2. NEPAL VÀ KASHMIR
Phật giáo Nepal tiếp tục phát triển mạnh như là một chi nhánh của Phật giáo Bắc Ấn, và đại học Pātan là sự rập khuôn theo một trong những đại học thời đại Pāla. Giữa thế kỷ 7 và 9, những quan hệ mật thiết với Tây Tạng được phát triển, và nhiều người Tây Tạng đến Nepal để học hỏi Phật giáo Ấn Độ. Chính tại Nepal, ngài Tịch Hộ1 đã gặp ngài Liên Hoa Sanh (2) khi vị này chuyển đến ngài lời thỉnh cầu của vua Tây Tạng. (3)
Vào đầu thời kỳ này, sự phát triển của Tăng-già ở Kashmir bị trì trệ một cách nghiêm trọng do những cuộc xâm lăng của người Hung Nô, dưới sự chỉ huy của Mihirakula (khoảng năm 515) đã tàn phá đất nước và ngược đãi tăng sĩ. Sau khi họ rút đi, một tín đồ Phật giáo lên nắm quyền cai trị là Meghavahana ban hành lệnh cấm giết hại mọi loài vật, đồng thời có chính sách bồi thường cho những người làm nghề bán thịt và đánh cá chịu thiệt hại bởi lệnh cấm này. Nhà vua cho xây nhiều tự viện, và những người nối nghiệp ông cũng tiếp tục ủng hộ tăng đoàn.
Ngài Huyền Trang có lưu lại 2 năm ở Kashmir. Ở đây, ngài thấy có khoảng 5.000 vị tăng, nhưng nhận xét rằng "... hiện nay vương quốc này không có khuynh hướng sùng đạo lắm". (4)
Sự phát triển mạnh mẽ của Phật giáo lại bắt đầu vào thế kỷ 7 và 8 với các vua dòng Karkota. Niềm tin được hồi phục, nhưng với một hình thức gần giống hơn với sự thờ cúng của đạo Hindu. Điều này bộc lộ rõ ở Tát-bà-nhã-mật-đa (5) và những bài tụng ca của ông, xưng tán thần nữ Đà-la.
Việc thực hiện những phép thuật huyền bí và mầu nhiệm lan rộng, và các tăng sĩ đều học cách cầu mưa hoặc cầu tạnh, làm thế nào để chặn đứng cơn lũ lụt của những dòng sông.v.v...
Sự lan truyền của giáo lý Tan-tra và chủ nghĩa sùng tín đã mang Phật giáo đến gần hơn với đạo Shiva. Và đến lượt mình, trong thế kỷ 9 và 10, giáo phái này đã phát triển những nền tảng
________________
(1) Śāntarakşita, Hán dịch nghĩa là Tịch Hộ (寂護), một vị tăng Ấn Độ xuất thân từ viện Phật học Nālanda.
2. NEPAL AND KASHMIR
The Buddhism of Nepal continued to flourish as an offshoot of that of Northern India, and Patan became a replica of one of the Pala universities. Between the seventh and ninth centuries close ties were developing with Tibet, and many Tibetans came to Nepal to learn about the Buddhism of India. It was in Nepal that Santaraksita encountered Padmasambhava when he conveyed to him the invitation of the king of Tibet. At the beginning of this period, the Sańgha of Kashmir suffered a serious setback from the invasions of the Huns, who under Mihirkula (c. 515) devastated the country and persecuted the monks. After their departure Meghavahana, a Buddhist ruler, forbade all slaughter of animals, while compensating butchers and fishermen for the resulting loss. This king erected many religious buildings and his successors continued to patronize the Church. Yuan-tsang remained for two years in Kashmir. He found about 5,000 monks, but noted that "at the present time this kingdom is not much given to the faith". New prosperity began in the seventh and eighth centuries with the Karkota rulers. The faith revived again, though in a form which brought it nearer to Hindu cults. This shows itself in Sarvaj-namitra, and his Hymns in praise of Tara. Sorcery and miracle-working spread and the monks practised how to make or stop rain, how to check the flow of flooded rivers, etc. The spread of Tantrism and Devotionalism brought Buddhism nearer to Sivaism, which in its turn in the ninth and tenth centuries developed, with
_________________
(2) Padma-sambhava, Hán dịch nghĩa là Liên Hoa Sanh (蓮華生), người Tây Tạng, là Tổ khai sáng Hồng phái của Tây Tạng.
(3) Vua Tây Tạng thỉnh ngài Tịch Hộ đến Tây Tạng để giáo hóa.
(4) Tức là vào thời điểm mà ngài lưu lại đó.
(5) Sarvajñamitra