LÝ DO HIỆU CHÍNH TAM TỔ NGỮ (THỰC) LỤC ĐỂ KHẮC BẢN LẠI
Tập sách này vốn gồm ba quyển, ghi chép ba vị Tổ đồng thời tu chứng đời Trần. Đó là: một Phật, hai Bồ tát vì tâm nguyện đại bi, thõng tay vào đời, phương tiện độ sanh. Một vị là bậc Pháp vương trị vì xã tắc, bỏ ngôi báu vào cửa Thiền, quên mình vì Đạo, mong đem Thiền cơ thù ứng, hiển nhiên gương sáng không mờ. Một người được truyền y đó là “Kê Túc Ẩm Quang đang tái thế, y vàng Điều Ngự được thừa truyền”. (Đồng) Kiên Cương từng theo Phật giáo từ bé rồi quy tụ đồ chúng thuyết pháp tiếp độ hàng ngũ Tăng, Ni kể hơn 15.000 người, so với 28 Tổ (Ấn độ) và 6 tổ (Trung hoa) thực chẳng phải là hạng căn khí nhỏ, mà là bậc tác gia có tầm cỡ lớn. Một người nối dòng pháp, văn chương gấm vóc, bút pháp độc đáo, có tài trí của bậc Á Thánh siêu quần, giới luật tinh nghiêm, ba học cần mẫn, có đức độ của bậc Thần Tăng trác việt. Thực đáng tin thay, tên gọi Tải Đạo, thực xác đáng thay, văn chương xuất chúng.
Tôi thiển nghĩ sự hưng long Tam bảo trên thế gian này thì triều Lý nước nước ta là cực thịnh. Đến như việc tự tu và dạy người thì khắp các đạo tràng đều mô phỏng theo đó mà làm điều thiện. Tâm hướng về đạo thì hơn nửa số người trong thiên hạ xuất gia. Nay đây, xin gác lại hai ngôi báu Phật và Pháp không bàn đến, mà chỉ nói về ngôi Tăng bảo.
Tăng bảo còn được nhiều người kính tin, ít dám khinh khi, đều là nhờ nguồn sóng ân huệ của ba vị Tổ sư rơi rớt lại. Người học không thể không trân trọng. Ngày nay, hình ảnh dấu vết vẫn còn, tăm tiếng anh linh chưa mất. Chúng ta lại cùng sinh tại nước này nếu không hiểu phép tắc tu hành của Tổ sư, không biết công lao sâu dày của tiền bối, thì có khác gì một nhà kia ngày xưa có ông cụ 100 tuổi, ông múa để dạy con cháu, nhưng con cháu chỉ xem qua mà chẳng để ý, như vậy há không có lỗi khi tự xưng mình là con cháu hiếu thảo hay sao?
Tuy có suy nghĩ như thế, nhưng không biết làm cách nào. Sau đó, nhân qua chùa Vĩnh Nghiêm, yết kiến thầy Viện chủ Thanh Tuyên, tôi bèn bộc bạch nỗi lòng của mình. Ngài bảo: “Tôi có quyển sách hay, xin đưa ông xem thử ”. Tôi đón lấy sách hồi hộp, xem qua một lượt, thực không cầm được nỗi hân hoan phấn khởi, liền bái thỉnh đem về xem kỹ. Thấy những điều kỳ thú trong sách phù
hợp với căn bản đường lối căn bản của Đại thừa, văn gọn mà nghĩa rộng, lời cạn mà ý sâu, ví như giàu có nghìn vàng, châu báu muôn hộc, há nên vứt bỏ giữa đường. Sách này dùng Thiền, Giáo, Luật dạy người rất tinh vi, không trái với những lời chân thật trong ba Tạng, đáng được công bố. Do đó, tôi định đem khắc bản để giới thiệu với mọi người. Nhưng tự thấy mình bất lực như con mọt gặm gỗ, biết không làm nổi mới kêu gọi một vài bạn đồng chí cùng nhau bàn bạc hiệu đính, rồi giao cho thợ khắc bản để in. Bỗng gặp một vị Tăng nói: “ Đã dùng pháp hữu vi, sao không khắc bản Lương Hoàng, Thủy Sám, mà lại cất công làm việc này?”. Một vị Tăng khác lại bảo: “ Sách ấy là loại Ngữ lục, tôi không hài lòng chút nào”. Ngu tôi xét những lời ấy: Một người nói không căn cứ nên không cần bàn. Một người dụng tâm phân biệt, có ý cho rằng ba Tạng từ phương Bắc truyền sang nước ta, kinh sách khá nhiều cần phải hoàn chỉnh, những kinh trọng yếu chưa hoàn chỉnh, học tập những luận giá trị chưa học tập, rảnh đâu mà quan tâm đến loại sách nhỏ bằng tiếng nước ta !
(Chúng ta) há không biết rằng, ngày nay kiếp loạn, thời ngoa, căn hèn chí kém, một hạnh khó thành, trăm sai thường vướng; huống nữa muốn tiến tới mà gặp phải chướng ngại thì làm sao hanh
thông được ! Bởi lẽ, nếu mê thì lớn nhỏ đều vùi lấp, mà tỉnh thì Nam Bắc thảy dung thông. Hơn nữa, sách này do người trong nước gần đây đề xướng, chứ đâu phải lời bàn xuông của người nước khác. Lẽ ra, việc nhà mình, mình phải am tường…chứa việc thiện nhỏ sẽ thành công to, gây cái nhân bé tạo nên quả lớn, muôn hạnh do tâm, việc không lớn nhỏ. Nhưng sách này trải qua nhiều đời, từ triều Trần cho tới Hậu Lê, mà nay còn sót lại, dạng chữ phần nhiều sai lầm, tôi không ngại vụng về kém cỏi, đem ra hiệu chính, rồi thuê người viết lại bản mới, miễn cưỡng chấm câu, để tiện khi đọc. Những chỗ thất thoát cần bổ chính thì cho thêm chữ bên cạnh. Tuy thế vẫn lo trong ấy vẫn chưa hết những sai sót, ngưỡng mong các bậc cao minh cải chính giúp cho, hầu thành một bảo vật hoàn hảo, một tấm gương sáng của nhà Thiền, thì thực vô cùng hân hạnh.
Kẻ hậu học ở chùa Pháp Vũ là danh tự Tỳ-kheo Diệu Trạm viết lời dẫn.
Sa-môn Thanh Cừ, Thanh Vân giúp việc khắc bản.
Nhằm tiết Quý thu năm Đinh dậu,
Niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897).