Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Kinh Pháp Hoa Giữa Các Kinh Điển Đại Thừa

Kinh Pháp Hoa Giữa Các Kinh Điển Đại Thừa

Tác giả: Thích Thiện Siêu. Năm xuất bản: 1999. Số trang: 431.

Chương 5: Bố Cục Kinh Pháp Hoa (Trang 35 - 46)

BỐ CỤC
KINH PHÁP HOA

Kinh Pháp Hoa là một bộ kinh được dịchra Hoa văn rất sớm, vào năm 286 TL do ngài trúc Pháp Hộ dịch đề ra Chánh Pháp Hoa Kinh, 10 quyển. Trước đó không lâu vào năm 256 TL, tại Giao Châu có ngai Chi Cương Lương cũng dịch lấy tên là Pháp Hoa Tam Muội, 6 quyển. Nhưng hiện nay trong Đại Tạng kinh chỉ có một quyển Pháp Hoa Tam Muội do Trí Nghiêm đời Lưu Tống dịch. Đời Dao Tần, ngài la Thập dịch vào năm 404 lấy tên Diệu Pháp Liên Hoa, 7 cuốn. Đời Tuỳ năm 601 TL hai ngài Xà Na và Cấp Đa cũng dịch lấy tên là Thiêm phẩm Diệu Pháp Liên Hoa, 7 cuốn. Bộ kinh Pháp Hoa được chúng ta nghiên cứu học hỏi là bộ của ngài La Thập(1) dịch, gồm 7 cuốn, 28 phẩm. Thiên Thai tông chọn bộ kinh này là bản kinh chính yếu để lập tông, và chia 28 phẩm ra làm hai phần : Phần đầu gồm 14 phẩm trước gọi là Tích môn

tích hoá, gọi tắt là Tích môn, phần sau gồm 14 tác phẩm sau gọi là Bản môn bản hoá, gọi tắt là Bản môn. (Môn đây không phải là cửa mà là phương tiện).
          Sự hoá độ của đức Phật có dấu tích, hiển hiện ra giữa trần gian cho chúng sanh nghe được thấy được rõ ràng, gọi là Tích môn. Tích phải có gốc từ đó mà phát sanh, cái gốc đó là Bản môn. Đức Phật Thích Ca hiện ra ở đời tất phải từ một đức Phật Vô lượng thọ, và giáo pháp Ngài giảng cũng là pháp Ngài đã chứng từ Vô lượng kiếp, gọi là Bản môn. Như ánh trăng chiếu trên sông hồ, khi có khi không, khi còn khi mất, do nước có đầy, vơi, trong, đục mà ra, nhưng trăng trên trời thì luôn luôn có. Bản môn tức thọ mạng của đức Phật và giáo pháp của Ngài. Sự giáo hoá của Ngài là vĩnh cửu, song Tích môn tuỳ giai đoạn, căn cơ, nghiệp lực chúng sanh mà có nơi hiện nơi không. Nói thế để biết, sự nhập Niết-bàn của đức Phật tại rừng Sa La là sự Niết-bàn của Tích môn, đó là sự vắng bóng của trăng trong nước. Sự hiện sanh của Phật ở vườn Lâm-tỳ-ni cũng thế, chỉ
là sự hiện diện của Tích môn. Còn đức Phật cả Bản môn thì không sanh không diệt, như trăng trên trời. Chúng hội trong Tích môn là chúng hội ở thế giới Ta-bà uế độ này, tại Kỳ-viên tinh xá ; còn chúng hội trong Bản môn, ngay từ phẩm 11 trở đi, là chúng hội siêu thời gian không gian, không phải như ở trong Tích môn có người ở Ta-bà nghe kinh và Kỳ-viên là nơi chốn.
          Nay chúng ta hãy phân tích phần bố cục của bản kinh.
          Kinh Pháp Hoa gồm có 2 phần : Phần Tích môn và phần Bản môn.
I.  PHẦN TÍCH MÔN
          Phần Tích môn gồm 14 phẩm trước.
          Trong phần Tích môn, thì phẩm Tựa đầu tiên bao gồm nhiều ý nghĩa tổng quát. Từ phẩm thứ 2 : Phương tiện, phẩm 3 : Thí dụ, phẩm 4 : Tín giải, phẩm 5 : Dược thảo, phẩm 6 : Thọ ký, phẩm 7 : Hóa thành, phẩm 8 : Ngủ bách đệ tử thọ ký, và phẩm thứ 9 : Thọ học vô học ký, đặc biệt nói về Tích môn, trong đó phẩm Phương tiện là chủ yếu. Còn 7 phẩm kế tiếp kia chỉ là diễn rộng đạo lý ở phẩm
này cho hàng căn cơ chậm hiểu. Thiên Thai chia phần Tích môn ra Tam châu thuyết pháp (châu có nghĩa là toàn vẹn). Trong việc khai quyền hiển thật , thì phẩm Phương tiện là Pháp thuyết châu, chỉ có hàng Thanh Văn thượng căn mới hiểu, như Tôn giả Xá-lợi-phất được đức Phật thọ ký ngay. Lần thứ hai, đức Phật phải giải thích bằng ba thí dụ là Dụ thuyết châu, nghĩa là thay vì nói thẳng điều cần nói như ở phẩm Phương tiện, ở đây Ngài dùng ba thí dụ : Ba cỏi nhà lửa (Hoả trạch) : Đứa con khốn cùng (Cùng tử) và : Cây thuốc (Dược thảo) để cho hàng trung căn tín giải và được thọ ký trong lần này như 4 vị : Tu-bồ-đề, Mục-kiền-liên, Ca-diếp và Phú-lâu-na. Ở phần Dụ thuyết châu này gồm 4 phẩm : Thí dụ, Tín giải, Dược thảo và Thọ ký. Lần thứ ba gọi là Nhân duyên thuyết châu, gồm phẩm Hóa thành dụ, Ngũ bách đệ tử, Thọ học Vô học ký. Ở đây đức Phật nhắc lại cho các đệ tử Thanh Văn nhớ lại nhân tu của họ trong quá khứ. Họ đã từng gặp đức Phật, phát tâm Đại thừa mà nay bị quên đi, nên đức Phật nhắc cho họ nhớ bản nguyên để phục hồi cái tâm hướng
Đại thừa của họ. Lần này rất đông người ngộ giải và đựoc thọ ký. Tuy đề phẩm là Ngũ bách thọ ký, nhưng kỳ thật, trong 1250 vị, nhưng 500 vị này danh tiếng mà thôi. Lần này, chẳng những hàng La-hán vô học được thọ ký, mà cả hàng hữu học cũng được thọ ký. Đây gọi là hàng hạ căn đắc ký.
          Đối tượng thuyết pháp mà đức Phật nhắm đến là hàng Thanh Văn hồi tiểu hướng đại, khiến họ đi vào Nhất thừa. Nói rộng ra, là Ngài thọ ký cho tất cả chúng sanh. Có hai lối thọ ký : Biệt thọ ký và Thông thọ ký. Biệt thọ ký là thọ ký cho từng người, từng nhóm người, họ sẽ thành Phật ở thế giới tên gì ? Phật hiệu gì…? Hàng Thanh Văn được thọ ký trong hội Pháp Hoa là biệt thọ ký. Nhưng về sau, có sự thọ ký chung cho những người sau khi đức Phật đã Niết-bàn. Bởi vì trong một hội chúng nghe pháp bao giờ cũng có bốn hạng người “
          1. Chúng khải thỉnh : Là những người thưa thỉnh đức Phật nói pháp cho mọi người khác được nghe. Họ là những vị Bồ-tát đã ngộ, nhưng phương tiện thưa hỏi là vì chúng sanh,
Hoặc là những người “dương cơ” mà lợi căn biết đặt câu hỏi.
          2. Chúng đương cơ : Là đối tượng chính của buổi thuyết pháp. Đức Phật nhắm ngay hạng người này mà nói pháp, vì hạng này có thể lãnh hội lời đức Phật dạy. Trong hội Pháp Hoa, chúng đương cơ là hàng Thanh văn hồi tiểu hướng đại, được đức Phật dùng phương tiện dắt dẫn lên Nhất thừa.
          3. Chúng tán dương : Là những vị Bồ-tát đã được thọ ký, đã nghe kinh này rồi, nhưng vẫn ngồi đó để tán dương Phật pháp, tán dương sự nói Pháp và người nghe Pháp.
          4. Chúng kết duyên : Là hạng người nghe 10 câu mà chỉ hiểu một, nghe sau quên trước, nhưng đó vẫn là một cách kết duyên, để sau này được hiểu Phật và làm Phật vậy.
Nói tóm lại, chúng đương cơ trong kinh Pháp Hoa là hạng người nào đã hiểu được tinh thần kinh.
          Trên đây là tóm tắt ý nghĩa 9 phẩm trước.
          Từ phẩm 10 : Pháp sư, phẩm 11 : Bảo tháp xuất hiện, phẩm 12 : Đề-bà-đạt-đa, phẩm
13 : Phẩm trì và phẩm 14 : An lạc hạnh là bổ túc cho 8 phẩm trước, là những phẩm chính của Tích môn tích hóa. Trong phẩm thứ 10 này Phật thọ ký chung cho tất cả những ai có nghe Kinh, niệm Phật. Vì vậy, đạo lý Pháp Hoa, đạo lý cần được tuyên dương hoằng hoá, và người nói kinh này cần thành tựu ba việc để sự nói Kinh được viên mãn, đó là Nhập Như Lai thất, Trước Như Lai y, Toạ Như Lai toà (Nhà Như Lai – Toà Như Lai).
          Phẩm Hiện Bảo tháp thứ 11, một bảo tháp của Phật Đa Bảo từ dưới đẩ vọt lên khen ngợi. Ý nghĩa ở đây là : Phật vốn bất diệt. Đức Phật Đa Bảo diệt mà bất diệt, để hiểm thị đức Phật Thích Ca sanh mà không sanh. Hai Ngài ngồi chung một tòa, bởi vì cùng bất sanh bất diệt như nhau. Lại nữa, Đa Bảo còn là biểu thị Phật tánh sẵn có trong đất phiền não khi gặp được kinh Pháp Hoa thì hiển lộ.
          Phẩm Đề-bà-đạt-đa thứ 12, trong những kinh khác, Đề-bà là một người tạo đủ các tội lỗi, nghiệp chướng nặng nề. Nhưng đến kinh Pháp Hoa thì Phật cho biết vô lượng kiếp về
trước, Đề-bà đã là thiện tri thức giúp Ngài thành Phật qua việc ông đã nói lại kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Chứng tỏ năng lực kinh này đã làm cho Phật thành Phật, và cũng làm cho một người ác như Đề-bà mà cũng thành thiện tri thức được là nhờ nói lại kinh Pháp Hoa. Lại còn có Long Nữ thành Phật làm cho Tôn giả Xá-lợi-phất phải ngạc nhiên : Đã làm súc sanh, lại mạng thân nữ, ở đời coi như vậy là hết chỗ đứng, vậy mà vẫn thành Phật được, chứng tỏ những chúng sanh nào tin được kinh này đều thành Phật, và chứng đắc đạo lý Phật tánh bình đẳng của Pháp Hoa là không phân biệt nam, nữ, trời, rồng, người hay súc sanh. Thật là một sự bình đẳng tuyệt đối.
          Phẩm Trì thứ 13, hàng Bồ-tát và Thanh Văn, sau khi được nghe kinh và được thọ ký, phát nguyện thọ trì và lưu bố kinh dù gặp ác nạn.
          Phẩm An Lạc Hạnh thứ 14, muốn nói kinh Pháp Hoa ở đời ngũ trược khỏi bị chướng ngại phải an trú 4 hạnh là : Không tịch hạnh, ly kiêu mạn hạnh, và từ bi hạnh. (Hay thân an lạc hạnh, khẩu an lạc
hạnh, ý an lạc hạnh và thề nguyện an lạc hạnh).
Đó là ý nghĩa của 14 phẩm thuộc phần Tích môn.
II.  PHẦN BẢN MÔN
          Từ phẩm 15 trở về sau cho đến hết phẩm 28.
          Phẩm Tùng địa dũng xuất thứ 15, từ cảnh này trở đi toàn nói đến những cảnh giới vượt ngoài tầm hiểu biết thông thường của người phàm. Từ dưới đất trồi lên vô số Bồ-tát, như ở phẩm 11, tháp đức Phật Đa Bảo từ dưới đất vọt lên (p15), phẩm này cùng với phẩm 16 là : Sự sống lâu của đức Thế Tôn (Như Lai thọ lượng) là phần chính của Bản môn. Đức Phật nói : “Ta vốn ở trong Ta-bà thế giới này từ vô lượng kiếp chứ không phải mới sanh”. Bản môn này là gốc, từ đó mà có ra Tích môn, là sự đản sanh của đức Phật tại Lâm-tỳ-ni vậy.
          Tiếp đến, đức Phật phân biệt công đức của người trì kinh ở phẩm 17 : Phân biệt công đức. Phẩm 18 : Tuỳ hỷ công đức là tuỳ hỷ với người nghe kinh, khuyến khích người khác
nghe Pháp Hoa (mặc dù mình không nghe cũng được có công đức thuộc hạ phẩm.
          Phẩm Pháp sư công đức thứ 19 là chỉ cho trung phẩm công đức nhờ nghe, đọc tụng, diễn nói kinh này.
          Phẩm Thường Bất Khinh thứ 20, nói đến thượng phẩm công đức của ngài Thường Bất Khinh, tức công đức thực hành hạnh Pháp Hoa.
          Nói xong phẩm này, đức Phật hiện thần lực (phẩm 21) để chứng minh thêm công đức đó, và Chúc lụy (phẩm 22) rằng kinh này nên được lưu truyền rộng rãi.
          Từ phẩm 23 : Việc cũ của Bồ-tát Dược vương, phẩm 24 : Bồ-tát diệu âm, phẩm 25 : Quan Âm đại sĩ, phẩm 26 : Đà-la-ni, phẩm 27 : Diệu Trang Nghiêm Vương và phẩm 28 : Phổ Hiền Khuyến Phát có thể gọi là phần lưu thông, sự hoằng kinh Pháp Hoa do những vị Bồ-tát , hoằng kinh bằng những khổ hạnh của mình như phẩm Dược Vương, Diệu Âm. Hoằng kinh do sự cứu khổ nạn cho chúng sanh như phẩm Quán Thế Âm (Phổ Môn) hay bằng thần chũ lực hộ trì cho người đọc tựng diễn nói
Pháp Hoa như phẩm Đà-la-ni. Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương kể một ông vua tà kiến, nhưng có bà vợ và hai con trì kinh Pháp Hoa đã tìm đủ cách để cải hóa cha, cuối cùng vua chịu đi nghe kinh Pháp Hoa mà thành Bồ-tát. Đây là nội lực hộ trì của kinh, có năng lực cải tà quy chánh. Phẩm Phổ Hiền là phẩm khuyến khích hoằng kinh.
          Ngài Trí Khải cho 14 phẩm sau này là Bản môn Bản hoá, nhưng chủ yếu Bản môn chính thật là chỉ có 2 phẩm 15 và 16.
          Đó là ý nghĩa của 14 phẩm thuộc phần Bản môn còn lại.
*
*    *
_____________
            (1) Cưu-ma-la-thập sinh năm 344 ở Kucha, một nước ở Trung Á, giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Năm 7 tuổi La Thập đã vào ở tu viện sau đó Ngài được gởi đi Ấn Độ để học Phật giáo Đại Thừa.
            Khi về lại quê nhà, Thầy Ngài là Suryasoma đã dạy Ngài Kinh Saddharma-pundarika-sùtra (Diệu Pháp liên Hoa Kinh). Năm 401 Ngài đến Tràng An kinh đô của Hậu Tần theo lời mời của Vua. Lúc ấy Ngài đã 62 tuổi  và được vua phong quốc sư, và mất năm 72 tuổi (431).
            Ngài là người tinh thông Phạn và Hoa ngữ. Kinh Pháp Hoa và các Kinh do Ngài phiên dịch (có đến cả ngàn người phụ việc) do đó có thể kết luận rằng bản dịch Kinh Pháp Hoa từ Phạn sang Hoa sau đó đóng vai trò rất quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc. Trí Giả (538-97) sau đó đã nghiên cứu rốt ráo tất cả các Kinh điển của Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa và viết ra sớ luận tuyệt diệu về Pháp Hoa như Pháp Hoa Huyền Nghĩa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa), Pháp Hoa Văn Cú (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú) với ngài Quán Đánh và Ma-ha Chỉ Quán. Như thế, Kinh Pháp Hoa đã phổ biến sâu rộng khắp Trung Quốc, du nhập vào Nhật xuyên qua Cao Ly. Việt Nam chúng ta Kinh Pháp Hoa cũng được truyền rất sớm.
/22
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »