PHÂN TÍCH
KINH PHÁP HOA
Đi vào kinh văn, trước phải biết tổng quát tức biết được dàn bài mà các vị giải kinh thường gọi lag phân khoa, để xem toàn kinh có mấy quyển, mấy phẩm và ý nghĩa mỗi phẩm.
Kinh Pháp Hoa mà ngài Thiên Thai chú giải chia ra làm hai phần : Phần Tích Môn và phần Bản Môn. Tích là dấu tích ; Bản là gốc, Môn là địa bàn hoạt động.
Địa bàn hoạt động của đức Phật ở trong bản thể, trong Pháp thân thì gọi là Bản môn. Địa bàn hoạt động của đức Phật trong hóa thân, trong hình thái có dấu tích, có nghe, thấy và còn mất ẩn hiện của pháp hữu vi thì gọ là Tích môn.
Bản ví như mặt trăng trên trời ; Tích ví như ánh trăng dưới nước, ánh trăng dưới nước là một dấu tích chúng ta thấy được. Nhưng ánh trăng dưới nước không hẳn luôn luôn đều có, mà có lúc ẩn đi. Tuỳ theo, hễ
nước trong thì hiện mà nước đục thì ẩn, có nước thì trăng hiện, không nước thì trăng ẩn. Hóa thân Phật cũng vậy. Cho nên có sự sanh diệt ở cõi Ta-bà này là đứng trên mặt Tích môn hay nói cách khác là “Thuỳ Tích”, (Thù : Từ trên đưa xuống)
Vậy, Hoá thân của Phật ở cõi Ta-bà này cũng như mặt trăng dưới nước là mặt trăng Thùy tích do từ mặt trăng Bản môn bản địa – trên trời hiện ra. Mặt trăng dưới nước khi có khi không, mặt trăng trên trời không bao giờ mất. Bản nguyện tự thể vĩnh cửu.
Sở dĩ có bóng trăng Tích môn dưới nước là nhờ có mặt trăng Bản môn trên trời. Do nảm môn mà có Tích môn, nhưng cũng do Tích môn thì hiển được Bản môn. Nếu không nhờ Tích môn thì không làm sao hiển tỏ được bản môn, không nhờ bóng trăng dưới nước thì không làm sao thấy được mặt trăng trên trời vậy.
Phần Tích môn còn gọi là phần kha quyền hiển thật, khai tam hiển nhất, thừa quyền thật. Tích cũng chỉ cho Hoá thân.
*
Dàn bài tổng quát về Tích môn gồm :
A. Phần tự : Phẩm Tựa.
B. Phần chánh tông :
1. Lược khai tam hiển nhất : Phẩm Phương tiện.
2. Quảng khai tam hiển nhất :
a) Pháp Thuyết châu : (Thông lên phẩm Phương tiện) phẩm Thí dụ.
b) Dụ Thuyết châu : Phẩm Tín giải, Dược thảo dụ, Thọ ký.
c) Nhân Duyên thuyết châu : Phẩm Hoá thành, Ngũ bách đệ tử thọ ký, Thọ học Vô học ký, Pháp sư.
C. Phần lưu thông :
1. Công thâm báo trọng mạng mích thông kinh : (Thông lên phẩm Pháp sư) phẩm Kiến Bảo tháp
2. Dẫn văng kiêm tích dĩ chứng thông kinh : Phẩm Đề-bà-đạt-đa
3. Tha phương thử độ khuyến tấn thông
kinh : Phẩm Khuyến trì
4. Sơ tâm hoằng kinh bất lự nguy khổ : Phẩm An lạc hạnh
Phần Bản môn còn gọi là phần Khai cận hiển viễn, Khai tích hiển bản, Thân quyền thật. Bản cũng chỉ cho Pháp thân.
*
Dàn bài tổng quát về bản môn gồm :
A. Phần tự : Phẩm Tùng địa dũng xuất.
B. Phần chánh tông :
1. Lược Khai Cận Hiển Viễn : (Thông qua phẩm Tùng địa dũng xuất)
2. Quảng Khai cận hiển viễn : Phẩm Như lai thọ lượng, 1/2 phẩm Phân biệt công đức (phần đầu).
C. Phần lưu thông.
1. Công đức Pháp thông :
1/2 phẩm Phân biệt công đức (phần sau).
Phẩm Tuỳ hỷ công đức.
Phẩm Pháp sư công đức.
Phẩm Thường Bất Khinh Bồ-tát.
2. Phó Chúc Lưu thông :
a) Chúc Lụy Pháp thông :
Phẩm Như Lai thần lực.
Phẩm Chúc Lụy.
b) Hoá Tha Lưu thông.
Phẩm Dược Vương Bồ-tát bổn sự.
Phẩm Diệu Âm Bồ-tát.
Phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát.
Phẩm Đà-la-ny.
Phẩm Diệu Trang Nghiêm.
c) Tự Hành lưu thông :
Phẩm Phổ Hiền
Ngài Thiên Thai chia Tích môn gồm 14 phẩm đầu và Bản môn gồm 14 phẩm cuối.
Nói về đức Phật có hai là giáo pháp Phật và bản thân Phật. Trong kinh Pháp Hoa phần đầu nói về giáo pháp, giáo pháp đó gọi là thừa, nương theo giáo pháp đó mà chứng quả nọ quả kia gọi là thừa (xe) ; “Quyền: chỉ cho tam thừa ; “Thật” chỉ cho Nhất thừa. Do có khai quyền mới hiển thật. Nhờ Tích môn mà hiển được Bản môn, nếu không khai quyền thì không làm sao hiển được thật ; không khai tam thì không làm sao hiển được nhất.
Như trong kinh nói thí dụ “Môn ngoại thuyết tam xa” để cứu mấy đứa con ham chơi trong nhà lửa, đó là phương tiện thuyết tam xa, nhưng mấy đứa con không biết đó là phương tiện nên vừa ra khỏi nhà thì đòi cho được ba xe. Với đức Phật, cứu cánh của Ngài là đưa chúng sanh ra khỏi nhà lửa, đó là “Nhất thừa xa”. Nếu Phật không phương tiện nói tam xa thì chúng sanh cứ giong ruỗi mãi trong nhà lửa mà không chịu ra nên đức Phật mới khai quyền hiển thật. Thành ra, giáo lý của Phật phần trước gọi là thừa, quyền thừa thật, phần
sau đó là thân cận, thân viễn hay thân quyền, thân thật.
Cận tức là Hóa thân Phật, đức Phật gần gũi thấy được gọi là cận. Viễn là vĩnh cữu, thân vô lượng kiếp.
Trong 14 phẩm đầu - Tích môn - không đồng nhất, mỗi phẩm đều có tư thế riêng, cho nên trong 14 phẩm đều có tư thế riêng, cho nên trong 14 phẩm đầu cũng chia ra : Phần Tự, phần Chánh tông và phần Lưu thông.
A. Phần Tự : Gồm có phẩm Tự.
B. Phần Chánh tông : Gồm có 8 phẩm, mỗi phẩm đều có tánh cách sai khác nên được chia ra :
Phẩm Phương tiện : Đây là phẩm chủ yếu trong 14 phẩm Tích môn. Bao nhiêu lý lẽ “Khai tam hiển nhất” cũng nằm trong phẩm này. Phẩm này nói thẳng bản hoài của Phật ra đời, nói thẳng chân lý cứu cánh. Chỉ hàng thượng căn như Tôn giả Xá-lợi-phất, là bậc đại trí tuệ đứng đầu trong hàng Thanh Văn, được lãnh ngộ được phải qua phẩm sau. Phần sau chia làm ba châu :
Pháp thuyết châu : Phần này trọn cả phẩm
Phương tiện và thông qua phẩm Thí dụ.
Dụ thuyết châu : gồm phẩm Tín giải, Dược thảo, Thọ ký.
Nhân duyên thuyết châu : Gồm phẩm Hoá thành, Ngũ bách đệ tử, Thọ học vô học ký.
Tóm lại 8 phẩm này thuộc phẩn Chánh thuyết trong Tích môn. Nhưng 8 phẩm này gồm thâu vào hai phần chính là lược khai tam hiển nhất - phẩm Phương tiện - và Quảng khai tam hiển nhất gòm 7 phẩm còn lại. Hàng thượng căn như Tôn giả Xá-lợi-phất chỉ nghe pháp Phương tiện là được lãnh hội và được Phật thọ ký, nhưng hàng trung hạ căn thì còn mờ mịt phải qua phần Dụ thuyết châu - Phật nói Thí dụ - để bổ túc cho lời dạy trên, hàng trung căn có bốn vị được thọ ký, hàng hạ căn vẫn chưa lãnh ngộ được, Phật phải nhắc đến túc thế nhân duyên (Nhân duyên thuyết châu) để bổ túc cho phần Dụ thuyết và hàng hạ căn được thọ ký.
C. Phần lưu thông : (Của Tích môn – Đây là điểm đặc biệt của kinh Pháp Hoa, các kinh khác Phần Lưu thông là cuối kinh) Gồm có 4 mục :
I. Công thâm báo trọng mạng mích thông kinh : Gồm phẩm : Pháp sư và Kiến Bảo tháp. Hai phẩm này nêu lên công đức sâu xa của kinh Pháp Hoa, vì thế mà người nào hoằng truyền kinh sẽ được công đức vô lượng, và đây cũng là điểm Phật khuyến khích người truyền bá kinh Pháp Hoa. Phật cũng nói đến phương pháp hoằng kinh như vào nhà Như Lia, mặc áo Như Lai, ngồi toà Như Lai... Phẩm Pháp sư còn quảng diễn sự thọ ký của Phật, không chỉ cuộc hạn vào 3 hạng căn cơ hiện đối trước Phật như ở các phẩm trước, mà còn bao trùm tất cả chúng sanh trong tương lai, bất luận ở đâu, dù không được gặp Phật, nhưng gặp kinh Pháp Hoa mà phát tâm tuỳ hỷ đọc tụng thọ trì... thì cũng đều được thọ ký thành Phật. Và lối thọ ký này gọi là thông thọ ký, khác với trước gọi là biệt thọ ký.
Phẩm Kiến Bảo tháp, tháp Phật Đa Bảo từ lòng đất vọt lên, có hai ý : 1/ Chứng minh rằng kinh Pháp Hoa mà đức Phật Thích Ca nói, là kinh các đức Phật quá khứ đều nói. 2/ Hổ trợ cho người hoằng truyền kinh Pháp Hoa, lại cũng có ý rằng chúng sanh tương lai không
gặp Phật nhưng nghe kinh Pháp Hoa, gặp kinh Pháp Hoa thì cũng được thọ ký.
II. Dẫn vãng kiêm ích dĩ chứng thông kinh : Phẩm Đề-bà-đạt-đa. Thường các kinh nói Đề-bà-đạt-đa mang tội nghịch, phá hòa hợp tăng, nhưng trong Pháp Hoa, Đề-bà lại được Phật thọ ký. Và đức Phật cũng dạy rằng trong kiếp quá khứ Đề-bà đã từng giảng kinh Pháp Hoa, nhừo đó Phật được thành Phật. Lại cũng cho thấy, với Phật, oán thân bình đẳng, dù đề-bà luôn luôn tìm cách hại Phật.
III. Tha phương thử độ khuyến tấn thông kinh : Phẩm Khuyến Trì. Nghe sự lợi ích của việc trì kinh, các vị Bồ-tát khắp nơi nguyện hoằng truyền kinh Pháp Hoa.
IV. Sơ tâm hoằng kinh bất lự nguy khổ : Phẩm An lạc hạnh. Phật dạy 4 điều, ai an trú trong 4 điều đó thì được an lạc, hoằng kinh sẽ không bị trở ngại, nguy khốn.
Phần Bản môn gồm 14 phẩm sau, cũng chia ra phần Tự, phần Chánh tông và phần Lưu thông.
I. Phần Tự : Phẩm Tùng địa dũng xuất. Các vị bồ-tát từ dưới lòng đất vọt lên. Đây là
phần mở đầu Bản môn.
Các vị bồ-tát đó ai là thầy, nương vào đâu để Thành Đạo... ? Ý rằng đức Phật đã Thành Đạo từ vô lượng kiếp và đã từng giáo hóa các Bồ-tát đó, chứ chẳng phải Phật chỉ mới Thành Đạo dưới cây Bồ-đề bên bờ sông Ni-liên-thuyền.
II. Chánh tông :
Lược khai cận hiển viễn : Thông qua phẩm Tùng địa dũng xuất.
Quảng khai cận hiển viễn : (Cận : Hóa thân ; Viễn : Pháp thân). Phẩm Như Lai thọ lượng và nửa phẩm Phân biệt công đức.
III. Lưu thông : đây cũng là phần lưu thông chung toàn kinh
1/ Công đức lưu thông : Phẩm Tuỳ hỷ công đức, Pháp sư công đức, phẩm Thường Bất Kinh Bồ-tát.
Phần này chia làm ba phẩm :
-
Phẩm hạ : Tuỳ hỷ công đức : Nghe kinh tuỳ hỷ.
-
Phẩm trung : Pháp sư công đức : Viết chép, diễn giảng, thọ trì, đọc tụng…
-
Phẩm thượng : Thường Bất Khinh, Xả
thân thật hành.
2/ Phó chúc lưu thông :
- Chúc lụy lưu thông, phẩm Như Lai thần lực và phẩm Chúc lụy : Phật hiện thần thông tán trợ, khích lệ, đặt niềm tin, công đức hoằng kinh, rồi Phật trực tiếp nói lời phó chúc.
- Hóa tha lưu thông :
-
Khổ hành hóa tha : Phẩm Dược Vương, lấy sự khổ hạnh để giáo hóa người khác như đốt tay, thiêu thân cúng dường.
-
Tam muội hóa tha : Phẩm Diệu Âm và Quán Thế Âm Bồ-tát, dùng sức Tam muội, dùng “Nhân” để hoằng truyền kinh Pháp Hoa.
-
Tổng trì hóa tha : Phẩm Đà-la-ni, dùng “Pháp” để hoằng kinh.
-
Thệ nguyện hóa tha : Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương. Một ông vua tà kiến nhờ hai người con trì Pháp Hoa mà chuyển ngộ.
3/ Tự hành lưu thông : Phẩm Phổ Hiền.
*
* *