộ khá lớn. Các pháp chúng học  là  những  quy  định về  tác  phong  đi,  đứng của một tỳ-kheo. Sự khác biệt như vậy  là đương nhiên, tất yếu phải có, do ảnh hưởng tập quán của  xã hội nơi địa phương mà tỳ-kheo  sinh  hoạt. Mặc  dù  có sự  phân  phái về  sau, mà  giáo  nghĩa của mỗi bộ  phái khác biệt nhau nhiều khi đến độ mâu  thuẫn gay gắt, nhưng về mặt sinh hoạt tự viện, các bộ vẫn  tuân  thủ các quy định của Luật tạng nguyên  thủy gần như nhau. Điều  này không  những được  thấy khi đối chiếu các học xứ, mà khi đối chiếu tổ chức và nội dung của các bộ Luật lại càng khẳng định thêm.
Như vậy, từ một bộ Luật nguyên thủy, có thể nói mà không ngại sai lầm,  được  thành lập  ngay từ  cuộc kết tập  đầu  tiên tại Vương-xá dưới sự chủ  trì của Đại Ca-diếp và các A-la-hán. Ngôn ngữ chính thức của bộ Luật nguyên thủy này đến nay chưa có nghiên cứu nào xác  định. Điều gần  như  khẳng  định  là tất  các Luật về  sau  đều  là dịch bản khác nhau từ bộ Luật nguyên thủy này. Hiện nay chúng ta chỉ biết có hai hệ ngôn ngữ chính thức của Luật, là Pāli được truyền thừa từ Tích Lan  và  các xứ Nam  truyền Phật  giáo. Thứ  hai  là hệ Sanskrit  được  chính  thức  truyền  thừa tại Ấn Độ,  truyền  sang  các nước Tây Vực, Trung Hoa và  Tây Tạng.
Quảng  luật,  và Ma-đắc-lặc-già  hay Tì-ni-mẫu  (Mātṛkā)  là  các  thể
loại văn học diễn giải Luật được phát triển về sau. Những bất đồng trong các Luật thư của các bộ phái khác nhau  là do quan điểm giáo nghĩa khác nhau, và cũng do ảnh hưởng bởi hệ thống luật pháp hay định chế xã hội nơi mà bộ phái chọn làm căn cứ địa.
Trong các hệ ngôn ngữ  truyền Luật hiện tại, phong phú nhất  là hệ Hán  ngữ,  bao gồm  các nước  Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Phần Thư mục Luật sẽ cho thấy điều này, phong phú về số lượng phiên dịch với nội dung của nhiều bộ phái khác nhau, và cũng phong phú về mặt chú giải, nghiên cứu. 
Do tính chất phát triển của xã hội Trung Hoa cổ đại, ngay khi Phật giáo mới  truyền vào Trung Quốc, vấn đề Luật cho người xuất gia đã được đặt ra. Vấn đề thật sự không đơn giản trong thời gian đầu. Do bởi tính dị biệt phong tục giữa Hoa và Ấn, hành trì như thế nào cho phù hợp với giáo nghĩa và với  xã hội  hiện  tiền  thật không dễ dàng quyết định.
Trong bài tựa cho Tỳ-kheo đại giới, (1) Đạo An kể lại những khó khăn trong buổi đầu tìm học Luật. Những điều được truyền dịch từ trước phần lớn  sai lầm  do  khó  khăn  trong vấn  đề  ngôn  ngữ.  Phật  Đồ Trừng cũng có sửa một số sai lầm, nhưng vẫn không thể nói  là đầy đủ dù chỉ tương đối. Có lẽ bấy giờ chưa có bản dịch chính thức nào về giới kinh của Tỳ-kheo. Theo Cao tăng  truyện, (2) Huệ Hạo, có lẽ bản dịch sớm  nhất  là  Tăng-kỳ  giới  tâm  do  Đàm-kha-ca-la  ,  hay Đàm-ma-ca-la  (Dharmakāla,  Pháp  Thời) dịch,  trong  khoảng  niên hiệu  Gia  bình  thời  Ngụy  (ca  AD.  249-254).  Đàm-ma-ca-la  được xem là người tổ chức giới đàn thọ cụ túc đầu tiên tại Trung Quốc, y theo Luật. Xuất Tam tạng ký tập không thấy ghi Giới kinh này, thay vào  đó  là  Tăng-kỳ tỳ-kheo  giới bản,  1  quyển,  nhưng  được  ghi  là khuyết bản tức bản văn cũng đã thất truyền, không rõ dịch giả. (3)
_______________________                                        
(1) Xuất Tam tạng ký tập, T55n2145, tr. 80a16.
(2) T50n2059, tr. 324c15, truyện Đàm-kha-ca-la.
(3) T55n2145, tr. 11c28
Như Đại tỳ-kheo oai nghi đã nói  trên, có  thể coi  là  tác phẩm Luật sớm  nhất  được  phiên dịch, cũng  chỉ  là bản  liệt  kê  các  quy tắc thường  hành của tỳ-kheo  chứ  chưa  phải  là Giới  kinh  đầy  đủ. Về sau, từ Tương Dương đến Quan Hữu, Đạo An gặp ngoại quốc sa-môn  là Đàm-ma-trì chuyên tụng A-tì-đàm và cũng thuộc lòng Giới kinh tỳ-kheo. Đạo An mới đề nghị Trúc Phật Niệm chép lại Phạn bản, Đạo Hiền  thông dịch, Huệ Thường bút thọ. Đây có thể  là bản dịch Giới kinh tỳ-kheo đầu tiên. (1) Nhưng văn từ có nhiều chỗ trùng lặp phiền phức, Đạo An đề nghị Huệ Thường  san định lại, cắt bỏ những  đoạn  trùng lặp.  Huệ  Thường  không  dám,  cho rằng  như Thượng  thư và Hà Lạc,  tuy văn từ chất phác mà không ai dám tự tiện sửa  chữa,  huống  chi  giới  Phật  chế  là  điều  Thánh  Hiền  tôn trọng,  làm  sao dám sửa đổi,  trau chuốt cho phù hợp ngôn ngữ địa phương.
Trên đây là tổng quan về tình hình truyền dịch Luật trong thời gian đầu tại Trung Quốc. Để tiện việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các hệ luật,  trong các phụ lục sau đây sẽ lập các bảng đối chiếu. Bảng 1, gồm  hai  phần.  Phần A,  đối  chiếu tổ  chức  các bộ,  chủ yếu  là  Tứ phần, Ngũ  phần  và Pāli.  Phần B,  đối  chiếu  Phạn bản  hiện  hành, cùng với Thập tụng và Tứ phần. Bản Phạn này không có phần Giới kinh phân biệt, tức nguyên nhân Phật quy định các học xứ cùng các yếu tố quy định mức vi phạm. Đây  là hệ  luật thuộc Căn bản thuyết nhất  thiết hữu bộ, hệ  luật  chính  thức  được  truyền tại  Tây Tạng. Bảng  này  cho  thấy sự  thống  nhất về  hình  thức tổ  chức Luật tạng của  các bộ  phái mà  tính  thống  nhất  nguyên  thuỷ  có  thể  thấy  rõ. Bảng 2, so sánh những sai biệt giữa các bộ luật về học xứ. Bảng đối chiếu này cũng chia làm hai phần. Phần A, đối chiếu thiên tụ, từ ba-la-di cho đến diệt tránh. Trong đó 12 giới kinh của các hệ luật được đối chiếu. Phần B. đối chiếu các học xứ. Ở đây, về các học xứ của tỳ-kheo, sáu hệ  luật được đối chiếu. Về các học xứ tỳ-kheo-ni, chỉ đối chiếu giữa Tứ phần và Pāli.
 _________________________                                       
(1) ibid. T55n2145, tr. 14c23: Tỳ-kheo giới bản, Đàm-ma-trì, xuất từ Thập tụng.
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »