d). Kết đáp : Văn Thù đáp, quá khứ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi hiện 6 điềm lành, xuất định liền giảng kinh Pháp Hoa, nên biết hôm nay đức Thích Ca cũng hiện 6 điềm lành, như vậy sau khi xuất định Ngài cũng giảng kinh Pháp Hoa. Cuối cùng là bài kệ trùng tuyên lời đáp của Văn Thù.
II. PHẦN KINH VĂN
Kinh văn : Như vậy tôi nghe.
Một thời đức Phật ở núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỳ-kheo một vạn hai ngàn người đều đông đủ. Đều là những bậc A-la-hán các lậu đã hết, không còn phiền não, đã được lợi mình, hết các hữu kiết, tâm được tự tại, tên là A-nhã Kiều Trần Như, Ma-ha Ca Diếp… (lược) các vị đại A-la-hán như vậy là những vị chúng đều biết.
Giải thích : Như thị ngã văn.
Pàli dùng chữ evam me suttam. Evam có nghĩa là như vậy, bao hàm ý nghĩa tin thuận.
Nếu như thị có nghĩa là như thật, như như thì Phạn âm là tathata chứ không dùng chữ evam. Bởi khi Tôn giả A-nan kết tập đầu tiên để chữ Như thị có nghĩa rằng điều tôi nghe đây là đúng như vậy, Phật nói như vậy tôi nghe đúng như vậy, mà nghe đúng như vậy với lòng tin thuận theo lời Phật nói. Nếu như nghe mà không tin thuận theo thì không gọi là như vậy. Tin thuận theo lời Phật dạy, nghe lời Phật dạy, Ngài nói như thế nào, bây giờ thuật lại đúng như thế đó, không thêm không bớt, và trực tiếp nghe Phật nói, chứ không phải nghe từ một người khác nói lại nên gọi như vậy. Do lẽ chính từ Tôn giả A-nan tín thuận chắc chắn như vậy, nên gây được lòng tin cho người đọc kinh sau này chắc lời đó là Phật nói. Cho nên đầu tiên vào kinh để Như thị ngã văn là lý do đó.
Bấy giờ đức Phật trú tại núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương xá cùng với chúng Tỳ-kheo như vậy… Các vị ấy đều là bậc đại A-la-hán, các lậu đã đứt. Thế nào gọi là các lậu ? Lậu có nghĩa là lọt, rơi rớt, rỉ, đó là một tên khác của phiền não, của kiết sử. Lậu có ba ý nghĩa :
-
Tiết lậu lục căn môn : Phiền não tham sân uế trược rỉ ra ở sáu căn.
-
Lậu thất chánh đạo : Làm lọt mất chánh đạo.
-
Lậu lạc tam giới : Bị trôi lăn trong ba cõi.
Các lậu là : Dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Ba thứ này làm phiền phược chúng sanh trong tam giới mà các bậc A-la-hán đã dứt sạch những thứ đó, ra khỏi ba cõi nên gọi là vô sanh không còn phiền não, không còn kiết sử, tâm được tự tại, nên gọi “chư lậu dĩ tận”. Các vị tâm được tụ tại thành bậc A-la-hán rất nhiều, như Tôn giả Xá-lợi-phất : Trí tuệ đệ nhất, Tôn giả Mục-kiền-liên : Thần thông đệ nhất… mỗi vị mỗi hạnh. Người thì chuyên tu đầu đà, người thì chuyên tu mật hạnh, và có vị thì chuyên tu hạnh thiểu dục tri túc như ngài Bạc-câu-la. Trong A Dục Vương truyện có kể rằng : Sau khi vua A Dục hồi đầu theo Phật, ông ăn năn hối cải tội ác, nên hết lòng phát huy đạo pháp, cất chùa xây tháp, cúng dường Xá-lợi…, Một hôm nhà vua đi chiêm bái tháp Phật và Thánh Tăng, mỗi tháp nhà vua
đều cúng dường lễ lạy và mỗi tháp nhà vua đều hỏi lại công đức tu hành của các ngài, ngài nào cũng có công hạnh to lớn, nhưng khi đến tháp ngài Bạc-câu-la thì biết ngài chẳng có công hạnh gì cả, duy chỉ có hạnh thiểu dục tri túc mà thôi, cho nên vua A Dục chỉ cúng dường một đồng tiền. Nhưng lạ thay, khi nhà vua về đến cung điện thì một đồng tiền cúng dường nơi tháp ngài Bạc-câu-la lại được hoàn trả lại. Bấy giờ vua A Dục mới càng kính phục hạnh thiểu dục tri túc của Ngài.
Kinh văn : Lại có hàng Hữu học và Vô học hai ngàn người. Lại có Ma-ha Ba-xà-ba-đề Tỳ-kheo-ni và quyến thuộc sáu ngàn người đông đủ. Mẹ của La-hầu-la là Da-du-đà-la Tỳ-kheo-ni cùng với quyến thuộc đông đủ.
Bồ-tát Ma-ha-tát, tám vạn người đều là những vị không thối chuyển vô thượng chánh đẳng Bồ-đề, chứng được pháp Đà-la-ni, lạc thuyết biện tài.
Giải thích : Đà-la-ni gọi là tổng trì. Tổng trì có bốn nghĩa : Văn tự tổng trì, Pháp tổng trì, Hành tổng trì, Giải tổng trì. Sự hiểu biết
được giữ gìn chặt chẽ, đối với pháp hiểu biết trọn vẹn... cũng gọi là Đà-la-ni.
Lạc thuyết biện tài, đây là một trong bốn món vô ngại biện. Nói về vô ngại biện, tức là đứng nề mặt ứng dụng. Còn về mặt hiểu biết thì gọi là bốn vô ngại giải, đó là : Pháp vô ngại giải, nghĩa vô ngại giải, từ vô ngại giải và lạc thuyết vô ngại giải.
Bốn vô ngại biện gồm có :
1. Pháp vô ngại biện : Đối với Tam tạng kinh điển, hiểu biết trên phương diện ngôn thuyết năng thuyên.
2. Nghĩa vô ngại biện : Biết được trên phương diện lý nghĩa sở thuyên.
Thuyên : Nói. Năng thuyên : Hay nói. Sở thuyên : Được nói. Ngôn giáo là năng thuyên, lý nghĩa là sở thuyên. Hiểu như thế để đừng kẹt mắc vào ngôn giáo, lấy ngôn giáo làm lý nghĩa tức là y nghĩa bất y ngữ. Pháp vô ngại biện chỉ về mặt năng thuyên : Ngôn giáo. Nghĩa vô ngại biện chỉ về mặt sở thuyên : Nghĩa lý.
3. Từ vô ngại biện : Sự vận dụng ngôn từ, cú pháp, văn phạm, rành rẽ, mạch lạc.
4. Lạc thuyết vô ngại biện :
a) Vui vẽ đem giáo pháp Phật ra truyền bá.
b) Trong sự truyền bá gây được niềm vui cho người nghe
Trong 4 vô ngại biện được đúc kết thành hai chữ như trong kinh Lăng Già :
- Tông thông (gồm pháp và nghĩa) : Thông suốt về mặt tôn chỉ giáo nghĩa.
- Thuyết thông (từ và lạc) : Thông suốt về phương diện trình bày diễn tả.
Kinh văn : Chuyển pháp luân bất thối, cúng dường vô lượng trăm ngàn các đức Phật, đối với chư Phật, gieo các gốc lành, thường được các đức Phật tán thán. Những vị này lấy từ bi để tu thân, khéo đi vào trí tuệ Phật, thông đạt đại trí, đến bờ bên kia. Những vị đó danh tiếng khắp cả vô lượng thế giới hay độ vô số trăm ngàn chúng sanh.
Giải thích : Dĩ từ tu thân thiện nhập Phật tuệ. Dĩ từ thu thân : Tức đem thân hành động theo những pháp lành, lợi lạc. Thiện nhập Phật tuệ : Là vào trí tuệ Phật. Tam
tạng giáo điển là cửa ngỏ đi vào trí tuệ Phật, tu hành quán niệm là cửa ngỏ đi vào trí tuệ Phật. Nhưng nếu không khéo đi thì cũng không vào được nên trong kinh dùng chữ “Thiện”.
Kinh văn : Những vị đó tên là Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Quán-thế-âm Bồ-tát... (lược). Các vị đại Bồ-tát như vậy gồm có tám vạn người đông đủ.
Bấy giờ Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với quyến thuộc hai vạn thiên tử đông đủ.
Lại có Minh Nguyệt thiên tử,... và tứ đại Thiên Vương cùng với quyến thuộc một vạn thiên tử câu hội. Với Tự tại thiên tử, đại Tự tại thiên tử, cùng với quyến thuộc ba vạn thiên tử đông đủ.
Giải thích : Đây là những vị trời ở Lục dục giới, gồm có : Tứ thiên vương, Đao-lợi thiên, Dạ-ma thiên, Đâu-suất-đà thiên, Hoá-lạc thiên, Tha-hoá-tự-tại thiên.
Kinh văn : Bấy giừo Ta-bà thế giới chủ đại Phạm thiên vương... cùng với hai vạn quyến thuộc đông đủ.
Giải thích : Ta-bà thế giới chủ hay Tam
thiên đại thiên thế giới. Hai danh từ đó trên phương diện thể cách giống nhau.
Tam thiên đại thiên có hai thuyết khác nhau :
1. Tứ châu, Tứ ác thú, Lục dục Tinh Phạm thiên : Tứ châu, Tứ ác thú, Lục dục, Phạm thiên, như thế gọi là một thế giới thuộc một thái dương hệ. Một ngàn thế giới như vậy gọi là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn lần tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới. Một ngàn lần trung thiên thế giưói gọi là một đại thiên thế giới, tức thế giới ba lần ngàn. Nhưng Tam thiên đại thiên thế giới như vậy chỉ ngang Sơ thiền trở xuống.
2. Tứ châu, Tứ ác thú, Lục dục Tinh Phạm thiên : Đó là một tiểu thế giới. Một ngàn lần Phạm thiên như vậy bằng một nhị thiền thiên ; một ngàn nhị thiền thiên bằng một tam thiền thiên ; một ngàn tam thiền thiên bằng một tứ thiền thiên, hay tam thiên đại thiên thế giới. Tam thiên đại thiên thế giới này lên đến cõi Tứ thiền. Đây là cõi sở hoá của đức Phật Thích Ca. Cõi này còn được gọi là Sách-ha thế giới hay Ta-bà thế giới, nghĩa
là thế giới cam chịu mọi thống khổ.
Kinh văn : Có tám Long vương, Nan-đà long vương... đều cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại có bốn Khẩn-na-la vương (Ca thần)… cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại có bốn Càn-thát-bà vương (Nhạc thần)… cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại có bốn A-tu-la vương… cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Lại có bốn Ca-lầu-la vương (Kim sí điểu)… cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Và con bà Vi-đề-hy, là vua A-xà-thế cùng với bao nhiêu trăm ngàn quyến thuộc đông đủ.
Mỗi mỗi lễ Phật xong, lui ngồi một bên.
Giải thích : Từ đây trở về trước là chúng hội trong hội Pháp Hoa. Trong hội này có vua A-xà-thế, đó là một ông vua có vị trí rất lớn trong Phật giáo và có một lịch sử kỳ lạ nhất :
Ông là bạn thân của Đề-bà-đạt-đa (khi ông chưa theo Phật) cùng Đề-ba -đạt-đa hại Phật, nhưng chính ông cúng là người ngoại hộ đặc biệt nhất trong Đại hội Kiết tập lần thứ nhất sau khi Phật Niết-bàn. Đó là bản thân ông đối với Phật giáo. Còn con người và cuộc đời ông thì sao?
Hoàng tử A-xà-thế (Vị sanh oán hay chiết chỉ) con Bình-sa vương và bà Vi-đề-hy. Một hôm, A-xà-thế bị Đề-bà-đạt-đa xúi dục giết cha để cướp ngôi, rủi thay âm mưu bị bại lộ, bị bắt quả tang. Đáng lẽ bị trừng trị, nhưng vì thương con, Bình-sa vương nhường ngôi cho ông.
Đã không biết ơn, A-xà-thế lại còn hạ ngục vua cha và ra lệnh bỏ đói cho cha chết lần chết mòn ; chỉ một mình hoàng thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi, bà giấu đồ ăn trong áo đem cho chồng. A-xà-thế hay được quở trách mẹ. Lần sau bà giấu thức ăn trong búi tóc, A-xà-thế cũng biết được. Cùng đường bà tắm rửa sạch sẽ rồi thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường và sữa. Vua gạt lấy món ăn này ăn cho đở đói, nhưng
A-xà-thế cũng bắt được và ông ra lệnh cấm hẳn mẹ không cho vào thăm nữa.
Lúc ấy Bình-xa vương cam chịu đói nhưng không oán trách con, vua cho đó là oan nghiệp tiền khiên có vay phải có trả, nên cố gắng Tham thiền và đắc quả Tu-đà-hoàn. Thấy cha vẫn vui tươi nên A-xà-thế quyết giết cha cho khuất mắt. Ông hạ lịnh cho người thợ cạo vào ngục lấy dao bén gọt gót chân, lấy dầu và muốt xát vào rồi hơ trên lửa cho chết.
Khi người cha bất hạnh thấy thợ cạo đến thì mừng thầm, ngở rằng con mình đã ăn năn hối cải nên cho người đến cạo râu tóc cho mình để rướt về cung. Vua đâu ngờ chính anh thợ cạo đến để đem lại cho vua một cái chết thê thảm.
Cùng ngày ấy, vợ A-xà-thế vừa hạ sinh một hoàng nam. Hay tin chánh hậu hạ sanh một hoàng nam, nỗi vui mừng của A-xà-thế không sao tả được ; tình thương người cha lần đầu tiên chớm nở trong lòng ; mặn nồng sâu sắc. Đứa con đầu lòng là một nguồn hạnh phúc cho cha mẹ. Chính đứa con đã đem đến tình yêu thương mới mẻ, đậm đà vô cùng trong
sạch, khiến họ có cảm tưởng rằng máu huyết của mình đã nhỏ giọt ra để nối tiếp mình.
Vừa lúc ấy A-xà-thế sực nhớ đến cha, bỗng nhiên ông đức phắt dậy kêu lên như điên : “Hãy mau lên, thả ra lập tức người cha yêu quý ấy của Trẫm”. Nhưng than ôi ! Người cha yêu quý ấy đã ra người thiên cổ.
Khi hay tin cha chết, Vua hối hận đi tìm mẹ và hỏi : “Thưa mẫu hậu khi con còn nhỏ, phụ hoàn có thương con không ?
- Hoàng nhi ơi ! cho đến giờ này con mới hỏi thì đã muộn rồi ! Mẹ tưởng trên thế gian này không tìm đâu cho ra một người cha hiền lành như cha của con. Để mẹ kể lại cho con nghe : Lúc mẹ còn mang con trong bụng, một ngày kia mẹ nghe thèm lạ lùng một món kỳ quái, mẹ thèm nút vào giọt máu trong bàn tay mặt của cha con. Mẹ đâu dám nói ra. Rồi càng ngày càng xanh xao và cuối cùng phải nói thật với cha con. Khi nghe vậy cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ nút máu. Lúc ấy các nhà chiêm tinh trong triều đình tiên tri rằng, con sẽ là người thù của cha con. Do đó, con có tên là A-xà-thế ( Vị sanh oán : Kẻ thù chưa sanh).
Mẹ có ý định phá thai nhưng cha con không cho. Khi sanh con ra, mẹ nhớ đến lời tiên tri nên một lần nữa muốn giết con và lần này cha con cũng cản mẹ. Một hôm, con có một mụn nhọt trên đầu ngón tay, đau nhứt vô cùng, khóc suốt ngày đêm không ai vỗ con ngủ được. Cha con đang thiết triều, nghe vậy cầm lòng không đậu, bế con trong lòng và không ngần ngại ngậm ngón tay con trong miệng nhè nhẹ nút cho con đỡ đau. Gớm thay, mụt nhọt vỡ, máu mủ tuôn ra trong miệng cha con, và sợ lấy ngón tay con ra sẽ đau nên cha con nuốt luôn cả máu lẫn mủ… Càng nghe mẹ kể, A-xà-thế vô cùng hối hận ăn năn.
Đó là cuộc đời và con người của A-xà-thế. Nhưng rồi sau đó ông hồi tâm theo Phật xin sám hối, và chính ông là người ngoại hộ đắc lực nhất trong thời Phật và trong kỳ đại hội Kiết tập lần đầu.
Trong phần kinh văn có mô tả số chúng hội : Nào là Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Bồ-tát, Thiên, Long… Số nào cũng là trăm ngàn vạn ức chứ không phải chỉ có 1250 vị như thường nghe. Đó là điểm đặc biệt của kinh văn đại thừa,
Khác với kinh văn tiểu thừa. Vì sao ? Vì bởi kinh điểm Đại thừa đứng trên quan điểm : Tất cả chúng sanh đều thành Phật ; đứng trên quan điểm : Bồ-tát hạnh, lấy “sự” để truyền “tâm” (dĩ tướng hiển tánh, chỉ vật truyền tâm chỉ thị từ tâm biến vật). Với tinh thần rộng lớn như vậy, cho nên đồ chúng rộng lớn, không gian rộng lớn. Ở đây, ý niệm không gian thời gian theo thường tình bị xem nhẹ. Thời gian không gian không cố định, không ranh giới, vượt biên cương. Cho nên hội chúng của kinh Đại thừa rất đông, không phải 1250 vị mà là trăm ngàn vạn ức, cũng như Phật thuyết kinh Pháp Hoa không phải một hai tuần… mà là 60 tiểu kiếp. Vì với tâm Bồ-tát đã đứng trên pháp tánh mà nhìn nên không bị cục hạn ở tướng, thân tâm và cảnh giới đã vượt ngoài tướng. Do đó, quan niệm vè không gian, thời gian ở kinh Đại thừa có tánh cách rộng lớn bao la, không có biên giới, ít và nhiều không quan trọng, dài và ngắn không có định mức. Bởi vì không gian tự nó không thật thể, thời gian tự nó không thật thể. Hội chúng đông là một cách phá bỏ ý niệm chấp trước không gian
cố định. Phật thuyết kinh trong 60 tiểu kiếp cũng là một cách phá bỏ ý niệm thời gian cố định. Vì vậy mà chúng hội đông nhưng chỗ không thấy chật, 60 tiểu tiếp mà như trong khoảng một bữa ăn.
Lại trong kinh Đại thừa thường hay có lẫn lộn hai lối thuyết pháp của Phật là hiển thuyết và mật thuyết. Phật phóng quang, nhập định, thuyết pháp…xen lẫn nhau. Phật phóng quang và nhập định là mật thuyết mà Phật thuyết pháp đôi khi cũng là mật thuyết. Xin kể một ví dụ để rõ thêm nghĩa hiển thuyết và mật thuyết :
Đời Đường tại Hàng Châu có thuyền sư tên Văn Hỷ hiệu Vô Trước, xuất gia lúc 7 tuổi. Lớn lên, quyết một lần đến Ngũ Đài sơn với ý nguyện là được lễ bái Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát. Khi ngài đến giữa núi thì gặp một ông già dắt trâu, ông già ấy mời ngài về nhà và hỏi :
-
Sư từ đâu đến ?
-
Từ phương nam đến. Ngài Vô Trước đáp.
-
Phật pháp phương Nam trụ trì thế nào ?
-
Gặp thời mạt pháp, tuy nhiên những
Người kính thuận giới luật cũng nhiều.
-
Nhiều bao nhiêu ?
-
Năm bảy trăm
Ngài Vô Trước lại hỏi ông già :
Ông già đáp.
Ngài Vô Trước không hiểu nên hỏi :
(Nói mà như không nói, thuyết mà thành mật thuyết).
Ông già sai đệ tử Huân đề rót nước mời ngài Vô Trước uống và ngài từ tạ ra về, đồng tử đưa xuống núi. Ngài Vô Trước quay lại hỏi đồng tử :
- Khi nãy ông già nói : “Tiền tam tam hậu tam tam” là bao nhiêu thế? Đồng tử kêu :
Khi đó ngài Vô Trước liền hay ông già ấy chính là ngài Văn Thù vậy.
Cũng chừng ấy mà chúng hội trong các kinh thì khác mà hội chúng trong kinh Pháp Hoa lại càng khác.
Từ đây về trước là phần Tựa chung (Thông tự), và từ đây về sau là phần Tựa riêng (Biệt tự).
Trong kinh Pháp Hoa, phần Tựa riêng là phần đi sát đề, đi thẳng vào duyên khởi chính của kinh. Các kinh khác phần Tựa riêng này chỉ có một đoạn, nhưng kinh Pháp Hoa chiếm trọn một phẩm (Phẩm Tự). Bởi phẩm này mạng tánh cách đặc biệt là Phật nêu lên thật nghĩa chung mà Ngài sẽ dạy về sau. Ngài nêu cách gián tiếp qua các việc hiển thuỵ, trong ấy tiêu biểu một ý nghĩa mà đức Phật sẽ chỉ bày trong các phẩm sau.
Kinh văn : Lúc bấy giờ Thế Tôn được bốn chúng vây quanh, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Giải thích : Đây là phần tập chúng. Tứ chúng, thường hiểu gồm có : Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-di. Tứ chúng cũng còn có nghĩa nữa là trong hội pháp của Phật có bốn hạng, tuỳ theo căn cơ trình độ hiểu
biết khác nhau :
1. Chúng khải thỉnh : Đây là những vị có đủ khả năng trình độ hiểu biết, đặt vấn đề thưa hỏi Phật.
2. Chúng đương cơ : Là hàng căn cơ trình độ đúng với hội pháp đương thuyết.
3. Chúng tán trợ (hay chúng ảnh hưởng): Những vị đã chứng ngộ rồi nhưng vẫn còn ngồi trong pháp hội để tán dương công đức thuyết pháp của Phật, đồng thời cũng tán trợ chúng đương cơ đang nghe lúc đó.
4. Chúng kết duyên : Hạng người không đủ trình độ, không đúng căn cơ để nghe pháp, nhưng cũng dự trong chúng hội để kết duyên về sau.
Kinh văn : Phật vì hàng Bồ-tát thuyết kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa là pháp giáo hoá hàng Bồ-tát được các đức Phật hộ niệm.
Giải thích : Trong khi đại chúng vây quanh, đức Phật vì hàng Bồ-tát mà nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa, là pháp giáo hoá hàng Bồ-tát được chư Phật hộ niệm. Phật thuyết kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa. Thế
nào là Vô lượng nghĩa ?
1. Chỉ về thật tướng vô tướng. Vì thật tướng vô tướng cho nên nó thành nhất thiết tướng, mà nhất thiết tướng tức là nhất thiết nghĩa. Mỗi tướng như vậy là mỗi tánh cách của các pháp. Chữ Nghĩa : Là tánh cách. Ví dụ nói cái này là viên phấn, ai cũng nói và ai cũng công nhận nó là viên phấn. Nhưng ta thử hỏi : Viên phấn vốn là cái gì ? Vốn là ! Vốn là của nó. Khi nói vốn là thì viên phấn lại có một ý nghĩa khác, viên phấn trở thành mong manh, trở thành một tướng giả tạm, chứ không phải nó vốn là, có ai nói viên phấn này vốn là viên phấn ? Cho nên khi muốn nói viên phấn ấy vốn là, ta là muốn tìm hiểu thật tướng của viên phấn là gì ? Khi nói viên phấn vốn là tức sẽ nói viên phấn vốn là đất. Ta tạm dừng lại và tạm chấp nhận đất vốn là của viên phấn. Hay nói cách khác, đất là thật tướng của viên phấn mà đất là thật tướng của viên phấn thì đất không phải chỉ làm ra viên phấn thôi, mà đất có thể làm ra cái chén, cái nồi... đất có thể làm đủ thứ, đủ vạn nghĩa, đủ vạn tướng. Vậy thì thật tướng đất đó không
phải là tướng phấn mà thành tướng phấn, không phải là tướng nồi mà thành tướng nồi... Như vậy nó vốn vô tướng mà thành vô lượng tướng (nhưng nên nhớ khi ta nói đất là thật tướng, đó là đứng trên mặt hiện tượng ta dừng lại và chấp nhận như vậy chứ thật tướng còn đi xa hơn nữa. Nếu hỏi đất vốn là gì ? Như vậy là đặt thêm một vấn đề nữa, đó là vấn đề khác, ở đây ta tạm ngừng lại đó và tạm chấp nhận để hiểu) mà thành nhất thiết tướng. Vô lượng tướng tức vô lượng nghĩa. Nói cái chén là một nghĩa, nói cái bình, cái nồi... là một nghĩa... và trở thành vô lượng nghĩa.
2. Đức Phật đã ngộ nhập được thật tướng của vạn pháp là vô tướng cho nên Ngài tuỳ theo vô lượng căn cơ của chúng sanh mà thuyết giáo, thành ra giáo pháp của Phật cũng là vô lượng nghĩa. Chúng sanh vô lượng, có tâm tư vô lượng, dục lạc vô lượng, Phật tuỳ theo vô lượng tâm tư thuyết vô lượng pháp thành pháp đó gọi là vô lượng.
3. Vô lượng nghĩa lại cũng có nghĩa là không thể đo lường được, đem cái ý thức phân biệt không thể đo lường được nên gọi là vô
lượng nghĩa. Với thật tướng vô tướng như vậy mà ta đem cái ý thức phân biệt, bảo là như thế này, là như thế lia... Tất cả những tướng đó chẳng qua là tướng giả tướng do ý thức phân biệt có ra mà thôi. Cho nên nếu đem ý thức mà bảo, đem ý thức mà phân biệt nọ kia thì không bao giờ phân biệt được, không bao giờ trắc lượng được nên gọi là vô lượng.
Mới bắt đầu vào kinh, Phật thuyết kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa. Có ý rằng những pháp mà Phật dạy trong những thời trước, nhất là dạy cho hàng Nhị thừa là những pháp còn có thể lường, còn có thể đem ý thức mà phân biệt. Trong hội Pháp Hoa Phật nói pháp không thể bằng vào ý thức phân biệt trắc lường tới được mà chỉ bằng vào chân thật trí mới có thể ngộ nhập được.
Pháp nói cho hàng Nhị thừa không khác nào như khi nói cần uống nước thì liền đưa cho chén nước, không cần hỏi chén nước vốn là gì. Vì trước đó đối với hàng Nhị thừa cần thoát ly sanh tử, đức Phật nói pháp để diệt khổ, không cần hỏi thật tướng làm gì, cũng như cần chén nước đưa chén nước uống không
cần hỏi vốn là gì. Bây giờ trong hội Pháp Hoa, mới nói vốn là gì để đi vào thật tướng của những lời pháp mà đức Phật nói từ trước nên gọi là Vô lượng nghĩa. Pháp đó là pháp giáo hoá cho hàng Bồ-tát, chứ hàng Nhị thừa đem thức tâm phân biệt thì không thể phân biệt được và pháp đó đã là pháp cao siêu thuyệt đối, cho nên luôn luôn được chư Phật hộ niệm nên gọi là phật sở hộ niệm.
Kinh văn : Phật nói kinh này rồi ngồi kiết già, nhập vào định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động.
Giải thích : Sau khi đức Phật nói kinh Vô lượng nghĩa rồi, Phật ngồi kiết già nhập vào định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động, đoạn này ý nói :
1. Thuyết pháp rồi nhập định, có nghĩa là không có định thì không có tuệ, không có tuệ thì không có định. Thuyết pháp là tuệ, nhập định là định. Co tuệ mới có định, có định mới có tuệ, tịch chiếu song song mới thành được giáo pháp viên mãn.
2. Nhập định gọi là định Vô lượng nghĩa tức muôn hiểu kinh Vô lượng nghĩa thì phải
ở trong định Vô lượng nghĩa mới hiểu được kinh, tức là phải ở trong định xa rời sự phân biệt trắc lường của ý thức, mới có thể hiểu được, ngộ được kinh vô lượng nghĩa.
3. Để làm mô thức cho những người thuyết pháp (giáo), khi muốn thuyết pháp cho đúng thì luôn luôn tâm phải ở trong định. Nhập định đó có hai tác dụng :
a. Tâm không rời pháp thật tướng.
b. Quán căn cơ chúng sanh rồi mới thuyết pháp.
Khi đức Phật nhập định thì cả thân và tâm không lay động. Ở trong định cả thân và tâm. Ngồi không phải là định mà phải cả thân và tâm không lay động mới là định.
Kinh văn : Lúc bấy giờ trời mưa hoa Mạn-đà-la, (hoa thích ý vừa lòng) hoa Ma-ha Mạn-đà-la, hoa Mạn-thù-sa (hoa nhu nhuyến) hoa Ma-ha Mạn-thù-sa, mà rải trên Phật và đại chúng, khắp cả thế giới Phật đều có 6 cách rung động.
Giải thích : Trước đức Phật nhập định, đến đây là trời mưa hoa. Sự nhập định của Phật, sự thuyết pháp của Phật, có sức rung
động đến cả hàng chư thiên, có sức rung động đến quả đất. Bởi vì các pháp vô thượng vi diệu nên Phật nói ra làm rung động khắp cõi Ta-bà.
Việc cõi đất sáu cách rung động... nếu không khéo suy nghĩ thì cơ hồ như là một chuyện hoang đường không thật. Nhưng phải chăng sự Thành Đạo của đức Phật đã không làm rung động đến ta ngày hôm nay đó sao ? Sự Thành Đạo của đức Phật dưới cội cây Bồ-đề đã rung động hơn hai ngàn năm trăm năm nay, mà không những chỉ rung động riêng xứ Ấn Độ huyền bí mà còn rung động cả nhân loại trên thế giới ! Một người thường khởi lên ác tâm hoặc câu nói độc còn có thể làm chuyển động cả hoàn cầu khiến bao nhiêu triệu người chết, ruộng đồng thành hoang địa, huống chi một vị đại Giác ngộ, đại Từ bi lại không thể làm quả đất rung động, lòng người rung động quay về đường giác, được an lạc?
Rung động sáu cách :
- Ba cách về hình : Động : Rung ; Dõng : Lồi lên lỏm xuống ; Khởi : Vụt đưa lên.
- Ba cách về thanh : Chấn : Tiếng rung ;
Hẩu : Tiếng gầm rừ ; Kính : Tiếng hét to.
Kinh văn : Bấy giừo trong chúng hội, hàng Tỳ-kheo, Tù-kheo-ni... được điều chưa từng có, hoan hỷ chấp tay nhất tâm ngưỡng xem Phật.
Giải thích : Qua những sự hiện điềm lành đó, bây giờ bốn chúng thấy việc chưa từng có nên ai cũng vui mừng hớn hở chấp tay nhất tâm xem Phật. Chấp tay là nói về thân ; nhất tâm là nói về tâm. Chấp tay là để chứng tỏ thân hướng về nơi Phật chứ không đâu khác. Nhất tâm cũng là để chứng tỏ tâm hướng về Phật.
Kinh văn : Lúc bấy giừo Phật phóng hào quang từ tướng lông trắng ở giữa chân mày, chiếu về phương Đông, một vạn tám ngàn thế giới đều khắp cả, dưới từ địa ngục A-tỳ, trên đến A-ca-ni-sắc thiên.
Giải thích : Bấy giờ đức Phật phóng hào quang từ tướng lông trắng ở giữa chân mày và chiếu về phương Đông... Hào quang đức Phật chiếu từ tướng lông trắng ở giữa chân mày cũng để tiêu biểu ý nghĩa rằng trong
kinh Pháp Hoa, đức Phật cốt khai thị ngộ nhập tri kiến Phật. Tri kiến đó tức là trung đạo thật tướng, ly hết tướng nhị biên, cho nên ở giữa chân mày Phật phóng ra hào quang và chiếu về phương Đông. Vì sao lại chiếu về phương Đông ? Bởi phương Đông là gốc của các phương, phương Đông là gốc của ánh sáng, mặt trời mọc từ phương Đông. Như vậy, phương Đông đây cũng để tiêu biểu cho thật tướng. Thật tướng cũng là gốc của tất cả tướng. Phật phóng hào quang về phương Đông tức trí tuệ tri kiến Phật chiếu vào thật tướng.
Tóm lại, đoạn trên đây ta thấy Phật thuyết pháp, nhập định, phóng hào quang, đó là ba hình thức thuyết pháp, ba hình thức giáo hóa bằng khẩu, bằng thân, bằng tâm.
Thuyết pháp là khẩu nghiệp, nhập định là ý nghiệp, phóng quang là thân nghiệp. Ba phương pháp đó đều nhằm vào sự lợi lạc chúng sanh. Đó gọi là tam mật lợi ích. Để hiểu ý nghĩa biểu trưng trong kinh điển Đại thừa, ta hiểu xuyên qua câu nói của ngài Lâm Tế. Ngài Lâm Tế có lối truyền thuyền đặc biệt, đó là lối Bổng hát.
Bổng là cây sào và có nghĩa là đánh. Hát là hét. Nếu có ai đến vấn, ngài hỏi một câu là phải lời ngay không được do dự suy nghĩ. Nếu dụ dự suy nghĩ không đáp ngay là ngài hét rầm lên hoặc đánh cho một gậy.
Để hiểu hào quang của Phật xuyên qua cách nói của ngài Lâm Tế. Trong tiếng Hát ngài Lâm Tế có nói :
- Hữu thời nhất hát như Kim cang vương bảo kiếm.
- Hữu thời nhất hát như cứ địa Kim mao sư tử.
- Hữu thời nhất hát như thám can ảnh thảo1.
- Hữu thời nhất hát bất tác nhất hát dụng.
Nghĩa là :
____________
(1) Thám cang ảnh thảo là phương thức bắt cá. Thám cang là bó lông chim đề hô (tức chim bồ hồng ở nước) vào đầu cây sào rồi cặm xuống nước, dò sâu cạn cho cá tụ lại rồi dùng lưới bắt. Ảnh thảo là trải có trên mặt nước cho cá tụ lại núp bóng rồi dùng lưới bắt. Thiện tri thức dùng phương thức dò căn cơ để khai hóa học trò cũng giống như thế.
- Có lúc tiếng hét này như gươm báu của Kim cang vương.
- Có lúc tiếng hét này như Sư tử lông vàng ngồi chổm.
- Có lúc tiếng hét này như cây sào quơ trên ngọn cỏ.
- Có lúc tiếng hét này không có tác dụng gì hết.
Xuyên qua ý nghĩa tiếng hét của Lâm Tế mà ta hiểu hào quang của Phật. Cho nên nói hào quang không chỉ giới hạn trong hào quang, cũng như tiếng hét không phải chỉ là tiếng hét mà là tiếng gươm báu của Kim cang vương, có nghĩa là tất cả bị nó phứt hết. Tất cà tâm niệm phân biệt, suy lường đều vị phứt hết. Hoặc tiếng hét đó như Sư tử lông vàng ngồi chổm, uy nghiêm vô cùng, thấy nó là khiếp đảm. Hoặc tiếng hét đó như cây sào quơ trên ngọn cỏ, đó là tiếng hét dò xem căn cơ người học đạo mà có khi tiếng hét không có tác dụng gì hết. Xuyên qua đó ta hiểu ý nghĩa hào quang của đức Phật. Hào quang của Phật phóng ra đó là tiêu biểu trung đạo thật tướng, tiêu biểu Phật tri kiến phát hiện mà đức Phật đã thành
tựu.
Để nói lên kiến tánh đó, trung đạo thật tướng đó chúng sanh đều có. Nhưng vì chúng sanh mê mờ không nhận biết được mà phải bằng vào lời dạy (Thánh giáo lượng) của Phật mà hiểu. Thánh giáo lượng tức cảnh giới ta không thể đạt được mà phải bằng vào cái lượng của Thánh giáo, lấy sự chỉ bày của Thánh giáo làm thước đo. Nhưng hiểu lời Phật dạy có ba :
1. Bằng vào Thánh giáo lượng, đức Phật dạy như vậy, tin vào lời dạy về sự giác ngộ độ sanh của Phật.
2. Phải giàu lòng tưởng tượng, so sánh, tỷ lượng.
3. Nhưng cứu cánh nhất là phải hiểu được rằng pháp môn Phật nói ra nhằm gạt bỏ bao nhiêu nếp phân biệt suy tư cố hữu theo vọng tưởng của chúng sanh để đưa chúng sanh nhập vào cảnh giới viên dung vô ngại, như cảnh giới Phật đã chứng thành, tức là hiểu bằng hiện lượng thật chứng.
Kinh văn : Ở tại thế giới này mà thấy khắp lục thú chúng sanh ở cõi nước đó.
Lại thấy và nghe các đức Phật hiện tại ở các cõi đó thuyết pháp, thấy các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di, những người tu hành đắc đạo ở cõi nước kia. Lại thấy các hàng đại Bồ-tát hành đạo Bồ-tát, tuỳ từng nhân duyên, theo từng chỗ tín giải, theo từng tướng mạo của mỗi người. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn. Lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn rồi xây tháp bảy báu cúng dường Xá-lợi Phật.
Giải thích : Hào quang của Phật phóng ra thế giới nào thì ở thế giới đó đều hiện rõ trước mắt đại chúng, nhờ đó đại chúng thấy cả lục đạo chúng sanh ở trong đó, tạo nghiệp nhân phiền não như thế nào, chịu kết quả như thế nào ở các thú. Đó là thấy về mặt nhiểm ô. Lại còn thấy về những điều thanh tịnh như thấy đức Phật hiện tại nơi cõi kia và nghe được pháp đức Phật nói.
Mỗi vị tu hành như thế nào thì đắc đạo như thế đó, mà không những thấy hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni thôi, mà còn thấy các hàng Bồ-tát, đại Bồ-tát với từng nhân duyên mỗi người đều khác nhau, tín giải mỗi người đều khác nhau, tướng mạo mỗi người đều khác
nhau mà thực hành hạnh Bồ-tát.
Nhân duyên (cách thức) khác nhau, mỗi người đi tu như chúng ta mỗi người có mỗi nhân duyên khác nhau. Nhân là gì ? Là thiện căn có sẵn của mỗi người gọi là nhân ; duyên mỗi người đi tu cũng khác. Người thì gặp thầy mến thầy rồi đi tu, người nghe thích tiếng tụng kinh rồi đi tu, người thì gặp đạo lý mà đi tu ; tức mỗ người đều có các thứ nhân duyên và các thứ tín giải. Khi đi tu như vậy mỗi người có lòng tin, mức độ tin khác nhau, mỗi người có trình độ hiểu biết khác nhau. Người đôn căn thì thiên về lòng tin, người lợi căn thì thiên về hiểu biết. Và các thứ tướng mạo, do trình độ tin tưởng, hiểu biết khác nhau cho nên trong sự tu hành mỗi người lại hiện ra tướng mạo dáng dấp khác nhau. Có người hành Bồ-tát đạo cách tụng kinh thuyết pháp ; có người hành Bồ-tát đạo bằng cách bửa củi, gánh nước... nghĩa là trong việc làm với tâm niệm thượng cầu hạ hóa đều gọi là hành Bồ-tát đạo, đó là những tướng mạo hiện ra bên ngoài.
Thấy đức Phật Niết-bàn, và thấy sau khi
đức Phật Niết-bàn, Xá-lợi được dựng tháp cúng dường. Chừng ấy câu mà ta thấy trong kinh đã diễn tả trọn cả một thời giáo hóa của đức Phật, thấy cả y báo chánh báo của cả lục phàm, tứ thánh.
Từ lúc còn là một chúng sanh, ra đời, tu hành thành Phật, thuyết pháp... đến khi Phật Niết-bàn..., tức cả một dòng thời gian dài, nhờ hào quang của đức Phật mà thấy suốt tất cả. Việc đó nói lên rằng chính ngay trong hào quang trung đạo thật tướng, hiện đủ tất cả các tướng nhiểm và tịnh của chúng sanh và chư Phật một cách bình đẳng. Từ chúng sanh... đến chư Phật Niết-bàn cùng ở trong hào quang đó, ý nói rằng trong tự tánh thanh tịnh tâm bình đẳng cũng hiện đủ tất cả các việc nhiểm tịnh như vậy.
Kinh văn : Lúc bấy giờ Di Lặc Bồ-tát nghĩ rằng, nay đây, đức Thế Tôn hiện tướng thần biến như vậy, vì nhân duyên gì mà có điềm lành tốt đó? Đức Thế Tôn nay vào nơi Tam-muội, việc bất khả tư nghì, hy hữu hiện ra này, thì sẽ hỏi ai đây, ai đáp được việc này?
Giải thích : Đây là đoạn ngài Di Lặc nghi, thấy những cảnh như vậy, ngài Di Lặc không biết vì nhân duyên gì mà đức Phật hiện ra các điềm lành hy hữu như vậy và ai là người có thể giải quyết mối nghi ấy ? Đức Phật nhập định Tam-muội rồi thù làm sao mà hỏi ? Không thể hoie Phật, vậy sẽ hỏi ai ? Ngài Di Lặc đang băn khoăn trong tâm.
Kinh văn : Lại nghĩ rằng Văn-thù-sư-lợi là vị pháp vương tử đã từng thân cận cúng dường vô lượng các đức Phật quá khứ, chắc đã thấy được tướng hy hữu này, vậy ta nay nên đến hỏi.
Giải thích : Di Lặc là một vị Bồ-tát, Văn-thù cũng là một vị Bồ-tát. Văn-thù là tiêu biểu cho đại trí, căn bản trí. Còn Di Lặc đang dùng Duy thức quán phân biệt mà tu hành. Cảnh giới ngài Di Lặc đang đối diện đây phải dùng đại trí, căn bản trí như Văn Thù mới chứng nhập được, đem phân biệt trí như Di Lặc thì không thể hiểu.
Di Lặc là biểu thị cho tâm tư phân biết, ý thức phân biệt, đang còn thức chứ chưa phải trí. Bởi Di Lặc còn tu Duy thức quán mà cảnh
giới này không thể dùng thức để vào được và Di Lặc chỉ có thể hỏi Văn Thù chỗ nghi của mình.
Kinh văn : Lúc bấy giờ các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di và các hàng thiên long quỷ thần... đều nghĩ rằng tướng hào quang thần thông quang minh đức Phật phóng ra đó, nay đây sẽ hỏi ai ?
Giải thích : đây là đoạn đại chúng nghi. Ngài Di Lặc mà còn nghi huống hồ tứ chúng Tỳ-kheo... làm sao không nghi được !
Phật từ Tam-muội, thân tâm bất động mà phóng ra hào quang, là cốt khiến cho chúng sanh bỏ về chơn, chuyển thức thành trí. Ngặt vì hàng nhị thừa còn mang bệnh chấp chặt tam thừa là thật, chưa tin nỗi đạo lý tam thừa là quyền mà nhất thừa mới thật, nên Phật phóng hào quang làm phát khởi tâm nghi rồi Di Lặc mới hỏi, nhờ Văn Thù giải quyết.
Kinh văn : Lúc bấy giừo Di Lặc Bồ-tát muốn tự quyết nghi, lại quán xét tâm niệm của bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắt, Ưu-bà-di, và các hàng trời rồng, quỉ thần... mà hỏi Văn-thù-sư-lợi rằng : Vì nhân
duyên gì mà có tướng lành thần thông này ? Phật phóng ánh sáng lớn soi khắp một vạn tám ngàn cõi ở phương Đông, khiến chúng đều thấy quốc độ trang nghiêm của các đức Phật kia ?
Bấy giờ Di Lặc Bồ-tát muốn lặp lại nghĩa này mà dùng kệ hỏi rằng : Văn-thù-sư-lợi, đấng Đạo sư, vì cớ gì mà hào quang lớn từ lông trắng ở giữa chân mày chiếu khắp ? Trời mưa hoa Mạn-đà, hoa Mạn-thù-sa, gió thơm mùi chiên đàn, làm vui đẹp lòng của chúng hội. Do nhân duyên đó, quả đất đều nghiêm tịnh mà thế giới này có sáu cách rung động. Bấy giừo bốn bộ chúng, thảy đều rất vui mừng, thân ý thơ thới được việc chưa từng có. Ánh sáng giữa chân mày, chiếu suốt thẳng phương đông, một vạn tám ngàn cõi, thảy đều trỏ thành ra sắc vàng, từ A-tỳ địa ngục đến Hữu-đảnh thiên. Trong các thế giưói đó. Lục đạo chúng sanh sanh tử đến nơi này nơi kia và các nghiệp duyên thiện ác của họ và quả báo họ chịu hoặc tốt hoặc xấu, thảy đều trông được cả. Lại thấy các đức Phật, Thánh chúa sư tử diễn nói kinh điển vi
diệu đệ nhất. Tiếng các Ngài trong trẻo, buông ra những lời rất dịu ngọt, dạy vô số ức vạn, các Bồ-tát, phạm âm thâm diệu, khiến người vui nghe, đều ở nơi các thế giới diễn nói chánh pháp, với nhiều nhân duyên và vô lượng thí dụ, để soi sáng Phật pháp, khai ngộ cho chúng sanh. Nếu người vì gặp khổ, nhàm chán sự già bệnh chết, thời Ngài vì họ nói cảnh Niết-bàn, để dứt hết các khổ.
Giải thích : Đức Phật dùng nhiều nhân duyên để giáo hóa. Đối với người nào gặp khổ, nhàm chán sanh lão bệnh tử thì Ngài nói cảnh giới Niết-bàn an lạc cho họ. Đây là cảnh giới của hàng Thanh Văn. Hàng Thanh Văn tu hành mong cầu thoát ly sanh lão bệnh tử, cho nên đức Phật nói pháp Niết-bàn để họ tu hành dứt hết các khổ.
Kinh văn : Còn nếu người có chút phước, từng cúng dương đức Phật, chí cầu thắng pháp, thì Ngài vì họ nói pháp Duyên Giác.
Giải thích : Hàng Thanh Văn quán về Khổ đế, trước hết dùng Khổ đế làm đối tượng quán để tu hành giải thoát, cho nên Thanh
Văn thừa bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh tử mà tu. Còn Duyên Giác thừa, duyên vào Đạo đế để tu, bởi Duyên Giác thừa không bằng vào sự nhàm chán sanh lão bệnh tử mà bằng vào lý nhân duyên của vạn pháp. Thí dụ : Thấy một ngọ lá rơi, một dòng nước chảy, một ánh sao băng... mà biết rằng tất cả sự vật là vô thường là nhân duyên sanh mà ngộ đạo.
Kinh văn : Hoặc có hàng Phật tử, tu bao nhiêu hạnh để cầu vô thượng huệ thì Ngài vì họ nói Thanh tịnh đạo.
Giải thích : Hàng Thanh Văn và Duyên Giác chỉ nhằm vào mục đích hoặc là quán Khổ đế hoặc là quán Đạo đế tu hành. Bồ-tát thì đa hạnh nên trong kinh gọi là chủng chủng (các thứ) hạnh. Hàng Bồ-tát cầu vô thượng huệ, cho nên đức Phật nói về Thanh tịnh đạo. Bởi vì đạo Bồ-tát so với đạo Thanh Văn là thanh tịnh, nên gọi là Thanh tịnh đạo.
Kinh văn : Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi ở nơi đây thấy nghe việc như thế, và muôn ngàn việc khác như vậy rất nhiều. Nay tôi
sẽ lược nói : Tôi thấy ở cõi nước kia, hằng sa Bồ-tát, bằng bao nhiêu nhân duyên để cầu Phật đạo. Hoặc có người tu hạnh bố thí, đem vàng bạc, san hô, chơn chân, ma ni, xa cừ, mã não, kim cương, và các đồ trân bảo, nô tỳ, xe cộ, nghiêm sức châu báu, hoan hỷ bố thí hồi hướng đến Phật đạo, nguyện được thừa này là đệ nhất trong tam giới, được các đức Phật tán thán. Hoặc có hàng Bồ-tát dùng xe báu tứ mã, và lan thuẩn, tràng hoa và đồ trang sức để bố thí.
Giải thích : Bố thí là một trong các nhân duyên tu Bồ-tát đạo. Đoạn kinh trên đây là nói về việc bố thí ngoại tài, tức tài sản ngoài thân thể như vàng bạc chân báu... dùng để hồi hướng Phật đạo, mà hồi hướng Phật đạo tức hồi hướng một thừa pháp đệ nhất trong tam giới. Đó là điều đức Phật tán thán.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát dùng thân, thịt, tay chân, vợ con bố thí để cầu vô thượng đạo. Lại thấy hàng Bồ-tát vui vè bố thí cả đầu mắt thân thể để cầu trí tuệ Phật.
Giải thích : Đây là bố thí nội tài. Nội
tài gồm hai phần : Thân và mạng. Đoạn kinh trên là nói về bố thí thân như xẻo thịt, cắt tay... chứ chưa chết. Ví như trong kinh nói về tiền thân của đức Phật đã từng cân thịt mình để chuộc mạng cho một con bồ câu. Đó là bố thí thân. Còn bố thí mạng, như trong kinh nói đức Phật đã từng xả thân mình để cứu bầy cọp đói. Bố thí thân mạng là một việc khó làm, tuy nhiên cũng có thể thực hiện được. Ví như có người cần một ít máu để sống, ta đem cho họ, đó cũng là một cách bố thí thân mạng. Đoạn trên là nói về bố thí Ba-la-mật.
Kinh văn : Thưa Văn-thù-sư-lợi, tôi thấy các vua ở nước đó, đi đến chỗ các đức Phật, hỏi đạo vô thượng, liền bỏ cõi nước sung sướng, cung điện tôi hầu, cắt bỏ râu tóc mà mặc pháp phục.
Giải thích : Đây là tu về Trì giới Ba-la-mật.
Kinh văn : Hoặc thấy hàng Bồ-tát làm Tỳ-kheo, ở riêng một mình noiư nhàn tịnh vui ưa đọc tụng kinh điển.
Giải thích : đây là tu về hạnh Nhẫn nhục Ba-la-mật.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát dũng mảnh tinh tấn, vào nơi núi sâu suy nghĩ về Phật đạo.
Giải thích : Đây là tu về hạnh Tinh tấn Ba-la-mật.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát ly dục, thường ở chỗ nhàn tịnh tu tập về thiền định, được năm thứ thần thông.
Giải thích : Đây là tu về Thiền định Ba-la-mật.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát an thiền chấp tay, dùng trăm ngàn bài kệ, tán thán đấng Pháp vương.
Giải thích : Đây cũng là tu về Thiền định Ba-la-mật.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát trí tuệ sâu xa, ý chí bền chắc năng hỏi các đức Phật, nghe rồi thọ trì.
Giải thích : Đây là tu về Trí tuệ Ba-la-mật.
Kinh văn : Lại thấy hàng Phật tử, Định Tuệ đầy đủ, dùng vô lượng thí dụ, vì chúng giảng pháp, vui vẻ diễn bày, giáo hóa các Bồ-tát, phả trừ chúng ma binh mà đánh trống pháp.
Giải thích : Trước tu hành Lục độ đó là tự hành Lục độ, đoạn này là nói Định Tuệ đầy đủ, đánh lên tiếng trống pháp cho các hàng Bồ-tát nghe. Đây là nói về hạnh lợi tha.
Kinh văn : Lại thấy các hàng Bồ-tát tịch nhiên yên mặc, được trời rồng cung kinh mà không cho là vui mừng.
Giải thích : Đây là nhập về xả thiền, trong khi tịnh mặc như vậy được hàng trời rồng đến cúng dường, không chấp theo sự cúng dường đó mà vui mừng tức là xả.
Kinh văn : Lại thấy hàng Bồ-tát ở trong rừng phóng quang để cứu giúp các sự khổ ở khắp các địa ngục, khiến họ được vào Phật đạo.
Giải thích : Đây là nhập về Bi thiền, tức nhập vào thiền định với tâm bi phóng hào quang đến chỗ u tối ở địa ngục mà cứu vớt chúng sanh nơi đó.
Kinh văn : Lại thấy hàng Phật tử, chưa từng ngủ nghỉ, kinh thành ở núi rừng, siêng năng cầu Phật đạo.
Giải thích : Tu hạnh lục độ có hai cách :
Đoạn trước là nói về thứ độ hành lục độ, nghĩa là hành lục độ theo thứ lớp, từ bố thí trì giới... cho đến trí tuệ. Đoạn này cũng nói về lục độ nhưng lục độ đây là vô phương hành lục độ, tức cần trì giới thì trì giới, cần nhẫn nhục thì nhẫn nhục... không theo thứ tự trước sau.
Kinh văn : Lại thấy hàng Phật tử, đầy đủ giới đức oai nghi không khuyết, thanh tịnh như châu báu để cầu Phật đạo.
Lại thấy hàng Phật tử, trú trong sức nhẫn nhục, bị những người tăng thượng mạn đánh đập mắng nhiếc, thảy đều hay nhẫn chịu, để cầu Phật đạo.
Lại thấy hàng Bồ-tát xa lìa đùa giởn và quyến thuộc ngu si, mà thân cận kẻ trí, nhất tâm trừ loạn, nhiếp niệm trong rừng sâu để cầu Phật đạo.
Giải thích : Duyên của thiền định là xa lìa sự chơi hiởn, chơi giởn làm loạn tâm khó mà nhập định. Si quyến thuộc tức quyến thuộc dắt vào đường sai trái mê lầm, đồng thời phải thân cận kẻ trí thì tâm mới khỏi loạn động để nhập định.
Kinh văn : Hoặc thấy hàng Bồ-tát dùng những món ăn ngon lành, trăm thứ thuốc thang để cúng Phật và Tăng. Hoặc dùng danh y vô giá để cúng Phật và Tăng. Hoặc dùng trăm ngàn ức thứ chiên đàn, nhà báu và những ngoạ cụ tốt đẹp để cúng Phật và Tăng.
Lại dùng vườn rừng thanh tịnh, hoa quả tươi tốt suối trong tắm rửa, để cúng Phật và Tăng.
Những sự bố thí nhiệm mầu như vậy mà vẫn luôn luôn hoan hỷ không nhàm chán để cầu vô thượng đạo.
Hoặc có hàng Bồ-tát nói pháp tịch diệt, dùng bao nhiêu lời để giáo huấn vô số chúng sanh.
Giải thích : Tịch diệt pháp tức pháp đưa về tịch diệt, pháp đưa về giải thoát, pháp làm cho chúng sanh xả trừ phiền não đưa về vắng lặng.
Kinh văn : Hoặc thấy hàng Bồ-tát, quán các pháp tánh, không có hai tướng, giống như hư không.
Giải thích : Quán pháp tánh không có
hai tướng tức là thật tướng vô tướng. Như đã nói, nếu cứ chấp từng tướng như cái tướng viên phấn, tướng cái nồi... thì những tướng đó sẽ chướng ngại nhau. Nhưng nếu từ các tướng sai biệt mà nhận thấy được thật tướng vô tướng đó là đất thì nó không chướng ngại nhau. Đất không chứng ngại cái chén, cái chén không chướng ngại viên phấn đó là thật tướng vô tướng, nhất như bình đẳng. Sở dĩ chúng ta không dựa vào tướng giả dối để mà nhận ra thật tướng vô tướng, cho nên tâm cứ dấy lên những phân biệt, những phiền não, không vượt qua được những giả tướng đó.
Quán các pháp tánh không hai tướng giống như hư không, vì hư không bình đẳng, hư không không hai, cho nên hư không không đối chọi, cái gì cũng có thể hiện ra trong hư không hết mà hư không không hề chướng ngại.
Kinh văn : Lại thấy hàng Phật tử, tâm không chấp trước, bằng diệu huệ nầy để cầu vô thượng đạo.
Thưa Văn-thù-sư-lợi, lại có hàng Bồ-tát, sau khi Phật diệt độ, cúng dường Xá-lợi Phật. Lại thấy hàng Phật tử tạo tháp miếu
vô số hằng sa trang sức nơi cõi nước, tháp Phật rất cao đẹp, đến năm ngàn do tuần, rộng, ngang, cao bằng nhau tới hai ngàn do tuần, mỗi mỗi tháp miếu ấy đều có hàng ngàn phan cái và châu báu xen nhau lẫn lộn. Những linh báu rung lên, các hàng trời, rồng, thần, nhơn và phi nhưon, dùng hương hoa kỷ nhạc để cúng dường tháp Phật.
Thưa Văn-thù-sư-lợi, các Phật tử đó vì cúng dường Xá-lợi, nghiêm sức tháp miếu, cả cõi nước tự nhiện trở thành thù đặc tốt đẹp, giống như cây thiên thọ vương nở đầy hoa. Phật phóng một hào quang mà tôi và cả đại chúng thấy bao nhiêu điều thù diệu ở cõi nước đó.
Giải thích : Phật phóng có một hào quang mà thấy đủ cả, như vậy hào quang đó là hào quang gì ? Hào quang đó là hào quang Phật tri kiến, mà trong Phật tri kiến thì tất cả các tướng đều hiện ra bình đẳng, từ địa nghục A-tỳ cho đến trời Sắc cứu cánh ; từ việc chúng sanh tác thiện, tác ác, cho đến việc Phật ra đời, thuyết pháp, giáo hóa, nhập Niết-bàn, xây tháp cúng dường... Tất cả mọi pháp đều từ
nơi bản tánh hiện ra. Tất cả mọi pháp đều từ nơi một hào quang hiện ra. Một đối với nhiều kia, thành ra một này là thật tướng mà nhiều kia là sai biệt tướng. Ví dụ : Đất là một, còn bình, chén... là nhiều. Cái nhiều đó từ cái một mà ra, không ngoài một mà có nhiều, không ngoài một hào quang của Phật mà có các tướng kia hiện, không ngoài một nhất tâm của chúng sanh mà có các tướng nhiểm tịnh hiện ra. Nhưng tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra ấy vì sao Phật thấy được mà chúng ta không thấy được ? Bởi Phật thấy được tất cả các tướng từ nhất tâm hiện ra, cho nên, Phật có thể từ nơi tâm mà hiện ra đủ tất cả các pháp, còn chúng sanh vì không nhận được cái đó nên đắm vào trong từng tướng một rồi chấp từng tướng một mà không thấy được tất cả. Ví như, nếu ta chỉ thấy viên phấn là viên phấn, cái bình là cái bình, rồi chấp vào cái bình, viên phấn ấy, thì không thấy được thật tướng của cái bình, viên phấn là gì, và như vậy ta chỉ sống chết với cái bình, viên phấn mà thôi, không làm sao đem viên phấn mà làm cái chén, đem cái chén
mà làm cái bình được. Nhưng khi đạt đến thật tướng của phấn, bình chỉ là đất thì bấy giờ ta đủ khả năng từ nơi đất nắn ra chén bình... Nhưng mà, khi đạt được thì mới như vậy, khi chưa đạt thì không như vậy, thành ra lý mê và ngộ giữa Phật và chúng sanh chỉ chừng ấy. Chúng sanh mê là mê cái điều Phật ngộ. Phật ngộ là ngộ cái điều chúng sanh mê. Mê là vì không đạt được thật tướng, cứ chấp vào tướng bình, tướng phấn mà không thấy được bình hay phấn gì cũng từ nơi một thật tướng đất. Nên một hào quang, một này vô cùng ý nghĩa, một là vô lượng vậy. Phật chỉ phóng có một hào quang thôi mà ngài Di Lặc và đại chúng thấy khắp tất cả.
Kinh văn : Thần lực của các đức Phật, trí tuệ của các đức Phật quá hy hữu, chỉ phóng một hào quang thanh tịnh mà soi ra vô lượng quốc độ. Chúng tôi được thấy việc chưa từng có đó.
Thưa Phật tử Văn Thù, xin hãy giải quyết điều nghi nan. Cả bốn chúng đều cung kính ngưỡng mong nhơn giả vì tôi nói rõ : Đức THế Tôn vì cớ gì mà phóng hào quang ấy?
Thưa Phật tử Văn Thù, đã đúng thời nên đáp, để giải cái nghi cho chúng vui mừng. Có lợi gì mà đức Phật phóng ra hào quang đó, vì muốn nói pháp vi diệu mà đức Phật chứng được nơi đạo tràng, hay là Phật săp thọ ký ? Việc hiện bày các cõi Phật và các châu báu trong sacnhj trang nghiêm và việc thấy các đức Phật như vậy, không phải là nhân duyên nhỏ. Văn-thù ngài nên biết, cả bốn chúng long thần đều chiêm ngưỡng và quán sát nhân giả, xin hày nói cho biết những điều gì như thế ?
Bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi nói với Di Lặc Bồ-tát Ma-ha-tát và các đại sĩ rằng : Các thiện nam tử, theo chỗ tôi suy nghĩ, nay đức Thế Tôn muốn thuyết đại pháp, mưa trận mưa đại pháp, thổi loa đại pháp, đánh trống đại pháp, diễn nghĩa đại pháp.
Giải thích : Đây là Bồ-tát Văn Thù đáp lời Di Lặc và đại chúng rằng theo chỗ ngài nghĩ, đức Phật sắp nói đại pháp. (Đại pháp hay Đại thừa). Đại có bảy nghĩa :
1. Cảnh đại : Cảnh giới của hàng Bồ-tát chứng ngộ là cảnh giới rộng lớn, tức là cảnh
giới vô tướng thật tướng, cảnh ly nhị biên, vô ngã. Hàng nhị thừa chỉ biết có sanh không, đó là cảnh giới của họ. Còn nhị không chơn như là cảnh giới Đại thừa nên nói cảnh đại.
Thế nào là cảnh ? Cảnh là nơi thân mình nương trên đó, bước đi trên đó, thân có chỗ đi thì tâm cũng có chỗ đi của tâm nên cũng gọi là cảnh. Chỗ đi của tâm nhị thừa là nhơn vô ngã, còn chỗ đi của tâm Đại thừa là pháp nhị không chơn như, chỗ đi của tâm chúng sanh là chấp Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả, danh tướng. Hàng Bồ-tát thì đi trên cảnh giới vô tướng.
2. Trí đại : Cảnh đã lớn thì trí phải lớn, cảnh đã vô ngã thì trí phải vô ngã.
3. Hạnh đại : Trí đã lớn phát ra hạnh cũng phải lớn. Hạnh tự lợi, lợi tha.
4. Tinh tấn đại : Sự tinh tấn bền vững, kiên cố. Tu một giờ cũng như tu một năm, cũng như tu ba A-tăng-kỳ không lay chuyển, không thối lui, không chán nãn.
5. Thiện xảo phương tiện đại : Tùy theo căn cơ, trình độ của chúng sanh mà làm việc, nói những pháp ích lợi để dẫn dắt họ một
cách khéo léo.
6. Chứng đại : (Cứu cánh đại). Do sự tu hành như trên mà đưa đến kết quả chứng ngộ căn bản thật trí.
7. Nghiệp dụng đại : Do chứng đại mà kiến lập Phật sự lớn lao.
Đức Thế Tôn thuyết đại pháp, đại pháp đó được ví như một trận mưa lớn. Trận mưa lớn đó sẽ làm tươi nhuận tâm niệm khô khan của hàng nhị thừa mà Đại thừa gọi họ là “khôi thân diệt trí”, nghĩa là họ chỉ lo tự lợi, tâm từ bi khô khan, hạnh lợi tha hạn hẹp, như một chồi khô, bây giờ mưa một trận mưa đại pháp làm cho những ý chí khô này tươi lên, chí nguyện Đại thừa sống dậy, nứt chồi.
Thổi loa đại pháp tức là gom tất cả chí nguyện về một mục đích duy nhất là Phật thừa đạo. Ví như thổi còi thì mọi người tập nhóm lại. Và đánh trống đại pháp, nghĩa là thúc chí nguyện lợi tha, chí nguyện hành Bồ-tát đạo ấy xông lên...
Đoạn trên đây là ngài Văn-thù trả lời theo sự suy tư của ngài. Bây giờ ngài dẫn chứng.
Kinh văn : Các thiện năm tử, đối với
quá khứ các đức Phật, tôi đã từng thấy các điềm lành đó. Sau khi phóng ra hào quang rồi tức thì Phật nói pháp lớn, thế cho nên tôi biết rằng đức Phật nay đây hiện phóng hào quang cũng lại như vậy. Phật muốn cho chúng sanh đều được nghe, được biết các pháp mà tất cả thế gian rất khó tin, cho nên hiện điềm lành này.
Giải thích : Trong việc hiện điềm lành của đức Phật cũng có ý là khiến cho chúng hội phát khởi một lòng tôn trọng cung kính trước khi nge Phật nói pháp. Vì sao ? Vì pháp mà Phật sắp nói đó là một pháp khó tin.
Kinh văn : Này các thiện nam tử, như quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì A-tăng-kỳ kiếp. Lúc bấy giờ, có đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri. Minh hạnh túc, Thiện thê, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên Nhơn sư, Phật, Thế Tôn, diễn nói Chánh pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý sâu xa, lời nói xảo diệu thuần nhất không tạp xen, đầy đủ tướng thanh bạch phạm hạnh.
Giải thích : Đây là đoạn ngài Văn Thù dẫn chứng đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh trong quá khứ vô lượng vô biên A-tăng-ký kiếp.
Nên biết, trong kinh Đại thừa, nhãn quan về vũ trụ, không và thời gian là xứng tánh mà nói chứ không nói theo tướng phân biệt chấp trước của tâm lý thông thường, nên nói cái gì cũng là vô lượng vô biên. Bởi vì nói từ tâm niệm thì thật ra, ngay từ một tâm niệm mà cũng vô thỉ vô chung, ngay từ một tâm niệm mà cũng vô lượng vô biện...
Vì sao thành thỉ ? Vì sao thành chung ? Vì sao thành trước, sau... ? Nếu một cực vi là một cực vi thì chẳng có cái nào trước cái nào sau. Nhưng chồn thêm trước một cực vi sau mmột cực vi thì tự nhiên cức vi này nằm giữa. Như vậy, không gian cực vi nằm giữa này có đúng là giữa hay không ? Nếu chỉ có một cực vi thì có giữa hay không ? Thế nhưng, vì cái mê chấp của chúng sanh theo nghiệp thức mà nói có trước có sau. Nhưng sự thật của sự vật thì không trước không sau... Cho nên trong kinh nói không thỉ, không chung, không trung,
không biên cũng là để dạy chúng ta xả trừ tâm niệm chấp trước nhị biên.
Mà chính ngay câu Quá khứ vô lượng vô biên bất khả tư nghì cũng là một công án thiền. Nếu ngay câu nói đó ta rời bỏ được tâm niệm nhị biên phân biệt thì cũng chính ngay lúc đó ta ngộ được thật tánh của vạn pháp không thỉ không chung vậy.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh tức là chỉ cái tự giác thanh tịnh tâm chiếu sáng khắp tất cả.
Ánh sáng của thế gian không ngoài ba thứ : Mặt trời, mặt trăng và đèn. Ban ngày có mặt trời, ban đêm có mặt trăng và chỗ nào mặt trời, mặt trăng không chiếu sáng được thì có đèn. Ba thứ này là nguồn gốc của ánh sáng, ngoài ra không có gì tạo nên cái sáng được. Để nói rằng đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh là nguồn gốc của ánh sáng, mà ánh sáng đây là ánh sáng của bản giác thanh tịnh diệu tâm, mà bản giác thanh tịnh diệu tâm này đâu có bị không gian, thời gian ràng buộc nên nói vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh có đủ
10 hiệu :
1. Như Lai : Tathagata. Theo như trong kinh Thanh Tịnh tập 4, Trường Bộ (Dìgha Nikàya) có đoạn nói về hai chữ Như Lai như sau : “... Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là hư vọng, không thật, không có lợi ích, Như Lai không trả lời. Này Cunda nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, không có lợi ích, thì Như Lai cũng không trả lời. Này Cunda, nếu những gì thuộc quá khứ là chơn chánh, như thật, có lợi ích, Như Lai biết, trả lời câu hỏi ấy một cách vắn tắt. (Pháp vị lai, hiện tại cũng vậy). Như vậy, này Cunda, đối với các pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, Như Lai là vị nói phải thời, nói chân chánh, nói như thật, nói có lợi ích, nói đúng pháp, nói đúng luật. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này cunda, trong thế giới này với chư Thiên, Ma vương, Phạm thiên... và loài Người những gì được thấy, nghe, cảm giác, phân biệt đạt đến, tìm cầu, suy đạt với ý, tất cả đều được Như lai biết rõ. Do vậy mới gọi là Như Lai. Này Cunda, trong thời gian giữa đêm Như Lai chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác và
đêm Như Lai nhập Vô-dư Niết-bàn giới, trong thời gian ấy những gì Như Lai nói, trong khi thuyết giảng, nói chuyện hay trình bày, tất cả là như vậy không có gì khác. Do vậy mới gọi là Như Lai.
Trong Tăng Chi tập IIA trang 33 cũng có định nghĩa :
“Trong toàn thế giới chư Thiên... Như lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại. Do vậy được gọi là Như Lai.
Trí Độ luận tập I trang 51 cũng có định nghĩa :
“Như pháp tướng (Như) mà hiểu (Lai) : Như pháp tướng (Như) mà giảng thuyết (Lai), như con đường an ổn của chư Phật (Như) mà đến (Lai) nên gọi là Như Lai. Hay nói gọn, Như Lai là đến như vậy, đi như vậy. (Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết, như chư Phật lai)”.
Thập Trụ Tỳ-bà-sa I nói về Như Lai như sau :
Như danh thật, Lai danh chí, chí chân thật (Niết-bàn) trung, cố danh Như Lai (“Như” là
“Thật”, “Lai” là “Đến”. Đến trong như thật gọi là Như Lai.
“Như danh bất hoại tướng (chư pháp thật tướng), Lai danh trí tuệ, đáo thật tướng trung thông đạt kỳ nghĩa, danh Như Lai (“Như’ là “bất hoại tướng” (chư pháp thật tướng) ; “Lai” là “Trí tuệ”. Trí tuệ thông suốt thật tướng gọi là Như Lai.)
“Không, vô tướng, vô ác, danh Như ; chư Phật lai chí tam giải thoát môn. Diệc linh chúng sanh đáo thử môn, danh Như Lai”. (Không, vô tướng, vô tác là “Như”, đạt đến trong ba môn giải thoát và cũng khiến cho chúng sanh đạt đến ba môn giải thoát ấy gọi là “Như Lai”).
“Như danh Tứ đế, lục độ, dĩ tứ lục pháp lai chí Phật địa, danh Như Lai (Như là Tứ đế, lục độ, dùng pháp Tứ đế, lục độ để chứng đắc địa vị Phật, gọi là Như Lai).
Thành Thật Luận nói ;
“Thừa như thật đạo, lai thành Chánh giác “ (Nương vào đạo như thật (Như) chứng thành bậc Chánh giác (lai).
Trong luận Chuyển Pháp Luân nói :
“Niết-bàn danh Như, Tri giải danh Lai, Chánh giác Niết-bàn, cố danh Như Lai” (Niết-bàn là “Như”, Tri giải là “Lai”, Chánh giác Niết-bàn gọi là Như lai.
Kinh Thắng Man Bảo Khốt nói ;
Thế Như nhi lai, như chư Phật lai ” (Thể theo “Như Lai” mà đến (lai), giống như chư Phật mà đến “Lai”).
Hành Tôn Ký Thượng nói :
“Thừa như thật pháp xuất hiện lợi sanh, tức thừa như nhi lai” (Nương vào thật pháp (Như) thị hiện ra đời thuyết pháp độ sanh (Lai). Tức thừa “Như” mà đến (Lai).
Câu “Thừa như thật đạo lai thành Chánh giác” là chỉ báo thân Như Lai.
Câu “Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết” cũng chỉ cho Báo thân Như Lai.
Câu “Như chư Phật lai” chỉ cho Hoá thân Như Lai.
Trong kinh Kim Cang cũng định nghĩa :
“Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa’ (Như lai là cái nghĩa như thật của các pháp).
Hay câu : “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai.” (Như Lai
là không từ đâu đến cũng không đi đến đâu nên gọi là Như Lai.
Hai câu này là Như Lai pháp thân. Vì vậy nên trong kinh Kim Cang nói “ Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã…” Đó là Như Lai pháp thân. Bởi Như Lai pháp thân thì ly tướng, Như Lai không ở nơi âm thanh, sắc tướng để cầu được Như Lai pháp thân thì làm sao thấy được. Pháp thân là vô tướng mà cứ dùng tướng để cầu tìm Như Lai nên trong kinh gọi đó là tà đạo.
2. Ứng cúng : Tức là một trong ba nghĩa của A-la-hán. A-la-hán : Vô sanh, phá ác, Ứng cúng.
3. Chánh biến tri : Còn gọi là Chánh biến giác, Chánh đẳng giác. Chánh tức là không tà, biến là cùng khắp. Khi nói đức Phật chánh biến tri là nói Ngài có cái biết đúng như thật và cùng khắp. Biết đúng như thật nên khác ngoại đạo, cũng khắp nên khác Nhị thừa và Bồ-tát.
4. Minh hạnh túc : Minh là tam minh (Túc mạng, thiên nhãn và lậu tận). Hạnh là
lục độ vạn hạnh. Đầy đủ cả minh, trí, hạnh gọi là minh hạnh túc.
5. Thiện thệ : Khéo đi qua. Trong con đường sanh từ khéo ra khỏi, ngay trong trần lao mà giải thoát trần lao, ngay trong sanh tử mà thoát khỏi sanh tử. Trở vào đường sanh tử hóa độ chúng sanh mà không bị vấo vướng, không bị trở ngại.
6. Thế gian giải : Thế gian có hai thứ : Hữu tình thế gian (thuộc chánh báo) và Khí thế gian (thuộc y báo). Đức Phật hiểu rõ cả y báo và chánh báo của thế gian nên gọi là Thế gian giải.
7. Vô thượng sĩ : Đấng Vô thượng không ai bằng.
8. Điều ngự trượng phu : Đấng điều ngự được chúng sanh mê lầm.
9. Thiên nhân sư : Thầy của trời, người.
10. Phật : Đấng giác ngộ. Phật Địa luận nói : “Tự khai giác cũng khai giác tất cả chúng sanh về tất cả pháp, tất cả tướng như ngủ mong thức dậy, như hoa sen trổ, nên gọi là Phật. Đủ mười hiệu như vậy gọi là Thế Tôn. Thế Tôn là danh từ tổng quát, đủ 10 hiệu đó
là một bậc tôn quý của cả trời người, thế, xuất thế gian, nên gọi là Thế Tôn. Đây là tán thán Phật đủ 10 hiệu.
“Đức Phật diễn ra Chánh pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện nghĩa lý thâm viễn, lời lẽ nhiệm mầu, thuần nhất vô tạp, đầy đủ phạm hạnh”.
Thế nào gọi là Chánh pháp của Phật ? Chánh pháp của Phật đầy đủ 7 tánh chất tốt lành sau đây : Sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý thâm thuý cao xa, ngôn từ khéo léo nhiềm mầu, thuần nhất vô tạp, đầy đủ tướng phạm hạnh thanh tịnh.
Sao gọi là Sơ, Trung, Hậu thiện ? Đức Phật nói pháp đầu tiên, giữa, sau rốt đều thiện, Phật ví dụ giáo pháp của Ngài như một cục đường, ngoài, trong giữa đều ngọt. Pháp Phật đầu tiên thuyết về giới là sơ thiện, bước đầu của Chánh pháp ; kế đó Ngài nói về Định là trung thiện, trung tâm của Chánh pháp, sau nói về Tuệ là hậu thiện, kết quả của Chánh pháp. Hay sơ thiện là tin giải, trung thiện là thực hành, hậu thiện là thật chứng.
Sao gọi là nghĩa lý thâm viễn, ngôn từ
tốt đẹp, áo diệu, thuần nhất ? Thiện kinh vạn quyển đối với kẻ sơ học thì thấy có vẻ mông lung, mâu thuẩn, nhưng nếu nắm được phần tinh hoa cốt tuỷ thì lời Phật dạy thuần nhất vô tạp, sâu kín, siêu lý luận, phải đến để mà thấy, lời lẽ đôn hậu giản dị mà súc tích siêu thoát.
Và đầy đủ tướng thanh tịnh phạm hạnh có nghĩa là ai thực hành được pháp hạnh đó thì đều thành tựu được tướng thanh bạch phạm hạnh. Đầy đủ bảy tánh cánh như vậy thì gọi là Chánh pháp của Phật. đây là tán thán Chánh pháp có đủ bảy đức.
Kinh văn : Đức Phật vì hạng cầu Thanh Văn, nói Pháp Tứ đế (1), độ thoát sanh, lão, bệnh, tử, cứu cánh Niêt-bàn. Vì hạng cầu Bích chi Phật, nói pháp Mười hai nhân duyên (2). Vì hàng Bồ-tát, nói lục độ Ba-la-mật, khiến chứng quả vô thượng Bồ-đề thành tựu Nhất thiết chúng trí.
Lại nữa, có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, tiếp có đức Phật cũng hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Như vậy tiếp tục hai vạn đức Phật đồng một hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, lại đồng một tánh Phả-
la-đọa (lợi căn). Di Lặc nên biết, đức Phật đầu, đức Phật sau đồng một danh hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh, 10 hiệu đầy đủ, pháp của Ngài nói sơ, trung, hậu đều thiện.
Giải thích : A-nậu-đa-la-tam-miệu-tam-Bồ-đề (dịch âm từ chữ Anutara samma sambuddhi : Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác).
Chữ nãy cũng có ngài dịch âm : Tam-da-tam-bồ hoặc Tam-da-tam Phật.
Hai vạn đức Phật cũng đồng một tên Nhật Nguyệt Đăng Minh, như đã trình bày, Nhật Nguyệt Đăng Minh để tiêu biểu giác tánh sáng suốt như ba thứ nguồn gốc ánh sáng của thế gian gom lại. Tất cả các đức Phật thành Phật, đức Phật nào cũng phải thành tựu đức tánh viên mãn đó hết nên đức Phật nào cũng có tên Nhật Nguyệt Đăng Minh. Đây là tên chung như danh từ Phật vậy.
Thứ nữa, trong kinh Đại thừa, đức Phật cho thấy rằng thời gian, không gian là không thật và phần nhiều kinh Đại thừa dựa vào tướng để hội tánh. Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ. Như Ngài Liễu Quán tham vấn với Ngài Tử Dung câu “Vạn pháp quy nhất, nhất
quy hà xứ”, tám chín năm mà không ngộ. Nhân một hôm đọc Ngữ lục, trong đó có câu “chi vật truyền tâm, nhân bất hội xứ”, Ngài liền ngộ.
Vậy, thế nào là chi vật truyền tâm ? Truyền tâm, tâm vô hình thì lấy gì để truyền ? Chỉ vật là ngộ tâm chứ không phải ngộ vật, đó là chỗ khó lãnh hội được, mà khi lãnh hội được tức giác ngộ. Như có người đến hỏi ngài Triệu Châu : - Phật ở đâu ? Ngài nói : - Phật trong chùa. Người ấy nói : - trong ấy đều là tượng bằng đất, bằng gỗ cả mà. Ngài nói : - Chính vậy. Người ấy hỏi : - Vậy thì Phật ở đâu ? Ngài nói : - Phật trong chùa.” Chỉ vật truyền tâm.
Cũng chừng ấy, mà với tâm bậc ngộ đạo thì đó là Phật, kẻ chưa ngộ thì đó là tượng gỗ. Cũng như chúng ta lạy Phật, nếu không phải lạy về tánh Phật thì chúng ta cũng kẹt mắc về lạy tượng đất. Nhưng chúng ta đâu có lạy tượng đất mà là lạy tánh giác ngộ của Phật. Đức tánh của Phật được tiêu biểu trong đó. Đó là ý nghĩa câu “Chỉ vật truyền tâm”. Sở dĩ hai vạn đức Phật mà có cùng một hiệu
Nhật Nguyệt Đăng Minh là chính do ý nghĩa đó.
Kinh văn : Trong hai vạn đức Phật đó, đức Phật rốt cùng hết, khi chưa xuất gia có tám vương tử, người thứ nhất tên Hữu Ý..., tám vị vương tử này oai đức tự tại, đều quản lãnh bốn châu thiên hạ. Khi các vị vương tử nghe vua cha xuất gia chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề thì cũng bỏ ngôi vua xuất gia theo cha, phát chí Đại thừa, thường tu phạm hạnh, đều làm vị Pháp sư, từng trồng căn lành nơi hằng ngàn vạn các đức Phật.
Giải thích : đây là đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau cùng, đức Phật này có tám vương tử. Khi tám vương tử nghe vua cha xuất gia chứng đại Bồ-đề thì cũng bỏ ngôi vua xuất gia tu phạm hạnh, làm Pháp sư và đã gieo căn lành với ngàn vạn đức Phật.
Tám vương tử này có thể tiêu biểu cho tám thức. Bởi vì chưa thành Chánh giác thường có tám thức hiện hành, tám thức này chủ động đời sống của chúng sanh, chúng sanh sống với tám thức chứ chưa sống với trí giác ngộ. Khi chuyển thức thành trí tức vương vị bỏ, và
hành động của tám thức chuyển đổi hết mà bỏ thức hư vọng để thành tựu Đại giác. Khi chuyển tám thức thành trí tức là lúc phát chí Đại thừa tu phạm hạnh, làm Pháp sư. Tám vị vương tử này là chúng hội của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, đây cũng là câu nói tóm tắt để đối chiếu với đức Phật Thích Ca, trước khi thuyết pháp đức Phật Thích Ca cũng quy tụ chúng hội...
Ngài Văn Thù dẫn điều này để chứng tỏ rằng, xưa kia đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh hiện ra đời, thuyết pháp... cũng có những thuỵ tướng giống như ngày hôm nay. Sau khi hiện những thụy tướng đó thì đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa, vậy thì hôm nay đức Phật Thích Ca cũng hiện ra những thụy tướng như vậy, chắc chắn rằng đức Phật Thích Ca cũng sẽ thuyết kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Đây là lời dẫn chứng của ngài Văn-thù-sư-lợi. Trước khi Ngài đáp theo sự suy nghĩ của Ngài. Bây giờ Ngài dẫn chứng thật rằng đức Phật Thích Ca sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa giống như đức Nhật Nguyệt Đăng
Minh trước kia vậy. Đó là phần duyên khởi cho kinh Pháp Hoa vậy.
Kinh văn : Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát được chư Phật hộ niệm.
Khi nói kinh đó rồi, liền ở giữa đại chúng, ngồi kiết-già nhập định Vô lượng nghĩa xứ, thân tâm không lay động. Lúc bấy giờ, trời mưa hoa Mạn-đà-la (lược)... mà rải trên Phật đều có sáu cách rung động. Lúc bấy giờ ở trong chúng hộ hàng Tỳ-kheo Tỳ-kheo-ni (lược)..., các đại chúng ấy gặp việc chưa từng có, hoan hỷ chấp tay nhất tâm chiêm ngưỡng đức Phật. Lúc bấy giờ đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng hào quang từ nơi tướng lông trắng ở giữa hai chân mày, chiếu về phương Đông một vạn tám ngàn Phật độ, đều cùng khắp hết, như hôm nay thấy các Phật độ ấy.
Giải thích : Như trước, hào quang của đức Phật Thích Ca phóng ra chiếu khắp trong đó thấy cả lục thú chúng sanh, Phật ra đời, thuyết pháp... và Niết-bàn như thế nào thì
giờ đây, nơi hào quang của đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng ra cũng thấy như thế.
Kinh Văn : Di Lặc nên biết, lúc bấy giờ trong hội chúng có hai mươi ức Bồ-tát muốn nghe pháp, các vị Bồ-tát đó thấy hào quang rực rỡ khắp cõi nước Phật chưa từng có, đều muốn biết hào quang đó vì do nhân duyên gì. Lúc bấy giờ có vị Bồ-tát tên Diệu Quang, vị này có tám trăm đệ tử. Khi đó đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ Tam-muội vô lượng nghĩa mà xuất định, nhân vì Diệu Quang Bồ-tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hoá Bồ-tát được chư Phật hộ niệm.
Giải thích : Hội chúng thấy đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh phóng hào quang liền sanh nghi. Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh sau khi xuất định liền nói kinh Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa, hôm nay đức Thích Ca phóng hào quang làm hội chúng sanh nghi, vậy sau khi xuất định chắc Ngài cũng sẽ nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Kinh văn : Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng
Minh nói kinh đến 60 tiểu kiếp mà không rời pháp toà, lúc bấy giờ chúng hội nghe pháp cũng ngồi một chỗ trong 60 tiểu kiếp, thân tâm không lay động, nghe Phật thuyết pháp giống như trong khoảng một bửa ăn. Bấy giờ trong chúng hội không có một người nào, hoặc thân, hoặc tâm sanh ra mỏi mệt dãi đải.
Giải thích : Đức Phật nói kinh trong 60 tiểu kiếp mà không rời pháp toà... Đây là thời gian trong các kinh Đại thừa. Thật sự, thời gian không dài không ngắn, dài ngắn là tuỳ theo trình độ, tâm tư của chúng sanh. Trong một thời nghe pháp, người nghe với tâm tư cầu pháp thì trong hai giờ in tuồng như độ 15 phút, người nghe với tâm tư mệt mỏi không ưa thích thì hai giờ mà tuồng như cả buổi, đó là những tâm tư bình thường. Nhưng, nếu như có một tâm tư vượt bực hơn nữa thì thời gian cũng khác, huống gì ngồi nghe đức Phật nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa là kinh Phật khai thị cho chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến. Trong lúc nghe được lời dạy ấy mà ngộ nhập được tri kiến Phật thì tự nhiên xả hết các kiến chấp sanh diệt, xả hết tướng
thân tâm, lâu mau, trong ngoài... thì lúc ấy là “Thập thế cổ kim thỉ chung bất ly ư đương niệm”. Mười đời kim cổ, thỉ chung không rời nơi đương niệm. Sáu mươi tiểu kiếp mà như trong một bửa ăn là vì vậy.
Kinh văn : Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp rồi, liền ở giữa chúng Ma, Phạm, Sa-môm, Bà-la-môn, Trời, Người, A-tu-la mà tuyên nói rằng : “Như Lai giữa đêm hôm nay sẽ vào Vô dư Niết-bàn”.
Giải thích : Đoạn kinh này có ý rằng thời đức Phật nói kinh Pháp Hoa là thời đức Phật sắp Niết-bàn. Sau khi nói kinh Pháp Hoa, đức Phật sẽ nói kinh Niết-bàn nữa, tức là chấm dứt cả thời giáo hoá ở Ta-bà, giống như đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh xưa kia nói kinh Pháp Hoa trong 60 tiểu kiếp thì liền tuyên bố giữa đêm vào Niết-bàn, ngày hôm nay sắp vào Niết-bàn đức Phật Thích Ca cũng sẽ nói kinh Pháp Hoa không khác.
Kinh Văn : Lúc bấy giờ có Bồ-tát tên Đức Tạng được đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thọ ký và bảo các Tỳ-kheo rằng :
Đức Tạng Bồ-tát này kế sẽ làm Phật hiệu là Tịnh Thân Đa-đà-a-già-độ A-la-ha Tam-miệu-tam-phật-đà.
Giải thích : Đa-đà-a-già-độ dịch âm từ chữ Tatha-gata mà ra. Bởi chữ Như Lai cũng có nghĩa Như khứ. Như khứ là theo đạo Như thật từ sanh tử bước tới cảnh giới giác ngộ Niết-bàn nên gọi là khứ. Đúng y như sự thật, đúng y như thật páhp mà đi tới, theo con đường chân thật mà đi tới, từ chúng sanh đi tới quả vị giác ngộ gọi là Như khứ. Như Lai là đúng theo con đường như thật, từ địa vị giác ngộ mà trở về cõi ứng thân hóa độ chúng sanh, vì vậy chữ này viết là Tathagata, nên phiên âm Đa-đà-a-già-độ.
Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói kinh xong liền thọ ký cho Đức Tạng rồi giữa đêm vào Niết-bàn. Đoạn này cũng để nói rằng đức Thích Ca ngày hôm nay phóng hào quang xong từ trong định xuất ra và sẽ nói kinh Pháp Hoa, thọ ký cho hàng đệ tử thành Phật rồi Ngài vào Niết-bàn... Đó là những điều sẽ nói trong kinh Pháp Hoa và cũng cho thấy rằng trong hội Pháp Hoa đức Phật mới thọ
ký cho hàng Thanh Văn La-hán chứng Vô thượng Bồ-đề. Tất cả các việc thiện của chúng sanh đều đưa đến Phật quả, thay vì như trong các kinh khác cũng nói tất cả chúng sanh đều thành Phật, nhưng vẫn còn phân biệt nói có 5 chủng tánh là Định tánh Thanh Văn, Định tánh Duyên Giác, Định tánh Bồ-tát, Bất định tánh và Vô tánh. Hay như kinh Bát-nhã mà cũng còn phân biệt thiện hữu sở đắc và thiện vô sở đắc… Đến Pháp Hoa mới quy về Phật địa.
Kinh văn : Đức Phật thọ ký xong vào nửa đêm liền nhập Vô dư Niết-bàn.
Sau khi đức Phật diệt độ, Diệu Quang Bồ-tát trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa trải tám mươi tiểu kiếp, nói pháp cho mọi người nghe.
Tám vương tử của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh đều tôn Diệu Quang làm thầy, được Diệu Quang giáo hóa khiến cho vững chắc đối với Vô thượng Bồ-đề, các vị vương tử trải qua thời gian cúng dường vô lượng trăm ngàn các đức Phật xong đều thành bậc Chánh giác. Đức Phật sau cùng trong tám vương tử đó hiệu là Nhiên Đăng.
Và trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang Bồ-tát có một người tên là Cầu Danh. Người này tham ưa danh lợi, tuy có từng đọc tụng các kinh mà không thông suốt, thường hay quên sót nên gọi là Cầu Danh.
Người này cũng do nhân duyên trồng các căn lành nên gặp được vô lượng trăm nghìn đức Phật, cúng dường, cung kính, tôn trọng, ngợi khen.
Giải thích : Trong tám trăm đệ tử của Diệu Quang có một người gọi là Cầu Danh. Cầu Danh này chỉ cho tiền thân của đức Di Lặc. Vì sao ? Vì người này tham trước danh lợi, thường lui tới chỗ quyền quý danh tiếng để dựa theo đó mà kiếm danh, tới chỗ có tiền để tỏ ra mình nhà giàu sang…, danh bằng học thức, tiền tài… cho nên dù có đọc tụng kinh điển nhưng không thông lợi, quên trước quên sau, cũng nhờ trồng căn lành mà người này gặp và cung kính dường trăm ngàn các đức Phật.
Kinh văn : Di Lặc nên biết, Diệu Quang Bồ-tát lúc bấy giờ đâu phải ai khác, chính là thân Ta đây. Cầu danh Bồ-tát chính là
thân ông đó.
Nay thấy điềm lành của đức Phật Thích Ca cùng với điềm lành xưa của Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh không khác, cho nên Ta suy nghĩ rằng : Nay đức Như Lai sẽ nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa là pháp giáo hóa hàng Bồ-tát, được chư Phật hộ niệm. Lúc bấy giờ ngài Văn-thù-sư-lợi ở trong chúng muốn lặp lại nghĩa trên mà nói kệ rằng :
Ta nhớ trong đời quá khứ, vô lượng vô số kiếp, có đức Phật Nhân Trung Tôn, hiệu Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, đức Thế Tôn diển nói Diệu Pháp, độ vô lượng chúng sanh và vô số ức Bồ-tát khiến được vào trí tuệ Phật. Khi đức Phật chưa xuất gia, có sanh tám vương tử, tám vương tử thấy đại Thánh xuất gia cũng theo tu phạm hạnh.
Lúc bấy giờ Phật nói kinh Đại thừa tên Vô lượng nghĩa rồi ở trong đại chúng rộng phân biệt trình bày. Phật nói kinh ấy rồi, liền ở trên pháp toà, kiết-già nhập tam-muội Vô lượng nghĩa xứ, trời mưa hoa Mạn-đà, trống trời tự nhiên kêu, hàng trời,
rồng, quỷ thần cúng dường bậc Nhân Trung Tôn, tất cả các Phật độ, tức thời chấn động mạnh. Phật phóng hào quang giữa hai chân mày hiện ra các việc hy hữu, hào quang đó chiếu về phương Đông, một vạn tám ngàn cõi phật, chỉ thị cho thấy rõ tất cả chúng sanh, sanh tử nghiệp báo và thấy các cõi của Phật dùng bằng trân bảo trang nghiêm, lưu ly, pha lê ấy đều do từ trong hào quang đức Phật chiếu sáng, lại thấy hàng trời, người, long thần… đều cúng vườn đức Phật.
Lại thấy các đức Phật Như Lai tự nhiên thành Phật đạo, thân sắc như núi vàng, đoan nghiêm rất vi diệu như tượng chơn kim hiện ra giữa bình lưu ly trong sạch. Đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, diễn nói pháp thâm nghĩa, mỗi mỗi nơi cõi Phật, hàng Thanh văn vô số nhân hào quang Phật phóng ra mà đều thấy hàng đại chúng kia, hoặc có hàng Tỳ-kheo, ở tại trong núi rừng, tinh tấn trì tịnh giới, giống như giữ gìn ngọc minh châu.
Lại thấy hàng Bồ-tát, tu hành hạnh bố thí, nhẫn nhục, số ấy nhiều như hằng
sa, đều do hào quang đức Phật ấy chiếu tới.
Lại thấy có Bồ-tát, thâm nhập vào thiền định, thân tâm vắng lặng, không lay động để cầu Vô thượng đạo. Lại thấy hàng Bồ-tát, biết tướng tịch tịnh của các pháp, mỗi mỗi ở các cõi nước của mình mà thuyết pháp cầu Phật đạo.
Lúc bấy giờ, bốn chúng thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, hiện sức thần thông lớn, tâm rất hoan hỷ mỗi mỗi đều tự hỏi nhau, việc ấy do nhân duyên gì ? Đức Thế Tôn được hàng nhân thiên kính phụng, vừa ở tam-muội dậy, liền tán thán Diệu Quang rằng : ‘Ngươi là con mắt của thế gian, là chỗ quy tín của tất cả, hay phụng trì Pháp tạng, đúng như pháp Ta nói, chỉ có người hay chứng biết”. Đức Thế Tôn tán thán, khiến Diệu Quang hoan hỷ, rồi tiếp nói kinh Pháp Hoa trọn trong 60 tiểu kiếp, không rời khỏi chỗ ngồi, nói pháp thượng diệu này, Diệu Quang pháp sư thảy đều thọ trì. Phật nói kinh Pháp Hoa khiến chúng được hoan hỷ rồi, liền ngay ngày hôm đó bố cáo với hàng nhân thiên chúng
rằng : “Nghĩa thật tướng của các pháp đã vì các người nói ra, nửa đêm hôm nay Ta sẽ vào Niêt-bàn, các ngươi hãy nhất tâm tinh tấn nên xa lìa phóng dật, các đức Phật rất khó gặp, ức kiếp thì mới gặp được”. Đệ tử của Thế Tôn, nghe Phật vào Niết-bàn, mỗi mỗi ôm lòng bi não, đức Phật diệt độ làm sao mau thay ! Vị Thánh chúa vua của pháp an ủy vô lượng chúng rằng : Nếu khi Ta diệt độ, các ngươi chớ lo buồn, sợ hãi, có Đức Tạng Bồ-tát đối với Vô lượng thật tướng tâm đã thông đạt, Đức Tạng sẽ làm Phật hiệu là Tịnh Thân, sẽ độ vô lượng chúng sanh.
Đức Phật trong đêm đó diệt độ như củi hết lửa tắt, phân bố Xá-lợi, xây dựng vô lượng tháp, hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni số đông như hằng sa càng thêm tinh tấn để cầu Vô thượng đạo.
Giải thích : Xưa ngài Diệu Quang, tức nay so sánh với Tôn giả Xá-lợi-phất. Diệu Quang là tiền thân của ngài Văn Thù, bậưc đại trí, Xá-lợi-phất cũng là bậc trí tuệ đệ nhất.
Nên hai ngài rất tương xứng để Phật gọi tên trong khi thuyết pháp.
Đức Phật an ủi chúng, Phật diệt độ không nên lo buồn, sợ hãi vì có Đức Tạng Bồ-tát đã chứng nhập được vô lậu, và sẽ thành Phật, thuyết pháp… Điều này cũng có ý nói rằng vô lậu thật tướng không bao giờ gián đoạn và tánh giác ngộ cũng không gián đoạn mà Đức Tạng Bồ-tát đã thành tựu, đã chứng ngộ vô lượng thật tướng ấy, mà đã không gián đoạn thì chúng sanh có cơ hội để nghe Chánh pháp, để thành tựu được Bồ-đề.
Khi đức Phật nói pháp rồi thì giữa đêm Ngài diệt độ như “tân tận hoả diệt”, củi hết lửa tắt là chỉ cho ngủ ấm thân, về hóa thân của Phật. Tân tận hỏa diệt, đừng nghĩ rằng hỏa diệt là lửa sẽ mất hẳn, mà là chỉ không có lửa hiện tượng, lửa cháy nơi củi cho ta thấy được, diệt là diệt tướng lửa chứ tánh lửa không bao giờ mất. Cũng như hóa thân Phật hiện ra ở cõi Ta-bà này, dùng thân ngũ ấm mà hiện hành để cho chúng sanh thấy, khi cơ duyên mãn, Phật hiện ra tướng diệt độ giống như củi hết lửa tắt. Tướng lửa diệt nhưng tánh lửa vẫn còn, Phật diệt độ không phải là mất hẳn, vì pháp thân Phật không ở trong vòng sanh
diệt của ngũ uẩn vậy.
Kinh văn : Pháp sư Diệu Quang ấy, phụng trì pháp tạng Phật trong 80 tiểu kiếp, rộng nói kinh Pháp Hoa.
Còn tám vương tử được Diệu Quang khai hoá, bền vững nơi đạo vô thượng, cũng thấy được vô số Phật, cúng dường các đức Phật xong, tuỳ thuận làm đạo lớn, kế tục được thành Phật, lần lượt được thọ ký.
Đấng Thiên Trung Thiên rốt sau hiệu là Nhiên Đặng Phật. Đây là đấng Đạo sư của chư tiên, độ thoát vô lượng chúng.
Còn Diệu Quang pháp sư lúc bấy giờ có một người đệ tử tâm thường hay giải đải, tham trước các danh lợi, cầu danh lợi không nhàm chán, thường dạo qua các nhà quyền quí, bỏ quên sự tụng tập, bị sót sai không thông suốt. Do nhân duyên đó nên gọi là Cầu Danh. Nhưng cũng nhờ tu các thiện nghiệp, thấy được vô số Phật, cũng dường các đức Phật, tuỳ thuận hành đại đạo, đầy đủ sáu Ba-la-mật, nay thấy đức Thích Sư tử, sau đó sẽ thành Phật, hiệu là Di Lặc, rộng độ các chúng sanh, số nhiều
vô lượng. Sau khi đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh điệt độ, người biếng nhac kia chính là ông, còn Diệu Quang pháp sư kia chính là Văn Thù Ta nay.
Ta thấy Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh, tướng tốt của hào quang xưa giống như nay, do đó biết nay đức Phật Thích Ca muốn nói kinh Pháp Hoa. Tướng điềm lành nay giống như tướng điềm lành xưa, đó là phương tiện của chư Phật. Nay Phật phóng hào quang để hổ trợ phát huy nghĩa thật tướng.
Các người nay nên biết, chấp tay một lòng đợi, đức Phật Thích Ca sẽ mưa một trận mưa đại pháp làm sung mãn cho người cầu đạo.
Các người cầu Tam thừa nếu còn có nghi hối, đức Phật sẽ dứt trừ nghi hối, khiến cho không còn sót.
Giải thích : Phật còn có hiệu là Sư tử. Sư tử là chúa trong loài thú, Phật là chúa trong loài chúng sanh nên gọi là Thích Sư tử.
Ngài Văn Thù trong các kinh khác nói ngài là cổ Phật, thầy của các đức Phật, ý rằng
ngài Văn Thu tiêu biểu cho căn bản trí, thật trí, mà chư Phật đều thành tựu căn bản trí, thật trí, nếu không thành tựu căn bản trí, thật trí thì không thành Phật được, cho nên căn bản trí là gốc của chư Phật, nên nói Văn Thù thầy chư Phật là vậy.
*
* *