văn hóa bản địa. Hình thức Mật tông chiếm ưu thế trong thời kỳ này là một hình thức cực đoan, bắt buộc thực hành 5 giới cấm, (1) lìa bỏ ái dục, và xem đức Phật Đại Nhật là vị Phật từ nguyên thủy. Bộ phái này kết hợp biểu tượng Thời luân với sự sùng bái Shiva Bhairava thành hình tượng Phật-Shiva. (2) Và để phù hợp với truyền thống bản địa, bộ phái này chủ yếu nhắm đến việc siêu độ cho linh hồn người chết. Một số tác phẩm điêu khắc đẹp nhất của Phật giáo được thực hiện ở Java dưới triều đại Singhasari (1222- 1292), trình bày các vị vua của triều đại này được điêu khắc thành những pho tượng phỏng theo như là các vị Phật Bất Không, Phật Bất Động .v.v... và các vị hoàng hậu thì giống như là nữ thần Bát- nhã .v.v...
5. TRUNG HOA VÀ TRIỀU TIÊN
Ở Trung Hoa, mặc dù các vị vua đời Tống nói chung đều hướng về Phật giáo, nhưng sức sống của Phật giáo suy giảm dần đi trong suốt thời kỳ này.
Khoảng sau năm 1000, có hai tông phái nổi bật hơn hẳn so với những tông phái khác, đó là Tịnh độ tông và Thiền tông. Trong Thiền tông có năm dòng truyền thừa đã hình thành gọi là Ngũ gia. (3) Tất cả tín đồ Thiền tông đều giống nhau ở điểm họ tin rằng tự tâm mỗi người đều có tánh Phật, nhưng rõ ràng là có những khác biệt tùy theo tâm của mỗi người, và chắc chắn những khác biệt ấy phải được phản ánh trong những phương pháp và cách tu tập khác nhau. Do đó, những gì khác biệt giữa năm nhà chính là về phương cách tu tập hơn là về giáo lý. Ba nhà trong số đó là các tông Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn đã tàn lụi vào khoảng giữa đời Tống.
Đặc điểm của tông Quy Ngưỡng là phương pháp truyền dạy
__________________
(1) Makaras
(2) Śiva-buddha
(3) Ngũ gia là "năm nhà" được chia ra từ Thiền tông sau đời Lục Tổ. Đó là: 1. Tông Quy Ngưỡng (歸仰宗), do hai ngài Quy Sơn Linh Hựu (潙山靈 祐-771-853) và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂- 807-883, cũng có các
The Tantrism prevalent in this period was an extremist form, which enjoined the practice of the five makaras, "free from all sensualities", and regarded Vairocana as the primordial Buddha. It syncretized the Kalacakra with the devotion to Shiva Bhairava into a cult of Shiva-buddha and, in keeping with the native Indonesian tradition, it was chiefly devoted to the redemption of the souls of the dead. Some of the loveliest pieces of Buddhist sculpture were made in Java under the dynasty of Singhasari (1222-92), which represented its kings on statues as Amoghapasa, Aksobhya, etc., and its queens as Prajnaparamita, etc.
5. CHINA AND KOREA
Although the Sung emperors were on the whole well disposed towards Buddhism, its vigour declined during this period. After about AD 1000 two schools ousted all the others, the Amidism of Faith, and the meditational school of Ch'an.
Within Ch'an, five lines of transmission, called the "Five Houses", had taken shape. All Ch'an Buddhists alike believe that one's own heart is the Buddha, but there are obviously great differences in the hearts of men and these must inevitably reflect themselves in different methods and approaches. What therefore differentiated the "Five Houses" were less differences in doctrine than differences in style. Three of the five, the Wei- yang-tsung, the Yun-men-tsung and the Fa-yen-tsung, died out already by the middle of the Sung period. Characteristic of the Wei-yang sect was a special method of teaching by drawing
__________________
thuyết khác cho là 813 hay 814 cho đến 890 hoặc 891) sáng lập. 2. Tông Lâm Tế (臨濟宗), do ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄 - ? - 866 hoặc 867) sáng lập. 3. Tông Tào Động (曹洞宗), do hai ngài Động Sơn Lương Giới (洞山良价- 807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (曹山本寂- 840-901) sáng lập. 4. Tông Vân Môn (雲門宗), do ngài Vân Môn Văn Yển (雲門文偃- 864-949) sáng lập. 5. Tông Pháp Nhãn (法眼宗), do ngài Pháp Nhãn Văn Ích (法眼文益- 885-958) sáng lập.
bằng cách vẽ những vòng tròn khác nhau trong không khí hay trên mặt đất. Tông Vân Môn nhìn chung giống như tông Lâm Tế, nhưng một trong những phương cách đặc biệt của họ là trả lời những câu hỏi bằng một từ hoặc một âm duy nhất. Tông Pháp Nhãn hướng đến việc học tập kinh điển nhiều hơn so với các tông khác, và chịu ảnh hưởng rất đậm nét từ giáo lý của tông Hoa nghiêm.
Hai tông vẫn tồn tại đến nay là tông Tào Động, sáng lập bởi ngài Động Sơn Lương Giới (807-869) và tông Lâm Tế, sáng lập bởi ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (mất năm 867).
Vào lúc bấy giờ, hai tông phái này thật ra chỉ là có sự khác biệt về khuynh hướng mà thôi, và sự khác biệt tăng dần cho đến khi có sự chia tách thực sự thành hai tông khác nhau là vào khoảng năm 1150.
Đặc điểm của tông Tào Động là sự yên lặng. Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác (mất năm 1157) (1) đã gọi phương pháp thiền của tông Tào Động là "Tịch chiếu thiền", nghĩa là lẳng lặng mà soi sáng. Điều này cho thấy họ chú trọng nhiều đến việc tĩnh tọa thiền quán, để nhờ vào đó, hay chính trong trạng thái đó mà đạt đến sự giác ngộ, hay sự tỉnh giác nội tâm về tánh không tuyệt đối.
Người sáng lập ra phái thiền này đã ôn hòa trong việc vận dụng các phương pháp. Ông cũng để lại cho tông phái một giáo lý đặc biệt liên quan đến 5 cấp độ, phân biệt rõ 5 giai đoạn của tiến trình đạt đến giác ngộ, theo phong cách thuần túy Trung Hoa với ảnh hưởng rất lớn từ Kinh Dịch. Những giai đoạn này được tượng trưng bằng các vòng tròn trắng và đen.
Có bốn học thuyết có thể đề cập đến như là những nét đặc thù của tông Tào Động:
1. Tất cả chúng sanh từ khi sanh ra đều sẵn có Phật tánh, và do đó tất nhiên là sẽ giác ngộ.
___________________
(1) Thiền sư Chính Giác, tức Hoằng Trí Chính Giác (宏智正覺- 1091-1157) thuộc tông Tào Động. Ngài là người Thấp Châu, Sơn Tây, tư chất thông
various circles in the air or on the ground; the Yiin-men sect generally resembled the Lin-chi, but one of its special devices was the reply to questions with one single word of one syllable; the Fa-yen was more favourable to the study of the Sutras than the other Ch'an sects and the influence on it of the Hua-yen doctrines was particularly marked.
The two schools which have survived to the present day are the Ts'ao-tung-tsung, founded by Tung-shan Liang-chieh (807- 69), and the Lin-chi-tsung, which goes back to his contemporary Lin-chi-I-hsuan (died 867). The differences between these two, which had been just distinctive tendencies so far, hardened into different sects in the proper sense of the term only about 1150.
The Ts'ao-tung was always characterized by quietism and Hung-chih Cheng-chueh (died 1157) gave it the special name of Mo-chao ch'an "silent-illumination Ch'an". This indicated that the school stressed the quiet sitting still in silent meditation, by or in which enlightenment, or spiritual insight into absolute emptiness, is attained. The founder of this sect was mild and gentle in his methods. He also bequeathed to his school a special doctrine concerning the "Five Ranks", which distinguishes five stages of the movement towards enlightenment in a thoroughly Chinese manner which was greatly indebted to the Book of Changes, and the stages were represented by white and black circles. Four doctrines are mentioned as characteristic of the Ts'ao-tung:
(1) All beings have the Buddha-nature at birth and consequently are essentially enlightened;
________________
minh từ nhỏ, năm lên 7 tuổi đã tụng đọc mỗi ngày cả ngàn câu kinh. Năm 11 tuổi xuất gia tại chùa Tịnh Minh, 14 tuổi đến chùa Từ Vân thọ giới cụ túc với ngài Trí Quỳnh (智瓊). Năm 18 tuổi từ biệt thầy đi tham học khắp nơi. Ngài là một trong các cao tăng nổi danh đời Tống.
2. Chúng sanh có thể hoàn toàn đạt đến sự an lạc của Phật tánh khi ở trong trạng thái thiền quán tĩnh lặng.
3. Công phu hành trì và sự trau giồi tri thức phải luôn luôn bổ khuyết cho nhau.
4. Các nghi thức công phu lễ sám hàng ngày cần phải được tuân theo một cách nghiêm ngặt.
Người sáng lập phái thiền Lâm Tế thì ngược lại, thường vận dụng tính cách mạnh mẽ và đột ngột, với những tiếng hét và thiền trượng giữ một vai trò quan trọng trong công phu thực hành. Trong tất cả các tông phái, đây là tông phái chống lại việc chạy theo sự lý giải của tri thức một cách mạnh mẽ nhất, và cũng là tông phái chú trọng nhiều nhất đến tính chất bất ngờ và trực tiếp trong kinh nghiệm thiền quán.
Trong đời nhà Tống, Thiền tông trở thành một yếu tố văn hóa cực kỳ quan trọng. Trong số các họa sĩ danh tiếng của thời này có nhiều thiền sư, và ảnh hưởng của thiền đối với nghệâ thuật rất đáng kể. Ngay cả sự phục hưng Khổng giáo của nhóm Tân học gồm Chu Hy và những người khác cũng nhờ vào Thiền tông rất nhiều, tương tự như sự phục hưng bộ Vedanta của Sankara đã dựa rất nhiều vào Phật giáo Đại thừa. Sự thực hành tĩnh niệm, suy ngẫm một cách lặng lẽ, rất quan trọng đối với thiền, đã dẫn đến sự luyện tập phép tĩnh tọa của Khổng giáo.
Sự thành công nổi bật này đã mang đến cho Thiền tông đời Tống những mối nguy hiểm và sự khủng hoảng sâu xa. Các thiền sư đời Đường luôn xa lánh kinh đô, nhưng giờ đây các thiền viện lại duy trì những mối quan hệ tốt đẹp với triều đình và dây dưa khá nhiều vào chính sự. Các thiền viện nguy nga mọc lên khắp nơi trong nước và trở thành những trung tâm điểm của đời sống văn hóa xã hội. Trong Thiền tông đã có nhiều nhân nhượng với chủ nghĩa tri thức và việc nghiên cứu kinh điển. Ngay trong nhà thiền đã nảy sinh một sự bất đồng mạnh mẽ về tầm quan trọng của kinh điển. (1)
___________________
(1) Đây là dấu hiệu suy thoái của Thiền tông, vì sức sống ban đầu của Thiền nằm ngay trong việc từ bỏ chủ nghĩa tri thức và chú trọng đến công phu thực
(2) They can enjoy fully the Bliss of the Buddha-nature while in a state of quiet meditation;
(3) Practice and knowledge must always complement one another;
(4) The strict observance of religious ritual must be carried over into our daily lives.
The founder of the Lin-chi sect by contrast favoured the use of rudeness and abruptness and the "shout and the stick" played a great part in the practices of this school. It was the most hostile of them all to rationalization and the most emphatic in stressing the suddenness and directness of Ch'an experience.
During the Sung the Ch'an school became a cultural factor of great importance. Many Ch'an monks were found among the painters of the period, and its influence on art was considerable.
Even the Neo-Confucian Renaissance of Chu-hsi and others owed much to Ch'an Buddhism, just as the Vedantic Renaissance of Sankara had been greatly indebted to Mahāyāna Buddhism.
The practice oftso-ch'an, quiet contemplation, so important in Ch'an, found its way into the practices of Confucianism as ching-tso, or "quiet-sitting". This outward success brought its dangers and led to a deep crisis within Ch'an. The T'ang masters had always avoided the capital, but now the Ch'an monasteries maintained excellent relations with the Court and meddled much in politics. Magnificent Ch'an monasteries arose throughout the country and became focal points of social and cultural life. Many concessions were made to intellectualism and to the study of the Sutras, and within the Ch'an camp a vigorous controversy arose about their importance.
_________________
hành với những kinh nghiệm thực tiễn. Tinh thần "bất lập văn tự" đến đây đã bị lung lay bởi những ảnh hưởng văn hóa từ xã hội.
Từ chối mạnh mẽ nhất đối với giá trị của kinh điển là tông Lâm Tế, chống lại nguy cơ suy sụp đang đến gần của Thiền tông bằng cách đưa ra một hệ thống các công án. (1)
Danh từ công án bao gồm hai từ: "công", hay công khai, của chung, và "án", hay phán quyết về một vụ việc, và hàm ý chỉ cho một khuôn mẫu đã có từ trước hoặc đáng tin cậy. Trong thực hành, công án là một kiểu câu đố, thường liên quan đến lời nói hoặc hành động của một trong những thiền sư đời Đường.
Giờ đây, những bộ sưu tập các công án như vậy được in ấn ra, mỗi một công án được thêm vào phần giải thích, được viết ra theo cách là không giải thích gì cả. (2)
Điển hình đầu tiên của loại văn chương mới này là một tuyển tập gồm 100 công án, gọi là Bích nham lục, (3) xuất hiện năm 1125. Tập công án nổi tiếng khác là Vô môn quan, (4) gồm 48 công án, xuất hiện sau đó hơn một thế kỷ.
Ngược lại với sự yên tĩnh mà tông Tào Động áp dụng, tông Lâm Tế chủ trương không ngừng hoạt động với một công án được lựa chọn cho đến khi đạt đến giác ngộ. Theo như cách nói của ngài Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163) là: "Chỉ một công án, trọn một đời không lúc nào buông bỏ. Đi đứng nằm ngồi, chú tâm không dứt. Khi thấy đã hết sức nhàm chán, là lúc giờ phút cuối cùng sắp đến, đừng để lỡ mất. Khi tâm thức đột nhiên bừng sáng, ánh sáng ấy sẽ soi sáng toàn vũ trụ, và cảnh giới giác ngộ của chư hiền thánh hiện ra tường tận như từng sợi tóc, bánh xe chánh pháp được chuyển ngay trong một hạt bụi."
_______________
(1) Công án (公案), một thuật ngữ thuần túy của Thiền tông. Nguyên nghĩa của danh từ này là một bản án công khai, có giá trị thi hành, do một vị quan có thẩm quyền đưa ra, nhưng Thiền tông dùng danh từ này với nghĩa đặc thù như một phương tiện, một đối tượng thiền quán, không dùng theo nguyên nghĩa. Trong nguyên tác tiếng Anh, Conze dùng từ "government" để dịch chữ công (公), và "legal case" để dịch chữ án (案), e là không được chính xác lắm.
(2) Đây là những phần niêm hoặc tụng, dành cho mỗi công án, mà thực chất bản thân chúng là những công án mới.
Most radical in its rejection of the authority of the Sutras was the Lin-chi, which countered the impending decadence by evolving the kung-an system. The word Kung-an consists of two characters, for "government" and "legal case" and denotes a precedent or authoritative model. In practice a kung- an is a riddle, usually connected with a saying or action of one of the T'ang masters. Collections of such kung-ans were now published and to each was added an explanation which deliberately never explained anything at all. The first example of this new literary genre was a collection of 100 riddles, called the Pi-yen-lu, which appeared in 1125. The other famous collection is the "Gateless Gate", or Wu-men-kuan, comprising 48 cases, and which appeared more than a century later. In opposition to the quietism advocated by the Ts'ao-tung, the Lin- chi advocated ceaseless activity on the chosen kung-an which must be carried on until sudden enlightenment supervenes. As Ta-hui tsung-kao (1089-1163) put it: "Just steadily go on with your kung-an every moment of your life! Whether walking or sitting, let your attention be fixed upon it without interruption.
When you begin to find it entirely devoid of flavour, the final moment is approaching: do not let it slip out of your grasp! When all of a sudden something flashes out in your mind, its light will illuminate the entire universe, and you will see the spiritual land of the Enlightened Ones fully revealed at the point of a single hair and the wheel of the Dharma revolving in a single grain of dust."
__________________
(3) Bích nham lục (碧岩錄), xuất phát từ một tác phẩm được thiền sư Tuyết Đậu (雪竇 - 834-905) biên soạn với tên là Tuyết Đậu tụng cổ (雪竇頌古), sau được thiền sư Viên Ngộ (圓悟 - 1063-1135) sử dụng và biên soạn thêm vào, thành ra tập Bích nham lục lưu hành đến ngày nay. Đây là một quyển sách nổi tiếng trong giới thiền học, được mệnh danh là Tông môn đệ nhất thư ( 宗門第一書).
(4) Vô môn quan (無門關), do thiền sư Vô Môn Huệ Khai (無門慧開 -1183-1260) biên soạn.
Như thế, vào đời Tống phương pháp thiền định có hệ thống đã thay thế cho phương pháp ứng tác cá nhân của các thiền sư đời Đường. Nhưng chính sự hệ thống hóa này, và trong một chừng mực nào đó là tính chất máy móc, khuôn thước, đã đảm bảo cho sự sống còn của Thiền tông.
Bao giờ cũng vậy, khi những trường phái triết học cùng song song tồn tại, cho dù là trong một thời gian bao lâu đi nữa, kết quả vẫn là sẽ có một sự hòa hợp ngày càng gia tăng. Về nhiều phương diện, Thiền tông được kết hợp với Hoa nghiêm tông và Thiên thai tông; và phép niệm Phật cũng thường được đưa vào Thiền tông để làm tăng thêm sức mạnh thiền định. Trong các triều đại nhà Nguyên và nhà Minh, sự kết hợp hoàn toàn các khuynh hướng khác nhau của Phật giáo Trung Hoa đã diễn ra. Nhà Minh và Mãn Châu đều chuộng Khổng giáo, nhưng vẫn chấp nhận và đôi khi cũng khuyến khích Phật giáo.
Hai vị hoàng đế Ung Chính (1723-1735) và Càn Long (1736-1795) đã cố gắng tạo ra một kiểu Phật giáo kết hợp giữa Phật giáo Trung Hoa và các yếu tố của Lạt-ma giáo. Vì vậy, một mặt lôi cuốn được người Trung Hoa, trong khi mặt khác cũng kêu gọi được người Tây Tạng và Mông Cổ. Chùa Yung-ho-kung, ngôi chùa Lạt- ma giáo ở Bắc Kinh, là một công trình thể hiện rõ những cố gắng này. Trong đó, những vị thần thuộc về hai phong cách thờ kính của Phật giáo Trung Hoa và Lạt-ma giáo được hòa lẫn với nhau một cách cẩn thận. Ngay cả Quan Công (một vị võ thần của Trung Hoa) và Khổng Tử cũng được thờ ở đây trong số các vị Bồ Tát.
Sự hưng thịnh của các tự viện không bao giờ phục hồi được nữa sau cuộc nổi loạn của giặc Thái Bình, "những người Công Giáo tóc dài". (1) Trong 15 năm (1850-1865), họ đã tàn phá 16 tỉnh, hủy hoại 600 thành phố và hàng ngàn đền đài, tự viện. Cho dù vậy, cho đến ngày nay Phật giáo vẫn không hề bị quên lãng trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng của người Trung Hoa.
__________________
(1) Tức là cuộc nổi loạn của nhóm gọi là Thái Bình Thiên Quốc, chống lại triều đình Mãn Thanh đang cầm quyền. Họ thành công trong một thời gian và
In Sung times systematic method thus replaced the individualistic spontaneity of the T'ang masters. But it was this systematization and to some extent mechanization which assured the survival of Ch'an.
Whenever philosophical schools coexist for any length of time, the result will be an increasing syncretism between them. In many ways Ch'an was combined with Huayen and T'ien-t'ai, and the practice of the Nembutsu was often brought in to strengthen the Ch'an meditation. During the Yuan and Ming dynasties a fairly complete fusion of the different trends of Chinese Buddhism actually took place. The Ming and Manchus favoured Confucianism, but tolerated, and occasionally encouraged Buddhism. Two emperors, Yung-cheng (1723-35) and Ch'ien-lung (1736-95), tried to create a type of Buddhism which combined Chinese Buddhist (Fo-ist) and Lamaist elements, thus appealing to Chinese on the one hand, and Tibetans and Mongols on the other. The Yung-ho- kung, the Lamaist Cathedral in Peking, is a visible monument to these endeavours and in it the deities proper to these two types of Buddhist cult are carefully blended. Even Kuan Ti, the Chinese War God, and Confucius are there enlisted among the Bodhisattvas. The prosperity of the monasteries has never recovered from the Taiping rebellion of the "long-haired Christians", who for fifteen years (1850-65) devasted sixteen provinces, destroyed 600 cities, and thousands of temples and monasteries. Nevertheless, until the present day Buddhism has remained a by no means negligible factor in the cultural and religious life of China.
___________________
chiếm cứ, tàn phá nhiều vùng rộng lớn. Nhưng về sau, với sự giúp đỡ của các thế lực nước ngoài, triều đình đã dẹp tan cuộc nổi loạn này. Tuy vậy, đây được xem là một trong những nguyên nhân gây suy yếu và dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến Trung Hoa sau đó không đầy 50 năm (1911).
Tại Triều Tiên, Phật giáo cực thịnh dưới triều đại Koryo, (1) đặc biệt là từ năm 1140 đến 1390. Người sáng lập triều đại này là một Phật tử chí thành, cho rằng sự thành công của mình chính là nhờ vào sự che chở của Phật pháp. Những người kế nghiệp ông cũng không bao giờ ngần ngại trong việc ủng hộ Phật giáo. Mỗi vị vua đều chọn một tăng sĩ làm quốc sư, hay người cố vấn. Khi vua ngự giá ra đi, kinh điển thiêng liêng được mang đi trước. Nhiều ấn bản Kinh tạng được in ra với chất lượng cao bằng vào phí tổn của Nhà nước. Một ấn bản trong số đó có đến 81.258 tờ. Trong nhiều giai đoạn kéo dài rất lâu, quyền chính hoàn toàn nằm trong tay tăng sĩ.
Cho đến thế kỷ 12, giai cấp quý tộc vẫn là nguồn lực ủng hộ chính của Phật pháp, nhưng từ đó trở đi thì Phật giáo cũng đã trở thành tôn giáo chung cho toàn dân. Những yếu tố pháp thuật mạnh mẽ đã thâm nhập vào Phật giáo, như đã từng xảy ra cho tôn giáo này ở bất cứ nơi đâu khi nó thực sự được phổ cập. Nhiều tăng sĩ trở nên giỏi luyện phép trường sanh, thực hiện phép mầu, cầu hồn, chọn giờ tốt xấu, xem hướng đất .v.v...
Năm 1036, một đạo luật hủy bỏ án tử hình và quy định trong 4 người con trai phải có một người xuất gia. Triều đại Koryo chi tiêu nhiều tiền bạc cho việc tổ chức những buổi lễ tôn giáo long trọng và xây cất tự viện. Vô số tác phẩm nghệ thuật được sáng tạo trong thời này.
Vào đời Nguyên, nhất là sau năm 1258, Lạt-ma giáo đã tạo được một ảnh hưởng đáng kể. Vào thế kỷ 14, Phật giáo hoàn toàn chinh phục Triều Tiên. Năm 1310, nhà vua ban chiếu lệnh rằng tăng sĩ không cần phải lễ chào bất cứ ai, trong khi mọi người khác đều phải tỏ lòng kính trọng đối với họ. Những ai chọn theo đời sống tôn giáo đều khỏi phải bận tâm đến các nhu cầu vật chất.
Sự ưu đãi vượt mức đối với Phật giáo bỗng đột ngột chấm dứt với sự thay đổi triều đại vào năm 1392. (2) Khổng giáo giờ đây chiếm ưu thế. Chư tăng không còn được sự ủng hộ của Nhà nước, và
__________________
(1) Triều đại kéo dài từ năm 918 cho đến năm 1392.
In Korea, Buddhism reached the height of its power under the Koryo dynasty, particularly between 1140 and 1390. The founder of the dynasty was a pious Buddhist, who attributed his success to the Buddha's protection. His successors never wavered in their support of the religion. Each king chose a bonze as his "preceptor", or advisor. The holy scriptures were carried in front of the kings when they travelled. Fine editions of the Canon were printed at the expense of the state, one of them comprising 81,258 leaves. For long stretches of time the government was entirely in the hands of the bonzes. Up to the twelfth century the aristocracy had been the main support of Buddhism, but now it became the religion of the common people as well. Strong magical elements entered into Buddhism, as has happened to this religion wherever it became really popular. Many bonzes became experts in prolonging life, in working miracles, evoking spirits, distinguishing between auspicious and inauspicious times and places, and so on. In 1036 an edict abolished the death penalty and decreed that out of four sons one must become a monk. The Koryo dynasty expended much wealth on magnificent religious ceremonies and buildings, and innumerable works of art were created under it. During the Yuan dynasty, especially after 1258, Lamaism exerted a considerable influence. In the fourteenth century the Buddhists dominated Korea almost completely. In 1310 it was decreed that the monks need not salute anyone whereas everyone else must show respect to them. Those who had chosen the religious life were exempt from all material cares.
The excessively privileged position of the church came to an abrupt end with the change of the dynasty in 1392. Confucianism now gained the upper hand, the monks were deprived of
_______________
(2) Triều đại thay thế là triều đại , kéo dài từ năm 1392 cho đến năm 1910.