Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tam Tổ Thực Lục

Tam Tổ Thực Lục

Tác giả: Thích Phước Sơn dịch và chú. Năm xuất bản: 1995. Số trang: 108.

Chương 4: Phần Một: Những Ghi Chép Trung Thực Về Trúc Lâm Đại Sĩ, Tổ Thứ Nhất Núi Yên Tử (Trang 17 - 36)

PHẦN MỘT
[1a] NHỮNG GHI CHÉP TRUNG THỰC VỀ TRÚC LÂM ĐẠI SĨ, 
TỔ THỨ NHẤT NÚI YÊN TỬ
 
(Theo Thánh Đăng Thực Lục thì Đại sĩ được yếu chỉ của Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng Sĩ).
Trúc Lâm Đại Sĩ là vua thứ tư nhà Trần, con của Thánh Tông, lên ngôi ngày 12 tháng 2 [1] năm Mậu dần (1278). Khi lên ngôi, vua đổi niên hiệu là Thiệu Bảo.
Trước đó, Nguyên Thánh Hoàng Thái hậu nằm mộng thấy Thần nhân đưa cho hai lưỡi kiếm, bảo: “Có lệnh của Thượng đế, cho phép ngươi được chọn lấy”. Vì ngẫu nhiên được cây kiếm ngắn, Thái hậu bất giác mất vui, do đó có thai, những tháng dưỡng thai chẳng cần kiêng cử, nhà bếp dâng thức ăn gì Thái hậu cứ dùng như thường mà thai cũng chẳng sao, nên Thái hậu biết có nơi (1b) che chở.


[1] Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, vua lên ngôi ngày 22 tháng 10 năm Mậu dần, niên hiệu Bảo Phù thứ 6 (1278)

Đến khi vua sinh ra, màu da như vàng ròng, Thánh Tông đặt tên là Kim Phật. Vai phải vua có nốt ruồi đen như hạt đậu lớn, người biết xem tướng nói: “ Đứa bé này này ngày sau có thể gánh vác việc lớn”.
Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng Thái Tử, Điều Ngự từ chối đến ba phen xin để em mình thay thế, nhưng đều không được chấp thuận. Vua kết duyên với trưởng nữ của Nguyên Từ Quốc Mẫu Là Khâm Từ Thái Hậu, tình cầm sắt tuy cùng hòa hợp, nhưng lòng đạm bạc đối với nhà vàng.
Vào giờ Tý một đêm kia, vua vượt thành ra đi, định vào núi Yên Tử, nhưng khi vào đến chùa Tháp, núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, lại vì quá mệt (2a) nên phải vào nghỉ trong tháp. Vị Tăng chùa ấy thấy vua tướng mạo khác thường, liền đem thức ăn lên mời. Ngày hôm đó, Thái Hậu đem mọi chuyện thuật lại đầy đủ với Thánh Tông. Thánh Tông sai quần thần đi tìm khắp bốn phương, bất đắc dĩ vua phải trở về.
Khi lên ngôi, tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn sống thanh tịnh. Vua thường ngủ trưa ở chùa Tư Phúc trong đại nội, một hôm mộng thấy trên rún trổ một hoa sen vàng lớn như bánh xe, trên hoa có Phật vàng, có người đứng bên cạnh
chỉ Điều Ngự hỏi: “Biết vị Phật này không? Đức Biến Chiếu Tôn đấy”. Giật mình thức dậy, vua đem điều ấy thuật lại với Thánh Tông, Thánh Tông lấy làm lạ. Do đó, (2b) vua thường dùng chay lạt, chẳng ăn thức mặn, nên long nhan trở nên gầy yếu. Thánh Tông thấy lạ hỏi, thì Điều Ngự nói rõ nguyên nhân. Thánh Tông khóc nói: “Ta nay già rồi, trông cậy một mình con, nếu con như vậy thì thịnh nghiệp Tổ tông biết làm thế nào ?” Điều Ngự cũng rơi nước mắt.
Điều Ngự Thánh tánh sáng suốt, đa tài, hiếu học, đọc khắp sách vở, thông hiểu cả nội và ngoại điển. Lúc rảnh việc nước, vua mời các khách Thiền đến giảng dạy tâm tông, lại tham vấn Tuệ Trung Thượng sĩ (2), nhờ thế đạt được cốt tủy của Thiền, nên thờ Tuệ Trung theo lễ của một bậc Thầy.
Sau khi truyền ngôi lại cho Anh Tông không bao lâu, khoảng tháng 10 năm Kỷ hợi, niên hiệu Hưng Long thứ 7 (1299), (3a) Điều Ngự vào thẳng núi Yên Tử, tinh cần tu 12 hạnh đầu đà (3), lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Điều Ngự lập ra Chi điều Tinh xá, giảng pháp độ Tăng. Người học quy tụ về đây khá đông. Sau đó, Điều Ngự mời các danh Tăng về chùa Phổ Minh, phủ Thiên Trường, lập ra trường giảng. Trải qua mấy năm, Điều Ngự
lại vân du đây đó, đến trại Bố Chính lập am Tri Kiến để cư trú.
Năm Giáp thìn, niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304), Điều Ngự đi khắp xóm làng, dạy dân chúng từ bỏ các dâm từ và thực hành Thập Thiện. Mùa đông năm ấy, Anh Tông dâng biểu mời Điều Ngự vào đại nội để thọ Tâm giới tại gia Bồ-tát. Ngày vào thành, vương công, bá (3b) quan sắm lễ nghi đầy đủ đón rước xa giá của Điều Ngự, rồi cùng thọ giới pháp.
Sau đó, Điều Ngự trác tích tại chùa Sùng Nghiêm núi Chí Linh, xiển dương Thiền chỉ.
Trước lúc khai đường, Điều Ngự niệm hương báo ân, lễ xong bước lên pháp tòa, đánh chuông nói: “ Đức Điều Ngự Thích Ca Văn Phật vì một việc lớn mà xuất hiện trong đời, 49 năm mấp máy đôi môi mà chưa nói một lời. Nay ta vì các ông lên ngồi tòa này, sẽ nói cái gì đây ?” Rồi Ngài sang ngồi trên giường Thiền, đánh một tiếng chuông, tiếp:
“Chim quyên kêu rả bao ngày tháng,
Đâu được ngày xuân để luống qua !”
(4a) Lại đánh một tiếng chuông nữa, Ngài tiếp: “Chẳng có cái đó sao? Đưa ra đi! Đưa ra đi!”
Vị Tăng bước ra hỏi:
_ Thế nào là Phật?
Điều Ngự đáp:
_ Chấp nhận như xưa là không đúng.
_ Thế nào là Pháp?
_ Chấp nhận như xưa là không đúng.
_ Rốt cuộc như thế nào?
_ Tám chữ thảo tung giao phó hết, Còn điều chi nữa nói cùng ông ?
_ Thế nào là Tăng?
_ Chấp nhận như xưa là không đúng.
_ Rốt cuộc như thế nào?
_ Tám chữ thảo tung giao phó hết, Còn điều chi nữa nói cùng ông ?
_ Thế nào là một việc hướng thiện?
_ Khèo nhật nguyệt trên đầu tích trượng.
_ (4b) Dùng công án (5) cũ mà làm gì?
_ Mỗi lần dùng đến lại thành mới tinh.
_ Thế là truyền riêng ngoài giáo điển?
_ Thế nào là truyền riêng ngoài giáo điển?
_ Con ểnh ương nhảy không khỏi cái đấu.
_ Sau khi nhảy khỏi thì sao?
_ Theo chân giống ếch vùi thân nơi cát bùn.
_ Thì cũng như nhảy không khỏi.
Điều Ngự lớn tiếng quát:
_ Gã mù kia, thấy được cái gì đấy?
_ Tôn đức gạt người ta làm gì?
Điều Ngự hừ hừ. Vị Tăng suy đoán luận bàn. Điều Ngự liền đánh. Vị Tăng định mở miệng hỏi, Điều Ngự liền hét. Vị Tăng cũng hét. Điều Ngự nói:
_ Lão Tăng cũng bị ông hét một tiếng, thế là hai tiếng hét, vậy rốt cuộc (5a) thế nào? Nói mau! Nói mau!
Vị Tăng đắn đo toan nói. Điều Ngự lại hét một tiếng, nói:
_ Con chồn hoang kia, vừa rồi rất hoạt bát, bây giờ ở đâu?
Vị Tăng đảnh lễ rút lui.
*
*   *
Một vị Tăng khác hỏi:
_ Đại đức cần khổ tu hành trải nhiều năm tháng, đối với lục thông (6) của Phật nay được mấy thông rồi?
_ Cũng được lục thông.
_ Ngũ thông tạm gác lại, còn tha tâm thông như thế nào?
_ Trong bấy nhiêu quốc độ (nhiều như cát sông Hằng) ấy có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai thấy hết, Như Lai biết hết.
Vị Tăng đưa nắm tay lên hỏi:
_ Nếu đã thấy hết, biết hết, thế thì biết trong cái ấy có những vật gì?
_ Dường như có, dường như (5b) không, chẳng phải không, chẳng phải sắc.
_ Xưa kia có vị Tăng hỏi Hòa thượng Lang Gia (7) câu “ Cái bản thể thanh tịnh vì sao bỗng sinh ra đất đai sông núi?”,  ý chỉ ấy thế nào?
_ Tựa hồ thuyền chài ra bể.
_ Ý nghĩa này thế nào?
_ Ai biết được nơi khói sóng xa xôi lại có việc đáng bàn luận.
_ Gia phong của Phật quá khứ thế nào?
_ Vườn rừng vắng bóng người chăm sóc, lý trắng đào hồng vẫn nở hoa.
_ Gia Phong của Phật hiện tại thế nào?
_ Én sớm lạc trên hồ nước bạc,
Gió xuân say giữa khóm đào hồng.
_ (6a) Gia phong của Phật vị lai thế nào?
_ Bãi biển đợi triều, trời hé nguyệt,
Thôn chài nghe sáo khách trông nhà.
_ Còn gia phong của Hòa thượng thì sao?
_ Áo rách đùm mây ăn cháo sớm,
Bình xưa rót nguyệt nấu trà khuya.
_ Khi Linh Vân (8) thấy hoa đào nở mà tỏ ngộ, ý nghĩa ấy thế nào?
_ Hoa nở hoa tàn tùy khí hậu,
Chúa xuân đâu biết, hỏi hoài công?
_ Giết người mà không nhíu mắt là sao?
_ Gan dạ cùng mình chứ sao.
_ Bậc đại tu hành còn rơi vào nhân quả nữa không?
_ Miệng tợ huyết hồng phun Phật tổ
Răng như gươm bén (6 b) đốn Thiền lâm.
Mai kia chết xuống A-tỳ ngục (9)
Cười ngất Nam mô Quan Thế Âm.
_ Cò trắng xuống đồng ngàn điểm tuyết,
Cây cao oanh đậu một cành hoa.
Là thế nào?
_ Sai.
_ Đại Tôn đức bảo sao?
_ Cò trắng xuống đồng ngàn điểm tuyết,
Cây cao oanh đậu một cành hoa.
_ Đó là câu thơ của con.
_ Nên biết lò tiên nhiều kỹ thuật 
Linh đơn vốn cũng tử chu sa. 
_ Pháp thân thanh tịnh là thế nào?
_ Đục vàng rơi giữa phân sư tử, 
Chim chích bay về từ Thiết Côn.
_ Kẻ học trò này không hiểu.
_ (7a) Không rõ Lão Hồ đòi giá đắt,
Nực cười thương khách dối lừa nhau.
_ Viên mãn báo thân là gì?
_ Cao lượn cánh bằng, cơn gió lặng,
Lệ châu linh hoạt, sóng triều dâng.
Vị Tăng đảnh lễ, Điều Ngự nói tiếp:
_ Diệu dụng xưa nay đầy đủ cả,
Vì ngươi thiên lệch mới không thành.
_ Thiên bách ức hóa thân là thế nào?
_ Dồn mây tụ tuyết bên trời thẳm,
Thước nước như xưa trước cửa thềm.
_ Đúng như vậy.
Điều Ngự nói:
Cười ngất dồn mây bên hóc núi
Nuốt hòn sắt nóng việc quanh mình.
Vị Tăng lễ bái rồi lui.
                                                                              *
                                                                            *        *
Vị Tăng khác hỏi:
_ Đàm huyền, thuyết diệu, (7b) bàn cổ, luận kim, đều là lời nói suông, thế thì một câu nói không mắc kẹt vào ngôn ngữ, làm sao nói được?
_ Gió xuân thoảng thoảng nghìn hoa nở,
Lách cách xe đưa tiếng rộn ràng.
Vị Tăng toan mở miệng, Điều Ngự lại tiếp:
_ Chim hót máu rơi vô dụng cả
Non chiều mây phủ vẫn như xưa.
_ Nghìn dặm mây tan là thế nào?
_ Mưa dầm dề.
_ Nghìn dặm mây phủ là sao?
_ Trăng vằng vặc.
_ Rốt cuộc như thế nào?
_ Chớ có bám vào đó, bám vào đó sẽ ăn ba mươi gậy.
_ Bản lai diện mục là gì?
Giây lâu Điều Ngự hỏi lại:
(8a) _ Hiểu không?
_ Thưa không hiểu.
Điều Ngự liền đánh.
*
*   *
Một vị Tăng khác hỏi:
_ Thế nào là 32 tướng tốt (10), 80 vẻ đẹp (11)?
_ Nếu lấy sắc thấy ta
Lấy âm thanh cầu ta,
Là người hành đạo tà, 
Không thể thấy Như Lai.
_ Phật là gì?
_ Trấu cám dưới cối giã.
_ Tổ sư từ Ấn độ sang với dụng ý gì?
_ Bánh vẽ.
_ Đại ý Phật pháp là gì?
_ Cùng một hầm, đất không khác.
Thưở xưa có một vị Tăng hỏi Triệu Châu (12)
“Con chó có Phật tánh không?” Triệu Châu đáp “không”, ý chỉ ấy thế nào?
_ Nước biển hòa muối mặn
Màu lá rặt sơn xanh.
_ Câu có (8b) câu không như dây leo là gì?
_Câu có câu không
Dây khô cây ngã
Thầy tu mấy gã
Đau não nhức đầu
Câu có câu không
Thể lộ gió thu
Hằng hà sa số (13)
Dao bổ kiếm đâm.
Câu có câu không
Lập chỉ lập tông
Đập ngói, xoi rùa (14)
Trèo núi lội sông.
Câu có câu không
Chẳng có chẳng không
Khắc thuyền mò kiếm (15)
Tìm ngựa theo tranh (16)
Câu có câu không
Giúp cùng chẳng giúp
Nón tuyết hài hoa (17)
Ôm cây đợi thỏ (18)
Câu có câu không
Từ xưa tới nay
Quên nguyệt nhìn tay (19)
Đất bằng chìm lấp.
Câu có (9a) câu không
Như thế, như thế
Tám chữ tháo tung
Toàn không manh mối.
Câu có câu không
Nhìn trái, nhìn phải
Nói cuội, nói hươu
Ồn ào lải nhải
Câu có câu không
Rầu rầu rĩ rĩ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây thích chí.
Giảng xong, Điều Ngự xuống tòa. Những lời trên đây chép đầy đủ trong Ngữ Lục.
*
*       *
Ngày mồng một thánh giêng năm Mậu thân (1308), Điều Ngự sai Pháp Loa nhận chức trụ trì để nối dòng pháp tại chùa Báo Ân, huyện Siêu Loại.
Tháng 4, Điều Ngự đến kiết hạ tại chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang, giảng Truyền Đăng Lục, lại sai Pháp Loa giữ chức trụ trì,bảo Quốc sư Đạo Nhất (9b) giảng kinh Pháp Hoa cho đại chúng. Xong hạ, Điều Ngự vào núi Yên Tử, cho các Tịnh nhân (20) và những kẻ theo hầu trở về, chỉ giữ lại 10 thị giả thân cận để giúp đỡ. Điều Ngự lên ở trên am Tử Tiêu, giảng Truyền Đăng Lục cho Pháp Loa, thị giả dần dần xuống núi gần hết, chỉ còn một đệ tử thượng túc là Bảo Sát ở lại mà thôi. Từ đó Điều Ngự đi khắp núi non, khi về nghỉ nơi thạch thất. Bảo sát bạch: “Tôn đức xuân thu đã cao mà xông pha sương tuyết như vậy, thì mạng mạch Phật pháp rồi sẽ ra sao?” Điều Ngự nói: “Thời tiết đã đến, ta muốn tính kế lâu dài vậy.”
Ngày mồng năm tháng 10 (10a) gia đồng của Thiên Thụy công chúa lên núi thưa: “Thiên Thụy bệnh nặng, mong gặp Tôn đức rồi mất”. Điều Ngự bùi ngùi bảo: “Thời tiết đó thôi”, liền cầm gậy xuống núi, đi theo chỉ có một thị giả. Mồng 10 đến kinh đô, dặn dò xong các việc, ngày 15 Điều Ngự trở về núi. Trên đường về, Điều Ngự nghỉ đêm tại chùa Siêu Loại, sáng sớm hôm sau lại tiếp tục
đi, đến một ngôi chùa làng ở Cổ Châu, Điều Ngự viết lên vách chùa bài kệ sau đây:
“ Số đời thực ảm đạm
Tình người đôi mắt trong
Cung ma lộn xộn lắm
Cõi Phật xuân mênh mông”
(10b) Ngày 17, Điều Ngự đang ở chùa Sùng Nghiêm, núi Linh Sơn được Tuyên Từ Hoàng Thái hậu mời về am Bình Dương thọ trai. Điều Ngự vui vẻ nói: “ Đây là lần cúng dường cuối cùng” rồi đến thọ trai.
Ngày 18, Điều Ngự đi bộ đến chùa Tú Lâm, núi Kỳ Đặc ở Yên Sinh, cảm thấy đau đầu bèn nói với hai Tỳ-kheo Tử Doanh và Hoàn Trung rằng: “Ta muốn lên đỉnh Ngọa Vân mà sức chân không thể đi được nữa, biết làm sao đây?” Hai Tỳ-kheo thưa: “Hai chúng con có thể giúp Thầy tới đó”. Khi đến Ngọa Vân, Điều Ngự cảm ơn hai Tỳ-kheo và dạy: “Xuống núi gắng lo tu hành, đừng xem việc sinh tử là nhàn hạ”.
(11a) Ngày 19, Điều Ngự sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu, núi Yên Tử gọi Bảo Sát hãy về gấp.
Ngày 20, Bảo Sát đang trên đường đi đến Doanh Tuyền, thấy một đám mây đen từ Ngọa Vân
kéo đến Lỗi Sơn, khi tới Doanh Tuyền, nước suối dâng cao đến mấy trượng, trong giây lát mặt nước trở lại bình thường. Bảo Sát thấy hai con rồng đầu lớn như đầu ngựa, ngẩng cao hơn một trượng, hai mắt như sao trong phút chốc lại biến mất. Đêm ấy, Bảo Sát ngủ trọ trong Sơn Điếm, thấy một điềm mộng chẳng lành.
Ngày 21, Bảo Sát đến Ngọa Vân. Điều Ngự thấy ông về, mỉm cười bảo: “Ta sắp đi rồi, ông (11b) về sao trễ vậy, đối với Phật pháp có điều gì chưa rõ hãy hỏi gấp đi”. Bảo Sát liền thưa: “ Khi Mã Đại Sư bất an, Viện chủ hỏi: “Gần đây Tôn đức thế nào?”. Mã Tổ (21) đáp: “Nhật diện Phật, Nguyệt Diện Phật”, ý chỉ ấy thế nào?”. Điều Ngự lớn tiếng nói: “Tam Hoàng (22) Ngũ Đế (23) là vật gì?”. Bảo Sát lại hỏi tiếp:
Chỉ như: “ Hoa tốt tươi chừ, gấm tốt tươi,
                  Tre đất Nam chừ, cây đất Bắc”
Phải hiểu thế nào?
          Điều Ngự nói: “Mắt ông mù rồi”. Bảo Sát liền thôi.
Từ đó trở đi, bốn ngày liền trời đất u ám, gió trốt thổi mạnh, mưa tuyết phủ đầy cây, vượn khỉ (12a) vây am gào khóc, chim rừng kêu bi thảm.
Ngày mồng một tháng 11, lúc nửa đêm, sao trời tỏ rạng, Điều Ngự hỏi: Bây giờ là giờ gì?” Bảo Sát đáp: “Giờ Tý”. Điều Ngự đưa tay mở cửa sổ, ngắm trời nói: “Đây là lúc ta đi”. Bảo Sát hỏi: “ Tôn Đức đi đâu?” Điều Ngự đáp:
“Tất cả pháp không sinh
Tất cả pháp không diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.”
có chi là đi lại.
Bảo Sát hỏi: “ Nếu như không sanh không diệt thì sao?”. (12b) Điều Ngự đưa tay bụm miệng Bảo Sát, nói: “ Chớ nói mê”. Nói xong liền nằm theo thế sư tử, an nhiên viên tịch. Đến đêm thứ hai, Bảo Sát phụng di chúc hỏa thiêu Điều Ngự ngay nơi am ấy. Khi thiêu, hương lạ bay xa, nhạc trời vang hư không, mây năm sắc phủ trên giàn hỏa. Bốn hôm sau, Tôn giả Phổ Tuệ từ Yên Tử vội vã trở về, dùng nước thơm rưới lên hỏa đàn. Khi làm lễ xong, Phổ Tuệ thu ngọc cốt, lượm được Xá lợi năm màu, cỡ lớn hơn 500 viên, cỡ nhỏ như hạt lúa, hạt cải không kể đến.
Bấy giờ vua Anh Tông cùng quốc phụ Thượng tể thống suất triều đình đi (13a) thuyền đến chân núi, lễ bái gào khóc vang trời, rồi rước
ngọc cốt và Xá lợi xuống thuyền vua, đưa về kinh thành. Hôm ấy triều đình và thôn dã tiếc thương, gào khóc vang động đất trời.
Vua Anh Tông liền tôn hiệu là “Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật”.
Khi Thượng Hoàng (Nhân Tông) xuất gia ở núi Tử Tiêu, núi Yên Tử , tự xưng hiệu là Trúc Lâm Đại Sĩ, người chị là Thiên Thụy bị bệnh nguy kịch, ngài bèn xuống núi (13b) viếng thăm, nói với Thiên Thụy: “Nếu thời tiết đến, chị cứ đi, lúc âm phủ có hỏi thì chị hãy bảo: _ Xin đợi một lát, em tôi là Trúc Lâm Đại Sĩ sẽ đến”. Nói xong liền trở về núi, dặn dò Pháp Loa những việc ngày sau rồi an nhiên ngồi viên tịch. Thiên Thụy cũng chết trong ngày ấy. Pháp Loa đem thiêu Điều Ngự nhặt được hơn 3000 viên Xá-lợi, đưa về chùa Tư Phúc tại kinh đô, vua nghi ngờ, quần thần nhiều người hỏi tội Pháp Loa. Bấy giờ, hoàng Thái tử mới chín tuổi đang đứng hầu một bên, bỗng nhiên trong mình có một số hạt Xá-lợi, liền đưa ra xem. Kiểm soát lại trong hộp thì thấy mất đúng số đó. Vua cảm động khóc, tâm ý mới được giải tỏa. (Đoạn trên đây, từ chữ khi Thượng hoàng…rút ra từ quốc sử )[1]*.
 


[1]. Đoạn này do sử gia viết theo quan điểm Nho giáo, không đáng tin là có thực.
 
(14a) Vua đem ngọc cốt để vào bảo khám, chia Xá-lợi làm hai phần, đựng trong bình vàng bảy báu, việc ma chay xong, liền rước ngọc cốt tôn trí vào Đức Lăng, tôn miếu hiệu là Nhân Tông; lại lấy một phần Xá-lợi cất vào Bảo tháp tại khu đất Đức Lăng ở Hưng Long và một phần cất vào Kim Tháp ở chùa Vân Yên, núi Yên Tử, đặt tên là Huệ Quang Kim tháp. Trước hết, Anh Tông đúc hai tượng (Điều Ngự) bằng vàng, một thờ ở chùa Báo Ân tại Siêu Loại, và một thờ ở chùa Vân Yên núi Yên Tử, dùng lễ cúng dường Phật mà cúng dường Điều Ngự.
Tác Phẩm của Điều Ngự để lại gồm có:
  1. Thiền Lâm Thiết Chủy (14b) Ngữ Lục.
  2. Hậu Lục.
  3. Đại Hương Hải Ấn Thi Tập.
  4. Tăng Già Toái Sự.
đều truyền ở đời.
Còn Thạch Thất Mị Ngữ thì Anh Tông chép vào Đại Tạng kinh để lưu truyền.
Điều Ngự đã mở ba giới đàn:
  1. Tại chùa Chân Giáo trong đại nội.
  2. Tại chùa Báo Ân ở Siêu Loại.
  3. Tại chùa Phổ Minh ở Thiên Trường.
Các đệ tử nối dòng pháp đã liệt kê đầy đủ nơi bản đồ trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, còn những người được Điều Ngự dẫn dắt, (15a) âm thầm khế hợp với tông chỉ thì không kể đến. Kết thúc những ghi chép trung thực về Trúc Lâm Đại Sĩ, Tổ thứ nhất núi Yên Tử.
*
*     *
PHỤ LỤC
Lúc Nhân Tông mới xuất gia, có vị Tăng ở chùa Siêu Loại là Trí Thông, tự đốt tay mình cháy từ bàn tay đến khủy tay mà sắc mặt vẫn tự nhiên không thay đổi. Nhân Tông đến xem, Trí Thông đặt tòa mời ngồi, làm lễ thưa: “Tăng tôi đang đốt đèn đây”. Đốt đèn xong, Trí Thông trở về liêu phòng ngủ say, khi thức giấc, vết thương liền khỏi. Đến khi Nhân Tông viên tịch, Trí Thông liền lên Yên Tử phụng thờ bảo tháp Xá-lợi, tới thời Minh Tông, ông lại tự thiêu mà hóa.
(Đoạn văn trên đây rút ra từ Quốc sử: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư)
*
*     *
/10
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »