Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Lược Sử Phật Giáo

Lược Sử Phật Giáo

Tác giả: Nguyễn Minh Tiến. Dịch giả: Nguyễn Minh Tiến. Năm xuất bản: 2005. Số trang: 349.

Chương 23: 6. Trung Hoa Và Triều Tiên (Trang 210 - 243)

được xây dựng vào thế kỷ 9, (1) kiến trúc theo kiểu một mạn-đà-la khổng lồ bằng đá, tượng trưng cho vũ trụ và con đường đi đến giải thoát. Vì thế, những ai bước đi trong đền, qua các hành lang, về mặt nghi lễ sẽ là trải qua tiến trình chuyển biến từ luân hồi lên đến cảnh giới Niết-bàn, vượt qua ba cõi (2) trần tục để lên đến cảnh giới siêu nhiên. (3)
Một số những kinh văn quan trọng của Đại thừa được minh họa ở đây bằng các hình chạm nổi trên tường, chẳng hạn như kinh Bản sanh, (4) kinh Phổ diệu, (5) kinh Hoa nghiêm và kinh Phân biệt nghiệp báo.
 
6. TRUNG HOA VÀ TRIỀU TIÊN
Khoảng thời gian 3 thế kỷ từ năm 500 đến năm 800 là những năm hưng thịnh và sáng tạo nhất của Phật giáo Trung Hoa. Phật giáo lúc bấy giờ đã hòa nhập và trở thành một phần trong đời sống dân tộc. Trong giai đoạn này, có 8 tông phái được lập ra tại Trung Hoa. Đó là:
1. Luật tông, do ngài Đạo Tuyên (596-667) sáng lập. (6)
2. Tam luận tông, do ngài Cát Tạng (549-623) sáng lập. (7)
________________
(1) Nguyên tác ghi là vào thế kỷ thứ 6, nhưng không đúng. Triều đại Sailendra bắt đầu trong thế kỷ thứ 8, và công trình này do họ thực hiện vào khoảng giữa thế kỷ thứ 9.
(2) Tức là Tam giới, gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
(3) Kiến trúc Phật giáo đồ sộ này nằm gần Magelang, trên đảo Java ở Indonesia. Được các vua triều Sailendra của Java xây dựng vào khoảng giữa thế kỷ thứ 9, bị bỏ hoang phế vào thế kỷ thứ 11, và bị các nhà khảo cổ học khai quật một phần vào đầu thế kỷ 20. Chịu ảnh hưởng lối kiến trúc thời Gupta của Bắc Ấn, ngôi đền này được xây dựng trên một ngọn đồi cao 46 mét và có tám tầng bằng đá theo kiểu bậc thang, tầng này xây chồng lên đỉnh tầng kia. Năm tầng dưới được xây hình vuông và bao quanh bằng những bức tường có rất nhiều kiến trúc Phật giáo được chạm nổi lên trên bề mặt. Ba tầng trên hình tròn, mỗi tầng đều có tháp thờ Phật. Toàn bộ kiến trúc này được đặt dưới một ngọn tháp lớn xây lên từ trung tâm điểm của đỉnh cao nhất. Đường đi lên từ chân đến đỉnh qua các bậc thang và hành lang dài tổng cộng khoảng 4,8 kilomet. Thiết kế của đền Borobudur là một sự tượng
fine sculptures. The most famous of these is the gigantic Borobudur, a Stupa built in the sixth century, which is a mandala in stone, and symbolizes the cosmos as well as the way to salvation. Those who walk mpradaksind through its galleries will thereby ritually undergo the process of moving out of Samsara into Nirvāṇa, ascending through the three levels of the triple world to the supramundane transcendental realm. Some of the great Mahāyāna texts are here illustrated on bas-reliefs, i.e. the Jātakamāid, Lalitavistara, Gandavyuha and Karmavibhanga.
 
6. CHINA AND KOREA
The three centuries between 500 and 800 were the most prosperous and creative years for Chinese Buddhism. The religion was now assimilated, and became an integral part of national life. Eight indigenous schools arose during this period.
They were:
(1) the Lu-tsung, founded by Tao-Hsuan (595-667);
________________
trưng cho cấu trúc của vũ trụ, và chịu ảnh hưởng của những đền đài được xây ở Angkor, Kam-pu-chia. Vào năm 1983, Borobudur được đưa vào sử dụng như một tượng đài kỷ niệm quốc gia của Indonesia, sau rất nhiều nỗ lực khôi phục với sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ.
(4) Nói về các truyện tiền thân của đức Phật.
(5) Cũng gọi là Thần thông du hý kinh, nói về hiện thân hai đời cuối của đức Phật trước khi thành chánh quả.
(6) Ngài Đạo Tuyên (道宣) sáng lập Luật tông dựa trên cơ sở giới luật Đại thừa. 7Cát Tạng (吉藏), một vị luận sư nổi tiếng, đã từng ở chùa Gia Tường (嘉祥 寺) nên còn được gọi là Gia Tường Đại Sư. Cha mẹ ngài đến từ xứ An Tức (Parthia). Ngài theo học với Pháp Lãng từ năm lên 7, và khi lớn lên nổi tiếng vì sự uyên bác phi thường, nhất là về giáo lý của phái Trung quán. Ngài đã giảng dạy và chú giải nhiều kinh văn của phái Trung quán, và nhờ đó củng cố được nền tảng để thành lập Tam luận tông (三論宗), dựa trên ba bộ luận là Trung quán luận, Thập nhị môn luận và Bách luận. Tác phẩm Tam luận huyền nghĩa (三論玄義) của ngài được xem là một nền tảng vững chắc cho giáo lý của tông này. Ngài còn chú giải cho bộ kinh Pháp Hoa nữa.
3. Pháp tướng tông, do ngài Huyền Trang (596-664) (1) sáng lập.
4. Mật tông, do ngài Bất Không (705-774) sáng lập. (2)
5. Hoa nghiêm tông, do ngài Đỗ Thuận (557-640) sáng lập. (3)
________________
(1) Theo Phật Quang Từ điển thì ngài Huyền Trang (玄奘) sinh khoảng năm 602, nhưng có thuyết cho là vào năm 600. Ở đây không biết Conze căn cứ vào đâu để đưa ra niên đại này.
(2) Ngài Bất Không là người Ấn Độ, tên là Amoghavajra, Hán dịch nghĩa là Bất Không (不空), là một người phiên dịch rất nhiều kinh điển Phật giáo và là một trong những cao tăng có nhiều ảnh hưởng trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa. Ngài sinh ở Samarkand, cha là người Ấn Độ và mẹ là người Khang Cư (Sogdian), đến Trung Hoa năm 10 tuổi sau khi cha ngài qua đời. Năm 719, ngài xuất gia học đạo với ngài Vajrabodhi (Kim Cang Trí - 金剛智). Năm 741, khi tất cả các tăng sĩ ngoại quốc đều bị trục xuất khỏi Trung Hoa, ngài cùng với một số người tổ chức hành hương để thu thập kinh điển, đi qua các vùng Tích Lan, Đông Nam Á và Ấn Độ. Trong chuyến đi này, ngài đã gặp ngài Nagabodhi (Long Trí -龍智), thầy của ngài Kim Cang Trí, tức là sư tổ của ngài, và được học một cách chi tiết hệ thống Kim Cang Đảnh Kinh ( 金剛頂經 - Tattvasamgraha). Ngài trở về Trung Hoa năm 746, mang theo khoảng 500 bộ kinh. Năm 754, ngài bắt đầu dịch phần đầu bộ Kim Cương Đảnh, kinh điển cốt lõi của Phật giáo Mật Tông, và công trình này là một trong những thành quả đáng kể nhất của ngài. Ngài xem giáo pháp này như là phương pháp tu tập hiệu quả nhất để đạt đến giác ngộ, và đã kết hợp những nền tảng của giáo lý này trong một số trước tác của mình. Ngài bị bắt trong cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn (安祿山), nhưng được các lực lượng của triều đình giải cứu vào năm 757. Khi ngài mất đi vào năm 774, triều đình ban lệnh cả nước để tang 3 ngày, và truy tặng rất nhiều danh hiệu. Theo sự ghi nhận của chính bản thân ngài, thì đã có 77 bộ kinh được ngài phiên dịch, mặc dù con số được chính thức đưa vào Hán tạng với tên ngài là vượt xa hơn nhiều, hiện trong Đại Tạng Kinh còn giữ lại được đến 166 bộ ghi tên ngài. Mật Tông được truyền ở Trung Hoa bởi ngài Thiện Vô Úy và sau đó là Kim Cương Trí, nhưng với những đóng góp nổi bật của ngài Bất Không, người ta đã xem ngài như vị Tổ sáng lập tông này.
(3) Tông này được hai ngài Trí Nghiễm (智儼 - 602-668) và Đỗ Thuận (杜順 - 557-640) khơi nguồn, nhưng phải đến ngài Pháp Tạng (法藏 - 643-712) mới chính thức hình thành, và là một trong những tông chính tạo được ảnh
(2) the San-lun, founded by Chi-tsang (549-623);
(3) the Weih-shih, founded by Yuan-tsang (596-664);
(4) the Mi-tsung, founded by Amoghavajra (705-74);
(5) the Hua-yen tsung, founded by Tu-shun (557-640);
___________________
hưởng sâu rộng nhất đối với Phật giáo của cả vùng Đông Nam Á. Được thành lập vào khoảng cuối đời Tùy, đầu đời Đường, tông này tập trung chú trọng vào triết lý nội hàm, cho rằng vạn vật trong vũ trụ đều hàm chứa lẫn nhau, là những yếu nghĩa mà vị Tổ sáng lập đã tiếp nhận được từ bộ kinh Hoa nghiêm (華嚴經). Tuy nhiên, sự nổi bật của tông này không chỉ là ở nơi bộ kinh này, mà thật sự là nhờ vào các trước tác ở dạng chú giải của các vị tổ sư sáng lập, với rất nhiều danh từ, khái niệm chưa hề xuất hiện trong kinh. Theo truyền thống, có đến 5 vị cao tăng được xem là đã góp phần sáng lập tông này. Các vị ấy là Đỗ Thuận (杜順), Trí Nghiễm (智儼), Pháp Tạng (法 藏), Trừng Quán (澄觀 - 738-839) và Tông Mật (宗密 -780-841). Một học giả cư sĩ cũng góp phần quan trọng trong tư tưởng Hoa nghiêm của tông này là Lý Thông Huyền (李通玄 - 635-730). Các môn đồ của tông này còn xem hai vị Mã Minh (馬鳴 - Aśvaghosa) và Long Thọ (龍樹 - Nāgārjuna) cũng là những vị tổ sáng lập ban đầu. Tuy có phần nào rõ ràng là không xác thực trong việc gán ghép tổ vị cho tất cả các vị như trên, nhưng hoàn toàn có thể chấp nhận được một điều là mỗi người trong số họ đều đã giữ một vai trò quan trọng đáng kể trong sự phát triển của tông này. Chẳng hạn như, ngài Đỗ Thuận là người đã biến tư tưởng Hoa nghiêm thành một lãnh vực nghiên cứu chuyên biệt; ngài Trí Nghiễm thiết lập những giáo lý cơ bản của tông; ngài Pháp Tạng đã góp phần biện giải hợp lý các giáo lý của tông, tạo ra sự chấp nhận rộng rãi trong xã hội; hai ngài Trừng Quán và Tông Mật đã phát triển và chuyển hóa giáo lý ở một mức độ cao hơn. Sau thời ngài Tông Mật và cư sĩ Lý Thông Huyền, tông Hoa nghiêm của Trung Hoa nói chung không còn bước phát triển mới nào nữa, và cuối cùng bước vào giai đoạn phai nhạt dần. Mặc dù vậy, giáo lý siêu hình của tông này, chẳng hạn như quan niệm về Tứ pháp giới (四法界) với sự dung thông lẫn nhau, đã tạo ảnh hưởng rất sâu đậm đối với những tông phái Phật giáo Đông Á còn tồn tại, đặc biệt là Thiền tông. Đóng góp quan trọng nhất của Hoa nghiêm Tông về mặt triết học là khía cạnh siêu hình, với giáo lý về pháp giới dung thông và hết thảy mọi hiện tượng đều không ngăn ngại lẫn nhau (sự sự vô ngại - 事事無礙): một là tất cả, và tất cả là một.
6. Thiên thai tông, do ngài Trí Khải (538-597) sáng lập. (1)
7. Tịnh độ tông, Do ngài Thiện Đạo (613-681) sáng lập. (2)
8. Thiền tông, được cho là do ngài Bồ-đề Đạt-ma sáng lập vào
khoảng năm 520.3
________________
(1) Ngài Trí Khải (智顗) vẫn được xem là tổ thứ tư của tông Thiên thai (天台), nhưng thật ra ngài mới chính là người thành lập tông này ở Trung Hoa. Ngài nổi tiếng vì là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa đã đưa ra một sự phân loại trọn vẹn, quan trọng và có hệ thống các giáo pháp của Phật giáo, nhằm giải thích những phần giáo lý có vẻ như mâu thuẫn nhau. Ngài cũng được xem như là người đầu tiên dứt bỏ những trói buộc theo truyền thống Ấn Độ để có thể hình thành nên một hệ thống Phật giáo mang bản sắc riêng cho Trung Hoa. Ngài chịu ảnh hưởng rất nhiều từ vị thầy đầu tiên là Nam Nhạc Huệ Tư (南嶽慧思 - 515-577), một thiền sư về sau được xem như vị tổ khai sáng tông Thiên Thai trước ngài. Sau khi học với Huệ Tư, ngài đến Nam kinh và trụ tại núi Thiên Thai để dành trọn thời gian cho việc hành trì và nghiên cứu sâu xa kinh điển cùng với một số môn đệ, vận dụng phương pháp Chỉ quán (止觀) của thiền Ấn Độ vào phương thức tu tập của chính mình. Trong số các tác phẩm quan trọng của ngài có các bộ Ma-ha chỉ quán (摩訶止觀) Lục diệu pháp môn (六妙法門). Vì ngài trụ ở núi Thiên Thai, nên thường được biết với danh xưng là Thiên Thai Đại sư ( 天台大師). Có 28 tác phẩm được cho là của ngài còn để lại trong Đại Tạng Kinh cho đến nay, nhưng trong số đó có thể có nhiều bản do môn đồ của ngài viết ra về sau.
(2) Thật ra, ngài Thiện Đạo (善導) được xem là tổ thứ 3 của Tịnh Độ Tông (淨 土宗), và lịch sử hình thành của tông này có lẽ phải nhìn ngược lại đến ngài Đạo An (道安- 314-385), và đệ tử nối pháp là ngài Huệ Viễn (慧遠 - 334-416), người đã thành lập Bạch Liên Xã vào năm 402 để thực hành việc niệm Phật A-di-đà cầu vãng sanh về Tịnh Độ. Tuy nhiên, ngài Thiện Đạo vẫn giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong việc phát triển và truyền bá rộng rãi giáo lý Tịnh độ tông. Ngài xuất gia từ lúc còn trẻ và chuyên tâm thiền quán về Phật A-di-đà với cõi Tịnh độ của ngài. Khi nghe danh Đạo Xước ( 道綽 - 562-645), ngài đã tìm đến tham học và được truyền dạy giáo lý Tịnh độ. Từ đó ngài dành trọn phần đời còn lại cho việc hành trì và phổ biến giáo pháp này. Tương truyền ngài đã sao chép hơn 100.000 bản kinh A-di-đà và thực hiện hơn 300 bức vẽ cảnh Tịnh độ trang nghiêm. Ngoài việc kiên trì
(6) the T'ien-t'ai, founded by Chih-k'ai (538-597);
(7) the Ching-t'u, founded by Shan-tao (613-81); and
(8) the Gh'an school, said to have been founded by Bodhidharma about 520.
___________________
tụng kinh và niệm Phật, ngài còn rất thành công trong thiền quán, và đã có lần trong thiền định ngài nhìn thấy Phật A-di-đà với cõi Tịnh độ. Ngài có viết ra 5 bộ sách, sắp xếp thành 9 tập, bao gồm cả phần chú giải cho kinh Quán Vô Lượng Thọ (觀無量壽經). Ngài thường được tôn xưng bằng nhiều danh hiệu như Quang Minh Tự Hòa Thượng (光明寺和尚), Chung Nam Đại Sư (終南大師)...
(3) Bồ-đề Đạt-ma (菩提達磨), cao tăng Ấn Độ. Niên đại của ngài không rõ ràng lắm. Có thuyết cho là vào khoảng 470 - 543, nhưng theo Phật Quang Từ điển thì ngài mất vào năm 535, còn năm sinh không rõ. Tuy nhiên, các thuyết đều thống nhất việc ngài từ Ấn Độ sang Trung Hoa là vào năm 520. Ngài là tổ thứ 28 của dòng Thiền Ấn Độ, và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Ngài là đệ tử của Tổ thứ 27 là Bát-nhã Đa-la (Prajnādhāra) và là thầy của Huệ Khả (慧可), tổ thứ hai của thiền Trung Hoa. Sau khi đến miền Nam Trung Hoa vào năm 520, gặp gỡ vua Lương Vũ Đế và nhà vua không đủ sức tiếp nhận giáo pháp của ngài, ngài liền đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn. Nơi đây, ngài ngồi chín năm liền quay mặt vào vách không giao tiếp với ai, cho đến khi gặp được ngài Huệ Khả và truyền pháp. Có truyền thuyết cho rằng ngài đã sống đến 150 tuổi, cuối cùng bị đầu độc chết và được chôn ở Hồ Nam. Sau đó một vị tăng đi hành hương ở Ấn Độ về gặp ngài trên núi Hùng Nhĩ, tay cầm một chiếc dép, cho biết mình đang trên đường về Ấn Độ. Về tới Trung Hoa, vị tăng này kể lại chuyện này với mọi người. Khi ấy, áo quan được mở ra thì không thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép. Vì tích này, tranh tượng của ngài hay được vẽ vai vác gậy mang một chiếc dép. Bồ-đề Đạt-ma truyền phép thiền định mang truyền thống Đại thừa Ấn Độ, đặc biệt chú trọng đến kinh Lăng-già (Lakvatra-sutra), là bộ kinh duy nhất ngài mang theo khi đến Trung Hoa. Tuy nhiên, Thiền tông Trung Hoa chỉ thành hình thật sự với Huệ Năng, Tổ thứ sáu, được xem là một trường phái đặc biệt nằm ngoài giáo pháp nguyên thủy. Thiền tông Trung Hoa phát triển rực rỡ kể từ đời Đường. Theo giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Bồ-đề Đạt-ma có thể đã từng đến Việt Nam (Giao Châu) vào cuối đời nhà Tống (420 - 447), cùng với một vị tăng Ấn Độ khác tên là Pháp Thiên (Dharmadeva) trước khi sang Trung Hoa.
Tông phái thứ nhất, Luật tông, không có một giáo lý riêng biệt đáng kể, chỉ đưa ra mục đích là thúc đẩy việc tuân thủ giới luật một cách nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là việc thọ giới và khất thực. Tông phái này có thành công phần nào trong việc nâng cao những chuẩn mực nghiêm túc trong các tự viện, nhưng chẳng bao lâu đã trở nên mờ nhạt.
Ba tông phái tiếp theo là những hệ thống học thuật Ấn Độ, ít nhiều vẫn là những hệ thống ngoại lai của Phật giáo Trung Hoa, và không tồn tại quá một vài thế kỷ.
Tam luận tông là biến dạng kiểu Trung Hoa của phái Trung luận, hay Trung quán tông của Ấn Độ. Đúng như tên gọi, tông này dựa trên ba bộ luận, một bộ của ngài Long Thọ (1) và hai bộ của ngài Thánh Thiên, (2) được ngài Cưu-ma-la-thập hoàn tất vào khoảng năm 400. (3) Cát Tạng, người sáng lập tông này, là người có rất nhiều trước tác, phần lớn là những bộ chú giải và những sách trình bày kiến thức tổng quát. Mục đích chung của tông này là loại bỏ hết thảy mọi quan điểm để tánh không có thể hiển hiện.
Pháp tướng tông là biến dạng kiểu Trung Hoa của Duy thức tông hay Du-già hành tông của Ấn Độ, với nền tảng căn bản là bộ Thành duy thức luận. Ngài Huyền Trang, một nhà chiêm bái vĩ đại, đã mang về từ đại học Phật giáo Nālanda 10 cuốn chú giải bộ Duy thức tam thập tụng của ngài Thế Thân, và kết hợp tất cả lại thành một cuốn, nhìn chung là nghiêng theo những luận giải của ngài Hộ Pháp (4) (thế kỷ 6). Mục đích của Pháp tướng tông là phủ nhận tất cả đối tượng,
_________________________
(1) Nagarjuna
(2) Aryadeva
(3)Thật ra, hai trong số 3 bộ luận của tông này được xem là của ngài Long Thọ. Đó là bộ Trung luận và Thập nhị môn luận. Bộ thứ ba là Bách luận của ngài Thánh Thiên. Đóng góp của ngài Cưu-ma-la-thập là dịch sang Hán văn vào khoảng năm 400, và truyền dạy ba bộ luận này cho ba vị đại đệ tử là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Trong số này, ngài Tăng Lãng là người đã nêu bật được sự khác biệt giữa Tam luận tông
The first school, or Vinaya sect, had no doctrinal significance, its purpose being to work for a stricter observance of the Vinaya rules, particularly as regards ordination and the begging of food. The school had some success in raising the standards of monastic strictness, but it soon passed to the periphery of the Buddhist world.
The next three schools are Indian scholastic systems, which remained more or less foreign bodies in Chinese Buddhism and did not endure for more than a few centuries. TheSan- lun is the Chinese form of the Madhyamikas. It is based, as the name says, on "three treatises", one by Nagarjuna and two by Aryadeva, and continues the work done by Kumarajiva about 400. Chi-tsang, its founder, was a most prolific writer of books, chiefly commentaries and encyclopaedias. The general purpose of the school is to discard all views, so that emptiness may prevail.
The Weih-Shih is the Chinese form of the Yogacarins and its basic textbook is the Ch'eng Weih-shih Lun, "The Completion of the Doctrine of mere ideation". The great pilgrim Yuan-tsang had brought with him from Nālandā ten commentaries to Vasubandhu's "Thirty Stanzas", and he combined them into one work, generally giving preference to the interpretations of Dharmapala (sixth century). It is the purpose of this school to discard all objects, to see that they all "are mental representations
_________________
và Thành thật tông, nên có thể xem là người thật sự sáng lập tông này. Pháp Lãng (法朗) và Cát Tạng (吉臧) là hai vị nổi bật trong khoảng thế kỷ thứ 6, là thời hoàng kim của giáo lý tông này.
(4) Dharmapāla, Hán dịch nghĩa là Hộ Pháp (護法). Bộ Duy thức tam thập luận tụng (唯識三十論頌) do ngài Thế Thân trước tác, đã được rất nhiều người luận giải. Ngài Hộ Pháp chỉ là một trong số đó, nhưng luận giải của ngài được đánh giá rất cao và được ngài Huyền Trang chọn để đưa vào tác phẩm của mình.
xem đó chỉ là sự biểu lộ của tinh thần tùy thuộc vào những diễn tiến của thức, và nhắm đến việc hòa nhập vào một tâm duy nhất, trong đó chỉ có có thức là duy nhất. Tuy nhiên, những giáo lý và việc làm của họ không hòa hợp với khuynh hướng chung của tinh thần người Trung Hoa. Với Khuy Cơ (632-682), đệ tử hàng đầu của ngài Huyền Trang, trường phái này có thêm một bộ óc siêu việt nữa, nhưng chẳng bao lâu rồi lại bị suy thoái thành những cuộc tranh cãi mang tính cách học thuật về thức thứ bảy, thức thứ tám và thức thứ chín, nói chung là chẳng đưa đến kết quả gì mà chỉ phản ánh những truyền thống rất khác biệt của Ấn Độ, không phải bao giờ cũng được hiểu một cách rõ ràng.
Mật tông là hình thức của những Tan-tra khi đến Trung Hoa, cũng được gọi là Chân ngôn tông, tông phái của những câu thần chú. Vào thế kỷ 8, ba vị tăng Ấn Độ là Thiện Vô Úy (1) (637-735), Kim Cang Trí (2) (670-741) và Bất Không (705-774) đã đưa vào Trung Hoa hệ thống kinh Tan-tra và gây được ảnh hưởng rất lớn đối với triều đình các vua Đường. Họ thiết lập rất nhiều nghi lễ khác nhau, một phần là nhắm đến việc ngăn ngừa các tai họa cho vương triều, và một phần là để tạo ảnh hưởng tốt cho những người đã chết.
Tông phái này tồn tại không hơn một thế kỷ, và trong những giai đoạn về sau, truyền thống Mật giáo ở Trung Hoa chịu ảnh hưởng của các vị Lạt-ma từ Tây Tạng đến.
Ba trường phái tiếp theo có mức độ hoà nhập tốt hơn.
Trước hết là Hoa nghiêm tông, tiêu biểu cho mối liên hệ giữa Duy thức tông và giáo lý Tan-tra, trong đó tông này đưa một sự diễn giải có tính cách vũ trụ đối với những tư tưởng về bản thể của phái Du-già. Tông phái này xuất phát từ việc nghiên cứu kinh Hoa nghiêm. (3) Ở đây, sự tương đồng hay giống nhau của vạn hữu được hiểu như là sự dung thông, hàm chứa của mỗi một yếu tố trong thế giới với hết thảy mọi yếu tố khác. Nguyên lý duy nhất của vũ trụ hiện diện trong muôn loài muôn vật, theo nghĩa là mọi
_______________
(1) Śubhakarasimha
(2) Vajrabodhi- theo Phật Quang Từ điển thì niên đại của ngài là 671 - 741.
dependent upon the evolutions of consciousness", and to merge into the one Mind in which everything is mere ideation. Its tenets and attitudes were, however, not in harmony with the general tendencies of Chinese mentality. In K'uei-chi (632-82), Yuan-tsang's leading disciple, this school attracted another first-class mind, but soon it degenerated into scholastic disputes about the "seventh", "eighth" and "ninth" consciousness, which generally did nothing but reflect divergent Indian traditions, not always clearly understood.
The Mi-tsung, or "School of the Mysteries", is the Chinese form of the Tantra. It is also known as Chen-yen, the school of the "Mantras". In the eighth century, three Indians, Subhakarasimha (637-735), Vajrabodhi (670-741) and Amoghavajra (705-74), imported into China Tantric systems of the non-Shaktic type, and won great influence at the Court of the T'ang emperors.
They there established a great variety of rites, partly designed to avert catastrophes from the Empire, and partly to favourably
influence the fate of people after their death. The school lasted not much longer than a century, and in later times the Tantric tradition in China fell into the hands of Lama monks from Tibet.
The next three schools attained a greater degree of assimilation. First among these is the Hua-yen-tsung, literally the "Wreath" school, which represents the link between Yogacara and Tantra, in that it gives a cosmic interpretation to the ontological ideas of the Yogacarins. It is derived from a study of the Indian Avatamsaka Sutra. Here the sameness, or identity, of everything is interpreted as the interpenetration of every element in the world with every other element. The one principle of the cosmos is present in all beings and in all
______________
(3) Avatamsaka Sutra
thứ đều hòa hợp với hết thảy những thứ khác. Mỗi một hạt bụi cũng hàm chứa tất cả các cõi Phật, và mỗi một ý tưởng đều hướng đến tất cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thế giới của giác quan là sự phản ánh của chân lý vĩnh cửu và huyền bí có thể được nhìn thấy ở khắp nơi.
Không giống như giáo lý Tan-tra, Hoa nghiêm tông không nhắm đến việc sử dụng và kiểm soát các sức mạnh của vũ trụ bằng những phương thức mầu nhiệm, mà nhắm đến việc nghiền ngẫm và đánh giá sự tương tác của chúng. Giáo lý này ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến cách nhìn về thế giới tự nhiên của người Viễn Đông, và cũng mang lại cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ ở Trung Hoa, rồi sau đó là Nhật Bản. Thành lập vào khoảng năm 630, Hoa nghiêm tông tồn tại cho đến khoảng năm 1000.
Một trong những cao tăng lỗi lạc nhất của phái này là ngài Pháp Tạng (643-712), người nước Khang Cư, (1) và ban đầu là đệ tử của ngài Huyền Trang. (2) Theo Duy thức tông, ngài nói đến một cái tâm duy nhất tạo thành tính khả hữu cho thế giới vạn tượng. Nhưng rồi ngài vượt xa hơn giáo lý Duy thức khi cho rằng hết thảy vạn vật đều có ba đặc điểm sau đây:
1. Về mặt hiện hữu, mỗi một vật thể riêng biệt, cho đến mỗi một hạt bụi, đều hàm chứa trong bản thân nó một cách trọn vẹn toàn thể thế giới thực tại.
2. Về mặt sáng tạo, mỗi một vật thể riêng biệt, cho đến mỗi một hạt bụi, đều có thể tạo ra được hết thảy mọi phẩm chất có thể có, và vì thế mà mỗi một vật thể đều có thể bộc lộ những bí ẩn của toàn bộ thế giới.
3. Trong mỗi một vật thể riêng biệt, cho đến mỗi một hạt bụi, đều có thể nhận ra được tánh không của thực tại.
_________________
(1) Sogdian
(2) Đúng ra, Pháp Tạng, hay Hiền Thủ Pháp Tạng (賢首法藏) là đệ tử của ngài Trí Nghiễm (智儼), và có giúp ngài Huyền Trang dịch kinh điển, nhưng
things, in the sense that everything harmonizes with everything else. Each particle of dust contains all the Buddha-lands, and each thought refers to all that was, is and will be. The sensory universe is a reflex of the eternal and the mysteries of the truth can be beheld everywhere. Unlike the Tantra this school did not aim at the manipulation and control of cosmic forces by magical means, but was content with the contemplation and aesthetic appreciation of the interplay of these forces. This doctrine greatly influenced the attitude to nature in the Far East, and also inspired many artists in China and later on in Japan.
The Hua Yen school, founded about 630, lasted until about AD 1000.
One of its greatest teachers was Fa-tsang (643-712), the descendant of a Sogdian family and originally a disciple of Yuan-tsang, who wrote an important work called "Meditation which extinguishes false imaginations, and by which one returns to the source". With the Yogacarins he speaks of one mind which makes possible the world of particulars. But then he goes beyond the Yogacarin doctrine by claiming that everything has the following three marks, or characteristics:
1. Existentially, each particular object, each "particle of dust", contains in itself the whole realm of reality (dharmadhatu) in its entirety;
2. Creationally it can generate all possible kinds of virtue, and any object may therefore reveal the secrets of the entire world;
3. In each particle the emptiness of true reality is perceivable.
_________________
không được bao lâu. Chúng tôi chưa thấy tư liệu nói ngài là đệ tử của Huyền Trang.
Môn đồ Hoa nghiêm tông được gợi ý nghiền ngẫm về 6 vấn đề sau:
1. Quán sát sự tĩnh lặng của tâm thức, nơi mà tất cả vạn pháp đều quy về.
2. Nhận rõ sự hiện hữu của thế giới vạn tượng chỉ là do từ tâm thức.
3. Quán sát sự dung thông toàn hảo và vi diệu của vạn pháp.
4. Quán sát vạn pháp đều chỉ là một thể chân như, ngoài ra không có gì cả.
5. Quán sát rằng trong tấm gương lớn của sự tương đồng phản chiếu được hình ảnh của hết thảy vạn vật, mà vì thế chúng không hề ngăn ngại lẫn nhau.
6. Quán sát rằng khi một pháp khởi lên thì tất cả các pháp cũng đồng thời sanh khởi với nó.
Thiên thai tông được mang tên này vì tổ sư khai sáng là ngài Trí Khải đã sống và giảng đạo ở núi Thiên Thai, tỉnh Triết Giang. Tông này còn được gọi là Pháp hoa tông, vì lấy bộ kinh Diệu pháp liên hoa (1) làm nền tảng. Ngài Trí Khải có trước tác một số luận giải cực kỳ giá trị về phương thức tu thiền.
Trong giáo lý của mình, Thiên thai tông nhắm đến việc tổng hợp tất cả các trường phái Đại thừa khác nhau. Và trong khuynh hướng chung, họ tán thành việc nâng cao địa vị xã hội bằng cách cộng tác với triều đình. Tinh thần này tương đồng với Hoàng phái của Tây Tạng, mặc dù những điều kiện ở Trung Hoa liên tục tạo ra sự ngăn chặn ảnh hưởng chính trị của tông này.
Trong giáo lý mang tính triết học sâu xa và phức tạp của mình, Thiên thai tông cho thấy những dấu hiệu ảnh hưởng rất mạnh mẽ không chỉ của Pháp tướng tông và Hoa nghiêm tông, mà còn là của bộ Đại thừa khởi tín luận, một tác phẩm được cho là của ngài Mã Minh nhưng rất có thể được viết tại Trung Hoa.
_______________
(1) Saddharmapundarika, thường gọi là kinh Pháp Hoa.
Six kinds of contemplation are recommended to the disciple:
1 To look into the serenity of Mind to which all things return;
2 To realize that the world of particulars exists because of the One Mind;
3 To observe the perfect and mysterious interpenetration of all things;
4 To observe that there is nothing but Suchness;
5 To observe that the mirror of Sameness reflects the images of all things, which thereby do not obstruct each other;
6 To observe that, when one particular object is picked up, all the others are picked up with it.
The T'ien-t'ai school is so called because its founder, Chili-k'ai, lived and taught in the T'ien-t'ai mountains in Chekiang. It is also known as the Fa-ma, or "Lotus" school, because it took the Saddharmapundarika as its basic text. Chih-k'ai wrote some extremely valuable treatises on the art of meditation. In its doctrines the T'ien-t'ai aimed at a syncretism of all the different
Mahāyāna schools and in its general policy it tended to promote social order in collaboration with the secular authorities. Its mentality is akin to that of the Yellow Church of Tibet, although Chinese conditions produced constant checks on its political influence. In its profound and complicated philosophical teachings the T'ien-t'ai shows strong traces of the influence not only of the Weih-shih and Hua-yen schools, but also of the Awakening of Faith in the Mahay ana, a work falsely ascribed to Asvaghosha, which may very well have originated in China.
Thiên thai tông thiên nhiều về khuynh hướng gọi cái tuyệt đối là chân như hoặc Như Lai tạng, hàm chứa trong đó hết thảy mọi vật trong sạch và không trong sạch, và vì thế có thể tạo ra được những gì thuộc thế giới này cũng như thế giới khác. Lý thuyết nhị nguyên này là điểm đặc biệt của Thiên thai tông. Hết thảy sự vật trong thế giới hiện tượng đều hòa nhập, hàm chứa trong nhau, và không hề có sự ngăn ngại nào giữa sự vật này với sự vật khác. Thiên thai tông có khuynh hướng tin vào một mức độ thực tại lớn hơn trong thế giới hiện tượng, so với giới hạn của những trường phái Ấn Độ. Trong quan hệ với hoạt động xã hội, họ nhấn mạnh rằng Niết-bàn diệt trừ hết mọi khổ não, nhưng không giống như cái đại dụng của vũ trụ. Theo họ, chính các đức Phật có thể là đang hoạt động và lưu lại trong vòng sinh tử, bởi vì ngay cả sau khi giác ngộ các ngài vẫn còn khả năng hàm chứa những điều bất tịnh, vốn chẳng bao giờ có thể hủy hoại được, và vì thế, giống như những người bình thường, các ngài có thể can dự vào những hành động bất tịnh và tầm thường. (1)
Và bởi vì mỗi vật thể riêng biệt đều hàm chứa trọn vẹn tâm thể tuyệt đối, cho nên không những là, như ngài Đạo Sinh đã nói, mọi hữu tình đều có Phật tánh, mà như ngài Trạm Nhiên (711- 782), Tổ thứ 9 của Thiên thai tông, cũng giải thích rằng, ngay cả những vật vô tri giác cũng có Phật tánh, vậy tại sao lại có thể có ngoại lệ, ngay cả là với một hạt bụi nhỏ?
Trong Tịnh độ tông, giáo thuyết về Phật A-di-đà đã tồn tại qua nhiều thế kỷ như một trào lưu phổ biến, và ngày càng được tổ chức chặt chẽ hơn.
Tông phái này được ngài Đạo Xước (562-645) thành lập, và được củng cố bởi ngài Thiện Đạo (613-681). Hai vị này được tiếp nối bởi một số các tên tuổi xuất chúng khác, đều được tôn xưng danh hiệu Tổ sư. Người cuối cùng là ngài Thiếu Khang, (2) mất năm 805.
______________
(1) Trong đoạn này cách diễn giải của tác giả có vẻ không hoàn toàn phù hợp với giáo lý Thiên thai tông. Dường như ông đã suy diễn từ quan điểm "tất cả chúng sanh đều có tánh Phật" để hiểu ngược lại rằng "tất cả Phật đều có tánh chúng sanh". Và cách hiểu này chưa thấy được đề cập đến trước đây
The T'ien-t'ai had a strong preference for calling the Absolute "true or genuine Suchness" or also the "Womb of the Tathagata", which contains within itself all the pure and impure potentialities and is thus capable of generating both this-worldly and other-worldly things. This dualistic theory is special to the T'ien't'ai school. All things and events of the phenomenal world are "harmoniously integrated", and there is no barrier between one thing and another. The T'ien-t'ai tend to ascribe a greater degree of reality to the phenomenal world than the Indian schools would allow. In their concern with social activity they emphasized that Nirvāṇa eliminates all ills, but not likewise "the great functioning" of the universe. According to them even the Buddhas can work and stay within the circle of birth and death, because even after enlightenment they retain their impure potentialities, which cannot ever be destroyed and therefore they may, like ordinary people, be engaged in impure or mundane acts. And because every single thing contains the absolute Mind in its totality, not only, as Tao-sheng had said, all sentient beings have the Buddha-nature in them, but also, as
Chan-jan (711-82), the ninth patriarch of the T'ien-t'ai explained, "even inanimate things possess the Buddha-nature", "and why should exception be made of even a tiny particle of dust?"
In the Ching-t'u ("Pure Land") school Amidism, which had for centuries existed as a popular trend, became more strictly organized. This school was founded by Tao-ch'o (562-645), and consolidated by Shan-tao (613-81). These two were followed by a few more outstanding figures, called "patriarchs", the last of whom, Shao-k'ang, died in 805.
_________________
bao giờ. Hình tướng trần tục chỉ có thể hiểu là hóa thân của các đức Phật mà thôi.
(2) Thiếu Khang (少康) là người đã thành lập Tịnh Độ Đạo Tràng ở Mục Châu, thuộc tỉnh Triết Giang, để truyền bá tông chỉ của ngài Thiện Đạo. Ngài mất năm 805 nhưng không rõ sinh năm nào.
Từ sau thế kỷ 9, giáo thuyết A-di-đà không tồn tại riêng biệt như một tông phái nữa, mà đã hiện diện trong mọi hình thức Phật giáo ở Trung Hoa. Giáo lý A-di-đà dạy rằng, nhờ nguyện lực của Phật A-di-đà mà việc xưng danh hiệu ngài có thể loại trừ mọi chướng ngại để đi đến giải thoát, và chỉ cần niệm danh hiệu ngài là có thể chắc chắn sẽ được vãng sanh về cõi Phật của ngài. Thuyết A-di-đà chủ yếu dựa vào kinh A-di-đà, (1) một bản kinh bằng Phạn ngữ có vào khoảng thế kỷ thứ nhất. Trong kinh nói rằng, cách đây vô số kiếp, Bồ Tát Pháp Tạng (2) đã lập 48 lời nguyện lớn, trong đó có lời nguyện rằng: tất cả chúng sanh nào xưng danh hiệu ngài đều sẽ được cứu độ; và rằng sau này vị Bồ Tát ấy thành Phật hiệu là A-di-đà; và cuối cùng, trong kinh nói rằng cách đây 10 kiếp, theo đúng lời nguyện của mình, đức Phật A-di-đà đã hóa hiện cõi Tịnh độ phương Tây, cách xa nơi đây mười vạn ức cõi Phật.
Tông phái này tôn kính đức Phật A-di-đà bằng cách sao chép thật nhiều ảnh tượng của ngài và những bản kinh nói về ngài, cũng như những tranh vẽ để minh họa và những bài tụng tán ca ngợi vẻ trang nghiêm của cõi Tịnh độ.
Một cuộc nghiên cứu các văn bản có ghi ngày tháng ở Long Môn (3) cho thấy là sự thờ cúng Phật A-di-đà đã rất thịnh hành ở xứ này vào khoảng năm 647 đến năm 715. Những tín đồ tin Phật A-di-đà còn thờ cả đức Quán Thế Âm, một vị Bồ Tát Ấn Độ mà qua thời gian đã chuyển đổi từ nam tính thành nữ tính ở Trung Hoa.
Sức mạnh của thuyết A-di-đà Phật nằm trong tính cách phổ cập với tất cả mọi người. Tri thức của hàng tăng sĩ cao quý ẩn mình trong núi sâu là hoàn toàn vượt quá khả năng của những người bình dân phải sống trong cảnh bon chen của cuộc sống tầm thường. Một tôn giáo thu hút đông đảo giới bình dân trước hết phải nhắm đến sự đơn giản cực kỳ, và theo những người khởi xướng thì
__________________
(1) Sukhāvativyuha Sutra, Hán dịch là A-di-đà Kinh (阿 彌 陀 經), cũng gọi là Tiểu Vô lượng thọ kinh (小無量夀經) hay Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thụ kinh (稱讚淨土佛攝受經).
After the ninth century Amidism ceases to have a separate corporate existence as a sect and becomes an influence which pervades all forms of Buddhism in China.
 
Amidism taught that the power inherent in the name of the Buddha Amitabha can remove all obstacles to salvation and that the mere utterance of His name (O-mi-to-fo) can assure rebirth in His kingdom. The legend of Amitabha is based chiefly on the Sukhavativyuha, a Sanskrit text of the first century AD. It tells us that inconceivable aeons ago the Bodhisattva
Dharmakara made forty-eight vows, among them the promise that all who call on his name shall be saved; that later on he became the Buddha Amitabha; and that finally, ten aeons ago, in accordance with his vows, he established the Pure Land or Western Paradise which lies one million billion Buddha-lands away. This sect honoured Amitabha by multiplying copies of His statues as well as of the Sutras which deal with Him, and also by paintings which depict and by hymns which sing the splendours of the Pure Land. A study of the dated inscriptions at Long-men shows that the cult of Amitabha flourished there particularly between 647 and 715. The Amidists also worshipped Kuan-yin, the Indian Avalokitesvara, who in the course of time changed his sex in China, and became a feminine deity.
The strength of Amidism lies in its democratic spirit. The intellectualism of religious aristocrats who retire into solitary mountain places is quite beyond the reach of the common people who must live in the bustle of ordinary life. A religion which appeals to the masses must above all aim at extreme simplification, and the great merit of the Ching-t'u teaching,
_________________
(2) Dharmakara
(3) Khu vực có nhiều hang động được khai quật thấy rất nhiều di tích văn hóa Phật giáo, thuộc Lạc Dương.
lợi thế lớn lao của giáo lý Tịnh độ chính là việc nó hết sức đơn giản và dễ theo. Tất cả những gì được đòi hỏi về mặt đức hạnh chỉ có duy nhất là đức tin, và những người khởi xướng dường như đã đảm bảo rằng điều đó dễ tìm thấy hơn nhiều so với khả năng nhập định hoặc trí thông minh.
Tuy nhiên, Thiền tông mới là quan trọng nhất trong tất cả các tông phái ở Trung Hoa. Đây là sự tái tạo độc đáo những tư tưởng trong kinh Phật lần thứ tư, và cũng là lần cuối cùng. Ba sự tái tạo trước đó đã sản sinh bộ luận A-tỳ-đạt-ma, giáo lý Đại thừa và những kinh điển Tan-tra. Thiền tông gần như đồng thời với giáo lý Tan-tra, và cả hai có rất nhiều điểm chung.
Lịch sử Thiền tông Trung Hoa bắt đầu với ngài Huệ Năng (638-713), cũng được biết với danh xưng là Lục Tổ. Trước ngài Huệ Năng, chúng ta có một giai đoạn chuẩn bị kiểu tiền lịch sử của Thiền tông, được cho là bắt đầu từ Bồ-đề Đạt-ma, một cao tăng Nam Ấn có phần nào mang tính cách huyền thoại, đã đến Trung Hoa vào khoảng đầu thế kỷ 61 và trải qua 9 năm ở kinh đô Lạc Dương để chỉ nhìn vào bức tường. (2)
Tầm quan trọng của Bồ-đề Đạt-ma nằm ở việc ngài đã tạo ra cho Thiền tông Trung Hoa một mối liên hệ cụ thể với truyền thống Ấn Độ, một mối liên hệ mà Thiền tông rất trân trọng, bất chấp những sáng tạo đi khá xa của mình. Như chúng ta được nghe, đức Thích-ca Mâu-ni đã truyền giáo pháp bí mật cho ngài Đại Ca-diếp, và từ ngài Ca-diếp truyền dần qua từng vị tổ sư, nhưng chỉ "lấy tâm truyền tâm, không dùng đến văn tự".3 Cho đến ngài Bồ-đề Đạt-ma là tổ sư thứ 28 được truyền thừa.
Từ Tổ Bồ-đề Đạt-ma đến Tổ Huệ Năng, chúng ta còn có bốn vị tổ sư nữa, là những người giảng giải Phật giáo có pha lẫn phần nào với Lão giáo, theo truyền thống của ngài Đạo Sinh trước đây. Trong số này, Tổ thứ ba là Tăng Xán (mất năm 606)4 rất đáng chú ý với bài Tín tâm minh, một trong những tác phẩm cổ điển vĩ đại của văn học Phật giáo.
____________________
(1) Nhiều tư liệu đồng ý chính xác là vào năm 520.
(2) Chuyện "cửu niên diện bích" của ngài Đạt-ma được biết là tại động Thiếu
according to its propounders, is that it is simple and easy to follow. All that is required by way of virtue is just faith, and the Ching-t'u authors seem to assume that that is more commonly found than the capacity for trance or wisdom.
The most important of all Chinese schools is, however, the Ch'an school. It is the fourth and last of the original recreations of the Buddha's thought, the first three being the Abhidharma, the Mahāyāna and the Tantra. With the Tantra Ch'an is nearly contemporary and the two have much in common. The history of the Ch'an school begins with Hui-neng (638-713), also known as the "sixth Patriarch". Before Hui-neng we have a kind of pre-history of Ch'an, which is said to begin with Bodhidharma, a more or less legendary Southern Indian who came to China at the beginning of the sixth century and spent nine years in Lo-yang, the capital, in "wall-gazing". The importance of Bodhidharma lies in providing the Ch'an sect with a concrete link with the Indian tradition, a link which the school in spite of its profound originality greatly cherished. The Buddha Sakyamuni, so we are told, had given the secret doctrine to Mahakasyapa, and from him it was transmitted to one "patriarch" after the other, but "from mind to mind, without the use of written texts", until it reached Bodhidharma, the twenty-eighth of the line. Between Bodhidharma and Hui-neng we have four more "patriarchs" who taught a Buddhism strongly tinged with Taoism in the tradition of Tao-sheng. Among them the third patriarch, Seng-t'san (died 606), is noteworthy for his superb poem on "Believing in Mind", which is one of the great classics of Buddhist literature.
_______________-
Thất trên Tung Sơn, cũng chính là nơi ngài truyền pháp cho Nhị tổ Huệ Khả.
(3) Dĩ tâm ấn tâm, bất lập văn tự (以心印心, 不立文字).
(4) Theo Phật Quang Từ điển thì Tam Tổ Tăng Xán (僧粲) sinh năm 529 và mất năm 613.
Tuy nhiên, các vị tổ sư này nói chung không tạo được bao nhiêu ảnh hưởng đối với xã hội, vì họ sống trong thanh bần, không có trụ xứ cố định, và thường theo một nguyên tắc là không ngủ lại bất cứ nơi nào quá một đêm.(1)
Những ghi chép trong lịch sử còn đi xa hơn nữa khi cho thấy rằng sự giảng giải giáo lý của các vị tổ này đã đưa đến sự bất đồng giữa một chi phái ở miền Bắc, đứng đầu là ngài Thần Tú (khoảng 600-706), (2) với một chi phái ở miền Nam, đứng đầu là ngài Huệ Năng ở Quảng Châu.
Điểm chính trong sự tranh luận giữa đôi bên là tiệm ngộ và đốn ngộ. Môn đồ phía bắc theo chủ trương tiệm ngộ, cho rằng những điều bất tịnh của chúng ta phải được trừ bỏ một cách dần dần, nhờ vào nỗ lực công phu chuyên cần. (3) Không bao lâu thì chi phái này tàn lụi.
Thiền tông mà chúng ta nói đến ở đây bao gồm các đệ tử rất đa dạng của ngài Huệ Năng. Về mặt tổ chức, Thiền tông chỉ trở nên độc lập vào thời của ngài Bách Trượng Hoài Hải (4) (720-814). Trước đó, hầu hết các thiền sư đều sống trong những tự viện của Luật tông và tuân theo giới luật của phái này. Ngài Bách Trượng đã đưa ra một loạt những quy tắc mới đối với tăng sĩ của Thiền tông, nhằm khôi phục những điều kiện sống khắc khổ và đơn giản của Tăng-già như thuở ban đầu, và cũng kết hợp giới luật Phật giáo với những khuôn phép ứng xử của Khổng giáo. Thanh quy của tất cả các thiền viện đều được rút ra từ các quy tắc của ngài Bách Trượng. (5) Ngài đã áp dụng một sự cải cách rất hiệu quả, giúp đảm bảo được sự tồn tại và thành công trong xã hội cho tông phái của mình.
______________
(1) Điểm này có vẻ không được rõ ràng lắm. Như chúng ta biết, các Tổ sư đều có trụ xứ để hoằng hóa, và như theo kinh Pháp Bảo Đàn còn ghi lại thì núi Hoàng Mai nơi Ngũ Tổ truyền pháp là một ngôi chùa lớn với tăng chúng hơn ngàn người, còn có các cư sĩ tụ tập để giúp việc tạp dịch hàng ngày. Lục tổ ban đầu cũng là một trong những cư sĩ đó. Về điểm "không ngủ một nơi quá hai đêm" là theo đúng truyền thống Phật giáo nguyên thủy, như các vị sư khất thực của Thượng tọa bộ, không phải quan điểm của các thiền sư. Việc Tổ Đạt-ma chín năm ngồi ngó vách (cửu niên diện bích) cũng đủ nói lên điều này.
These patriarchs had, however, little influence on society in general, because they lived in poverty without a fixed residence and generally made it a rule not to spend more than one night in any one place. History further records that the interpretation of the teachings of these patriarchs led to a rift between a Northern branch, headed by Shen-hsiu (c. 600-706), and a Southern branch, headed by Hui-neng, of Canton, the main point in dispute being the question of "gradual" and "sudden" enlightenment. The Northern followers of "gradual enlightenment", who assumed that our defilements must be gradually removed by strenuous practice, soon died out. What we call the Ch'an school consists of Hui-neng's numerous disciples. Organizationally, Ch'an became independent only at the time of Po-chang Huai-hai (720-814). Up to then, most Ch'an monks had lived in monasteries of the Lu-tsung under the regulations of its Vinaya. Now Po-chang made a new set of rules for Ch'an monks, which tried to revive the austerity and simplicity of living conditions in the early Order, and also combined the Buddhist Vinaya with Confucian rules of etiquette. The regulations of all Ch'an monasteries are derived from Po- chang. He introduced an innovation which did much to ensure the survival and social success of his sect.
______________
(2) Theo Phật Quang Từ điển thì niên đại của ngài Thần Tú (神秀) là 605 - 706.
(3) Thể    hiện rõ nét cho quan điểm này là bài kệ nổi tiếng của ngài Thần Tú, được Ngũ Tổ cho rằng người sau chỉ cần "Y theo kệ này tu khỏi đọa nẻo ác. Y theo kệ này tu, được lợi ích lớn." Bài kệ này được tạm dịch như sau:
Thân là cây Bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Thường siêng lau siêng rửa,
Chớ để bám bụi nhơ.
(4) Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), là đệ tử nối pháp của ngài Mã tổ Đạo Nhất.
(5) Tức là bộ Bách Trượng thanh quy (百丈清規), một tác phẩm nổi tiếng và đã được chọn làm khuôn mẫu trong việc tổ chức các thiền viện.
Tăng sĩ trong thiền viện đi khất thực vào mỗi buổi sáng, nhưng ngoài ra còn phải làm việc nữa. Châm ngôn của ngài Bách Trượng là "Một ngày không làm, một ngày không ăn." (1) Đây là một điều mà trước đó cũng chưa từng nghe nói đến.
Thiền tông có hai thời kỳ phát triển mạnh mẽ. Thời kỳ thứ nhất vào đời Đường và thời kỳ thứ hai vào đời Tống. Thời kỳ thứ hai sẽ nói đến trong chương IV, và ở đây chúng ta chỉ giới hạn trong thời kỳ thứ nhất.
Từ lâu, việc cân nhắc giữa trau giồi tri thức và công phu hành trì xem điều nào quan trọng hơn đã là một vấn đề khó khăn. Thiền tông, ngược lại với phái Dhammakathika của Tích Lan, đã có quyết định hoàn toàn dứt khoát trong việc chú trọng đến công phu thực hành. Thiền tông nhận ra rằng, có đôi khi lòng nhiệt thành của tín đồ đã làm gia tăng quá nhiều các phương tiện tìm cầu giải thoát, như các hình thức kinh kệ, sớ giải, những sự phức tạp về triết học, những hình tượng và nghi lễ... cho đến nỗi chính bản thân mục đích giải thoát có thể bị khuất lấp đi, và đời sống tâm linh có nguy cơ phải chết ngạt trong chính những điều đã được vạch ra để nuôi dưỡng nó.
Trong phản ứng chống lại sự thừa thãi quá độ về phương thức tu tập do sự nhiệt thành, Thiền tông nghiêng hẳn về một sự đơn giản cực kỳ trong phương thức đạt đến giác ngộ. Họ không ngừng phê phán sự vận dụng sai lầm các phương thức tu tập, vốn tự nó đã có thể dễ dàng trở nên bế tắc. Đặc biệt, Thiền tông tự mình chống lại việc thờ kính quá đáng đối với những truyền thống theo kinh điển, và luôn cho rằng sự giải thoát không thể tìm thấy trong việc nghiên cứu kinh sách. Điều đó không có nghĩa là họ không học tập kinh sách. Trái lại, những thuyết giảng của họ dùng đến rất nhiều trích dẫn từ kinh điển, như kinh Kim cang và kinh Lăng- già là hai bộ kinh được Thiền tông chuộng dùng nhất trong giai đoạn ban đầu. Nhưng họ tin chắc rằng việc nghiên cứu kinh sách chỉ đóng một vai trò hoàn toàn thứ yếu so với yêu cầu công phu thiền định và chứng ngộ.
__________________
(1) Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực. (一日不作, 一日不食.) Châm ngôn này đã trở thành phổ biến ngay cả trong các tự viện ở Việt Nam ta.
The monks went on their begging round each morning, but in addition they were expected to work. "A day without work, a day without eating" was Po-chang's watchword. This was something unheard of so far.
The Ch'an school has had two periods of vigorous development, the first in the T'ang, the second in the Sung period. The second phase belongs to chapter IV, and here we confine ourselves to the first.
It had long been a problem whether learning or practical realization is more important. The Ch'an sect, as against the Ceylonese Dhammakathikas, uncompromisingly decided in favour of practical realization. They found a situation in which the fervour of the faithful had so multiplied the means of salvation, in the form of Sutras, commentaries, philosophical subtleties, images and rites, that the goal itself was apt to be lost sight of; the spiritual life was in danger of being choked by the very things which were designed to foster it.
In their reaction against the overgrown apparatus of piety they advocated a radical simplification of the approach to enlightenment. They never tired of denouncing the misuse of this apparatus, which could so easily have become an end in itself. In particular they set themselves against the excessive worship paid to the scriptural traditions and insisted that salvation could not be found by the study of books. That did not mean that they studied no books at all. On the contrary their own sayings are saturated with references to such works as the Vajracchedikd Sutra, and the Lankdvatdra Sutra, the two favourites of the school in its early days. But they felt strongly that the study of these Sutras should play only quite a subordinate role compared with the demands of meditation (Ch'an means dhydna) and spiritual realization.
Những lý thuyết phức tạp về vũ trụ và tâm lý của các tông phái Phật giáo khác đều bị phủ nhận như là những thứ rác rưởi và vô dụng.
Để phản đối sự sùng kính quá đáng và những kiến giải sai lầm lúc đó về vai trò của đức Phật, một thiền sư nổi tiếng đời Đường là Đan Hà Thiên Nhiên, (1) vào thế kỷ 8, đã đốt một tượng Phật để sưởi ấm khi ông thấy lạnh.
Vì sự trói buộc hoàn toàn với những mối quan tâm vào một đối tượng tuyệt đối có thể là một rào chắn, nên một thiền sư khác đã lạnh lùng nói rằng "nếu như có gặp Phật ngăn đường, hãy giết vị Phật ấy đi". (2)
Ít phần quyết liệt hơn là những câu trả lời của thiền sư Nam Viện Huệ Ngung. (3) Khi được hỏi "Phật là gì?", ngài chỉ hỏi lại: "Cái gì không phải là Phật?", hoặc là: "Ta chưa từng biết ông ấy.", hoặc "Đợi khi nào có được một vị, ta sẽ cho ông biết." Những câu trả lời này gần như không mang lại gì để trí óc có thể bám víu vào.
Thiền tông nhắm đến khôi phục Phật giáo như một giáo lý tâm linh. Thế giới tâm linh có những quy luật riêng, kích thước riêng và cách thức hiện hữu riêng. Điều này khiến trở nên khó hiểu đối với cách nhận thức của thế tục, và có thể nói chính xác rằng tâm linh chỉ có thể nhận hiểu được bằng con mắt tâm linh.
Thiền tông biết rất rõ rằng họ tiêu biểu cho một sự khởi đầu hoàn toàn mới. Như những tín đồ tu tập Tan-tra tin theo đức Liên Hoa Sanh xem ngài như vị Phật thứ hai, cũng đáng tin cậy như đức Thích-ca Mâu-ni, thì cũng trên tinh thần đó, tín đồ Phật giáo Thiền tông đã cố ý gọi tập sách ghi chép những lời thuyết giảng của ngài Huệ Năng là một quyển kinh, (3) danh từ chỉ dùng cho những giáo lý do chính đức Phật nói ra. Vì Thiền tông không thích sự tri thức hóa và hệ thống hóa, nên văn chương Thiền tông, trong
____________________
(1) Đan Hà Thiên Nhiên (丹霞天然 - 739 - 824).
(2) Phùng Phật sát Phật (逢佛殺佛)
The complicated cosmological and psychological theories of the other Buddhist schools are rejected as just so much "rubbish" and "useless furniture". By way of protest against the excesses of devotion and the current misunderstandings of the Buddha's role, a famous Ch'an master of the T'ang dynasty, Tan-hsia T'ien-jan, in the eighth century, when he was cold, burned a statue of the Buddha and warmed himself by it.
Because a definite fixation of the affections on a definite object might act as a fetter, another Ch'an master coldly informs us that, if you meet the Buddha, you ought to kill Him if He gets in your way. Less drastic are the replies of another Ch'an master Nan-yuan Hui-yung, to the question, "What is the Buddha?" He just said, "What is not the Buddha?", or "I never knew Him", or "Wait until there is one, then I will tell you". All this hardly gives the mind very much to rest upon. Ch'an was intent on restoring Buddhism as a spiritual doctrine. Spiritual things have their own laws, their own dimensions, and their own mode of being. This makes them rather indefinite for mundane perception, and it has been rightly said that the spirit can be apprehended only by the eyes of the Spirit.
The Ch'an school well knew that it represented a quite new departure. Just as the Tantric followers of Padmasambhava regarded him as a second Buddha, equal in authority to Sakyamuni, so in the same spirit the Ch'an Buddhists deliberately called a collection of Hui-neng's sermons a "Sutra", a term reserved for the Buddha's own utterances. Because the Ch'an school abhorred all intellectualization and systematiza-
_________________
(3) Huệ Ngung (860-950), thiền sư Trung Hoa, người xứ Hà Bắc, đệ tử nối pháp thiền sư Hưng Hoá Tồn Tương, thuộc tông Lâm Tế. Ngài hoằng hóa ở Nam Viện thuộc Thiền viện Bảo Ứng ở Nhữ Châu (nay là huyện Lâm An, tỉnh Hà Nam) nên được gọi là Nam Viện.
(4) Tức là cuốn Pháp Bảo Đàn Kinh
chừng mực có được, hoàn toàn khác hẳn với những mẫu mực của Ấn Độ.
Một số ít thiền sư dường như có soạn ra các bài thuyết giảng và những kệ tụng để dạy cho môn đồ, nhưng đại đa số các thiền sư đời Đường đều từ chối không ghi chép lại bất cứ điều gì. Họ tự giới hạn trong một số rất ít những lời dạy ngắn ngủi và khó hiểu, mà về sau này được góp nhặt lại thành những cuốn ngữ lục của cổ đức. Họ không tin vào những hiệu quả bị bóp méo của ngôn ngữ, nên cố gắng dẫn dắt đệ tử đến chỗ giác ngộ không chỉ là bằng những lời nhận xét vô nghĩa, mà còn bằng những cách như dùng gậy đánh vào những lúc thích hợp, vuốt mũi, hoặc tạo ra những tiếng động đột ngột và vô nghĩa, như tiếng hét nổi tiếng của ngài Mã Tổ .v.v...
Phương pháp truyền dạy của Thiền tông được hiểu theo thiền ngữ là "lời nói kỳ đặc và hành động kỳ đặc hơn". Vì không một văn bản nào có thể hàm chứa những điều đó, cho nên sự truyền dạy như thế này được xem là nằm ngoài kinh văn. Chúng được xem như là những trường hợp mà tâm Phật tương giao trực tiếp cùng tâm Phật, và Thiền tông trao truyền tâm ấn là trực tiếp từ thầy đến trò.
Dĩ nhiên là không dễ gì để rút ra từ những cách truyền dạy không trọn vẹn như trên một giáo lý có tính cách triết học được hình thành hợp lý. Nhưng, trong một cố gắng thử làm điều không thể được, có thể nói rằng sau đây là những giáo lý chính của Thiền tông.
1. Trước hết, có một lời dạy nổi tiếng rằng "Quả Phật được thành tựu qua việc giác ngộ tức thì." Tuy nhiên, là những người thực tiễn, các thiền sư không quan tâm nhiều đến các lý thuyết giác ngộ so với sự thành tựu thực tiễn. Phái Tiểu thừa có quá nhiều điều để nói về giác ngộ, nhưng không còn đào tạo ra vị thánh giác ngộ nào nữa cả, cho dù là A-la-hán hay Phật. Đại thừa truyền thống cũng không khá gì hơn, và phải biện minh cho sự không thành tựu rõ ràng này bằng cách khẳng định rằng bất cứ một vị Bồ Tát nào cũng phải trải qua vô số kiếp tu tập trước khi có thể
tions, its own literature, insofar as it had any, widely departed from the Indian models.
A few Ch'an monks seem to have composed sermons and didactic hymns, but the great majority of the T'ang masters refused to write down anything at all. They confined themselves to a few brief and cryptic sayings, which at a later age were collected as "Sayings of the Ancient Worthies". So much did they distrust the distorting effect of words, that they tried to induce enlightenment in their pupils not only by nonsensical remarks, but by beating them at appropriate moments with a stick, pulling their noses, or making rude and inconsequential noises, like Ma-tsu's famous "Ho", etc.
Their method of teaching was technically known as "strange words and stranger actions". Because no written work can contain them, these teachings were held to be something outside the scriptures. They are regarded as instances of the "Buddha-mind" speaking directly to the "Buddha-mind", and they transmit the "Seal of Mind" directly from teacher to pupil. It is, of course, not easy to distil from such unpromising material a rationally formulated philosophical doctrine. But, attempting the impossible, one may well say that these were the chief tenets of Ch'an.
First of all, there is the famous teaching that "Buddhahood is achieved through instantaneous enlightenment". As practical people, the Ch'an Buddhists were not, however, so much interested in theories about enlightenment, as in its practical achievement. The Hinayana had much to say about "enlightenment", but could no longer produce any fully enlightened people, be they Arhats or Buddhas. Nor was the traditional Mahāyāna in any better position and had to justify its apparent sterility by asserting that any given Bodhisattva would have to still pass through aeons and aeons of preparation before
thành tựu quả Phật. Vào thế kỷ 7 và 8, một số tín đồ Phật giáo có phần nào mất kiên nhẫn với những giáo lý đã đưa mục tiêu giác ngộ về đến một tương lai vô hạn, và đòi hỏi những kết quả nhanh chóng hơn. Điều này dẫn đến sáng tạo những kinh điển Tan-tra với phương thức để thành tựu quả Phật ngay trong thân này, và những nỗ lực của Thiền tông để giác ngộ ngay trong đời này.
Thiền tông nói rằng trong tông môn của họ lúc nào cũng có rất nhiều người đạt đến giác ngộ. Nhưng về điều này, họ không dùng từ giác (bodhi - bồ-đề) như truyền thống để chỉ trạng thái giác ngộ, mà dùng một từ mới là ngộ, (1) được biết nhiều hơn (2) với dạng tiếng Nhật là satori. Mối quan hệ giữa ngộ của Thiền tông với trạng thái chứng ngộ trong ý nghĩa truyền thống của Ấn Độ và với năng lực nhất thiết trí của đức Phật chưa bao giờ được nhận rõ trong kiến thức của người viết sách này, mặc dù các vị tổ sư Thiền tông được nhắc đến như các vị Phật đáng tôn kính. Điều này có nghĩa là một kiểu thánh giả mới đã xuất hiện trong lịch sử Phật giáo. Sau các vị A-la-hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát và Tất- đạt, giờ đây chúng ta có thêm các Lão sư (3) của Thiền tông như một kiểu thánh giả thứ năm.
2. Thứ hai, nguyên lý cao tột nhất không thể diễn tả được. Một lần nữa, Thiền tông không bằng lòng với việc chỉ nói suông như nhiều triết gia Phật giáo đã làm trước họ, mà muốn biến nhận thức nội tại đối với chân lý này thành một kinh nghiệm cụ thể, bằng cách dùng các phương pháp diễn đạt "vô ngôn", hoặc nói theo cách khác là tạo ra một sự kỳ đặc nào đó và có vẻ như một kiểu nói không quan hệ gì đến vấn đề nhưng lại có thể nói lên được điều muốn nói. Chẳng hạn như:
Trong cái ao vuông có một con rắn mũi rùa.
________________
(1) Ngộ (悟), từ có xuất xứ Trung Hoa, ban đầu được dùng đặc biệt trong Thiền tông. Về sau mới kết hợp với từ giác (覺) vốn đã được dùng trong truyền
he could become a Buddha. In the seventh and eighth centuries a number of Buddhists became rather impatient with doctrines which deferred the attainment of the goal to an indefinite future and insisted on quicker results. This led to the Tantra devising methods for winning Buddhahood "in this very body", and to the Ch'an working for enlightenment "in this very life".
The Ch'an claimed that within their ranks numerous people attained " enlightenment" all the time, but for this they did not use the traditional term p'u-fi, which corresponds to bodhi, but a new word, wu, "comprehension, awareness", better known in its Japanese form as satori. Its relation to "enlightenment" in its traditional Indian sense and to the Buddha's omniscience has never to my knowledge been clarified,,although the Ch'an Patriarchs are referred to as "venerable Buddhas". This signifies that in the history of Buddhism a new type of "saint" had arisen.
After the Arhats, Pratyekabuddhas, Bodhisattvas and Siddhas we now have the Ch'an Roshis as a fifth type. Secondly, the highest principle is inexpressible. Again, Ch'an was not content to just say so, as many Buddhist philosophers had done before them, but it tried to make the insight into this truth into a concrete experience, by evolving methods of "stating it through non-statement", by in other words designing some extraordinary and on the face of it quite irrelevant kind of statement which would do justice to it. Like for instance:
In the square pool there is a turtle-nosed serpent.
___________________
thống để dịch chữ bodhi của tiếng Phạn, và hình thành cụm từ giác ngộ (覺 悟) như hiện nay được dùng phổ biến.
(2) Tác giả muốn nói đến ở phương Tây.
(3) Trong nguyên tác dùng theo tiếng Nhật là Roshis, nghĩa là các Lão sư.
Thật buồn cười khi nghĩ đến nó!
Ai đã kéo đầu con rắn lên?
Một cách tương tự, sự hành trì phải được thực hiện bởi việc không hành trì. Cũng như một tấm gương không thể được làm bằng cách nghiền gạch, quả Phật không thể đạt được bằng cách hành thiền.
Điều này không có nghĩa là mọi công phu thiền định đều phải từ bỏ, mà là phải được thực hành với không có bất cứ sự dụng tâm nào để phải cố gắng đạt đến hoặc tự khẳng định. Như vậy tiêu trừ được những nghiệp lực cũ và không tạo ra nghiệp mới. Hành giả phải ở trong trạng thái vô tâm, nghĩa là tâm luôn tỉnh giác mà không có ý tưởng nào, và ngăn giữ tâm ý không còn lăng xăng đây đó.
Do kết quả hành trì theo cách này, hành giả đạt đến sự giác ngộ, không còn nghi hoặc, và tất cả mọi vấn đề đột nhiên được hóa giải. Không phải vì đã tìm ra được giải pháp cho những vấn đề ấy, mà là vì chúng không còn là vấn đề đối với hành giả nữa. Và cho dù tri kiến mới đạt được này là khác với sự mê tối của người thường, nhưng xét cho cùng thì hành giả chẳng đạt được gì cả. Và đời sống của bậc thánh này cũng không khác gì với những người thường. Theo như cách nói của thiền sư Lâm Tế (mất năm 867)3 là: "Chỉ làm những việc bình thường không có nỗ lực đặc biệt nào, như đại tiểu tiện, mặc áo quần, ăn cơm, và khi mệt mỏi thì nằm nghỉ. Những kẻ tầm thường sẽ cười nhạo, nhưng người trí sẽ hiểu."
Bởi vậy, thật ra là chẳng có gì nhiều trong giáo pháp của Phật. Bí pháp mà đức Phật truyền cho Đại Ca-diếp thực ra là một bí mật đã tiết lộ, và cũng chẳng có gì trong đó cả, ngoại trừ một điều là đa số mọi người không thể hiểu được nó. Một khi đạt ngộ, bậc thánh giả có thể dễ dàng kết hợp sự thoát tục ẩn mật với những ứng xử thích hợp không gián đoạn đối với cuộc sống. Trạng thái không hoạt động đã trở
________________
(1) Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄), thiền sư khai sáng tông Lâm Tế. Ngài mất năm 867 nhưng không rõ năm sinh.
Ridiculous indeed when you come to think of it!
Who pulled out the serpent's head?
Analogously, "cultivation must be carried out by non-cultivation". Just as a mirror cannot be made by grinding a brick, so a Buddha cannot be made by practising meditations.
This does not mean that all meditation should be discarded, but that it should be carried out without any striving, self- assertion or deliberate purpose, thus exhausting the old karma and creating no new karma. One must be established in "no- thought", which means "to be in thought yet devoid of thought" and to "stop the mind dashing hither and thither".
As a result of this kind of cultivation, a man gains enlightenment, he has no more doubts and all his problems are suddenly solved, not because he has found a solution for them, but because they have ceased to be problems for him. And although his new-found knowledge is different from the ignorance of ordinary people, nevertheless, in the last resort, he has gained nothing at all, and the life of the sage is not different from that of ordinary men. As Yi-hsuan (died 867) put it: "Only do ordinary things with no special effort: relieve your bowels, pass water, wear your clothes, eat your food, and, when tired, lie down! Simple fellows will laugh at you, but the wise will understand."
So "there is really nothing much in the Buddhist teaching". The secret which the Buddha gave to Mahakasyapa is really an open secret, and there is nothing to it, except that the mass of people fail to understand it. Once enlightened, the sage can without any effort combine a mysterious aloofness with a constant response to the calls of the world. Non-activity has
thành giống như hoạt động. Và theo như cách nói của Bàng Uẩn (1) là "tâm tri kiến và diệu dụng nằm ở việc gánh nước và bổ củi". Và có thể kết thúc với câu nói này của thiền sư Hai-yun: "Suốt ngày ăn mà chẳng nuốt một hạt cơm; suốt ngày đi mà chẳng nhích một ly; suốt thời gian đó không có sự phân biệt giữa khách thể và chủ thể; và suốt ngày không tách rời sự vật mà vẫn không bị chúng dối gạt. Đây chính là người tự tại."
Thiền học quả thật là một giáo lý rất sâu xa. Mặc dù bối cảnh văn hóa và những điều kiện xã hội của Trung Hoa vào đời Đường hoàn toàn khác biệt về mọi mặt với Ấn Độ vào thời của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng sự gần gũi với tinh thần của đức Bổn sư mà các vị đại thiền sư của Thiền tông đạt đến quả là rất hiếm thấy trong những người học Phật ở bất cứ thời đại nào.
Trên đây là nói về những phát triển về mặt tư tưởng của thời kỳ này. Về mặt hình thức, giáo hội Phật giáo đời Đường cũng đạt được một vị trí sáng chói, sung túc và mạnh mẽ hơn bất cứ giai đoạn nào khác trong lịch sử đã trải qua. Tuy vậy, sự thành công này phải trả với một giá đắt.
Sự thịnh vượng của các tự viện đe dọa làm suy thoái nền kinh tế quốc gia. Việc xây dựng rất nhiều tự viện, về mặt kinh tế là không tạo ra gì cả, và còn phải được duy trì nhờ vào giới cư sĩ, nghĩa là nhờ vào triều đình, các gia đình quý tộc hoặc dân cư trong thôn làng. Những kiến trúc xây dựng vô cùng tốn kém đã thu hút rất nhiều nhân công từ các vùng quê, khiến họ phải từ bỏ việc làm ruộng. Và cuối cùng là nguồn dự trữ kim loại của đất nước phải cạn kiệt vì được dùng vào việc đúc tượng và các món đồ dùng trong nghi lễ thờ cúng. Tiến trình này dẫn đến sự ngược đãi Phật giáo vào năm 845. Triều đình tịch thu tất cả tài sản của các tự viện, buộc giới tăng ni phải hoàn tục, và thu lấy các tác phẩm nghệ thuật để dùng kim loại vào những mục đích thế tục.
_______________
(1) Bàng Uẩn (龐蘊), một cư sĩ nổi danh về Thiền học. Theo Phật Quang Từ điển thì ông mất năm 808 và không rõ năm sinh. Đã từng tham học với thiền sư
become identical with action, and, as P'ang-yun put it, "spirit-like understanding and divine fuctioning lies in carrying water and chopping wood". To conclude with a saying of Hai-yun: "To eat all day yet not to swallow a grain of rice; to walk all day yet not tread an inch of ground; to have no distinction during that time between object and subject, and to be inseparable from things all day long, yet not be deluded by them, this is to be the man who is at ease in himself." Ch'an is a very profound doctrine indeed. Although the cultural background and social conditions of the China of the T'ang differed in almost every way from those of the India of the Buddha Sakyamuni, rarely have Buddhists at any time come as near to the spirit of their Founder as the great masters of the Ch'an school.
So far about the intellectual developments of the period. Outwardly also under the T'ang the Buddhist Church attained a position of greater brilliance, wealth and power than it has probably experienced at any other time during its long history. This success was, however, bought at a heavy price. The prosperity of the monasteries threatened to ruin the economy of the country. The vast monastic establishments were economically unproductive, and had to be maintained by the lay community, i.e. by the Imperial Court, by aristocratic families or by villages; the expensive architectural enterprises deflected huge numbers of the rural population from work in the fields, and finally the metallic reserves of the country were drained away, being used to cast images and other ritual objects. This process led to the great persecution of 845. The Government confiscated the property of the monasteries, forced the monks and nuns to return to secular life, and seized the works of art in order to use the metal for more secular purposes.
________________
Thạch Đầu Hy Thiên (石頭希遷) và sau đó là Đan Hà Thiên Nhiên (丹霞天然).
/35
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »